Trong chính sách ngôn ngữ, cần đặc biệt chú ý đến chính sách ngôn ngữ đối với các ngôn ngữ dân tộc thiểu số, vì chính sách này được coi là bộ phận của chính sách dân tộc, mà trong đó có
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
KHẢO SÁT, NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH DÂN TỘC KHMER TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TỊNH BIÊN VÀ TRI TÔN
TỈNH AN GIANG
Chủ nhiệm đề tài: HOÀNG QUỐC
Long Xuyên, tháng 12 năm 2012
Trang 2PHẦN TÓM TẮT ………1
CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… 2
PHẦN MỞ ĐẦU……… 1
I Lý do chọn đề tài……… 1
II Mục tiêu của đề tài……… 1
III Nội dung nghiên cứu……… 2
IV Mục đích nghiên cứu ……… 2
V Phương pháp nghiên cứu và mẫu nghiên cứu ……… 2
5.1 Phương pháp ……… 2
5.2 Mẫu nghiên cứu……… 3
VI Khả năng tiển khai ứng dụng, triển khai kết quả của đề tài ……… 4
VII Đóng góp của đề tài ……… 4
1 Đóng góp về mặt khoa học, phục vụ công tác đào tạo……… 4
2 Những đóng góp liên quan đến phát triển kinh tế……… 4
3 Những đóng góp về mặt xã hội ……… 4
NỘI DUNG……… 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN VỀ GIÁO DỤC NGÔN NGỮ VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ……… 5
I Cơ sở lý luận của chính sách ngôn ngữ ở quốc gia đa dân tộc ……… 5
1.1 Tầm quan trọng của ngôn ngữ……… 6
1.2 Khái niệm chính sách ngôn ngữ……… 6
1.3 Về các khái niệm “ngôn ngữ quốc gia”, “ngôn ngữ dân tộc”……… 8
1.4 Về “Luật ngôn ngữ” ……… 9
II Quan niệm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề ngôn ngữ các dân tộc thiểu số 10 2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về ngôn ngữ giao tiếp giữa cộng đồng các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc……….11
2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về ngôn ngữ của dân tộc thiểu số 12
2.3 Chính sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam………….13
2.4 Vị thế của tiếng Việt đối với ngôn ngữ các dân tộc thiểu số nhìn từ chủ trương đường lối ……….17
CHƯƠNG 2 TRẠNG THÁI SONG NGỮ KHMER – VIỆT TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER Ở AN GIANG……… 20
Trang 31.1 Khái niệm song ngữ xã hội 20
1.2 Nguyên nhân nảy sinh hiện tượng song ngữ xã hội 23
1.3 Sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ trong xã hội song ngữ 24
1.3.1 Tiếp xúc ngôn ngữ 24
1.3.2 Giao thoa ngôn ngữ 26
1.4 Giao tiếp trong xã hội song ngữ 27
1.4.1 Hiện tượng trộn mã ……… 28
1.4.2 Hiện tượng chuyển mã 29
II Về cảnh huống ngôn ngữ ……… 30
III Vai trò và chức năng xã hội của tiếng Việt và tiếng Khmer ……….33
3.1 Vài trò, chức năng xã hội của tiếng Việt ……….33
3.2 Vai trò, chức năng của tiếng Khmer ……… 33
IV Vấn đề sử dụng ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang ……… 34
4.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên và xã hội của tỉnh An Giang ………34
4.2 Vấn đề sử dụng ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang……… 36
4.3 Thái độ ngôn ngữ của người Khmer ở An Giang 37
V Nhận thức của đồng bào Khmer ở An Giang về vị trí và lợi ích của tiếng Việt 41 VI Tiểu kết 42
CHƯƠNG 3 TÌNH HÌNH DẠY – HỌC VÀ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG VÙNG DÂN TỘC KHMER TRI TÔN VÀ TỊNH BIÊN 44
I Đặt vấn đề 44
II Thực trạng dạy học trong trường hổ thông vùng dân tộc Khmer An Giang 45
III Tình hình sử dụng ngôn ngữ của học sinh Khmer ở huyện Tri Tôn và Tịnh Biên hiện nay……….……….48
3.1 Năng lực ngôn ngữ của học sinh Khmer 49
3.2 Ngôn ngữ của học sinh Khmer thường dùng để giao tiếp trong gia đình 54
3.3 Ngôn ngữ thường dùng để giao tiếp trong trường học và trong các trường hợp sinh hoạt khác 56
IV Ý kiến của học sinh và phụ huynh người Khmer đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong nhà trường .61
4.1 Ý kiến của học sinh Khmer 61
4.2 Ý kiến của phụ huynh người Khmer đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong nhà trường 62
V Tiểu kết 63
Trang 4Kết luận 65
Một số kiến nghị .67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 70
Trang 6PHẦN TÓM TẮT
1 Cảnh huống ngôn ngữ vùng An Giang là cảnh huống đa dân tộc và đa ngữ phi đồng nguồn và đồng hình đơn lập, phi cân bằng, nội ngôn, trong đó tiếng Việt, tiếng Khmer là những ngôn ngữ có vai trò nổi trội Đây là trạng thái song ngữ bất bình đẳng trong đó tiếng Việt chiếm ưu thế hơn Tiếng mẹ đẻ (tiếng Khmer) được người Khmer sử dụng trong các phạm vi giao tiếp không chính thức, như trong gia đình, trong hội thoại hàng ngày giữa những người thuộc cùng dân tộc Khi đó trong ngôn ngữ giao tiếp của
họ thường xảy ra hiện tượng trộn mã ngôn ngữ Tiếng Việt được sử dụng trong các phạm vi giao tiếp chính thức, như trong giáo dục, giao tiếp hành chính Do vậy có thể nói song ngữ ở đây là song ngữ bổ sung Tuy nhiên khả năng nắm tiếng Việt của người Khmer ở đây chủ yếu là ở 2 kĩ năng nghe và nói Lớp trẻ nắm và sử dụng tiếng Việt tốt hơn tầng lớp trung niên và cao niên
Trong các gia đình Khmer thường xảy ra giao tiếp song ngữ, nhất là trong các gia đình trí thức Khả năng song ngữ của các thành viên trong gia đình là rất cao Ở những gia đình công chức hay giáo viên, thường cha mẹ rất có ý thức cố gắng nói bằng tiếng Việt với con cái, nhằm rèn luyện cho con em mình khả năng song ngữ Tùy theo thói quen, các gia đình người Khmer có thể chủ yếu sử dụng tiếng mẹ đẻ khi giao tiếp với nhau, nhưng có thể thay đổi khi trong cuộc thoại có mặt người dân tộc khác Cũng tùy tình huống giao tiếp khác nhau mà các thành viên trong gia đình có thể sử dụng song ngữ bằng cách trộn mã, chuyển mã giữa tiếng Việt và tiếng Khmer
2 Đa số học sinh Khmer đều dùng tiếng Khmer trong phạm vi giao tiếp gia đình, thân tộc và nội bộ dân tộc Khmer ở nhà Tiếng Việt được sử dụng với khách đến nhà chơi là người Kinh hoặc người dân tộc khác, còn ở trường tiếng Việt được dùng trong trường hợp chính thức, bắt buộc như trong giờ học, với thầy cô giáo hoặc đối với người dân tộc khác, dù trong hay ngoài lớp học Vì thế năng lực tiếng Việt của các em học sinh TH và THCS còn nhiều hạn chế, đặc biệt là khả năng đọc – hiểu và khả năng viết của các em rất kém, kể cả học sinh THPT Ngoài những lỗi chính tả, lỗi dùng từ, đặt câu, các em rất hạn chế về diễn đạt do vốn từ tiếng Việt của các em nghèo nàn Thực tế này chứng tỏ rằng, tiếng Việt đối với học sinh Khmer ở ĐBSCL nói chung và ở An Giang nói riêng vẫn còn là vấn đề nan giải Cho nên, khi giảng dạy, giáo viên thường xuyên chú ý để sửa những lỗi sai của học sinh thường mắc do thói quen phát âm tiếng
mẹ đẻ, tích cực làm giàu vốn từ cho học sinh
Học sinh ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn (An Giang) còn gặp khó khăn trong quá trình học tập do nhiều nguyên nhân, trong đó ngoài nguyên nhân khó khăn về hoàn cảnh kinh tế cũng giống như nhiều gia đình nông dân người Kinh, người Hoa và người Chăm trong tỉnh, còn có nguyên nhân về rào cản ngôn ngữ
3 Các mô hình giáo dục ngôn ngữ được áp dụng trong trường phổ thông vùng dân tộc Khmer ĐBSCL nói chung và ở An Giang nói riêng từ nhiều năm nay, song kết quả mang lại chưa đạt yêu cầu như mong muốn Có thể là, do các mô hình giáo dục ngôn ngữ đang được áp dụng chưa phù hợp với vùng dân tộc Khmer, hoặc do nhiều nguyên nhân khác như phương pháp giảng dạy của giáo viên còn nhiều bất cập hay vì chương trình và SGK dùng chung với học sinh người Kinh nên học sinh Khmer không theo kịp chương trình, nội dung kiến thức của SGK Vì thế, học sinh dân tộc Khmer còn gặp phải rất nhiều khó khăn trong học tập Thực tế cho thấy, không những học sinh TH bị rào cản ngôn ngữ mà học sinh THCS vẫn chưa vượt qua được rào cản này Hệ quả tất yếu xảy ra là, số lượng học sinh càng lên lớp cao sinh càng giảm, tỉ lệ học sinh bậc học sau so với bậc học trước chênh lệch quá lớn do các em không hiểu bài, dẫn đến tâm lí chán học, ngại học và cuối cùng là bỏ học
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Tiếng Việt là phương tiện giao tiếp chung của đại gia đình các dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, tiếng Việt không phải là tiếng mẹ đẻ của học sinh các dân tộc thiểu số (DTTS) Vì vậy, học tiếng Việt đối với học sinh DTTS (trong đó có sinh dân tộc Khmer
ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và học sinh dân tộc Khmer ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn tỉnh An Giang nói riêng), là ngôn ngữ thứ hai Có nhiều khó khăn khi học tiếng Việt, nhất là đối với học sinh Khmer bậc tiểu học: khi đến trường các em không biết hoặc biết ít tiếng Việt, nên rất khó tiếp thu bài học Vậy phải dạy như thế nào
để học sinh nắm được tiếng Việt trong một thời gian tương đối ngắn là một yêu cầu cơ bản của việc dạy tiếng Việt ở trường phổ thông Bởi lẽ tiếng Việt đối với học sinh dân tộc Khmer không thuần tuý là một môn học mà còn là phương tiện để tiếp thu các môn học khác
Đã có chương trình dạy môn tiếng Việt cho học sinh DTTS ở bậc tiểu học với những thời lượng khác nhau (100 tuần; 165 tuần và hiện nay là chương trình tiểu học năm 2000) Dùng chương trình, phương pháp và sách giáo khoa dạy tiếng Việt với tư cách là tiếng mẹ đẻ để dạy cho học sinh DTTS nói chung và học sinh Khmer nói riêng trên thực tế đã không đạt được kết quả như mong muốn
Đội ngũ giáo viên và việc nghiên cứu phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc Khmer còn nhiều bất cập Hiện nay đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên dạy tiểu học vùng dân tộc Khmer thuộc hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn của tỉnh An Giang được đào tạo theo nhiều trình độ Các giáo sinh dù học theo hệ đào tạo nào thì vẫn theo học chương trình chung của cả nước trong đó có môn tiếng Việt Do các trường phổ thông cả nước dạy tiếng Việt cho học sinh với tư cách là tiếng mẹ đẻ nên các giáo trình sư phạm cũng chỉ theo một cách Các giáo viên tương lai dạy vùng dân tộc thiểu số Khmer hầu như không chuẩn bị kiến thức và phương pháp dạy tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ thứ hai của học sinh
Từ những thực tế trên có thể thấy rằng: vấn đề dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc Khmer ở cấp tiểu học đã đặt ra từ nhiều năm nay, với nhiều cách làm ở nhiều mức
độ, song kết quả thu được chưa đáp ứng được yếu cầu trong thực tế
Vì lẽ đó, khảo sát, nghiên cứu năng lực tiếng Việt của học sinh Khmer ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn tỉnh An Giang là một yếu cầu cấp thiết nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng dạy và hiệu quả học tập môn tiếng Việt và dạy – học bằng tiếng Việt cho học sinh Khmer
II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Nêu thực trạng dạy - học tiếng Việt và dạy - học bằng tiếng Việt trong trường phổ thông vùng dân tộc Khmer ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn hiện nay
- Xác định được năng lực tiếng Việt của học sinh dân tộc Khmer ở hai địa bàn trên
- Tìm hiểu thái độ (sự đánh giá) và mong muốn của giáo viên dạy tiếng Việt và học tiếng Việt của học sinh Khmer đối với môn tiếng Việt nói riêng, vai trò và chức năng của tiếng Việt nói chung trong dạy và học các môn học khác (ngoài môn tiếng Việt) cũng như việc nâng cao dân trí vùng dân tộc Khmer
Trang 8- Chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch về năng lực tiếng Việt của học sinh dân tộc Khmer giữa các vùng
- Kiến nghị về định hướng, biện pháp nâng cao năng lực tiếng Việt cho học sinh dân tộc Khmer
III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Tiến hành điều tra thực trạng năng lực tiếng Việt của học sinh dân tộc Khmer
ở cả ba cấp học trên hai mặt: tiếng Việt trong giao tiếp và tiếng Việt với tư cách là môn học
2 Phân tích, đánh giá các nhân tố xã hội (như kinh tế, văn hoá, ) tác động đến năng lực tiếng Việt của học sinh dân tộc Khmer
3 Mức độ sử dụng tiếng mẹ đẻ (tiếng dân tộc) của người học sinh dân tộc Khmer so với tiếng Việt và tác động hai chiều (tích cực và tiêu cực) đối với năng lực tiếng Việt
4 Vai trò của giáo viên đứng lớp đối với năng lực tiếng Việt của học sinh
5 Vai trò của gia đình nhà trẻ đối với năng lực tiếng Việt của trẻ trước khi đến lớp
6 Tác động của thông tin đại chúng (báo chí, đài phát thanh và truyền hình) đối với năng lực tiếng Việt của học sinh dân tộc Khmer
7 Thái độ của học sinh dân tộc Khmer đối với việc thụ hưởng giáo dục và sử dụng tiếng Việt
8 Khả năng tiếng Việt của học sinh người Khmer với sách giáo khoa hiện nay
9 Kiến nghị về định hướng và giải pháp trong việc nâng cao năng lực tiếng Việt cho học sinh dân tộc Khmer
IV MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Việc nghiên cứu tình hình dạy và học tiếng Việt trong trường phổ thông DTTS phải trả lời các câu hỏi sau:
- Thực trạng dạy – học tiếng Việt và dạy học bằng tiếng Việt trong trường phổ thông vùng DTTS hiện nay là như thế nào?
- Thái độ (sự đánh giá) và mong muốn của người dạy tiếng Việt (giáo viên) và học tiếng Việt (học sinh DTTS) đối với môn tiếng Việt nói riêng, vai trò, chức năng của tiếng Việt nói chung trong dạy và học các môn học khác (ngoài môn tiếng Việt) cũng như trong việc nâng cao dân trí vùng DTTS có vài trò như thế nào đối với nắm bắt và sử dụng tiếng Việt?
- Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc dạy và học môn tiếng Việt cũng như việc dạy và học bằng tiếng Việt ở vùng DTTS, cần có những yêu cầu, phương hướng và biện pháp nào?
