1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát thành phần dinh dưỡng trong thức ăn của dê thịt ở an giang

64 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

i Đề tài nghiên cứu khoa học “Khảo sát thành phần dinh dưỡng trong thức ăn của dê thịt ở An Giang”, do tác giả Nguyễn Bình Trường và cộng tác viên Nguyễn Bá Trung công tác tại Khoa Nông

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN CHĂN NUÔI & THÚ Y

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

KHẢO SÁT THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG

TRONG THỨC ĂN CỦA DÊ THỊT

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN CHĂN NUÔI & THÚ Y

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

KHẢO SÁT THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG

TRONG THỨC ĂN CỦA DÊ THỊT

Ở AN GIANG

Chủ nhiệm đề tài:

ThS NGUYỄN BÌNH TRƯỜNG

AN GIANG, THÁNG 12 - 2016

Trang 3

i

Đề tài nghiên cứu khoa học “Khảo sát thành phần dinh dưỡng trong thức ăn của

dê thịt ở An Giang”, do tác giả Nguyễn Bình Trường và cộng tác viên Nguyễn Bá Trung công tác tại Khoa Nông nghiệp và Tài nguyên Thiên nhiên, Bộ môn Chăn nuôi thú y thực hiện Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày 07/12/2016

Thƣ ký

Trang 4

ii

LỜI CẢM TẠ

Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm tạ Ban Giám Hiệu, Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác Quốc tế và Phòng Tài vụ đã khuyến khích, quan tâm sát sao

và tạo nhiều cơ hội giúp tôi thực hiện đề tài này

Chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Nông nghiệp và Tài nguyên Thiên nhiên, Ban chủ nhiệm Bộ môn Chăn nuôi Thú y và Văn phòng Khoa Nông nghiệp ủng hộ, đôn đốc và tạo điều kiện thuận lợi nhất để đề tài này đạt tiến độ đúng kế hoạch

Xin cảm ơn cộng tác viên chính của đề tài này: Thầy Nguyễn Bá Trung và nhóm sinh viên DH14CN giúp chúng tôi hoàn thành nghiên cứu

Trân trọng cảm tạ!

An Giang, ngày 15 tháng 12 Năm 2016

Người thực hiện

Nguyễn Bình Trường

Trang 5

iii

TÓM TẮT

Đề tài “Khảo sát thành phần dinh dưỡng trong thức ăn của dê thịt ở An Giang” được thực hiện từ tháng 01–11/2016 trong tỉnh An Giang với 2 nội dung chính: Khảo sát tình hình chăn nuôi dê tại nông hộ ở tỉnh An Giang và so sánh khả năng tăng trọng của dê thịt trên các nguồn protein bổ sung

Nội dung 01: được tiến hành trên đàn dê nuôi trong 90 hộ tại 3 huyện (Tịnh Biên, Phú Tân và Tân Châu) tỉnh An Giang, từ tháng 02/2015 đến tháng 05/2015 Kết quả cho thấy, giống dê Bách Thảo và con lai phổ biến nhất với 91,6%, chăn nuôi với mục đích sinh sản và bán thịt có tỉ lệ cao nhất là 74,4% trên tổng số hộ được khảo sát Khối lượng

dê trên 12 đến dưới 24 tháng tuổi của dê đực là 39±18,1 kg và dê cái là 33±7,47kg, khối lượng dê sơ sinh đực và cái là 2,19±0,73 và 1,84±0,61 kg Tuổi đẻ lứa đầu của đàn dê khoảng 11,6±1,85 tháng và mùa sinh sản từ tháng 1-4 và từ tháng 8-12 hàng năm Nguồn thức ăn cho dê rất đa dạng với 14 loại thức ăn, giá trị CP cỏ Ruzi cao nhất với 14% và 8 loại thức ăn bổ sung với giá trị CP cao nhất là xác đậu nành 21%

Nội dung 02: Qua kết quả của thí nghiệm thể hiện rõ lượng thức ăn tiêu thụ của nghiệm thức có bổ sung TAHH là thấp nhất (308 g/ngày) nhưng lượng CP tiêu thụ cao nhất (63,1 gDM) đã cho tăng trọng cao nhất giữa các nghiệm thức (56,7 g/ngày) Điều này thể hiện rõ hơn trên chỉ tiêu tỉ lệ tiêu hoá DM, CP, NDF lần lược là 78,5%; 70,2%; 70,1% và 80,4% đều cao hơn các nghiệm thức còn lại Thức ăn bổ sung có ảnh hưởng đến khả năng tăng trọng và tiêu hoá của dê thịt Bổ sung TAHH với tỉ lệ 1% khối lượng

dê thịt cho kết quả tốt nhất và cho lợi nhuận cao nhất…

Từ khoá: dê, tăng trọng, tiêu hoá, VA06

Trang 6

iv

ABSTRACT

Topic "Survey on feeds nutritional compositions of goat in An Giang province" was implemented from July 01-11 / 2016 in An Giang Province with two key issues: Survey on goat farmers in An Giang province and comparison of growth of fattening goat on the different protein sources

A study was conducted in 2016, from February to May on goat herds reared at 90 households in 3 districts (Tinh Bien, Phu Tan and Tan Chau of An Giang province) to identify some characteristics of growth and reproductivity of goat as a basis that to be continued by other researches The results revealed that BachThao goat breeds and hybrids were most popular with 91.6 % and livestock for breeding purposes and meat is 74.4% of total households surveyed Similar, body weight of new born of male goat and female goat were 2.19 kg and 1.84 kg The body weight of goat from 12 to under 24 months are 39,0 kg and 33,0 kg for male and female; The first calving of goat was 11.6 months and their reproductive period focused from january to april and from august - december annually It was suggested that to select male goat with large body weight to improve the animal size and their reproductivity The experiment supplemet in the diet for growth, digestibility and economic of goats was study in 3 month The experiment design was completely randomized blocks with three treatments and result such as, feed intake was not different statistically significant, crude protein intake in treatment VA06 was 46.3 lower than Bran+VA06 treatments was 56.7 and TAHH+VA06 treatment was 63.1 g /head/day Nutrient digestibility was no significant difference statistically on indicators DM, OM and NDF but TAHH+VA06 treatments are higher than the other treatments Particularly, Crude protein digestion rate of TAHH+VA06 is 80.1% highter statistically significant with VA06 is 70.3% Best weight gain treatments TAHH+VA06

is 56,7 significantly high compared to the VA06 is 41.8 g/head/day

Key words: goat, weight gain, digestive, VA06

Trang 7

v

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

An Giang, ngày 15 tháng 12 năm 2016

Người thực hiện

Nguyễn Bình Trường

Trang 8

vi

MỤC LỤC Nội dung Trang

Tóm tắt iii

Abstract iv

Lời cam kết v

Mục lục vi

Danh sách bảng ix

Danh sách hình x

Danh sách chử viết tắt xi

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Tính cần thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Nội dung nghiên cứu 2

