1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trắc nghiệm bốn loại thuốc xử lý ra hoa trái vụ nitrat kali paclobutrazol thiourea và ethephon trên xoài thanh ca ở thị trấn ba chúc tri tôn an giang

70 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 7,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả thí nghiệm cho thấy: Thời gian tạo mầm hoa trên xoài Thanh Ca do tưới Paclobutrazol trong đất dao động trong khoảng 85 – 97 trung bình 90 ngày tuỳ thuộc vào tuổi cây, còn đối với

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

TRẮC NGHIỆM BỐN LOẠI THUỐC XỬ LÝ RA HOA TRÁI VỤ

(NITRAT KALI, PACLOBUTRAZOL, THIOUREA VÀ ETHEPHON)

TRÊN XOÀI THANH CA Ở THỊ TRẤN BA CHÚC

TRI TÔN, AN GIANG

Chủ nhiệm đề tài: Th.S NGUYỄN VĂN MINH

Long Xuyên, tháng 9 năm 2008

Trang 2

CẢM TẠ

Chân thành cám ơn:

- Chính quyền địa phương, Hội nông dân các xã Lương Phi, Lê Trì và Thị trấn Ba Chúc đã tạo mọi điều kiện về tổ chức hội thảo, phỏng vấn nông hộ và tạo mọi thuận lợi trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài về cây xoài

- Gia đình anh Nguyễn Ngọc Ngởi, Lâm Văn Hoàng và Huỳnh Văn Quốc đã hợp tác

và hỗ trợ phương tiện và địa điểm vườn xoài làm thí nghiệm

- Các đồng sự trong Bộ Môn Khoa Học Cây Trồng đã góp công sức vào quá trình thực hiện trong đó có các thầy, cô Trần Văn Khải, Phạm Huỳnh Thanh Vân, Võ Thị Xuân Tuyền, Trịnh Hoài Vũ đã sát cánh bên tôi từ những ngày đầu vừa mới triển khai nghiên cứu

- Cô Nguyễn Thị Minh Châu đã tận tình giúp sửa chữa bản thảo

Chủ nhiệm đề tài

Trang 3

TÓM TẮT

Nhằm mục đích chọn được ít nhất một loại hóa chất và một qui trình tối ưu cho kết

quả xử lý ra hoa tốt nhất trên xoài Thanh ca ở vùng Bảy Núi Đề tài “ Trắc nghiệm bốn loại thuốc xử lý trái vụ (Nitrat kali, Paclobutrazol, Thiourea và Ethephon) trên xoài Thanh

Ca ở xã Ba Chúc, Tri Tôn An Giang” được tiến hành nhằm giải quyết vấn đề trên

Bố trí các thí nghiệm theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCB) trên 3 điểm vườn xoài tại vùng nghiên cứu với 4 loại thuốc Nitrat kali, Cultar, Thiourea và Ethephon Số liệu được phân tích phương sai và LSD bằng chương trình MSTATC và phân tích tương quan bằng chương trình EXCEL Kết quả thí nghiệm cho thấy:

Thời gian tạo mầm hoa trên xoài Thanh Ca do tưới Paclobutrazol trong đất dao động trong khoảng 85 – 97 (trung bình 90 ngày) tuỳ thuộc vào tuổi cây, còn đối với các hoá chất XLRH khác xịt trên lá như Thiourea, Nitrat kali và Ethephon trung bình là 15 ngày

Tỉ lệ chồi ra hoa 25 ngày sau XLRH cao nhất ở nghiệm thức kết hợp tưới đất bằng PBZ và phun Thiourea trên lá là 100%; thứ hai là nghiệm thức chỉ phun Thiourea riêng rẽ trên

lá với tỉ lệ 80% số chồi ra hoa; thứ ba là nghiệm thức Ethephon (64%); sau cùng nghiệm thức phun Nitrat kali (33%) xấp xỉ tỉ lệ chồi ra hoa với nghiệm thức đối chứng chỉ tưới PBZ vào trong đất

Đối với xoài Thanh Ca áp dụng PBZ tưới đất cho tỉ lệ đậu trái cao 57% và kết hợp xử

lý thêm thiourea làm tăng đậu trái đến 85% Còn đối với Ethephon và KNO3 cho tỉ lệ đậu trái thấp Không có sự tương quan giữa tỉ lệ đậu trái với trọng lượng trái thu hoạch

Tổng số trái của các nghiệm thức có tưới PBZ vào đất cao so với các nghiệm thức khác, trong đó đối chứng (tưới PBZ đất) là 211 trái/ cây; đặc biệt nghiệm thức nào có kết hợp với phun Thiourea trên lá thì số trái rất cao đạt 228 trái/ cây Có sự tương quan rất chặt giữa

số trái/ cây với trọng lượng trái Tỉ lệ trái loại 1 thương phẩm trung bình là 58,3% (55 - 60%), trong đó nghiệm thức tưới PBZ + Thiourea có tỉ lệ trái loại 1 đạt cao nhất là 60,2%

Hai nghiệm thức có xử lý bằng PBZ tưới đất cho trọng lượng trái cao từ 53 – 55 kg/ cây Nghiệm thức XLRH bằng Ethephon cũng cao 55kg/ cây, nhưng nghiệm thức phun Nitrat kali cho trọng lượng trái thấp hơn (42,6 kg/ cây) và thấp nhất là nghiệm thức chỉ sử dụng đơn

lẻ bằng thiourea (38,2 kg/ cây) Xoài Thanh Ca còn tơ thì trọng lượng trái/ cây cao hơn xoài nhiều năm tuổi Việc tưới đất bằng PBZ kích thích tạo mầm hoa 2 tháng trước khi XLRH bằng thiourea cho trọng lượng trái/ cây đạt hiệu quả tốt

Tỉ lệ trọng lượng trái mùa nghịch/ mùa thuận của hai nghiệm thức có tưới PBZ có tỉ

lệ cao tuần tự là 53,9% và 52,8% chứng tỏ có tác động của loại hoá chất nầy trên sự gia tăng trong lượng trái mùa nghịch so với mùa thuận Ethphon lại cho tỉ lệ trọng lượng trái mùa nghịch cao nhất với 55,7% là điều đáng chú ý đối với loại hoá chất XLRH nầy

Căn cứ vào các chỉ số lãi/ vốn, thu nhập biên (MRR) của mùa thuận so với mùa nghịch đã chọn ra được 3 nghiệm thức có hiệu quả đầu tư cao là PBZ tưới đất (lãi/ vốn = 2,7; MRR = 12,8), PBZ tưới đất + phun kích thích ra hoa bằng thiourea ((lãi/ vốn = 2,1; MRR = 3,9) và Ethephon (lãi/ vốn = 2,1; MRR = 4,2)

Từ kết quả của thí nghiệm có thể chọn quy trình xử lý kết hợp tưới đất bằng PBZ và phun trên lá bằng thiourea Vào đầu mùa mưa làm cỏ, tỉa cành, bón phân cho cây xoài Đến cuối tháng 6 dương lịch tưới PBZ với liều lượng sử dụng 100g/ cây (loại bột) pha 40 lít nước tưới chung quanh đường kính tán Từ giữa đến cuối tháng 9, phun thiourea nồng độ 0,5% trên

lá nhằm kích thích chồi ra hoa Cần chú ý đến công tác phòng trừ sâu bệnh, bón phân, bón lá Mùa thu hoạch xoài nghịch vào khoảng thượng tuần tháng 2 dương lịch năm sau

Cần tiếp tục thí nghiệm khác về khả năng kết hợp giữa PBZ tưới đất với Ethephon và Nitrat kali phun trên lá để so sánh với kết hợp Thiourea trong thí nghiệm nầy

Trang 4

MỤC LỤC Trang

Lời cảm tạ ……… i

Tóm tắt……… ii

Mục lục……… iii

Danh sách bảng……… vi

Danh sách hình……… vii

Kí hiệu và viết tắt……… viii

CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU……… 1

A MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU……… 1

I MỤC TIÊU……… 1

II NỘI DUNG ……… 1

B ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU……… 2

I ĐỐI TƯỢNG……… 2

II PHẠM VI.……… 2

C CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 2

I CƠ SỞ LÝ LUẬN……… 2

1.1 Đặc điểm giống xoài Thanh ca ……… 2

1.2 Đặc điểm ra hoa của cây xoài……… 2

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra hoa xoài……… 4

1.3.1 Môi trường……… 4

1.3.2 Tuổi lá……… 4

1.3.3 Chất dinh dưỡng và chất đồng hoá hay tỉ số C/N……… 4

1.3.4 Gibberelin……… 5

1.4 Hoá chất xử lý ra hoa xoài ……… 5

1.4.1 Nitrate kali……… 5

1.4.1 1 Cơ chế tác động của nitrate kali……… 5

1.4.1 2 Đáp ứng của giống đối với nitrate kali……… 6

1.4.1 3 Liều lượng nitrate kali……… 6

1.4.2 Paclobutrazol ……… 6

1.4.2 1 Tính chất cơ bản của PBZ……… 7

1.4.2 2 Sự vận chuyển PBZ trong cây……… 7

Trang 5

3 Ảnh hưởng đến sự ra hoa, năng suất và phẩm chất trái……… 7

1.4.2 4 Phương pháp xử lý PBZ……… 8

1.4.3 Thiourea……… 8

1.4.4 Ethylene và chất tổng hợp Ethephon……… 9

1.4.4 1 Ethylene ……… 9

1.4.4 2 Ethephon……… 9

1.5 Mùa vụ ra hoa xoài……… 10

1.6 Quy trình xử lý ra hoa xoài……… 10

1.7 Một số sâu bệnh chính gây hại trên cây xoài……… 11

II PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 Phương tiện 14

2.1.1 Địa điểm thực hiện……… 14

2.1.2 Thời gian thực hiện……… 14

2.1.3 Giống xoài……… 14

2.1.4 Hoá chất và các loại vật tư nông nghiệp……… 15

2.2 Phương pháp……… 15

2.2.1 Bố trí thí nghiệm……… 15

2.2.2 Qui trình chăm sóc……… 16

2.2.3 Phương pháp xử lý ra hoa……… 16

2.2.4 Các chỉ tiêu theo dõi và đo đếm……… 17

2.2.5 So sánh các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế……… 17

2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu……… 18

CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU & PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 19 2.1 Ghi nhận tổng quát……… 19

2.1.1 Tình hình thời tiết……… 19

2.1.2 Tình hình sâu bệnh ……… 20

2.2 Lịch trình xử lý ra hoa và thu thập số liệu ……… 21

2.3 Đặc tính ra hoa……… 21

2.3.1 Thời gian tạo mầm hoa xoài từ khi tưới Paclobutrazol đến nhú mầm hoa 21

2.3.2 Thời gian từ xử lý hoá chất trên lá đến khi nhú mầm hoa……… 22

2.4 Tỉ lệ chồi ra hoa……… 23

2.4.1 Tỉ lệ chồi ra hoa 15 ngày sau khi xử lý hoá chất……… 23

2.4.2 Tỉ lệ chồi ra hoa 25 ngày sau khi xử lý hoá chất……… 24

Trang 6

2.5 Sự đậu trái……… 24

2.5.1 Tỉ lệ đậu trái……… 25

2.5.2 Sự tương quan giữa tỉ lệ đậu trái và trọng lượng trái……… 25

2.6 Số trái thu hoạch……… 27

2.6.1 Tổng số trái……… 27

2.6.2 Tương quan giữa số trái và trọng lượng trái……… 28

2.6.3 Số trái loại 1……… 29

2.6.4 Tỉ lệ trái loại 1 trên tổng số trái……… 30

2.6.5 Số trái loại 2……… 31

2.7 Trọng lượng trái thu hoạch……… 31

2.7.1 Trọng lượng trái loại 1……… 31

2.7.2 Trọng lượng trái loại 2……… 32

2.7.3 Tổng trọng lượng trái 2 loại ……… 33

2.7.3 1 Trọng lượng trái mùa thuận……… 33

2.7.3 2 Trọng lượng trái mùa nghịch của thí nghiệm………

33 2.7.3 3 Phần trăm trọng lượng trái mùa nghịch trên mùa thuận……… 34

2.8 Hiệu quả kinh tế mùa nghịch……… 35

2.8.1 Doanh thu……… 35

2.8.2 Chi phí……… 36

2.8.2 1 Chi phí chung……… 36

2.8.2 2 Chi phí hóa chất xử lý ra hoa mùa nghịch theo từng nghiệm thức………. 36

2.8.2 3 Tổng chi phí XLRH mùa nghịch theo từng nghiệm thức………. 37

2.8.2 4 Hiệu quả kinh tế của xoài mùa nghịch đối với mùa thuận……… 37

2.9 Quy trình xử lý ra hoa xoài Thanh Ca mùa nghịch……… 39

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 41

I KẾT LUẬN 41

II KIẾN NGHỊ ……… 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 43

PHỤ CHƯƠNG……… 46

Phụ chương 1: Chi phí hóa chất xử lý ra hoa……… 46

Trang 7

Phụ chương 2: Các bảng phân tích phương sai (ANOVA)………. 47

Phụ chương 3: Hình ảnh hoạt động thí nghiệm 55

DANH SÁCH BẢNG Tên Bảng Trang Bảng 1.1 Ký hiệu nghiệm thức, liều lượng và vị trí áp dụng các hoá chất xử lý…… 16

Bảng 2.1 Các yếu tố thời tiết trong thời gian cây xoài tăng trưởng trái……… 20

Bảng 2.2 Thời gian tạo mầm hoa sau khi tưới PBZ vào gốc xoài ở các nghiệm thức đối chứng (NT1)……… 22