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MẪU NGHIÊN CỨU
5.1 Phương pháp Để tìm hiểu việc dạy tiếng Việt của giáo viên và học tiếng
Việt của học sinh Khmer, đề tài áp dụng hai phương pháp ghi âm và phỏng vấn
- Phương pháp ghi âm: được đươc sử dụng để ghi âm ngôn ngữ tự nhiên của học
sinh và giáo viên trong những hoàn cảnh khác nhau (trong giờ học, trong giờ ra chơi, trả
Trang 9lời thầy cô giáo, giải thích bài cho học sinh, nói chuyện với bạn học, với người lớn, với người thân trong gia đình, với người thuộc các dân tộc khác…) Qua ghi âm có thể xác định tình trạng song ngữ của học sinh và giáo viên, vài trò, vị trí của tiếng Việt trong trường học ở vùng dân tộc Khmer
- Định lượng: xây dựng các phiếu điều tra năng lực tiếng Việt trong sử dụng
theo các đặc điểm giới tính, tuổi tác, cấp học và đặc điểm xã hội của học sinh dân tộc Khmer để tìm hiểu xem tiếng Việt (ở dạng nói và viết) được sử dụng trong những hoàn cảnh, điều kiện và môi trường cụ thể nào; các nhân tố ảnh hưởng và ý nguyện của cả giáo viên lẫn học sinh… Do đó có hai bảng hỏi: một bảng cho giáo viên và một bảng cho học sinh (ở cả ba cấp học)
- Định tính: (với cách tổ chức thảo luận theo nhóm, tọa đàm hoặc hỏi trực tiếp
từng giáo viên) để tìm hiểu cụ thể hơn những khó khăn, thuận lợi của việc dạy tiếng Việt cho học sinh Khmer; tìm hiểu những nhận định, đánh giá của giáo viên về năng lực tiếng Việt của học sinh; tìm hiểu ý kiến của giáo viên về chương trình học tập, về sách giáo khoa; tìm hiểu về tâm tư nguyện vọng và những đề xuất của giáo viên xung quanh việc dạy và học tiếng Việt ở trường phổ thông vùng dân tộc Khmer cũng như vai trò của tiếng Khmer trong trường học
- Phương pháp quan sát trực tiếp: dự giờ, tham gia trò chuyện với giáo viên và
học sinh, thu thập các bài kiểm tra, vở,…
5.2 Mẫu nghiên cứu
Đề tài được triển khai ở ba khu vực khác nhau (về điều kiện sống, môi trường giao tiếp, trình độ dân trí): một khu vực ở nông thôn, một khu vực ở biên giới và một khu vực ở thị trấn Có thể chọn địa điểm (trường) học sinh Khmer học xen kẽ với học sinh người Kinh để đối chiếu với địa điểm (trường) học sinh Khmer chiếm đa số Tổng số phiếu điều tra học sinh cho đề tài nghiên cứu là 1.254 phiếu, trong đó, phiếu điều tra trong học sinh Khmer là 993 phiếu; học sinh người Kinh là 261 phiếu (để đối chứng)
Ngoài ra, chúng tôi còn điều tra 120 giáo viên dạy tiểu học và phỏng vấn sâu giáo viên dạy THCS, THPT ở vùng dân tộc Khmer Đối tượng phụ huynh người Khmer cũng được chúng tôi điều tra, phỏng vấn Cụ thể, chúng tôi điều tra 88 phụ huynh người Khmer có con em đang học tiểu học (30 phụ huynh), trung học cơ sở (48 phụ huynh), THPT (10 phụ huynh)
Tiến hành điều tra 993 học sinh Khmer, 261 học sinh người Kinh ở cả ba cấp học ở các trường sau:
1 Trường phổ thông trung học dân tộc nội trú An Giang
2 Trường phổ thông trung học Nguyễn Trung Trực, huyện Tri Tôn
3 Trường phổ thông cơ sở Lạc Qươí, huyện Tri Tôn
4 Trường tiểu học “A” Lạc Qươí, huyện Tri Tôn
5 Trường phổ thông cơ sở Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn
6 Trường phổ thông cơ sở Lương Phi, huyện Tri Tôn
7 Trường tiểu học “B” Lương Phi, huyện Tri Tôn
8 Trường tiểu học “A” Châu Lăng, huyện Tri Tôn
Trang 109 Trường phổ thông cơ sở Châu Lăng, huyện Tri Tôn
10 Trường phổ thông cơ sở Ô Lâm, huyện Tri Tôn
11 Trường trung học phổ thông Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên
12 Trường trung học cơ sở Nhà Bàng , huyện Tịnh Biên
13 Trường phổ thông trung học cở sở Xuân Tô, xã Xuân Tô, huyện Tịnh Biên
14 Trường tiểu học Xuân Tô, xã Xuân Tô, huyện Tịnh Biên
15 Trường phổ thông trung học cở sở Văn Giáo, xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên
16 Trường tiểu học “A” An Cư, xã An Cư, huyện Tịnh Biên
17 Trường tiểu học “B” Vĩnh Trung, xã Vĩnh Trung, huyện Tịnh Biên
18 Trường phổ thông trung học cở sở Tân lợi, xã Tân Lợi, huyện Tịnh Biên
19 Trường phổ thông trung học cở sở An Hảo, xã An Hảo, huyện Tịnh Biên
20 Trường tiểu học “A’ An Hảo, xã An Hảo, huyện Tịnh Biên
VI KHẢ NĂNG TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG, TRIỂN KHAI KẾT QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Cung cấp luận cứ khoa học cho trường Đại học An Giang mà cụ thể là khoa Sư phạm ứng dụng toàn bộ kết quả nghiên cứu này để xây dựng chương trình đào tạo, kế hoạch bồi dưỡng cho giáo sinh người dân tộc Khmer và giáo sinh người Kinh (Việt) công tác ở vùng dân tộc Khmer Nhằm, nâng cao năng lực tiếng Việt cho học sinh Khmer và việc giáo dục tiếng Việt trong nhà trường
VII ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
1 Đóng góp về mặt khoa học, phục vụ công tác đào tạo
a Bồi dưỡng cán bộ khoa học:
- Góp phần đào tạo đội ngũ giáo viên Ngữ văn của trường Đại học An Giang trong nghiên cứu khoa học và trong thực tế giảng dạy
- Giúp cho sinh viên Sư phạm hiểu biết thực tế và bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học
b Đối với lĩnh vực khoa học có liên quan:
- Có kiến nghị đối với đội ngũ giáo viên nhất là giáo viên cấp tiểu học
- Có chiến lược bồi dưỡng, đào tạo tiếng Việt - tiếng dân tộc đối với giáo viên công tác ở các vùng dân tộc Khmer
2 Những đóng góp liên quan đến phát triển kinh tế
Có ý nghĩa sâu sắc bởi đây là chiếc cầu nối cho đồng bào dân dân tộc Khmer nói chung và học sinh dân tộc Khmer nói riêng đến với chính sách của Đảng và Nhà nước; đến với khoa học kỹ thuật tiến tiến, nâng cáo dân trí,
3 Những đóng góp về mặt xã hội (các giải pháp cho vấn đề xã hội)
Cung cấp luận cứ khoa học cho lãnh đạo phòng Giáo dục huyện Tịnh Biên, Tri Tôn tỉnh An Giang và trường Đại học An Giang xây dựng chính sách và giải pháp nâng cao năng lực tiếng Việt cho học sinh Khmer và việc giáo dục tiếng Việt trong nhà trường
Trang 11NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NGÔN NGỮ VÙNG
DÂN TỘC THIỂU SỐ
I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ Ở QUỐC GIA ĐA DÂN TỘC
1.1.Tầm quan trọng của ngôn ngữ
Muốn thấy hết tầm quan trong của chính sách ngôn ngữ trong các chính sách của một quốc gia, cần có nhận thức rõ về tầm nhìn quan trọng của ngôn ngữ với sự tồn vong, thịnh vượng của quốc gia dó, dân tộc đó Nhìn vào cả quá trình phát triển lịch sử lâu dài của loài người, chúng ta thấy rõ vai trò và tác dụng của ngôn ngữ Cùng với sự phát triển của tư duy, của ý thức, ngôn ngữ đã góp phần hoàn thiện con người, là dấu hiệu phân biệt con người với con vật Khi đã xuất hiện dân tộc, quốc gia, thì ý thức về một quốc gia thống nhất bao giờ cũng gắn bó với ý thức về một ngôn ngữ quốc gia chung Kể từ thời kì dựng nước, trải qua quá trình lịch sử hàng ngàn năm cho đến nay, nếu xét riêng về mặt ngôn ngữ thì lịch sử đất nước Việt Nam là lịch sử trong đó người Việt Nam cùng nhau xây dựng, thống nhất và phổ biến tiếng Việt trong cương vị một ngôn ngữ dùng chung trên toàn lãnh thổ của nước ta
Ngôn ngữ cũng thường được coi là một trong những tiêu chuẩn chính, góp phần làm nên diện mạo, bản sắc của một dân tộc, phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Trong suốt lịch sử lâu dài đấu tranh vì chủ quyền dân tộc, vì độc lập tự do của đất nước, dân tộc Việt Nam đã phấn đấu vô cùng gian khổ để thoát được hiểm họa diệt chủng về
ngôn ngữ và văn hóa, để bảo vệ và phát triển được tiếng Việt, như Bác Hồ nói, “thứ
của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quí báu của dân tộc”
Trong các mặt đời sống của một dân tộc, của một đất nước thì ngôn ngữ gắn bó mật thiết hơn cả với văn hóa Ngôn ngữ là một trong những nhân tố hợp thành quan trọng, góp phần làm nên cái nền tảng về giá trị, bản sắc, tinh hoa của nền văn hóa dân tộc; góp phần làm cho văn hóa trở thành động lực và mục tiêu của sự phát triển kinh tế -
xã hội Cùng với quá trình hình thành và phát triển nền văn hóa Việt Nam hàng ngàn năm qua, tiếng Việt cũng hình thành và phát triển, ngày nay đã trở thành một ngôn ngữ rất giàu đẹp, rất phong phú và độc đáo; đó là một công cụ rất có hiệu lực trong cuộc cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, và trong việc xây dựng con người Việt Nam về ý thức, tâm hồn, tình cảm đối với ngôn ngữ dân tộc, đối với đất nước, quê hương của mình
Ngôn ngữ nào cũng có hai chức năng chủ yếu, là phương tiện quan trọng nhất trong sự giao tiếp giữa người với người và là phương tiện, là công cụ của tư duy Vì thế, muốn xây dựng và phát triển con người như đối tượng và chủ thể của sự phát triển kinh
tế - xã hội, xây dựng và phát triển đất nước, cần phải phát triển tiếng Việt, công cụ giao tiếp, công cụ tư duy, công cụ phát triển của con người Việt Nam, cũng như ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số anh em khác Điều này rất quan trọng về phương diện nhận thức – đó chính là lý do sâu xa vì sao lại cần phải có sự quan tâm đúng mức, sự chú ý đầy đủ đến việc bảo vệ và phát triển tiếng Việt, việc bảo tồn và phát huy ngôn ngữ các dân tộc thiểu số anh em, đặc biệt là hiện nay, ở thời kì đẩy manh công nghiệp hóa, hiện
Trang 12đại hóa đất nước, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh…
1.2 Khái niệm chính sách ngôn ngữ
Trong những thập niên gần đây, chúng ta thấy có những sự thay đổi, điều chỉnh chính sách ngôn ngữ ở nhiều quốc gia Đó là bởi vì càng ngày người ta nhận ra rằng: một chính sách ngôn ngữ chỉ thực sự hữu hiệu nếu như nó phù hợp với cảnh huống ngôn ngữ ở quốc gia đó Rõ ràng là mỗi một quốc gia cần thiết phải thực hiện một chính sách ngôn ngữ - dân tộc riêng, tương hợp với cảnh huống ngôn ngữ, với thành phần dân tộc, với quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc, về giá trị của các dân tộc nói các ngôn ngữ khác nhau
Chung quanh khái niệm “chính sách ngôn ngữ” quan niệm còn có chỗ khác nhau như trong cách hiểu về “sự xây dựng ngôn ngữ” của các nhà ngôn ngữ học Xô Viết, hoặc trong quan niệm về “kế hoạch hóa ngôn ngữ” (language planning; planification linguistique) của các học giả phương Tây và Mỹ Tuy vậy, cũng có thể thấy được cái chung trong quan niệm về chính sách ngôn ngữ Trong phần lớn những nghiên cứu ngôn ngữ học hiện nay, khi nói đến chính sách ngôn ngữ của một quốc gia, thường người ta
đề cặp đến những phương diện, những luận điểm chính sau:
Chính sách ngôn ngữ (language policy), hiểu theo nghĩa rộng, là các nguyên tắc
có tính tư tưởng chính trị và các biện pháp thực tế để giải quyết các vấn đề ngôn ngữ trong một quốc gia
Chính sách ngôn ngữ, hiểu theo nghĩa hẹp, là hệ thống các biện pháp nhằm làm
biến đổi hoặc duy trì cảnh huống ngôn ngữ, hoặc làm biến đổi hay duy trì chuẩn mực ngôn ngữ (nhằm tiêu chuẩn hoá ngôn ngữ văn hoá; làm phong phú vốn từ, thuật ngữ, phong cách; cải tiến chính tả, xây dựng, cải thiện chữ viết) Theo cách hiểu này, chính sách ngôn ngữ được dùng với ý nghĩa gần giống như thuật ngữ “kế hoạch hoá ngôn ngữ” (hoặc quy hoạch ngôn ngôn ngữ), thường được hiểu như là nói về việc tiến hành các biện pháp có tổ chức để giải quyết các vấn đề ngôn ngữ ở cấp độ nhà nước Cần chú
ý đến cách nói “một cách có tổ chức” ở đây, với hàm ý đề cập đến các bước sau đây của
việc kế hoạch hoá, được tiến hành theo trình tự và hệ thống: 1) xác định mục đích của
kế hoạch hoá, 2) xác định các biện pháp tiến hành, 3) dự báo kết quả của việc kế hoạch hoá ngôn ngữ Nói riêng về mục đích của kế hoạch hoá, người ta cho rằng có thể có tới
11 loại mục đích như: 1) Làm trong sáng ngôn ngữ, 2) Phục hồi ngôn ngữ, 3) Cải cách ngôn ngữ, 4) Chuẩn hoá ngôn ngữ, 5)Phát triển ngôn ngữ, 6) Hiện đại hoá từ vựng, 7) Thống nhất thuật ngữ, 8) Giải hoá phong cách, 9) Giao tiếp liên ngôn ngữ, 10) Bảo vệ ngôn ngữ, 11) Chuẩn hoá hệ thống chuẩn mã bổ trợ
Trong các quốc gia đa dân tộc, nhìn chung chính sách ngôn ngữ thường rất phức tạp, phải chú ý đến nhiều nhân tố khác nhau, bởi vì chính sách ngôn ngữ thường được coi là một bộ phận của chính sách dân tộc và nó phụ thuộc vào các nguyên tắc chung của chính sách dân tộc Mỗi quốc gia, một Đảng phái chính trị có cách hiểu khác nhau
về dân tộc, tộc người, mối quan hệ giữa tộc người với ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo, quốc gia Thực tế ở một số nước chính sách ngôn ngữ dân tộc đã không thu được kết quả mong muốn, do nó không được xây dựng trên một cơ sở lý luận đúng đắn Ở một số nước châu Á, châu Phi, việc đồng nhất dân tộc và quốc gia dẫn đến vi phạm lợi ích của những dân tộc thiểu số không có quốc gia Những xung đột giữa các bộ tộc ở một số nước châu Phi những năm gần đây là các ví dụ Ở một số nước đạo Hồi là quốc giáo, người ta đồng nhất dân tộc và tôn giáo, dẫn đến việc coi nhẹ sự khác biệt dân tộc Thí
dụ, Pakistan được tuyên bố là đất nước của một dân tộc thống nhất và tiếng Uocđu là
Trang 13ngôn ngữ quốc gia; thế nhưng thực ra Pakistan là quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, chỉ
có 10% dân số nói tiếng Uocđu cho nên ngôn ngữ này không thực hiện đươc chức năng
là phương tiện giao tiếp giữa các dân tộc
Chính sách ngôn ngữ bao giờ cũng hàm chứa sự tác động có ý thức của xã hội đối với ngôn ngữ, đặc biệt là khi trong xã hội nảy sinh những vấn đề ngôn ngữ (thí dụ ở nước ta hiện nay có vấn đề cách đọc, cách viết từ ngữ nước ngoài…) Sự tác động đó, ở một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ như Việt Nam, sẽ đồng thời liên quan đến tiếng Việt, các ngôn ngữ dân tộc thiểu số anh em, các ngoại ngữ (đang dạy học và sử dụng ở Việt Nam) Đối với một ngôn ngữ cụ thể như tiếng Việt thì trước hết chính sách ngôn ngữ của Nhà nước thường nhằm vào những phạm vi, những địa hạt ngôn ngữ sau: + Vốn từ ngữ (đặc biệt là các từ ngữ chính trị - xã hội, các thuật ngữ khoa học - công nghệ),
+ Các phong cách chức năng (hành chính, khoa học, văn học -nghệ thuật),
+ Sự khác biệt giữa địa phương và nhu cầu thống nhất ngôn ngữ toàn dân, + Những sửa đổi chính tả
Bất kỳ chính sách ngôn ngữ nào cũng có hai mặt: mặt nguyên lý bao giờ cũng mang tính ý thức (quan điểm, chủ trương) của giai cấp cầm quyền, và mặt các phương pháp (biện pháp) thực hiện Để xây dựng một chính sách ngôn ngữ, thường phải trải qua
4 giai đoạn sau:
+ Hình thành chính sách (formulation),
+ Luật điển hóa chính sách (codification),
+ Cụ thể, chi tiết hóa chính sách (elaboration)
+ Áp dụng chính sách (implementation),
Việc hoạch định hay áp dụng một chủ trương, một biện pháp nào đó trong chính sách ngôn ngữ phụ thuộc trước hết vào cảnh huống ngôn ngữ (language situation) của quốc gia đó Thông thường, cảnh huống ngôn ngữ được hiểu là: toàn bộ các hình thái tồn tại (kể cả các phong cách) của một ngôn ngữ hay của các ngôn ngữ trong một quốc gia hay một khu vực địa lí nhất định Xét về mặt này thì Việt Nam là một quốc gia đa ngôn ngữ, giữa các ngôn ngữ (tiếng Viêt với các tiếng dân tộc thiểu số anh em) có những quan hệ về dân số, về nơi cư trú, về cội nguồn ngôn ngữ, về loại hình ngôn ngữ,
về chức năng ngôn ngữ - không giống nhau Khi nói về một ngôn ngữ cụ thể, người ta hay nói đến trạng thái của ngôn ngữ đó, tức là đến các biển thể địa phương (phương ngữ), biến thể xã hội và biến thể phong cách của ngôn ngữ đó
Trong chính sách ngôn ngữ, cần đặc biệt chú ý đến chính sách ngôn ngữ đối với các ngôn ngữ dân tộc thiểu số, vì chính sách này được coi là bộ phận của chính sách dân tộc, mà trong đó có 3 phạm vi quan trọng nhất là:
+ Lựa chọn ngôn ngữ (language choice): thí dụ, ở Việt Nam đó là vấn đề lựa
chọn tiếng Việt là “tiếng phổ thông”, là ngôn ngữ giao tiếp chung, có tư cách như ngôn ngữ quốc gia
+ Bảo tồn ngôn ngữ (language maintenance): thí dụ, ở Việt Nam đó là vấn đề
giữ gìn và phát huy bản sắc ngôn ngữ - văn hóa của các dân tộc thiểu số (đặc biệt là một
số ngôn ngữ rất ít người có nguy cơ bị tiêu vong) trong quan hệ với tiếng Việt, văn hóa Việt
+ Phát triển song ngữ: thí dụ, đó là công việc dạy học tiếng Việt và các tiếng
dân tộc ở vùng dân tộc và miền núi
1.3 Về các khái niệm “ngôn ngữ quốc gia”, “ngôn ngữ dân tộc”
Trang 14Trong việc xây dựng chính sách ngôn ngữ, có một vấn đế quan trọng hàng đầu là xác định vị thế, chức năng của các ngôn ngữ Muốn làm điều này, trước hết cần phải
làm sáng tỏ về mặt lý thuyết một số khái niệm như ngôn ngữ mẹ đẻ, ngôn ngữ tộc
người, ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc, ngôn ngử quốc gia, ngôn ngữ chính thức Hiện nay, ở nước ta cũng như ở nhiều nước khác chưa có
được một cách hiểu thống nhất về các khái niệm này
Ngôn ngữ mẹ đẻ là ngôn ngữ mà trẻ em học nói từ những năm đầu tiên, thường
là ngôn ngữ của người mẹ, của gia đình, được coi là sự tiếp thụ ngôn ngữ thứ nhất ở mỗi người (ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ “thứ hai”); nhờ đó hình thành các thói quen sớm nhất của hoạt động nói năng và những mối liên hệ đầu tiên giữa các đơn vị ngôn ngữ với thế giới bên ngoài Ngôn ngữ mẹ đẻ trong đa số các trường hợp (tuy không phải là tất cả) thường là ngôn ngữ tộc người Cũng với sự hình thành và phát triển ngôn ngữ, mổi cá nhân được làm quen với truyền thống văn hoá, đạo đức, tinh thần của tộc người; nhân cách dần dần được hình thành và phát triển; được xã hội hoá
Do đó, mỗi người chúng ta khi phải sử dụng một ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ, thường có cảm giác xa lạ, không thoả mãn về tộc người, về văn hoá Đối với người Kinh (Việt) thì tiếng Kinh (Việt) là tiếng mẹ đẻ, còn đối với đồng bào dân tộc thiểu số như đồng bào Khmer thì tiếng mẹ đẻ là tiếng Khmer
Ngôn ngữ tộc người là ngôn ngữ mẹ đẻ của các thành viên trong cộng đồng tộc