1.5 Những đóng góp của đề tài 2

Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 3

2.1.1 Trong nước 3

2.1.2 Ngoài nước 4

2.2 Lược khảo vấn đề nghiên cứu 5

2.2.1 Giống dê 5

2.2.2 Khả năng tiêu hóa 7

2.2.3 Vài nét về đặc điểm lên men vi sinh vật dạ cỏ 8

2.2.4 Nhu cầu dinh dưỡng về tăng trọng của dê 11

2.2.5 Một số tập tính khác biệt của dê 13

2.2.6 Kỹ thuật chọn dê giống trong chăn nuôi dê thịt 14

2.2.7 Đo vòng ngực để tính trọng lượng dê 15

2.2.8 Các loại thức ăn của dê 16

2.3 Giả thuyết nghiên cứu 18

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

Trang 9

vii

3.1 Mẫu nghiên cứu 19

3.1.1 Thời gian và địa điểm 19

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 19

3.2 Thiết kế nghiên cứu 19

3.2.1 Nội dung 1 19

3.2.2 Nội dung 2 20

3.3 Công cụ nghiên cứu 22

3.4 Tiến trình nghiên cứu 23

3.5 Phân tích dữ liệu 23

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24

4.1 Thành phần dinh dưỡng nguồn thức ăn nuôi dê 24

4.1.1 Số lượng dê phân theo huyện, thị xã 24

4.1.1 Giống dê 25

4.1.3 Cơ cấu đàn 26

4.1.4 Mục đích nuôi 27

4.1.5 Qui mô chăn nuôi dê nông hộ 27

4.1.6 Chuồng trại và phương thức nuôi 28

4.1.7 Thức ăn 29

4.1.8 Thức ăn bổ sung 31

4.1.9 Thành phần hóa học một số loại thức ăn 32

4.1.10 Khối lượng dê trong vùng khảo sát 33

4.1.11 Chăn nuôi dê sinh sản 34

4.1.12 Khối lượng sơ sinh và tuổi cai sữa của dê 35

4.1.13 Mùa sinh sản của dê 36

4.2 So sánh khả năng tăng trọng của dê thí nghiệm 37

4.2.1 Thành phần hoá học của thức ăn dùng trong thí nghiệm 37

4.2.2 Thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ của dê ở các nghiệm thức 37

4.2.3 Sự thay đổi thể trọng của dê 38

4.2.4 Khả năng tiêu hoá khẩu phần thức ăn của dê ở các nghiệm thức 39

Chương 5 KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 41

Trang 10

viii

5.1 KẾT LUẬN 41

5.2 KIẾN NGHỊ 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

PHỤ LỤC 1 45

PHỤ LỤC 2 48

Trang 11

ix

DANH SÁCH BẢNG Trang

Bảng 1: Nhu cầu dinh dưỡng của dê ở điều kiện nhiệt đới 12

Bảng 2: Bảng đo vòng ngực để tính trọng lượng dê 15

Bảng 3: Thành phần dinh dưỡng bánh dầu đậu nành 17

Bảng 4: Công thức thức ăn hỗn hợp 21

Bảng 5: Tiến trình nghiên cứu 23

Bảng 6: Phân bố đàn dê cừu theo đơn vị 24

Bảng 7: Các giống dê hiện có 25

Bảng 8: Cơ cấu đàn dê trong vùng khảo sát 26

Bảng 9: Tỉ lệ về mục đích chăn nuôi dê 27

Bảng 10: Số lượng dê trong mỗi hộ nuôi 27

Bảng 11: Phương thức chăn nuôi 29

Bảng 12: Thức ăn xanh dùng trong chăn nuôi dê 30

Bảng 13: Thức ăn bổ sung cho dê tại chuồng 31

Bảng 14: Giá trị dinh dưỡng một số loại thức ăn và phụ phẩm 32

Bảng 15: Khối lượng dê qua các tháng tuổi 33

Bảng 16: Các chỉ tiêu sinh sản dê cái 34

Bảng 17: Chỉ tiêu khối lượng và tuổi cai sữa dê con 35

Bảng 18: Thành phần dinh dưỡng các loại thực liệu 37

Bảng 19: Lượng thức ăn tiêu thụ của dê thí nghiệm 37

Bảng 20:Trọng lượng và chi phí trong thời gian thí nghiệm 38 Bảng 21: Lượng thức ăn tiêu thụ và tỉ lệ tiêu hóa dưỡng chất của dê trong thí nghiệm40

Trang 12

x

DANH SÁCH HÌNH

Trang

Hình 1: Dê Boer 5

Hình 2: Dê Bách Thảo 6

Hình 3: Thu thập thông tin nông hộ 20

Hình 4: Chuồng nuôi dê cá thể 22

Hình 5: Giống dê Bách Thảo 26

Hình 6: Chuồng trại nuôi dê nông hộ 28

Hình 7: Trồng cỏ VA06 cung cấp thức ăn xanh 30

Hình 8: Cân khối lượng dê tại hộ nuôi 34

Hình 9: Cân khối lượng cá thể dê thí nghiệm 39

Biểu đồ 1: Tỉ lệ đẻ của đàn dê qua các tháng trong năm 36

Trang 14

1

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU

1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Nuôi dê là một hướng đi mới trong chăn nuôi của tỉnh An Giang, sau thời gian những năm gần đây, khi giá dê thương phẩm, dê giống ổn định, người dân đã bắt đầu nuôi dê trở lại (Ánh Nguyên, 2014) Theo Cục Thống Kê tỉnh An Giang (2016) thì tổng đàn dê cừu tỉnh An Giang là 11.905 con, tập trung nhiều nhất tại huyện Phú Tân là 2.183 con, Tịnh Biên là 1.683 con, Tân Châu là 1.586 con…Ngoài việc tăng đàn dê thì một vấn đề đang được chú ý là đàn dê đang được nâng cao về khối lượng cơ thể trên cơ sở cải thiện con giống địa phương Do nhu cầu thị trường tiêu thụ tăng nên chăn nuôi dê trong thời gian gần đây đạt hiệu quả kinh tế cao, dê thịt có giá từ 100.000–110.000 đồng/kg với khối lượng dê sau thời gian nuôi 5–6 tháng nặng khoảng 25–30 kg/con và thu lợi nhuận khoảng 1,2–1,5 triệu đồng/con

Các kết quả nghiên cứu tại Ninh Bình của Nguyễn Bá Mùi và Đặng Thái Hải (2010), tại Bắc Thái của Nguyễn Đình Minh (2002), tại Quảng Trị của Trần Văn Do (2012) và tại Trà Vinh của Đinh Văn Cải và Hoàng Thị Ngân (2007)…tập trung chủ yếu cho khả năng phát triển của con lai trên nguồn thức