Bảng 2.3 Thời gian từ xử lý hoá chất đến khi nhú mầm hoa ở 3 điểm thí nghiệm ở Thị Trấn Ba chúc, Tri Tôn, An Giang……… 22

Bảng 2.4 Tỉ lệ ra hoa 15 ngày sau khi xử lý hoá chất ở 3 điểm thí nghiệm…… … 23

Bảng 2.5 Tỉ lệ ra hoa 25 ngày sau khi xử lý hoá chất ở 3 điểm thí nghiệm…… … 24

Bảng 2.6 Tỉ lệ đậu trái 40 ngày sau khi xử lý hoá chất ở 3 điểm thí nghiệm……… 25

Bảng 2.7 Số trái thu hoạch ở 3 điểm thí nghiệm……… 28

Bảng 2.8 Số trái loại 1 thu hoạch ở 3 điểm thí nghiệm ……… 30

Bảng 2.9 Tỷ lệ trái loại 1 trên tổng số trái ở 3 điểm thí nghiệm ……… … 30

Bảng 2.10 Số trái loại 2 thu hoạch ở 3 điểm thí nghiệm ……… 31

Bảng 2.11 Trọng lượng trái loại 1 thu hoạch ở 3 điểm thí nghiệm ……… 32

Bảng 2.12 Trọng lượng trái loại 2 thu hoạch ở 3 điểm thí nghiệm ……… 33

Bảng 2.13 Trọng lượng trái thu hoạch ở 3 điểm thí nghiệm ……… … 34

Bảng 2.14 Phần trăm trọng lượng trái mùa nghịch trên mùa thuận……… 35

Trang 8

Bảng 2.15 So sánh doanh thu xoài Thanh Ca mùa nghịch và mùa thuận……… … 35Bảng 2.16 Chi phí hóa chất xử lý ra hoa mùa nghịch ……… 36Bảng 2.17 Tổng chi phí xử lý ra hoa mùa nghịch……… … 37Bảng 2.18 Chỉ số hiệu quả kinh tế của nghiệm thức mùa nghịch so với mùa thuận… 38

DANH SÁCH HÌNH

Tên Hình Trang

Hình 1.1 Chín giai đoạn trong quá trình ra hoa xoài……… 2Hình 1.2 Quy trình xử lý ra hoa trái vụ trên cây xoài……… 11Hình 1.3 Bản đồ vị trí các điểm thí nghiệm xoài Thanh Ca TT Ba Chúc…… 15Hình 1.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm xoài tại 3 điểm ở Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang… 16Hình 2.1 Lượng mưa, ẩm độ và nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình xử lý ra hoa xoài 19Hình 2.2 Ghi nhận tại chỗ lượng mưa trong tháng 10/ 2003 có ảnh hưởng đến sự

trổ hoa và đậu trái tại điểm thí nghiệm Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang…… 20Hình 2.3 Lịch trình chăm sóc, xử lý ra hoa và thu thập số liệu……… 21Hình 2.4 Tương quan thuận và yếu giữa tỉ lệ đậu trái và trọng lượng trái của các

nghiệm thức ở điểm 1……… 26Hình 2.5 Tương quan nghịch và rất yếu giữa tỉ lệ đậu trái và trọng lượng trái của

các nghiệm thức ở điểm 2……… 26Hình 2.6 Tương quan nghịch và rất yếu giữa tỉ lệ đậu trái và trọng lượng trái của

các nghiệm thức ở điểm 3……… 27Hình 2.7 Tương quan giữa số trái và trọng lượng trái của các nghiệm thức điểm 1 28Hình 2.8 Tương quan giữa số trái và trọng lượng trái của các nghiệm thức điểm 2 29Hình 2.9 Tương quan giữa số trái và trọng lượng trái của các nghiệm thức điểm 3 29

Trang 9

Hình 2.10 Các công đoạn chăm sóc và xử lý ra hoa xoài Thanh ca trái vụ………… 39

KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT

ĐBSCL Đồng Bằng Sông Cửu Long

MRR Marginal Return Rate: Thu nhập biên hay Lợi nhuận/ chi phí biên tế

Trang 10

CHƯƠNG I

MỞ ĐẦU

thập niên 1990 đến nay Tuy nhiên, không phải lúc nào các hộ nhà vườn cũng hoàn toàn thành công Có năm do thời tiết thuận lợi nên xoài đậu trái tốt, cũng có năm thất bại gây nên nhiều thiệt hại về kinh tế và khủng hoảng về niềm tin

Sở dĩ có tình trạng nầy là do có nhiều yếu tố chi phối như do loại thuốc sử dụng, ảnh hưởng của thời tiết, thời điểm xử lý, đáp ứng của từng loại thuốc đối với từng giống xoài và sâu bệnh Trong các yếu tố trên, lượng mưa ở thời điểm xử lý đã ảnh hưởng trực tiếp làm giảm khả năng thụ phấn và thụ tinh của bông xoài đồng thời mưa cũng làm gia tăng ẩm độ không khí gián tiếp làm tăng mật số của sâu bệnh nhất là rầy bông xoài và bệnh thán thư gây rụng bông xoài Tuy nhiên, do giá xoài trái vụ cao gấp 5 đến 7 lần nên nông dân vẫn quyết tâm theo đuổi Điều nầy đặt thành vấn đề nghiên cứu cho các nhà nông học quan tâm đến sự phát triển kinh tế của cây xoài bởi vì nếu đưa ra được một qui trình hoàn chỉnh về xử lý ra hoa trái vụ trên cây xoài cũng tức là giúp phát triển kinh tế hộ ở ĐBSCL

Từ đó cho thấy việc xử lý bằng hóa chất có ý nghĩa quan trọng hàng đầu Cho nên trong những năm gần đây việc kích thích ra hoa xoài bằng thuốc xử lý đã được áp dụng rất nhiều

Do nhu cầu ngày càng gia tăng nên có nhiều loại thuốc lấy tên thương mại khác nhau bày bán trên thị trường nhưng cũng từ những chất dẫn xuất chính như nitrat kali, ethylen, Thiourea, paclobutrazol, hợp chất dinh dưỡng giàu lân v.v Tuy nhiên tác dụng của các loại thuốc nầy trên các giống xoài có sai khác, có giống đáp ứng rất tốt với mọi loại, có giống đáp ứng chỉ với một loại thuốc nhất định mà thôi Ngoài ra, còn có giống cần xử lý 2 loại thuốc thì mới ra hoa tốt Như vậy, ngoài thuốc xử lý thì giống xoài cũng là một trong những yếu tố quan trọng trong việc xử lý ra hoa xoài

Các điểm nghiên cứu về xoài tại thị trấn Ba Chúc huyện Tri Tôn thuộc vùng Bảy Núi thường có tập quán trồng giống xoài Thanh Ca thích hợp với điều kiện đất đai vùng cao thuộc loại đất xám nghèo dinh dưỡng, không có nước tưới chỉ lệ thuộc hoàn toàn vào nước mưa Cho nên, dù giá trị thương mại của giống xoài nầy không cao nhưng vẫn được bà con nông dân trồng phổ biến Trong những năm gần đây, một số hộ nhà vườn đã bước đầu áp dụng biện pháp xử lý ra hoa trái vụ trên xoài Thanh Ca nhằm tăng thu nhập cải thiện đời sống nhưng đã gặp trở ngại trong việc sử dụng loại hóa chất và qui trình xử lý một cách có hiệu quả Do vậy,

đề tài “Trắc nghiệm bốn loại thuốc xử lý ra hoa trái vụ (Nitrat kali, Paclobutrazol, Thiourea và Ethephon) trên xoài Thanh Ca ở TT Ba Chúc, Tri Tôn An Giang” được tiến

hành nhằm giải quyết vấn đề trên

A MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I Mục tiêu

- Chọn được ít nhất một loại thuốc cho kết quả xử lý tốt nhất trên xoài Thanh Ca

- Có thể rút ra được một qui trình tối ưu về xử lý ra hoa xoài Thanh Ca trái vụ từ lúc xử lý đến khi thu hoạch thương phẩm

II Nội dung nghiên cứu

Bố trí các thí nghiệm theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCB) trên 3 điểm vườn xoài tại vùng nghiên cứu với 4 loại thuốc Nitrat kali, Paclobutrazol, Thiourea và Ethephon nhằm tìm ra loại thuốc hoặc công thức phối hợp hóa chất có hiệu quả tốt nhất cho việc xử lý

ra hoa xoài Thanh Ca

Trang 11

B ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng: Các vườn xoài Thanh Ca của các hộ nông dân ở Thị Trấn Ba Chúc đã đưa vào

kinh doanh có tuổi từ 7 năm trở lên

C CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Đặc điểm giống xoài Thanh Ca

Xoài Thanh Ca được trồng nhiều ở Bình Định, Cam Ranh (Khánh Hòa), Bình Chánh (Tp HCM), Bảy Núi (An Giang), hoặc trồng xen trong vườn cây ăn quả và vườn xoài ở các tỉnh ĐBSCL là một trong những giống ngon được người tiêu dùng ưa thích Đặc biệt cây có nhiều đợt quả trái vụ trong năm nên càng có giá trị kinh tế Quả hình trứng dài, nặng trung bình 350 – 580 g, vỏ quả màu vàng tươi, rất bóng nên hấp dẫn Thịt quả màu vàng tươi từ ngoài vào trong, ít xơ, nhiều nước, nhiều bột ăn ngon và thơm (Trần Thế Tục và Ngô Hồng Bình, 2001)

Từ giống Thanh Ca miền Tây Nam bộ có một dòng tách ra có tên là Thanh Ca chùm (Mỹ Tho, Rạch Giá, Cần Thơ) vì thường trên phát hoa có nhiều quả (có phát hoa tới 10 quả) nặng trung bình mỗi quả 200 – 300 g Lúc chín thịt quả có màu vàng tươi không đều Quả mọng nước, ngọt, ít bột, hơi có mùi nhựa thông nên người tiêu dùng không thích bằng xoài Thanh

Ca Giống xoài Thanh Ca ở vùng Bảy Núi có lẽ là Thanh Ca chùm nhưng có vỏ dầy rất thích hợp cho xuất khẩu vì chịu được vận chuyển nhiều ngày mà không hư Tuy nhiên, trái có nhiều xơ nên chất lượng xuất khẩu chỉ ở mức trung bình

1.2 Đặc điểm ra hoa của cây xoài

Phát hoa xoài mọc ở ngọn các chồi, các nhánh đã phát triển đầy đủ về dinh dưỡng Tuổi của chồi đáp ứng tốt nhất với các chất kích thích ra hoa từ 4 đến 9 tháng (Bugante, 1995 Trần Văn Hâu, 1997trích dẫn) Điều nầy đưa đến một ứng dụng là có thể gây ra hoa trái vụ ở bất

cứ thời điểm nào trong năm nếu ta có cây xoài đã thay lá và hầu hết số chồi tuổi lớn hơn 4 tháng Do đó, người ta có thể phun thuốc cho ra đọt non ngay sau khi hái trái để tranh thủ thời gian

Nguồn: TrầnVăn Hâu, 2005

Hình 1.1: Chín (9) giai đoạn trong quá trình ra hoa xoài

Theo Bugante (1995, Trần Văn Hâu 1997 trích dẫn) quá trình ra hoa xoài gồm 9 giai đoạn: giai đoạn ra đọt, giai đoạn tích lũy chất dinh dưỡng, giai đoạn phát triển rễ, giai đoạn nghỉ ngắn, giai đoạn đủ khả năng ra hoa, giai đoạn bắt đầu tượng hoa, giai đoạn miên trạng, giai đoạn quyết định sự ra hoa và giai đoạn trổ hoa (Hình 1.1)

Đâm chồi Tích lũy chất dinh dưỡng Phát triển rễ

Bắt đầu tượng hoa Đủ khả năng ra hoa Thời kỳ nghỉ ngắn

Thời kỳ miên trạng Thời kỳ quyết định sự ra hoa Trổ hoa

Trang 12

1.2.1 Giai đoạn đâm chồi (ra đọt)

Đâm chồi hay ra đọt là yếu tố quyết định khả năng ra hoa của xoài bởi vì hoa xoài chỉ ra hoa trên ngọn của chồi được hình thành trước đó từ 4 - 9 tháng Thông thường chồi non dễ xuất hiện trong mùa khô (do ảnh hưởng của nhiệt độ cao hơn là trong mùa mưa) nếu được bón phân hoặc tưới nước đầy đủ Khả năng ra đọt của cây xoài tùy thuộc vào tuổi của cây Cây xoài tơ có thể ra 2 - 3 đợt đọt trong năm Trái lại, đối với những cây xoài già mỗi năm chỉ

ra một đợt đọt hoặc đôi khi không ra Cây xoài thường ra đọt non sau các đợt bị “stress” như nhiệt độ thấp, ngập úng hoặc phun nitrat kali nguyên nhân do các mầm bị đưa ra khỏi thời kỳ ngủ nghỉ nhưng không đủ sức để phân hóa thành mầm hoa

1.2.2 Giai đoạn tích lũy chất dinh dưỡng

Sau khi ra đọt, chồi sẽ tích lũy chất dinh dưỡng cần thiết cho qua trình đậu trái và nuôi trái tiếp theo Nếu các chồi non không tích lũy được chất dinh dưỡng trong giai đoạn nầy, nghĩa là chồi ốm yếu, ngắn, số lá trên chồi ít khả năng đậu trái và giữ trái của cây sẽ kém