người và góp phần hình thành nên tộc người đó Ngôn ngữ tộc người là phương tiện giao tiếp giữa các thành viên tộc người và nó phản ánh các kinh nghiệm lịch sử của tộc người, nhờ nó văn hoá tộc người được bảo tồn, phát triển Do đó, ngôn ngữ tộc người là tài sản thân thiết của mỗi tộc người Ngôn ngữ tộc người tồn tại dưới dạng các phương ngữ, thổ ngữ và nền văn học truyền khẩu Ở nước ta, theo các tài liệu chính thức thường nói có 54 “dân tộc”, tức là 54 “tộc người”; nhưng số lượng các ngôn ngữ có lẽ là nhiều hơn Để hoạch định chính sách ngôn ngữ dân tộc ở nước ta, cần phải xác định chính xác
số lượng các ngôn ngữ tộc người, quan hệ nguồn gốc giữa chúng, đặc điểm cấu trúc, khả năng hành chức của chúng
Ngôn ngữ dân tộc là một phạm trù lịch sử, tồn tại dưới dạng ngôn ngữ văn hoá
của dân tộc, và là nhân tố quan trong để thống hợp dân tộc Hình thức tồn tại của ngôn ngữ dân tộc là các tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học giáo dục, Trong đó, đội ngũ tri thức thức dân tộc có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, và phát triển ngôn ngữ văn hoá dân tộc, ngôn ngữ văn hoá dân tộc có thể là ngôn ngữ chuẩn Việc chuyển từ ngôn ngữ tộc người thành văn hoá dân tộc, chuẩn mực, là một quá trình lâu dài Ở nước ta, trong hàng chục ngôn ngữ, không phải mọi ngôn ngữ đều phát triển ở giai đoạn ngôn ngữ văn hoá dân tộc Điều này phụ thuộc vào mức độ phát triển mà mỗi ngôn ngữ có khả năng đạt đến, vào việc nó thực hiện các chức năng xã hội nào.v.v Thiết nghĩ, việc xác định tình hình hiện nay và viễn cảnh phát triển của các ngôn ngữ, từ đó có chính sách phù hợp với từng ngôn ngữ là nhiệm vụ cấp thiết của giới nghiên cứu dân tộc và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số
Ngôn ngữ quốc gia thường được hiểu một cách chung nhất là ngôn ngữ do luật
pháp Nhà nước quy định, được sử dụng trong phạm vi cả nước, không hạn chế trong một khu vực lãnh thổ hay trong nội bộ một tộc người hay nhóm tộc người Với tư cách
là ngôn ngữ của cả quốc gia, được sử dụng trong hoạt động chính trị, xã hội văn hoá, đối ngoại, ngôn ngữ quốc gia là tài sản của quốc gia và có ý nghĩa biểu trưng cho độc lập, thống nhất của quốc gia, ngôn ngữ quốc gia được sử dụng trong phạm vi cả nước, là công cụ giao tiếp chung của các dân tộc; do đó, nó là phương tiện thống nhất quốc gia
Trang 15về mặt ngôn ngữ Cùng với ý thức quốc gia, ngôn ngữ quốc gia tạo nên sự gắn kết về tinh thần, tình cảm của các thành viên quốc gia Tiếng Việt hiện nay ở Việt Nam trên thực tế, có cương vị của ngôn ngữ quốc gia
Ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc là ngôn ngữ được coi là phương tiện
giao tiếp giữa các tộc người trong quốc gia đa ngôn ngữ Đây là một thuật ngữ được dùng ở Liên Xô trước đây, với nội dung dung khoa học gần như thuật ngữ “ngôn ngữ quốc gia”, nhưng có sự tế nhị về chính trị (trong mối quan hệ giữa tiếng Nga với các tiếng khác ở các nước cộng hoà như tiếng Ucraina, tiếng Grudi, tiếng Adecbaigiăng ) Một quốc gia đa dân tộc không thể thiếu ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc: thiếu nó, có thể dẫn đến chia rẽ dân tộc, cản trở sự phát triển kinh tế văn hoá, xã hội của quốc gia Kinh nghiệm ở Liên Xô trước đây cho thấy các nhân tố quyết định để lựa chọn một ngôn ngữ (là tiếng Nga) làm phương tiện giao tiếp chung giữa các dân tộc gồm có: 1) Nhu cầu phát triển kinh tế; 2) Là ngôn ngữ của dân tộc chiếm đa số; 3) Được các dân tộc tự nguyện coi là phương tiện giao tiếp chung; 4) Đảm bảo dân chủ triệt để Ở Việt Nam, tiếng Việt (Kinh) hội đủ các nhân tố này và từ lâu đã đảm nhận chức năng phương tiện giao tiếp chung giữa các dân tộc, được coi chính thức là “ngôn ngữ chung”, tức là
“tiếng phổ thông”
Ngôn ngữ chính thức là ngôn ngữ do luật pháp của Nhà nước quy định, được sử
dụng trong hoạt động của Nhà nước, ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc thường
có xu thế được coi là ngôn ngữ chính thức, nhưng không nhất thiết là ngôn ngữ quốc gia Ở Singapore, 4 ngôn ngữ là tiếng Hán, tiếng Tamil, tiếng Mã Lai, tiếng Anh đều được công nhận là ngôn ngữ chính thức, nhưng chỉ tiếng Mã Lai được tuyên bố là ngôn ngữ quốc gia Tiếng Việt hiện nay là ngôn ngữ chính thức duy nhất ở Việt Nam
Ở đây cần chú ý tới sự khác biệt tế nhị giữa ngôn ngữ chính thức và ngôn ngữ quốc gia: Ngôn ngữ quốc gia mang ý nghĩa biểu trưng cho độc lập, thống nhất của quốc gia; còn ngôn ngữ chính thức mang giá trị là công cụ để thống nhất quốc gia, giúp cho các thành viên trong quốc gia giao tiếp, học hành, tìm việc làm, lao động, thành đạt trong đời sống vì vậy, người ta cho rằng trong việc lựa chọn ngôn ngữ quốc gia cần chú
ý khả năng của ngôn ngữ đó gắn kết tinh thần tình cảm các thành viên với quốc gia Còn trong việc lựa chọn ngôn ngữ chính thức thì lại cần chú ý khả năng làm phương tiện giao tiếp chung, đảm bảo cho sự thống nhất quốc gia và đủ khả năng thực hiện các chức năng xã hội phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội đất nước
Ngôn ngữ của dân tộc đa số hay của bộ phận chính của cư dân không tự nhiên trở thành ngôn ngữ quốc gia Để thừa nhận là ngôn ngữ quốc gia, cần thiết phải tuyên
bố một cách chính thức bằng luật định của nhà nước Ở một số nước, có khi một vài ngôn ngữ phổ biến được tuyên bố là ngôn ngữ quốc gia: ở Thuỵ Sĩ cả tiếng Đức, tiếng Pháp và tiếng Ý đều được luật pháp thừa nhận là ngôn ngữ quốc gia; ở Phần Lan thì tiếng Phần Lan và tiếng Thuỵ Điển đều là ngôn ngữ quốc gia Sau khi tuyên bố một ngôn ngữ là ngôn ngữ quốc gia, Nhà nước cần phải bảo đảm sự quan tâm để đảm bảo sự phát triển ngôn ngữ đó, đảm bảo sự sử dụng tích cực nó trong đời sống chính trị, văn hoá, khoa học Mỗi công dân thuộc mọi thành phần dân tộc đều có trách nhiệm không ngừng học tập, trau dồi khả năng sử dụng ngôn ngữ quốc gia
1.4 Về “Luật ngôn ngữ”
Trong một xã hội pháp quyền ở một quốc gia đa dân tộc, vị thế và chức năng của các ngôn ngữ cần thiết được xác định bằng luật định Tuy nhiên cần nói ngay rằng không phải tất cả các nước đa ngôn ngữ đều đã có luật về ngôn ngữ; theo một số nhà nghiên cứu thống kê thì trong 147 bản Hiến pháp chỉ có 110 bản có các điều khoản liên
Trang 16quan đến ngôn ngữ Có nhiều lý do để giải thích cho hiện tượng này, như hoàn cảnh chính trị - xã hội của từng quốc gia, thời điểm thích hợp để đưa ra luật ngôn ngữ nói riêng cũng như các luật khác nói chung Tuy nhiên, cũng có một khuynh hướng cho rằng bản thân việc không đưa ra các điều khoản về ngôn ngữ trong hiến pháp, hay không có đạo luật riêng về ngôn ngữ, thực ra cũng có thể coi là một kiểu loại chính sách ngôn ngữ: Đó là sự không can thiệp, một kiểu thả nổi của các cơ quan Nhà nước đối với vấn đề ngôn ngữ Hoa Kỳ thường được đưa ra làm ví dụ cho loại hình chính sách này: Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, việc không nhắc đến đến ngôn ngữ chính thức không phải là
vô tình mà là một việc làm có ý thức, nhằm tạo ra địa vị ưu đãi cho tiếng Anh, có lợi cho giới cầm quyền
Luật ngôn ngữ là một phần của luật dân sự, trình bày về mặt pháp lý những luận điểm cơ bản của chính sách ngôn ngữ và kế hoạch hoá ngôn ngữ do Nhà nước chính thức tiến hành; hiển định các quy chế ngôn ngữ, phân bố chức năng các ngôn ngữ, đồng thời, đảm bảo giữ gìn phát triển các ngôn ngữ, các quyền ngôn ngữ của toàn xã hội của mỗi dân tộc và của từng cá nhân Luật ngôn ngữ có thể được xem xét ở ba bình diện:
a) Bình diện chính trị liên quan tối các nhiệm vụ và mục đích chính trị của luật ngôn ngữ và vị trí luật ngôn ngữ trong chính sách chung của Nhà nước
b) Bình diện pháp lý liên quan tới việc phân tích ngôn ngữ trong bối cảnh chung của Hiến pháp và sự phù hợp của luật ngôn ngữ với các chuẩn mực pháp lý được mọi người thừa nhận
c) Bình diện ngôn ngữ học – xã hội liên quan tới việc xem xét luật ngôn ngữ trong đời sống ngôn ngữ của quốc gia
Trong việc xây dựng luật ngôn ngữ cần phân biệt các phương diện các luật pháp khác nhau như:
1) Luật hiến về ngôn ngữ: Thừa nhận các ngôn ngữ và điều hoà quyền và nghĩa
vụ của Nhà nước và cá nhân trong phạm vi này
2) Luật về xây dựng luật ngôn ngữ: Quản lý việc dự thảo và kiến giải các đạo luật và sắc lệnh về ngôn ngữ
3) Luật hành chính về ngôn ngữ: Xác định quan hệ một phía là chính quyền, một phía là dân chúng
4) Luật tư pháp về ngôn ngữ: Xác định việc sử dụng ngôn ngữ trong xét xử 5) Luật về văn hoá ngôn ngữ: Bảo tồn đầy đủ các trí thức về các ngôn ngữ và đảm bảo khả năng xây dựng tác phẩm nghệ thuật bằng các ngôn ngữ
Hiện nay, Việt Nam chưa có luật ngôn ngữ, trình bày về mặt pháp lý những luận điểm cơ bản của chính sách ngôn ngữ - dân tộc và công cuộc xây dựng ngôn ngữ do Nhà nước chính thức tiến hành; hiến định các quy chế ngôn ngữ; phân bố chức năng của các ngôn ngữ, đồng thời đảm bảo giữ gìn, phát triển các ngôn ngữ, các quyền của toàn
xã hội, của các dân tộc riêng rẽ và của từng cá thể Các hình thức thể chế hoá cao nhất là luật hoá chính sách ngôn ngữ là cơ sở pháp lý của chính sách ngôn ngữ
II QUAN NIỆM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ Tịch
Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề dân tộc, đề ra đường lối, chính sách dân tộc nhất quán và đúng đắn, nhờ đó đưa lại những thắng lợi vĩ đại cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như giành nhiều thành tựu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội Thực tiễn công cuộc đổi mới nước ta trong những năm gần đây theo định hướng
xã hội chủ nghĩa đang đặt những vấn đề lý luận phải giải đáp nhằm xây dựng xã hội Việt Nam giàu mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh, sánh vai với các cường quốc
Trang 17trên thế giới Những vấn đề nóng bỏng trong quan hệ dân tộc giữa các quốc gia trên thế giới và trong bản thân một quốc gia đa dân tộc cũng đang đặt ra những nhiệm vụ cần phải được giải quyết Ở nước ta, những thế lực thù địch với sự tiến bộ thường lợi dụng vấn đề dân tộc để gây rối và khoét sâu mâu thuẫn trong nội bộ các dân tộc, chống phá
sự nghiệp cách mạng nhằm kìm hãm sự phát triển của đất nước ta Trước tình hình như vậy, đòi hỏi chúng ta phải xuất phát từ lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu đầy đủ những chính sách thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc, mà cụ thể là vấn đề ngôn ngữ văn hoá dân tộc, nhằm góp phần giải quyết tốt nhất vấn đề dân tộc đang được đặt ra hiện nay
Chúng ta biết rằng, chính sách về vấn đề dân tộc thiểu số nói chung và đặt biệt là các chính sách về vấn đề ngôn ngữ văn hoá ở vùng dân tộc thiểu số nói riêng luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước Đồng bào dân tộc thiểu số là một bộ phận hữu cơ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam Hiện nay có vùng đồng bào dân tộc thiểu số là vùng lãnh thổ thuộc địa bàn của khoảng 40 tỉnh của cả nước, với diện tích tự nhiên là 230 ngàn km2, bằng 75% đất đai của tổ quốc, với số dân khoảng 24 triệu người, chiếm 30% dân số chung của cả nước Vùng lãnh thổ này lại có gần 4000km đường biên giới chung với các nước Campuchia, Lào và Trung Quốc Đây là một địa bàn trọng yếu về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, văn hoá xã hội của đất nước Tuy nhiên, vùng dân tộc thiểu số cũng là một vùng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ sở cho sự phát triển còn hết sức khó khăn Do có địa hình phức tạp, giao thông kém phát triển, vùng lãnh thổ tạo ra những tiểu vùng miền biệt lập đặc thù, gây nên những khó khăn không dễ vượt qua trong việc giao lưu phát triển kinh tế xã hội Cùng với sự khó khăn
về điều kiện tự nhiên ấy, do nhiều nguyên nhân lịch sử để lại, nơi đây còn là vùng lãnh thổ có đời sống kinh tế xã hội rất thấp kém, thậm chí có nơi có thể nói là quá thấp kém Vào thời điểm hiện nay, do hạ tầng cơ sở không có, cộng với xã hội lạc hậu, đời sống của đồng bào nhiều dân tộc thiểu số vẫn còn hết sức nghèo nàn, đơn điệu Trong diều kiện tự nhiên và xã hội như vậy, vùng dân tộc thiểu số chưa tương xứng với vị thế địa - chính trị của nó, nhất là trong đòi hỏi đất nước theo con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá, một đòi hỏi cấp bách hiện nay trong phát tiển kinh tế xã hội ở nước ta
2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về ngôn ngữ giao tiếp giữa cộng đồng các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc
Thấm nhuần tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin và vấn đề dân tộc, ngay từ khi giành độc lập dân tộc bằng cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại, Đảng và Nhà nước ta đã ý thức rất rõ nhằm đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dân tộc Và để thực hiện nhiệm vụ chung ấy, một trong những nhiệm vụ cụ thể được đặt ra là phải phát triển nền văn hoá của đồng bào dân tộc, trong đó nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ có vai trò quan trọng Bởi vì trên địa bàn dân tộc của nước ta, có tới trên 53 ngôn ngữ khác nhau
là tiếng mẹ đẻ của các dân tộc (ngoài tiếng Việt của người Việt (Kinh)) Với bức tranh
đa dạng đó, các dân tộc có thể giao tiếp được với nhau, bình đẳng cùng phát triển thì vai trò của ngôn ngữ với tư cách là công cụ giao tiếp chung thật nặng nề
Người ta có thể thấy rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp chung ở vùng dân tộc thiểu số thể hiện ở nhiều Chỉ thị, Nghị quyết, Kế hoạch đã được công bố Những tư tưởng thể hiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề này đều có chung một nhiệm vụ là xác định và xác nhận tiếng Việt có vai trò là công cụ giao tiếp, đồng thời là công cụ phát triển xã hội của tất cả các dân tộc trong môi trường đa dân tộc như ở nước ta
Trang 18Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Bộ Quốc gia Giáo Dục (nay là
Bộ Giáo Dục và Đào tạo) đã có Chỉ thị “Từ nay tất cả các khoa học điều phải dạy bằng
tiếng Việt” Đây là một chỉ thị sáng suốt, hợp thời khi Đảng dành được chính quyền, thể
hiện thấm nhuần tư tưởng Mácxít của Đảng ta Chính ngay từ đầu xác định tiếng Việt có một vị trí xứng đáng của mình trong một quốc gia đa dân tộc độc lập như ở nước ta mà
nó tạo tiền đề vững chắc cho vị thế ngôn ngữ quốc gia của tiếng Việt Điều này không chỉ góp phần đảm bảo cho sự bình đẳng giữa các dân tộc nước ta, mà còn đảm bảo cho
sự đoàn kết dân tộc của nước ta, một thực tế mà không phải quốc gia nào ở khu vực Đông Nam Á sau khi dành độc lập đều làm và làm có kết quả
Tiếp theo bước đi đúng đắn ban đầu ấy, đến năm 1969, Quyết định 153-CP cuả Thủ tướng Chính phủ đã cụ thể hoá vai trò của tiếng Việt trong đời sống của đồng bào
dân tộc thiểu số ở cấp độ một Văn bản có giá trị pháp lý cao hơn Theo đó “Tất cả dân
tộc trên lãnh thổ Việt Nam điều cần học và dùng tiếng, chữ phổ thông là ngôn ngữ chung của cả nước Nhà nước cần ra sức giúp đỡ các dân tộc học biết nhanh tiếng, chữ phổ thông” Và với quyết định 53-CP của Hội Đồng Chính phủ (1980), tiếng Việt thực
sự được công nhận như một thứ chữ giao lưu và phát triển về mọi mặt trong đời sống của người dân tộc thiểu số, là phương tiện đoàn kết, phương tiện thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong quốc gia Việt Nam độc lập thống nhất Đối với ngôn ngữ,
“chính sách của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng tiếng nói và chữ viết của tất cả các
dân tộc, và tất cả các dân tộc trên đất nước Việt Nam đều phải học tiếng phổ thông và chữ Quốc ngữ là ngôn ngữ chung của cả nước Nó là phương tiện giao lưu không thể thiếu được giữa các địa phương và các dân tộc trong cả nước, giúp cho các dân tộc địa phương và các dân tộc cả nước có thể phát triển đồng đều các mặt kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và thực hiện quyền bình đẳng dân tộc” (Chỉ thị số 23 – CT/TW ngày 15- 11-1997) Quan điểm vừa nhân văn
vừa khoa học này được tiếp tục khẳng định và chính thức được luật pháp hoá trong luật phổ cập giáo dục tiểu học (1991) và luật giáo dục (1998) đã được Quốc hội nước ta thông qua Và gần đây, tư tưởng được nhắc lại trong Đại Hội Đảng lần thứ IX, đại hội
đặt nền móng chiến lược cho sự phát triển xã hội của nước ta trong thế kỷ XXI là “Vấn
đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng Thực hiện tốt các chính sách bình đẳng dân tộc, tương trợ giúp nhau cùng phát triển”[9;127] là động lực thúc đẩy sự phát triển vùng dân tộc thiểu số ở nước ta trong
giai đoạn lịch sử hiện nay
2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về ngôn ngữ của dân tộc thiểu số
Bên cạnh việc xác định vai trò ngôn ngữ phổ thông của tiếng Việt trong giao tiếp chung giữa các dân tộc, Đảng và Nhà nước còn nhận thức đúng giá trị của tiếng mẹ đẻ các dân tộc trong sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là phát triển bản sắc văn hoá của
họ Bên cạnh việc khuyến khích, tổ chức và tạo điều kiện để tiếng việt thực sự là công
cụ, là động lực phát triển các dân tộc thiểu số Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng, coi trọng và quan tâm đến quyền được sử dụng và phát triển tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số Từ năm 1941, khi chưa giành được chính quyền, Đảng ta đã xác định trong
Nghị quyết của mình là “Văn hoá của mỗi dân tộc sẽ được tự do phát triển, tồn tại và
được đảm bảo” Sau khi dành được chính quyền và giải phóng 1/2 đất nước thân yêu, tư
tưởng ấy được thể hiện trong Hiến pháp năm 1960 theo đó thừa nhận “Các dân tộc có
quyền duy trì và sửa đổi phong tục, tập quán, dùng tiếng nói, chữ viết phát triển văn hoá dân tộc cuả mình” Điều này được khẳng định lại trong Hiến pháp năm 1980 và
Hiến pháp 1992 tức là Hiến pháp đang có giá trị pháp luật hiện nay, rằng “Các dân tộc
Trang 19có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục tập quán, truyền thống văn hoá tốt đẹp của mình”[10;124].