ăn tự nhiên hay nguồn cỏ trồng của địa phương Nghiên cứu tận dụng các nguồn protein cho khả năng tăng trọng trên dê còn khá hạn chế Nguyễn Đông Hải (2008) nghiên cứu lượng protein thô ăn vào ở mức: 6,0; 6,5 và 7,0 g/kg thể trọng/ngày từ nguồn thức ăn lá so dữa, cỏ lông tây và bánh dầu đậu nành của dê giai đoạn 7-8 tháng tuổi cho tăng trọng bình quân/ngày/con là 87,4 g; 88,2 g và 89,4 g Nguyễn Thị Thu Hồng và Võ Ái Quấc (2005) thực hiện thí nghiệm thay thế đến 45% cây Mai Dương tính trên vật chất khô trong khẩu phần ăn của dê cho tăng trọng 61,7 g/con/ngày so với khẩu phần ăn 100% cỏ lông Para là 42,7 g….Với sự hiện đại của nền công nghiệp, người chăn nuôi

có thể bổ sung nguồn protein cho dê từ bột cá, thức ăn hỗn hợp, bã bia, tấm, cám…giúp cho đàn dê phát triển

Chăn nuôi dê dựa trên nền tảng tận dụng phụ phẩm nông nghiệp là chính, nhưng sự phát triển trở lại của đàn dê trong tỉnh An Giang đang đặt ra nhu cầu

về giống, kỹ thuật nuôi cho phát triển Bên cạnh đó nhu cầu về việc cải thiện tầm vóc đàn dê, nâng cao tăng trọng, cải thiện năng suất thịt của đàn dê tại địa phương đối với chăn nuôi dê thịt đang là một vấn đề cấp bách được đặt ra

Trang 15

2

Nhưng trên hết của các vấn đề là phải xác định được nền tảng hiện tại cho phát triển Do đó, đề tài này sẽ tạo ra nền tảng cơ bản cho những nghiên cứu tiếp theo của Bộ môn Chăn Nuôi & Thú Y, Đại Học An Giang

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Tìm hiểu thực trạng tình hình chăn nuôi dê tại tỉnh An Giang

Xác định thành phần dinh dưỡng của một số loại thức ăn thông dụng trong chăn nuôi dê

So sánh sánh khả năng tăng trọng của dê ở các khẩu phần thức ăn khác nhau

1.3 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

Dê của các hộ nuôi trong tỉnh An Giang

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Khảo sát tình hình chăn nuôi dê tại nông hộ ở tỉnh An Giang

So sánh khả năng tăng trọng của dê thịt trên các nguồn protein bổ sung

Trang 16

3

CHƯƠNG II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1.1 Trong nước

Theo Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức (2000) ở Việt Nam nghề chăn nuôi dê đã có từ lâu đời, nhưng theo phương thức quảng canh tự túc tự phát Tổng đàn dê Miền Bắc chiếm tỉ lệ 72,5% so với cả nước và tập trung chủ yếu

ở vùng núi phía Bắc Nhiều năm qua việc phát triển ngành chăn nuôi dê chưa được quan tâm chú ý Người dân chăn nuôi dê chủ yếu là nuôi quảng canh tận dụng chăn thả kết hợp, thiếu kiến thức kỹ thuật Phần lớn giống dê là dê tại địa phương (dê Cỏ) lấy thịt nên năng suất thấp, chưa có hệ thống giống trong cả nước Hiện nay một số giống dê nước ngoài đang nuôi tại Việt Nam như Bách Thảo, Jumnapari, Beetal, Barbari, Alpine, Saanen và Boer Kết quả sử dụng dê đực Bách Thảo, Jumnapri và Beetal lai cải thiện giống dê Cỏ của Trần Văn Do (2012) cho con lai có khả năng thích nghi sức sản xuất tốt Dê cỏ có khối lượng sơ sinh là 1,62 kg và khối lượng tại thời điểm 12 tháng tuổi là 15,1 kg, tương ứng với con lai F1 của giống Bách Thảo là 2 kg và 25,2 kg; dê Jumnapri

là 1,98 kg và 24,8 kg và Beetal là 2,04 kg và 26,6 kg Trần Văn Hạnh (2008) thực hiện thí nghiệm tại tỉnh Bình Định, sử dụng dê đực giống Boer phối với đàn dê cái địa phương cho con đực lai F1 có khối lượng sơ sinh là 2,6 kg và khối lượng 6 tháng tuổi là 21,7 kg Ngoài ra còn một số kết quả nghiên cứu lai tạo trên dê của các tác giả khác như Nguyễn Bá Mùi và Đặng Thái Hải (2010) tại Ninh Bình, Nguyễn Đình Minh (2002) tại Bắc Thái…

Nghiên cứu trên dê tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền Bắc, trong những tỉnh lân cận của An Giang có nghiên cứu của Đinh Văn Cải và Hoàng Thị Ngân (2007) thực hiện tại Trà Vinh Đàn dê đực giống (Bách thảo thuần, Jumnapari ngoại thuần và dê lai giữa giống Alpine, Saanen với Bách thảo) và con lai của chúng với đàn dê cái địa phương thích nghi và phát triển tốt Khối lượng của đàn dê lai lúc 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng tuổi lần lượt là 12,5 kg; 18,5 kg và 25,1 kg cao hơn 23,66-28,45% so với đàn dê tại địa phương Tất cả các nghiên cứu phát triển giống dê được thực hiện trên cơ sở sử dụng nguồn thức ăn sẵn

có của địa phương hay cỏ trồng cho chăn nuôi dê Chăn nuôi dê là một nghề đang phát triển tốt trong những năm gần đây, với thuận lợi về giá trị thương mại, các công trình nghiên cứu được thực hiện trên dê và khả năng đa dạng

Trang 17

đã đưa ra và đang tiến hành một chương trình nghiên cứu toàn diện về con dê nhằm đẩy mạnh ngành chăn nuôi dê của Philippin trong những năm tới (trích

từ Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 2000)

Theo Vũ Đức (2015) thì dê và cừu được coi là vật nuôi thế mạnh của Indonesia với hơn 55% hộ nuôi ở các quy mô khác nhau Do đó, chính phủ và các cơ quan quản lý địa phương đặc biệt quan tâm tới nhóm đối tượng nuôi chiếm nhiều ưu thế này Con dê gắn liền với nét văn hóa của người dân Indonesia và là lễ vật không thể thiếu trong các lễ hội truyền thống của đất nước Với nông dân Indonesia, dê là vật nuôi có giá trị kinh tế cao, mang lại cho họ nhiều sản phẩm như thịt, sữa, lông, da, phân bón và khí sinh học để thắp sáng, sưởi ấm Ngoài ra, chăn nuôi dê, cừu quay vòng vốn nhanh, chi phí đầu vào thấp, phù hợp với khả năng của đại đa số nông dân Chăn nuôi cừu cũng khá phát triển tại Indonesia, chủ yếu tập trung ở tỉnh Java, chiếm 63% tổng đàn cả nước Để có sản phẩm tốt, Chính phủ Indonesia chủ trương phải

có con giống chất lượng cao Do đó, Chính phủ khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân nhập khẩu con giống chất lượng từ nước ngoài Điển hình là các giống dê Saanen nhập khẩu từ Thụy Sĩ, Ettawa nhập khẩu từ Ấn

