1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát một số yếu tố kỹ thuật trong quy trình nuôi cá lóc channa striata thâm canh

104 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 3,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thí nghiệm 3 nuôi cá không xử lý nước, thực hiện theo dõi các yếu tố môi trường, hoạt động bơi lội và bắt mồi của cá đến khi cá bị ảnh hưởng các yếu tố môi trường bất lợi làm giảm hoạt đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ KỸ THUẬT TRONG QUY TRÌNH NUÔI CÁ LÓC

(Channa striata) THÂM CANH

Ths PHAN THỊ THANH VÂN

AN GIANG, THÁNG 7 NĂM 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ KỸ THUẬT TRONG QUY TRÌNH NUÔI CÁ LÓC

(Channa striata) THÂM CANH

Ths PHAN THỊ THANH VÂN

AN GIANG, THÁNG 7 NĂM 2014

Trang 3

Đề tài nghiên cứu khoa học “Khảo sát một số yếu tố kỹ thuật trong quy

trình nuôi cá Lóc (Channa striata) thâm canh”, do tác giả Phan Thị Thanh Vân,

công tác tại Khoa Nông nghiệp – Tài nguyên thiên nhiên thực hiện Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học Đào tào Trường Đại học An Giang thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2014

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

Trước hết nhóm thực hiện đề tài xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Quản

lý khoa học và Hợp tác quốc tế, Ban chủ nhiệm khoa Nông nghiệp & TNTN đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi thực hiện đề tài này

Xin cám ơn Ban giám hiệu Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật An Giang, Ban chủ nhiệm khoa thủy sản trường Đại học Cần Thơ đã giúp đỡ và hỗ trợ nhóm cán bộ thực hiện đề tài

Xin cám ơn Bộ môn Thủy sản, đã hỗ trợ và động viên chúng tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu

Xin cám ơn tất cả các đồng nghiệp đã giúp đỡ và chia sẻ công việc để chúng tôi hoàn thành báo cáo

An Giang, ngày 5 tháng 6 năm 2014

Người thực hiện

Phan Thị Thanh Vân

Trang 5

TÓM TẮT

Để góp phần giúp cho nghề nuôi cá Lóc thâm canh đạt được năng suất, hiệu quả kinh

tế cao, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, việc khảo sát một số yếu tố kỹ thuật trong quy trình nuôi cá Lóc thâm canh bằng hệ thống xử lý nước lọc tuần hoàn được tiến hành

Ba thí nghiệm được thực hiện để xác định mật độ nuôi, cách cho ăn phù hợp và giới hạn một số yếu tố môi trường trong nuôi cá Lóc thâm canh Thí nghiệm 1 và 2 được tiến hành bố trí và theo dõi các chỉ tiêu môi trường, tăng trưởng, hệ số tiêu tốn thức

ăn, tỷ lệ sống của cá trong thời gian 110 ngày Thí nghiệm 3 nuôi cá không xử lý nước, thực hiện theo dõi các yếu tố môi trường, hoạt động bơi lội và bắt mồi của cá đến khi cá bị ảnh hưởng các yếu tố môi trường bất lợi làm giảm hoạt động, chậm tăng trưởng

Kết quả cho thấy mật độ thích hợp là 40 con/L; với mật độ này cá nuôi có tăng trưởng, FCR tốt nhất so với các nghiệm thức khác (P<0,05) Cách cho ăn 3, 4 lần/ngày cho kết quả cá tăng trưởng tốt nhất so với nghiệm thức cho ăn 1, 2 lần/ngày (P<0,05) Trong hệ thống nuôi tuần hoàn, do hoạt động lọc của vi khuẩn tốt nên các yếu tố môi trường (nhiệt độ, DO, TAN, N-NO3-, N-NO2-) đều trong phạm vi thích hợp cho cá Lóc sinh trưởng

Thí nghiệm giới hạn các yếu tố DO, TAN, CO2 trong bể nuôi cho kết quả các mức gây ảnh hưởng đến hoạt động sinh sống và bắt mồi của cá Lóc lần lượt là: 0 mg/L, 81,8 mg/L, 62,2mg/L

Từ khóa: cá Lóc, thâm canh, mật độ, số lần cho ăn, lọc tuần hoàn

Trang 6

ABSTRACT

To contribute to intensive farming snakehead achieve productivity, high economic efficiency, reduce environmental pollution, the evaluation a number of technical factors in snakehead intensification processing by water filter recirculation system was conducted

Three experiments were conducted to determine the stocking density, appropriate feeding practices and a limited number of environmental parameters in intensive snakehead fish Experiments 1 and 2 were conducted and recorded environmental parameters, growth, feed conversion ratio, survival rate of fish in 110 days In experiment 3, fish was cultured in untreated water, monitoring the environmental factors, active swimming and feeding of the fish until the fish suffer adverse environmental factors reduce activity, slow growth

The results showed that the appropriate stocking density was 40 fish / L; the fish cultured with this density was growth and got the best FCR compared with the other treatments (P <0.05) The fish feeding 3, 4 times /day had the best growth results compared with treatments feeding 1, 2 times/day (P <0.05) In water filter recirculation system, the activity filter of bacteria is good lead to environmental parameters (temperature, DO, TAN, N-NO3-, N-NO2-) were in the suitable range for snakehead growth

The experiment about limited environmental parameters DO, TAN, CO2 in the tanks indicated that the concentration of these factors affect the living activity and prey of snakehead was 0 mg / L, 81.8 mg / L, 62.2 mg / L, respectively

Keywords: snakehead, intensive, density, feeding frequency, circulation filter

Trang 7

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này là trung thực và được xử lý rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

An Giang, ngày 5 tháng 6 năm 2014

Người thực hiện

Phan Thị Thanh Vân

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 1

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 2

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.1.1 Phân loại đối tượng nghiên cứu 3

2.1.2 Phân bố và khả năng thích nghi 4

2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 5

2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 6

2.1.5 Đặc điểm sinh sản 7

2.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KỸ THUẬT NUÔI CÁ LÓC 7

2.2.1 Tình hình nuôi cá Lóc hiện nay 7

2.2.2 Các nghiên cứu về kỹ thuật nuôi và việc sử dụng thức ăn trong nuôi cá Lóc 7

2.2.3 Nghiên cứu về mật độ ương nuôi cá Lóc 11

2.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MỨC CHO ĂN VÀ TẦN SỐ CHO ĂN CỦA CÁ 12

2.4 GIỚI HẠN THÍCH NGHI ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG Ở MỘT SỐ LOÀI CÁ NƯỚC NGỌT 14

2.4.1 Oxy hòa tan (DO) 14

2.4.2 Tổng vật chất lơ lửng (TSS): 15

2.4.3 Tổng đạm amôn (TAN) 15

2.4.4 Đạm nitrite (N-NO 2 - ) 16

Trang 9

2.4.5 Đạm Nitrate (N-NO 3 - ) 17

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1 MẪU NGHIÊN CỨU 18

3.2 CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU 18

3.3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 19

3.3.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng mật độ thả lên tăng trưởng và tỷ lệ sống 19

3.3.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng số lần cho ăn lên tốc độ tăng trưởng 20

3.3.3 Thí nghiệm 3: Xác định giới hạn yếu tố TAN, DO TSS, NO3- 20

3.3.4 Các chỉ tiêu theo dõi……… 21

3.3.4.1 Chỉ tiêu chất lượng nước 21

3.3.4.2 Chỉ tiêu tỷ lệ sống và tăng trưởng 22

3.3.4.3 Tỷ lệ phân cỡ cá (%) 23

3.4 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU 23

3.5 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 24

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25

4.1 THÍ NGHIỆM 1 : ẢNH HƯỞNG MẬT ĐỘ THẢ LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG 25

4.1.1 Các yếu tố môi trường 25

4.1.1.1 Nhiệt độ 25

4.1.1.2 Oxy hòa tan 25

4.1.1.3 pH 25

4.1.1.4 Tổng đạm ammonia (TAN) 26

4.1.1.5 Đạm nitrite (N-NO 2 - ) 26

4.1.1.6 Đạm nitrate (N-NO 3 - ) 27

4.1.2 Tăng trưởng của cá 28

4.1.2.1 Tăng trưởng về khối lượng 28

4.1.2.2 Tăng trưởng về chiều dài 30

4.1.2.3 Phương trình tương quan……… 31

4.1.3 Tỷ lệ sống, hệ số tiêu tốn thức ăn và năng suất của cá nuôi 31

4.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng số lần cho ăn lên tốc độ tăng trưởng 32

4.2.1 Các yếu tố môi trường 32

Trang 10

4.2.1.1 Nhiệt độ 32

4.2.1.2 Oxy hòa tan (DO) 33

4.2.1.3 pH 33

4.2.1.4 Tổng đạm ammonia (TAN) 33

4.2.1.5 Đạm nitrite (N-NO 2 - ) 34

4.2.1.6 Đạm nitrate (N-NO 3 - ) 35

4.2.2 Tăng trưởng của cá 35

4.2.2.1 Tăng trưởng về khối lượng 35

4.2.2.2 Tăng trưởng về chiều dài 37

4.2.2.3 Phương trình tương quan……….38

4.2.3 Tỷ lệ sống, hệ số tiêu tốn thức ăn, hiệu quả sử dụng protein, năng suất và tỷ lệ phân cỡ của cá nuôi 39

4.3 THÍ NGHIỆM 3: XÁC ĐỊNH GIỚI HẠN YẾU TỐ TAN, DO CO 2 , NH 3 40

4.3.1 Nhiệt độ 40

4.2.3 pH 40

4.2.4 Oxy hòa tan (DO) 41

4.2.5 CO 2 42

4.2.6 Tổng đạm Ammonia (TAN) và đạm N-NH 3 42

4.2.7 Đạm N-NO 2 - 43

4.2.8 Đạm N-NO 3 - 44

4.2.9 Tổng vật chất lơ lửng (TSS) 45

4.3.9 Tăng trưởng cá Lóc 45

4.3.9.1 Tăng trưởng về khối lượng 45

4.3.9.2 Tăng trưởng về chiều dài 47

4.3.10 Tỷ lệ sống, hệ số tiêu tốn thức ăn 47

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Khuyến nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

PHỤ LỤC 56

Trang 11

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Phương pháp thu và phân tích mẫu các chỉ tiêu chất lượng nước 21