Để đảm bảo những quyền cơ bản trong việc phát triển tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số được ghi trong luật cơ bản của Nhà nước trở thành hiện thực, Nhà nước ta
đã xây dựng nhiều kế hoạch hành động cụ thể trong các Nghị quyết của Chính phủ
Quyết định 53-CP của Hội Đồng Chính phủ (1980) ghi rõ “Tiếng nói và chữ viết hiện có
của các dân tộc thiểu số được Nhà nước tôn trọng, duy trì, gíup đỡ và phát triển” Năm
1997 Bộ Giáo dục-Đào tạo đã có Thông tư số 1 GD-ĐT cụ thể hoá kế hoạch đó: “Các
dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình cùng tiếng Việt để phổ cập giáo dục tiểu học” Đồng thời cơ quan quản lý Nhà nước này cũng có
những biện pháp cụ thể để hướng dẫn việc dạy và học tiếng nói, chữ viết dân tộc theo tinh thần Nghị quyết 53-CP và Luật phổ cập giáo dục tiểu học đã được Quốc hội thông qua
2.3 Chính sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Trong 70 năm qua, đặc biệt là trên 50 năm trở lại đây, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở nước ta đã có những bước phát triển khá lớn, mà nguyên nhân vô cùng quan trọng là những chủ trương đúng đắn của Đảng đối với các ngôn ngữ dân tộc, trong đó có chữ viết
Tuy chưa có một văn kiện riêng chính thức nào trình bày toàn bộ vấn đề này, nhưng qua nhiều nghị quyết, qua nhiều bài viết, qua nhiều lời phát biểu của các đồng chí lãnh đạo của Đảng có thể thấy đường lối dân tộc và chủ trương của Đảng đối với vấn đề ngôn ngữ và chữ viết các dân tộc ở Việt Nam
Sau khi được thành lập, trong giai đoạn chưa giành được chính quyền, quan điểm của Đảng là tôn trọng quyền của các dân tộc thiểu số được tự do sử dụng và phát triển tiếng mẹ đẻ và đã được thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng
“Các dân tộc được dùng tiếng mẹ đẻ của mình trong sinh hoạt chính trị, kinh tế
và văn hoá của mình” (Nghị quyết về công tác trong các dân tộc, Đại hội 1,3 -1935)
“Mỗi dân tộc có quyền dùng tiếng mẹ đẻ trong nền giáo dục của mình” (Nghị
quyết Trung ương 7, 11-1940)
Sau cách mạng tháng tám năm 1945, Đảng đã giành được chính quyền, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời Trong mấy năm đầu của cuộc kháng chiến chống
Pháp Đảng đã chủ trương “Giúp các dân tộc có chữ viết phát triển giáo dục bằng tiếng
và chữ dân tộc mình Chủ trương xây dựng chữ viết mới cho một số dân tộc” (Nghị
quyết 4 (1948) và Nghị quyết 5 (1949)
“Tôn trọng tiếng nói, chữ viết các dân tộc Dân tộc thiểu số nào có sẵn chữ viết
rồi, thì dùng chữ viết ấy mà dạy họ”(Nghị quyết Bộ Chính trị sau đại hội 2, 1951)
Sau khi đất nước được thống nhất và hoà bình, đường lối chủ trương của Đảng
về vấn đề dân tộc, là tạo ra điều kiện cần thiết để xoá tận gốc mọi sự chênh lệch về trình
độ kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc ít người và dân tộc đông người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp làm cho tất cả các dân tộc có cuộc sống ấm
no và hạnh phúc
“Tôn trọng tiếng nói và có chính sách đúng về chữ viết đối với các dân tộc”
(Nghị quyết Đại hội 7, 1991)
“Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc Đi đôi với việc sử
dụng ngôn ngữ chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình” (Nghị quyết Trung ương 5, khoá 8, ngày 16 – 7- 1998)
Trang 20Đường lối và chủ trương của Đảng đã được thể chế hoá bằng Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiếp theo là Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các văn bản pháp quy như Nghị định, Nghị quyết, Quyết định của Chính phủ về vấn đề ngôn ngữ chữ viết của các dân tộc thiểu số cùng các Thông tư, Chỉ thị, Quy định của các bộ có liên quan chỉ đạo và hướng dẫn cụ thể các biện pháp thực hiện
“Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết giữ gìn bản sắc dân tộc và phát
huy những phong tục tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình”, và :”Toà án nhân dân đảm bảo cho công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc các dân tộc quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước toà án” (Hiến pháp
1992)
Sau Nghị định 206/CP (27- 11 - 1961) của Chính phủ phê chuẩn các phương án chữ Tày Nùng, chữ Thái và chữ Mèo và được chính thức đưa vào nhà trường và các cơ quan hành chính ở địa phương, có hai Quyết định quan trọng có liên quan: đó là quyết định 153/CP của Chính phủ (20 – 08 - 1969) về công tác đẩy mạnh việc phổ biến và sử dụng chữ dân tộc đã ban hành trên các lĩnh vực giáo dục, văn hoá, thông tin, hành chính
và điều chỉnh một số nhược điểm của các bộ chữ; và Quyết định 53/CP của chính phủ (22 – 02 - 1980) về chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số trong mối quan
hệ với tiếng và chữ phổ thông, coi trọng và giải quyết từng bước yêu cầu xây dựng hoặc cải tiến chữ các dân tộc nếu có Tiếng nói và chữ viết dân tộc vừa là vốn quý của dân tộc, vừa là tài sản văn hoá chung của cả nước, được dạy xen kẽ với chữ phổ thông (cấp
1, bổ túc văn hoá) ở vùng dân tộc Sưu tầm vốn văn hoá và khuyến khích sáng tác bằng tiếng và chữ dân tộc Tổ chức thực hiện cho các tỉnh Ngoài ra, có Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và các Chỉ thị, các Quy định của Bộ Giáo dục – Đào tạo chỉ đạo và hướng dẫn việc dạy chữ các dân tộc ở Tây Nguyên, chữ Hán trong trường phổ thông ở một số địa phương có đông người Hoa cư trú, chữ Chăm ở miền Tây và miền Đông, chữ Khmer ở đồng bằng Nam bộ
Trong thời kì đất nước bị chia cắt, Cương lĩnh chính trị của mặt trận dân tộc giải phóng và Tuyên bố và chương trình của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt
Nam đều chủ trương: “Các dân tộc ít người có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của
mình để phát triển văn hoá và nghệ thuật dân tộc”
Hiện nay, trong khi chưa tổng kết thật đầy đủ về chính sách ngôn ngữ - dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, nhưng từ kết quả to lớn của việc thực hiện chính sách này trong phát triển ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số, có thể nêu lên những nhận xét chung như sau:
Chính sách ngôn ngữ - dân tộc là một phần của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là học thuyết về dân tộc của V.I.Lênin Nguyên tắc cơ bản của chính sách này là tôn trọng, đảm bảo quyền bình đẳng và tự nguyện trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của các dân tộc Trong hoàn cảnh cụ thể của nước ta, giải quyết vấn đề dân tộc chủ yếu
là giải quyết hài hoà lợi ích giữa các dân tộc anh em với nhau, giữa lợi ích của từng dân tộc với lợi ích chung của quốc gia, giữa ý thức dân tộc và ý thức quốc gia, giữa yêu cầu bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hoá riêng từng dân tộc và sự thống nhất về chính trị, kinh tế
chung toàn quốc gia; làm cho các dân tộc đều phát triển trong một đất bước “dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, có nền văn hoá thống nhất mà đa dạng”
Trang 21Nói riêng, trong phạm vi ngôn ngữ, chữ viết, nội dung cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng ta có thể tóm tắt trong những luận điểm chủ yếu sau đây:
- Thừa nhận và đảm bảo về mặt pháp lý quyền có ngôn ngữ riêng (tiếng nói, chữ viết) của tất cả các dân tộc
- Thừa nhận và đảm bảo về mặt pháp lý quyền bình đẳng giữa các ngôn ngữ dân tộc; các dân tộc có quyền bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của mình
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để các dân tộc có thể sử dụng tiếng nói, chữ viết của mình trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
- Trên các nguyên tắc tự nguyện và tôn trọng sự phát triển bình đẳng, tự do của tất cả ngôn ngữ các dân tôc anh em, khuyến khích các dân tộc thiểu số học tiếng Việt, đưa tiếng Việt thành ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc, ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ chính thức, thực sự là phương tiện để đoàn kết, củng cố khối đoàn kết, thống nhất các dân tộc anh em trong cả nước
Những nguyên tắc có tính chiến lược trên chỉ đạo nhất quán mọi chủ trương, chính sách về ngôn ngữ chữ viết dân tộc thiểu số và được thể hiện trong Cương lĩnh của Đảng, những văn kiện các kì Đại hội toàn quốc, từ đại hội Đảng đầu tiên, trong cách mạng giải phóng dân tộc, cho đến những văn kiện Đại hội, trong thời kì Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước xây dựng xã hội xã hội chủ; cũng như được ghi nhận trong hiến pháp
- luật cơ bản của nhà nước Những nguyên tắc có tính chất chiến lược trên luôn được hiện thực hoá bằng những chủ trương, chính sách cụ thể, thích hợp với từng lĩnh vực, từng vùng, từng thời kỳ của cách mạng Dễ dàng nhận thấy rằng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, các chủ trương về ngôn ngữ - dân tộc của Đảng ngày càng cụ thể, sát hợp tình hình và có tính hiệu quả cao hơn
Phát triển bình đẳng các ngôn ngữ trong mọi lĩnh vực, tức là mở rộng chức năng
xã hội của chúng là một định hướng quan trọng trong chính sách ngôn ngữ - dân tộc của Đảng ta
Trong số các quyền bình đẳng của các dân tộc thiểu số trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, trước hết, phải kể đến quyền được dùng tiếng mẹ đẻ để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước cơ quan pháp luật Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khẳng định: “Toà án nhân dân đảm bảo cho công dân nước cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc các dân tộc quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình”
Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của mình, ngôn ngữ dân tộc thiểu số được
sử dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng Ngay từ Hội nghị Trung ương lần thứ
6, khoá 1 (tháng 11 – 1939), Đảng đã có chủ trương yêu cầu cán bộ công tác tại vùng
dân tộc thiểu số “phải học tiếng của các dân tộc ấy, phải tìm cách ra sách báo bằng chữ
của họ” Thực hiện chủ trương này, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngôn
ngữ dân tộc thiểu số trở thành công cụ hữu hiệu để tuyên truyền đường lối kháng chiến của Đảng Nhiều tác phẩm thơ ca, báo chí, viết bằng chữ Tày – Nùng phiên âm, chữ Thái, chữ Nôm Dao đã được ấn thành và phổ biến trong đồng bào các dân tộc Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, bất chấp những khó khăn, ác liệt, tại vùng giải phóng ở Bình Trị Thiên, Quảng Đà, Tây Nguyên sách báo, truyền đơn, khẩu hiệu bằng tiếng, chữ Bru, Pa Cô, Ka Tu, Ba Na, Xơ Đăng đã mang đến cho đồng bào các dân tộc các chủ trương, đường lối, tin tức của Mặt trận dân tộc giải phóng và Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam
Vào thập kỉ 60 – 70, Tỉnh Đảng bộ các tỉnh Lào Cai, Hà Giang tổ chức xuất bản
báo bằng chữ Hmông: Laol caz Fliz yaz (Lào Cai đổi mới), Hol jax (Hà Giang) Hàng
Trang 22chục năm nay, ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số được dùng để phát thanh trên Đài tiếng nói Việt Nam; ở hầu hết các địa phương có đồng bào dân tộc cư trú đều có chương trình phát thanh, một số tỉnh có cả chương trình truyền hình bằng ngôn ngữ dân tộc thiểu số Ngôn ngữ, chữ viết dân tộc được sử dụng để sáng tác văn học, sưu tầm văn học dân gian Từ trong những hoạt động này đã xuất hiện nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà văn hoá người dân tộc Những sáng tác văn học, một số tác phẩm văn học dân gian của các dân tộc thiểu số như Nam Kinh Thi Đan (Tày), Đăm San, Xinh Nhã (Ê Đê), Xong Chu Xon Xao (Thái), Đẻ đất đẻ nước, Öt Lót Vi Điêu, Huy Nga Hai Mối (Mường), Tiếng hát làm dâu (Hmông) đã được dịch, hoặc in song ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số đã phát huy vai trò và sức mạnh của mình trong việc phát triển nền văn hoá đa sắc màu của các dân tộc Đồng thời, trong khi hành chức với tư cách là công cụ phát triển văn hoá dân tộc, ngôn ngữ dân tộc thiểu số đã tự hoàn thiện và phát triển
Một lĩnh vực khác có vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ dân tộc thiểu số là giáo dục Giáo dục nhà trường là điều kiện nhất thiết dể chữ viết tồn tại và hoàn thiện Nhà trường dạy con em đồng bào dân tộc hiểu các văn bản và tạo ra các văn bản mới, nhờ đó ngôn ngữ dân tộc được bảo tồn Hơn thế nữa, ngôn ngữ dân tộc dạy trong nhà trường được truyền cho thế hệ nối tiếp thế hệ là một ngôn ngữ với chức năng lớn hơn, phong phú hơn ngôn ngữ được dùng trong cuộc sống hàng ngày Nhờ đó, ngôn ngữ không ngừng hoàn thiện, phát triển Trong quốc gia đa dân tộc, giáo dục song ngữ
có vai trò đặc biệt quan trọng
Nhận rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ dân tộc trong phát triển giáo dục vùng
đồng bào dân tộc thiểu số, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có định hướng: “mỗi dân tộc
thiểu số có quyền dùng tiếng mẹ đẻ trong nền giáo dục của mình” Trong từng thời kỳ
cách mạng, từng khu vực, định hướng chiến lược này được cụ thể hoá bằng các nghị quyết của Đảng, các quyết định của Chính phủ, các thông tư, nghị định của Bộ, Ngành
có liên quan về công tác giáo dục miền núi và dân tộc
Thực hiện Nghị định 206 CP (27-11-1961), Quyết định 153/CP (20-8-1969), chữ Tày Nùng, chữ Hmông, chữ Thái cải tiến được đưa vào giáo dục, dùng để xoá mù chữ, bổ túc văn hoá và giáo dục phổ thông Từ năm 1961 đến 1968, phong trào học tiếng Hmông, chữ Tày Nùng phát triển rầm rộ Trong các năm 1961 – 1965, hàng nghìn người HMông đã xoá được nạn mù chữ; các huyện như Bắc Hà, Mù Căng Chải đã thanh toán nạn mù chữ bằng chữ Hmông Năm học 1967 – 1968, có trên 1000 lớp học, với 37.240 học sinh cấp I và 25.000 học sinh vỡ lòng được học tiếng và chữ Tày Nùng Chương trình giáo dục song ngữ Việt - dân tộc được quan tâm đặc biệt, theo tinh
thần của Quyết định 53/CP (22 – 02 - 1980): “Tiếng và chữ phổ thông là ngôn ngữ
chung của các cộng đồng dân tộc Việt Nam ( ) Vì vậy, mọi công dân Việt Nam có nghĩa vụ và quyền lợi học tập và sử dụng tiếng phổ thông Tiếng nói và chữ viết cùa mỗi dân tộc thiểu số ở Việt Nam vừa là vốn quý của dân tộc đó, vừa là tài sản chung của cả nước Ở vùng dân tộc thiểu số, tiếng và chữ dân tộc được dùng đồng thời với tiếng và chữ viết phổ thông” Điều 4 Luật giáo dục tiểu học (16 – 08 – 1991) ghi rõ: “Giáo dục tiểu học thực hiện bằng tiếng Việt; các dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học”
Các chương trình giáo dục song ngữ Việt – Hmông, Việt – Thái, Việt – Ê Đê, Việt – Gia Rai, Việt – Nùng, Việt – Bru Vân Kiều, Việt – Pa Cô, Việt – Khmer,… đã và đang được nghiên cứu, biên soạn và áp dụng tại bậc tiểu học ở các trường phổ thông vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 23Chữ viết truyền thống của các dân tộc người Hoa, Thái, Chăm, Khmer cũng được giảng dạy cho đồng bào dân tộc trong chương trình giáo dục song ngữ Tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành có người Hoa sinh sống, tiếng Hoa và chữ Hoa được giảng dạy cho con em người Hoa Chữ Thái cổ đang được dạy cho đồng bào và học sinh ở Sơn La, Lai Châu, Thanh Hoá Được sự chỉ đạo của bộ giáo dục, chương trình dạy song ngữ Việt – Chăm cho con em người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận đã thu được những kết quả đáng khích lệ Việc dạy chữ Khmer cùng tiếng và chữ phổ thông ngày càng đi vào nề nếp khoa học và tổ chức, về chương trình, phương pháp giảng dạy tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
Chính sách dân tộc nói chung và chính sách ngôn ngữ nói riêng được thực hiện trong những năm đổi mới vừa qua kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, đã góp phần tạo ra vùng dân tộc và miền núi những bước chuyển biến, tiến bộ so với trước
ở tất cả các mặt: Chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng Trong tình hình
có nhiều khó khăn hiện nay những thành tựu đạt được đó là rất cơ bản và quan trọng
