1.3.2 Khách thể nghiên cứu: Trẻ OVC có độ tuổi từ 6 đến 16 tuổi; Người chăm sóc; Cán bộ làm việc liên quan đến trẻ OVC 1.3.3 Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về đối tượng nghiên cứu: Trong
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN
THỰC TRẠNG HỖ TRỢ TÂM LÝ CHO TRẺ NHIỄM VÀ ẢNH HƯỞNG BỞI HIV/AIDS Ở
AN GIANG
LÊ XUÂN GIỚI
AN GIANG, THÁNG 12 NĂM 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI - NHÂN VĂN
_
THỰC TRẠNG HỖ TRỢ TÂM LÝ CHO TRẺ NHIỄM VÀ ẢNH HƯỞNG BỞI HIV/AIDS Ở
AN GIANG
Cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
Trần Thị Kim Liên Lê Xuân Giới
Cơ quan chủ quản
AN GIANG, THÁNG 12 NĂM 2014
Trang 3TRANG CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Đề tài nghiên cứu khoa học “Thực trạng hỗ trợ tâm lý cho trẻ nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ở An Giang”, do tác giả Lê Xuân Giới, công tác tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân văn thực hiện Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày………
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Thay mặt nhóm nghiên cứu, chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đối với:
Đã tạo cho tôi - nhóm nghiên cứu có cơ hội để tiến hành thực hiện đề tài này và
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đề tài được thực hiện thành công
Xin chân thành cảm ơn đến:
Long Xuyên, huyện Châu Phú, huyện Tịnh Biên tỉnh An Giang
Đã cung cấp thông tin và giúp đỡ nhóm nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện điều tra trên địa bàn
An Giang, ngày 8 tháng 12 năm 2014
Chủ nhiệm đề tài
Lê Xuân Giới
Trang 5
TÓM TẮT
Với mục đích mô tả thực trạng công tác hỗ trợ tâm lý xã hội, xác định nhu cầu và
sự đáp ứng nhu cầu tâm lý của trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS (trẻ OVC) Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp định lượng kết hợp với phương pháp định tính để tìm ra những cứ liệu khoa học cho việc đề ra các giải pháp nhằm nâng cao công tác hỗ trợ tâm lý Có thể thấy rằng, trong thời gian qua, công tác hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ OVC trên địa bàn tỉnh An Giang còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng; nhân lực thực hiện công tác hỗ trợ tâm lý còn thiếu và yếu, chủ yếu là kiêm nhiệm Bên cạnh
đó, sự hỗ trợ tâm lý từ phía người chăm sóc thường xuất phát từ tình cảm Vì thế ở mức độ tâm lý cao hơn, người chăm sóc vẫn cần đến sự hỗ trợ từ phía các tổ chức, đơn vị cung cấp dịch vụ Trong khi đó, nhu cầu về hỗ trợ tâm lý của trẻ OVC là khá lớn, bởi các em có nhiều biểu hiện tâm lý tiêu cực Nghiên cứu còn cho thấy, có nhiều nhóm giải pháp để cải thiện tình trạng trên, trong đó biện pháp căn cơ nhất là tăng cường đầu tư vật chất và nhân lực, nâng cao năng lực cho đội ngũ thực hiện công tác hỗ trợ tâm lý, đồng thời tăng cường sự kiểm tra, giám sát và đánh giá dựa trên các tiêu chí cụ thể Mặc dù, nghiên cứu đã cố gắng khắc hoạ những vấn đề cơ bản của công tác hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC, song vẫn còn những hạn chế nhất định, làm tiền đề cho những nghiên cứu xa hơn trong thời gian tới như: đối tượng nghiên cứu hẹp; chưa đánh giá sâu sắc năng lực của các tổ chức, cá nhân thực hiện hỗ trợ tâm lý, tâm lý của trẻ
Từ khoá: Trẻ OVC, HIV/AIDS, Hỗ trợ tâm lý
ABSTRACT
With the aim of describing the situation of psychosocial support, identify the needs and meet the psychological needs of children affected by HIV/AIDS (OVC) The study used quantitative methods combined with qualitative methods to find scientific evidence to devise solutions to improve the psychological support It can be seen that, in recent years, the work of psychosocial support to OVC of An Giang Province is limited in both quantity and quality; moreover, human implementation of psychological support was lacking and weak, mostly part-time experience Besides, the psychological support from caregivers often stems from feelings, therefore in a higher psychological level, caregivers still need the support from organizations, single your service provider Meanwhile, demand for psychological support of OVC
is quite large, because they have many different psychological manifestations Research also shows that there are many solutions to improve the situation, which is the most radical measures to increase investment in physical and human capacity building for both staff and caregivers, while enhancing the inspection and monitoring and evaluation based on specific criteria Although, researchers have tried to portray the basics of working psychosocial support for OVC, there are still certain limitations, as prerequisite for further study in the future such as: narrow research subjects; not rated depth capacities of organizations and individuals to implement psychosocial support
Trang 6LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
An Giang, ngày 8 tháng 12 năm 2014
Người thực hiện
Lê Xuân Giới
Trang 7MỤC LỤC
TRANG
4.2 Nhu cầu hỗ trợ tâm lý và sự đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC 40
Trang 84.4.2 Nguyên nhân từ phía trẻ và gia đình trẻ OVC 54
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
TRANG
Bảng 1: Ước tính phân bổ mẫu ở từng địa bàn nghiên cứu 17
Bảng 2: Mẫu khảo sát cán bộ tại thành phố Long Xuyên 18
Bảng 3: Mẫu khảo sát cán bộ tại huyện Châu Phú 18
Bảng 4: Mẫu khảo sát cán bộ tại huyện Tịnh Biên 19
Bảng 5: Đặc điểm chung của cán bộ làm việc với trẻ OVC 27
Bảng 6: Các hình thức hỗ trợ tâm lý cho trẻ mà cán bộ đã thực hiện 27
Bảng 7: Số lượng trẻ OVC trong mỗi cuộc nói chuyện 28
Bảng 8: Những khó khăn mà cán bộ gặp phải khi hỗ trợ tâm lý xã hội 29
Bảng 9: Đặc điểm chung về người chăm sóc trẻ OVC 31
Bảng 10: Đánh giá của người chăm sóc về trạng thái tâm lý của trẻ OVC 35
Bảng 11: Tương quan giữa mối quan hệ của trẻ và tâm trạng buồn chán của trẻ 36
Bảng 12: Vấn đề khiến trẻ lo lắng và buồn phiền 36
Bảng 13: Một số đặc điểm chung của trẻ OVC 41
Bảng 14: Trạng thái cảm xúc mà trẻ OVC gặp phải 42
Bảng 15: Trạng thái cảm xúc mà trẻ OVC gặp phải chia theo nhóm tuổi 43
Bảng 16: Trẻ đánh giá vấn đề gặp phải chia theo nhóm tuổi 44
Bảng 17: Đối tượng mà trẻ OVC gặp để chia sẻ tâm sự khi lo lắng 45
Bảng 18: Mong muốn của trẻ OVC chia theo nhóm tuổi 47
Bảng 19: So sánh cảm nhận của trẻ OVC khi chia sẻ với người chăm sóc 48
Bảng 20: Tương quan việc trẻ thích tham gia hoạt động và được mời tham gia 50
Trang 10DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
TRANG
TRANG
Biểu đồ 1: Lý do thực hiện hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ OVC 26
Biểu đồ 2: Mức độ tham gia trò chơi của trẻ OVC 31
Biểu đồ 3: Mối quan hệ giữa người chăm sóc với trẻ OVC 34
Biểu đồ 4: Nơi trẻ OVC thường được hỗ trợ tâm lý xã hội 38
Biểu đồ 5: Nhận thức về tầm quan trọng của vui chơi 39
Biểu đồ 6: Trẻ tự đánh giá những vấn đề gặp phải trong cuộc sống 44
Biểu đồ 7: Cách giải quyết vấn đề tâm lý của trẻ 45
Biểu đồ 8: Nơi tổ chức các hoạt động vui chơi 50
Trang 11CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
OVC: Trẻ nhiễm và bị ảnh hưởng BC: Báo cáo
BYT: Bộ Y tế QĐ: Quyết định TTg: Thủ tướng NGOs: Tổ chức phi chính phủ quốc tế
Trang 12CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 TÍNH CẤN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đại dịch HIV/AIDS đã tác động và đe dọa đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội
và đang từng bước lan ra các nhóm dân cư trong cộng đồng Tính đến ngày 30/6/2012, số trường hợp nhiễm HIV ở Việt Nam còn sống là 204,019 người, tổng số bệnh nhân AIDS còn sống là 58,569 người và tổng số người nhiễm HIV đã tử vong
là 61,856 người Trong đó, An Giang là một trong 10 tỉnh thành có số người nhiễm HIV cao nhất cả nước (Bộ Y tế, Báo cáo công tác phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm và trọng tâm kế hoạch 6 tháng cuối năm 2012, số 755/BC-BYT, ngày
4/9/2012) Tính đến hết năm 2013 toàn tỉnh An Giang có 4.992 trường hợp nhiễm
HIV, và An Giang vẫn là tỉnh đứng thứ 10 trong danh sách các tỉnh có số người nhiễm còn sống cao nhất (Bộ Y tế, 2014) Kết quả trên cho thấy, tình hình dịch HIV/AIDS tại An Giang đã giảm mạnh so với năm 2012 (8.430) và các năm trước
đó Tuy nhiên số lượng người sống chung với HIV/AIDS hiện nay của An Giang vẫn tương đối nhiều, đặc biệt là trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS (trẻ OVC) Trong năm 2006 số lượng trẻ em dưới 16 tuổi chỉ chiếm 3,8% tổng số ca tích lũy nhiễm HIV, thì tới năm 2009 con số này đã tăng lên 4,8% (Unicef, 2011) và hiện nay, toàn tỉnh có 188 trẻ bị nhiễm HIV/AIDS, 682 trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS (Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang, 2014) Đây chỉ là con số thống kê được, trên thực tế số lượng trẻ nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV còn cao hơn nhiều, do hiện nay việc thu thập