Bảng 3.2: Tiến trình nghiên cứu……… 23

Bảng 4.1: Nhiệt độ trung bình của các nghiệm thức 25

Bảng 4.2: Tăng trưởng về khối lượng của cá Lóc 29

Bảng 4.3: Tăng trưởng về chiều dài của cá Lóc 30

Bảng 4.4: Tỷ lệ sống, hệ số thức ăn, năng suất của cá Lóc 32

Bảng 4.5: Nhiệt độ trung bình của các nghiệm thức 33

Bảng 4.6: Tăng trưởng về khối lượng của cá Lóc 36

Bảng 4.7: Tăng trưởng về chiều dài của cá Lóc 37

Bảng 4.8: Tỷ lệ sống, hệ số thức ăn, năng suất của cá Lóc 39

Bảng 4.9: Phân loại cá sau thu hoạch 39

Trang 12

DANH SÁCH HÌNH

Trang

Hình 2.1: Cá Lóc đen (Channa striata, Bloch, 1793) 4

Hình 2.2: Cá Lóc bông (Channa micropeltes, Cuvier,1831) 4

Hình 3.1: Hệ thống lọc giá thể chuyển động 19

Hình 4.1: Biến động pH của các nghiệm thức 25

Hình 4.2: Biến động TAN của các nghiệm thức 26

Hình 4.3: Biến động NO2- của các nghiệm thức 27

Hình 4.4: Biến động NO3- của các nghiệm thức 28

Hình 4.5: Tăng trưởng về khối lượng cá Lóc của các nghiệm thức 28

Hình 4.6: Tăng trưởng về chiểu dài cá Lóc của các nghiệm thức 30

Hình 4.7: Tương quan tăng trọng cá với khối lượng thức ăn………31

Hình 4.8: Biến động pH của các nghiệm thức 33

Hình 4.9: Biến động TAN của các nghiệm thức .34

Hình 4.10: Biến động N-NO2- của các nghiệm thức .34

Hình 4.11: Biến động N-NO3- của các nghiệm thức .35

Hình 4.12: Tăng trưởng về khối lượng cá Lóc của các nghiệm thức 36

Hình 4.13: Tăng trưởng về chiều dài cá Lóc của các nghiệm thức .37

Hình 4.14: Tăng trưởng tương đối về chiều dài cá Lóc của các nghiệm thức 38

Hình 4.15: Tương quan tăng trọng cá với khối lượng thức ăn……… 38

Hình 4.16: Biến động nhiệt độ 40

Hình 4.17: Biến động pH 41

Hình 4.18: Biến động hàm lượng oxy hòa tan 41

Hình 4.19: Biến động CO2 42

Hình 4.20: Biến động TAN 43

Hình 4.21: Biến động N-NH3 43

Hình 4.22: Biến động N-NO2- 44

Hình 4.23: Biến động N-NO3- 44

Hình 4.24: Biến động Tổng vật chất lơ lửng (TSS) 45

Hình 4.25: Tăng trưởng khối lượng của cá qua các đợt thu mẫu 46

Hình 4.26: Tốc độ tăng trưởng khối lượng tương đối của cá 46

Trang 13

Hình 4.27: Kết quả tăng trưởng tương đối của thử nghiệm và của Tiêu Quốc Sang 47

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long

DO: oxy hòa tan

PER: hiệu quả sử dụng protein

WG: tăng trưởng khối lượng

SGR: tốc độ tăng trưởng đặc biệt/tốc độ tăng trưởng tương đối

SR: tỷ lệ sống

DWG: tốc độ tăng trưởng tuyệt đối

DLG: tốc độ tăng trưởng chiều dài tuyệt đối

LG: tăng trưởng chiều dài

FI: thức ăn ăn vào

Trang 14

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT ĐỀ TÀI

Cá Lóc (Channa striata) phân bố rộng trong tự nhiên và thường thấy ở các thủy vực

nước ngọt, có thể thích nghi cao với điều kiện môi trường bất lợi, tăng trưởng nhanh

và thịt cá là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, thơm ngon, ít xương, được nhiều người ưa thích Chính vì thế, đối tượng này ngày càng được nuôi nhiều ở ĐBSCL

người dân ở một số tỉnh ĐBSCL có mùa lũ hàng năm như An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang

, đã phát triển mạnh hơn, có thêm một số mô hình nuôi mới như nuôi vèo sông và

Tuy nhiên, nghề nuôi nuôi cá Lóc hiện nay, đã và đang có nhiều tồn tại như: (i) Để

thu được năng suất cao, người nuôi đầu tư thật nhiều thức ăn và nuôi mật độ cao, dẫn đến một lượng lớn nước thải và bùn đáy từ nguồn thức ăn dư thừa, phân và các chất bài tiết của cá được xả vào môi trường, làm cho môi trường nuôi và nguồn nước cấp

bị ô nhiễm; (ii) Các độc tố phát sinh từ quá trình phân hủy chất thải trong ao nuôi

làm cho môi trường nuôi bị suy thoái, dịch bệnh xảy ra ngày nhiều, dẫn đến một lượng lớn hóa chất được sử dụng để phòng trị, lượng hóa chất này sẽ tồn lưu trong sản phẩm và môi trường

Vì vậy, đề tài “Khảo sát một số yếu tố kỹ thuật trong quy trình nuôi cá Lóc

(Channa striata) thâm canh” được tiến hành, nhằm tìm ra các thông số tối ưu như:

mật độ thả nuôi; phương pháp cho ăn; giới hạn các yếu tố môi trường, trong kỹ thuật nuôi cá Lóc, góp phần giúp cho nghề nuôi cá Lóc thâm canh đạt được năng suất, hiệu quả kinh tế cao, giảm thiểu ô nhiễm môi trường

1.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau đây:

Xác định được mật độ thả và cách cho ăn phù hợp trong nuôi cá Lóc thâm canh Thiết lập được một số chỉ tiêu chất lượng nước tối thiểu trong quy trình nuôi cá Lóc thâm canh

Nâng cao năng suất cá nuôi, giảm giá thành sản xuất, giảm thiểu tối đa chất thải từ hệ thống nuôi nhằm xây dựng quy trình nuôi cá Lóc thâm canh theo hướng bền vững

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Cá Lóc (Channa striata) nuôi trong bể composite

Trang 15

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, 3 nội dung sau đã được thực hiện:

- Ảnh hưởng mật độ nuôi lên tăng trưởng, hệ số tiêu tốn thức ăn, hiệu quả sử dụng protein, tỷ lệ sống

- Ảnh hưởng số lần cho ăn lên tăng trưởng, hệ số tiêu tốn thức ăn, hiệu quả sử dụng protein, tỷ lệ sống

- Giới hạn các yếu tố DO, TAN, NH3, CO2 trong bể nuôi

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Các kết quả thu được từ đề tài sẽ được ứng dụng cho các đơn vị

- Các viện nghiên cứu và trường chuyên nghiệp: số liệu thu được từ kết quả nghiên

cứu sẽ là nguồn tư liệu cho các nghiên cứu ứng dụng về kỹ thuật nuôi, phục vụ cho

các nghiên cứu tiếp theo về kỹ thuật nuôi, nhất là kỹ thuật nuôi cá Lóc trong hệ thống nuôi tuần hoàn, một hệ thống nuôi bền vững đang được triển khai tại các nước tiên tiến và là tài liệu giảng dạy trong ngành nuôi trồng thủy sản

- Các trung tâm khuyến nông, các hộ nông dân: Từ kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ

tìm ra được một số thông số kỹ thuật phục vụ cho việc nuôi cá Lóc thâm canh đạt hiệu quả cao và bền vững

Trang 16

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1.1 Phân loại đối tượng nghiên cứu

Theo Fishbase (http://www.fishbase.org), hệ thống phân loại của cá Lóc được xác định như sau:

Kết quả nghiên cứu hình thái học hiện nay đã công bố có 30 loài cá Lóc họ

Channidae bao gồm 2 giống Channa và Parachanna Riêng giống Channa có 27 loài phân bố chủ yếu ở Châu Á và giống Parachanna có 3 loài phân bố ở Châu Phi

(www.fishbase.org)

Cá Lóc phân bố ở Việt Nam chỉ có duy nhất một giống Channa gồm 8 loài, sống

trong các ao hồ sông ngòi, đặc biệt là ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng (Nguyễn Văn Hảo, 2005):

Cá Trèo đồi (Channa asiatica)

Trang 17

Hình 2.1: Cá Lóc đen (Channa striata, Bloch, 1793)

Hình 2.2: Cá Lóc bông (Channa micropeltes, Cuvier,1831)

Lóc

cá Lóc Môi trề, Đầu vuông và Lóc Đầu nhím thì số lượng tia vây, vẩy đường bên, tỉ lệ số đo và đặc điểm đặc trưng ngoại hình không có sự khác biệt lớn nên đây chỉ là một loại hình duy nhất Khi phân

tích hình thái và DNA giữa cá Lóc môi trề và cá Lóc đen (C striata)

cá Lóc

khác so với cá Lóc C striata (Nguyễn Văn Hòa, 2008)

2.1.2 Phân bố và khả năng thích nghi

Cá Lóc (Channa striata) là loài cá nước ngọt, phân bố ở các quốc gia thuộc Châu Phi

và Châu Á Cá có tập tính ăn động vật (ếch, nhái, cá, côn trùng, …) Là loài cá có cơ quan hô hấp khí trời nên sống được trong môi trường có hàm lượng oxy hòa tan thấp,

có thể sống ngoài môi trường nước trong thời gian dài nếu mang được giữ ẩm Cá thường sống trong những thủy vực nông, nước tĩnh, có nhiều cây cỏ thủy sinh để dễ trú ẩn và bắt mồi Cá có khả năng chui sâu vào lớp bùn đáy khi gặp nguy hiểm hoặc

Trang 18

vào mùa khô và sống ở đó cho đến khi môi trường thích hợp trở lại (Muntaziana và

cs., 2012) Cá sống và phát triển tốt trong môi trường có pH thấp từ 4 -5 Thông

thường, cá thích sống ở nơi nước tĩnh có mực nước trung bình khoảng từ 5 - 1 m, có nhiều rong đuôi chó, cỏ, đám bèo, lục bình vì ở nơi đó cá rất dể ẩn mình để rình mồi Mùa hè cá thường hoạt động và bắt mồi ở tầng nước mặt Mùa đông cá thích hoạt động ở tầng nước sâu hơn trong thuỷ vực Chất nước có pH thích hợp cho hoạt động sống và phát triển của cá Lóc từ 6,5 - 7,5 (Swingle, 1969) cá cũng có thể sống ở vùng nước lợ, trong điều kiện nồng độ muối thấp hơn 5‰ (Pillay, 1990)

Trong tự nhiên cá có thể đạt kích thước 1m chiều dài, trước đây thường bắt gặp cá có kích cỡ 60-70 cm Tuy nhiên, do áp lực khai thác, kích cỡ cá thường gặp chỉ đạt dưới