Độ Đặc biệt là giống dê Ettawa, con đực trưởng thành nặng 75 - 105 kg, con cái trưởng thành nặng 50 - 60 kg, năng suất sữa 1 - 4 lít/con/ngày Giống dê này đang được chú trọng gìn giữ và nhân giống trên toàn quốc 3 năm trở lại đây, Indonesia đã bắt đầu đẩy mạnh xuất khẩu dê, cừu sang nhiều nước khác nhau, song song tiêu thụ nội địa Thu nhập từ chăn nuôi dê, cừu chiếm khoảng

20 - 30% tổng thu nhập của nông dân Ngoài thịt, sữa, người nông dân tận

Trang 18

2.2.1.1 Dê chuyên dụng hướng thịt Boer

Dê Boer là giống dê chuyên dụng thịt có nguồn gốc từ châu Phi, hiện đang dược nuôi nhiều ở Mỹ và châu Phi, được nhập vào Việt Nam và nuôi tại Trung tâm Dê Thỏ Sơn Tây đầu năm 2002 để nuôi thích nghi và lai tạo

Giống dê này có màu lông trắng, vàng nhạt; lông nâu ở quanh cổ tai, hai bên mặt Dê có ngoại hình to lớn, tai dài, cơ bắp rất phát triển, đầy đặn, sinh trưởng nhanh Khối lượng trưởng thành ở con đực là: 120 - 140kg, con cái nặng 90- 110kg

Tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, đàn dê Boer có khả năng tăng trọng khá cao, khối lượng sơ sinh đạt 4,3 - 5,5 kg, 1 tháng tuổi đạt 9,8 - 12,2 kg; 2 tháng tuổi đạt 14,6-17,5 kg 3 tháng tuổi đạt 20,2-24,1 kg 8 tháng tuổi đạt 35-40 kg Khối lượng này cao hơn rất nhiều so với tất cả các giống dê khác hiện có tại Việt Nam (Trần Trang Nhung và cs., 2005)

Hình 1 Dê Boer

2.2.1.2 Các giống dê của Việt Nam

Hầu hết dê nuôi ở Việt Nam là dê tại địa phương, việc định tên cũng chưa rõ

và chưa được phân loại rõ ràng Một số tỉnh như Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La,

Hà Giang ngoài dê tại địa phương sẵn có, người dân còn nuôi cả dê tại địa phương của Trung Quốc do sự giao lưu qua lại giữa các vùng biên giới, vì vậy

dê có tầm vóc lớn hơn, khả năng sản xuất thịt cao hơn ở một số vùng khác

Trang 19

6

Ngoài dê tại địa phương còn có dê Bách Thảo được nuôi nhiều tại Ninh Thuận, giống dê này vừa cho sữa vừa cho thịt Dựa vào đặc điểm ngoại hình

và tính năng sản xuất, có thể phân ra làm 2 giống dê chính như sau

2.2.1.2.1 Dê cỏ (dê tại địa phương)

Dê có đặc điểm màu lông không thuần nhất, có nhiều màu lông khác nhau nhưng tập trung chủ yếu ở một số màu lông chính như: màu vàng (vàng tro, vàng cánh dáng vàng nâu), màu đen (đen tuyền, xám đen), khoang trắng đen, trắng xám Dê có hai sọc nâu hoặc đen ở hai bên mặt và một sọc từ đầu đen đuôi, bốn chân đốm đen Dê đực và dê cái đều có sừng và râu tai nhỏ và hướng về phía trước hoặc sang ngang, đầu nhỏ, mình ngắn, bụng to, tầm vóc nhỏ Dê đực có lông bờm dài, cứng, tầm vóc to và thô hơn Khối lượng sơ sinh bình quân 1,6-1,8 kg; khối lượng trưởng thành dê cái 25-30 kg dê đực 30-45

kg, chiều cao con cái 50-54 cm, con đực cao 55-58 cm Tỷ lệ thịt xẻ 40-44%,

tỷ lệ thịt tinh 28-30% Khả năng sinh sản tốt, số con đẻ ra/lứa bình quân 1,5 con; số lứa đẻ/năm/cái bình quân 1,6-1,7 lứa Năng suất sữa thấp, chỉ đủ nuôi con, dê cỏ phù hợp với chăn nuôi quảng canh lấy thịt nhưng năng suất thịt thấp

do khả năng sinh trưởng chậm Một vấn đề cần lưu ý là trong giống dê tại địa phương của Việt Nam có một nhóm dê được gọi là dê núi (dê vùng cao) Nhóm dê này có số lượng ít, được nuôi tập trung ở một số tỉnh biên giới phía Bắc như Sơn La, Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng Chúng có màu lông không đồng nhất, chủ yếu màu lông đen, đen xám, vàng thẫm; ngoại hình kết cấu chắc và khỏe, sừng to và dài, con đực và cái đều có râu cằm Khối lượng trưởng thành ở dê cái 34-35kg, dê đực 45-50 kg, năng suất thịt xẻ 45%, khả năng sinh sản tương đương dê Cỏ (Trần Trang Nhung và cs., 2005)

2.2.1.2.2 Dê Bách Thảo

Hình 2 Dê Bách Thảo

Trang 20

7

Là giống dê kiêm dụng sữa thịt, cho dến nay có nhiều ý kiến về nguồn gốc của

nó Có tác giả cho rằng dê Bách Thảo có nguồn gốc từ Ấn Độ, một số tác giả khác cho rằng giống dê này có nguồn gốc từ quá trình lai tạo giữa dê sữa châu

Âu (British-Alpine từ Pháp) với dê sữa Ấn Độ đã được nhập vào nước ta và nuôi dưỡng qua hơn một trăm năm nay Giống dê này được nuôi nhiều ở các tỉnh phía nam, trong đó nhiều nhất là ở Ninh Thuận Do có những ưu điểm tốt, hiện nay dê Bách Thảo đang được phát triển đại trà trong sản xuất trên phạm

vi cả nước

Dê có đặc điểm: Màu lông khá đồng nhất, chủ yếu là màu lông đen hoặc đen sọc trắng, lông sáng bóng mượt, tai to cụp xuống, một số không có sừng, tầm vóc to, phần lớn dê không có râu ở cằm Kết cấu cơ thể theo hướng cho sữa, bầu vú hình bát úp, núm vú dài 4-6 cm

Khối lượng sơ sinh: dê cái bình quân 2.3-2,6kg, dê đực 2.6-2,8 kg, khối lượng trưởng thành dê cái đại 40-45 kg, dê đực đạt 60-85 kg; tỷ lệ thịt xe là 45%, tỷ

lệ thịt tinh là 30%

Khả năng sinh sản của dê Bách Thảo tốt vì vậy tốc độ tăng đàn và tỷ lệ nuôi sống cao hơn so với dê tại địa phương Dê đẻ bình quân 1,7 con/lứa và đạt 18 lứa/năm