số liệu về trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS chưa được thống kê một cách đầy đủ và chính xác
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xây dựng nhiều chính sách phục vụ cho cuộc sống của những người nhiễm HIV/AIDS như: Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 22/5/2012 về việc tăng cường công tác phòng, chống HIV/AIDS; Quyết định số 608/QĐ-TTg ngày 25/5/2012 về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030; Quyết định số 84/2009/QĐ-TTg nhằm tăng cường chăm sóc và bảo vệ trẻ em bị nhiễm HIV và có nguy cơ nhiễm HIV cao; nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà cuộc sống của những người có và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS vẫn gặp nhiều khó khăn; trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS vẫn còn bị cộng đồng kỳ thị, phân biệt đối xử, hạn chế sự tiếp cận với các dịch vụ xã hội (Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang, 2014) Một trong những dịch vụ đó là hỗ trợ tâm lý cho các em Có thể thấy, hiện nay trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS vẫn chưa được đáp ứng nhu cầu về mặt tâm lý xã hội, trong khi nhiều em mong muốn có nơi để vui chơi giải trí (57,9%) và được tư vấn về tâm
lý (42,1%) (Wordwide Orphams Foundation, 2012)
Trẻ sống chung với HIV phải đối mặt với nhiều vấn đề, bao gồm: không được tiếp cận điều trị ARV, chăm sóc sức khoẻ nói chung, tỷ lệ đi học thấp do các vấn đề
Trang 13về sức khoẻ hay do sự kỳ thị, phân biệt đối xử và những khó khăn trong hoà nhập cộng đồng (Unicef, 2010) Vì vậy, hỗ trợ tâm lý cho trẻ là rất cần thiết trong việc giúp trẻ ổn định về cảm xúc, có khả năng tự vượt qua khủng hoảng, từ đó chậm suy kiệt cơ thể, có tinh thần khỏe mạnh, sống hữu ích cho gia đình, xã hội
Hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC không chỉ là việc làm có tính chuyên môn, nghiệp vụ,
mà còn là việc đáp ứng tinh thần sâu xa cho các em Đó là công việc không chỉ của nhà tâm lý, mà còn là của tất cả những ai tiếp xúc với trẻ OVC Sự có mặt của người thân, người quen, hiểu biết và chấp nhận các em trong những lúc các em cảm thấy cô đơn là sự hỗ trợ tinh thần rất lớn Tổ chức Unicef trong báo cáo phân tích tình hình trẻ em tỉnh An Giang đã cho biết:
“Mặc dù tỉnh An Giang đã đạt được những tiến bộ trong việc nâng cao các dịch
vụ chăm sóc y tế và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS, song vẫn còn nhiều hạn chế trong công tác bảo trợ xã hội và tư vấn cho những đối tượng này Nhiều cán bộ trực thuộc các ban ngành tại tỉnh và huyện ở An Giang cũng cho rằng việc tăng cường cung cấp dịch vụ tư vấn cho các gia đình và trẻ em sống chung với HIV/AIDS cần được đặt thành một ưu tiên cao trong thời gian tới.” (Unicef, 2011)
Nhận thức được tầm quan trọng của việc hỗ trợ tâm lý, chúng tôi tiến hành nghiên cứu "Thực trạng hỗ trợ tâm lý cho trẻ em bị nhiễm và ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS tại tỉnh An Giang", để từ đó có những kế hoạch và biện pháp hỗ trợ tâm
lý cho trẻ nhằm giúp các em có được thể trạng tâm lý tốt nhất cho sự phát triển cuộc
sống sau này
1.2 MỤC TIÊU CỦA NGHIÊN CỨU
- Chỉ ra được thực trạng về hỗ trợ tâm lý cho trẻ em bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS tại An Giang hiện nay
- Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng hỗ trợ tâm lý cho trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại An Giang
1.3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu: Công tác hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC
1.3.2 Khách thể nghiên cứu: Trẻ OVC có độ tuổi từ 6 đến 16 tuổi; Người chăm
sóc; Cán bộ làm việc liên quan đến trẻ OVC
1.3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về đối tượng nghiên cứu: Trong đề tài này, công tác hỗ trợ tâm lý cho trẻ
OVC được hiểu là những hoạt động tiếp xúc với trẻ OVC dưới các hình thức:
+ Tổ chức nói chuyện với các em,
+ Tổ chức cho các em tham gia các trò chơi,
+ Tổ chức cho các em tham gia các hoạt động xã hội,
+ Tham vấn ca
Trang 14- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng
8/2013 đến 8/2014
- Phạm vi về không gian nghiên cứu: Đề tài tiến hành khảo sát tại khu giới địa lý và
hành chính: TP Long Xuyên; huyện Châu Phú và huyện Tịnh Biên
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung tìm hiểu những nội dung sau:
1.4.1 Tìm hiểu các khái niệm, chính sách, văn bản của Đảng và Nhà nước, tỉnh
An Giang về việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ em bị nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
1.4.2 Khảo sát thực trạng hỗ trợ tâm lý (sức khỏe tâm thần và việc tham gia các
hoạt động xã hội) cho trẻ OVC từ phía các đơn vị cung cấp dich vụ tại địa phương, nhà trường và từ phía gia đình Trong nội dung này chúng tôi tìm hiểu các vấn đề chính sau:
+ Các hỗ trợ tâm lý để trẻ vượt qua được giai đoạn khủng hoảng tinh thần khi gặp phải sự cố trong cuộc sống (thông qua các hình thức: nói chuyện, tư vấn và tham vấn ca)
+ Các hỗ trợ tâm lý xã hội để trẻ hoà nhập với cộng đồng xã hội (thông qua hình thức vui chơi giải trí và tham gia vào các hoạt động xã hội)
1.4.3 Khảo sát nhu cầu hỗ trợ tâm lý của trẻ OVC và xem xét chúng trong mối
tương quan với việc đáp ứng nhu cầu này của các tổ chức tại địa phương, nhà trường
và gia đình
+ Nhu cầu được chia sẻ, quan tâm, tư vấn, tham vấn và điều trị về tâm lý + Nhu cầu được tham gia các hoạt động xã hội của trẻ bị nhiễm và ảnh hưởng HIV/AIDS
+ Mức độ đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC từ các tổ chức tại địa phương, nhà trường và gia đình
1.4.4 Điều tra về số trẻ có bảo hiểm y tế và số trẻ bị nhiễm được điều trị miễn
phí
14.5 Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng hỗ trợ tâm lý cho trẻ bị nhiễm và ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS tại An Giang
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Đối với lĩnh vực khoa học có liên quan: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp
cung cấp một bức tranh về thực trạng hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC ở tỉnh An Giang,
mà cụ thể là tại thành phố Long Xuyên; huyện Châu Phú; huyện Tịnh Biên Qua
đó, góp thêm cơ sở khoa học và thực tiễn trong lĩnh vực nghiên cứu đối với trẻ OVC trên địa bàn tỉnh Ngoài ra, cơ sở lý luận cũng như kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc xây dựng các kế hoạch, chương trình
Trang 15- Đối với kinh tế - xã hội: Đề xuất cho việc xây dựng chủ trương, chính sách đẩy
mạnh công tác hỗ trợ tâm lý cho trẻ nhiễm và ảnh hưởng HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh An Giang từ đó góp phần nâng cao đời sống tinh thần của các em
- Tác động đối với ngành: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu ngành có cơ sở tham mưu
đề xuất kế hoạch, chiến lược ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC
Trang 16CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
HIV/AIDS đã tác động đến cuộc sống của trẻ em, nhiều em đã mất đi người thân, mất đi sự chăm sóc, yêu thương của cha mẹ và cơ hội được học hành,…, thậm chí có nhiều em còn mang trong mình căn bệnh HIV hoặc phải sống chung với HIV/AIDS nên thường xuyên cảm thấy buồn tủi, chán nản, tự ti… Điều này, làm gián đoạn và ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường cũng như khả năng hội nhập xã hội của trẻ
"Có những em do cha mẹ bị nhiễm HIV/AIDS đã trở thành những đứa trẻ mồ côi, hoặc trở thành người chăm sóc cho những người thân đang trong tình trạng ốm đau, bệnh tật Điều này gây nên những biến động lớn trong cuộc sống của các em Còn đối với những trẻ bị nhiễm HIV, ngoài việc phải chịu đựng tình trạng sức khỏe yếu kém, trẻ còn phải gánh chịu những định kiến, kỳ thị của xã hội” (Unicef, 2012, tr 73)
Thực tế cho thấy, trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS nếu được chăm sóc về sức khỏe và tinh thần đúng cách sẽ giúp các em sống vui, sống khỏe, sống có ích cho gia đình và cộng đồng xã hội Đồng thời, qua đó cũng góp phần ngăn chặn sự lây lan của đại dịch HIV/AIDS Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ OVC, trong những năm qua, tỉnh An Giang đã có nhiều kế hoạch, chương trình hành động nhằm tăng sự hiểu biết về trẻ OVC cũng như nhằm giúp các em có một cuộc sống bình thường như bao trẻ em khác Từ đó, việc chăm sóc cho trẻ OVC ngày càng mang tính toàn diện và lâu dài hơn Tuy nhiên việc triển khai, thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn nhiều vướng mắc và hạn chế trên thực tế Mặc dù, không thể phủ nhận những thành tựu trong công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ OVC, song cũng phải mạnh dạn nhìn nhận rằng trẻ OVC vẫn chưa thật
sự được hỗ trợ quan tâm về mặt tâm lý, trong khi đó các em phải đón nhận quá nhiều rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cũng như thái độ kỳ thị và phân biệt đối xử từ phía cộng đồng