30 cm (Tonsanga, 1960) Cá tăng trưởng nhanh hơn trong điều kiện nuôi, với thức ăn

và mật độ phù hợp sau 9 tháng nuôi cá đạt khối lượng 300-500 g và đạt 500-800 g sau 11 tháng (Boonyaratpalin và cs., 1985)

2.1.3 Đặc điểm dinh dƣỡng

Cá Lóc có dạng hình thon dài, lược mang dạng hình núm, thực quản ngắn, vách dầy, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn, dạ dày to hình chữ Y Cá Lóc là loài cá dữ có tính ăn động vật điển hình Quan sát ống tiêu hóa của cá cho thấy thức ăn là cá tạp chiếm 63,01%, tép 35,94%, ếch nhái 1,03% và sau cùng là bọ gạo, côn trùng và mùn

bã hữu cơ chiếm 0,02% (Dương Nhựt Long, 2003)

Trong quá trình phát triển, ấu trùng cá Lóc mới nở thường tập trung thành đàn với mật độ cao và bơi ở tầng mặt, bơi phía dưới là cá cái để bảo vệ con Sau 3 ngày cá

nở, cá bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài, thức ăn lúc này thường là Luân trùng, Daphnia, Moina (Dương Nhựt Long và cs., 2000)

Do phụ thuộc vào điều kiện thức ăn có trong các thủy vực, nên tỉ lệ sống trong tự nhiên của cá khá thấp Khi cơ thể cá có chiều dài từ 3 – 8 cm, chúng có thể săn bắt các loại tép và cá con có kích cở nhỏ hơn và khi cơ thể cá đạt chiều dài trên 10 cm cá chuyển tính ăn như tính ăn của loài trưởng thành Cá thường ăn mồi sống và bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là các loài động vật tôm, tép, cá tạp mồi phải phù hợp với cỡ miệng của chúng (Nguyễn Văn Kiểm và cs., 1999; trích trong Dương Nhựt Long, 2011)

Theo các nghiên cứu trước đây, cá Lóc có sự lựa chọn thức ăn khác nhau qua từng giai đoạn phát triển, thức ăn của cá thay đổi khi kích cỡ cá tăng Cá mới nở còn sử dụng dinh dưỡng từ khối noãn hoàng Từ ngày thứ 4 -5, khi khối noãn hoàng đã hết,

cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài Lúc này, cá bột ăn các loài động vật phù du vừa cỡ miệng chúng như luân trùng, trứng nước Khi cá dài cỡ 5-6 cm, chúng có thể rượt bắt các loài tép và cá có kích cỡ nhỏ hơn chúng Khi cơ thể đạt trên 10 cm, cá có tập tính

ăn như cá trưởng thành (Phạm Văn Khánh, 2003)

Trang 19

Trong quá trình phát triển, ấu trùng cá Lóc mới nở thường tập trung thành đàn với mật độ cao và bơi ở tầng mặt, bơi phía dưới là cá cái để bảo vệ con (Dương Nhựt Long, 2004)

Cá Lóc ăn thịt lẫn nhau khi có sự sai khác về kích cỡ Nghiên cứu của Quin và cs.,

(1996b) cho thấy tỷ lệ kích cỡ cá nhỏ/cá lớn bằng 0,64/L sẽ có hơn 40% cá nhỏ bị cá lớn ăn thịt và đến 100% cá nhỏ bị cá lớn ăn thịt khi tỷ lệ này bằng 0,35/L Tính ăn thịt lẫn nhau của cá Lóc giống được dựa trên kích thước/hình thái của độ rộng miệng,

độ rộng đầu và chiều dài cơ thể đối với chiều dài con vật ăn thịt (Quin và cs., 1996b) Victor (1992), trích dẫn bởi Phan Hồng Cương (2008), cũng nhận thấy khi được nuôi đơn trong điều kiện dinh dưỡng thấp (tỷ lệ dạ dày rỗng cao 75%), thức ăn cho cá cung cấp không thích hợp, cá phụ thuộc vào thức ăn tự nhiên và lúc này chúng thể hiện tính ăn nhau rất lớn

2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng

Giai đoạn cá nhỏ, cá tăng chủ yếu về chiều dài, cá càng lớn tăng trọng càng nhanh Trong điều kiện tự nhiên, sức lớn của cá phụ thuộc vào thức ăn có sẵn trong thủy vực Do vậy, tỷ lệ sống của cá trong tự nhiên khá thấp Trong điều kiện nuôi có thức

ăn và chăm sóc tốt cá có thể lớn từ 0,8-1 kg/con sau 5-6 tháng nuôi (Dương Nhựt Long, 2004) Theo Phạm Văn Khánh (2003), trong điều kiện chăm sóc tốt và thức ăn đầy đủ cá có thể lớn từ 0,5-0,8 kg/năm và đạt tỷ lệ sống cao

Nuôi cá Lóc cho thức ăn tự chế tăng trưởng chậm hơn so với cá ăn thức ăn là cá tạp (Dương Nhựt Long, 2004; Phan Hồng Cương, 2009) Khi so sánh tăng trưởng của cá Lóc nuôi với 03 loại thức ăn khác nhau là cá tạp, thức ăn tự chế và thức ăn viên công nghiệp cho thấy, cá cho ăn thức ăn cá tạp tăng trưởng nhanh nhất (6,59 g/ngày), so với cá ăn thức ăn viên công nghiệp (6,11 g/ngày) và thức ăn tự chế (5,77 g/ngày) Hệ

số tiêu tốn thức ăn lần lượt là 1,4; 3,1; và 3,9 khi sử dụng thức ăn công nghiệp, thức

ăn tự chế và thức ăn cá tạp (Dương Nhựt Long, 2011)

Kết quả khảo sát 62 hộ nuôi cá Lóc trong bể của Lê Xuân Sinh và Nguyễn Minh Chung (2009) ở các tỉnh ĐBSCL cho thấy, diện tích bể nuôi trung bình là 34,4±30,6

m2 với mực nước là 0,8±0,2 m Cá được thả nuôi ở mật độ 111,7±136,7 con/m2 cho năng suất và tỷ lệ sống lần lượt là 74,9±96 kg/m3

và 46,1±23,6% Theo kết quả của Lam Mỹ Lan và cs., (2009), thì năng suất trung bình của cá Lóc nuôi trong bể lót bạt

Trang 20

hệ mật thiết với chất lượng cá Lóc bố mẹ nuôi vỗ thành thục sinh dục, nhằm kích thích cá sinh sản thành công

2.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KỸ THUẬT NUÔI CÁ LÓC

2.2.1 Tình hình nuôi cá Lóc hiện nay

Nghề nuôi cá Lóc thương phẩm tập trung nhiều ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Tỉnh Đồng Tháp, tổng sản lượng cá Lóc thu hoạch năm 2008 đạt 4,98 nghìn tấn, có 1.975 hộ nuôi, với diện tích nuôi ao là 195,4 ha và 1,392 cái vèo nuôi ao, 160 cái lồng bè với tổng thể tích nuôi là 128,33 nghìn m3 Các hộ nuôi cá Lóc tập trung chủ yếu ở 3 huyện Tam Nông, Tân Hồng và Hồng Ngự, có đến 1.020 hộ nuôi và riêng sản lượng nuôi của 3 huyện này đạt 3,069 tấn (2008) chiếm 61,2% so sản lượng nuôi cá Lóc cả tỉnh năm 2008 (Chi cục thuỷ sản tỉnh Đồng Tháp, 2008) Riêng tỉnh

An Giang tính đến cuối năm 2009, tổng sản lượng cá Lóc nuôi toàn tỉnh đạt 15,241 tấn với 75,4 ha nuôi cá Lóc ao hầm, 6,9 ha nuôi vèo và các mô hình nuôi khác, với

476 cái lồng bè có thể tích nuôi 38,98 nghìn m3

nước nuôi (Sở NN & PTNT An Giang năm, 2009) Bên cạnh đó, diện tích nuôi cá Lóc ở Cần Thơ năm 2008, có 3,3 nghìn hộ nuôi gồm 195,4 ha nuôi ao và thể tích nuôi là 128,3 nghìn m3

nước nuôi trong đó có vèo ao là 1,4 nghìn cái, lồng bè 160 cái với sản lượng nuôi khoảng 5 nghìn tấn (Cục thống kê Cần Thơ, 2008)

2.2.2 Các nghiên cứu về kỹ thuật nuôi và việc sử dụng thức ăn trong nuôi cá Lóc

Theo Lai & Lam (1998), lịch sử nghề nuôi cá Lóc bắt đầu ở Trung Quốc từ những năm 1950 dưới hình thức nuôi giữ cá ngoài tự nhiên Vào những năm đầu thập kỷ

1970, việc nuôi vỗ cho thành thục và sinh sản thành công trong điều kiện nuôi góp phần cho việc cung cấp con giống và thúc đẩy nghề nuôi cá Lóc phát triển ở Trung Quốc Nghề nuôi cá Lóc cũng được phát triển ở miền trung và miền đông Thái Lan Sau đó phát triển nhanh vào những năm 1980 để thay thế cho nghề nuôi cá Trê đang

bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh và giá cả biến động với sản lượng hàng năm đạt 7.255 tấn trị giá khoảng 11 triệu USD (Boonnyaratpalin và cs., 1985) Cá Lóc chiếm 13% tổng sản lượng cá nước ngọt trên thị trường nội địa ở Ấn Độ và trở thanh đối tượng nuôi quan trọng ở nhiều quốc gia như Philipines, Malaysia và Việt Nam (Muntaziana

và cs., 2012)

Theo điều tra của Nguyễn Thị Diệp Thúy (2010) nghề nuôi cá Lóc ở địa bàn nghiên cứu (Cần Thơ, Hậu Giang, An Giang và Đồng Tháp) với 5 mô hình nuôi là ao đất,

Trang 21

vèo ao, vèo sông, lồng/bè và bể bạt Và mùa vụ nuôi cá Lóc tập trung nhất từ tháng 2

- 4 ÂL và thu hoạch phổ biến từ tháng 8-10 ÂL Kích cỡ giống thả nuôi trung bình của cá Lóc đen/lai là 1,3 g/con Thức ăn sử dụng nuôi cá Lóc chủ yếu là cá tạp nước ngọt (51,7%) và cá tạp biển (41,9%) Hệ số tiêu tốn thức ăn trung bình nhóm cá Lóc

là 4,3

Nghiên cứu về chuỗi giá trị của cá Lóc, mật độ nuôi bình quân của các mô hình nuôi

là 114 con/m3, trong đó nuôi vèo sông là có mật độ cao nhất 190 con/m3

Kích cỡ giống thả từ 350-785 con/kg và tỷ lệ sống dao động từ 48,7-56,1% và hệ số thức ăn tươi sống (FCR) là 3,9-4,3; thức ăn viên 1,2-1,4 (Đỗ Minh Chung, 2010)