Tuy nhiên, mặt khác, cũng có thể thấy rõ rằng: Cuộc sống nói chung của đồng bào các dân tộc (nhất là ở vùng cao biên giới, vùng sâu, vùng xa) còn rất nhiều khó khăn Nói riêng về đời sống tinh thần thì còn rất nghèo nàn, dân trí thấp, chất lượng hiệu quả của công tác giáo dục, văn hoá, thông tin chưa cao Nguyên nhân của những tồn tại kém trên có các mặt khách quan, nhưng trong nhiều trường hợp ở mặt chủ quan là chính: chúng ta chưa có nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc về vấn đề dân tộc (vị trí chiến lược của nó, là một trong những nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước); một số cơ chế và chính sách chưa phù hợp; nhất là khâu tổ chức thực hiện chưa tốt
Nói riêng ở phạm vi các quan điểm, chủ trương, đường lối, biện pháp, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tiếng nói và chữ viết của các dân tộc, chúng ta cũng nhận thấy tình hình tương tự là: bên cạnh những ưu điểm và thành tựu là cơ bản, rõ ràng
là đang còn những tồn tại đòi hỏi phải có những giải phái tích cực, đồng bộ và khoa học
Điều trước tiên là phải chú trọng đến các biện pháp trong việc hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách ngôn ngữ như là:
- Nâng cao tính pháp lý của chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước ta, bằng cách ban hành luật về ngôn ngữ (bên cạnh luật về dân tộc) Trong khi chờ đợi dự thảo
và thông qua luật về ngôn ngữ, cần ban hành ngay pháp lệnh hoặc ra Quyết định mới về chính sách ngôn ngữ dân tộc
- Ban hành chính sách đặc biệt đối với các ngôn ngữ có quá ít người sử dụng, nhằm bảo tồn ngôn ngữ của các tộc người này tránh được nguy cơ diệt vong
- Đổi mới về nội dung của chính sách ngôn ngữ dân tộc và nhất là cách tổ chức thực hiện
- Nhất thiết phải tiến hành “tổng điều tra cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam” làm
cơ sở cho việc hoách định chính sách ngôn ngữ và xây dựng luật ngôn ngữ
- Cần quan tâm nhiều hơn nữa đến những ý kiến tư vấn và sự tham gia trực tiếp của các nhà ngôn ngữ học, coi đó là chỗ dựa đáng tin cậy của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng chính sách ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở nước ta
2.4 Vị thế của tiếng Việt đối với ngôn ngữ các dân tộc thiểu số nhìn từ chủ trương đường lối
Tiếng Việt đảm nhận chức năng của một ngôn ngữ quốc gia kể từ khi có Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời năm 1945 (nay là nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) Tiếng Việt cùng với quốc huy và quốc kì Việt Nam là ba chỉ tố quốc
Trang 24thể Việt Nam về mặt hình thức Với vị thế là ngôn ngữ quốc gia, tiếng Việt được quyền phát huy chức năng sử dụng của mình trong giao tiếp và trong giáo dục thông qua chủ trương đường lối của Đảng, Chính phủ và việc thực thi chủ trương, đường lối đó Tuy nhiên, việc phát huy chức năng của tiếng Việt luôn đặt trong mối quan hệ với ngôn ngữ của 53 dân tộc anh em trong đại gia đình Việt Nam Là một quốc gia xã hội chủ nghĩa
thống nhất đa dân tộc đa ngôn ngữ, Nhà nước Việt Nam “có nhiệm vụ giữ gìn và phát
triển sự đoàn kết giữa các dân tộc Mọi hành vi khinh miệt, áp bức, chia rẽ dân tộc luôn
bị nghiêm cấm” (trích Điều 3 Chương I Hiến pháp năm 1960) Chức năng của các ngôn
ngữ dân tộc thiểu số trong mối quan hệ với tiếng Việt đã được ghi rõ trong Hiến pháp, trong pháp luật, trong các Nghị định, Quy định của Chính phủ Ví dụ, trong bốn bản Hiến pháp của Việt Nam đều có điều khoản riêng về dân tộc trong đó nêu rõ người dân
tộc thiểu số có quyền “học bằng tiếng của mình” “có quyền dùng tiếng nói của mình
trước toà án”, “có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá tốt dẹp của mình” Trong luật pháp “Nhà nước tạo điều kiện
để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của Chính phủ” (Luật Giáo dục) Trong các Nghị định, Quy định, Chính phủ luôn coi trọng việc
bảo vệ, giữ gìn tiếng nói, chữ viết dân tộc là nhiệm vụ quan trọng, có mối quan hệ gắn
bó với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá giáo dục ở vùng dân tộc và miền núi Coi
tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam “vừa là vốn quý của các dân tộc
đó, vừa là tài sản văn hoá chung của cả nước”, Chính phủ trong các Nghị định 53 –CP
năm 1969 và năm 1980 đã chú trọng tới việc xây dựng, cải tiến và sử dụng chữ viết của
các dân tộc thiểu số Cụ thể là “xây dựng, cải tiến và sử dụng chữ viết dân tộc; sử dụng
tiếng và chữ viết dân tộc trên các lĩnh vực văn hoá, văn nghệ, thông tin báo chí, v.v ở những nơi có đông đảo đồng bào dân tộc; quyền dùng chữ viết dân tộc trong việc ghi sổ sách, viết thư và làm đơn từ gửi các cơ quan nhà nước” (Quyết định 53-CP, 1969); “ở các vùng dân tộc thiểu số, tiếng và chữ dân tộc được dùng đồng thời với chữ phổ thông”, “đi đôi với việc hoàn thành phổ cập tiếng và chữ phổ thông, cần ra sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số xây dựng mới hoặc cải tiến chữ viết của từng dân tộc”, “(…) chữ dân tộc được dạy xen kẽ với chữ phổ thông ở cấp I trong các trường phổ thông và trường bổ túc văn hoá” (Quyết định 53-CP, 1980) Để làm tốt công tác về tiếng nói, chữ
viết dân tộc, Chính phủ còn có những Thông tư hướng dẫn cụ thể Ví dụ Thông tư số GD/ĐT ngày 03 – 02 - 1997 hướng dẫn việc dạy học tiếng nói chữ viết dân tộc thiểu số
1-đã chỉ ra “Một số nguyên tắc chung”, “Một số việc làm cụ thể trước mắt” và “Tổ chức thực hiện” Thông tư nhấn mạnh đến việc triển khai dạy học môn tiếng dân tộc trong các trường mẫu giáo, các trường tiểu học, các lớp xoá mù chữ và bổ túc văn hoá tại các vùng dân tộc thiểu số Thông tư nhấn mạnh đến các điều kiện về hành chính (được chính quyền địa phương cấp tỉnh đồng ý), cơ sở vật chất và phương pháp dạy học cần
đa dạng hoá Như vậy, có thể thấy, khẳng định vị thế quốc gia của tiếng Việt, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng bảo tồn và phát huy
chức năng của các ngôn ngữ dân tộc thiểu số “Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ và chữ
viết các dân tộc Đi đôi với việc sử dụng ngôn ngữ chữ viết phổ thông, khuyến khích thế
hệ trẻ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình” (Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành
Trung ương Đảng khoá VIII, 1998) Những quy định cụ thể hoá đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với ngôn ngữ dân tộc thiểu số cho thấy, đây là kế hoạch hoá hoàn toàn mang tính xây dựng: việc bảo vệ, truyền bá và giáo dục tiếng Việt được đặt trong mối quan hệ với việc bảo vệ, phát triển và giáo dục ngôn ngữ các dân tộc
thiểu số ở và ngược lại “Ở các vùng dân tộc thiểu số, tiếng và chữ dân tộc được dùng
Trang 25đồng thời với tiếng và chữ phổ thông” (Quyết định 53-CP, 1980) Chẳng hạn, việc xây
dựng và sử dụng chữ dân tộc trong mối quan hệ với chữ Việt, tiếng Việt là: “giúp đỡ
người dân tộc ó thể học nhanh được tiếng, chữ phổ thông”, “(…) “nơi nào không biết hoặc ít biết tiếng phổ thông thì cho học xen kẽ chữ dân tộc với tiếng và chữ phổ thông ở các lớp cấp I Từ cấp II trở lên thì học hoàn toàn bằng tiếng và chữ phổ thông”, “ở cấp
II và III, chủ yếu là dạy tiếng và chữ phổ thông, đồng thời có dạy môn ngữ văn dân tộc”
(Quyết định 153-CP); v.v… Có thể thấy, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam
là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với sự phát triển của đất nước trong sự đoàn kết hoà hợp giữa các dân tộc “Nó chẳng những không làm cho tiếng Việt trở thành mối đe doạ đối với ngôn ngữ các dân tộc mà việc phát huy chức năng của tiếng dân tộc còn nhằm tạo điều kiện cho sự truyền bá và giáo dục tiếng Việt” [14; 26] Đồng thời, các ngôn ngữ dân tộc muốn phát huy được thật tốt chức năng của mình thì không thể không tính đến vai trò và tác động tích cực của tiếng Việt (như việc chế tác chữ viết cho những ngôn ngữ dân tộc chưa có chữ viết, v.v.)
Muốn đánh giá đúng về tình hình thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về vị thế của tiếng Việt đối với các ngôn ngữ dân tộc thiểu số cần phải có một chương trình điều tra mang tính quy mô về tình hình sử dụng tiếng Việt ở các vùng dân tộc thiểu số (bao gồm sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hành chính và trong giao tiếp đời sống, v.v…); tiếng Việt trong giáo dục; thái độ ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu
số đối với tiếng Việt; v.v… Ở đây chúng tôi chỉ nghiên cứu trường hợp là học sinh Khmer và một số huynh người Khmer qua khảo sát tình hình sử dụng ngôn ngữ và thái
độ ngôn ngữ của họ tại địa bàn hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tỉnh An Giang cũng sẽ cho chúng ta thấy được vị thế của tiếng Việt đối với ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong thực tế (thực hiện)
Trang 26CHƯƠNG 2
TRẠNG THÁI SONG NGỮ KHMER – VIỆT TRONG CỘNG ĐỒNG
NGƯỜI KHMER Ở AN GIANG
Biểu hiện trực tiếp của tiếp xúc ngôn ngữ là sự xuất hiện các cộng đồng (tập thể)
song ngữ, đa ngữ, trong đó các cá nhân sử dụng đồng thời hai ngôn ngữ Song ngữ
Khmer - Việt là một loại hình song ngữ phổ cập trong đời sống ngôn ngữ của cư dân Khmer vùng vùng ĐBSCL nói chung và An Giang nói riêng Trạng thái song ngữ này là kết quả của sự cộng cư lâu dài hàng trăm năm của quá trình tiếp xúc và ảnh hưởng lẫn nhau về văn hóa giữa dân tộc Khmer và dân tộc Việt ở khu vực này
Nghiên cứu về trạng thái song ngữ Khmer – Việt đương đại, thực chất là tìm hiểu việc sử dụng song ngữ Khmer - Việt trong các môi trường giao tiếp, khả năng sử dụng tiếng Việt của cư dân Khmer và những nhân tố xã hội có vai trò thúc đẩy sự phát triển quá trình song ngữ tại ĐBSCL nói chung và tỉnh An Giang nói riêng, nhằm đạt tới các mục đích sau: 1) Chỉ ra mối quan hệ về chức năng xã hội của tiếng Việt và tiếng Khmer hiện nay ở vùng ĐBSCL; 2) Xác định tính chất của loại hình song ngữ Khmer – Việt hiện nay, trong mối tương quan với các loại hình song ngữ khác
Khi xem xét trạng thái song ngữ Khmer – Việt hiện nay ở ĐBSCL nói chung và
ở An Giang nói riêng cho thấy, các đặc điểm xã hội như: nhóm xã hội - nghề nghiệp, đặc điểm dân cư, dân số, dân tộc, lứa tuổi, giới tính, trình độ học vấn; vai trò của các cơ quan quản lý, của phương tiện thông tin đại chúng và của hệ thống giáo dục địa phương, đều là những nhân tố có ảnh hưởng (với mức độ không như nhau) trực tiếp hoặc gián tiếp tới khả năng và mức độ sử dụng song ngữ của cư dân Khmer
Từ những mục đích và đối tượng đã nêu, nội dung của chương 2 gồm các vấn đề sau:
- Vai trò, chức năng xã hội của tiếng Việt và tiếng Khmer hiện nay
- Việc sử dụng song ngữ trong các tình huống giao tiếp của cư dân Khmer trong mối tương quan với các nhân tố tâm lí, xã hội và văn hóa đối với việc sử dụng song ngữ
- Sự thể hiện thái độ của các cá nhân đối với mỗi ngôn ngữ
Trước khi đi vào nội dung chính của chương, việc nêu lên các khái niệm "công cụ"
có liên quan là cần thiết Dưới đây là một số khái niệm về tiếp xúc ngôn ngữ, song/đa ngữ, cộng đồng song ngữ và những yếu tố cơ bản của việc nghiên cứu song ngữ
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆN TƯỢNG SONG NGỮ
1.1 Khái niệm song ngữ xã hội
Song ngữ (hay đa ngữ) là hiện tượng phổ biến trên thế giới Đây không chỉ là hiện tượng mang tính ngôn ngữ học thuần tuý mà là một hiện tượng ngôn ngữ - xã hội phức tạp Chẳng hạn, là một hiện tượng ngôn ngữ, đa ngữ làm nảy sinh hàng loạt vấn đề
về ngôn ngữ học như sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ trong xã hội đa ngữ và hệ quả của tiếp xúc đó Từ góc độ chức năng giao tiếp, đó là sự phân bố chức năng giao tiếp giữa chúng trong xã hội đa ngữ Là một hiện tượng xã hội, đa ngữ liên quan đến đời sống chính trị - xã hội của mỗi dân tộc với tư cách là thành viên trong xã hội đa ngữ, liên quan đến sự phát triển xã hội, thậm chí vận mệnh của quốc gia Điều này lí giải vì sao,
đa ngữ xã hội không chỉ được giới khoa học chú ý mà còn được nhà nước của mỗi quốc gia quan tâm Vì thế, những kết quả nghiên cứu của hiện tượng đa ngữ không chỉ góp
Trang 27phần vào nghiên cứu ngôn ngữ học mà còn là cơ sở khoa học quan trọng cho mỗi quốc gia hoạch định chính sách ngôn ngữ đúng đắn phù hợp với cảnh huống ngôn ngữ của quốc gia đó
Khái niệm song ngữ, theo cách hiểu chung nhất, đó là hiện tượng một người có thể biết và sử dụng hai hoặc trên hai ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp Hiện nay khái niệm song ngữ đã được mở rộng và theo đó một số vấn đề được đặt ra:
Thứ nhất, xu hướng người biết không chỉ hai mà trên hai ngôn ngữ ngày càng
tăng, theo đó, thuật ngữ đa ngữ xuất hiện Tuy nhiên, theo thói quen, người ta vẫn sử dụng một trong hai thuật ngữ này (hoặc song ngữ hoặc đa ngữ) cho cùng một hiện tượng vừa nêu Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “song ngữ” cũng với nghĩa như vậy
Thứ hai, nói đến song ngữ cũng không chỉ còn nhằm đến các cá nhân song ngữ
mà muốn nhằm đến song ngữ trong một cộng đồng, đó là, hiện tượng song ngữ xã hội
Ở đấy, các cá nhân song ngữ có thể sử dụng ngôn ngữ mà họ cùng biết để giao tiếp với nhau và các ngôn ngữ trong cộng đồng này có thể tương tác lẫn nhau, tạo nên hiện tượng song ngữ xã hội
Thứ ba, yếu tố không kém phần quan trọng liên quan đến song ngữ xã hội là
phải có người song ngữ Cách hiểu đơn giản về người song ngữ là một người có khả năng sử dụng luân phiên hai hoặc trên hai ngôn ngữ
Thứ tư, khi nói đến người song ngữ, tiếng mẹ đẻ thường được nhắc đến như là
một ngôn ngữ mà người song ngữ phải biết một cách tất nhiên Tuy nhiên, thực tế, tiếng
mẹ đẻ là một khái niệm khá phức tạp và không phải lúc nào cũng được hiểu theo một cách thống nhất Chẳng hạn, vấn đề tiếng mẹ đẻ có cha và mẹ khác dân tộc, tiếng mẹ đẻ cũa những người thay đổi môi trường sinh sống khác dân tộc, sự thay đổi nơi định cư không thuộc dân tộc mình, quốc gia mình
Khi nói đến hiện tượng song ngữ, như là mặc nhiên, có một ngôn ngữ được gọi
là "ngôn ngữ thứ nhất" Nói đến ngôn ngữ thứ nhất, người ta thường nghĩ ngay đó là tiếng mẹ đẻ Vậy, thế nào là tiếng mẹ đẻ? Tiếng mẹ đẻ thường được hiểu là tiếng của cha mẹ mình và, do vậy, cũng là tiếng của dân tộc mình Tuy nhiên, thực tế nhiều khi lại không diễn ra đơn giản như vậy Ví dụ, một đôi vợ chồng người Việt sinh con ở Mỹ và đứa trẻ ngay từ khi sinh ra đã học nói tiếng Anh Mỹ, lớn lên chỉ biết sử dụng tiếng Anh
Mỹ mà không biết tiếng Việt thì tiếng mẹ đẻ của nó là tiếng Việt hay tiếng Anh
Mỹ Một ví dụ khác, một người đàn ông Việt Nam kết hôn với người phụ nữ là người dân tộc Acmêni ở Nga và đứa trẻ sinh ra chỉ biết nói tiếng Nga (không biết nói tiếng mẹ
đẻ của cha mẹ là tiếng Việt và tiếng Acmêni) Sau đó, cả gia đình chuyển sang sinh sống ở Mỹ, cùng với năm tháng, đứa trẻ thành thạo tiếng Anh Mỹ và dần quên hẳn tiếng Nga Vậy, tiếng mẹ đẻ của đứa trẻ là ngôn ngữ nào: tiếng Nga, tiếng Việt, tiếng Acmêni hay tiếng Anh Mỹ? Nêu ra hai ví dụ trên cho thấy tính phức tạp của khái niệm tiếng mẹ
đẻ Vì thế, hiện có những quan niệm khác nhau về tiếng mẹ đẻ
- Khái niệm "tiếng mẹ đẻ" được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo định nghĩa rộng thì bất cứ thứ tiếng nào mà không có truyền thống chữ viết thì đều được coi máy móc là phương ngữ của một ngôn ngữ địa phương và đứa trẻ mà nói thứ ngôn ngữ địa phương nhóm nhỏ chưa có chữ viết đó lập tức sẽ được coi là tiếng
mẹ đẻ của nó (cho dù đứa trẻ ấy không biết nhiều lắm về ngôn ngữ này)
Theo định nghĩa hẹp, tiếng mẹ đẻ là tiếng nói dùng trong gia đình (bất kì trình
độ phát triển của thứ tiếng ấy như thế nào) Đây là cách nhìn nhận tiếng mẹ đẻ từ tình hình ngôn ngữ ở Ấn Độ Ấn Độ là một quốc gia có tới 200 ngôn ngữ được xếp loại (còn thực tế có khoảng 1652 ngôn ngữ và phương ngữ) Ấn Độ lại là một quốc gia có lập