Vì những lẽ trên, trẻ OVC rất cần được yêu thương, chia sẻ, đồng hành và hỗ trợ tâm lý để có được sự cân bằng, ổn định về mặt tinh thần, vững vàng, tự tin hơn trong cuộc sống Hay nói cách khác, hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC là một việc làm rất quan trọng và thiết thực nhằm đạt được những cam kết trong việc thực hiện mục tiêu chung về bảo đảm quyền trẻ em cũng như tiến tới đẩy lùi đại dịch HIV/AIDS Tuy nhiên, để đạt được những lợi ích to lớn trên, cần phải có môi trường sống không kỳ thị, không phân biệt đối xử và đặc biệt là cần có cơ hội tiếp cận bình đẳng với các dịch vụ xã hội, trong đó có cả dịch vụ hỗ trợ tâm lý Đồng thời, cũng cần sự hỗ trợ tinh thần, yêu thương … của người chăm sóc và sự hỗ trợ từ những cán bộ, tổ chức chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp (cán bộ y tế, giáo viên…) trong xã hội
Trang 172.2 LƢỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.2.1 Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài tại Việt Nam
Trẻ OVC thường phải sống trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chịu nhiều thiệt thòi trong học tập, chăm sóc y tế, bị phân biệt đối xử Đồng thời trẻ còn luôn phải sống trong tâm trạng buồn tủi, chán nản …vì những nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên trẻ OVC cũng đều có nguyện vọng như những trẻ em bình thường khác đó là: được sống cùng gia đình và người thân, được người lớn bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng, được điều trị mỗi khi ốm đau, được bình đẳng, được tiếp tục cắp sách đến trường, được vui chơi cùng bạn bè
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến việc giải quyết các vấn đề bức xúc trong công tác dự phòng, chăm sóc, hỗ trợ và điều trị cho trẻ OVC,
cụ thể như: hỗ trợ thực phẩm và dinh dưỡng, nơi ở, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ tâm lý và hỗ trợ giáo dục, đào tạo nghề, hỗ trợ mua BHYT, hỗ trợ học phí, dụng
cụ học tập, … Bên cạnh những hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho trẻ OVC, các tổ chức chính trị, cá nhân, đoàn thể, các nhà nghiên cứu cũng đã nỗ lực để tìm hiểu những vấn đề xảy ra xung quanh cuộc sống vật chất, tinh thần của trẻ nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của các em Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng ta có thể xem xét và kế thừa các công trình nghiên cứu ở 2 khía cạnh sau:
Nhóm 1: Những công trình nghiên cứu về trẻ OVC
Nghiên cứu “Nhu cầu hội nhập của trẻ nhiễm HIV/AIDS tại trung tâm Mai Hòa tháng 4/2008” (Phạm Hằng Hà & Phạm Thị Lan Anh, 2008) đã thu thập thông tin định tính từ các em nhỏ sống tại trung tâm Mai Hòa Kết quả nghiên cứu cho thấy: các em bị đẩy vào tình trạng thiếu thốn tình thương và sự hụt hẫng về mặt tinh thần Những ước mơ thật giản dị như có một mái ấm gia đình cùng với cha mẹ và anh chị
em thương yêu nhau, được đi học, được vui chơi, được khỏe mạnh và đặc biệt là không bị kỳ thị Nghiên cứu cũng cho biết: Trung tâm Mai Hòa đã đáp ứng các nhu cầu về mặt dinh dưỡng, y tế, vui chơi giải trí, vệ sinh cá nhân, học tập và điều trị tâm
lý (2 lần/tháng) đối với những trẻ có khó khăn tâm lý, tuy nhiên trẻ nhiễm vẫn chưa nhận được sự đón nhận của cộng đồng, xã hội do người dân địa phương chưa thật sự hiểu về căn bệnh, về các em; từ đó chưa có nhận thức đúng đắn và sự cảm thông sâu sắc với hoàn cảnh cũng như sự khác biệt mà các em đang phải gánh chịu
Một nghiên cứu khác về “Nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhiễm HIV và trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội năm 2011” (Tạp chí Y học thực hành, 2012) cũng đã cho thấy trẻ OVC có 2 nhóm nhu cầu chăm sóc sức khỏe chính: (1) Nhu cầu chăm sóc sức khỏe thể chất, (2) Nhu cầu chăm sóc sức khỏe tinh thần - xã hội Đồng thời có 4 rào cản chính trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của trẻ OVC, gồm các rào cản về kinh tế, nhận thức của trẻ OVC - người chăm sóc trẻ, sự kỳ thị - phân biệt đối xử, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế tại địa phương Trong các nhu cầu của trẻ, đề tài cũng cho thấy 44% trẻ OVC có cảm giác lo sợ và khi có chuyện buồn, các em ít chia sẻ với bạn bè, thầy cô
Trang 18vì ngại mọi người biết hoàn cảnh của mình, vì thế các em thường chia sẻ với mọi người trong gia đình, đặc biệt là những người chăm sóc
Một công trình khác cần được nhắc đến , đó là đề tài “Công tác xã hội với trẻ em nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV /AIDS” (Bùi Thị Xuân Mai, 2009) Đề tài đã nghiên cứu về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ OVC, phản ứng của gia đình và xã hội, nguồn lực hỗ trợ Từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ mang tính công tác xã hội Bên cạnh
đó, đề tài cũng chỉ ra rằng các nhu cầu của trẻ chưa được đáp ứng một cách đầy đủ Thêm vào đó thái độ kỳ thị, xa lánh, coi thường của những người xung quanh đã tạo nên rào cản tâm lý ngăn cản trẻ được hòa nhập với cộng đồng vì thế cũng đồng thời tước đi những quyền cơ bản của trẻ.Vì vậy, vai trò của nhân viên công tác xã hội là
hỗ trợ trẻ để hướng các em đến một cuộc sống gần với những trẻ bình thường nhất Các nghiên cứu trên đã khái quát được những nhu cầu của trẻ OVC và những vấn
đề mà em gặp phải trong cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên các đề tài này mới chỉ khái quát hoá về cuộc sống của trẻ OVC, mà chưa đi sâu vào phân tích nhu cầu ưu tiên của các trẻ, cũng như chưa đánh giá được việc đáp ứng nhu cầu của các đơn vị cung cấp dịch vụ Do đó cần thiết phải có những đề tài nghiên cứu mang tính chuyên sâu hơn, và đi vào từng nhu cầu của trẻ OVC, đặc biệt là nhu cầu hỗ trợ tâm lý để có được những giải pháp mang tính khả thi
Nhóm 2: Những nghiên cứu về hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC, chẳng hạn như:
Nghiên cứu “Tham vấn tâm lý cho trẻ nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS” (Phạm Văn Tư, không ngày tháng) đã chỉ ra rằng 77,0% trẻ có H có cảm giác “có gì
đó không ổn lắm” và 5,5% trẻ nhiễm HIV cảm thấy đời sống tinh thần của mình
“không bình yên”, trong khi đó không có trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV nào có cảm giác này Đồng thời nghiên cứu cũng cho thấy, khi có khó khăn về vấn đề tâm lý, 47,3% trẻ thường xuyên chia sẻ, tâm sự với người khác Tuy nhiên để có thể trợ giúp cho trẻ OVC một cách hiệu quả, rất cần sự trợ giúp của nhà tham vấn - những người được đào tạo, có kiến thức, kỹ năng…
Tài liệu tập huấn “Tham vấn cho trẻ em bị nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV” (Unicef, 2012) là một công trình đề cập đến tâm lý của trẻ nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV và những kỹ năng cơ bản mà cán bộ tham vấn tâm lý cần được trang bị để giúp
đỡ trẻ em hoặc gia đình có trẻ bị nhiễm HIV cũng như trẻ có người thân trong gia đình nhiễm HIV Đây là một tài liệu cần thiết và có ý nghĩa cho những giảng viên, tập huấn viên trong việc hướng dẫn và nâng cao năng lực cho những cán bộ làm việc với trẻ em
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên, còn có nhiều bài báo, bài tham luận, phóng sự trên các phương tiện truyền thông đại chúng, trên các tạp chí chuyên ngành
và trên các kỷ yếu hội thảo đề cập đến vấn đề trẻ OVC như bài viết “Trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS và thái độ của cộng đồng” của PGS.TS Trần Thị Minh Đức và TS Nguyễn Trà Vinh; hay bài viết “Hỗ trợ trẻ em bị nhiễm và ảnh hưởng bởi
Trang 19Nhìn chung các nghiên cứu, bài viết đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến trẻ OVC, trong đó tập trung vào các nhu cầu của trẻ, đặc điểm về tâm sinh lý của trẻ OVC, sự đáp ứng nhu cầu của trẻ, sự cần thiết phải hỗ trợ về tâm lý cho trẻ cũng như
kỹ thuật và tiến trình hỗ trợ tâm lý cho trẻ Tuy nhiên các đề tài trên chưa đề cập đến hiện trạng công tác hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ OVC trong giai đoạn hiện nay
2.2.2 Tổng quan nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài tại An Giang
Trong thời gian qua, An Giang cũng đã có một số công trình nghiên cứu, điều tra liên quan đến trẻ OVC như:
Nghiên cứu của Trịnh Hữu Vách & Nguyễn Đình Cường (2010) đã tiến hành phỏng vấn sâu 30 cán bộ, 40 khách hàng sử dụng dịch vụ và 6 cuộc thảo luận nhóm tại 3 tỉnh Kom Tum, Điện Biên và An Giang Kết quả khảo sát cho thấy: “các hoạt động liên quan đến trẻ em và HIV/AIDS vẫn chỉ mang tính phong trào chưa có tính lan tỏa và hiệu ứng đến các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa” Trong gói dịch vụ “dự phòng lây truyền từ mẹ sang con và theo dõi sau sinh” tại 2 tỉnh An Giang, Điện Biên mới chỉ tập trung vào các nhóm có nguy cơ cao mà chưa quan tâm một cách cụ thể đến nhóm người dân tộc thiểu số Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc, điều trị và hỗ trợ liên quan đến HIV/AIDS cho phụ nữ và trẻ em dân tộc thiểu số nhiễm HIV Điều này cũng phần nào được thể hiện qua nghiên cứu của tổ chức Worldwide Orphans Foundation (2012) Theo đó, nghiên cứu đã chỉ ra rằng:
“Các hỗ trợ hiện tại chỉ mới đáp ứng được một phần nhu cầu của trẻ, trẻ có nhu cầu cao về hỗ trợ dinh dưỡng, giáo dục, y tế và tâm lý… Trong 7 gói dịch vụ (dinh dưỡng, giáo dục, y tế, tâm lý, pháp lý, sinh kế và nhà ở) thì trẻ chỉ tiếp cận được từ 3,4 dịch vụ, đầu tiên là y tế, kế đến là dinh dưỡng, pháp lý, giáo dục và tâm lý… Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy, các hỗ trợ về tâm lý, tinh thần là loại hỗ trợ được thực hiện bởi khá nhiều đơn vị, đứng sau các dịch vụ về hỗ trợ y tế Và các đơn
vị này đang gặp khó khăn là do người Việt Nam chưa có thói quen tìm đến với các chuyên gia làm tham vấn, tư vấn bởi vậy các đơn vị cung cấp dịch vụ phải chủ động tiếp cận các đối tượng trong quá trình sinh hoạt, trò chuyện…”
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã mô tả khái quát về nhu cầu của trẻ, về mức
độ đáp ứng nhu cầu của trẻ OVC và người chăm sóc cũng như đề cập đến khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc hỗ trợ và hoạt động của các đơn vị cung cấp dịch vụ cho người có H và trẻ OVC Các nghiên cứu trên sẽ là những tài liệu hữu ích trong việc tham khảo để có những nghiên cứu sâu hơn về các lĩnh vực hỗ trợ cho người nhiễm HIV và trẻ OVC
Tính đến thời điểm hiện nay, trên địa bàn tỉnh An Giang chưa có một công trình nghiên cứu chính thức nào đánh giá về công tác hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ OVC, hy
vọng qua đề tài này sẽ cung cấp cơ sở dữ liệu về thực trạng hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC của tỉnh An Giang trong những năm gần đây và xem xét chúng trong mối tương quan với nhu cầu của trẻ Trên cơ sở đó, đề tài giúp góp phần định hướng cho vấn đề
Trang 20cải thiện dịch vụ hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC nói riêng và cho trẻ em tỉnh An Giang nói chung
2.3 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
2.3.1 Khái niệm về hỗ trợ tâm lý
2.3.1.1 Hỗ trợ: Hỗ trợ” là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào (Nguyễn Như Ý,
1998)
2.3.1.2 Tâm lý: Theo từ điển Tâm lý học xã hội do Vũ Dũng chủ biên, tâm lý
học xã hội là một phân ngành của tâm lý học, nghiên cứu các quy luật khách quan của sự tác động qua lại giữa các yếu tố tâm lý và xã hội trong hoạt động của cá nhân
và các nhóm người Tâm lý học xã hội nghiên cứu đặc điểm tâm lý của các nhóm xã hội, các tầng lớp và các giai cấp khác nhau trong xã hội, nghiên cứu các đặc tính (giai cấp, dân tộc, v.v) và các quy luật hình thành những loại hình nhân cách mang tính lịch sử, xã hội, nghiên cứu các cơ chế quan hệ qua lại về mặt tâm lý xã hội trong các nhóm xã hội khác nhau, nghiên cứu các hình thức giao tiếp khác nhau trong tập thể (Vũ Dũng 2012)
Tâm lý còn được hiểu là bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành một hành động, hoạt động của con người Tìm hiểu tâm lý của con người nghĩa là tìm hiểu về suy nghĩ tình cảm, ước muốn, nguyện vọng của họ (Đinh Phương Duy, 1999)
Theo ARC-ModF7-StudyMaterial (2009) thì: Hỗ trợ tâm lý xã hội là giúp đỡ trẻ
em, gia đình và cộng đồng để cải thiện tâm lý, phúc lợi của họ cũng như khuyến khích sự kết nối giữa con người, và xây dựng một cảm giác an toàn, thoải mái, tự tin
về bản thân và cộng đồng Sự hỗ trợ này được thể hiện qua mối quan hệ chăm sóc và tôn trọng thông qua việc giao tiếp, hiểu biết, khoan dung và chấp nhận Hỗ trợ tâm lý
xã hội là một sự chăm sóc và hỗ trợ liên tục, nó ảnh hưởng đến cả cá nhân và môi trường xã hội Sự chăm sóc, hỗ trợ tâm lý này diễn ra hàng ngày, trong một vài trường hợp trẻ có thể có yêu cầu trị liệu tâm lý Trong đó lĩnh vực của tâm lý xã hội bao gồm: an sinh xã hội, an sinh tình cảm, kỹ năng và kiến thức, phúc lợi vật lý Thuật ngữ “hỗ trợ tâm lý” thường được sử dụng tại nhiều tổ chức NGOs Trong những năm gần đây, thuật ngữ này cũng được sử dụng để đặt tên cho một số tổ chức hoặc chương trình có liên quan đến lĩnh vực tâm lý xã hội, như Trung tâm hỗ trợ và
tư vấn tâm lý, chương trình hỗ trợ sức khoẻ tâm thần và tâm lý xã hội trong tình huống khẩn cấp Tuy nhiên, thuật ngữ này chưa được định nghĩa một cách cụ thể Tại Việt Nam thuật ngữ “trợ giúp tâm lý” thường được tìm hiểu và định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau, đồng thời, đây cũng là thuật ngữ được sử dụng trong nhiều nghiên cứu liên quan đến tâm lý và nhu cầu tâm lý Xét trên ngữ nghĩa, “hỗ trợ tâm lý” có thể được hiểu là một hoạt động giúp đỡ cho những người có khó khăn về vấn đề tâm lý, để họ có khả năng tự giải quyết vấn đề trong cuộc sống Hỗ trợ tâm lý bao gồm cho lời khuyên, răn dạy, tư vấn, tham vấn và trị liệu Trong đó, các hình thức: cho lời khuyên, răn dạy, tổ chức vui chơi có thể được hỗ trợ bởi những người không chuyên, còn tư vấn, tham vấn và trị liệu tâm lý thường được hỗ trợ bởi những
Trang 21người có chuyên môn, kỹ thuật như nhà tham vấn, nhà tâm lý, nhân viên công tác xã hội
Trong đề tài này, hỗ trợ tâm lý được hiểu là một cách tiếp cận với các thân chủ (đối tượng) nhằm thúc đẩy khả năng phục hồi về tâm lý của cá nhân và cộng đồng
Và hỗ trợ tâm lý được xem xét ở các hoạt động sau:
- Nói chuyện, tư vấn
- Hoạt động tổ chức vui chơi giải trí
- Tham gia hoạt động xã hội
- Hoạt động tham vấn ca
2.3.2 Tƣ vấn về HIV/AIDS
Tư vấn đã được cụ thể hóa trong Điều 2 của Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây
ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)
Theo đó “tư vấn về HIV/AIDS là quá trình đối thoại, cung cấp các kiến thức, thông tin cần thiết về phòng, chống HIV/AIDS giữa người tư vấn và được tư vấn nhằm giúp người được tư vấn tự quyết định giải quyết các vấn đề liên quan đến dự phòng lây nhiễm HIV, chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV” Hay nói cách khác tư
vấn là một quá trình giúp khách hàng nâng cao nhận thức và tính tự tin để giải quyết vấn đề của chính bản thân họ
2.3.3 Tham vấn tâm lý
Tham vấn không giống như một cuộc nói chuyện Tham vấn là một mối quan hệ, một quá trình trong đó nhà tham vấn giúp thân chủ cải thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác, hiểu và nhìn nhận được nội dung, ý nghĩa, cảm giác và hành vi của họ Nhà tham vấn không giải quyết vấn đề cho thân chủ (Unicef, 2012)
Các hoạt động nói chuyện, tư vấn và tham vấn là những hoạt động giúp trẻ vượt qua các vấn đề khó khăn cũng như các khủng hoảng trong cuộc sống Các hoạt động vui chơi giải trí và tham gia các hoạt động xã hội sẽ giúp trẻ có thêm kỹ năng, sự tự tin để hoàn thiện nhân cách và hoà nhập xã hội
2.3.4 Khái niệm HIV/AIDS
Theo Luật phòng, chống vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (số 64/2006/QH11 ngày 29/6/2006):
HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Human Immunodeficiency Virus" là vi
rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh
AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Acquired Immune Deficiency
Syndrome" là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được
biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn đến tử vong
Trang 222.3.5 Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS (trẻ OVC)
Theo Công ước về quyền trẻ em “trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” (Công ước về quyền trẻ em, 1989) Còn theo luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” (Quốc hội, 2004) Cũng theo Luật này, trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt
Theo quyết định số 84/2009/QĐ-TTg, ngày 04/06/2009 về việc Phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS đến năm 2010 và
tầm nhìn đến năm 2020, thì Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV bao gồm:
+ Trẻ em nhiễm HIV
+ Trẻ em có nguy cơ cao nhiễm HIV:
- Trẻ em mồ côi do bố và mẹ hoặc bố hoặc mẹ chết vì lý do liên quan đến HIV/AIDS;
- Trẻ em sống với bố, mẹ hoặc người nuôi dưỡng nhiễm HIV;
- Trẻ em sử dụng ma túy;
- Trẻ em bị xâm hại tình dục;
- Trẻ em là con của người mua dâm, bán dâm, sử dụng ma túy;
- Trẻ em là nạn nhân của tội mua bán người;
- Trẻ em lang thang;
- Trẻ em mồ côi do các nguyên nhân khác;
- Trẻ em sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội; cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng Còn theo Quyết định 570/QĐ-TTg năm 2014, thuật ngữ về trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được điều chỉnh và phân chia thành 3 nhóm, cụ thể như sau:
+ Trẻ nhiễm HIV;
+ Trẻ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi HIV: Trẻ em mồ côi do bố và mẹ hoặc bố hoặc
mẹ chết vì lý do liên quan đến HIV/AIDS; trẻ em sống với bố, mẹ hoặc người nuôi dưỡng nhiễm HIV;
+ Trẻ em có nguy cơ cao nhiễm HIV: Trẻ em sử dụng ma túy; trẻ em là con của người mua dâm, bán dâm, sử dụng ma túy; trẻ em sống trong các cơ sở trợ giúp trẻ