1.2.3 Giai đoạn phát triển rễ

Bởi vì sự sinh trưởng của cây xoài không liên tục nên sau khi chồi phát triển, rễ sẽ hoạt động để hấp thu chất dinh dưỡng Đây là giai đoạn thích hợp để bón phân bổ sung cho cây nếu nhận thấy đọt xoài nhỏ, mỏng hoặc ngắn có nhiều đốt hay mỏng mềm không đủ khả năng cho ra hoa

1.2.4 Giai đoạn nghỉ ngắn

Nếu chồi trưởng thành có thể kích thích cho chồi ra hoa Tuy nhiên, kích thích ra hoa trong giai đoạn nầy xoài sẽ cho ra bông “lá”, nghĩa là trên phát hoa xuất hiện theo sau là chồi non

1.2.5 Giai đoạn đủ khả năng ra hoa và bắt đầu tượng hoa

Từ lúc đâm chồi đến chồi đủ khả năng ra hoa vào khoảng 4 tháng Tuy nhiên, mầm hoa có thể hình thành trong thời gian từ 4 - 9 tháng tùy thuộc vào tháng đâm chồi Sau khi tượng hoa cây xoài sẽ sẵn sàng để kích thích ra hoa Do đó, đây là giai đoạn thích hợp để áp dụng các biện pháp kích thích cho xoài ra hoa Tuy nhiên, xoài thường đạt năng suất cao khi kích thích

ra hoa ở giai đoạn chồi được 6 tháng tuổi Nếu kích thích xoài ra hoa sớm hơn tỉ lệ đâu trái sẽ thấp và tỉ lệ rụng trái non sẽ rất cao có lẽ do cây không tích lũy đủ chất dinh dưỡng cần thiết

1.2.6 Giai đoạn miên trạng

Sau khi hình thành mầm hoa, cây sẽ đi vào thời kỳ miên trạng nếu không có điều kiện thích hợp để ra hoa Thời gian miên trạng dài cây càng khó ra hoa

1.2.7 Giai đoạn quyết định sự ra hoa

Giai đoạn nầy cây có thể ra hoa mà không cần phải kích thích nếu có các điều kiện thích hợp như:

- Có mùa khô kéo dài, thường vào đầu mùa mưa

- Cây ra đọt nhiều đợt nhưng không ra hoa trong một hay hai mùa trước

- Có những đợt lạnh (nhiệt độ thấp nhất dưới 200C trong khoảng 30 ngày) và theo sau là nhiệt độ cao

1.2.8 Giai đoạn ra hoa

Nếu có các yếu tố tác động đưa mầm hoa ra khỏi thời kỳ miên trạng, mầm hoa sẽ phát triển và cây sẽ ra hoa Các tác nhân ảnh hưởng lên sự phá vỡ miên trạng mầm hoa xoài là hiện

Trang 13

tượng cây xoài bị “sốc” bởi các yếu tố môi trường như nhiệt độ lạnh, ngập úng hoặc do sự tác động của hóa chất xử lý như nitrat kali.

Tóm lại, quá trình ra hoa của xoài trải qua nhiều giai đoạn mà mỗi giai đoạn đều có ý nghĩa nhất định Do đó, muốn điều khiển cho xoài ra hoa ta phải tác động các biện pháp thích hợp trong suốt quá trình chứ không chỉ đơn thuần một quá trình riêng lẻ nào

Theo Trần Thế Tục và Ngô Hồng Bình (2001): hoa ra theo từng phát hoa, phát hoa xoài mọc ở ngọn cành hoặc ở nách lá, có khi không mang lá (phát hoa thuần), có khi mang theo lá (phát hoa hỗn hợp) Phát hoa có chiều dài 10 – 50 cm Cuống phát hoa có màu sắc khác nhau Trên trục chung của phát hoa có 2 - 5 lần phân nhánh Một phát hoa có từ 100 - 4.000 hoa gồm hoa đực và hoa lưỡng tính Tỷ lệ hoa lưỡng tính tuỳ thuộc vào giống xoài Tỷ lệ nầy biến thiên từ 1 - 36% (Dương Minh, 1997, tập hợp từ nhiều tác giả) Khi hoa lưỡng tính đã đậu trái, bầu noãn (trái trứng cá) chuyển từ màu vàng sang vàng xanh rồi xanh nhạt; đến ngày thứ

7 chuyển hẳn sang màu xanh (Trần Thế Tục, Nguyễn Thị Thuận, 1997)

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra hoa xoài

1.3.1 Môi trường

Sự ra hoa xoài phụ thuộc vào nhiều yếu tố như yếu tố môi trường (nhiệt độ, ngập úng, khô hạn, tác động cơ giới), giống, tuổi cành, yếu tố dinh dưỡng, tình trạng sinh trưởng và năng suất năm trước của cây (Trần Văn Hâu, 2005) Theo Phạm Thị Hương, Trần Thế Tục (2000): Muốn có quá trình phân hóa mầm hoa xoài cần phải có một trong hai yếu tố sau: nhiệt độ thấp

và khô hạn Ngoài ra nhiệt độ và lượng mưa là 2 yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến quá trình ra hoa Nhiệt độ quá thấp dưới 10oC cây không ra hoa, lượng mưa quá nhiều ảnh hưởng lớn đến sự ra hoa Nhiều tác giả nghiên cứu về xoài cho rằng điều quan trọng nhất đối với cây xoài là cần 2 - 3 tháng mùa khô, không có mưa để cây xoài ra hoa đậu quả tốt Trong khi đó

có tác giả khác cho rằng cần ít nhất 5 tháng mùa khô để hạn chế tối đa sinh trưởng sinh dưỡng

và kích thích xoài phân hóa mầm hoa đồng thời tạo điều kiện cho quá trình ra hoa và đậu quả được thuận lợi

Trong một nghiên cứu về 6 giống xoài nhập nội và 3 giống xoài địa phương ở miền Bắc Việt Nam cho thấy: Nhiệt độ từ 18 - 25o C với ẩm độ từ 55 - 75% là thích hợp cho xoàinở hoa

và mở bao phấn (Ngô Hồng Bình và ctv, 1999) Thời gian bắt đầu và kết thúc nở hoa từng đợt trên từng giống cây chịu ảnh hưởng nhiều của ẩm độ Nếu nhiệt độ cao, ẩm độ thích hợp thì tiến trình nở hoa diễn ra nhanh và ngược lại Hoa xoài nở rộ vào lúc 8 giờ sáng và hoàn thiện

nở hoa vào trước 12 giờ trưa (Ngô Hồng Bình và ctv, 1999)

1.3.2 Tuổi lá

Theo Trần Văn Hâu (2005): Lá có vai trò quan trọng trong sự kích thích ra hoa Lá còn non không có khả năng thúc đẩy sự ra hoa vì mầm hoa chỉ khởi phát trên những chồi sinh trưởng miên trạng là những chồi mang lá đã phát triển hoàn toàn, có màu xanh đậm và cứng

do đã hóa lignin Sự ra hoa đáp ứng với điều kiện ra hoa bị giảm bớt so với tuổi của cành Chồi còn non, mang lá có màu xanh sáng, hay lá già thường ra đọt thay vì ra hoa khi có điều kiện kích thích thích hợp cho ra hoa

1.3.3 Chất dinh dưỡng và chất đồng hóa hay tỉ số C/N

Để giải thích vai trò của chất đạm và chất carbohydrate biến đổi trên sự ra hoa xoài, Chadha và Pal (1986 Trần Văn Hâu, 2005 trích dẫn) khẳng định rằng không có sự liên quan giữa sự phân hóa mầm hoa với chất đạm và carbohydrate trong chồi nhưng chất đạm và carbohydrate dự trữ lại giữ vai trò quan trọng Cũng theo Trần Văn Hâu, 2005 trích dẫn từ Phavaphutanon và ctv (2000) khảo sát sự biến đổi của các chất carbohydrate không cấu trúc (TNC – total non - structural carbohydrate) trên xoài Nam Dok Mai dưới ảnh hưởng của việc

Trang 14

xử lý Paclobutrazol cho thấy rằng sự tích lũy của chất carbohydrate liên quan đến việc dừng

sự sinh trưởng sinh dưỡng Khi cây xuất hiện 2 – 3 đợt đọt đã gây ra sự biến động hàm lượng TNC trong chồi tận cùng Sự suy giảm của TNC dự trữ cho thấy rằng quá trình ra đọt và ra hoa đòi hỏi 1 lượng rất lớn các sản phẩm đồng hóa nhưng đã không được đáp ứng đầy đủ và chất carbohydrate dự trữ trong lá là nguồn cung cấp dễ dàng hơn trong thân Trong giai đoạn

ra hoa, kết quả cho thấy rằng hàm lượng TNC giảm rất mạnh ở chồi vừa mới hình thành

1.3.4 Gibbereline

Theo Trần Văn Hâu (2005) trích dẫn từ Kachru và ctv (1971) cho rằng chính hàm lượng

Gibbereline trong chồi cao đã làm ngăn cản sự ra hoa xoài và gây ra hiện tượng trái cách niên

vì qua thí nghiệm ông nhận thấy rằng hàm lượng Gibbereline trong năm nghịch (off - year) cao hơn trong năm thuận (on - year) và khi phun Gibbereline ở nồng độ 400 ppm đã làm ức chế sự ra hoa 2 tuần trong năm thuận Trong giai đoạn phân hóa mầm hoa và giai đoạn đầu của quá trình phân hóa tế bào trong những loài cây ra trái cách niên, sự ra hoa có thể bị ngăn cản bởi sự hiện diện của GA3 và GA4/7 trong trái đang phát triển Cũng theo Trần Văn Hâu (2005) trích dẫn từ Tongunpai và ctv (1997) khi khảo sát ảnh hưởng của Paclobutrazol trên hàm lượng GA nội sinh đối với sự ra hoa xoài Khiew - Savoey tìm thấy rằng sự ra hoa tăng đồng thời với sự giảm hàm lượng GA nội sinh trong chồi ngọn Cây xoài bắt đầu ra hoa khi hàm lượng chất như GA (GA - like) nội sinh trong chồi giảm đến mức không phát hiện được Lúc nầy, nếu cây được xử lý Paclobutrazol với nồng độ cao sẽ ra hoa sớm hơn nồng độ thấp Pal và Ram (1978, Trần Văn Hâu 2005 trích dẫn) tìm thấy rằng hàm lượng GA1,GA3, GA4,

GA5, GA7, GA9 trong chồi non ở năm thuận thấp hơn năm nghịch Các kết quả trên đã chứng

tỏ rằng GA ngăn cản sự tượng mầm hoa hơn là ngăn cản sự kích thích ra hoa

1.4 Hóa chất xử lý ra hoa xoài

1.4.1.1 Cơ chế tác động của nitrate kali

Theo nghiên cứu của Bondad (1989, Dương Minh 1997 trích dẫn) cho thấy tác động chính của KNO3 trên sự ra hoa xoài khi phun lên lá là nhờ ion NO3- (nhưng các dạng phân nitrat khác cho hiệu quả kém hơn) Chỉ 24 giờ sau khi phun, hoạt động của enzyme khử nitrate (nitrate reductase) đã đạt đến tối đa (30 – 50 mg NO3-/g/h) để biến nitrate  nitrit  ammonium Quá trình biến dưỡng trong cây sẽ tổng hợp ammonium thành methionin và quá trình ethylene hóa sẽ giúp tổng hợp thành ethylene (tập trung ở chồi mầm), kích thích xoài ra

Trang 15

hoa Tuy nhiên, trên thực tế quá trình nầy xảy ra rất nhanh (chỉ sau 1 - 3 ngày ở xoài Carabao)

so với việc xử lý ethylene trực tiếp

1.4.1.2 Đáp ứng của giống đối với nitrate kali

Theo Dương Minh và ctv (1997) tổng hợp từ nhiều khảo sát về việc xử lý KNO3 trên xoài

ở ĐBSCL cho thấy hiệu quả của biện pháp nầy thay đổi tùy theo tuổi lá, tình trạng của cây và nhất là giống trồng Trên thực tế, có thể tạm chia thành 3 nhóm xoài đáp ứng với việc xử lý KNO3 và ra hoa:

- Nhóm dễ ra hoa: Thanh Ca, xoài Bưởi, Hòn

- Nhóm tương đối khó ra hoa: Cát Hòa Lộc, Cát trắng Cần Thơ, Cát Chu

- Nhóm khó ra hoa: Thơm, Cát Bồ

Các loài xoài hoang dại (Mangifera altissima và M odorta) cũng dễ đáp ứng với KNO3 để

ra hoa Một vài loài cây ăn trái tại ĐBSCL như mận, thanh long, nhãn cũng tỏ ra có đáp ứng một phần với KNO3 để cho ra hoa trái vụ hoặc giúp tăng số hoa và kích thước của phát hoa

Theo Trần Thế Tục và Ngô Hồng Bình (2001) tổng hợp từ các tài liệu của Philipines cho

biết tất cả các giống đa phôi đều phản ứng tốt với KNO3, còn hầu hết các giống xoài thuộc nhóm đơn phôi không phản ứng với KNO3

1.4.1.3 Liều lượng nitrate kali

Theo khuyến cáo, KNO3 dùng ở nồng độ 1,0 - 2,5% phun lên các lá ở đầu cành (với lượng phun 8 - 16 lít/ cây cao trên 8 m) Sau 4 - 5 ngày, nếu cành không ló mầm hoa phải tái xử lý với liều lượng giảm phân nửa (Dokmaihom và ctv., 1996 do Dương Minh, 1997 trích dẫn) Tuổi lá xoài còn non (4,5-7,5 tháng tuổi) phải xử lý KNO3 cao hơn xoài già và nhiều lần hơn, nhưng không được quá 4% vì dễ làm ngộ độc cây