Trang 28trường đa nguyên về giáo dục đa ngữ, vì thế cần phải có một khái niệm mang tính tác nghiệp về tiếng mẹ đẻ
- Từ một cách nhìn nhận khác, Uriel Weinreich (1953) cho rằng, nhóm người nói tiếng mẹ đẻ là nhóm người trong điều kiện đa ngữ chỉ học được một trong các ngôn ngữ là ngôn ngữ thứ nhất
- Theo André Martinet (1967), nếu chỉ lấy cảm giác để gán cho một ngôn ngữ nào đó là ngôn ngữ thứ nhất là một việc làm không hợp chuẩn, vì cảm giác này không
ổn định theo thời gian Có thể, khi người ta còn bé thì cho ngôn ngữ này là ngôn ngữ thứ nhất, nhưng khi lớn lên, do hàng loạt các nhân tố xã hội trong đó chủ yếu là môi tr-ường ngôn ngữ, người ta lại có thể cho ngôn ngữ khác là ngôn ngữ thứ nhất Từ đó, André Martinet đi đến kết luận, cần kiên quyết gạt bỏ quan điểm cho rằng, khái niệm tiếng mẹ đẻ được bảo tồn ở vị trí thống trị của một con người từ thời ấu thơ cho đến lúc chết
- Một số nhà nghiên cứu khác, như Le Page (1992) chẳng hạn, lại cho rằng, trong xã hội đa ngữ mà một người từ lúc biết đến hai hoặc hơn hai ngôn ngữ thì khái niệm tiếng mẹ đẻ chỉ có giá trị tương đối, không cố định Lí do là vì: thứ nhất là việc xác định tiếng mẹ đẻ sẽ dựa trên cảm giác của người nói; thứ hai là, coi tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ thứ nhất thì tiếng mẹ đẻ phải được học trước tiên so với các tiếng khác
- Nhiều khi, khái niệm tiếng mẹ đẻ còn phụ thuộc vào nhóm tộc người nhất định, tức là liên quan đến ý thức tộc người, đó là ý thức tự xưng, tự nhận dân tộc, và cũng vậy, đó là ý thức tự nhận tiếng mẹ đẻ
Rõ ràng là, một khái niệm tưởng chừng như đơn giản, nhưng ở trong một xã hội song ngữ, với sự di chuyển, hội nhập, theo thời gian, việc xác định tiếng mẹ đẻ cho thế
hệ sau (thế hệ tiếp theo) là điều không hề đơn giản Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) khi xem xét vấn đề giáo dục bằng bản ngữ đã đưa ra khái niệm về tiếng mẹ đẻ:
"Tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ mà con người học được trong những năm đầu của đời mình và thường trở thành công cụ tư duy và truyền thống tự nhiên" (UNESCO, 1953)
"Tiếng mẹ đẻ không cần phải là thứ tiếng mà cha mẹ đứa trẻ dùng, cũng không cần phải là ngôn ngữ ngẫu nhiên mà đứa trẻ học để nói, bởi vì có những hoàn cảnh đặc biệt làm cho nó vào một tuổi rất sớm đã bỏ một phần hay bỏ hoàn toàn ngôn ngữ đó” (UNESCO, 1968)
Vernacular (tiếng bản địa, tiếng địa phương, thổ ngữ): "Đó là tiếng mẹ đẻ của một nhóm bị một nhóm khác nói một thứ tiếng khác thống trị về xã hội hay chính trị Chúng tôi không coi ngôn ngữ của một nhóm thiểu số trong một nước là bản ngữ nếu đó
là ngôn ngữ chính thức của nước khác” (UNESCO, 1953)
Liên quan đến tiếng mẹ đẻ còn có một khái niệm nữa gọi là SWONAL (speakers without a native language; người không có tiếng mẹ đẻ) Năng lực ngôn ngữ chủ yếu của người không có tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng mẹ đẻ của họ cũng không phải ở ngôn ngữ thứ hai mà họ học được mà là ở một ngôn ngữ trung gian Người không có tiếng mẹ đẻ thường sống ở xã hội mà ở ngôn ngữ thứ hai của họ đang thịnh hành trong giao tiếp Ví dụ, hậu duệ của người Hoa Bắc Mỹ: ngôn ngữ thứ nhất của họ
là tiếng Hán nhưng hầu như không có ai biết tiếng Hán mà là tiếng Anh theo kiểu pha trộn Đây là một hiện tượng ngôn ngữ đang ngày càng phổ biến
Như vậy, giữa khái niệm tiếng mẹ đẻ với sự hiểu biết về ngôn ngữ được coi là tiếng mẹ đẻ dường như không phải lúc nào cũng trùng nhau Khái niệm tiếng mẹ đẻ còn liên quan đến ý thức tự giác tộc người của các thành viên trong xã hội Chẳng hạn, một
cá nhân có thể là (hoặc tự nhận là) dân tộc này nhưng lại nhận ngôn ngữ khác là tiếng
Trang 29mẹ đẻ Trước tình hình thực tế đời sống ngôn ngữ của người Khmer ở ĐBSCL nói chung và ở An Giang nói riêng, chúng tôi tạm chấp nhận một khái niệm (cách hiểu) về tiếng mẹ đẻ như sau:
Tiếng mẹ đẻ là tiếng nói được sử dụng trong phạm vi giao tiếp gia đình và cộng đồng
1.2 Nguyên nhân nảy sinh hiện tượng song ngữ xã hội
Hiện tượng song ngữ là hệ quả tất yếu dưới tác động của hàng loạt các nhân tố
xã hội Chẳng hạn như, di dân vì các lý do khác nhau, vấn đề giáo dục song ngữ, sự cộng cư giữa các dân tộc, chính trị, kinh tế,… mối quan hệ giữa các ngôn ngữ về loại hình, cội nguồn Trong đó nổi lên một số nguyên nhân chính như sau:
1/ Trước hết là sự cộng cư của những người nói các thứ tiếng khác nhau Những người dùng các ngôn ngữ khác nhau lại chung sống với nhau trên cùng một lãnh thổ Có nhiều lí do dẫn đến hiện tượng cộng cư nhưng trong đó có một lí do quan trọng là xuất phát từ tình trạng di dân từ vùng lãnh thổ này sang vùng lãnh thổ khác Lịch sử cho thấy, hiện tượng di dân do nguyên nhân về kinh tế, chiến tranh hay chính trị Chẳng hạn, trong suốt thế kỷ XX đều có sự di dân của người Việt ra nước ngoài và, tại nước ngoài
dù muốn hay không người Việt cũng sống trong môi trường song ngữ tiếng Việt – tiếng của nước sở tại
2/ Sự thay đổi về chính trị trong các quốc gia đa dân tộc cũng tạo nên trạng thái song ngữ Ví dụ: Liên Xô (cũ) trước đây là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, tiếng Nga được coi là ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc Tại các nước cộng hoà, bên cạnh tiếng Nga là ngôn ngữ quốc gia, các ngôn ngữ dân tộc vẫn được sử dụng trong giao tiếp Chính sách này đã tạo nên một trạng thái song ngữ bằng sự phân bố chức năng giữa tiếng Nga và tiếng dân tộc khá đa dạng Tuy nhiên từ tháng 8/1991, sau khi Liên Xô bị tan rã, tình hình song ngữ ở đây đã phát triển theo chiều hướng rất phức tạp
do các nước Cộng hoà vùng Ban Tích tách ra thành quốc gia độc lập và theo đó vị thế của các ngôn ngữ vốn là ngôn ngữ dân tộc thiểu số đã thay đổi, lại “trở thành ngôn ngữ quốc gia độc lập”, còn tiếng Nga trở thành ngôn ngữ dân tộc thiểu số
3/ Giáo dục song ngữ trong các cộng đồng dân tộc cũng là nguyên nhân tạo nên trạng thái song ngữ Như đã biết, thoạt đầu giáo dục song ngữ để tạo nên trạng thái song ngữ cá nhân Tuy nhiên, một số cá nhân không thể làm nên xã hội song ngữ Chính vì thế, giáo dục song ngữ cộng đồng đang đẩy nhanh để tạo ra sự phát triển song ngữ xã hội Hiện tượng này có thể nhận thấy ở chính sách giáo dục ngoại ngữ của một số quốc gia Ví dụ, việc dạy tiếng Anh, Nga, Pháp, Hán, … trong các nhà trường phổ thông và đại học ở Việt Nam đã tạo nên một trạng thái song ngữ tiếng Việt - tiếng nước ngoài Hiện tượng song ngữ xã hội nhờ giáo dục còn có thể thấy rõ ở các vùng dân tộc thiểu
số Do nhu cầu giao tiếp và nhu cầu của cuộc sống, người dân tộc thiểu số đều có quyền lợi và nghĩa vụ học ngôn ngữ giao tiếp chung - tiếng Việt Kết quả là hiện tượng song ngữ tiếng Việt - tiếng dân tộc thiểu số xuất hiện
Ở Việt Nam là một ví dụ, để bảo tồn và phát triển ngôn ngữ dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước ta đã thừa nhận và đảm bảo về mặt pháp lý quyền có ngôn ngữ riêng của tất cả các dân tộc, quyền bình đẳng và phát triển tự do cho tất cả các ngôn ngữ dân tộc Chủ trương chính sách này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc sử dụng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trong đời sống và trong lĩnh vực hoạt động xã hội Nhờ
đó, đã khuyến khích các dân tộc thiểu số học tiếng Việt (hay tiếng phổ thông) trên
Trang 30nguyên tắc tự nguyện và tôn trọng sự phát triển tự do, bình đẳng ngôn ngữ của các dân tộc khác Từ đây, đã tạo ra trạng thái song ngữ tiếng dân tộc - tiếng Việt
1.3 Sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ trong xã hội song ngữ
1.3.1 Tiếp xúc ngôn ngữ
Cho đến nay đã có nhiều định nghĩa về tiếp xúc ngôn ngữ của giới ngôn ngữ học trong nước và nước ngoài Có thể hiểu một cách khái quát: tiếp xúc ngôn ngữ là sự tác động lẫn nhau của hai hay hơn hai ngôn ngữ, ảnh hưởng tới cấu trúc và từ vựng của một hay nhiều ngôn ngữ Hệ quả của nó là ảnh hưởng tới cấu trúc và từ vựng của các ngôn ngữ tham gia tiếp xúc Ví dụ:
Tiếp xúc giữa tiếng Hoa Quảng Đông ở Nam bộ và tiếng Việt đã tạo ra những
âm tiếng Việt mô phỏng theo tiếng Quảng Đông như: “dách” (nhất, một), “lì xì” (cho tiền lấy may), “lạp xưởng” (thịt nhồi ruột heo), “xí quách” (món xương heo), “ngầu pín” (gân bò), “xì dầu” (nước tương), “xườn xám” (áo dài Trung Hoa),…
Hay do quá trình tiếp xúc với cư dân Khmer, người Việt đã vay mượn các từ có liên quan đến xã hội, phong tục người Khmer: cái xà-rông (sa-rông), cái cà-ràng, một loại bếp (âng kran), cái cần xé (canh chê), cái cù nèo (khveo), mắm bồ hóc (brô-hok), cà-ròn, bao bằng bàng (ca-rông), cà-om, một loại nồi đất (kơ-om), cái lọp để đánh cá (lop) v.v
Nếu như ngôn ngữ học cấu trúc chú ý tới tiếp xúc ở mặt cá nhân thì ngôn ngữ học xã hội chú ý đến tiếp xúc ở cộng đồng giao tiếp Khi nói đến hệ quả của tiếp xúc từ vựng ở ngôn ngữ học cấu trúc thì người ta hay nói đến hiện tượng chệch chuẩn ở một cá nhân Song, ở ngôn ngữ xã hội người ta chú ý đến hiện tượng chệch chuẩn của cả cộng đồng
Có thể nói, tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng phổ biến trong đời sống giao tiếp ngôn ngữ Hay nói cách khác, khi một cá nhân hay cộng đồng sử dụng từ hai ngôn ngữ trở lên thì sẽ nảy sinh tiếp xúc ngôn ngữ
Tiếp xúc ngôn ngữ lúc đầu được quan niệm là học ngôn ngữ, tức là khi một cá nhân học thêm một ngôn ngữ khác bên cạnh tiếng mẹ đẻ thì sẽ nảy sinh hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ Ví dụ, người Khmer ở ĐBSCL ngoài biết tiếng mẹ đẻ, còn học thêm tiếng Việt để phục vụ cho mục đích giao tiếp và nội dung giao tiếp Từ đây trong cộng đồng người Khmer xuất hiện trạng thái song ngữ và có sự tiếp xúc giữa tiếng Khmer - tiếng Việt
Thông thường khi nói đến hệ quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ, người ta hay bàn đến hướng ảnh hưởng, tức là ngôn ngữ nào sẽ ảnh hưởng đến ngôn ngữ nào, hay nói cách khác là “hướng tác động” giữa các ngôn ngữ Sự ảnh hưởng này có thể là sự ảnh hưởng một chiều hoặc hai chiều (tương hỗ) Tính phương hướng này được quyết định ở hàng loạt các nhân tố như tính mục đích của việc học tập, tần số sử dụng, mức độ thuần thục, bối cảnh ngôn ngữ, bối cảnh văn hoá Ví dụ trong cùng một vùng song ngữ, các ngôn ngữ tuy là bình đẳng với nhau nhưng có một ngôn ngữ nổi lên có quyền lực như một “ngôn ngữ vùng” thì hướng tác động trong tiếp xúc sẽ thiên về đơn hướng: ngôn ngữ vùng kia sẽ ảnh hưởng đến các ngôn ngữ khác mạnh hơn là sự ảnh hưởng ngược lại hoặc là sự ảnh hưởng giữa các ngôn ngữ còn lại
Xét về mặt lí thuyết, đây là sự tác động tương hỗ, nhưng về mặt thực tế, thường
là tiếng mẹ đẻ ảnh hưởng tới ngôn ngữ được tiếp thu sau này Chẳng hạn, nhiều người Việt Nam học ngoại ngữ tiếng Hán thường hay dùng phụ âm /p/ tiếng Việt để thay cho
Trang 31phụ âm /p’/ trong tiếng Hán khi phát âm Sự ảnh hưởng này thường diễn ra ở giai đoạn đầu Tuy nhiên, hiện tượng này thường xảy ra ở những cá nhân song ngữ, còn ở cộng đồng song ngữ thì khuynh hướng chung là các ngôn ngữ mạnh ảnh hưởng đến các ngôn ngữ yếu hơn Khái niệm ngôn ngữ mạnh hay ngôn ngữ yếu ở đây có liên quan đến các nhân tố xã hội như kinh tế, chính trị, văn hoá, dân số,…Ví dụ: Tiếng Hoa, tiếng Khmer, tiếng Chăm ở An Giang thường chịu ảnh hưởng tiếng Việt - ngôn ngữ mạnh hơn, ngôn ngữ của cộng đồng chiếm ưu thế về dân số
Theo Nguyễn Văn Khang (2006), khi hai dân tộc nói hai ngôn ngữ khác nhau
mà có tiếp xúc với nhau thì xu hướng chung là:
- Ngôn ngữ của dân tộc có sức mạnh về kinh tế, chính trị cao hơn sẽ ảnh hưởng đến ngôn ngữ của dân tộc có sức mạnh về kinh tế, chính trị thấp hơn
- Ngôn ngữ của dân tộc có trình độ văn hoá cao hơn sẽ ảnh hưởng đến ngôn ngữ dân tộc có trình độ văn hoá thấp hơn (thường thông qua các kênh giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, văn học, ) [12; 32-33]
Cùng với các nhân tố xã hội thì nhân tố ngôn ngữ cũng đóng vai trò quan trọng đối với hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ và hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ Chẳng hạn:
- Các ngôn ngữ có chữ viết ảnh hưởng đến các ngôn ngữ không có chữ viết Ví
dụ, tiếng Mường là ngôn ngữ không có chữ viết chịu ảnh hưởng rất lớn của tiếng Việt
- Các ngôn ngữ cùng loại hình thì sự tiếp xúc diễn ra thuận lợi hơn, mà biểu hiện của chúng là dẫn đến hiện tượng vay mượn nhiều hơn Ví dụ, tiếng Việt và tiếng Hán là hai ngôn ngữ cùng loại hình đơn lập, do đó tiếng Việt đã vay mượn một số lượng lớn từ
vựng tiếng Hán mà chúng ta thường gọi là từ Hán Việt, như quốc gia, sơn thuỷ, nam nữ,
chính phụ, xuân thu, hành chính, chính trị, xã hội, v.v… Cho đến nay, khái niệm tiếp
xúc ngôn ngữ được hiểu theo các cách khác nhau Quan niệm thứ nhất cho rằng hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ chỉ xảy ra trong xã hội song ngữ Chẳng hạn:
Sự tiếp xúc trực tiếp bằng khẩu ngữ thường xuyên giữa các thành viên của các dân tộc nói các ngôn ngữ khác nhau Ví dụ, người Hoa, người Khmer ở ĐBSCL nói chung và ở An Giang nói riêng do quá trình cộng cư lâu đời với người Kinh (Việt), tiếp xúc trực tiếp với người Kinh (Việt) và theo đó người Hoa, người Khmer đã vay mượn
một số từ của tiếng Việt để dùng trong giao tiếng hàng ngày như: bến xe, nhà ga, sân
bay, tủ lạnh, máy bơm nước, xuống giống, công cắt, công điền, v.v
Quan niệm thứ hai cho rằng, tiếp xúc ngôn ngữ không chỉ xảy ra trong xã hội song ngữ mà còn có thể xảy ra bằng con đường sách vở như biên dịch, phiên dịch, phim ảnh, v.v Sự tiếp xúc trong xã hội song ngữ người ta gọi là tiếp xúc trực tiếp, còn hiện tượng tiếp xúc qua sách vở thì gọi là tiếp xúc gián tiếp Ví dụ, tiếp xúc thông qua văn
bản thư tịch cổ Trung Hoa, người Việt vay mượn các từ, cụm từ như: yểu điệu, thục nữ,
gia thất (Kinh thi); bách phát bách trúng (Chiến quốc sách); ôn cố tri tân, nhàn cư vi bất thiện (Luận ngữ); nam nữ thụ thụ bất thân (Mạnh Tử); v.v Hay người Việt tiếp xúc
với phim ảnh Trung Quốc và đã vay mượn các từ như: nương nương, tỷ tỷ, a đầu, thiện
tai, đại ca,…
Tóm lại, việc nghiên cứu song ngữ không thể không đề cập đến những vấn đề lí
luận của tiếp xúc ngôn ngữ Bởi vì hệ thống lí luận này sẽ góp phần làm sáng tỏ nguồn gốc, sự phát triển và bản chất của hiện tượng song ngữ cũng như chỉ ra được những nét đặc thù trong quá trình tác động qua lại giữa các ngôn ngữ trong điều kiện song ngữ
Trang 321.3.2 Giao thoa ngôn ngữ
Giao thoa ngôn ngữ là một hiện tượng xảy ra trong điều kiện tiếp xúc ngôn ngữ hay nói cách khác điều kiện tiên quyết giao thoa ngôn ngữ là phải trong môi trường song ngữ Khái niệm giao thoa được từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa là:
“Hiện tượng hai hay nhiều sóng cùng tần số tăng cường hay làm yếu lẫn nhau khi gặp nhau tại cùng một điểm” [21; 393]
Ngôn ngữ học đã sử dụng khái niệm này để nói đến sự tác động qua lại giữa các cấu trúc và các yếu tố của cấu trúc giữa hai hay hơn hai ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp của cư dân song ngữ Nói cách khác, giao thoa là hiện tượng chệch khỏi chuẩn của một ngôn ngữ nào đó trong lời nói của người song ngữ [12; 46]
Giao thoa ngôn ngữ thường xảy ra khi có sự tiếp xúc giữa các tập thể, các cư dân nói các ngôn ngữ hoặc các phương ngữ khác nhau Ví dụ, người Hoa ở Sóc Trăng, An Giang cộng cư với người Kinh, người Khmer thì sẽ xảy ra hiện tượng giao thoa giữa tiếng Hoa với tiếng Việt, tiếng Hoa với tiếng Khmer
Khi có sự giao thoa sẽ dẫn đến những biến đổi, hay nói cách khác là có hiện tượng chệch chuẩn ở các bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp mà rõ nhất là ở bình diện ngữ âm Dưới đây là một số ví dụ người Hoa Quảng Đông ở An Giang khi nói tiếng Hoa:
- ở bình diện ngữ âm:
A: Nậy hui pín tấy? (Em đi đâu đấy?)
B: Ngộ hui mại mầy.(Dạ, em đi mua gạo.)