Theo Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung (2009), mật độ nuôi cá Lóc trong ao đất bình quân khoảng 21,5 con/m3

(45,9 con/m2) Trong các mô hình còn lại thì nuôi trên bể bạt có mật độ thả nuôi cao nhất 236 con/m3

kế đến là lồng bè 147,6 con/m3 và thấp nhất là mô hình nuôi vèo 109 con/m3 Tùy theo đặc tính của mô hình mà diện tích bình quân thay đổi khác nhau, trong đó mô hình nuôi ao đất có diện tích nuôi lớn nhất (1.500 m2/hộ) và thấp nhất là mô hình nuôi vèo sông 34,5 m2

và bể bạt 93,1 m2 Mật độ thả bình quân của tất cả là 114 con/m3, trong đó vèo sông có mật độ thả dày nhất 190 con/m3, ao đất có mật độ thả thưa nhất, bình quân 66 con/m3

Ở hầu hết các loại cá bột khi bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài, chúng đòi hỏi có thời gian nhất định để phát triển khả năng thích nghi với thức ăn bên ngoài Đặc biệt đối với cá Lóc là loài cá dữ, có đặc tính ăn động vật điển hình, cá có tính phân đàn mạnh nên việc ương cá cần nhất là trong quá trình chuyển đổi từ thức ăn tự nhiên sang thức ăn chế biến hoặc thức ăn công nghiệp Trong quá trình chuyển đổi thức ăn, một vài nghiên cứu cho thấy khi sử dụng kết hợp thức ăn chế biến với thức ăn tự nhiên thì hiệu quả sẽ tốt hơn là thay thế hoàn toàn bằng thức ăn chế biến ngay từ ban đầu

Theo Guillaume và cs., (2001) phương pháp chuyển đổi từ thức ăn tự nhiên sang

thức ăn chế biến ở giai đoạn cá bột như sau: phương pháp 1 ở giai đoạn trung gian khi chuyển từ thức ăn artermia sống sang ăn thức ăn chế biến, đối tượng nuôi sẽ được cho ăn động vật nổi đã chết (như artermia đông lạnh hoặc sấy khô); phương pháp 2 cho ăn đồng thời thức ăn tự nhiên và thức ăn chế biến với tỷ lệ thức ăn tự nhiên là 10–50% trong khẩu phần ăn Cách này có thể áp dụng từ giai đoạn rất sớm

để giảm phân đàn

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Lan (2004) về nhu cầu đạm của cá Lóc bông ở giai đoạn bột, kết quả cho thấy cá có khả năng sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến và thời gian thích hợp để cá sử dụng thức ăn chế biến từ ngày thứ 4 sau thí nghiệm hay ngày thứ 7 sau khi nở Ở giai đoạn cá hương, thức ăn chế biến cho tăng trưởng và tỷ lệ sống cao hơn so với các loại thức ăn khác, đồng thời có hệ số tiêu tốn thức ăn thấp nhất Cá Lóc bông giống nhỏ (2,6 g/con) và giống lớn (6,07 g/con) được thực hiện trên hệ thống 20 bể nhựa với nước chảy tuần hoàn và có sục khí Cá được cho ăn 05 loại thức ăn có hàm lượng đạm lần lượt là: 14%; 24%; 34%; 44%; 54% trong 50 ngày Kết quả cho thấy nhu cầu đạm tối ưu của cá giai đoạn giống nhỏ là

Trang 22

Tương tự, Hashim (1994) nghiên cứu lịch cho ăn kết hợp thức ăn có hàm lượng đạm khác nhau lên tăng trưởng cá Lóc bột trong 7 tuần Thí nghiệm gồm 3 mức protein 30% (A), 35% (B), 40% (C), được luân phiên kết hợp thành 6 nghiệm thức thí nghiệm: khẩu phần A, B được xem là nghiệm thức đối chứng, (1A/1C, luân phiên ngày A, ngày C) Cá được cho ăn 3 lần/ngày Kết quả FCR ở khẩu phần B (35% protein) là tốt nhất Theo nghiên cứu của Wee (1986) nhu cầu protein của cá Lóc giống và cá Lóc bông lần lượt là 45,8% và 60% (trích dẫn bởi Rosada Hashim, 1994)

Nghiên cứu đánh giá khả năng sử dụng cám gạo làm thức ăn cho cá Lóc ở giai đoạn giống cỡ 4-5 g/con, gồm 4 nghiệm thức với hàm lượng cám gạo được sử dụng 0%, 10%, 20%, 30% Kết quả cho thấy tăng trưởng của cá đạt cao nhất ở nghiệm thức chứa 10% cám gạo, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (DWG) đạt 0,29 g/ngày, chi phí thức ăn giảm từ 4,49-7,9% cho 1 kg tăng trọng so với nghiệm thức đối chứng (Võ Minh Quế Châu, 2010)

Ảnh hưởng của tỷ lệ cho ăn lên tăng trưởng, tỷ lệ sống và FCR của cá Lóc bột được Quin & Fast (1996b) nghiên cứu với tỷ lệ cho ăn 0%, 5%, 10%, 15%, 20%, 30% trọng lượng thân/ngày Thức ăn chứa 50% protein thô Khối lượng cá sau 29 ngày thí nghiệm đều gia tăng so với khối lượng cá trước khi thí nghiệm, trừ tỷ lệ 0% Giai đoạn này cho cá ăn tỷ lệ 5% hiệu quả nhất với FCR 0,9, trong khi cho ăn tỷ lệ 30% cho FCR là 6,3 Tỷ lệ sống ở các tỷ lệ khác cũng không cao hơn so với nghiệm thức 5% Do vậy tỷ lệ cho ăn 5%/ngày là thích hợp cho cá Lóc ở giai đoạn này

Sử dụng thức ăn có hàm lượng khác nhau cho cá Lóc ở giai đoạn nuôi thương phẩm

được Duong Nhut Long và cs., (2004) nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng tăng

trưởng của cá Lóc khi ương và nuôi thâm canh trong ao đất, thức ăn ở giai đoạn ương chứa 30%, 40%, 50% protein và cá tạp Sau 45 ngày ương, cá ở nghiệm thức cho ăn

cá tạp có tăng trọng trung bình/ngày cao nhất Kết quả sau 200 ngày nuôi ở thử nghiệm nuôi cá Lóc thâm canh trong ao đất, thức ăn có hàm lượng protein thô 25%, 30% và cá tạp cho thấy tăng trưởng, tỷ lệ sống và FCR ở nghiệm thức sử dụng thức

ăn cá tạp là cao nhất, kế tiếp là nghiệm thức thức ăn chế biến chứa 30% protein Ở nghiệm thức thức ăn chế biến chứa 25% protein cho tăng trưởng và tỷ lệ sống thấp nhất Như vậy, cá tạp vẫn là thức ăn tốt nhất cho cá Lóc trong ương và nuôi thâm canh Tuy nhiên từ thí nghiệm này cũng chứng minh, có thể sử dụng thức ăn chế biến với hàm lượng cao để ương nuôi cá Lóc

Cá Lóc được biết đến là loài có tập tính ăn thịt và ăn lẫn nhau rất cao, nhất là ở giai đoạn cá giống và một giả thiết được đưa ra là hiện tượng ăn lẫn nhau của cá sẽ được hạn chế nếu sử dụng thức ăn thay thế thức ăn đặc thù của loài Theo công bố của Quin & Fast (1996a) đã thu được kết quả như mong muốn khi thay thế thức ăn cho

cá, tăng lượng thức ăn cho cá từ 0-15% sẽ làm giảm tỷ lệ ăn nhau từ 83% xuống còn 43% hiện tượng ăn nhau sau khoảng thời gian 6 ngày nhưng chỉ cung cấp thức ăn thì không thể tránh hoàn toàn hiện tượng ăn nhau mà còn phụ thuộc vào sự đồng đều về kích thước của cá khi thả nuôi đề tránh hiện tượng phân đàn Kết quả này đã tạo tiền

Trang 23

đề cho các nghiên cứu sử dụng thức ăn chế biến cũng như thức ăn công nghiệp thay thế cho thức ăn loài

Kết quả nghiên cứu của Qin & Fast (1996b) cho thấy khi sử dụng thức ăn chế biến

50% đạm đã hạn chế được hiện tượng ăn nhau trên cá Lóc bột (Channa striata) có

khối lượng và chiều dài trung bình lần lượt là 0,81±0,29 g và 3,8±0,73 cm Khi cho

cá ăn với khẩu phần 5% khối lượng thân thì hiệu quả sử dụng thức ăn tốt và tỷ lệ ăn

nhau của cá giảm Tuy nhiên, cá Lóc (Channa striata) bột có khối lượng 0,2 g không

thể sử dụng được thức ăn chế biến do cá chưa có hệ thống enzym cho tiêu hóa nhưng

cá có thể sử dụng thức ăn chế biến nếu cho cho cá ăn ấu trùng artemia kết hợp với

thức ăn chế biến sau đó thay thế dần artemia bằng thức ăn chế biến (Qin và cs., 1997) Trái lại, cá Lóc bông (Channa micropltes) bột có khả năng sử dụng hiệu quả

thức ăn chế biến và thời gian thích hợp để cá sử dụng thức ăn chế biến là ngày thứ 7 sau khi nở Ở giai đoạn cá hương, thức ăn chế biến cho tăng trưởng và tỉ lệ sống cao hơn so với các loại thức ăn khác, đồng thời có hệ số thức ăn thấp nhất Đạm cho tăng trưởng tối ưu và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt nhất của cá Lóc bông giống cỡ nhỏ là 50,8% và cá lớn là 46,5% (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004) Cá Lóc với đặc tính là loài

ăn động vật và cần nguồn đạm chất lượng cao được xem là cơ sở thiết yếu cho Mohanty & Samantaray (1996) xây dựng công thức thức ăn cân bằng dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế Nhóm tác giả này đã thực hiện các thí nghiệm ở các mức đạm khác

nhau lên tăng trưởng của cá Lóc (C striata) với khối lượng trung bình là 0,55 g Sau

8 tuần nuôi cho thấy cá tăng trưởng tốt nhất và hiệu quả sử dụng thức ăn cao nhất ở nghiệm thức thức ăn có hàm lượng đạm là 55% và cá được cho ăn 10% khối lượng

thân Theo Hashim (1994) tăng trưởng trên cá Lóc bột (Channa striata) (0,58-0,95 g)

bị ảnh hưởng bởi hàm lượng đạm trong thức ăn Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy cá Lóc có thể sử dụng tốt thức ăn chế biến và cần có hàm lượng đạm cao trên 40% trong khẩu phần thức ăn