em
Thuật ngữ “trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS” còn thường được gọi là trẻ OVC Đây là cách gọi phổ biến của các dự án, các tổ chức phi chính phủ làm việc với trẻ em nhằm mục đích bảo mật thông tin Thuật ngữ trẻ OVC được hiểu là tất cả trẻ mồ côi và dễ bị tổn thương (USAID, Pact 2010) và (USAID, WWO và Trường Đại học LĐXH cơ sở II, không ngày tháng) Hiện nay, thuật ngữ này cũng được sử
Trang 23dụng nhiều trong các hoạt động truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS của các cơ quan nhà nước
Trong nghiên cứu này, thuật ngữ viết tắt trẻ OVC cũng được sử dụng để tiện cho việc thu thập thông tin và bảo mật thông tin của người cung cấp Đồng thời, trẻ OVC được xác định là trẻ em từ 0 đến dưới 16 tuổi, bị nhiễm HIV (được xác định là dương tính với HIV) và mồ côi do bố và mẹ hoặc bố hoặc mẹ chết vì lý do liên quan đến HIV/AIDS; trẻ em sống với bố, mẹ hoặc người nuôi dưỡng nhiễm HIV
Như vậy, hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC là cung cấp và thực hiện các hoạt động chia
sẻ nói chuyện, tư vấn; tham vấn, tổ chức vui chơi giải trí và các hoạt động xã hội cho trẻ để giúp trẻ có sức khỏe tâm thần khoẻ mạnh nhằm vượt qua và thích ứng với những khủng hoảng hoặc khó khăn trong cuộc sống
2.3.6 Đặc điểm tâm lý của trẻ OVC
Sự thiếu hiểu biết về HIV/AIDS của cộng đồng, gia đình cũng như những tác động mạnh mẽ của căn bệnh HIV/AIDS đến trí nhớ, nhận thức của trẻ đã có ảnh hưởng tiêu cực đến các giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ OVC Chính vì vậy, bên cạnh những đặc điểm tâm lý chung, trẻ OVC còn có những đặc điểm riêng biệt Theo tổ chức Pact Việt Nam (2010), trẻ OVC có một số biểu hiện tâm lý phổ biến sau:
- Căng thẳng, lo âu: Trẻ bị rối nhiễu tâm trí do mâu thuẫn trong gia đình hoặc bị
phân biệt đối xử tại nhà trường, cộng đồng dẫn đến lo âu, thiếu tự tin và có thể dẫn đến trầm cảm
- Rối loạn hành vi: Nguyên nhân có thể là do phát hiện ra tình trạng có HIV của
cha/mẹ, người thân, của chính trẻ hoặc do cái chết đột ngột của cha/mẹ và người thân Bên cạnh đó trẻ chưa được chuẩn bị tâm lý để đón nhận những tình huống này Trong khi đó, môi trường hỗ trợ trẻ chưa được thiết lập Các hành vi rối loạn thường gặp là:
+ Tự kỷ: cô lập, tự kỷ, không cởi mở với bạn bè, nơi công cộng, e ngại khi tham
gia các hoạt động xã hội/cộng đồng, gây hấn, xa lánh mọi người và nghiện hút, nghiện rượu bia
+ Phủ nhận: Trẻ không chấp nhận, không tin vào những lời nói, sự kiện xảy ra
trong cuộc sống có liên quan đến tình trạng có HIV của gia đình Đây là hình thức phản ứng tạm thời trước kết quả xét nghiệm có HIV của trẻ và thành viên khác
+ Đổ lỗi/trách móc: Trẻ tìm cách đổ lỗi cho tình trạng có HIV và những tác động
của HIV/AIDS trong cuộc sống của trẻ lên người khác
+ Tội lỗi: trẻ cảm thấy tội lỗi vì tình trạng có HIV của mình và gia đình Trẻ có
thể không tiết lộ tình trạng của mình, sống tiêu cực và không hợp tác với các dịch vụ
hỗ trợ
Trang 24+ Tức giận: Trẻ tức giận vì không hài lòng về hoàn cảnh và cảm thấy bế tắc trong
các nỗ lực thay đổi Tức giận có thể biểu hiện ra ngoài hoặc được giữ kín
+ Sợ hãi và sốc: Trẻ sợ hãi và sốc trước bệnh tật, cái chết và những tổn thương
khác Sợ hãi và sốc thường liên quan đến những cảm xúc chết lặng, bối rối và yếu đuối
- Khả năng khẳng định bản thân kém: Trẻ không được cha mẹ và bà con hàng xóm
giúp phát triển các yếu tố khẳng định bản thân trong ngữ cảnh văn hóa của cộng đồng, xã hội
- Khả năng thích ứng với thay đổi kém: Trẻ thiếu hỗ trợ, đặc biệt là từ cha mẹ và
cộng đồng, để thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống
Những đặc điểm này, cần được quan tâm, chú ý khi nói chuyện hay làm việc với các em Tuy nhiên, ở mỗi nhóm tuổi, trẻ OVC lại có những đặc điểm tâm lý khác nhau Và mỗi tổ chức, cá nhân có cách xác định đặc điểm tâm lý của trẻ tùy vào mục đích can thiệp, hỗ trợ và trị liệu cho trẻ Trong nghiên cứu này, đặc điểm tâm lý của nhóm trẻ có độ tuổi từ 6 – 16, sẽ được tham khảo từ cách phân chia đặc điểm tâm lý của tổ chức USAID, WWO và ULSA2 (2011):
Giai đoạn từ 6 đến 11 tuổi: Trẻ ở giai đoạn này có thể hiểu được những lý lẽ trừu
tượng Các em nhận thức được bệnh tật và cảm thấy có bệnh là điều xấu hổ Trẻ đặt nhiều câu hỏi hơn và thực sự muốn được trả lời Trẻ mệt mỏi vì bệnh và đi gặp bác
sĩ Trẻ biết phải thực hành việc tự chăm sóc Trẻ có thể tự trách bản thân vì bị bệnh
và trở thành gánh nặng cho người khác
Giai đoạn từ 12 đến 16 tuổi: Ở độ tuổi này trẻ có thể tự tìm câu trả lời Trẻ biết
nguyên nhân gây bệnh của trẻ và chấp nhận điều đó Trẻ có thể cảm thấy nhút nhát hoặc sợ bị ghét và cần ai đó để tư vấn Trẻ có thể tìm thông tin về sự tự chăm sóc và hăng hái tìm sự điều trị Nếu trẻ nhận được lời tư vấn thích hợp về cách sống, trẻ có thể sống tốt hơn Trẻ phát huy sự tưởng tượng và có thể ước mơ cho tương lai Một
số trẻ nghĩ đến thời gian trẻ sẽ có thể còn sống để thực hiện hoài bão Một số khác có thể cảm thấy nản chí, bối rối, và vô vọng, cảm thấy khó quyết định nên tranh đấu hay không với cuộc sống Trẻ ở lứa tuổi này hiểu sự chết là vĩnh viễn và có thể cảm thấy trầm cảm sau khi biết là trẻ sẽ chết Trẻ sợ tiến trình chết và sợ chết , và những sợ hãi này có thể được giảm nếu trẻ được tham vấn để biết cách thức chuẩn bị và đối diện
Trang 25- Trẻ từ 12 đến dưới 16 tuổi: Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ thiếu niên sang trưởng thành; Trẻ phát triển bản sắc cá nhân, quan điểm và mục đích cuộc sống; muốn chứng tỏ sự tự lập; Tình cảm lẫn lộn
2.3.7 Nhu cầu và mức độ đáp ứng nhu cầu
Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu để cá nhân tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định (Vũ Dũng 2008,tr 568) Đáp ứng là đáp lại theo đúng như đòi hỏi, yêu cầu (Trung tâm từ điển Vietlex, 2007)
Trong nghiên cứu này, mức độ đáp ứng nhu cầu cho trẻ OVC được hiểu là có hay không có sự đáp lại những thứ mà trẻ OVC cần để tồn tại và phát triển
2.4 CHÍNH SÁCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC HỖ TRỢ TÂM LÝ CHO TRẺ EM BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI HIV/AIDS
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là mục tiêu hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Vì vậy, từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta
đã và đang nỗ lực để “dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em” Điều này, được thể hiện rõ nhất qua cam kết của chúng ta với cộng đồng quốc tế về thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em (1989) Đây được xem là Công ước quốc tế toàn diện nhất và Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực Châu Á, là nước thứ 2 trên thế giới phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em vào ngày 20 -02 -1990
Để cụ thể hóa cam kết của Nhà nước về việc thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em, năm 2004 nhà nước ta đã đưa ra luật Bảo vệ, Chăm sóc và giáo dục trẻ
em năm 2004 Trong đó Điều 17, quy định rõ: Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi Và trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (Điều 3, Điều 40) Đồng thời luật cũng quy định không phân biệt đối xử với trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS cũng như được bảo vệ trước pháp luật (luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễm dịch mắc phải ở người năm 2006 (HIV/AIDS – Điều 4): Được khai sinh và có quốc tịch, chăm sóc, nuôi dưỡng, học tập, học nghề, làm việc, vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu, sống hòa nhập với cộng đồng và xã hội…
Các quyết định: 65/2005/QĐ – TTG Quyết định phê duyệt đề án “Chăm sóc trẻ
em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIV/AIDS” Hoặc Quyết định 84/2009/QĐ – TTg ngày 04/06/2009 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020; Quyết định số 1555/QD-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS giai đoạn 2012 -2020 Các quyết định nhằm nâng cao nhận thức và hành động của gia đình, cộng đồng xã hội trong việc phòng, chống, chăm sóc và bảo vệ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Đồng thời các quyết định
Trang 26này cũng nhằm đảm bảo rằng các em được chăm sóc, được tư vấn, tham vấn và được vui chơi, học tập như bao trẻ bình thường khác Đặc biệt trong Quyết định số 84/2009, quan điểm hỗ trợ về tâm lý xã hội của Nhà nước được thể hiện rất rõ qua tầm nhìn đến năm 2020 “Bảo đảm trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được chăm sóc, tư vấn thích hợp…; ít nhất 30% trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được cung cấp các dịch vụ chăm sóc tâm lý – xã hội; chăm sóc tại gia đình và cộng đồng; tư vấn
và xét nghiệm HIV; hỗ trợ dinh dưỡng và phát triển thể chất; tiếp nhận và chăm sóc tại các cơ sở giáo dục mầm non công lập cho trẻ em lứa tuổi mầm non.”