Khả năng cho sữa cao bình quân 1,1-1,4 kg/con/ngày với chu kỳ cho sữa

48-150 ngày Dê hiền lành, có thể nuôi nhốt hoàn toàn hoặc kết hợp chăn thả đều cho kết quả tốt (Trần Trang Nhung và cs., 2005)

2.2.2 Khả năng tiêu hóa

Giống như ở trâu, bò, dạ dày của dê, cũng có 4 túi (túi dạ cỏ, túi dạ tổ ong, túi

dạ lá sách, túi dạ múi khế) Trong đó 3 túi là: dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách không tiết ra dịch tiêu hoá Sự tiêu hóa thức ăn chủ yếu xảy ra ở dạ cỏ và dạ tổ ong, do hệ sinh vật đảm trách, trong đó 50% vật chất khô của khẩu phần được

tiêu hóa ở dạ cỏ (Nguyễn Thiện và Đinh văn Bình, 2007) Ở dê trưởng thành,

dạ cỏ chiếm thể tích khoảng 80% thể tích dạ dày, đây là nơi lên men chính Môi trường dạ cỏ thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật, đây là môi trường trung tính (pH = 6,5–7,4), có được điều này vì nước bọt của dê, cừu là dung dịch đệm có tính kiềm, chứa nhiều ion NH4+, Na+, … trung hòa acid sinh ra do quá trình lên men của vi sinh vật Nhiệt độ trong dạ cỏ là 38–410C, độ ẩm 80–90% Dạ cỏ có môi trường yếm khí, nồng độ ôxy nhỏ hơn 1% (Nguyễn Thiện

và Đinh văn Bình, 2007)

Trang 21

8

Vi sinh vật dạ cỏ trước tiên sử dụng lượng đường hoà tan và tinh bột có trong thức ăn làm nguồn năng lượng để sinh trưởng và phát triển, sau đó chúng mới

bắt đầu công phá chất xơ có trong thức ăn (Hoàng Văn Tiến và cs., 1995)

Thức ăn sau khi được vi sinh vật lên men tiêu hoá, một phần chúng sẽ sử dụng cho chính bản thân chúng, phần khác sẽ được chuyển xuống dạ tổ ong, rồi dạ

lá sách, sau cùng là dạ múi khế để cung cấp cho vật chủ Mặt khác, xác vi sinh vật khi trôi xuống dạ múi khế, ruột non cũng sẽ được tiêu hoá để cung cấp nguồn năng lượng và dưỡng chất cho cơ thể vật chủ

Hàm lượng protein có trong thức ăn xanh sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa loại thức ăn đó Nếu thức ăn xanh có hàm lượng protein từ 6–8% thì tiêu hóa cao, vì nó sẵn sàng cung cấp nhu cầu nitơ cho vi sinh vật dạ cỏ (Nguyễn Văn Hớn, 1998)

2.2.3 Vài nét về đặc điểm lên men vi sinh vật ở dạ cỏ

Vi sinh vật ở dạ cỏ có khả năng lên men carbohydrate, phân hủy thức ăn tạo ra các acid béo bay hơi, khí methane (CH4), khí carbonic (CO2) và năng lượng cung cấp cho sự sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật Hệ vi sinh vật sống trong dạ cỏ gồm vi khuẩn, nguyên sinh động vật và vi nấm

2.2.3.1 Vi khuẩn (Bacteria)

Thông thường, vi khuẩn chiếm phần lớn trong hệ sinh vật dạ cỏ, mật độ từ

1010–1011 con/ml dịch dạ cỏ (Nguyễn Văn Thu, 2006) Vi khuẩn có trong dạ

cỏ bao gồm:

Vi khuẩn tự do trong dịch dạ cỏ (chiếm khoảng 30%)

Vi khuẩn bám vào các mẫu thức ăn (chiếm khoảng 70%)

Vi khuẩn trú ngụ ở nếp gấp biểu mô

Vi khuẩn bám vào protozoa (chủ yếu là loại sinh khí metan)

Do thức ăn liên tục được chuyển khỏi dạ cỏ, vì thế phần lớn vi khuẩn bám vào thức ăn sẽ bị tiêu hoá đi Do vậy, số lượng vi khuẩn ở dạng tự do có trong dịch

dạ cỏ là rất quan trọng để xác định tốc độ công phá và lên men thức ăn

Vi khuẩn có những nhóm chính sau đây:

Nhóm vi khuẩn phân giải carbohydrate không phải là chất xơ: số lượng của

chúng sẽ tăng khi ta cho gia súc ăn khẩu phần giàu carbohydrate dễ lên men (như: tinh bột, đường, glucose, …) có từ thức ăn hạt, củ, cỏ xanh tươi, rỉ mật đường, …

Trang 22

9

Nhóm vi khuẩn lên men lactic: có tác dụng lên men đường, chúng phát triển

rất nhanh khi dạ cỏ chứa ít Streptococcus Vi khuẩn lactic chiếm ưu thế khi

khẩu phần ăn giàu cỏ khô, hoặc thức ăn tinh

Nhóm vi khuẩn phân giải chất xơ: chiếm tỷ lệ nhỏ (dưới 10%) so với tổng số

vi khuẩn Tại dạ cỏ chất xơ được tiêu hoá nhờ men phân giải chất xơ của vi

khuẩn phân giải xơ (Cellulolytic bacteria) sống ở dạ cỏ tiết ra Các loại vi

khuẩn này phân giải được cellulose, hemicellulose và cả pectin Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với sự lên men chất xơ ở loài nhai lại

Nhóm vi khuẩn phân giải chất chứa nitơ: bao gồm Butyrivibro, Bacteroides, Streptococcus, Selenomas, Clostridium, Lachnospira và Borrelia, Trong đó,

có những loài có hoạt động phân huỷ cellulose, xylanose, pectinose, amylose

và saccarose rất mạnh có trong thức ăn Các vi khuẩn này có khả năng phân huỷ cả protein có trong thức ăn

2.2.3.2 Nguyên sinh động vật (Protozoa)

Protozoa có trong dạ cỏ của dê bắt đầu từ khi dê ăn thức ăn Những ngày đầu sau khi sinh, dạ cỏ dê, không chứa protozoa Hầu hết các protozoa có mặt trong dạ cỏ dê sống trong môi trường yếm khí Chúng có khả năng phân giải chất xơ có trong thức ăn, tuy nhiên, cơ chất chính của chúng là đường và tinh bột

Protozoa có mặt trong dạ cỏ được chia làm 2 loại chính: Entodineomorphs (chủ yếu là Entodinia spp) và Holotrich (chủ yếu là Isotricha hoặc Dasytricha

spp) Một vài loại protozoa có khả năng phân giải cellulose, nhưng cơ chất

chính là đường và tinh bột, các cơ chất này sẽ được hấp thu nhanh chóng và

dự trữ dưới dạng polydextran, đây là dạng sẽ được huy động ra theo nhu cầu

để cung cấp năng lượng cho duy trì và sinh trưởng của protozoa

Có sự tác động tương hỗ giữa protozoa và vi khuẩn, protozoa ăn và tiêu hóa vi

khuẩn, loại ra xác trôi nổi trong dịch dạ cỏ (Hungate và cs., 1952; Coleman,

1975), chính vì thế mà làm giảm lượng vi khuẩn bám vào mẫu thức ăn Với những thức ăn dễ tiêu hóa thì điều này sẽ không có ý nghĩa lớn, nhưng đối với thức ăn khó tiêu thì sẽ làm tăng thời gian tiêu hóa thức ăn