Theo Trần Thế Tụcvà Ngô Hồng Bình (2001) vì lý do an ninh quốc phòng, KNO3 nguyên chất không được sử dụng, mà chỉ được phép dùng các hợp chất có chứa KNO3 như: Flowerset (chứa 240 g KNO3/lít) và Miracle Blum Powder (chứa 95% Nitơ)

Flowerset với nồng độ 15 cc/ lít và Miracle Blum Powder nồng độ 15 g/ lít phun lên lá vào tháng giêng giống xoài Eldon 10 tháng tuổi ghép trên xoài địa phương, kết quả cho thấy

cả 2 chất đều làm tăng năng suất và trọng lượng xoài Eldon một cách đáng kể so với không phun

Một thí nghiệm khác với xoài Haden 3 tuổi, gốc ghép là giống xoài địa phương vào tháng 3dl dùng các hóa chất Flowerset với 2 nồng độ 10 g và 40 g KNO3/ lít; Paclobutrazol 3 cc/lít Các công thức xử lý nitrate kali đều có ảnh hưởng tích cực kích thích xoài ra hoa đậu quả, trong đó nồng độ 10g/ lít cho hiệu quả tốt nhất

1.4.2 Paclobutrazol (viết tắt là PBZ, tên thương mại là Cultar)

PBZ là một chất thuộc nhóm Anti - Gibberelline tổng hợp có tác dụng ức chế sinh trưởng sinh dưỡng và kích thích sinh trưởng sinh thực Chất nầy được sản xuất và sử dụng ở một số nơi trồng xoài như Thái Lan, Indonesia, Đài Loan, Pakistan, Ấn Độ, Úc, Mehico để điều khiển xoài ra hoa trái vụ hoặc ra hoa sớm hơn nhằm kéo dài thời gian thu hoạch và cung cấp quả xoài, tránh tình trạng quá tải về sản phẩm trong vụ thu hoạch chính làm cho giá xoài ở các nước nầy giảm rất mạnh Kết quả xử lý còn phụ thuộc vào giống, điều kiện thời tiết và tình hình sâu bệnh của vườn xoài (Phạm Thị Hương, Trần Thế Tục, 2001)

1.4.2.1 Tính chất cơ bản của PBZ

Trang 16

Paclobutrazol là một chất điều hòa sinh trưởng được cây hấp thụ qua lá, thân và rễ, vận chuyển qua mô mộc đến các chồi đang tăng trưởng và ức chế việc tổng hợp Gibberelline, làm chậm sự phân bào để giúp cho cây ra hoa hoặc ức chế sự tăng trưởng chồi (để làm thấp tán cây) tùy nồng độ xử lý.

Tên hóa học của PBZ là (2RS, 1,2,4-triazol-1-yl=pentan-3-ol Công thức hóa học C16H20ClN3O Tên thương mại thường dùng là Cultar Ở Việt Nam đã có bán trên thị trường với các nhãn hiệu Paclobutrazol dạng chai nhựa 1 lít của Công ty Dịch vụ kỹ thuật Đồng Tháp Độ độc trên chuột cái LD50 = 1330 mg/kg, trên thỏ > 2000 mg/kg (www.efw.bpa.gov/environmental_services/Document_Library)

3RS)-1-(4-chlorophenyl)-4,4-dimethylethyl-2-(1H-1.4.2.2 Sự vận chuyển PBZ trong cây

Ngoài đường theo bó mộc, PBZ còn có thể được vận chuyển xuyên qua các bì khổng và

có thể đi thẳng theo đường vỏ cây PBZ di chuyển bên trong mạch gỗ và hướng di chuyển là hướng lên theo chiều thoát hơi nước Theo kết quả thí nghiệm của Early và Martin (1998, Nguyễn Thị Thùy Dung, 2001 trích dẫn) khi xử lý qua đất trên cây đào (peach) đặt trong môi trường dinh dưỡng và dùng carbon đánh dấu của phân tử PBZ, sau 9 ngày xử lý cho thấy hoạt động của carbon đánh dấu định vị trong mô gỗ của cây và chúng phân bố chủ yếu ở phần thân bên dưới và lá Hàm lượng carbon đánh dấu cao nhất ở lá tương đương với hàm lượng ở cả thân và rễ Điều nầy chứng tỏ rằng PBZ di chuyển theo mô gỗ để đi lên các phần trên của cây

1.4.2.3 Ảnh hưởng đến sự ra hoa, năng suất và phẩm chất trái

Ở Thái Lan, xử lý gốc bằng PBZ cho giống Kiew Sawoey với liều lượng 6 g/ cây sau khi xuất hiện lộc 14 ngày và sau 91 - 112 ngày thì cây phân hóa mầm hoa Sau khi xử lý PBZ cứ

2 tuần 1 lần phun 6,5% Thiourea có tác dụng phá ngủ mầm làm cho 79 - 100% cây ra hoa trong khoảng thời gian 105 - 150 ngày sau xử lý PBZ Những cây chỉ được xử lý PBZ mà không được xử lý Thiourea thì 150 ngày sau khi xử lý PBZ mới ra hoa được 50,8% (Charnvichit, 1989 do Trần Thế Tục 2001 trích dẫn) Ở Ấn Độ xử lý PBZ với giống xoài Alphonso bằng cách tưới vào đất dưới tán cây 5 và 10 g/ cây và phun lên lá (nồng độ 500, 1.000 và 2.000 ppm) 2 lần vào các thời gian 15/7dl và 15/8dl cho thấy ở tất cả các nồng độ PBZ đều kìm hãm sinh trưởng dinh dưỡng trong thời gian tháng 9 - 10 và kích thích ra hoa sớm rất đồng đều ở 2 năm làm thí nghiệm Thời gian ra hoa sớm hơn so với đối chứng phun nước lã là 20 - 25 ngày với tỷ lệ cây ra hoa 76 - 85,6% Về năng suất các công thức có xử lý đạt trung bình 68,3 - 76,9 kg/ cây so với 13,3 kg/ cây ở công thức đối chứng Ở Australia thí nghiệm xử lý trong 3 năm PBZ với giống xoài Kensington Pride 3, 4, 5 tuổi cho kết quả là chất nầy kìm hãm sinh trưởng dinh dưỡng trong tất cả các thí nghiệm, làm tăng có ý nghĩa ra hoa đậu quả, trọng lượng và màu sắc trái không thay đổi Bón PBZ vào đất hiệu quả hơn phun lên lá, tưới quanh gốc cây có hiệu quả hơn tưới nhỏ giọt Liều lượng 4 g/ cây là thích hợp, nếu cao hơn liều lượng này sẽ làm kìm hãm quá mức sinh trưởng của cây và làm giảm số lượng hoa đến mức không chấp được Khi xử lý cần chú ý đến đặc điểm của đất, tuổi cây và nồng

độ thích hợp (Winston EC, 1989 do Trần Thế Tụcvà Ngô Hồng Bình 2001 trích dẫn) Trần Văn Hâu (1997) cho biết khi xử lý PBZ với liều lượng 5 g a.i/ cây kích thích được ra hoa mùa nghịch (19,4%) trên cây xoài Cát Hòa Lộc 8 năm tuổi và thời gian từ khi tưới PBZ đến khi nhú hoa là 85 ngày tại Đồng Tháp và tại Cần Thơ là 97 ngày

PBZ ảnh hưởng đến năng suất do làm tăng số trái trên cây, không ảnh hưởng đến đến kích

cỡ trái Phun PBZ ở nồng độ 2.000 ppm sẽ làm số trái trên cây cao hơn (126 trái) và phần trăm ra hoa là 67% khi so sánh với KNO3 ở nồng độ 26.000 ppm (Voon, 1991, do Trần Văn Hâu 2005 trích dẫn)

Khader (1990, Trần Văn Hâu 2005 trích dẫn) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của PBZ lên

sự chín, chất lượng và sự tồn trữ trái xoài đã kết luận rằng phun hóa chất nầy ở nồng độ 2.000

Trang 17

-3.000 ppm sẽ làm phẩm chất trái tốt hơn khi đánh giá TSS (tổng số chất rắn hòa tan), hàm lượng acid ascorbic, diệp lục tố, carotenoid, amylase và hoạt động peroxidase từ lúc thu hoạch đến tồn trữ trong phòng ở điều kiện môi trường bình thường Một thí nghiệm khác của Trần Văn Hâu (2005) tiến hành tại Cần Thơ cũng chứng tỏ rằng việc xử lý Thiourea sau khi tưới PBZ đã không làm ảnh hưởng đến các chỉ tiêu đánh giá phẩm chất trái xoài như TSS, tỉ

1.4.3 Thioure

Thioure (Thiocarbamide) có công thức hóa học là CH4N2S và công thức phân tử là

H2NCSNH2. Dung trọng d: 1,405 Chế phẩm dạng tinh thể trắng hoặc bột Độ độc trên chuột theo đường tiêu hóa LD50 = 750 mg/kg (http://www.inchem.org/documents/cicads/cicads/cicad49.htm.) Earlee là tên thương mại của Thiourea được sử dụng lần đầu tiên tại Philipines để phun lên các đầu cành xoài tạo sự ra hoa rất hiệu quả Nó có tác dụng phá vỡ miên trạng, thúc đẩy sự phân hóa mầm hoa như nitrate kali nhưng cũng có thể kích thích cho xoài ra đọt Thioure kích thích xoài ra hoa 100% ở giống Pahutan, 85% ở giống Carabao Thioure có hiệu quả hơn nitrate kali trong việc giúp xoài ra hoa mùa nghịch đối với các giống Pahutan, Carabao và Pico (Bondad, 1994, Nguyễn Thị Thùy Dung 2001 trích dẫn) Thioure có hiệu quả hơn nitrate kali gấp 2 lần (Nguyễn Lê Lộc Uyển, 2001) Hiện nay, trên thị trường có sản phẩm Dollar 0.2X là tên thương mại của Thioure do Công Ty Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp Đồng Tháp phân phối hay RABON có chứa 99% Thioure do Công Ty TNHH Hoa Kiều sản xuất

Liều lượng tốt nhất cho Thioure là 20 g/ lít nước nhưng ở liều lượng 10 g/ lít nước cũng

có thể gây cho ra hoa Ở Thái Lan liều lượng được khuyến cáo là 76 - 80g/ 20 lít nước (Dokmaihom, 1996, Nguyễn Thị Thùy Dung 2002 trích dẫn) Tuy nhiên, việc gây ảnh hưởng bất lợi cho cây khi tăng liều lượng Thioure cũng đã được nghiên cứu trên giống xoài Pahutan khi tăng liều lượng Thioure cao hơn 20 g/ lít nước sẽ gây ra cháy lá nghiêm trọng (Bondad,

1994, Nguyễn Thị Thùy Dung 2002 trích dẫn) Riêng đối với giống xoài Cát Hòa Lộc ba năm tuổi khi sử dụng Thioure ở nồng độ 40 g/ 8 lít nước và 60 g /8 lít nước sẽ thúc đẩy sự ra hoa trái vụ ở giống xoài nầy (Nguyễn Thị Thùy Dung, 2002 trích dẫn)

Dùng Thioure để xử lý xoài Cát Hòa Lộc ra hoa không ảnh hưởng đến một số đặc tính phẩm chất trái như tổng số chất rắn hòa tan (TSS), pH, đường tổng số và hàm lượng tinh bột trên giống xoài nầy (Nguyễn Lê Lộc Uyển, 2001)

Trang 18

Theo Trần Văn Hâu, Nguyễn Việt Khởi và ctv (2003) việc xử lý ra hoa bằng PBZ với liều lượng 1 g a.i./m đường kính tán và sau đó kích thích ra hoa bằng Thioure nồng độ 0,5% có tỉ

lệ ra hoa trong mùa nghịch (42%) và cả năm (85%) cao hơn so với chỉ xử lý riêng lẻ một loại hóa chất Thioure hoặc PBZ

Phun Thioure kích thích ra hoa (KTRH) cho xoài Cát Hòa Lộc 5 năm tuổi ra hoa trong mùa nghịch ở giai đoạn 3 tháng sau khi xử lý (SKXL) PBZ bằng cách tưới vào đất với liều lượng 1 g a.i./ m đường kính tán cho tỉ lệ ra hoa cao (58%), phát hoa dài (52,2 cm) năng suất tăng (28,7 kg/cây) do có số trái/cây cao (68,4 trái) Tuy nhiên, không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức trên một số chỉ tiêu đánh giá phẩm chất trái như tỉ lệ thịt trái, TSS và TA

Phun Thioure KTRH cho xoài Cát Hòa Lộc 5 năm tuổi trong mùa sớm (tháng 11) ở giai đoạn 45 ngày SKXL PBZ bằng cách phun lên lá ở nồng độ 1.000 ppm làm tăng tỉ lệ ra hoa (67,9%), tổng số trái/cây (119,3 trái/cây) và năng suất (46 kg/cây) cao hơn so với biện pháp chỉ KTRH bằng Thioure hoặc ở những thời điểm khác (Trần Văn Hâu và Nguyễn Thị Thùy Dung, 2003)