Gần đây nhất phải kể đến, Quyết định số 570/QĐ- TTg ngày 22/04/2014 của Thủ tướng chính phủ quyết định phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS giai đoạn 2014 – 2020 Quyết định, đã có những điều chỉnh đề phù hợp với tình hình thực tế, trong đó vấn đề chăm sóc hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ
em bị ảnh hưởng bởi HIV cũng rất được quan tâm “Hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được tiếp cận các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em:… chăm sóc tâm lý, dinh dưỡng, phát triển thể chất và chăm sóc tại gia đình, cộng đồng; tiếp cận với dịch
vụ vui chơi giải trí và các chính sách xã hội khác” Mặc dù vậy, việc triển khai các chương trình này trên thực tế tại các cấp vẫn còn nhiều hạn chế và phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài Do vậy, các hoạt động liên quan đến trẻ em và HIV/AIDS vẫn chỉ mang tính phong trào chưa có tính lan toả (Unicef, 2010)
Ngoài ra còn một số văn bản liên quan đến trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS như:
- Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007,
- Nghị định số 108/NĐ – CP ngày 26/07/2007 qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người năm 2006 (HIV/AIDS),
- Quyết định số 267/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt chương trình quốc gia bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em giai đoạn 2011 -2015
- Quyết định số 153/QĐ-AIDS ngày 27/6/2013 của Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS về Hướng dẫn tư vấn cho trẻ em nhiễm HIV
Dựa trên các chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam, tỉnh An Giang cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm thực thi thành công các
kế hoạch, chương trình quốc gia về chăm sóc, bảo vệ trẻ em, trong đó có trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, cụ thể như:
- Kế hoạch tổ chức tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS tỉnh An Giang các năm 2011, 2012, 2013, 2014 vào tháng 11 -12 hàng năm,
- Quyết định số 645/QĐ –UBND về việc ban hành chương trình bảo vệ trẻ em tỉnh An Giang giai đoạn 2011 – 2015 ngày 19/4/2011;
- Quyết định số 1285/QĐ-UBND tỉnh, ngày 02/08/2011 của UBND tỉnh, phê duyệt kế hoạch hành động vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS giai đoạn 2011 – 2015;
Trang 27- Số 1725/UBND – VX về việc tăng cường thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh An Giang ngày 07/06/2010;
- Quyết định số 2101/QĐ-UBND ngày 21/09/2009 của UBND tỉnh, phê duyệt
kế hoạch triển khai thí điểm hệ thống bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng;
- Quyết định số 1701/2005/QĐ-UBND ngày 10/6/2005 của UBND tỉnh, phê duyệt đề án “Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIV/AIDS giai đoạn 2005 -2010;
- Và đặc biệt là trong những năm gần đây, Trung tâm Công tác xã hội và Bảo
vệ trẻ em tỉnh An Giang được thành lập là một bước tiến quan trọng trong quá trình thực hiện các chính sách và cam kết của lãnh đạo tỉnh trong việc hỗ trợ tâm lý, chăm sóc và bảo vệ trẻ em nói chung, trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS nói riêng
- Trong năm 2014, Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang đã ra quyết định số 1676/QĐ – UBND về việc phê duyệt kế hoạch chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2014 – 2020 Theo đó, đến năm 2020, 90% trẻ OVC trong diện quản lý được cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, tư vấn hỗ trợ về dinh dưỡng
và phát triển thể chất, chăm sóc thay thế, vui chơi gaiir trí và các chính sách xã hội theo qui định
Như vậy, có thể thấy rằng Việt Nam nói chung và tỉnh An Giang nói riêng đã rất quan tâm đến trẻ OVC, và luôn nỗ lực cố gắng để đảm bảo cụ thể hóa các quyền của trẻ em, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt thể hiện trên các lĩnh vực phù hợp với Công ước quốc tế và tình hình thực tế của cả nước nói chung, mỗi tỉnh thành nói riêng Trên cơ
sở các văn bản pháp lý hiện hành đã giúp cho việc vận dụng thực hiện các chính sách chăm sóc, hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ OVC được thuận lợi Tuy nhiên, trên thực tế còn có nhiều hành vi vi phạm quyền trẻ em vẫn chưa được xử lý, các quy định riêng
về hỗ trợ tâm lý xã hội vẫn còn chưa cụ thể, lồng ghép vào nhiều văn bản với nhiều đối tượng khác nhau nên rất khó cho việc nắm bắt các qui định này để kịp thời vận dụng thực hiện Đồng thời, các chủ trương, chính sách thực hiện về Quyền trẻ em chưa được phổ biến sâu rộng trong cộng đồng và tầng lớp nhân dân nên việc chấp hành pháp luật còn chưa nghiêm, còn nhiều hành vi vi phạm xảy ra như: bộc lộ thông tin liên quan đến HIV/AIDS, nhu cầu về chăm sóc tâm lý cho trẻ OVC chưa được chú trọng, hoặc bị bỏ qua bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ thói quen, quan điểm về vấn đề hỗ trợ tâm lý của các gia đình có con em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, lực lượng chuyên gia tư vấn, tham vấn còn khá khiêm tốn cả về số
lượng và chất lượng
2.5 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu mong muốn làm rõ, thực trạng công tác hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC từ phía đơn vị/ tổ chức cung cấp dịch vụ và gia đình trẻ Có thể nói rằng, nghiên cứu này nhằm trả lời 3 câu hỏi chủ yếu sau:
Trang 282.5.1 Các tổ chức địa phương, nhà trường (phía cung cấp dịch vụ) và gia đình
trẻ đã hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ OVC như thế nào?
2.5.2 Trẻ có nhu cầu hỗ trợ tâm lý xã hội hay không? và sự đáp ứng nhu cầu hỗ
trợ tâm lý xã hội của trẻ OVC từ các tổ chức địa phương, nhà trường và gia đình hiện nay như thế nào?
2.5.3 Có những nhóm giải pháp nào để nâng cao dịch vụ hỗ trợ tâm lý cho đối
tượng trẻ OVC trên địa bàn tỉnh An Giang hiện nay?
Các câu hỏi trên sẽ được làm rõ trong chương 4: kết quả và thảo luận của đề tài
Trang 29CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 MẪU NGHIÊN CỨU
3.1.1 Chọn mẫu khảo sát bằng phiếu thu thập thông tin
3.1.1.1 Trẻ OVC
Số mẫu khảo sát được tiến hành chọn theo công thức của Slovin (1960): n = N/1+N (e)2 Trong đó:
+ n: số lượng thành viên mẫu cần xác định cho nghiên cứu điều tra
+ N: là tổng số mẫu (391 trẻ/3 địa bàn nghiên cứu – theo thống kê của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh An Giang)
+ e: sai số tiêu chuẩn 5% (mức độ sai số cho phép hay mức độ tin cậy mong muốn trong đề tài này là 95%)
Dựa vào công thức trên nhóm nghiên cứu tiến hành chọn mẫu khảo sát trẻ OVC trong đề tài là: n = 391 / ( 1+ 391 * 0.052
) = 197
Như vậy, đề tài tiến hành khảo sát 197 trẻ OVC tại các địa bàn nghiên cứu để làm
rõ các vấn đề có liên quan Trong đó đề tài thực hiện khảo sát trẻ có độ tuổi từ 6 -16
và được chọn theo cách chọn mẫu xác suất có hệ thống và thuận tiện, ước tính phân
bổ số mẫu theo số lượng trẻ OVC của từng huyện, thị, cụ thể như sau (dựa trên số liệu thống kê số trẻ OVC của từng huyện, thị):
Bảng 1: Phẩn bổ mẫu tại các địa bàn nghiên cứu
3.1.1.2 Khảo sát người chăm sóc/người giám hộ trẻ OVC
Với tính chất khó tiếp cận và ngại tiếp xúc, nhóm nghiên cứu chọn 90 người đại diện trên 3 địa bàn nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện để tiến hành
khảo sát (mỗi địa bàn sẽ chọn 30 người chăm sóc)
3.1.1.3 Khảo sát cán bộ địa phương và các tổ chức có liên quan
Tổng số mẫu điều tra cán bộ được nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, để chọn những cán bộ thuộc các ban ngành đoàn thể có làm việc với trẻ OVC trên địa bàn nghiên cứu như sau:
+ Tại địa bàn Thành phố Long Xuyên nhóm nghiên cứu chọn 22 cán bộ cụ thể ở
bảng 2
Trang 30Bảng 2: Mẫu khảo sát cán bộ tại thành phố Long Xuyên
Cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em tại 3 phường có số trẻ
OVC cao trong thành phố
3
+ Tại huyện Châu Phú nhóm nghiên cứu chọn 13 cán bộ cụ thể ở bảng 3
Bảng 3: mẫu khảo sát cán bộ tại huyện Châu Phú
+ Tại huyện Tịnh Biên nhóm nghiên cứu chọn 15 cán bộ cụ thể ở bảng 4
Trang 31Bảng 4: mẫu khảo sát cán bộ tại huyện Tịnh Biên
Cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em tại 3 xã có số trẻ OVC
cao trong huyện
3
+ Trẻ OVC: chọn đại diện 45 trẻ (15 trẻ/địa bàn nghiên cứu) nhằm tìm hiểu và bổ sung thông tin về tâm lý của các em
Những thông tin trên sẽ được dùng để bổ sung cho những thông tin định lượng nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu: định lượng và định tính Trong đó, nghiên cứu định lượng là phương pháp chủ yếu, nghiên cứu định tính chỉ được sử dụng để bổ sung thêm thông tin cho nghiên cứu định lượng Với mục đích mô tả công tác thực hiện hỗ trợ tâm lý xã hội cũng như xác định nhu cầu tâm lý
xã hội của trẻ thì dữ liệu định lượng được xem là phù hợp và quan trọng trong việc cung cấp tỷ lệ % trẻ được tiếp cận với dịch vụ này