Khi mật độ protozoa trong dạ cỏ cao, một tỷ lệ lớn vi khuẩn bị protozoa ăn và

tiêu hoá Trường hợp nhóm Entodinia nhiều (khoảng 2 triệu con protozoa/ml

dịch dạ cỏ) thì tất cả vi khuẩn tự do trong dịch dạ cỏ sẽ bị ăn mất đi, chiếm khoảng 30% tổng lượng sinh khối (Coleman, 1975)

Trang 23

10

2.2.3.3 Nấm (Phycomycetous)

Trong tất cả các loại nấm yếm khí có mặt trong dạ cỏ, ta có thể chia ra làm 5

loài, bao gồm: Neocallim, Piromyces, Caecomyces, Orpinomyces,

Anaeromyces (Nguyễn Văn Thu, 2006)

Nấm có mật độ khoảng 103–104/ml dịch dạ cỏ Vai trò của nấm trong sự phân huỷ chất xơ tại dạ cỏ được thể hiện ở chỗ chúng thích định cư trên những chất

xơ của thực vật trong dạ cỏ dê, cừu và gia súc nhai lại Chúng phá vỡ cấu trúc carbohydrate có ở vách xơ của tế bào thực vật, tạo điều kiện cho vi khuẩn bám vào cấu trúc tế bào để tiến hành lên men phân huỷ

2.2.3.4 Vai trò của N-NH 3 trong dịch dạ cỏ

Nồng độ N-NH3 trong dịch dạ cỏ đòi hỏi đảm bảo tối đa cho vi sinh vật tăng trưởng Trong phòng thí nghiệm, nồng độ N-NH3 có giá trị tối thiểu là 20–50 mg/lít dịch dạ cỏ (Nguyễn Văn Hớn, 2008) Để thức ăn được phân giải tối đa bởi vi sinh vật dạ cỏ, nhu cầu tối thiểu về nồng độ N-NH3 trong dạ cỏ cần cao hơn khi khẩu phần ăn có chất lượng thấp, nồng độ N-NH3 nên khoảng 60–100

mg/lít (Oosting và Waanders, 1993)

Thiếu N-NH3 dẫn đến giảm hiệu quả của hệ vi sinh vật sống trong dạ cỏ mặc

dù con đường tổng hợp acid amin ở vi sinh vật dạ cỏ chưa được xác định rõ Tuy nhiên, người ta thấy rằng N-NH3 đóng vai trò quan trọng cho việc tổng hợp có hiệu quả acid amin và protein ở vi sinh vật

2.2.3.5 Vai trò của pH trong dạ cỏ

Cộng đồng vi sinh vật ở dạ cỏ chịu ảnh hưởng bởi lượng nước bọt Môi trường trung tính ở dạ cỏ luôn luôn được duy trì để đảm bảo cho sự tồn tại của

vi sinh vật Môi trường dạ cỏ thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật là môi trường trung tính (pH = 6,5–7,4), tương đối ổn định nhờ tác dụng trung hòa acid sinh ra do quá trình lên men của nước bọt Các muối phosphate và bicarbonate trong nước bọt có tác dụng là chất đệm (Nguyễn Thiện và Đinh Văn Bình, 2007)

Nếu độ pH dạ cỏ thấp, số lượng vi khuẩn cellulose, amylose và một số lớn protozoa bị chết đi và được chuyển đến túi sau Khi độ pH dạ cỏ thấp, CO2 sẽ tách ra khỏi dung dịch và tích tụ ở túi vùng lưng, sau đó CO2 và CH4 sẽ được thải ra ngoài qua ợ hơi Khi độ pH cao, phần lớn CO2 sản sinh trong quá trình lên men sẽ được hấp thu, sau đó thải ra bên ngoài theo đường phổi

Trang 24

11

2.2.4 Nhu cầu dinh dƣỡng về tăng trọng của dê

2.2.4.1 Khối lượng thức ăn ăn vào và nhu cầu vật chất khô ăn vào

Khối lượng thức ăn ăn vào là lượng thức ăn mà gia súc ăn với điều kiện được

ăn tự do Đây là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định hiệu quả chăn nuôi Lượng thức ăn ăn vào của dê, sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào giống, hướng sản xuất, tình trạng sức khoẻ của con vật, cơ địa và môi trường chăn nuôi

Nhu cầu thu nhận vật chất khô ở dê nếu ăn tự do là 3,5% so với thể trọng; dê hướng thịt dưới 3%; dê hướng sữa trên 4% (Nguyễn Văn Thu, 2006)

Vấn đề cần lưu ý khi tính toán lượng thức ăn ăn vào ta cần chú ý đến quá trình phát triển của cây cỏ thực vật là thức ăn của gia súc Vì màng tế bào thực vật ở cây cỏ sẽ dầy thêm theo tuổi, do đó, lượng xơ tăng lên nhất là xơ khó tiêu hoá

từ đó dẫn đến khả năng tiêu hóa loại thức ăn này sẽ giảm

Tỷ lệ protein/ năng lượng thấp có thể ngăn cản sự ăn vào Những hiệu quả của việc bổ sung nitơ có lợi cho khối lượng ăn vào, có thể tác động trực tiếp đến tình trạng nitơ của gia súc cũng như hoạt động của dạ cỏ

Việc cung cấp cân đối, đầy đủ các chất dinh dưỡng có trong thức ăn như: đạm, năng lượng, khoáng, vitamin, chất xơ sẽ tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, kích thích vi sinh vật dạ cỏ sinh trưởng và phát triển tốt sẽ làm cho con vật tăng trưởng tốt

2.2.4.2 Nhu cầu năng lượng và chất đạm

Năng lượng và chất đạm rất cần thiết cho dê, cừu trong giai đoạn tăng trưởng

và phát triển Dê, cừu tăng trưởng nhanh nhất trong giai đoạn từ 4 đến 6 tháng tuổi, do đó, trong giai đoạn này người chăn nuôi cần cung cấp khẩu phần ăn đảm bảo chất dinh dưỡng để chúng có thể sinh trưởng và phát triển

Nhu cầu năng lượng và chất đạm cho tăng trưởng của dê, cừu được trình bày qua Bảng 1

Trang 25

Năng lƣợng trao đổi (MJ)

Protein thô (g)

Protein thô tiêu hóa (g)