Theo Trần Văn Hâu và Nguyễn Bảo Vệ (2003) xử lý ra hoa xoài Châu Hạng Võ bằng cách phun Thioure nồng độ 0,5% hoặc phun nitrate kali nồng độ 1,5% (sau khi đã kích thích tượng mầm hoa bằng cách tưới PBZ ở nồng độ 1 g a.i./m đường kính tán cây) không làm ảnh hưởng đáng kể đến thời gian nhú phát hoa và nở hoa, thời gian từ khi trổ đến thu hoạch và cũng không ảnh hưởng đến phẩm chất của trái Nhưng biện pháp nầy có tác dụng mạnh mẽ đến tỉ lệ đọt ra hoa và năng suất trái so với cách XLRH của nông dân Đặc biệt là phun Thioure cho năng suất trái cao nhất, cao hơn gấp đôi cách XLRH của nông dân (phun Dola 0.2X) Như vậy, phun Thioure nồng độ 0,5% sau khi tưới PBZ 1 g a.i./ m đường kính tán giúp xoài Châu Hạng Võ ra hoa nhiều và năng suất cao mà không ảnh hưởng đến phẩm chất trái

Sự có mặt của liên kết đôi trong phân tử khiến êtylen có 3 phổ hấp thụ cực đại ở vùng tử ngoại Đó là 161, 166 và 175 nm Phân tử êtylen có ái lực đáng kể với lipit, tan kém trong nước, tan tốt hơn trong rượu và tan rất tốt trong ête Ứng với nồng độ 1 ppm trong pha khí ở

250C, êtylen có nồng độ phân tử trong nước là 4,4.10-9 M

Ở dạng thông thường, êtylen không thể hiện rõ là một phytohormone nhưng trong cây với nồng độ rất thấp (0,001 – 0,1µl/ l) êtylen đã gây đóng mở các quá trình sinh lý của cây (kìm hãm sinh trưởng, gây chín…) Trong cơ thể thực vật, có sự điều hoà nồng độ êtylen ở các mô khác nhau của cây Nồng độ êtylen được kiểm soát bởi tốc độ sản sinh ra nó Nếu có hiện tượng dư thừa êtylen trong mô, êtylen sẽ được khuếch tán vào môi trường

1.4.4.2 Ethephon

Theo Nguyễn Mạnh Khải và Trần Hạnh Phúc (2000): Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, chất tổng hợp có tác dụng tương tự etylen được sử dụng thương mại nhiều hơn cả là Ethephon (2-cloroethylen phosphoric acid) còn được gọi là Ethrel 2-CEPA Ethephon là một chất lỏng không màu, không mùi Nó được ổn định trong dạng acid và bị phá hủy ở pH lớn hơn 3,5 Hàm lượng hoạt chất 400 mg/ l, tỷ trọng 1,2 g/ml, pH = 3 Nó dễ hòa tan trong nước,

Trang 19

ít độc với người và gia súc Thử nghiệm độ độc trên chuột cống theo đường tiêu hóa cho thấy

LD50 = 7.000 mg/kg Ethephon không hại đối với ong, ít độc đối với cá

Ethephon không liên kết chặt chẽ trong mô cây trồng Nó có thể được loại bỏ dễ dàng bằng cách rửa Trong cây, etylen được giải phóng từ Ethephon theo sơ đồ sau:

O

ClCH2-CH2-P-OH CH2 = CH2 + H3PO4 + HCl

OH

Ethephon đã được sử dụng một cách thành công trong nông nghiệp để làm chín nhanh quả

và chín đồng loạt quả; làm rụng lá một số cây trồng như bông, đậu nành… giúp cho việc thu hoạch bằng máy một cách dễ dàng; làm cảm ứng ra hoa trái vụ ở xoài, dứa; làm tăng sự tiết nhựa mủ cao su tăng sản lượng mủ và giảm công lao động; làm tăng tỉ lệ hoa cái ở cây dưa chuột; làm tăng năng suất củ khoai tây

Ethephon ở dạng lỏng, chứa 50% hoạt chất, có nhiều màu sắc khác nhau từ không màu tới nâu hoặc xanh Ở Việt Nam, tháng 11/95, một dự án có tên là “Sản xuất thử nghiệm chế phẩm Ethephon” đã được Viện Sinh học nhiệt đới thành phố HCM thực hiện

Theo Nguyễn Mạnh Khải và Trần Hạnh Phúc (2000):

Xoài, nhãn là loại cây ăn quả quý ở Việt Nam Tạo ra quả xoài, nhãn trái vụ là mơ ước của nông dân Nam bộ, đặc biệt là vào dịp Tết Nguyên Đán Để có trái cây chín vào dịp Tết, vào đầu tháng 8 âm lịch (với nhãn), vào đầu tháng 9 âm lịch (với xoài), người ta dùng Ethephon 0,1% phun ướt đều cho lá xoài, nhãn Lá các loại nầy sẽ xanh đậm hoặc co rúm lại một chút Sau khoảng 30 ngày phun, hoa hình thành

1.5 Mùa vụ ra hoa xoài

Thời gian trổ hoa xoài khác nhau tùy theo từng vùng vì phụ thuộc vào thời tiết của từng địa phương có nghĩa là tùy thuộc vào cao độ và vĩ độ Ở Mexico mùa xoài bắt đầu từ cuối tháng 4 đến tháng 9; ở Israel từ tháng 7 đến tháng 10; ở Brasil từ cuối tháng 9 đến tháng 2 năm sau, ở Nam Phi mùa xoài bắt đầu vào tháng 1, còn ở Venezuela, Peru bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 5 (Haines, 1991; Trần Văn Hâu 2005 trích dẫn)

Ở Việt Nam, hoa xoài thường nở rộ từ tháng 12 đến tháng 1 dl Ngoài thời gian chính nầy cũng không hiếm cây ra hoa trái vụ nhất là miền Nam không có rét (Vũ Công Hậu, 2000) Theo Trần Thế Tục và Ngô Hồng Bình (2001) thì ở các tỉnh phía Nam xoài thường ra hoa vào tháng 10 và kết thúc vào tháng 3 năm sau, còn ở các tỉnh phía Bắc xoài thường ra hoa muộn hơn tập trung vào tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau Giống xoài Cát Hòa Lộc ra hoa sớm nhất vào cuối tháng 9, rộ vào cuối tháng 11 đến tháng 1 năm sau, muộn hơn nữa tới tháng 3 xoài vẫn tiếp tục ra hoa Những cành ra hoa sớm nếu không đậu trái thì bẻ phát hoa đi vẫn tiếp tục ra lứa hoa khác (Trần Thế Tục và Nguyễn Thị Thuận, 1997) Giống xoài Thanh

Ca ở ĐBSCL thường nở hoa từ cuối tháng 11 khi có gió Đông Bắc thổi về trước đó từ 20 ngày đến 1 tháng và kéo dài đến hết tháng 2dl

1.6 Quy trình xử lý ra hoa xoài

Theo Trần Văn Hâu (2003) quy trình xử ra hoa xoài Cát Hòa Lộc bằng KNO3 hoặc Thiourea được trình bày theo Hình 1.2 như sau:

- Giai đoạn tiền xử lý ra hoa: Trước khi XLRH 10 – 15 ngày, phun MKP (0-52-34)

liều lượng 30 g/10 lít nước để giúp cho lá mau trưởng thành, tăng tỉ lệ đậu trái và ngăn cản cây ra đọt non đồng thời phun thuốc trừ bệnh thán thư và thuốc diệt rầy bông xoài thường sống trong lá xoài, chờ khi cây có bông thì di chuyển đến tấn công ở chồi non

Trang 20

- Xử lý hóa chất: khi lá chuyển từ màu xanh nhạt sang màu xanh đậm, dùng tay bóp

lá còn dẻo, chưa dòn Chọn lúc trời khô ráo phun hóa chất đều lên mặt lá Đối với KNO3 nồng

độ 150 – 200 g/10 lít nước Phun lại lần 2 với nồng độ bằng 1/2 lần thứ nhất nếu sau 5 -7

ngày không thấy dấu hiệu ra hoa (lú cựa gà).

- Giai đoạn “rớt nhụy”: không phun các loại thuốc trừ sâu, bệnh để không làm ảnh

hưởng đến quá trình thụ phấn của hoa Sau khi đậu trái 7 - 10 ngày (khi thấy “trứng cá”) phun phân bón lá như Bayfolan: 15 - 30 - 15 để làm giảm sự rụng trái non Giai đoạn nầy cần chú ý phun thuốc trừ rầy bông xoài, bệnh phấn trắng

Nguồn: TrầnVăn Hâu, 2005

Hình 1.2: Quy trình xử lý ra hoa trái vụ trên cây xoài

- Giai đoạn phát triển trái:

+ 1,5 tháng sau khi đậu trái: Phun phân bón lá để làm giảm rụng trái non

+ 2 tháng sau khi đậu trái: Bón 1 - 2 kg phân 20 - 20 - 15 để giúp trái phát triển tốt + 3 tháng sau khi đậu trái: Phun 10 - 15 cc/ lít phân 6 - 30 - 30 để giúp tạo sáp vỏ trái

Cần chú ý phòng trừ các loại sâu bệnh như: Sâu đục trái, ruồi đục trái và bệnh thán thư

1.7 Một số sâu bệnh chính gây hại trên cây xoài

Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Võ Thanh Hoàng (1995): Một số sau bệnh chính trên cây xoài gồm có:

1.7.1 Rầy bông xoài (Idiocerus sp)

Đây là một đối tượng gây hại rất quan trọng trên tất cả các vùng trồng xoài ở vùng ĐBSCL nói chung, cũng như vùng đồi núi An Giang nói riêng Có thể nói đây là một loài gây hại quan trọng thứ nhất, loài này hiện diện trên 95% ở các vườn điều tra tại Bảy Núi - An Giang (tháng 9/2002) Chúng có thể tấn công gây hại 100% số cây trên vườn và là thiệt hại trên 90% số bông trên cây, theo nông dân cho rằng nếu loài này không phòng trị có thể thất thu năng suất hoàn toàn Chúng tấn công rất sớm từ khi bắt đầu nhú bông đã có sự hiện diện, chích hút nhựa ở cuống bông cho đến khi phát hoa hoàn toàn làm cho bông đen và rụng đi Đồng thời đây cũng là cơ hội rất thích hợp cho các loài nấm bồ hống tấn công do chúng tiết ra mật ngọt Do đó làm cho bông thối đen và rụng đi không thể đậu trái được Để đối phó loài dịch hại này, gần 100% hộ nông dân trồng xoài Bảy Núi – An Giang phải dùng thuốc hóa học

Ra đọt, pháttriển cành, lá Ra hoatrái vụ

Trang 21

1.7.2 Sâu đục trái (Deanolis albizonalis)

Loài này gây hại rất quan trọng, chúng hiện diện gần như hầu hết ở các vườn điều tra, cũng giống như ở các tỉnh ĐBSCL trong những năm gần đây Nhưng sự bộc phát và lây lan của chúng rất nhanh, theo nông dân vùng Bảy Núi – An Giang thì loài này mới xuất hiện và gây hại quan trọng trong vài năm gần đây Theo kết quả chúng tôi điều tra (tháng 9/2002) chúng hiện diện trên 55% trên các vườn điều tra, và gây thất thu năng suất từ 80-90% trái trên vườn và khả năng thiệt hại của chúng ngày càng cao Để phòng trị đối tượng này trên 80% nông dân đã phải sử dụng thuốc hóa học phòng trị là chủ yếu Chúng tấn công và gây hại ở giai đoạn trái, từ khi trái bằng ngón tay út chúng bắt tấn công cho đến khi sắp thu hoạch Thời điểm gây hại nặng và tập trung nhất là sau khi trái được 45 ngày tuổi Thành trùng là một loài bướm chúng hoạt động và đẻ trứng vào ban đêm, trứng được đẻ vào phần vỏ trái, ở gần cuống trái (từ 1/3 trên của trái) Sau khi đẻ 2 - 3 ngày trứng sẽ nở và bắt đầu tấn công vào phần thịt trái và chui vào ăn phá phần hột làm cho trái bị hư và thối đi Có thể có nhiều sâu cùng tấn công trên một trái Sau khi ăn hết phần hột của trái này chúng có thể bò sang tấn công trái lân cận và đến tuổi 5 chúng chui ra ngoài và nhả tơ xuống đất làm nhộng Cả ấu trùng và thành trùng của loài này rất dễ nhận diện Ấu trùng có 5 tuổi, chúng có những khoang trắng đỏ xen

kẽ trên lưng Thành trùng có chiều dài sải cánh khoảng trung bình 27,5 mm, thân có màu nâu Cánh trước có màu nâu, cánh sau có màu xám trắng

1.7.3 Bù lạch (còn gọi là bọ trĩ) (Scirtothrips dorsalis)

* Triệu chứng gây hại

Gây hại chủ yếu trên chồi, lá non, bông và trái non Cả thành trùng và ấu trùng đều gây hại bằng cách chích hút Trên chồi lá non, bù lạch thường chích trên các rìa lá làm lá phát triển không bình thường, cong queo Trên chồi, nếu bị tấn công mạnh chồi sẽ không cho lá và trái Mật số thường cao trên bông, khi bị gây hại nặng, bông sẽ bị rụng Vào giai đoạn tượng trái non, nếu trái bị bù lạch gây hại, chung quanh vùng cuống trái sẽ xuất hiện một vòng màu xám Nếu mật số cao, trái non sẽ bị biến dạng và rụng Trên trái lớn, nếu bị nhiễm bù lạch, trái cũng có thể biến dạng da trái bị đen và rụng Mật số thường cao vào giai đoạn ra nụ hoa

và trổ, khi thời tiết nóng và khô hạn

* Đặc điểm hình thái

- Trưởng thành có kích thước rất nhỏ, dài khoảng 0,1 - 0,2 mm, màu vàng đến vàng cam, cánh hẹp, hai bên rìa cánh có nhiều sợi lông nhỏ dài

- Trứng hình bầu dục, màu vàng nhạt

- Ấu trùng râu có 7 đốt, không cánh

- Nhộng có màu vàng sậm, mắt kép và mắt nhỏ có màu đỏ, mầm cánh xuất hiện, râu đầu ngắn

* Đặc điểm sinh học và sinh thái

Vòng đời bù lạch từ 13 - 20 ngày Sau khi vũ hóa khoảng 3 ngày thì con cái bắt đầu đẻ trứng, số lượng khoảng 20 - 25 trứng Trứng thường được đẻ trong mô lá non, trái non hoặc trong cành non

* Biện pháp phòng trừ

Trang 22

- Thu nhặt những trái bị hại đem tiêu hủy.