Trong sản xuất thức ăn, ngoài nhu cầu dinh dưỡng của đối tượng nuôi này, chất kết dính cũng quan trọng để giữ cho thức ăn bền trong nước với thời gian nhất định hạn chế thất thoát dinh dưỡng do tan rã thức ăn Hashim & Saat (1992) nghiên cứu sử

dụng các loại rong biển Ulva spp, Sargassum spp, Polycavernosa spp, Gracilaria spp

và carragenan kết hợp với bột mì làm chất kết dính cho thức ăn chế biến của cá Lóc bột Sáu khẩu phần thức ăn với 5 loại tảo kết hợp với hàm lượng 5% mỗi loại kết hợp 5% bột mì, khẩu phần đối chứng chỉ chứa 10% bột mì Thí nghiệm tiến hành trong 8 tuần để đánh giá khả năng kết dính sau 60 phút cũng như ảnh hưởng của các thành phần chất kết dính lên tăng trưởng của cá Lóc bột Kết quả cho thấy khẩu phần sử dụng carragenan có tính bền trong nước cao nhất (98,90%) và có có sự khác biệt với các loại rong biển và kết quả tăng trưởng cao nhất

Trang 24

và cs., 2009; Trần Thị Bé, 2010)

Theo Boonnyaratpalin và cs (1985), thức ăn chủ yếu cho cá Lóc là các loại cá tạp

Cá giống được cho ăn bằng cá tạp (95%) xay với cám gạo (5%) với khẩu phần ăn là 15% khối lượng thân Sau 2 tháng nuôi, lượng cá tạp trong thức ăn giảm xuống 90%

và cá được cho ăn khẩu phần ăn từ 12-14%/ngày Từ tháng thứ 5 đến tháng thứ 11, khẩu phần ăn giảm liên tục từ 12% xuống 4% và thành phần thức ăn chứa 80-85% cá tạp Hệ số tiêu tốn thức ăn dao động từ 5,4-6,6 và năng suất đạt khoảng 7,3-12,3 kg/m2 Tuy nhiên để phát triển nghề nuôi cá Lóc bền vững thì không thể phụ thuộc vào nguồn cá tạp do nguồn cá không ổn định về chất lượng và số lượng trong suốt chu kỳ nuôi, mặt khác việc sử dụng cá tạp sẽ ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản Một vài quốc gia như Cambodia đã cấm nuôi cá Lóc trong bè do sử dụng nguồn thức ăn

cá tạp (Edwards, 2008) Việc sử dụng thức ăn chế biến cũng đã được nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề thức ăn cho cá Lóc nuôi Thức ăn nhân tạo phải chứa hàm lượng protein hay tỷ lệ lipid/protein thích hợp để đảm bảo tăng trưởng Theo

Boonnyaratpalin và cs., (1985), thức ăn chứa 3,1 kcal năng lượng tiêu hóa cần mức

protein là 43%, nhưng khi cá lớn hơn 1 tháng tuổi, với cùng mức năng lượng thì lượng protein cần thiết trong thức ăn là 36% Thức ăn cá giống cần có 50% protein (Wee, 1986), cho cá hương là 55% (Mohanty & Samantaray, 1996) Theo Mohanty

& Samantaray (1996) hàm lượng lipid và protein trong thức ăn thich hợp cho cá Lóc

giai đoạn giống là 13% và 45% Tuy nhiên, Aliyu-Paiko và cs (2010) cho rằng thức

ăn chứa 6,5% lipid và 45% protein đã đảm bảo cho tăng trưởng và tỷ lệ sống cho giai đoạn cá hương

Một nghiên cứu gần đây của Ngô Minh Dung (2010), đã thực hiện thí nghiệm xác định thời điểm và phương pháp thay thế hiệu quả thức ăn chế biến của cá Lóc giai đoạn bột Kết quả cho thấy cá Lóc bột có thể tập ăn thức ăn chế biến ở 17 ngày tuổi với phương thức thay thế 10% thức ăn chế biến/ngày, cho tỷ lệ sống (64,7%) và tăng trưởng (SCR = 9,64%/ngày)

2.2.3 Nghiên cứu về mật độ ƣơng nuôi cá Lóc

Mật độ thả nuôi phụ thuộc vào kích cỡ con giống và hình thức nuôi Ở Thái Lan, cá Lóc được nuôi bằng hai hình thức: nuôi lồng và nuôi trong ao đất Với hình thức nuôi lồng mật độ cá thả nuôi từ 50-80 con/m2

với cá giống cỡ 4 cm chiều dài, tỷ lệ sống sau 3 tháng nuôi đạt hơn 80% Với hình thức nuôi ao, mật độ cá hương ban đầu rất cao 350-800 con/m2 Cá giống thu được từ tự nhiên, được thả trực tiếp vào ao nuôi với mật độ 200-400 con/m2, tỷ lệ sống sau 3 tháng nuôi chỉ khoảng 13-15% (Boonnyaratpalin và cs., 1985) Cá giống có kích cỡ lớn (4 cm chiều dài), được nuôi mật độ 50-80 con/m2, tỷ lệ sống đạt hơn 80% Cá nuôi ao được cho ăn cá tạp biển, sau 6-8 tháng nuôi cá đạt kích cỡ 600 g với hệ số tiêu tốn thức ăn là 4,2 (Lai và Lam, 1998) Trong một nghiên cứu khác, cá nuôi ở ao đất với mật độ 40-80 con/m2, tỷ lệ sống chỉ đạt 13-15% sau 9-11 tháng nuôi (Diana và cs., 1985) Theo Qin & Fast

Trang 25

(1998), trong điều kiện thức ăn đầy đủ, mật độ cá thả nuôi thương phẩm thích hợp trên bể là 30 con/m2

Kết quả thí nghiệm của Lam Mỹ Lan (2009) tại 9 nông hộ xã Hòa An, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang với 03 mật độ thả khác nhau 100, 80, 60 con/m2

nuôi trong bể lót bạt nilon với mực nước duy trì là 0,7 m trong suốt quá trình nuôi Cá Lóc được cho ăn bằng cá tạp, cua và ốc bưu vàng với lượng thức ăn từ 5-10% khối lượng thân Sau 4 tháng nuôi, cá đạt khối lượng trung bình từ 267-304 g/con Tỷ lệ sống là 52,7-70,5% Năng suất trung bình cá ở mật độ 100 và 80 con là 18,9 và 15,2 kg/m2 Ở mật

độ 60 con, năng suất đạt thấp hơn có ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với mật độ cao nhất

Kết luận của Tiêu Quốc Sang (2012) khi thả nuôi cá Lóc với 03 mật độ 100 con/m2

,

150 con/m2, 200 con/m2 ở tỉnh An Giang trong bể lót bạt với mực nước duy trì 0,7 m trong suốt quá trình nuôi Cá Lóc được cho ăn bằng thức ăn viên có hàm lượng đạm giảm dần từ 44% đến 30%, cho ăn theo nhu cầu Sau 4,5 tháng nuôi cá ở bể nuôi mật

độ 100 con/m2 có tỷ lệ sống cao nhất (79,6%) nhưng ở mật độ 200 con/m2 lại cho năng suất và lợi nhuận cao nhất

Bùi Minh Tâm và cs., (2008), khi thực hiện thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Lóc bông (Channa micropeltes) đã đi đến kết luận

khi ương cá Lóc Bông từ giai đoạn cá bột đến 30 ngày tuổi với mật độ 1.200 con/m2

cho tỷ lệ sống (62,2%) cao hơn so với các mật độ 600 con/m2

và 900 con/m2 Ở thí nghiệm ương từ 30 đến 60 ngày tuổi mật độ ương 1.200 con/m2 cho tỷ lệ sống và tăng về khối lượng cũng cao hơn so với các mật độ 600 con/m2

từ đó điều chỉnh cho phù hợp với thực tế Hiện nay, phương pháp cho ăn theo định lượng đang được khuyến cáo áp dụng, khi đó lượng thức ăn sử dụng thấp hơn mức tối đa mà ĐVTS có thể ăn vào Cách cho ăn này mang lại hiệu quả về tăng trưởng và

sử dụng thức ăn cao hơn khi cho cá ăn tối đa Khi cho cá ăn tối đa, lượng thức ăn cá

sử dụng sẽ cao hơn lượng thức ăn theo nhu cầu của cá, lượng thức ăn nhiều hơn nhu cầu có thể làm giảm độ tiêu hóa của cá

Lượng thức ăn cho ĐVTS thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển, phụ thuộc vào khối lượng và giảm dần theo tăng trưởng của chúng Theo Chua & Teng (1982), cá Mú

(Epinephelus salmoides) khi được cho ăn với các khẩu phần từ 1,4% đến 9% khối

lượng thân thì hiệu quả sử dụng thức ăn tối ưu của cá ở khẩu phần 5% khi cho ăn 2

ngày 1 lần Theo Luo và cs (2006), cá Mú (Epinephelus coioides) tiền trưởng thành

Trang 26

khi được cho ăn các mức từ 0% đến 3,5% khối lượng thân thì các chỉ tiêu sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn, thành phần cơ thể và độ tiêu hóa dưỡng chất của cá

có bị ảnh hưởng bởi mức cho ăn; cá đạt trạng thái duy trì ở mức cho ăn 0,25% và khi

cho ăn 2,5% thì cá có tăng trưởng tối ưu Ở cá Sander lucioperca giai đoạn giống khi

được cho ăn từ 2% đến 6% khối lượng thân/ngày trong 8 tuần; kết quả thí nghiệm cho thấy ở 2 mức cho ăn 4 và 6% thì khối lượng cá sau thí nghiệm cao hơn mức cho

ăn 2%, FCR tối ưu khi cho ăn 2% (Bodis & Bercsengi, 2009) Ba nhóm cá chó miền

Bắc (Esox lucius) có khối lượng từ 63,0 g đến 137,2 g được cho ăn với 3 mức (0,5;

0,8 và 11% khối lượng thân); sau 8 tuần thí nghiệm, khi cá được cho ăn 0,5% đạt khối lượng cao nhất; nhóm tác giả kết luận rằng cá có khối lượng 100 g khi nuôi ở 22