- ở bình diện ngữ pháp, người Hoa do ảnh hưởng ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ nên khi nói tiếng Việt thường đặt thành phần định ngữ ra trước thành phần chính kiểu như:
A: Em uống gì? (Chủ quán cà phê hỏi)
B: Em uống đá trà (Khách người Hoa ở An Giang)
1.3.3 Vay mượn ngôn ngữ
Vay mượn là hiện tượng phổ biến trong các ngôn ngữ, nó là hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ, bao gồm cả tiếp xúc trực tiếp và tiếp xúc gián tiếp Vay mượn ngôn ngữ, theo truyền thống chỉ được hiểu là sự vay mượn do “thiếu”, tức là ngôn ngữ đi vay sẽ tiếp nhận một yếu tố của ngôn ngữ cho vay khi mà ngôn ngữ đi vay không có yếu tố này Tuy nhiên, từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, tác giả Nguyễn Văn Khang (2006) cho rằng vay mượn diễn ra không chỉ do “thiếu” mà ngay cả khi “có rồi” vẫn đi vay Từ cách nhìn này, tác giả cho rằng chính việc vay mượn các yếu tố khi mà ngôn ngữ đi vay đã
có, điều này tạo nên một hiện tượng lí thú trong ngôn ngữ và hiện tượng đồng nghĩa cũng từ đó xuất hiện Ví dụ, trong tiếng Việt có từ “chết” nhưng vẫn vay mượn tiếng Hán các từ “mãn cảnh trần”, “tạ thế”, “tử vong”,…Chúng tôi đã kiểm nghiệm và thấy đúng như thực tế hiện tượng vay mượn trong quá trình giao tiếp của người Hoa ở ĐBSCL khi sử dụng tiếng Hoa và tiếng Việt
Ví dụ: Trong lĩnh vực từ vựng, khi tiếp xúc với người Hoa, chúng tôi thấy xuất hiện rất nhiều những câu nói có vay mượn từ tiếng Việt mặc dầu tiếng Hoa có nhưng vẫn vay mượn tiếng Việt hoặc ngược lại, kiểu như:
“Ngộ đi dậm chẩu hầy.” (Chồng nói với vợ: Anh đi uống rượu mà) Trong tiếng
Hoa Quảng Đông có từ “hui” có nghĩa là đi nhưng người Hoa Quảng Đông vẫn vay
mượn từ đi của tiếng Việt
Trường hợp này cũng xảy ra với ngưới Kinh (Việt) ở An Giang
Trang 33Ví dụ: “Tôi không có tiền thồi” (Chủ quán nước người Kinh: Tôi không có tiền
thối/Tôi không có tiền lẻ trả lại) Đáng lẽ phải nói thối nhưng do thói quen của một số người Kinh (Việt) ở An Giang nên họ dùng từ thồi của tiếng Hoa Triều Châu để thay thế cho từ thối trong phát ngôn này
Đặc biệt là trong giao tiếp, các cá nhân song ngữ nhiều khi rất thích sử dụng vay mượn mang tính lâm thời - điều mà người ta gọi là hiện tượng trộn mã hiện nay Ví dụ:
Bạn book vé máy bay hộ tớ nhé! (Bạn đặt vé máy bay hộ tớ nhé! Trong tiếng
Anh book trong câu này là động từ, có nghĩa là đặt )
Chế đang bận việc (Chị đang bận việc) Tiếng Hoa Triều Châu chế là đại từ ngôi
thứ nhất, có nghĩa là chị
1.4 Giao tiếp trong xã hội song ngữ
Một trong những vấn đề mà ngôn ngữ học xã hội quan tâm là trong xã hội song ngữ thì các thành viên sử dụng ngôn ngữ như thế nào để giao tiếp, đó chính là sự lựa chọn ngôn ngữ Về lí thuyết, đối với các thành viên trong xã hội song ngữ khi giao tiếp
sẽ nảy sinh các cách lựa chọn như sau:
Một là, chọn một trong những ngôn ngữ để giao tiếp Ví dụ người Hoa ở
ĐBSCL biết cả ba ngôn ngữ Hoa, Việt và Khmer nhưng họ chỉ dùng tiếng Hoa trong trường hợp họp Hội tương tế người Hoa hoặc chỉ dùng tiếng Việt để giao tiếp ngoài xã hội Hay học sinh, sinh viên Khmer biết tiếng Việt và tiếng Khmer nhưng họ chỉ dùng tiếng Khmer trong giao tiếng tiếp với bạn bè cùng dân tộc
Hai là, đồng thời sử dụng cả hai hoặc ba ngôn ngữ để giao tiếp Trong việc sử
dụng đồng thời như vậy, thì lại diễn ra một sự lựa chọn tiếp theo đó là việc lựa chọn ngôn ngữ nào để giao tiếp tuỳ thuộc vào bối cảnh giao tiếp Ví dụ, các nghiên cứu truyền thống thường cho rằng, những người dân tộc thiểu số thường dùng tiếng mẹ đẻ
để giao tiếp trong gia đình, còn trong giao tiếp hành chính thì thường dùng tiếng Việt để giao tiếp Chẳng hạn như, người Khmer ở ĐBSCL thường dùng tiếng mẹ đẻ (tiếng Khmer) trong các phạm vi giao tiếp không chính thức như gia đình, trao đổi riêng, còn trong giao tiếp hành chính thì họ dùng tiếng Việt
Ba là, có thể giao tiếp theo hướng trộn mã, tức là người ta sử dụng một ngôn
ngữ là chính và trộn các yếu tố của ngôn ngữ khác vào (theo cách gọi như trên đã nêu
mà một số người gọi là vay mượn lâm thời)
Với ba cách nêu trên (giao tiếp chỉ bằng một ngôn ngữ, giao tiếp bằng cách chuyển mã, trộn mã) đã làm cho tình hình giao tiếp trong xã hội song ngữ trở nên phức tạp Chọn cách giao tiếp nào là phụ thuộc vào hàng loạt các nhân tố ngôn ngữ - xã hội
Ví dụ, trường hợp chỉ chọn một ngôn ngữ để giao tiếp thường là do nhiều khi ý thức tự giác tộc người quá cao của những người tham gia giao tiếp Trường hợp này chúng tôi
đã gặp ở người Khmer, người Chăm tại An Giang
Trường hợp thứ hai là hiện tượng chuyển mã trong giao tiếp cũng phụ thuộc vào các nhân tố ngôn ngữ - xã hội, phụ thuộc vào mục đích và chiến lược giao tiếp Ví dụ: Một số người Hoa ở An Giang thông thạo tiếng mẹ đẻ (tiếng Hoa phương ngữ) khi đang trò chuyện với chúng tôi thì nói bằng tiếng Việt, nhưng cũng ngay lúc đó đối tượng quay sang dặn vợ về giá cả của các mặt hàng mới nhập về thì nói bằng tiếng Hoa phương ngữ, nhằm mục đích là để bảo mật thông tin, không để chúng tôi biết về giá cả bán ra của các mặt hàng đó Đối với người Khmer nói chung và học sinh Khmer nói riêng, hiện tượng chuyển mã giữa tiếng Việt – tiếng Khmer thường xuyên xảy ra khi có người thứ ba là dân tộc Kinh hay người dân tộc khác cùng tham gia giao tiếp
Trang 341.4.1 Hiện tượng trộn mã
Các tình huống giao tiếp vốn rất đa dạng Trong một số tình huống nhất định, đòi hỏi người nói phải có khả năng và vốn từ vựng phong phú Nhiều khái niệm tương đối khó nhớ trong tiếng mẹ đẻ của người dân tộc thiểu số có thể được chuyển sang tiếng Việt với sự giải thích của đối tượng là “cho đơn giản hơn”, “cho nhẹ hơn” Sự hạn chế này không phải xuất hiện ở mọi đối tượng mà phần nhiều ở những người có trình độ tiếng mẹ đẻ thấp
Thói quen hằng ngày cũng đóng vai trò quan trọng trong sự trộn mã Sự trộn mã nhìn từ góc độ này tương đối phức tạp, do yếu tố được chọn để trộn hầu như không theo một quy luật nào cả Sự trộn mã có thể là sự lặp lại các yếu tố đã được nhắc đến trước
đó trong ngữ cảnh hay các yếu tố được nhắc đến trước ngữ cảnh hiện tại Sự trộn mã còn diễn ra khi người nghe hoặc người nói sợ người đối thoại với mình không hiểu hết ý nghĩa các phát ngôn của mình Trường hợp này thường xảy ra khi người Hoa ở ĐBSCL nói tiếng Việt với người Hoa hoặc người Hoa nói chuyện với người Kinh (Việt)
Ví dụ:
A: Nậy diu mại mách dế a? (Anh muốn mua gì?)
B: Mại sách vở pỷ xây lủ có (Mua sách vở cho con.)
A: Nậy kuy sên? (Anh họ gì?)
B: Ngộ sên Chần, ngộ kyủ Chần Quang (Tôi họ Trần, tên tôi là Trần Quang.)
Các yếu tố “sách vở”, “Chần” (Trần), “Chần (Trần) Quang” được dùng một cách rất tự nhiên khi người Hoa nói chuyện với người Hoa, và cũng thường xảy ra khi người Hoa nói chuyện với người Việt (biết tiếng Hoa Quảng Đông)
Hay khi quan sát quá trình giao tiếp hay trực tiếp giao tiếp với học sinh dân tộc Khmer, chúng tôi thấy hiện tượng trộn mã xuất hiện khá nhiều ở cấp độ từ vựng lẫn ngữ đoạn Có trường hợp, các ngữ gồm một hay nhiều yếu tố tiếng Việt với một hay nhiều yếu tố tiếng Khmer
Ví dụ:
- Thnay nưng riin bài y! (Hôm nay học bài gì!)
- Thnhâm tâu xa sting bún (Tôi mua được bún)
- Thnhâm mến smit (Tôi thương bạn)
- Clếch nưng giải chmach! (Phương trình giải như thế nào!)
Hoặc: - Tôi slanh bạn (Tôi thương bạn)
Thưa cô, bạn ấy mơmêrin của bạn (Xem bài)
Các yếu tố tiếng Việt: bài, bún, mến, giải… vận dụng vào trong phát ngôn Khmer hoặc các yếu tố slanh, mơmêrin… xen lẫn vào tiếng Việt được học sinh Khmer
sử dụng một cách tự nhiên trong giao tiếp với bạn bè, thầy cô trong trường học cũng như trong đời sống Đây không phải là hiện tượng lạ mà là hiện tượng phổ biến ở các vùng song ngữ Việt - Khmer Đặc biệt, khi những người Khmer nói chuyện với nhau, ta
có thể dễ dàng nhận ra được chủ đề trao đổi của họ thông qua hàng loạt các từ ngữ tiếng Việt được sử dụng hòa lẫn với tiếng Khmer trong câu chuyện của họ
1.4.2 Hiện tượng chuyển mã
Một hiện tượng nữa cũng rất đáng chú ý khi nghiên cứu vấn đề song ngữ là hiện tượng chuyển mã Hiện tượng chuyển mã được hiểu một cách đơn giản là sự chuyển đổi ngôn ngữ hay phương ngữ trong quá trình giao tiếp Một cá nhân song ngữ đang sử dụng một mã ngôn ngữ nào đó có thể chuyển sang mã ngôn ngữ khác tuỳ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp Sự chuyển mã được phân biệt với sự trộn mã ở yếu tố đối tượng
Trang 35mã Nếu như ở trộn mã, như bản thân thuật ngữ cho thấy, sự trộn lẫn các yếu tố ở cấp
độ dưới câu như từ, cụm từ của một ngôn ngữ này trong một ngôn ngữ khác thì sự
chuyển mã phải là sự chuyển đổi hoàn toàn từ một mã ngôn ngữ này sang một mã ngôn ngữ khác Gal cho rằng chuyển mã là chiến lược hội thoại dùng để xây dựng, vạch ra hoặc phá vỡ rào chắn hoặc các quan hệ tương tác với quyền lợi và nghĩa vụ (Dẫn theo Nguyễn Văn Khang, 1999, tr 224) Như vậy, chuyển mã là một hiện tượng sử dụng ngôn ngữ gắn với động cơ của người nói
Xét về mặt giao tiếp, sự chuyển mã có những lúc có thể là một hành động ngẫu nhiên, không chủ đích, nhưng có lúc lại nằm trong ý định của người nói Ngay cả khi gọi là không chủ đích, sự chuyển mã cũng là kết quả của một ý định trong tiềm thức Chuyển mã là hiện tượng phức tạp, và có những động cơ khác nhau, trong đó có những trường hợp hội tụ nhiều động cơ Chẳng hạn: (1) chuyển mã để giữ bí mật nội dung giao tiếp; (2) chuyển mã nhằm tác động tâm lí đối tượng; (3) chuyển mã để trích dẫn, nhắc lại lời người khác; (4) chuyển mã nhằm thay đổi đề tài hội thoại; (5) chuyển mã để chuyển đổi phong cách; (6) chuyển mã để đảm bảo chất lượng giao tiếp; (7) chuyển mã
để chiếm ưu thế giao tiếp Trường hợp này xảy ra khi hai người thuộc hai dân tộc khác nhau Ví dụ, một số người Khmer ở Nam bộ thông thạo tiếng Khmer thường dùng tiếng Khmer để giao tiếp với người Kinh (biết tiếng Khmer) vì người Khmer mong muốn ngôn ngữ của mình được sử dụng trong hội thoại chung, vì thế họ cố ý chọn mã ngôn ngữ của mình để áp đặt người Kinh (Việt) nói theo
Theo các quan niệm trên, có thể thấy: khuynh hướng cơ bản của sự mở rộng các quá trình tác động lẫn nhau giữa các ngôn ngữ ở Việt Nam nói chung, giữa tiếng Khmer với tiếng Việt nói riêng trong thời kỳ hiện đại, đã được xác định bởi mối quan hệ thân thiện, hữu nghị giữa các dân tộc Đó là: sự xích lại gần nhau, làm giàu cho nhau về mọi mặt đang trở thành quy luật phát triển của các dân tộc trên đất nước Việt Nam nói chung
và ở An Giang nói riêng Quy chiếu từ các khái niệm trên về tiếp xúc ngôn ngữ và song ngữ, có thể thấy: song ngữ Khmer – Việt là loại hình song ngữ có tính chất phổ biến trong đời sống ngôn ngữ của cư dân Khmer ở vùng ĐBSCL; cộng đồng người Khmer ở đây là những cộng đồng song ngữ, và đa số cư dân Khmer là những cá thể song ngữ Trạng thái song ngữ này là kết quả của sự cộng cư lâu dài hàng trăm năm, của quá trình tiếp xúc và ảnh hưởng lẫn nhau về văn hóa giữa người Khmer và người Kinh, nó mang tính ổn định, thường xuyên, được trao chuyền giữa các thế hệ mức độ ngày càng tăng
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ Quá trình tiếp xúc văn hoá giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh (Việt) diễn ra đồng thời với quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Do đó, các hiện tượng giao thoa ngôn ngữ, vay mượn ngôn ngữ và chuyển
mã, trộn mã xảy ra trong giao tiếp của người dân tộc thiểu số Việc nghiên cứu các hiện tượng chọn mã, trộn mã, chuyển mã có thể sẽ giúp làm nổi bật tình hình giao tiếp song ngữ tại các khu vực song ngữ tiếng Việt – tiếng dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung
và ở ĐBSCL nói riêng
II VỀ CẢNH HUỐNG NGÔN NGỮ
Muốn xây dựng một cảnh huống ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số nói riêng, sao cho chính sách ấy đúng đắn, khách quan, khoa học; thì phải điều tra khảo sát kĩ lưỡng về “cảnh huống ngôn ngữ” (tiếng Anh: language situation), tức là: toàn bộ các hình thái tồn tại (bao gồm cả các phong cách) của một ngôn ngữ nào đó hay tất cả các ngôn ngữ trong giới hạn của một khu vực địa lí nhất định, một thực thể hành
Trang 36chính – chính trị nhất định, và trong mối quan hệ tương tác qua lại về mặt lãnh thổ - xã hội và về mặt các chức năng của từng ngôn ngữ
Để miêu tả đầy đủ một “cảnh huống ngôn ngữ”, có thể sử dụng các tiêu chí
khác nhau, thường được phân thành nhóm như sau:
1) Nhóm các tiêu chí định lượng (thường dùng để xác định tiềm năng dân số học
và tiềm năng giao tiếp của một ngôn ngữ), cụ thể:
a Tiêu chí về số lượng các thứ tiếng ở một khu vực nào đó của thế giới, hay ở quốc gia đó, vùng đó, tỉnh đó v.v Dựa theo tiêu chí này, người ta phân biệt hai loại cảnh huống ngôn ngữ:
- Cảnh huống ngôn ngữ đơn thành tố; thí dụ như Nhật Bản, Triều Tiên là những quốc gia chỉ có một ngôn ngữ duy nhất tồn tại Tuy nhiên, cảnh huống ngôn ngữ kiểu này trên thế giới rất hiếm
- Cảnh huống ngôn ngữ đa thành tố, rất phổ biến; thí dụ như các quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ như Việt Nam, Lào, Trung Quốc, Liên Bang Nga, Mỹ, Canada
b Tiêu chí về số lượng người nói mỗi thứ tiếng, có so sánh với số lượng chung của toàn bộ cư dân ở đơn vị địa lí – hành chính đó
c Tiêu chí về số lượng các phạm vi giao tiếp của mỗi thứ tiếng, có so sánh với
số lượng chung của các phạm vi giao tiếp mà một ngôn ngữ đã phát triển (thường được gọi là “ngôn ngữ văn học” hay “ngôn ngữ văn hóa”) phải có khả năng thực hiện đầy đủ Dựa theo tiêu chí này, người ta phân ra:
- Cảnh huống ngôn ngữ phi cân bằng, trong đó các ngôn ngữ có năng lực giao tiếp không ngang nhau Thí dụ, như ở vùng Tây Bắc nước ta, tiếng Kháng không được dụng rộng rãi trong các phạm vi giao tiếp ngoài gia đình như tiếng Thái ở cùng khu vực địa lí – hành chính đó
- Cảnh huống ngôn ngữ cân bằng, trong đó hai (hay nhiều) thứ tiếng có năng lực giao tiếp như nhau; thí dụ như tiếng Pháp và tiếng Hà Lan sử dụng ở nước Bỉ
2) Nhóm các tiêu chí định chất
a Tiêu chí về đặc điểm các thứ tiếng: đó là một ngôn ngữ độc lập, riêng biệt hay chỉ là một biến thể ở dạng phương ngữ hay thổ ngữ của ngôn ngữ đó Dựa theo tiêu chí này, xét ở tầm cỡ quốc gia, người ta sẽ phân biệt ra:
- Cảnh huống quốc gia đơn ngữ
- Cảnh huống quốc gia đa ngữ (như Việt Nam)
b Tiêu chí về các mối quan hệ về loại hình và cội nguồn ngôn ngữ Dựa theo tiêu chí này, người ta phân ra:
- Cảnh huống ngôn ngữ đồng hình và cảnh huống ngôn ngữ phi đồng hình Thí
dụ, ở Việt Nam, tuy có 54 ngôn ngữ dân tộc nhưng đều chung một loại hình “Ngôn ngữ
đơn lập” (isolante) Nếu so sánh tiếng Việt với tiếng Anh và tiếng Pháp, thì tiếng Anh và
tiếng Pháp thuộc loại hình ngôn ngữ khác là “Ngôn ngữ biến hình” (flexible)
- Cảnh huống ngôn ngữ đồng nguồn và cảnh huống ngôn ngữ phi đồng nguồn.Thí dụ, ở Việt Nam, tiếng Việt là có chung một nguồn với tiếng Mường, tiếng Chứt, tiếng Thổ v.v Nhưng tiếng Việt là khác nguồn nếu so với tiếng Dao, tiếng Lôlô, tiếng Êđê v.v
- Tiêu chí về tính ngang bằng (không ngang bằng) và cân đối (không cân đối) về chức năng ngôn ngữ của các thứ tiếng Theo tiêu chí này, người ta phân ra:
+ Cảnh huống ngôn ngữ cân bằng,trong đó hai ngôn ngữ có chức năng như nhau trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội: như là tiếng Anh và tiếng Pháp ở Canada