- Phun nước lên chồi, lá non và trái để hạn chế mật số bù lạch

- Phun thuốc Sagolex, Bassan, Trebon, Confidor, Cypermethrin…

1.7.4 Rệp sáp (Icerya Seychellarum và Planococcus Lilacinus - Pseudococcidae )

Loài này hiện diện trên 23% tổng các vườn điều tra, chúng tấn công gây hại trên tất cả các giai đoạn của cây xoài Từ lúc ra đọt non cho đến khi ra hoa và tượng trái non Có lẽ điều kiện nhiệt độ và ẩm độ ở vùng đồi núi An Giang rất thích hợp cho loài này phát triển Do đó làm cho mật độ rệp ngày càng tăng và chúng có thể tồn tại quanh năm Theo kết quả điều tra của chúng tôi thì loại này rất quan trọng, chúng tấn công chích hút nhựa lá đọt non và phát hoa làm cho các đọt lá chụm lại, bông khô và hư có khi làm khô chết cây Đồng thời nó cũng là môi giới truyền bệnh virut Ngoài ra ở một số loài còn tạo ra mật ngọt làm cho nấm bồ hống tấn công dễ dàng gây hại, làm mất khả năng ra hoa và đậu trái, nếu đậu trái thì làm cho trái mất giá trị về mẫu mã và phẩm chất trái Có thể nói đây cũng là đối tượng mà nông dân cũng phải thường xuyên dùng thuốc hóa học để phòng trị

1.7.5 Bọ cắt lá (Deporaus marginatus)

Đây là một loài côn trùng đã được ghi nhận gây hại trên xoài tại nhiều nước trên thế giới như: Philippin, Thái Lan, Mã Lai, Trước đây, tại ĐBSCL thì loài này gần như chưa được biết đến một cách cụ thể Chỉ mới xuất hiện trong những năm gần đây, trên tất cả các vườn xoài ở ĐBSCL như: Tiền Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, đặc biệt là trên giống xoài ghép, trong giai đoạn xoài ra đọt, lá non (theo kết quả điều tra của Nguyễn Văn Minh, Trần Văn Khải 2003) Đối với vùng xoài Thanh Ca vùng Thất Sơn An Giang chúng mới xuất hiện (trong năm 2002)

và gây hại rất phổ biến trên 22% ở tất cả các vườn điều tra Đối với loài này có hình dạng hết sức đặc sắc

Thành trùng con cái có kính thước lớn hơn thành trùng con đực, trong điều kiện tự nhiên Con cái có chiều dài thân từ 4,4 – 5 mm, miệng là một vòi dài khoảng 1,2 - 1,5 mm, cánh màu đen sậm có nhiều lông Phân nửa đốt đùi (phần gắn với phần ngực) có màu nâu sáng, phần còn lại màu nâu đen, râu đầu có màu đen

Con đực thân dài khoảng 4 - 4,3 mm, vòi ngắn hơn vòi con cái, chỉ dài khoảng 1 - 1,2

mm Hai cặp mắt màu đen và to, cánh màu nâu vàng, viền cánh màu đen Phân nửa đốt đùi (phần gắn với ngực) có màu nâu vàng, phần còn lại màu đen

Cả con đực và con cái có màu đỏ cam ở phần đầu và phần ngực Sự gây hại chủ yếu là do thành trung cắt phá và gậm nhắm lá non làm cho cành non bị trụi lá ảnh hưởng đến sự phát triển và năng suất của cây Triệu chứng trên lá rất dễ nhận diện, lá non bị cắt ngang rất sắc giống như kéo cắt, phần bị cắt rơi xuống đất và để lại phần gốc của lá rất dễ nhận diện

1.7.6 Bệnh thán thư (Collectotrichum gloeosporioides)

Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Võ Thanh Hoàng (1995):

Bệnh thán thư phổ biến và khá trầm trọng ở nhiều khu vực trồng xoài Trên lá non có những đốm tròn hay hình góc cạnh, màu nâu đỏ, cỡ khoảng 3 - 5 mm Trên mỗi lá có thể có nhiều đốm và các đốm có thể nối nhau thành vùng lớn Đốm bệnh sau đó bị khô đi và rách nên lá bệnh mang nhiều vết thủng rồi rụng đi Ngọn cành non có các đốm bệnh màu nâu xám phát triển rộng ra bao quanh cành, lan dần xuống; vùng bệnh sẽ khô đi, làm rụng lá, khô chết đọt Bệnh phát triển tạo các vết đen nhỏ trên cuống bông làm rụng bông, nhất là những khi trời ẩm Trên trái, triệu chứng thường thể hiện rõ khi trái già chín: vỏ trái có những đốm đen

Trang 23

hơi tròn hay bầu dục, cỡ 5 – 10 mm, lõm vào Các đốm có thể liên kết nhau lại, thịt trái bên dưới đốm bệnh thường bị chai đi và dính theo vỏ trái khi lột.

Mầm bệnh lưu tồn trong cành lá bị bệnh Lây lan phát triển nặng nhất trong các tháng mưa Khi trời có nhiều sương, bệnh sẽ phát triển làm rụng bông nhiều

Tiêu hủy các cành lá bệnh để tránh lây lan Trong mùa mưa có thể phun định kỳ các loại thuốc gốc đồng như hỗn hợp thanh phàn – vôi (Bordeaux 1%), Copper - Zinc, Copper - B hay Benomyl Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1994), bệnh thán thư phòng trị bằng cách phun các loại thuốc như Benomyl (Benlat 50WP 0,1%), Dithane M-45 (Mancozeb, Manzat 3‰)

II PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

II.1Phương tiện

II.1.1 Địa điểm thực hiện

Áp dụng phương thức hợp tác nghiên cứu với nông dân tham gia thí nghiệm Nông dân có đất, có cây nhà khoa học hỗ trợ chi phí và kỹ thuật Thí nghiệm được tiến hành tại 3 địa điểm thuộc TT Ba Chúc (Hình 1.3) có những đặc điểm như sau:

- Điểm 1: tại vườn nhà của ông Nguyễn Ngọc Ngởi, số nhà 246 Tổ 5 ấp An Bình TT

Ba Chúc, có 15 cây xoài Thanh Ca tham gia thí nghiệm Tuổi của các cây xoài từ 7 - 10 tuổi Tổng diện tích 4.000 m2, nằm sát lộ vào thị trấn

- Điểm 2: tại vườn nhà của ông Huỳnh Văn Quốc, số nhà 132 Tổ 5 ấp An Bình TT Ba Chúc Tổng số cây hợp đồng là 15 cây xoài Thanh Ca Tuổi của các cây xoài từ 10 - 15 tuổi Diện tích khoảng 4.000 m2, nằm cách lộ về phía chân núi Dài1 300 m

1 Núi Dài: một số tài liệu còn ghi núi Giài.

Trang 24

Hình 1.3: Bản đồ vị trí các điểm thí nghiệm xoài Thanh Ca tại TT Ba Chúc

- Điểm 3: tại vườn nhà ông Lâm Văn Hoàng, ngụ tại ấp An Hòa TT Ba Chúc Tổng

số cây hợp đồng là 21 cây xoài Thanh Ca: 12 cây thí nghiệm và 9 cây đối chứng Tuổi của xoài thí nghiệm từ 15 đến 20 năm Diện tích khoảng 9.000 m2, nằm sát đường đi xã Lê Trì

2.1.2 Thời gian thực hiện

Thời gian thực hiện thí nghiệm bắt đầu từ 6/ 6/ 2003 và kết thúc thu hoạch vào ngày 9/4/2004

2.1.4 Hóa chất và các loại vật tư nông nghiệp

Paclobutrazol dạng bột, nguồn gốc của Thái Lan, có bán tại thị trường huyện, nồng độ thương phẩm là 10%

Thioure: sử dụng loại Dollar 0.2X của Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Nông Nghiệp Đồng Tháp

Nitrat Kali: sử dụng loại có bán trên thị trường chứa 99% KNO3 nguyên chất

Ethephon tên thương mại là Ethrel của Viện Sinh Học Nhiệt đới thành phố HCM

Phân bón: dùng các loại Ure, phân hỗn hợp 16 - 16 - 8; KCl để bón gốc cho xoài, phân bón lá Bayfolan, Komik

Thuốc trừ sâu rầy: Cyperan, Actara, xà bông Thuốc trừ bệnh: Antracol, Appencarb

- Nghiệm thức 3: chỉ dùng Thioure nồng độ 0,5% cùng lúc với nghiệm thức 2

- Nghiệm thức 4: dùng nitrate kali nồng độ 3,125% phun đều lên lá

- Nghiệm thức 5: Ethephon nồng độ 0,1%, phun đều lên lá

Trang 25

Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, mỗi lần lặp lại tương ứng với một cây xoài (tức 1

nghiệm thức) Vậy tổng số cây cần cho thí nghiệm là 15 cây cho 1 điểm thí nghiệm Tổng 3 điểm thí nghiệm là 45 cây xoài

Bảng 1.1: Ký hiệu các nghiệm thức, liều lượng và vị trí áp dụng các hóa chất xử lý

Ký hiệu Nghiệm thức Liều lượng Vị trí xử lý Thời gian xử lý

NT1(ĐC) PBZ Đối chứng 2,5 g a.i./ cây Tưới đất 8/ 7/ 03

NT 2 PBZ +

Thioure

2,5 g a.i./ cây + 0,5%

Tưới đất Phun trên lá

8/ 7/ 03

60 ngày sau tưới PBZ

NT 3 Thioure 0,5% Phun trên lá 60 ngày sau ĐC

-nt-Các nghiệm thức ở 3 điểm được rút thăm ngẫu nhiên Chiều biến động (chiều phì nhiêu từ trên núi Dài xuống) tuân theo nguyên tắc thẳng góc với các lần lặp lại ở tất cả 3 điểm Ở điểm

1 sơ đồ bố trí thí nghiệm được trình bày theo Hình 1.4 Ở điểm 2 và 3 cũng được bố trí như ở điểm 1

Sau đó bón phân NPKS (16 - 16 - 8 - 13S) với liều lượng 1 kg/ gốc xoài

Cây ra lá non thường bị bọ cắt lá (Deporaus marginatus) phá hại bằng cắt lá rơi lả tả xuống đất Dùng Cyperan để trị Vào lúc nầy phòng trị bệnh thán thư (Collectotrichum gloeosporioides) là yêu cầu bức thiết để giữ cho lá phát triển đầy đủ Dùng Carbendazyme,

Appencarb, Benomyl và Antracol để phòng trị

Dùng Actara với liều lượng 1 gói 2 g/ 8 lít nước để diệt rầy bông xoài, bọ trĩ sau khi cây trổ hoa để bảo vệ hoa và trái Sau khi đậu trái phun Atonik, Komik để nuôi trái Phun NAA nồng độ 20 ppm hoặc pha 2,4D 20 ppm để hạn chế rụng trái

Thời gian ra hoa mùa nghịch vào tháng 8, 9, 10 âl có mưa rất nhiều, ẩm độ cao bệnh thán thư dễ tấn công trên hoa và trái nên thường dùng Appencarb, Antracol để phòng ngừa Nếu không phòng ngừa trái sẽ không đậu

Trang 26

2.2.3 Phương pháp xử lý ra hoa

Trong tháng 7, bắt đầu tưới PBZ với liều lượng 100 g/cây đối với các nghiệm thức 1 và 2

Do ở 3 điểm thí nghiệm có cây có đường kính tán tương đương nhau nên lượng sử dụng bằng nhau Dùng cuốc xới chung quanh tán (theo hình chiếu tán xuống mặt đất) một băng rộng khoảng 0,5 m sâu 0,05 m, hòa PBZ vào thùng tưới 20 lít nước tưới thật đều theo dãi băng đó Xong, lấp đất lại Sau đó, trong nửa tháng đầu, nếu không có trời mưa thì 3 ngày tưới 1 lần cho thuốc thấm đều

Trong các ngày 8, 9, 10/ 9/ 03, tức khoảng 2 tháng sau khi tưới PBZ phun các loại thuốc còn lại cho các nghiệm thức 2, 3, 4, và 5 Vì cây xoài lớn nên các chủ vườn đều dùng máy xịt thuốc nên thuốc được phun từ trong tán cây ra Điều nầy cũng phù hợp vì lá cây có nhiều khí khổng ở mặt dưới hút hóa chất tích cực hơn mặt trên

2.2.4 Các chỉ tiêu theo dõi và đo đếm

2.2.4.1 Số liệu thời tiết

Ghi nhận các số liệu thời tiết có liên quan chặt chẽ đến sự ra hoa, tỉ lệ đậu trái và sự phát triển của trái như: nhiệt độ tối thấp, tối cao, trung bình; ẩm độ tương đối của không khí; lượng mưa và phân bố mưa trong thời gian XLRH