0C thì mức cho ăn hằng ngày 0,8% khối lượng cơ thể mang lại hiệu quả nhất

(Kozlowski và cs., 2012) Theo Mwangmilo & Jiddawi (2003), ở cá Măng (Chanos

chanos) khi được cho ăn bằng 3 loại thức ăn có hàm lượng protein (25, 32 và 40%)

với các mức cho ăn hằng ngày từ 0% đến 4% khối lượng thân, kết quả cho thấy tăng trưởng, hiệu quả sử dụng protein và năng lượng của cá ổn định ở mức cho ăn 4%

bằng thức ăn 32% protein Ở cá da trơn nhiệt đới (Mystus nemurus) giai đoạn giống,

khi cho cá ăn thức ăn có 36,2% protein và mức năng lượng là 16,5 kJ/g ở các mức cho ăn từ 1% đến 5% khối lượng thân/ngày thì ở mức cho ăn 2,5%, cá có tăng

trưởng tốt nhất (Kim-Sun Lu et al., 2000) Marimuthu và cs (2011) cho thấy ảnh

hưởng của tỉ lệ cho ăn lên tăng trưởng, tỉ lệ sống và tính ăn nhau của cá Trê phi

(Clarias gariephinus) giai đoạn giống khi được cho ăn 8% khối lượng thân/ngày thì

có SR, SGR, FCR và hiệu quả sử dụng thức ăn tối ưu Shamoushaki và cs (2012)

tìm ra mức cho ăn tối ưu cho tăng trưởng của cá chép Caspian (Cyprinus carpio) giai

đoạn giống (1,5 g) khi cho ăn 7,5% khối lượng thân/ngày

Tần số cho ăn ảnh hưởng tới tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn Để đạt tăng trưởng tối ưu, lượng thức ăn cho ăn được điều chỉnh thay đổi theo ngày Điều chỉnh lượng cho ăn tùy thuộc vào việc bắt mồi nhanh hay chậm của cá, sự vận động cá, sự thay đổi nhiệt độ của môi trường Đối với cá ở giai đoạn giống, tần số cho ăn tăng lên làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn và tăng trưởng vì ở giai đoạn này, cá cần cung cấp dinh dưỡng cao và liên tục để hoàn thiện cơ thể và tốc độ tăng trưởng của cá ở giai đoạn này rất nhanh Khi chia nhỏ lượng thức ăn thành nhiều lần trong ngày thì

cá sử dụng thức ăn hiệu quả hơn khi cho ăn ít lần Kết quả của thí nghiệm trên cá Rô

đồng (Anabas testudineus) giai đoạn giống cho thấy cá đạt tăng trưởng tốt hơn khi

cho ăn 4 lần/ngày so với chỉ cho ăn 1 hoặc 2 lần/ngày với khẩu phần 6% khối lượng thân (Tran Thi Thanh Hien và cs., 2003) Đối với cá Tra và cá Ba sa cho ăn 2 lần/ngày đạt hiệu quả về tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn; tốc độ tăng trưởng

và tỉ lệ sống ít bị ảnh hưởng bởi tần số cho cá ăn nhưng FCR tăng và PER giảm khi tần số cho ăn giảm; tần số cho ăn 2 lần/ngày cho cá Tra giống (18 g/con) cho tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt nhất Theo Buscinar và cs (2007), cá Hồi

biển (Salmo trutta labrax, Pollas 1811) khi được cho ăn với các tần số khác nhau (1,

2 và 3 lần/ngày) thì cá sẽ có tăng trưởng tốt khi được cho ăn 2 hoặc 3 lần/ngày hơn là cho ăn 1 lần/ngày nhưng FCR lại tối ưu khi cho cá ăn 1 lần/ngày Ở cá Thần tiên

Trang 27

(Petrophyllum scalare) khi được cho ăn 2 và 4 lần/ngày thì các chỉ tiêu SGR, FCR,

SR tốt nhất (Karisi et al., 2011) Theo Turker & Yildirim (2011), ở cá Hồi vân (Oncorhynchus mykiss) tiền trưởng thành được cho ăn với tần số (6-2 lần/ngày) thì

WG, GR, FI và khối lượng cá sau thí nghiệm giảm tỉ lệ với tần số ăn giản dần và nhận định của nhóm tác giả là khi cho cá ăn 6 lần/ngày thì có kết quả tối ưu Trên cá

Trê phi (Clarias gariepinus) 3,46 g khi được cho ăn bằng thức ăn (32% protein và

mức năng lượng 284,6 kcal/100 g) với mức cho ăn từ 2% đến 4% khối lượng thân trong 90 ngày thì có mức cho ăn tối ưu là 4% khối lượng thân/ngày với tần số cho ăn

2 lần/ngày (Zeinhom và cs., 2010)

Ngoài ra, phương thức cho ăn cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng, tỉ lệ sống của cá

Kerdchuen & Legendre (1991) cho biết cá Heterobranchus longifilis, cùng được cho

ăn 3% trọng lượng thân trên ngày thì cá cho ăn trong buổi tối có sự tăng trưởng tốt hơn khi cho ăn ban ngày Baras và cs (1996) đã thử nghiệm 3 thời điểm cho ăn khác

nhau (cho ăn suốt ngày, suốt đêm và liên tục) lên sự tăng trưởng của cá Piaractus

branchyponus, kết quả cá được cho ăn vào buổi tối có tốc độ tăng trưởng cao hơn, tỉ

lệ chết thấp hơn so với cá được cho ăn ban ngày hay cho ăn liên tục

2.4 GIỚI HẠN THÍCH NGHI ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG Ở MỘT SỐ LOÀI

CÁ NƯỚC NGỌT

2.4.1 Oxy hòa tan (DO)

Cá sử dụng oxy để chuyển hóa thức ăn thành năng lượng và tạo sinh khối Tùy thuộc vào từng loài, theo Pillay & Kutty (2005), cá tăng trưởng tốt nhất đòi hỏi hàm lượng

DO tối thiểu khoảng từ 5,0 mg/L (đối với loài cá vùng nhiệt đới) đến 7,0 mg/L (đối với loài cá vùng ôn đới) (Aquafarmer, 2004)

Nồng độ oxy hòa tan tự do trong nước khoảng 8-10 mg/L và sẽ dao động mạnh phụ thuộc vào nhiệt độ và các quá trình phân hủy các hợp chất và sự quang hợp của thực vật thủy sinh (Lê Văn Khoa, 2001) Trong ao hồ nuôi thâm canh, lượng oxy trong nước được quyết định chủ yếu bởi các hoạt động sinh hóa, lượng oxy khuếch tán từ không khí chỉ có vai trò thứ yếu Khi oxy hòa tan thấp ảnh làm giảm hoạt động hoặc gây chết thủy sinh vật, do đó, oxy hòa tan là một chỉ số quan trọng để đánh giá sự ô nhiễm nước của thủy vực (Lê Văn Cát và cs., 2006)

Khi nghiên cứu trên đối tượng cá Tra, Dương Nhựt Long và cs., (2004) cho rằng hàm

lượng thích hợp cho ao nuôi cá thâm canh là 3,5-6,5 mg/L Dương Thúy Yên (2003) khi nghiên cứu về ngưỡng oxy dưới của cá tra đã kết luận rằng giá trị này nhỏ hơn 2,0 mg/L Nuôi cá ở mật độ cao, ao nuôi cũng thường xảy ra hội chứng thiếu oxy cục

bộ do sự gia tăng hàm lượng CO2 trong nước, pH giảm, NO2- tăng và biến động của một số yếu tố môi trường khác (Schmittou, 1993)

Theo Smith (1982), hàm lượng DO cần thiết cho quá trình trao đổi chất là 3,0-7,0 mg/L Rogers & Fast (1988) cho rằng tôm cá sẽ bị sốc nếu hàm lượng DO < 2,0

mg/L trong thời gian dài (trích bởi Boyd và cs., 2000) Lawson (1995), Boyd (1998)

Trang 28

và Timmons và cs., (2002) cho rằng hàm lượng oxy hoà tan lý tưởng phải lớn hơn

5,0 mg/L đến bão hòa

2.4.2 Tổng vật chất lơ lửng (TSS):

Vật chất lơ lửng trong ao nuôi thủy sản thường do phù sa, vật chất hữu cơ và phiêu sinh vật tạo nên

Vật chất lơ lửng thường đi vào ao nuôi thông qua nguồn nước cấp, nước mưa hoặc

do bởi sóng gió hay dòng nước chảy mạnh làm xói lở bờ ao Phần lớn những vật chất này sẽ lắng tụ xuống đáy ao, nhưng một phần sẽ lơ lững trong nước trong thời gian dài gây nên độ đục trong nước Ngoài ra ao nuôi tôm cá nước đục còn do phiêu sinh thực vật có trong ao thì đây là yếu tố có lợi, vì chúng là thức ăn cho tôm cá, trong khi

đó độ đục do vật chất phù sa hay vật chất hữu cơ thì ít nhiều sẽ gây hại cho đối tượng nuôi và hàm lượng này thích hợp cho ao nuôi dao động trong khoảng 10-50 mg/L (Boyd, 1998)

Chất rắn lơ lửng có thể là tác nhân gây bệnh cơ hội và đẩy nhanh sự phát triển của vi khuẩn Chúng liên quan đến vấn đề dịch bệnh do môi trường gây ra và đã được báo cáo rằng gây ảnh hưởng gần chết cho cá như thối vây và tác hại trực tiếp lên mang (Noble & Summerfelt, 1996)

Một số tác giả như Timmons và cs., (2002), Pillay & Kutty (2005) đã xem xét nồng

độ TSS dưới 80 mg/L là phù hợp nhưng trong một vài trường hợp của các loài nhạy cảm như cá hồi, theo Aquafarmer (2004) đề nghị duy trì nồng độ TSS khoảng 4,5 mg/L để giữ an toàn và trong giới hạn nồng độ 15 mg/L

Theo Lawson (1995), hàm lượng TSS thích hợp trong ao nuôi thuỷ sản phải nhỏ hơn

80 mg/l

2.4.3 Tổng đạm amôn (TAN)

Cá tạo và thải các sản phẩm chất thải chứa nitơ qua sự khuếch tán qua mang, mang trao đổi cation; nước tiểu và phân được bài tiết, ngoài ra một số chất thải nito được tích lũy từ những mảnh vụn hữu cơ của các sinh vật chết, thức ăn thừa và từ khí nitơ trong khí quyển (Timmons và cs., 2002) Ammonia tồn tại trong hai hình thức: N-

NH3, và N- NH4+và tổng của hai loại này được gọi là tổng đạm ammonia (TAN) Khi cơ thể động vật đồng hóa protein trong thức ăn thì một phần chuyển thành amoniac và được bài tiết vào trong nước Nồng độ NH3 trong các ao nuôi tỷ lệ thuận

với lượng thức ăn sử dụng (Lê Văn Cát và cs., 2006) Đạm amôn còn sinh ra trong

nước do quá trình phân hủy hợp chất hữu cơ có chứa N (protein)