+ Cảnh huống ngôn ngữ phi cân bằng, như là tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ chung, “tiếng phổ thông ”, so với một ngôn ngữ dân tộc thiểu số bất kì nào khác ở nước
ta
Trang 37c Tiêu chí về tính nổi trội (hay không nổi trội) của một ngôn ngữ trong phạm vi quốc gia đó Theo tiêu chí này người ta phân biệt:
- Cảnh huống ngôn ngữ nội ngôn, tức là ngôn ngữ nổi trội là ngôn ngữ bản địa của đất nước đó, dân tộc đó; thí dụ như ở nước ta
- Cảnh huống ngôn ngữ ngoại ngôn, tức là thứ tiếng chủ đạo ở quốc gia đó lại là tiếng nước ngoài như việc dùng tiếng Anh ở Ghana hay tiếng Pháp ở Mali
3) Nhóm tiêu chí định giá
Ở đây chủ yếu là nói về sự đánh giá của người bản ngữ đối với tiếng mẹ đẻ của mình (thí dụ của người Khmer) hay của người dân tộc này về thứ tiếng của dân tộc khác (thí dụ của người Khmer về tiếng Hoa) về các phương diện khác nhau liên quan đến thứ tiếng đó Xét ở góc độ này, những điều tra xã hội – ngôn ngữ học, khảo sát về tâm lí và thái độ của đồng bào các dân tộc đối với việc chế tác chữ viết và sử dụng chữ dân tộc, việc này cùng một lúc tiếng Việt và tiếng dân tộc v.v là rất quan trọng và hết sức cần
thiết cho việc hoạch định một chính sách ngôn ngữ dân tộc hợp lí, hợp tình
Để có một bức tranh toàn cảnh và đầy đủ, chi tiết về các ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam, hiện nay chúng ta chưa có đủ các thông số cần thiết theo các tiêu chí định lượng, định chất, định giá đã trình bày ở phần trên Cần có nhiều thời gian (và kinh phí) để điều tra khảo sát rộng hơn nữa, kĩ hơn nữa về toàn bộ 54 ngôn ngữ (với tất cả các dạng tồn tại phương ngữ, thổ ngữ, ở các vùng khác nhau của từng ngôn ngữ một) tạo nên “cảnh huống ngôn ngữ” ở nước ta
Cảnh huống ngôn ngữ nói ngắn gọn là tổng thể những yếu tố của môi trường, hoàn cảnh của một ngôn ngữ đang hoạt động Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này, nhưng theo chúng tôi định nghĩa sau đây là bao trùm tất cả:
Cảnh huống ngôn ngữ của một quốc gia hay một khu vực nào đó được hình
thành nên trong suốt mấy chục năm chứ không phải là chỉ trong một vài năm nhất định
Các nhân tố tạo nên ngôn ngữ gồm: các nhân tố dân tộc – nhân khẩu (thành phần dân
tộc của cư dân trong một khu vực, cách cư trú của những người thuộc các dân tộc khác nhau như: định cư hay du cư, phân tán hay tập trung v.v…, sự phân hoá xã hội, trình độ
học vấn của họ v.v…); các nhân tố ngôn ngữ học (trạng thái cấu trúc và chức năng của
một ngôn ngữ, sự hiện hữu trong ngôn ngữ này các phong cách chức năng, hệ thống
thuật ngữ, truyền thống chữ viết v.v…); các nhân tố vật chất (có các từ điển, sách hội thảo, các tài liệu, đội ngũ giáo viên, hệ thống các lớp học ngôn ngữ v.v…); nhân tố con
người (những định hướng có giá trị của người bản ngữ, tri năng ngôn ngữ, sự đồng ý
học ngôn ngữ mới của họ v.v…) “Cảnh huống ngôn ngữ là sự phân bố đã được hình
thành trong suốt một thời gian dài, trên một lãnh thổ nhất định, những hình thức tồn tại khác nhau (ngôn ngữ văn học, khẩu ngữ, các phương ngữ) và những hình thức thể hiện khác nhau (nói và viết) của các ngôn ngữ đăng hành chức trên lãnh thổ này” [44; 446]
Từ cách nhìn về khái niệm cảnh huống ngôn ngữ trên, có thể giới thiệu sơ bộ về cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam và ở An Giang như sau:
Theo tài liệu 121-TCTK ngày 2 -3 -1979 của Tổng cục thống kê, Việt Nam có
54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm đại đa số (chiếm 87%) và 53 dân tộc thiểu số khác Tiếng Việt đảm nhiệm chức năng là ngôn ngữ quốc gia từ khi có Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1945) Vị thế này đã được khẳng định trong các văn bản Nhà nước cũng như trong thực tế sử dụng 53 dân tộc thiểu số sống xen kẽ nhau trải dài suốt
từ Bắc đến Nam và đang có xu hướng phát triển mạnh Riêng ở các tỉnh miền núi phía bắc có tới 20 trong số 107 các huyện có từ 10 dân tộc trở lên cùng sinh sống Đa số các
xã có từ 3- 4 dân tộc cùng cư trú Số xã có duy nhất một dân tộc cư trú chỉ chiếm
Trang 38khoảng 2,7% Chính đặc điểm này đã khiến cho trạng thái song ngữ ở nước ta trở nên rất đa dạng Các ngôn ngữ ở Việt Nam thuộc ngữ hệ Nam Á (trong đó tiếng Việt và ngôn ngữ của 23 DTTS khác), Tai-Kadai, Mông-Miền (Mèo-Dao), Nam Đảo và Hán Tạng Các ngôn ngữ ở Việt Nam đều thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, có các đặc điểm ngữ âm và ngữ pháp khá giống nhau, và có xu hướng biến đổi chung trong cấu trúc như đơn tiết hoá, hình thành thế đối lập thanh điệu, v.v…
Về cảnh huống ngôn ngữ ở ĐBSCL có thể thấy, cũng giống như các vùng khác của đất nước (Đông Bắc, miền Trung và Tây Nguyên) là vùng đa dân tộc và đa ngữ Trong mỗi tỉnh thường có nhiều dân tộc chung sống đan xen nhau Chẳng hạn, chúng ta xem xét cảnh huống ngôn ngữ vùng ĐBSCL Tại vùng ĐBSCL, ngoài người Kinh chiếm tỉ lệ dân số cao nhất, còn có nhiều cư dân thuộc các DTTS khác sinh sống, như các nhóm dân tộc: Hoa, Chăm, Khmer,…
Theo số liệu thống kê năm 2009, dân tộc Khmer ở Việt Nam có 1.260.640 người, xếp hàng thứ 4 trong số 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam Người Khmer sinh sống chủ yếu tại các tỉnh miền Tây Nam bộ (1.183.467/17.191.470 người, chiếm 6,9%), trong đó các tỉnh có dân số người Khmer đông là Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang và
An Giang Xin được cụ thể hoá bằng số liệu trên sự phân bố cư dân của dân tộc Khmer
ở các tỉnh ĐBSCL có người Khmer sinh sống như sau:
Sóc Trăng: 397.014 người, Trà Vinh: 317.203 người, Kiên Giang: 210.899 người,
An Giang: 90.271 người, Bạc Liêu: 70.667 người, Cà Mau: 29.845 người, Vĩnh Long: 21.820 người, Cần Thơ: 21.414 người, Hậu Giang: 21.169 người, Long An: 1.195 người, Tiền Giang 744 người, Đồng Tháp: 657 người) và Bến Tre là 578 người
An Giang là một tỉnh đa dân tộc và đa ngôn ngữ Theo tổng điều tra dân số của Tổng cục Thống kê năm 2009, trong tổng số dân 2.142.709 thì người Kinh là 2.029.888, người DTTS là 112.821 người gồm 29 dân tộc, trong đó chủ yếu dân tộc Khmer (90.271 người), dân tộc Chăm (14.209 người), dân tộc Hoa (8.075 người, giảm 3.181 người so với số liệu thống kê năm 1999) Người Chăm sinh sống tại huyện An Phú, Tân Châu và Phú Tân Người Hoa ở An Giang hiện sinh sống chủ yếu tại thành phố Long Xuyên, thị
xã Châu Đốc và rải rác ở một số huyện thị khác Người Khmer sống tập trung ở vùng núi thuộc hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên Tình trạng sống đan xen giữa các dân tộc là phổ biến Ở An Giang người Khmer sống hoà đồng, đan xen không chỉ với dân tộc Kinh
mà với cả dân tộc khác như dân tộc Hoa, dân tộc Chăm, v.v Điều kiện sống, sinh hoạt của đồng bào dân tộc Khmer còn gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân về rào cản ngôn ngữ, làm ảnh hưởng đến việc nắm bắt và tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật để ứng dụng vào đời sống sản xuất và vấn đề hoà nhập cộng đồng xã hội Tình hình này tạo nên một trạng thái song ngữ phức tạp trong giao tiếp, trong tiếp xúc ngôn ngữ và trong giáo dục song ngữ
III VAI TRÕ VÀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG KHMER
Ở mọi ngôn ngữ, theo quan điểm C.Mác và V.I.Lê Nin, ngoài chức năng giao tiếp là chức năng cơ bản nhất, còn các chức năng xã hội Trong quá trình hoạt động và phát triển của mình, các ngôn ngữ chịu sự tác động nhất định của các yếu tố xã hội theo hai con đường tự nhiên và chịu sự tác động của ý thức con người Sự hoạt động và phát triển của bất cứ một hiện tượng song ngữ nào cũng không nằm ngoài quy luật đó Có khác chăng ở chỗ, sự hoạt động và phát triển của mỗi ngôn ngữ (trong quá trình tiếp xúc) lại bị chi phối bởi vị thế cụ thể ngôn ngữ đó trong xã hội, và đặc biệt do nhu cầu của xã hội đối với nó Như vậy, trong các xã hội khác nhau, các ngôn ngữ có phạm vi sử dụng, có chức năng xã hội không giống nhau, có thể sử dụng như một ngôn ngữ phổ
Trang 39thông – với vai trò là ngôn ngữ giao tiếp giữa các dân tộc trong một quốc gia; hoặc được
sử dụng làm công cụ giao tiếp giữa một số dân tộc trong một khu vực – với vai trò của một ngôn ngữ phổ thông vùng; hoặc được sử dụng để giao tiếp trong phạm vi hạn hẹp gia đình, bản làng Giữa các chức năng xã hội và chức năng giao tiếp của ngôn ngữ có mối quan hệ qua lại Nếu điều kiện kinh tế và nhu cầu của xã hội quy định chức năng xã hội của ngôn ngữ, thì đến lượt mình, chính chức năng xã hội lại tác động, ảnh hưởng đến cấu trúc nội bộ của ngôn ngữ
Khi xem xét vai trò của tiếng Khmer ở ĐBSCL nói chung và ở An Giang nói riêng trong các lĩnh vực giao tiếp khác nhau, đều được xem xét trong mối quan hệ với tiếng Việt – tiếng phổ thông
3.1 Vai trò, chức năng xã hội của tiếng Việt
Với tư cách là ngôn ngữ chính thức, được thực hiện như một ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam – ngôn ngữ phổ thông trong cả nước, tiếng Việt (Kinh) đã và đang thực
sự là một ngôn ngữ giao tiếp giữa các dân tộc ở vùng miền núi và dân tộc nói chung, vùng dân tộc Khmer ở ĐBSCL nói riêng Các chức năng xã hội mà tiếng Việt đảm nhiệm lại rất phong phú, rộng lớn: trong lĩnh vực quan hệ ngoại giao, trong pháp luật, trong công văn giấy tờ hành chính, trong giáo dục, thông tin tuyên truyền Thông qua tiếng Việt, các dân tộc thiểu số có thể tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ, đời sống văn hóa tinh thần cũng như vật chất của tất cả các dân tộc trong cả nước Xa hơn nữa, cũng bằng tiếng Việt, mà các dân tộc thiểu số ở nước ta có thể tiếp thu đầy đủ và kịp thời những tri thức của toàn nhân loại
3.2 Vai trò, chức năng của tiếng Khmer
Theo sự phân loại của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước thì, tiếng Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, nằm trong ngữ hệ Nam Á, có nguồn gốc bản địa và từng bước được bổ sung bởi các ngôn ngữ du nhập
Người Khmer Nam bộ có chữ viết khá sớm (ước chừng vào khoảng thế kỷ thứ III sau CN) Loại chữ này bắt nguồn từ một thứ chữ mà người ta đã dùng ở miền Nam
Ấn Độ vào thế kỷ thứ nhất sau CN Tiếng nói và chữ viết được nhân dân Khmer Nam
bộ tôn trọng và giữ gìn trong sự kết hợp chặt chẽ giữa ba dạng: Đom rai (tiếng thường),
Pali và Sanxcrit Tiếng nói và chữ viết Khmer đã có khả năng diễn đạt và thể hiện
những vấn đề khác nhau của khoa học, văn học và xã hội Vì vậy đã có một nên văn học Phật giáo phong phú được viết bằng thứ chữ này Đây là một tài sản quý, là một biểu tượng đậm nét dân tộc của người Khmer Nam bộ
Ngày nay, tiếng Khmer ở vùng ĐBSCL được dùng chủ yếu trong gia đình, trong sinh hoạt tôn giáo, trong giao tiếp giữa người Khmer với nhau và gồm ba phương ngữ chính: phương ngữ Trà Vinh, phương ngữ Sóc Trăng, phương ngữ Kiên Giang Ba phương ngữ này có những điểm khác nhau chủ yếu trên phương diện phát âm và chừng nào đó, trên phương diện sử dụng từ ngữ Nhưng không quá cách biệt, vì người Khmer vùng này nói (một cách rõ ràng) các vùng khác đều hiểu được
Dạng chữ Khmer truyền thống là dạng chữ khó viết và khó nhớ hơn dạng chữ Latinh nên, nói chung, nó không được phổ cập rộng rãi trong dân chúng Khmer ĐBSCL Chỉ có tầng lớp “trí thức” Khmer, gồm sư sãi và những người hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục… là biết sử dụng thành thạo chữ viết
Bên cạnh tiếng Việt, ở ĐBSCL còn có ngôn ngữ của các tộc người khác, trong
đó tiếng Khmer, do đặc điểm lịch sử của xã hội vùng này quy định, có vị trí là ngôn ngữ
Trang 40được sử dụng phổ biến ở vùng dân tộc Khmer ĐBSCL Chức năng xã hội của tiếng Khmer hiện nay hạn hẹp hơn tiếng Việt Nó được dùng làm ngôn ngữ giao tiếp trong nội bộ cư dân Khmer, một phần trong giao tiếp với các dân tộc khác trong vùng (Chẳng hạn như, người Hoa ở huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng cũng sử dụng tiếng Khmer khi giáo tiếp với người Khmer), và được phát triển ở mức tối đa trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, sáng tác văn, thơ, kịch, bài ca dân gian Trong lĩnh vực giáo dục, từ năm học
1975 - 1976 đến nay, tiếng Khmer vẫn được dùng để dạy như một môn học ở các lớp cấp I và được giảng dạy trong các trường PT Dân tộc nội trú, bán trú với số lượng trường, lớp có dạy chữ Khmer mỗi năm một tăng, và từ năm 1992 – 1993, nhà nước Trung ương và địa phương đã cho mở trường Pali cao cấp cho đồng bào Khmer Nam bộ đặt tại thị xã Sóc Trăng, đáp ứng mong mỏi của đồng bào dân tộc Khmer là bảo tồn và phát huy vài trò, chức năng tiếng nói, chữ viết của họ trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay
IV VẤN ĐỀ SỬ DỤNG NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI KHMER Ở AN GIANG
4.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên và xã hội của tỉnh An Giang
An Giang là tỉnh có phía tây - bắc giáp Campuchia (104 km), phía tây - nam giáp tỉnh Kiên Giang (69,789 km), phía nam giáp thành phố Cần Thơ (44,734 km), phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp (107,628 km)
Tỉnh An Giang có tổng diện tích tự nhiên 353.676 ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp 280.658 ha, đất lâm nghiệp 14.724 ha An Giang là tỉnh có diện tích đứng thứ 4 trong số 13 tỉnh ở ĐBSCL
Địa hình An Giang thấp dần từ hướng Bắc đến hướng Nam và từ Đông sang Tây Phần đồng bằng nằm chủ yếu ở ven sông Tiền, tả và hữu ngạn sông Hậu, còn phần vùng đồi núi chủ yếu ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên
An Giang nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến cuối tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ bình quân trong năm là 270C, tạo điều kiện cho việc chăn nuôi và trồng trọt
An Giang có hệ thống các đường giao thông thuỷ, bộ khá thuận tiện Quốc lộ 91
và các sông Tiền, sông Hậu là những tuyến giao thông quốc tế quan trọng nối cả ĐBSCL với các nước Lào, Campuchia, Thái Lan thông qua các cửa khẩu quốc gia Tịnh Biên và cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương Điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi của An Giang đã có tác động tích cực đến cuộc sống của cộng đồng các dân tộc ở An Giang, trong đó có dân tộc Khmer An Giang là tỉnh đồng bằng, nên nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân 10%/ năm, năm
2012 tăng 9,7% Sản lượng lương thực đạt gần 3,0 triệu tấn Cơ cấu nông - lâm - ngư nghiệp vẫn chiếm tỉ lệ cao, trong đó chủ yếu là cây lúa
Nuôi trồng thủy sản là ngành sản xuất mũi nhọn thứ hai, có tính đột phá trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh Diện tích nuôi trồng khoảng 1.788 ha, phổ biến nuôi tôm càng xanh, nuôi cá trên chân ruộng, nuôi cá, tôm ao hầm, nuôi cá bè, lồng…
Khai thác đánh bắt thủy sản mùa nước nổi là nghề truyền thống của người dân An Giang
Về hành chính và dân cư, tỉnh An Giang gồm có thành phố trực thuộc (Long Xuyên), 2 thị xã (Châu Đốc, Tân Châu) và 8 huyện là: An Phú, Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn, Tịnh Biên, Tri Tôn Tỉnh An Giang có 156 xã, phường
và thị trấn với tổng dân số 2.142.709 người, 460.215 hộ (theo số liệu điều tra năm 2009) Đây là tỉnh có dân số đông nhất khu vực ĐBSCL Toàn tỉnh có 27.279 hộ DTTS,