Ngoài ra, cũng cần có số liệu ghi nhận trực tiếp tại địa điểm của chủ vườn liên quan về lượng mưa và những bất thường khác trong thời kỳ ra hoa và đậu trái

2.2.4.2 Số liệu ngoài đồng

- Thời điểm nhú mầm hoa: Đếm tỉ lệ chồi nhú mầm trên tổng số chồi Chồi nhú mầm

phân biệt với chồi thường ở chỗ có lá hoa và uốn cong ở đầu đọt như hình cựa gà Quan sát cây xoài từ 4 hướng để đếm số chồi nhú mầm trên tổng số chồi của cây xoài Đối với nghiệm thức 1 xử lý PBZ (Đối chứng) thì quan sát từ 60, 70, 80, 90, 100, 110 ngày sau khi tưới PBZ Đối với các nghiệm thức khác thì quan sát từ 7 – 15 ngày sau khi xịt thuốc

- Tỉ lệ đọt ra hoa: Quan sát bằng mắt thường tỉ lệ đọt ra hoa trên số chồi quan sát ở các nghiệm thức vào 7, 15 và 25 ngày sau khi xịt thuốc

- Tỉ lệ đậu trái: Tỉ lệ chồi đậu trái/ tổng số chồi đã ra hoa

- Năng suất trái: tổng trọng lượng trái/ cây

- Phân loại trái/ cây: loại I, loại II

- Trọng lượng trung bình trái

- Giá trị đồng/ kg tại thời điểm thu hoạch

2.2.5 So sánh các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế

Dùng các chỉ tiêu lợi nhuận, lãi/vốn để đánh giá hiệu quả kinh tế giữa các nghiệm thức trong mùa nghịch và các chỉ tiêu tỉ số lãi, thu nhập biên để so sánh hiệu quả của các nghiệm thức mùa nghịch so với mùa thuận (Nguyễn Văn Sánh, 1997 và Nguyễn Thị Song An, 2001)

* Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả của các nghiệm thức trong mùa nghịch

- Lợi nhuận (RAVC: Return Above Variable Cost)

Thu nhập trên biến phí:RAVC= GRTVC

Trong đó: GR = Sản lượng X Đơn giá; (GR: Gross Revenue)

TVC = Phí vật tư + Phí lao động (TVC: Total Variable Cost )

Trang 27

Mục đích: tính được lợi nhuận của các nghiệm thức thí nghiệm

- Hiệu quả đồng vốn

CE =

TVC

RAVC

( Lãi/ vốn) (TVCE: Total Variable Cost Efficiency)

Mục đích: Tính được 1 đồng vốn biến phí mang lại bao nhiêu đồng lãi

* Các chỉ tiêu so sánh hiệu quả kinh tế giữa xoài mùa nghịch so với mùa thuận

- Tỉ số lãi xoài mùa nghịch/ mùa thuận (Rate of Return)

Trong đó: RAVC 2 : Lợi nhuận của các nghiệm thức xoài mùa nghịch

RAVC 1 : Lợi nhuận của các nghiệm thức xoài mùa thuận

- Thu nhập biên hay tỉ số lợi nhuận/ chi phí biên tế (Marginal Return Rate)

Tỉ số giữa lợi nhuận tăng thêm khi gia tăng biến phí cho việc XLRH xoài mùa nghịch

so với xoài mùa thuận

1 2

1 2

TVC TVC

RAVC RAVC

MRR

=

Trong đó: RAVC 2 : Lợi nhuận của các nghiệm thức xoài mùa nghịch

RAVC 1 : Lợi nhuận của các nghiệm thức xoài mùa thuận

TVC 2 : Tổng phí của các nghiệm thức xoài mùa nghịch

TVC 1 : Tổng phí của các nghiệm thức xoài mùa thuận

Mục đích: Tính được lợi nhuận tăng thêm/ 1 đơn vị tiền tệ (đồng) chi phí gia tăng và dùng để so sánh giữa các nghiệm thức XLRH xoài mùa nghịch so với xoài mùa thuận

Tỉ số MRR ≥ 2 thì hiệu quả đầu tư tăng thêm mới có tính thuyết phục nhà sản xuất cụ thể ở đây là nông dân thấy rất có lợi thì mới làm theo (Nguyễn Văn Sánh, 1997)

2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thí nghiệm được nhập vào máy tính bằng phần mềm Microsoft Excel, phân tích phương sai (ANOVA) và so sánh sự khác biệt giữa các trị số trung bình (LSD) giữa các nghiệm thức bằng chương trình thống kê MSTATC Phân tích tương quan và vẽ đồ thị tương quan bằng Excel

Trang 28

CHƯƠNG II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

2.1 Ghi nhận tổng quát

2.1.1 Tình hình thời tiết

2.1.1.1 Thời kỳ ra hoa – đậu trái

Các vườn xồi thí nghiệm đang phát triển trong tình trạng khá tốt Tuy nhiên, quá trình ra hoa, đậu trái trùng vào thời điểm cĩ lượng mưa cao nên gặp phải một số bất lợi như:

- Mưa: Trong thời gian cây trổ hoa mưa kéo dài liên tục làm ảnh hưởng đến sự phát

triển của phát hoa và sự đậu trái vì tháng 10 dl hàng năm cĩ số ngày mưa cao nhất là 20,9 ngày (Hình 2.1) Đặc biệt, trong tháng 10/2003 mưa nhiều vào lúc 25 ngày sau XLRH làm giảm khả năng thụ phấn Tiếp sau đĩ, đúng vào ngày thứ 40 sau XLRH lại cĩ áp thấp nhiệt đới kéo dài 5 ngày ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ đậu trái (Hình 2.2)

- Nhiệt độ và ẩm độ: Theo Yang và ctv (1980) do Trần Thế Tục vàNgơ Hồng Bình (2001) trích dẫn thì nhiệt độ thích hợp để xồi nở hoa là 18 – 250C, nếu thấp hơn 180C hoặc lớn hơn 250C đều làm cho quá trình nở hoa bị ức chế Tại miền Bắc Việt Nam, nhiệt độ từ 18 – 250C và ẩm độ từ 55 – 75% là thích hợp nhất cho xồi nở hoa và mở bao phấn (Ngơ Hồng Bình và ctv.1999) Trong điều kiện thí nghiệm, nhiệt độ trung bình là 27,60C và ẩm độ trung bình của tháng 9 và tháng 10 hằng năm thường trên 80% là điều kiện bất lợi cho sự nở hoa và thụ phấn theo kết luận của 2 tác giả trên

Số giờ năng (giờ)

Ghi chú: Số liệu trung bình 10 năm từ 1992 - 2001 tại trạm Châu Đốc

Nguồn: Tổng Cục Khí tượng Thủy văn

Hình 2.1: Lượng mưa, ẩm độ và nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình xử lý ra hoa xồi

Trang 29

Chủ nhật Thứ hai Thứ ba Thứ tư Thứ năm Thứ sáu Thứ bảy

16 mưa 27 mưa 3 8 25 ngày

306

Hình 2.2: Ghi nhận tại chỗ lượng mưa trong tháng 10/ 2003 có ảnh hưởng đến sự trổ hoa và

đậu trái tại điểm thí nghiệm Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang

Theo Bảng 2.1 nhiệt độ trung bình trong thời gian phát triển trái 27,60C, không biến động nhiều từ 26,1 ~ 29,40C Tuy nhiên, nhiệt độ tối cao trung bình 33,20C, đặc biệt vào tháng 3 là 34,30C, kết hợp với bốc hơi cao (99,9mm) và không mưa dẫn đến tình trạng thiếu nước ảnh hưởng lên tăng trưởng trái non và tích lũy nước làm hạn chế sự phát triển kích cỡ trái xoài đạt được độ lớn tối đa Ngoài ra, độ ẩm trung bình thấp 55,2% cộng với sự thiếu nước làm cho trái xoài non rụng rất nhiều

Nói tóm lại, điều kiện thời tiết như trên đã ảnh hưởng nhiều đến năng suất của cây xoài ở

cả 3 điểm thí nghiệm

Bảng 2.1: Các yếu tố thời tiết trong thời gian cây xoài tăng trưởng trái

Tháng Nhiệt độ

Max ( o C)

Nhiệt độ

TB ( o C)

Nhiệt độ Min ( o C)

Ẩm độ (%)

Lượng mưa (mm/tháng)

Bốc hơi (mm/tháng)

Trang 30

- Đặc biệt trong năm 2003, dịch bọ trĩ (bù lạch) phát triển rất mạnh tại địa điểm thí nghiệm không kém gì các tỉnh ở ĐBSCL nhưng do chủ vườn còn chưa biết rõ ràng tác hại của

nó để phòng trị kịp thời nên thiệt hại rất lớn

2.2 Lịch trình xử lý ra hoa và thu thập số liệu

Theo Hình 2.3, nếu lấy mốc thời gian là thời điểm phun thuốc KTRH trên lá đối với các nghiệm thức thời điểm Zero (ngày 8, 9 và ngày 10 tháng 9 năm 2003) thì 2 tháng trước đó đã tưới PBZ cho nghiệm thức NT 1 (ĐC) Trong thí nghiệm có hai lần quan sát tỉ lệ ra hoa vào ngày thứ 15 và 25 sau khi phun thuốc và 1 lần đếm tỉ lệ đậu trái vào ngày thứ 40 sau khi phun thuốc KTRH Cuối cùng ngày thu hoạch là ngày 10 tháng 2 năm 2004 nhằm ngày 21 tháng Giêng năm âm lịch (Năm Giáp Thân)

Ngày tháng năm (03-04) 8-7/03 8,9&10-9/03 25/9/03 5/10/03 20/10/03 10/2/ 04

Ngày trước và sau XLRH - 60 0 + 15 + 25 + 40 + 150PBZ tưới đất

Xử lý hóa chất trên lá

Đếm tỉ lệ chồi ra hoa

Đếm tỉ lệ chồi ra hoa

Đếm tỉ lệ đậu trái

Thu hoạch xoài

Hình 2.3: Lịch trình chăm sóc, xử lý ra hoa và thu thập số liệu

2.3 Đặc tính ra hoa

2.3.1 Thời gian tạo mầm hoa xoài từ khi tưới Paclobutrazol đến khi nhú mầm hoa

Thời gian tạo mầm hoa xoài là thời gian từ khi tưới PBZ đến khi nhú mầm hoa mà nông dân thường quen gọi là nhú cựa gà tức là khi quan sát ở các đọt xoài đã thấy một phác thể uốn cong báo hiệu sẽ phát triển thành một phát hoa Theo một số tác giả trong và ngoài nước, thời gian nầy biến thiên từ 60 đến 110 ngày tùy theo giống xoài và tuổi cây Trần Thế Tục và Ngô Hồng Bình (2001) cho rằng quá trình phân hóa mầm hoa (tạo mầm hoa) ở xoài tuy phức tạp nhưng đều có một quy luật chung là: Thời gian phân hóa mầm hoa không tập trung từ 1 – 3 tháng tùy giống Theo Charvinchit (1989 Trần Văn Hâu (1997) trích dẫn) cho biết xử lý PBZ trên giống xoài Khiew Savoey sẽ tạo mầm hoa trong vòng từ 91 ngày đến 112 ngày sau khi tưới Theo Trần Văn Hâu (1997) thời gian nầy là 85 ngày trên giống xoài Cát Hòa Lộc tại huyện Cao Lãnh (Đồng Tháp), còn tại trại Thực Nghiệm giống cây trồng Trường Đại Học Cần Thơ là 97 ngày (Nguyễn Thị Thùy Dung, 2002)

Kết quả thí nghiệm ở Bảng 2.2 và Phụ chương 2 (Pc 1) cho thấy thời gian tạo mầm hoa trung bình là 90,6 ngày đối với nghiệm thức 1 (đối chứng) tại 3 điểm thí nghiệm Ở điểm 1 vườn xoài Thanh Ca 7 tuổi có thời gian trung bình ngắn nhất là 85,7 ngày; ở điểm 2 vườn xoài 15 năm tuổi là 88,3 ngày và chậm nhất ở điểm 3 vườn xoài 25 tuổi số ngày tạo mầm hoa dài nhất là 97,7 ngày Có thể có sự đáp ứng chậm với PBZ đối với cây xoài già hơn là xoài tơ nghĩa là xoài càng già thời gian tạo mầm bị kéo dài Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa ở mức 5% theo phép thử LSD giữa trung bình các điểm Kết quả nầy cho thấy cần phải

có các thí nghiệm tiếp theo về liều lượng PBZ và tuổi cây xoài Thanh Ca đáp ứng với hóa chất xử lý như thế nào

Trang 31

Bảng 2.2: Thời gian tạo mầm hoa sau khi tưới PBZ vào gốc xoài ở nghiệm thức đối chứng

Nghiệm thức Thời gian tạo mầm hoa (ngày)

Điểm 1 (Vườn xoài 7 tuổi) 85,7

Điểm 2 (Vườn xoài 15 tuổi) 88,3

Điểm 3 (Vườn xoài 25 tuổi) 97,7

Thời gian từ khi xử lý hóa chất đến khi nhú mầm hoa (lú cựa gà) rất thay đổi tùy theo nhiều yếu tố như giống xoài, tuổi cây, loại hóa chất và thời điểm xử lý (Trần Thế Tục và Ngô Hồng Bình (2001) Theo Trần Văn Hâu (2003) thời gian từ phun hóa chất đến nhú bông (lú cựa gà) từ 8 – 14 ngày Theo Nguyễn Thị Thùy Dung (2002) thời gian nầy từ 14,6 đến 17,2 ngày

Kết quả thí nghiệm ở Bảng 2.3 và các phụ chương 2 (Pc 2, 3 và 4) cho thấy thời gian XLRH đến nhú mầm trung bình ở điểm 1 là 11,4 ngày; điểm 2: 15,4 ngày và điểm 3: 19,7 ngày Kết quả nầy phù hợp với kết quả của các tác giả trên

Bảng 2.3: Thời gian từ xử lý hóa chất trên lá đến khi nhú mầm hoa của 3 điểm thí nghiệm ở

Thị Trấn Ba chúc, Tri Tôn, An Giang Đvt: Ngày

Ghi chú: - Các số trung bình trong cùng một cột theo sau cùng mẫu tự thì không khác biệt

có ý nghĩa ở mức 5% theo phép thử LSD - SD: Độ lệch chuẩn

- * Nghiệm thức đối chứng NT 1 do tưới đất trước 2 tháng nên không phân tích ANOVA cùng với 4 nghiệm thức XLRH trên lá.