Các thành phần định lượng sử dụng các công cụ thu thập số liệu sau đây: (1) Phiếu thu thập thông tin về nhu cầu và hiện trạng hỗ trợ tâm lý xã hội của chính trẻ OVC; (2) Phiếu thu thập thông tin về việc hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ OVC từ phía người chăm sóc; (3)Tự đánh giá của cán bộ thuộc các tổ chức trong việc thực hiện hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ OVC
Các thành phần định tính của nghiên cứu bao gồm: (1) Phỏng vấn sâu người chăm sóc trẻ ; (2) Phỏng vấn sâu trẻ OVC
Trang 32Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu tư liệu cũng được sử dụng trong việc tham khảo các công trình nghiên cứu trước đó Các báo cáo, các kết quả nghiên cứu có liên quan cũng được tổng hợp để hình thành các tiêu chí đo lường của nghiên cứu cũng như xem xét vấn đề hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ OVC hiện nay
3.3 CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng 5 loại phiếu hỏi, trong đó có 3 phiếu hỏi khảo sát và 2 phiếu hỏi gợi ý phỏng vấn sâu Các bảng hỏi được thiết kế dựa vào đặc điểm tâm lý của trẻ OVC và các tài liệu tham khảo về hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC
3.3.1 Phiếu hỏi thu thập thông tin từ trẻ OVC: được sử dụng để hỏi trẻ OVC từ
8 đến 16 tuổi nhằm nắm rõ nhu cầu tâm lý xã hội và đánh giá của các em về việc hỗ
trợ tâm lý cho trẻ bị nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại tỉnh An Giang (chi tiết
phụ lục 1) Bảng hỏi có cấu trúc 3 phần:
Phần1: Thông tin chung của trẻ (từ câu 1 đến câu 9), bao gồm: giới tính, tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình, tiếp cận với bảo hiểm y tế và chăm sóc điều trị
Phần 2: Tìm hiểu những vấn đề tâm lý mà trẻ OVC đang gặp phải để xem xét trẻ OVC có nhu cầu hỗ trợ tâm lý hay không (từ câu 10 đến câu 21), bao gồm các nội dung: trạng thái cảm xúc; sự lo lắng, buồn phiền; mong muốn; bạn bè; tham gia các hoạt động tập thể; tham gia chơi các trò chơi; người mà các em trò chuyện, chia sẻ cảm xúc; cách giải quyết những buồn phiền, lo lắng
Phần 3: Đánh giá của trẻ trong việc được hỗ trợ tâm lý (từ câu 22 đến 31): đánh già về thái độ, việc thực hiện hỗ trợ tâm lý thông qua hình thức nói chuyện, tư vấn, tham vấn, tổ chức vui chơi giải trí và hoạt động xã hội
Ngoài ra, bảng hỏi còn tìm hiểu mong muốn và đề xuất của trẻ OVC trong việc
hỗ trợ tâm lý cho các em (từ câu 32 đến câu 33)
3.3.2 Phiếu hỏi thu thập thông tin từ gia đình trẻ OVC: được sử dụng để tìm
hiểu qúa trình hỗ trợ tâm lý của người thân trong gia đình trẻ OVC (chi tiết phụ lục 2) Bảng hỏi bao gồm các phần sau:
Phần 1: Thông tin chung về người chăm sóc (từ câu 1 đến câu 11): Giới tính, năm sinh, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, trình trạng hôn nhân, tình trạng kinh tế, thông tin về con, quan hệ với trẻ
Phần 2: Thực trạng hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC (từ câu 12 đến câu 30), bao gồm các nội dung: mối quan hệ với trẻ, hiểu về trạng thái cảm xúc của trẻ và những lo lắng của trẻ, hỗ trợ trẻ giải quyết vấn đề và tạo điều kiện để trẻ tham gia các hoạt động tập thể tại địa phương
Bên cạnh đó, bảng hỏi cũng tìm hiểu những khó khăn và ý kiến đề xuất của gia
đình trẻ trong việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC tại gia đình (từ câu 31 đến câu 32)
Trang 333.3.3 Phiếu thu thập thông tin từ cán bộ của các tổ chức cung cấp dịch vụ:
được sử dụng để tìm hiểu về quá trình thực hiện hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC (chi tiết phụ lục 3) Bảng hỏi có cấu trúc 3 phần:
Phần 1: Thông tin chung của cán bộ (từ câu 1 đến câu 5), bao gồm: giới tính, tuổi, tình độ chuyên môn cao nhất, thâm niên công tác, nơi công tác
Phần 2: Quá trình hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC (từ câu 6 đến câu 36), bao gồm: các hình thức hỗ trợ tâm lý xã hội, quá trình thực hiện hình thức nói chuyện với trẻ, quá trình thực hiện tổ chức vui chơi giải trí, hoạt động xã hội và tham vấn ca
Phần 3: Ý kiến đóng góp của cán bộ (từ câu 37 đến câu 39) về những khó khăn
và đề xuất
3.3.4 Phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu người chăm sóc trẻ OVC: Các câu hỏi
gợi ý đã được xây dựng để phỏng vấn sâu người chăm sóc trẻ nhằm tìm hiểu thêm những thông tin về việc quan tâm, chăm sóc và hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC trong gia
đình (chi tiết phụ lục 4)
3.3.5 Phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu trẻ OVC: Các câu hỏi gợi ý cũng được
xây dựng từ trước nhằm tìm hiểu những suy nghĩ và cảm nhận của trẻ OVC về sự
quan tâm, đối xử của những người xung quanh (chi tiết phụ lục 5)
3.4 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU
Căn cứ vào mục tiêu, nội dung và thời gian nghiên cứu, tiến trình của nghiên cứu
sẽ thực hiện qua các giai đoạn sau:
3.4.1 Phân tích, tổng hợp tư liệu
Nghiên cứu đã tìm hiểu các tài liệu trong và ngoài nước về trẻ OVC, các hình
thức hỗ trợ tâm lý nhằm xác định vấn đề và cụ thể hóa các khái niệm công cụ của đề tài Qua lược khảo, có rất nhiều công trình nghiên cứu về trẻ OVC có giá trị được thực hiện bởi nhiều tổ chức, cá nhân đáng tin cậy như Unicef, Bộ Y tế Bên cạnh
đó, các báo cáo, chương trình, kế hoạch của tỉnh An Giang cũng được thu thập và phân tích Những số liệu thu thập được cho thấy, việc hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ OVC đã được Chính phủ và nhiều tổ chức quan tâm và cụ thệ hoá thành các văn bản pháp lý Việc tìm hiểu những tài liệu, báo cáo liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm giúp đề tài nắm bắt được quan điểm của những nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu để có được những lý giải hợp lý cho công tác thực hiện hỗ trợ tâm lý xã hội của trẻ OVC
3.4.2 Thực hiện thu thập thông tin từ trẻ OVC, từ gia đình và cán bộ địa phương
Các phiếu hỏi: Trước khi tiến hành thu thập thông tin trên thực địa, các phiếu hỏi
đã được thử nghiệm tại thành phố Long xuyên, tỉnh An Giang Dựa trên kết quả điều tra thử, các phiếu hỏi được sửa chữa và bổ sung Phiếu hỏi được sửa và in sau khi tiến hành tập huấn đầu tiên cho các điều tra viên Tập huấn bao gồm các nội dung về
Trang 34kỹ năng giao tiếp với trẻ OVC, người chăm sóc, kỹ thuật phỏng vấn và nội dung cụ thể của từng bảng hỏi Khảo sát tại thực địa bắt đầu từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 6/2014 Công tác giám sát điều tra được thực hiện hàng ngày nhằm đảm bảo chất lượng thu thập số liệu và điều chỉnh kịp thời khi cần thiết
Tuy nhiên, đề tài đã gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin vì khó tiếp cận và
bị từ chối từ đối tượng chọn phỏng vấn Để giải quyết khó khăn này, nhóm nghiên cứu đã tập huấn cho cán bộ y tế tại địa phương và gửi lại phiếu để nhờ họ liên lạc với trẻ OVC và người chăm sóc Do đó, thời gian khảo sát đã phải kéo dài hơn so với thời gian dự kiến Trong đó, tổng số phiếu phỏng vấn trẻ OVC phát ra là 197 phiếu,
số phiếu hợp lệ là 196 phiếu, đạt 99,5%; số phiếu phỏng vấn người chăm sóc là 90/90 phiếu, đạt tỷ lệ 100% và số phiếu phỏng vấn cán bộ thực hiện công tác hộ trợ tâm lý cho trẻ là 50/50, đạt tỷ lệ 100%
Các cuộc phỏng vấn sâu sẽ được thực hiện khi hoàn tất việc thu thập thông tin
định lượng Đồng thời các cuộc phỏng vấn sẽ được thực hiện trực tiếp “mặt đối mặt”,
có ghi chép và ghi âm cụ thể Trong đó, tính bảo mật là một mối quan tâm chân thành đối với trẻ OVC và gia đình họ Tất cả các ghi chép phỏng vấn và câu hỏi được
mã hoá bằng các mã số và chỉ nhóm nghiên cứu mới có thể tiếp cận thông tin khi cần thiết
3.5 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU
3.5.1 Xử lý trong khi thu thập dữ liệu
+ Tất cả các dữ liệu thu thập được sẽ được kiểm tra trong ngày
+ Những dữ liệu không phù hợp sẽ được điều chỉnh trên đối tượng đó hoặc thay bằng đối tượng khác nếu gặp khó khăn
- Các mô tả và phân tích về hiện trạng thực hiện hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC từ phía các tổ chức và gia đình trẻ sẽ được thể hiện dưới dạng tỷ lệ %
- Nhu cầu hỗ trợ tâm lý xã hội của trẻ và việc đánh gía công tác hỗ trợ tâm lý
xã hội cũng sẽ được mô tả dưới dạng tỷ lệ % Bên cạnh đó, các kiểm định Chi – square test và T- test cũng được xem xét thêm để làm rõ tương quan về hỗ trợ tâm lý
xã hội của trẻ Các mối tương quan được kiểm định bằng giá trị P, với độ tin cậy 95% Trong đó:
+ Biến độc lập, bao gồm: tình trạng của trẻ, trẻ đang có vấn đề tâm lý
Trang 35+ Biến phụ thuộc, bao gồm: những vấn đề trẻ đang lo lắng, buồn phiền; hỗ trợ từ gia đình; hỗ trợ từ tổ chức địa phương, nhà trường
- Ngoài ra, dữ liệu thu được trong các bảng hỏi này sẽ được trình bày dưới dạng bảng biểu, biểu đồ để có thể so sánh trực quan giữa hai hay nhiều đối tượng nghiên cứu với nhau
Trang 36CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 THỰC TRẠNG HỖ TRỢ TÂM LÝ CHO TRẺ EM BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI HIV/AIDS (OVC) TẠI AN GIANG