Trang 26

để chọn phần ngon để ăn Thức ăn khi để sát mặt đất chúng rất khó ăn, thường phải quỳ chân trước xuống để ăn Môi và lưỡi dê rất linh hoạt để vơ ngoạm thức ăn và chọn loại thức ăn nào nó ưa thích nhất, thức ăn rơi vãi dê thường bỏ không ăn lại Lượng thức ăn ăn được trên 100 kg khối lượng của dê thường là 2,5-3 kgVCK/ngày Dê là con vật sử dụng nước hiệu quả hơn nhiều so với trâu

bò, nó là con vật có khả năng chịu khát rất giỏi Devendra (1967) cho biết dê nặng 18-20 kg thì một ngày cần uống 680 ml nước, trong đó 544 ml uống từ 7 giờ sáng đến 19 giờ tối và 136 ml uống từ 7 giờ tối đến giờ sáng ở mùa hè, mùa xuân lượng nước uống của dê chỉ là 454 ml (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 2000)

2.2.5.2 Tính khí bất thường, hiếu động, ương bướng và khôn ngoan của dê

Dê là loài vật có tính khí bất thường và hiếu động Dê rất phàm ăn, nhưng luôn luôn tìm thức ăn mới Chúng nếm mỗi thứ một chút rồi cuối cùng chẳng ưng ý một món nào cả Dê vừa chạy nhảy vừa leo trèo rất giỏi Chúng có thể leo lên những vách núi, mỏm đá cạnh vực sâu cheo leo nguy hiểm Với sự nhanh nhẹn khéo léo, chúng có thể di chuyển dễ dàng trên những mỏm đá cheo leo nhất Trong trường hợp cần thiết con dê đực trưởng thành có thể đứng rất lâu trên một mỏm đá bên bờ vực thẳm với diện tích chỉ chừng 200-300 cm2 Bám móng vào những gò đá chỉ hơi nhô lên một chút dê có thể leo lên những sườn dốc gần như thẳng đứng Ngay cả dê con chỉ mới 12-15 ngày tuổi cũng đã có thể nhảy lên những mỏm đá cao 1-2 m

Dê thường chọi nhau rất hăng, không riêng gì dê đực mà cả dê cái cũng vậy Chúng dùng sừng húc vào mặt, vào đầu, vào bụng địch thủ Những con dê không sừng thì húc cả đầu, cuộc chiến đấu có khi kéo dài đến nửa giờ Tính thích húc nhau là do tính hung hăng hay gây sự, hoặc do đùa nhau, hoặc là do

cử chỉ của một con dê trong đàn mà chúng cho là khiêu khích Đôi khi do buồn sừng hay một lý do nào đó mà dê tự nhiên chuẩn bị tư thế chiến đấu, nó lùi lại lấy đà rồi cúi đầu lao thẳng vào một bụi cây hoặc húc đầu vào một mô

Trang 27

14

đất Khi gặp nguy hiểm, đôi khi dê tỏ ra rất hăng, liều mạng; nhưng nhiều khi lại tỏ ra rất nhát dễ hoảng sợ trước một vật lạ Nhiều người nuôi dê phàn nàn cho là dê ương bướng Tuy nhiên dê cũng là con vật rất khôn ngoan, dê rất mến người chăm sóc chúng Dê có khả năng nhớ được nơi ở của mình cũng như tên của nó khi con người đặt cho (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 2000)

2.2.5.3 Tập tính theo dàn của dê

Dê thường sống tập trung thành từng đàn Mỗi con trong đàn có một vị trí xã hội nhất định Những con mới nhập đàn thường phải thử sức để xác định vị trí

xã hội của nó Chọi nhau là hình thức thử sức rất phổ biến trong đàn dê Con ở

vị trí "xã hội thấp" phải phục tùng và trong sinh hoạt phải nhường con ở vị trí

xã hội cao Trong đàn dê thường có con dê đầu đàn dẫn đầu trên bãi chăn, đàn

dê di chuyển gặm cỏ theo con đầu đàn, ở trong đàn dê rất yên tâm Khi bị tách khỏi đàn dê tỏ ra sợ hãi Dê thích ngủ nghỉ trên những mô đất hoặc trên những tảng đá phẳng và cao Dê ngủ nhiều lần trong ngày, nhiều lúc trong khi ngủ dê vẫn nhai lại, khứu giác và thính giác của dê rất phát triển nên dê rất nhạy cảm với tiếng động dù nhỏ như có tiếng chân người đi đến gần chuồng, chúng vẫn phát hiện (Đinh Văn Bình và Nguyễn Quang Sức, 2000)

2.2.6 Kỹ thuật chọn dê giống trong chăn nuôi dê thịt

- Đối với dê con: Khi sơ sinh phải có khối lượng đạt 2,5 kg ở dê cái và 3,0 kg

ở dê đực Lúc cai sữa dê cái đạt khối lượng 6,5 kg, dê đực đạt 7,5 kg trở lên mới được chọn làm hậu bị Các dê được chọn phải là con từ các lứa đẻ sinh đôi trở lên của các dê mẹ để từ lứa thứ hai trở đi đến lứa thứ 8, bố của chúng là các dê đực đang ở độ tuổi phối giống từ năm thứ 2 đến năm thứ 5

- Dê cái giống: Chọn những con có ngoại hình đẹp, mình rộng, ngực nở, bụng

to, thân mình cân đối khoẻ mạnh, chân thẳng và vững chắc, da mềm, lông bóng mượt, bộ phận sinh dục nở nang, khi đạt khối lượng quy định thì sẽ được phối giống để sinh sản

- Dê đực giống: Chọn những con có ngoại hình đẹp, cổ kết hợp hài hoà với đầu, tứ chi vững chải và thẳng, hai dịch hoàn to đều dáng điệu nhanh nhẹn hoạt bát tính dục hãng, đạt khối lượng quy định lúc đến tuổi phối giống thì được tuyển chọn làm dê đực giống Cần chọn những dê đực từ con của những

bố thật tốt và là những dê để từ đầu vụ sinh sản của dê tại địa phương Chú ý theo dõi đời con của các dê đực giống này (về khả năng sinh trưởng, phát dục, sinh sản cho sữa ) để có kết luận cuối cùng cho mỗi dê đực giống (Trần Trang Nhung và cs., 2005)

Trang 28

15

2.2.7 Đo vòng ngực để tính khối lƣợng dê

Theo Võ Văn Ninh (2015) để đo vòng ngực của dê, dùng thước dây đo sát nách chân trước, thước có thể tính bằng cm hoặc inche, chúng ta có bảng sau

để tính ra khối lượng dê

Bảng 2: Bảng đo vòng ngực để tính khối lƣợng dê

Trang 29

ăn hong khô hoặc làm bột cỏ khô dùng để nuôi bò thịt, bò sữa, dê, cừu, thỏ, gà tây, cá trắm cỏ, mà không cần hoặc về cơ bản không cần cho thêm thức ăn tinh vẫn đảm bảo vật nuôi phát triển bình thường Hiệu quả về chăn nuôi hơn hẳn các loại cỏ khác, chẳng hạn, cứ 14 kg cỏ tươi thì sản xuất được 1 kg trắm cỏ,