Tại điểm 1, NT 2 PBZ + Thiourea (PBZ tưới đất trong thời gian 2 tháng, sau đó XLRH bằng phun Thiourea) có thời gian nhú mầm nhanh nhất là 9,7 ngày và nghiệm thức 5 Ethephon dài nhất là 14,7 ngày, khác biệt với 2 nghiệm thức còn lại ở mức ý nghĩa 5% theo phép thử LSD

Ở điểm 2, nghiệm thức NT 5Ethephon dài nhất 18ngày, khác biệt với 3 nghiệm thức còn lại ở mức ý nghĩa 5% theo phép thử LSD Trong khi đó 3 nghiệm thức còn lại NT 2, NT 3,

NT 4 không khác biệt nhau có ý nghĩa song nghiệm thức NT 2 vẫn có thời gian ngắn nhất là 13,7 ngày

Điều đáng ghi nhận ở điểm 3 là thời gian nhú mầm hoa của nghiệm thức NT4 KNO3 rất dài 34,3 ngày khác biệt có ý nghĩa ở mức LSD 5% so với 3 nghiệm thức còn lại Nghiệm thức NT 2 PBZ + Thiourea thời gian nhú mầm ngắn nhất khác biệt với NT 5 nhưng không khác biệt với NT 3

Trang 32

Nói tóm lại, nghiệm thức NT 2: PBZ + Thiourea có thời gian nhú mầm hoa trung bình của

3 điểm thí nghiệm thấp nhất 11,5 ngày; kế đến là NT 3 Thiourea (13,3 ngày); nghiệm thức NT5 Ethephon 18,5 ngày và dài nhất là nghiệm thức NT 4 KNO3 19,9 ngày Có thể nói rằng việc sử dụng PBZ tưới đất đã kích thích sự tạo mầm hoa trong vòng 2 tháng đủ điều kiện cho bước tiếp theo xử lý Thiourea rút ngắn được thời gian nhú mầm hoa 4,3 ngày (1,8 đến 8,9 ngày) so với trung bình các nghiệm thức xử lý các hóa chất khác

2.4 Tỉ lệ chồi ra hoa

2.4.1 Tỉ lệ chồi ra hoa 15 ngày sau khi xử lý hóa chất

Theo Trần Văn Hâu (2002) thời gian từ nhú bông đến rớt nhụy từ 15 đến 20 ngày Nhìn chung các nghiệm thức đáp ứng với hóa chất sau 15 ngày XLRH nhưng tùy vào điểm thí nghiệm và nghiệm thức mà tỉ lệ đọt ra hoa thay đổi rất nhiều Tỉ lệ ra hoa vào 15 ngày sau XLRH được trình bày ở Bảng 2.4

Theo Bảng 2.4 cho thấy ở điểm 1 nghiệm thức xử lý KNO3 chưa ra hoa Nghiệm thức 2 PBZ + Thiourea cho tỉ lệ ra hoa cao nhất (60%) khác biệt có ý nghĩa ở mức 5% so với các nghiệm thức còn lại nhưng không khác biệt với nghiệm thức 3 Thiourea (36,7%) Hai nghiệm thức NT 1 (PBZ tưới đất) và nghiệm thức NT 5 (Ethephon) không khác biệt nhau và đều có tỉ

lệ ra hoa là 16,7%

Bảng 2.4: Tỉ lệ ra hoa 15 ngày sau khi xử lý hóa chất ở 3 điểm thí nghiệm Đvt: %

Tại điểm 2, cũng theo Bảng 2.4 cho thấy nghiệm thức 2 kết hợp PBZ + Thiourea vẫn có tỉ

lệ ra hoa cao nhất (86,9%) không khác biệt với nghiệm thức 4 KNO3 (83,3%) nhưng có khác biệt ở mức 5% so với các nghiệm thức còn lại Nghiệm thức 1 (PBZ tưới đất) vẫn chưa thấy

ra hoa trong khi đó NT 3 ra hoa 76,7% và NT 5 ra hoa 70% không khác biệt nhau có ý nghĩa.Điểm 3, một lần nữa nghiệm thức 2 kết hợp PBZ + Thiourea có tỉ lệ ra hoa cao nhất (96,7%) đối với 2 điểm kia và khác biệt với các nghiệm thức còn lại ở mức ý nghĩa 5% theo phép thử LSD Nghiệm thức 1 và 4 chưa thấy ra hoa trong khi đó 2 nghiệm thức 3 và 5 không khác biệt nhau với tỉ lệ ra hoa lần lượt là 60% và 46,7%

Qua kết quả tại 3 điểm thí nghiệm cho thấy rằng việc kết hợp xử lý đất bằng PBZ tưới đất

2 tháng trước khi XLRH bằng Thiourea đã cho tỉ lệ ra hoa cao nhất so với chỉ áp dụng đơn lẻ một hóa chất là PBZ tưới đất Tỉ lệ ra hoa trung bình của 3 điểm thí nghiệm của nghiệm thức kết hợp nầy là 81,2%, kế đến là hóa chất Thiourea 57,8%, Ethephon 44,5% và cuối cùng KNO3 tỏ ra ít hiệu quả nhất 27,8% và đối chứng chỉ có 5,6%

Trang 33

2.4.2 Tỉ lệ chồi ra hoa 25 ngày sau khi xử lý hóa chất

Đến ngày thứ 25 sau XLRH, nhìn chung các nghiệm thức đều có khuynh hướng ra hoa hoàn toàn song vẫn còn một số nghiệm thức chưa ra hoa đầy đủ (Bảng 2.5)

Bảng 2.5: Tỉ lệ ra hoa 25 ngày sau khi xử lý hóa chất ở 3 điểm thí nghiệm Đvt: %

Ở điểm 3, vẫn là nghiệm thức 2 PBZ + Thiourea đạt tỉ lệ ra hoa 100% và khác biệt có ý nghĩa 5% so với 4 nghiệm thức còn lại Trong khi đó 2 nghiệm thức 3 và 5 không khác biệt nhau với tỉ lệ ra hoa tuần tự là 73,3% và 66,7% và khác biệt với 2 nghiệm thức không ra hoa

là nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức 4 xử lý vớiKNO3

Từ kết quả tổng hợp ở 3 điểm, có thể thấy rằng việc áp dụng PBZ tưới đất để tạo mầm hoa, sau đó 2 tháng XLRH với Thiourea cho kết quả ra hoa ở xoài Thanh Ca cao nhất (100% nghiệm thức ở cả 3 điểm thí nghiệm đều ra hoa) Kết quả nầy phù hợp với kết quả của Nguyễn Thị Thùy Dung (2002) và Trần Văn Hâu (2003) Kế đến, việc áp dụng XLRH trên lá riêng lẻ với Thiourea cho kết quả trung bình của 3 điểm là 80% ra hoa Điều nầy chứng tỏ đối với xoài Thanh Ca thì Thiourea đáp ứng tốt khả năng ra hoa của giống Riêng Ethephon đáp ứng kém hơn với tỉ lệ trung bình 3 điểm là 64,4% Đối với KNO3 chỉ có 33,3% ra hoa tương đương với tỉ lệ ra hoa của nghiệm thức đối chứng (32,2%), đáp ứng chậm với xoài Thanh Ca Điều nầy hơi khác với kết luận của Dương Minh (1997) cho rằng xoài Thanh Ca dễ xử lý với KNO3 có lẽ vì vườn xoài thí nghiệm có tuổi cây lớn trên 25 năm Cần thiết phải có những thí nghiệm tiếp theo về sự đáp ứng của hóa chất đối với tuổi cây xoài

Nhìn chung về thời gian từ ra hoa đến rớt nhụy đối với xoài Thanh Ca là 25 ngàyvà có thểchậm hơn

2.5 Sự đậu trái

Xoài là cây thụ phấn nhờ côn trùng nhưng chỉ có 10 – 12% số hoa do côn trùng hoạt động thụ phấn (Liron và Hedstom, 1985 trích dẫn bởi Trần Thế Tục, 2001) Cũng theo Trần Thế Tục (2001) trích dẫn từ nhiều tác giả cho thấy: Ở Ấn Độ và các nước phát triển xoài chủ yếu

ở Châu Á, tỷ lệ đậu quả so với hoa lưỡng tính chỉ đạt 0,1 – 0,3%

Trang 34

2.5.1 Tỉ lệ đậu trái (40 ngày sau khi xử lý hóa chất)

Đối với thí nghiệm nầy, do thời gian ra hoa không đồng đều ở nhiều nghiệm thức của cả 3 điểm nên ngày quan sát tỉ lệ đậu trái được chọn là 40 ngày sau XLRH để cho các nghiệm thức hết thời kỳ ra hoa đến rớt nhụy Vào thời điểm nầy thì đa số cây đã có độ lớn bằng hạt đậu xanh rất dễ quan sát hơn là ở kích cỡ trứng cá (còn màu vàng) lúc rớt nhụy 25 đến 30 ngày sau XLRH

Theo Bảng 2.6 cho thấy ở điểm thí nghiệm 1, nghiệm thức 4 đến ngày thứ 40 sau XLRH

vẫn không có ra hoa nên không có tỉ lệ đậu trái Trong khi đó nghiệm thức 5 dù có một tỉ lệ ra hoa nhất định (26,7%) lúc 25 ngày sau XLRH nhưng cũng bị rụng hết nên tỉ lệ đậu trái được ghi nhận là không có Ba nghiệm thức 1, 2 và 3 khác biệt nhau không có ý nghĩa ở mức 5% theo phép thử LSD, trong đó nghiệm thức 2 PBZ kết hợp phun Thiourea lên lá có tỉ lệ đậu trái cao nhất là 83,3%, kế tiếp nghiệm thức 1 là 63,3% và nghiệm thức 3 là 53,5%

Ở điểm 2, tỉ lệ đậu trái của nghiệm thức 1 cao nhất là 90% nhưng khác biệt không có ý nghĩa với nghiệm thức 2 có tỉ lệ đậu trái là 73,3% Hai nghiệm thức 3 và 4 có tỉ lệ đậu trái bằng nhau là 50% và không khác biệt có ý nghĩa với nghiệm thức 5 (43,3%)

Cũng theo Bảng 2.6, ở điểm 3 tỉ lệ đậu trái của 5 nghiệm thức đều khác biệt nhau có ý nghĩa ở mức 5% theo phép thử LSD Thứ tự tỉ lệ đậu trái từ cao đến thấp là nghiệm thức 2 cao nhất (100%), nghiệm thức 5 (66,7%), nghiệm thức 3 (50%), nghiệm thức 4 (26,7%) và nghiệm thức 1 (đối chứng) tỉ lệ đậu trái thấp nhất (16,7%)

Tuy tỉ lệ đậu trái ở 3 điểm rất khác nhau nhưng tỉ lệ đậu trái trung bình vẫn cho thấy sự phối hợp giữa PBZ tưới đất cộng với phun lá bằng Thiourea trội hơn cả là 85,6% Kế đến là nghiệm thức PBZ tưới đất đạt tỉ lệ 56,7%, nghiệm thức Thiourea 51,2%, nghiệm thức Ethephon 36,7% và thấp nhất là nghiệm thức xử lý với KNO3 đạttỉ lệ đậu trái là 25,6%

Bảng 2.6: Tỉ lệ đậu trái 40 ngày sau khi xử lý hóa chất ở 3 điểm thí nghiệm Đvt: %

NT 1 PBZ tưới đất (ĐC) 63,3a 90,0a 16,7 e 56,7

NT 2 PBZ + Thiourea 83,3a 73,3ab 100,0a 85,6

2.5.2 Sự tương quan giữa tỉ lệ đậu trái và trọng lượng trái

Khảo sát sự tương quan giữa tỉ lệ đậu trái và trọng lượng trái ở điểm 1 cho thấy 2 biến số nầy có mối tương quan thuận rất yếu với hệ số xác định mẫu (coefficient of determination) là

R2 = 0,3798 (Hình 2.4)

Trang 35

y = 0,2509x + 62,099

R2 = 0,3798

50 55 60 65 70 75 80 85 90 95 100

Tương tự, ở điểm 2, có sự tương quan nghịch giữa tỉ lệ đậu trái và trọng lượng trái với hệ

số xác định mẫu rất yếu R2 = 0,1634 Điều nầy cho thấy tác động của các yếu tố ngoại cảnh rất lớn lên trọng lượng trái xoài như mưa, ẩm độ, nhiệt độ làm tăng mật số sâu bệnh gây rụng trái xoài đưa đến giảm số trái và giảm trọng lượng trái (Hình 2.5)

y = - 0,5504x + 68,427 R2 = 0,1634

10 20 30 40 50 60 70 80 90

Ngày đăng: 08/03/2021, 16:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w