4.1.1 Công tác hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC từ các tổ chức địa phương (phía cung cấp dịch vụ)
4.1.1.1 Mạng lưới cung cấp dịch vụ cho trẻ OVC
Hiện tại, An Giang chỉ có 4 phòng khám ngoại trú dành cho trẻ em nhiễm HIV/ADS Trong đó, bệnh viện tỉnh có 01 phòng khám, 03 phòng khám còn lại nằm trong bệnh viện thị xã Tân Châu, bệnh viện huyện Tịnh Biên và huyện Chợ Mới (Unicef, 2010) Ngoài việc theo dõi, chăm sóc và điều trị cho trẻ nhiễm HIV/AIDS, tại các phòng khám cũng thực hiện tư vấn xét nghiệm tự nguyện cho các đối tượng là trẻ em có nguy cơ cao như trẻ đang sống chung hoặc có người thân nhiễm HIV/AIDS Đây là một hình thức hỗ trợ tâm lý cơ bản nhất cho trẻ OVC hiện nay tại tỉnh
Ngoài ra, trẻ OVC còn nhận được hỗ trợ tâm lý từ nhiều nguồn khác nhau: từ các đơn vị thuộc quản lý nhà nước, từ các Câu lạc bộ người có HIV/nhà từ thiện, từ các
tổ chức đoàn thể và từ các tổ chức NGO quốc tế, với 5 nhóm đơn vị cung cấp dịch vụ: Nhóm 1: các đơn vị cung cấp thuộc quản lý nhà nước; nhóm 2: nhóm các Câu lạc
bộ người có H, nhà từ thiện; nhóm 3: nhóm các tổ chức đoàn thể; nhóm 4: nhóm ngành y tế các cấp và nhóm 5 gồm các phòng khám được tổ chức, tài trợ bởi các tổ chức NGO quốc tế (Worldwide Orphans Foundation, 2012) Kết quả trên cũng khá tương đồng với phát hiện của nghiên cứu Theo đó, với 50 tổ chức, đơn vị tham gia cung cấp thông tin, thì có nhiều nhóm đơn vị tham gia hỗ trợ tâm lý và cung cấp dịch
vụ cho trẻ OVC Trong đó, nhóm cơ quan nhà nước (bao gồm các cơ quan quản lý và các tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị) là 52%; nhóm ngành y tế các cấp chiếm 30%, nhóm ngành tổ chức xã hội là 4% và trường học là 14%
Có thể thấy rằng, đã có nhiều tổ chức, cá nhân tham gia vào công tác hỗ trợ tâm
lý cho trẻ OVC, trong đó bao gồm cả hệ thống chính trị nhà nước và các tổ chức đoàn thể, xã hội địa phương cũng như NGO quốc tế Tuy nhiên, trên thực tế, tỷ lệ các
tổ chức, đơn vị tiến hành cung cấp dịch vụ hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ OVC còn hạn chế
Trang 37Biểu đồ 1: Lý do thực hiện hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ OVC Kết quả nghiên cứu từ biểu đồ 1 cho thấy, chỉ có 44% cán bộ của các tổ chức địa phương và nhà trường thực hiện hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC Trong đó, vẫn còn có đến 27,3 % cán bộ thực hiện hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC với quan điểm “vì công việc phải làm”, thậm chí còn có 9,1% cán bộ thực hiện hỗ trợ tâm lý cho trẻ vì “thấy các
em tội nghiệp” Điều này sẽ phần nào ảnh hưởng đến nhiệt tâm của cán bộ và chất lượng công việc hỗ trợ tâm lý, nhất là hiệu quả của dịch vụ tư vấn, tham vấn tâm lý cho trẻ OVC
Trong nghiên cứu này, các hình thức hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC cũng tương đồng với kết quả mà tổ chức Worldwide Orphans Foundation (2012) phát hiện Các loại
hỗ trợ tâm lý xã hội bao gồm: nói chuyện với trẻ; cung cấp kỹ năng sống liên quan đến giới tính, tổ chức các hoạt động nhằm tăng cường mối liên hệ giữa trẻ và cộng đồng, tổ chức các hoạt động giải trí cho trẻ OVC và tổ chức tham vấn tâm lý cho các
hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ OVC là cao đẳng, trung cấp Trong khi đó, cán bộ có trình độ đại học chỉ chiếm 26% Tuy nhiên, những cán bộ làm việc với trẻ em đều là những người có kinh nghiệm từ 6 đến 10 năm (52%), thậm chí có nhiều cán bộ có thâm niên công tác từ 11 đến 15 năm (18%) và từ 16 đến 20 năm (14%), thậm chí còn có cán bộ thực hiện hỗ trợ tâm lý cho trẻ có thâm niên trên 20 năm (6%) Đây là đặc điểm rất thuận lợi trong việc tiếp cận và làm việc với trẻ em, nhất là trẻ OVC
Trang 38Bảng 5: Đặc điểm chung của cán bộ làm việc với trẻ OVC
4.1.1.3 Công tác thực hiện hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC từ phía cán bộ của các tổ chức địa phương và trường học
* Hỗ trợ tâm lý thông qua việc nói chuyện với các em và tham vấn tâm lý
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hình thức hỗ trợ tâm lý thông qua nói chuyện với trẻ được nhiều cán bộ phụ trách công tác hỗ trợ tâm lý cho trẻ OVC thực hiện (95,5%) điều này được thể hiện trong bảng 6
Bảng 6: Các hình thức hỗ trợ tâm lý cho trẻ mà các cán bộ đã thực hiện
Tổ chức cho các em tham gia các hoạt động xã hội
Trang 39Thực hiện tham vấn tâm lý cho các em 1 4,5 Nói chuyện với trẻ là một hoạt động hỗ trợ tâm lý cơ bản nhất và người thực hiện cuộc nói chuyện với trẻ không cần thiết phải có chuyên môn sâu Tuy nhiên, bên cạnh kiến thức về trẻ OVC, người thực hiện nói chuyện với trẻ nhất thiết phải tạo được niềm tin ở trẻ cũng như cần có kỹ năng giao tiếp nhất định Tuy nhiên, mức độ thực hiện các cuộc nói chuyện là khá khiêm tốn, chỉ có 18,2% trường hợp thực hiện nói chuyện thường xuyên 1 lần/tuần, còn lại có tới 77,3% thực hiện nói chuyện với trẻ OVC 1 tháng/lần và một số trường hợp chỉ là thỉnh thoảng (chi tiết phụ lục 6) Đồng thời, số lượng trẻ trong mỗi cuộc nói chuyện cũng rất đa dạng
Bảng 7: Số lượng trẻ OVC trong mỗi cuộc nói chuyện
và các đơn vị cung cấp dịch vụ lựa chọn nhiều hơn Đặc biệt là nói chuyện với nhóm
có số lượng trên 12 trẻ chiếm tỷ lệ cao nhất, với 45,5% cuộc nói chuyện, tức là có 10 cuộc nói chuyện với trên 12 trẻ Đây thường là hoạt động sinh hoạt của các nhóm trẻ
tự giúp Nội dung của các buổi sinh hoạt trên liên quan đến các chủ đề về kỹ năng sống, bệnh HIV/AIDS, kiến thức chăm sóc sức khoẻ bản thân, kiến thức về giới tính, chia sẻ các vấn đề trong học tập, gia đình… Thực tế cho thấy, nói chuyện thông qua nhóm hoặc tư vấn nhóm đem lại những lợi ích thiết thực với cuộc sống của nhóm trẻ
có cùng cảnh ngộ Song không phải tất cả trẻ em nhiễm HIV đều có thể chia sẻ những băn khoăn, thắc mắc của mình trong nhóm, do vậy với trẻ em từ tuổi đi học trở lên, bên cạnh hình thức nói chuyện nhóm cần có tư vấn cá nhân để giúp trẻ thu nhập thông tin một cách đầy đủ trước khi đưa ra quyết định (Cục phòng chống HIV/AIDS, 2013) Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, hình thức nói chuyện với trẻ như một cuộc tư vấn cá nhân lại chưa được chú trọng, quan tâm và phổ biến Đồng thời, nghiên cứu còn cho thấy, chỉ có 27,3% cán bộ hỗ trợ tâm lý chuẩn bị nội dung
để trò chuyện hoặc tư vấn cho từng trẻ hoặc một nhóm trẻ với từ 3 – 5 thành viên Trong đó, nội dung cuộc nói chuyện chủ yếu là tìm hiểu những khó khăn của trẻ
Trang 40(95,5%); kế đến là chuyện học tập (77,3%), chuyện gia đình (63,3%) và cuối cùng là tìm hiểu về sở thích của các em (36,4%)
Trong các cuộc nói chuyện với trẻ, cán bộ thực hiện hỗ trợ tâm lý đã biết cách tạo cảm giác được yêu thương, được tôn trọng và an toàn cho các em Vì thế, 81,8% cán
bộ thấy trẻ trở lên vui vẻ hơn và 63,6% cán bộ thấy trẻ tự tin hơn sau mỗi lần nói chuyện hoặc tư vấn Nhưng xét trên khía cạnh tâm lý, trẻ OVC vẫn gặp phải những rào cản nhất định về sự tự tin và khả năng bộc lộ cảm xúc Chính vì vậy, không phải cuộc nói chuyện nào cũng đem lại thành công như mong muốn, vẫn còn đến 72,7% trẻ ít chia sẻ thông tin với người tư vấn; 59,1% trẻ có tâm lý né tránh khi được tiếp cận, thậm chí là có 22,5% trẻ OVC tỏ ra sợ khi phải tiếp xúc với cán bộ tư vấn (bảng 8)
Bảng 8: Những khó khăn mà cán bộ thực hiện hỗ trợ tâm lý gặp phải khi thực
hiện hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ
Đây là những khó khăn xuất phát từ chính những đặc điểm tâm lý của trẻ OVC
Vì vậy, để khắc phục những khó khăn này, cán bộ thực hiện hỗ trợ tâm lý cần phải tạo được lòng tin với trẻ cũng như đủ kiến thức và kỹ năng chuyên môn để giúp trẻ vượt qua những rào cản tâm lý
Hình thức hỗ trợ tâm lý thông qua tham vấn được thực hiện rất hạn chế Chỉ có 1 cán bộ thực hiện tham vấn tâm lý cho hơn 05 trẻ OVC trong thời gian làm việc của mình Đây cũng là cán bộ duy nhất đã tham gia khoá tập huấn về tham vấn tâm lý cho trẻ OVC Kết quả này cho thấy một sự thiếu hụt nghiêm trọng về nhân sự thực hiện trị liệu tâm lý cho trẻ OVC nói riêng và trẻ em nói chung
Mặc dù, đã được tập huấn nhưng nhà tham vấn vẫn chưa hiểu hết được ý nghĩ của việc tham vấn tâm lý cho trẻ OVC Theo đó, nhà tham vấn cho rằng, tham vấn chỉ là để giúp trẻ OVC nhận thức được những hành vi không tốt cho các em và người khác mà bỏ qua những tác dụng về mặt tình cảm, tâm lý của trẻ Về cơ bản, cán bộ thực hiện tham vấn trong nghiên cứu đã có những hiểu biết nhất định về nguyên tắc trước khi tiến hành ca tham vấn và quy trình của tham vấn, như hỏi nguyên nhân vì sao trẻ đến gặp và được tham vấn, cho trẻ biết những lợi ích và quá trình của cuộc tham vấn cũng như thực hiện thu thập thông tin, đánh giá nhu cầu, xác định vấn đề, lên kế hoạch, thực hiện kế hoạch, theo dõi giám sát và lượng giá Bên cạnh đó, cán
bộ thực hiện tham vấn cũng biết được những điều nên làm, điều không nên làm và những điều cần quan tâm trong quá trình tham vấn cho trẻ, mặc dù sự hiểu biết này là