18 kg cỏ tươi thì sản xuất được 1 kg thịt ngỗng Không những vậy, giống cỏ này có hàm lượng đường cao, giàu dinh dưỡng được các loại vật nuôi như bò,

dê, cừu, lợn, lợn rừng, gà tây, cá trắm cỏ rất thích ăn, vật nuôi chóng lớn, khoẻ mạnh Giống cỏ VA06 chịu rét, chịu hạn, có bộ rễ phát triển cực mạnh, dài tới 3-4m, rễ dài nhất tới 5m, mọc tập trung Đường kính thân 2-3cm, lớn nhất 4cm, chống gió tốt, là cây chống xói mòn có hiệu quả, cũng là một loại cây lý tưởng trồng trên đất có độ dốc cao, kể cả đất có độ dốc trên 250; trồng làm hàng rào xung quanh vườn quả; trồng ven đê, ven hồ để chống xạt lở, trồng ở vùng đất cát để giữ cát và là cây phủ xanh đất trống đồi trọc VA06 là loài thực vật C4 có tác dụng quang hợp rất mạnh, có tác dụng tốt đến việc hấp thụ các khí độc trong không khí Có thể trồng trên diện tích lớn ở ven đường, xung quanh vùng khai thác khoáng sản, trong công viên lớn để bảo vệ môi trường VA06 có thể trồng được ở hầu hết các loại đất, kể cả đất cát sỏi, đất mặn kiềm nhẹ, chịu được độ pH 4,5 Trên đất khô hạn, đất đọng nước, đất dốc, đất bằng,

bờ ruộng, ven đê, ven hồ đều có thể sử dụng để trồng loại cỏ này (Varisme, 2014)

Giống cỏ VA06 yêu cầu điều kiện môi trường như sau: số ngày nắng trong 1 năm trên 100 ngày, độ cao so với mực nước biển dưới 1500m, nhiệt độ bình quân năm trên 150C, lượng mưa/ năm trên 800mm, số ngày không sương muối/ năm trên 300 ngày Do phổ thích nghi rộng, sức chống chịu tốt, nên tỷ

lệ sống sau khi trồng rất cao, nói chung trên 98%, ngay trên vùng đất thấp, ẩm ướt và rét, tỷ lệ sống vẫn trên 98% Tốc độ sinh trưởng mạnh, sức sinh sản

Trang 30

17

nhanh ở vùng nhiệt đới, cỏ VA06 có thể sinh trưởng quanh năm, chiều cao thân bình quân 4-5 m, cao nhất đạt 6m, đẻ rất khoẻ, một cây có thể đẻ 20-35 nhánh năm, mức cao nhất là 60 nhánh, 1 ha có thể có 5,25 triệu nhánh, hệ số nhân trên 500 lần Nếu trồng 1 ha vào vụ xuân, sau 8 tháng có thể đủ giống trồng trên 300 ha cho năm sau, nếu đủ phân, đủ nước thì năm thứ 2 có thể đủ giống để trồng trên 800 ha (Varisme, 2014)

Dùng cách tách chồi hoặc cắt mắt để trồng thì chỉ sau 40 ngày là có thể cắt được lứa đầu ở các vùng nhiệt đới và một số vùng á nhiệt đới, có thể thu hoạch cỏ quanh năm, năng suất đạt trên 652 tấn/ ha/ năm, Gia cầm và cá trắm đạt 608 tấn/ha/năm đứng đầu bảng so với năng suất của mọi loại cỏ hoà thảo khác, gấp 20-30 lần năng suất của các loại cỏ họ đậu Khả năng lưu gốc của cỏ rất tốt, trồng 1 năm thu hoạch liên tục 6-7 năm, từ năm thứ 2 đến năm thứ 6 là thời kỳ cho năng suất cao nhất Loại cỏ này chủ yếu dùng phương pháp sinh sản vô tính Do sức chịu rét tốt, nên nói chung khi nhiệt độ trên 00C, cây có thể qua đông, trên 80C cây phát triển thường Loại cỏ này rất ít bị sâu bệnh, được coi là một loại cỏ trồng ít sâu bệnh nhất (Varisme, 2014)

2.2.8.1 Thức ăn hỗn hợp

Là loại thức ăn có khối lượng nhỏ nhưng hàm lượng chất dinh dưỡng trong 1kg thức ăn lớn Hàm lượng chất xơ thấp hơn 18% Nhóm thức ăn này bao gồm các hạt ngũ cốc và bột của chúng (ngô, mì, gạo…), bột và khô dầu đậu tương, đậu phộng…Các loại hạt cây bộ đậu và các loại thức ăn tinh hỗn hợp được sản xuất công nghiệp Đặc điểm của thức ăn tinh là hàm lượng nước và

xơ đều thấp, chứa nhiều chất dinh dưỡng quan trọng như đạm, đường, béo, các chất khoáng và vitamin Tỷ lệ tiêu hoá các dưỡng chất khá cao Thông thường thức ăn tinh được sử dụng để hoàn thiện các khẩu phần thức ăn thô cho gia súc nhai lại Mặc dù thức ăn tinh có hàm lượng dưỡng chất cao nhưng nhưng không thể sử dụng một mình để nuôi gia súc phải kết hợp với thức ăn thô Bởi

vì gia súc cần thức ăn thô để đảm bảo quá trình tiêu hoá diễn ra bình thường (Phùng Quốc Quảng, 2002)

Bảng 3: Thành phần dinh dƣỡng (%DM) thức ăn hỗn hợp

Trang 31

18

2.3 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Chất lượng nguồn thức ăn có đảm bảo đủ dưỡng chất cho dê hay không? Việc bổ sung thức ăn cho dê có mang lại hiệu quả kinh tế không?

Dê có phù hợp với điều kiện chăn nuôi tại nông hộ tỉnh An Giang

Trang 32

19

CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 MẪU NGHIÊN CỨU

3.1.1 Thời gian và địa điểm

Thời gian: Từ tháng 01/2016 đến tháng 11/2016

Địa điểm: Huyện Tịnh Biên, Phú Tân và Tân Châu tỉnh An Giang

Đối tượng nghiên cứu: hộ nông dân chăn nuôi dê ở 3 huyện trên

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu

Bảng câu hỏi thiết kế sẵn

Bản đồ hành chính các địa phương, số liệu thứ cấp

Một số vật dụng khác

3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.2 1 Khảo sát tình hình chăn nuôi dê ở tỉnh An Giag

Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát hiện trạng chăn nuôi dê và thành phần các chất dinh dưỡng của các loại thức ăn thường dùng trong chăn nuôi dê

Khảo sát thực tế hiện trạng chăn nuôi dê được tiến hành qua các bước

- Thiết kế bảng câu hỏi

- Điều tra thử

- Sửa bảng câu hỏi

- Thực hiện điều tra: phỏng vấn người nuôi, quan sát thực tế, đo đạt kỹ thuật

- Điều tra lại

- Thu thập các số liệu thứ cấp có liên quan

Ngày đăng: 08/03/2021, 16:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w