Sự bài tiết TAN của cá khác nhau tùy thuộc vào loài nuôi Như một quy luật chung, khi 1,0 mg oxy/lít/ phút được tiêu thụ bởi cá có thể sản xuất 0,14 mg TAN (Timmons

và cs.,2002) và đặc biệt cho loài Salmonids , mỗi 1,0 mg DO tiêu thụ/lít có thể sản

xuất 0,04-0,06 mg TAN/L (Aquafarmer, 2004)

Trang 29

NH3-N là hình thức độc nhất của ammonia, do đó độ độc của TAN phụ thuộc vào tỷ

lệ phần trăm của NH3-N trong nồng độ TAN Tỷ lệ NH3-N tăng nếu tăng độ pH và

nhiệt độ hoặc độ mặn giảm (Timmons và cs., 2002)

Nồng độ NH3 được xem là an toàn cho ao nuôi là 0,13 mg/L (Chen và cs., 1988) Thông thường, cá nước ấm có sức chịu đựng độ độc NH3 cao hơn cá nước lạnh, và

cá nước ngọt có sức chịu đựng cao hơn cá nước mặn, vì vậy nói chung, nồng độ

NH3-N nên được duy trì dưới 0,05 mg/L và TAN dưới 1,0 mg/L nếu cho tiếp xúc lâu

dài (Timmons và cs., 2002) Các hợp chất vô cơ hòa tan quan trọng của nitơ là NH3,

NH4+, NO3-, và NO2- Trong đó NH3 và NO2- được xem là độc đối với động vật thủy sinh, còn NH4+ và NO3- là nguồn dinh dưỡng tốt mà thực vật thủy sinh dễ hấp thu nhất tạo nên các hợp chất hữu cơ trong thủy vực Ngoài ra, NH3 và muối của nó sẽ biến thành đạm nitrite (NO2-) và nitrate (NO3-) nhờ vi khuẩn nitrite và nitrate hóa Tuy nhiên NH3 được cung cấp trong thủy vực từ quá trình phân hủy bình thường các protein, xác bã động thực vật, sản phẩm bài tiết của động vật hay từ phân bón vô cơ

và hữu cơ, trong đó nguồn NH3 chủ yếu từ sự bài tiết trực tiếp của động vật thủy sinh

(Chen và cs., 1988)

Theo Boyd (1998) nước dùng cho nuôi trồng thủy sản thì hàm lượng TAN tốt nhất là không được vượt quá 2 mg/L, vào cuối vụ nuôi nước ao nuôi cá tra thâm canh đã vượt quá giới hạn trên

Lawson (1995) đã đưa ra nhận định hàm lượng NH3 thích hợp trong nuôi thuỷ sản phải thấp hơn 0,02 mg/L Trong khi đó Timmons và cs (2002) đề nghị mức thấp hơn, khoảng 0,013 mg/L Đối với ao nuôi tôm, Boyd và cs, (2000) cho rằng hàm lượng NH3 nên được ổn định ở mức từ 0,1-0,3 mg/L là tốt nhất

Kết quả nghiên cứu của Dương Nhựt Long (2002) thì cho rằng hàm lượng NH4+

thường thấp hơn 1,5 mg/L còn Boyd (1998) và Chanratchakool (2003) thì hàm lượng

NH4+ thích hợp hợp cho ao nuôi tôm dao động trong khoảng 0,2-2,0 mg/L Nếu hàm lượng NH4+

lớn hơn 2,0 mg/L ao sẽ giàu dinh dưỡng và tảo trong ao sẽ phát triển rất mạnh Môi trường nước không ô nhiễm thường có hàm lượng NH4+

nhỏ hơn 0,1 mg/L và trong nước mặt tự nhiên NH4+ thường hiện diện ở mức <0,2 mg/L (Chapman, 1997)

2.4.4 Đạm nitrite (N-NO 2 - )

Nitrite là sản phẩm trung gian trong quá trình nitrate hóa từ ammonia thành nitrate

và nó độc hại cho cá vì nó ảnh hưởng đến khả năng vận chuyển oxy của hemoglobin trong máu của gây hiện tượng máu nâu (Timmons và cs., 2002; Pillay & Kutty 2005), trong nuôi thủy sản khuyến khích nồng độ NO2- dưới 1,0 mg/L (Pillay & Kutty 2005)

Hàm lượng N-NO2- thích hợp cho ao nuôi cá <0,3 mg/L và đạm (N-NO3-) một trong những dạng đạm được thực vật hấp thu dễ dàng, không độc hại đối với thuỷ sinh vật

là 0,2-10 mg/L (Boyd, 1998) Theo Boyd (1998), thì trong ao nuôi cá nheo có thay

Trang 30

nước hàm lượng nitơ tổng và COD tăng theo thời gian nuôi, trong đó nitơ ở dạng nitrite và nitrate không vượt quá 0,05 mg/L và 0,1 mg/L và ammonia tổng không vượt quá 0,75 mg/L Trong thuỷ vực tự nhiên tính độc của nitrite trong ao sẽ giảm xuống nếu có mặt ion Cloride (Boyd, 1998)

Hàm lượng NO2- được hình thành chủ yếu bởi quá trình nitrite hoá từ TAN Do đó khi hàm lượng NH4+ trong ao thấp thì hàm lượng NO2- sẽ thấp Mặt khác, theo Chapman (1997), hàm lượng NO2- trong nước ngọt thường rất thấp (0,001 mg/L) và luôn nhỏ hơn 1,0 mg/L Timmons và cs., (2002) và Boyd và cs., (2000) đã chỉ ra rằng hàm lượng NO2- trong ao nuôi thuỷ sản phải nhỏ hơn 1,0 mg/L

Theo khuyến cáo của Lê Trần Tường Vi (2012), nồng độ nitrite trong nước nuôi cá Lóc ở mức an toàn là 11,94 mg/L

2.4.5 Đạm Nitrate (N-NO 3 - )

Nitrate có trong thủy vực là do quá trình nitrate hóa, NO2- bị oxy hóa thành NO3- Vi khuẩn tham gia vào quá trình nitrate hóa ở các thủy vực nước ngọt có vi khuẩn

Nitrobacter europara Vi khuẩn này phân bố rất ít trong thủy vực nước sạch, nghèo

dinh dưỡng Quá trình nitrate hóa chỉ xảy ra khi có mặt oxy, trong môi trường yếm khí với sự có mặt của hydrate carbon sẽ xảy ra quá trình phản nitrate hóa, quá trình này khử nitrate qua nitrite thành NO, N2O, NH2OH, NH3 và N2 Vi khuẩn tham gia quá trình này bao gồm các loài kỵ khí không bắt buộc như Bacillus, Pseudomonas

(Soon và cs.,1999)

Trong điều kiện hiếu khí, chúng oxy hóa các hợp chất hữu cơ bằng oxy hòa tan trong nước, còn trong điều kiện kỵ khí chúng oxy hóa các hợp chất hữu cơ bằng con đường khử hydro để chuyển hydro cho nitrate và nitrite Quá trình này không có lợi vì nó làm mất nitơ trong thủy vực và tạo thành các chất độc hại cho thủy sinh vật như NH3,

NO2- (Pekar, 2002)

Theo Boyd (1998), nitrate là dạng đạm không độc nhưng với hàm lượng quá cao cũng không có lợi cho tôm cá, khi hàm lượng nitrate trong nước cao sẽ làm tảo phát triển quá mức Theo nhận định của ông thì hàm lượng NO3-

thích hợp trong ao nuôi thuỷ sản từ 0,2 - 3,0 mg/L Riêng Lawson (1995) đã nhận xét hàm lượng NO3- thích hợp cho ao nuôi thuỷ sản là nhỏ hơn 3,0 mg/L

Sự biến động hàm lượng N-NO3- trong hệ thống nuôi có liên quan rất lớn đến tích lũy vật chất dinh dưỡng Trong hệ thống nuôi thâm canh, thức ăn được cung cấp với số lượng lớn, quá trình phân hủy hữu cơ tạo ra nhiều loại muối dinh dưỡng trong đó có dạng NO3- Trong suốt quá trình nuôi giá trị N-NO3- có xu hướng tăng dần về cuối vụ nuôi, do lượng vật chất hữu cơ tích lũy trong hệ thống ngày càng cao ở cuối vụ

Trang 31

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 MẪU NGHIÊN CỨU

3.1.1 Thời gian và địa điểm thực hiện

Thời gian thực hiện đề tài: từ 18/10/2012 đến 05/2014

Địa điểm: Trại cá nước ngọt, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ; Trại cá Bộ môn Thủy sản, Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật An Giang

3.1.2 Đối tượng nghiên cứu

Cá Lóc dùng thí nghiệm, được mua từ trại giống tại An Giang Cá được nuôi dưỡng trong bể composite có sục khí liên tục trong 7 ngày để ổn định và quen với điều kiện nuôi trong bể, sau đó mới tiến hành đưa vào thí nghiệm Trong thời gian dưỡng, cá được cho ăn bằng thức ăn viên, ngày cho ăn 2 lần (sáng và chiều), cá được cho ăn theo nhu cầu Cá bố trí thí nghiệm được chọn kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, không

có dấu hiệu bệnh lý

3.2 CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU

Vật liệu sử dụng trong nghiên cứu bao gồm: thước đo, cân đồng hồ, cân điện tử, máy

Nguồn nước sử dụng trong thí nghiệm là nước máy đã khử chlorine

Thí nghiệm được bố trí trong bể composite 500 lít/bể Nước trong bể nuôi (thí nghiệm 1 và 2) được sục khí liên tục

Hệ thống lọc giá thể chuyển động bao gồm bể nuôi, bể lắng, bể chứa và bể lọc sinh học (Hình 3.1)

Trang 32

Hình 3.1: Hệ thống lọc giá thể chuyển động

1 Bể nuôi; 2: Bể lắng; 3: Bể chứa; 4: Bể lọc sinh học

3.3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.3.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng mật độ thả lên tăng trưởng và tỷ lệ sống

Cỡ cá thử nghiệm: cá thả có khối lượng trung bình 6,80 0,02 g/con

Thí nghiệm gồm 05 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lập lại 03 lần, bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên Cụ thể:

Theo dõi và ghi nhận hoạt động bơi lội và và bắt mồi của cá

Cá được cho ăn ngày 2 lần vào lúc 6h và 18h, cho ăn theo nhu cầu, lượng thức ăn được điều chỉnh theo nhu cầu sử dụng thức ăn của cá

Trang 33

Trong thời gian thí nghiệm, các chỉ tiêu môi trường như: nhiệt độ, pH, oxy hòa tan, tổng đạm ammonia, nitrite/nitrate được thu 10 ngày/lần

Chỉ tiêu theo dõi:

Các chỉ tiêu chất lượng nước, tăng trưởng của cá

Tính toán tỷ lệ sống, FCR, PER

Thời gian thí nghiệm: 110 ngày, tại Trại cá nước ngọt, Khoa Thủy sản, Trường Đại

học Cần Thơ

3.3.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng số lần cho ăn lên tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống

Mật độ thả: 40 con/100 L (kết quả tốt nhất từ thí nghiệm 1)

Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 NT (số lần cho ăn: 1(11h); 2 (6h, 18h); 3 (5h, 12h, 19h); 4 (5h, 11h, 17h, 23h) lần/ngày) và 3 lần lặp lại

Mẫu cá được thu 10 ngày/lần, mỗi lần thu 15 con để kiểm tra tăng trưởng

Trong thời gian thí nghiệm, các chỉ tiêu môi trường như: nhiệt độ, pH, oxy hòa tan, tổng đạm ammonia, nitrite/nitrate được thu 10 ngày/lần

Chỉ tiêu theo dõi:

Các chỉ tiêu chất lượng nước, tăng trưởng của cá (cân khối lượng và đo chiều dài); Tính toán tỷ lệ sống, FCR, PER, và tỷ lệ phân cỡ về khối lượng

Thời gian thí nghiệm: 110 ngày, tại Trại cá Bộ môn Thủy sản, Trường Trung cấp

Kinh tế -Kỹ thuật An Giang

3.3.3 Thí nghiệm 3: Xác định giới hạn các yếu tố TAN, DO, CO2, NH3

Trang 34

Theo dõi các yếu tố lý hóa học của nước trong bể nuôi,

Theo dõi và ghi nhận hoạt động bơi lội và và bắt mồi của cá

Cho ăn: số lần cho ăn 3 lần/ngày, lượng thức ăn được điều chỉnh theo nhu cầu sử dụng thức ăn của cá

Thu mẫu:

Mẫu nước được thu 3 lần/tuần

Mẫu cá thu 10 ngày/lần, mỗi lần thu 15 con để kiểm tra tăng trưởng

Chỉ tiêu theo dõi:

Các yếu tố lý hóa học: nhiệt độ, pH, DO, CO2, TSS, TAN, NO2-, NO3-

Các chỉ tiêu tăng trưởng: tăng trưởng khối lượng, tốc độ tăng trưởng tương đối (g/ngày)

Thời gian thí nghiệm: 60 ngày, tại Trại cá Bộ môn Thủy sản, Trường Trung cấp

Kinh tế -Kỹ thuật An Giang

3.3.4 Các chỉ tiêu theo dõi

3.3.4.1 Chỉ tiêu chất lượng nước

Phương pháp thu và phân tích mẫu các chỉ tiêu chất lượng nước được trình bày ở Bảng 3.1

Bảng 3.1 : Phương pháp thu và phân tích mẫu các chỉ tiêu chất lượng nước

TAN Tất cả các yếu tố được nạp 4500 – NH3 F Phenate

vào chai nhựa 1000 ml, (APHA, 1995) trữ lạnh <4 0

Trang 35

3.3.4.2 Chỉ tiêu tỷ lệ sống và tăng trưởng

Trước khi bố trí thí nghiệm, tiến hành cân và đo mẫu cá để xác định khối lượng và chiều dài ban đầu, định kỳ 10 ngày kiểm tra tăng trưởng của cá Cuối đợt thí nghiệm, cân khối lượng, đo chiều dài và tính tỷ lệ sống

a Tỉ lệ sống (%) (Survival rate)

SR (%)= (số cá ngày thu mẫu/số cá thả) × 100

b Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (%/ngày) (Specific growth rate)

Trong đó: t (thời gian thí nghiệm);

Wi, Li (khối lượng và chiều dài đầu);

Wf, Lf: (khối lượng và chiều dài cuối)

d Phương trình tương quan

Phương trình tương quan (hồi quy tuyến tính) giữa khối lượng thức ăn và khối lượng

Khối lượng cá tăng trọng

f Hiệu quả sử dụng protein

Wf - Wi PER =

Protein ăn vào

Trang 36

Trong đó: Wf: khối lượng sau (g)

Wi: khối lượng đầu (g)

3.3.4.3 Tỷ lệ phân cỡ cá (%)

- Cá loại 1 (%): cá có khối lượng từ 200 g trở lên và không có dị hình

- Cá loại 2 (%): cá có khối lượng từ 200 g trở xuống và bao gồm cả cá dị hình

3.4 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU

Bảng 3.2 Tiến trình nghiên cứu

1 Thí nghiệm 1:

- Bố trí thí nghiệm, chăm sóc và

theo dõi các chỉ tiêu

- Phân tích các yếu tố chất lượng

2 Thí nghiệm 2:

- Bố trí thí nghiệm, chăm sóc và

theo dõi các chỉ tiêu

- Phân tích các yếu tố chất lượng

ăn tốt nhất

3 Thí nghiệm 3:

- Bố trí thí nghiệm, chăm sóc và

theo dõi các chỉ tiêu

- Phân tích các yếu tố chất lượng

4 Tổng hợp số liệu và viết bài 3/2014 – 5/2014 Bài báo cáo hoàn

chỉnh

Trang 37

3.5 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

Các số liệu được tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và phân tích ANOVA để tìm ra sự khác biệt giữa các trung bình các nghiệm thức Phần mềm sử dụng là Excel

và SPSS

Trang 38

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 THÍ NGHIỆM 1 : ẢNH HƯỞNG MẬT ĐỘ THẢ LÊN TĂNG TRƯỞNG

C (Bảng 4.1) Chênh lệch nhiệt độ giữa buổi sáng và buổi chiều không lớn (khoảng 1 0

C) Bảng 4.1 : Nhiệt độ trung bình của các nghiệm thức

Nhiệt độ 0

Sáng 28,7±0,1 28,7±0,1 28,6±0,0 28,6±0,0 28,7±0,1 Chiều 29,5±0,2 29,5±0,3 29,4±0,2 29,3±0,2 29,5±0,3 Kết quả nghiên cứu của Pillay (1990) cho rằng, nhiệt độ thích hợp cho cá Lóc từ 25-

35 0C và cá Lóc chịu đựng được nhiệt độ từ 15-40 0C Như vậy, nhiệt độ của các nghiệm thức trong quá trình thí nghiệm nằm trong khoảng thích hợp cho sinh trưởng của cá Lóc

4.1.1.2 Oxy hòa tan

Trong thời gian thí nghiệm, hệ thống bể nuôi cá thí nghiệm được sục khí liên tục nên hàm lượng oxy hòa tan luôn được duy trì > 6 mg/l, với hàm lượng oxy hòa tan này đảm bảo cá sinh trưởng và phát triển tốt

Trang 39

Cá Lóc có khả năng chịu đựng tốt trong môi trường kiềm và axít (Pillay, 1990) Theo Courtenay và James (2004) cá Lóc có thể sống trong khoảng pH thấp 4-5 và khoảng thích hợp là 6,5-8,5 Như vậy kết quả biến động pH của các bể nuôi hoàn toàn thuận lợi, không gây ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá

4.1.1.4 Tổng đạm ammonia (TAN)

Kết quả phân tích hàm lượng TAN trong bể nuôi qua 14 đợt thu mẫu cho thấy nồng

độ TAN đạt mức cao nhất là ở nghiệm thức 4 (5,85 mg/L) Lượng TAN có khuynh hướng gia tăng về cuối đợt, tăng cao bắt đầu từ tuần thứ 9 và biến động tương đối đồng đều, do ảnh hưởng của thức ăn cho cá và sự bài tiết của cá tăng dần (Hình 4.2) Hàm lượng TAN trung bình của các nghiệm thức dao động trong khoảng 1,26±1,43–1,58±1,75 mg/L Trong đó, hàm lượng TAN trung bình ở nghiệm thức 1,2,3,4,5 lần lượt là 1,26±1,43 mg/L; 1,38±1,53 mg/L; 1,48±1,66 mg/L; 1,54±1,81 mg/L và 1,58±1,75 mg/L (Phụ lục A3)

Hình 4.2: Biến động TAN của các nghiệm thức

Hàm lượng TAN cao nhất của hệ thống tương đương với kết quả thí nghiệm nuôi cá

trong bể lót bạt của Lam Mỹ Lan và ctv., (2009), với hàm lượng TAN cao nhất trong

bể nuôi là 5,20 mg/L

4.1.1.5 Đạm nitrite (N-NO 2 - )

Hàm lượng trung bình nitrite của các nghiệm thức dao động từ 0,07-0,08 mg/L Ở nghiệm thức 1 là 0,07±0,05 mg/L, nghiệm thức 2 là 0,07±0,05 mg/L, nghiệm thức 3 0,08±0,06 mg/L, nghiệm thức 4 0,08±0,06 mg/L và nghiệm thức 5 là 0,08±0,07 mg/L (Phụ lục A4)

Trang 40

Hình 4.3: Biến động NO2- của các nghiệm thức

Nitrite là dạng đạm độc, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hô hấp của cá khi nồng độ trong nước cao Độ độc N-NO2-

phụ thuộc rất nhiều vào nồng độ oxy hòa tan, pH, mức độ nhiễm bẩn, (Nguyễn Đình Trung, 2004)

Kết quả thí nghiệm cho thấy, ở 6 đợt thu mẫu đầu, hàm lượng N-NO2- tăng chậm, sau đó có khuynh hướng tăng nhanh dần (Hình 4.3) Theo Boyd (1990) thì nồng độ

NO2- lớn hơn 0,3 mg/l làm ảnh hưởng đến cá nước ngọt Hàm lượng N-NO2- trong thí nghiệm này, không ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cá

So sánh với kết quả nuôi cá Lóc trong bể lót bạt có thay nước của Lam Mỹ Lan và

ctv., (2009), hàm lượng NO2- trong bể nuôi dao động từ 0,01-0,56 mg/L, thì hàm lượng NO2- trong thí nghiệm này thấp hơn rất nhiều

4.1.1.6 Đạm nitrate (N-NO 3 - )

Hàm lượng N-NO3- cao hơn rất nhiều so với N-NO2- (Hình 4.4) Điều này cho thấy

có sự chuyển hóa đạm nitrate rất tốt trong hệ thống Hàm lượng N-NO3- trung bình của các nghiệm thức biến động không lớn, nằm trong khoảng từ 0,90 - 1,3 mg/L Mức trung bình ở nghiệm thức 1: 0,9±0,84 mg/L, nghiệm thức 2: 1,0±1,00 mg/L, nghiệm thức 3: 1,1±1,14 mg/L, nghiệm thức 4: 1,3±1,2 mg/L và nghiệm thức 5: 1,3±1,15 mg/L (Phụ lục A5) Boyd, (1990) cho rằng nồng độ NO3- tối ưu cho sự phát triển của cá <10 mg/L

Ngày đăng: 08/03/2021, 16:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w