1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tình hình sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong giảng dạy tiếng anh cho học sinh lớp 7 ở một số trường THCS trên địa bàn thị xã tân châu tỉnh an giang

95 51 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 5,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Khảo sát tình hình sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong giảng dạy tiếng Anh cho học sinh lớp 7 ở một số trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang Đề tài khảo sát tình h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TRÒ CHƠI NGÔN NGỮ TRONG GIẢNG DẠY TIẾNG ANH CHO HỌC SINH LỚP 7 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THCS TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Chủ nhiệm đề tài

HUỲNH THỊ TƯỜNG VY

An Giang, tháng 1 năm 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG TRUNG TÂM NCKHXH&NV

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TRÒ CHƠI NGÔN NGỮ TRONG GIẢNG DẠY TIẾNG ANH CHO HỌC SINH LỚP 7 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THCS TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài

HUỲNH THỊ TƯỜNG VY

An Giang, tháng 11 năm 2014

Trang 3

TRANG CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG

Đề tài nghiên cứu khoa học “Khảo sát tình hình sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong giảng dạy tiếng Anh cho học sinh lớp 7 ở một số trường THCS trên địa bàn thị

xã Tân Châu, tỉnh An Giang”, do tác giả Huỳnh Thị Tường Vy, công tác tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn thực hiện Tác giả đã báo cáo kết quả

nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học của trường Đại học An Giang thông qua ngày 26/12/2014

Trang 4

LỜI CẢM ƠN -

Chủ nhiệm đề tài xin gửi lời cám ơn chân thành đến các đơn vị hỗ trợ, giúp

đỡ trong quá trình thực hiện đề tài:

- Sở Khoa học Công nghệ tỉnh An Giang

- Trường Đại học An Giang

- Trung tâm Nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân văn – Trường Đại học An Giang

- Hội đồng khoa học Trường Đại học An Giang

- Sở giáo dục & đào tạo An Giang

- Phòng giáo dục & đào tạo thị xã Tân Châu

- Các trường THCS Long Thạnh, Phú Vĩnh và Vĩnh Hòa

Một lần nữa chủ nhiệm đề tài xin chân thành cám ơn!

An Giang, ngày 30/11/2014

Chủ nhiệm đề tài

Huỳnh Thị Tường Vy

Trang 5

TÓM TẮT

Khảo sát tình hình sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong giảng dạy tiếng Anh cho học sinh lớp 7 ở một số trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang

Đề tài khảo sát tình hình sử dụng trò chơi ngôn ngữ với đối tượng chủ yếu là học sinh lớp

7 và giáo viên THCS Bên cạnh đó, đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu nhưng chú trọng phương pháp thu thập thông tin định lượng với 578 phiếu hỏi và sử dụng phương pháp thu thập thông tin định tính bổ sung chi tiết với 46 phiếu phỏng vấn sâu dành cho học sinh; giáo viên và cán bộ quản lý Về tình hình sử dụng trò chơi ngôn ngữ ở 3 trường THCS Long Thạnh; Phú Vĩnh và Vĩnh Hòa, thị xã Tân Châu, đa số HS đã và đang nhận thức được về tầm quan trọng

và hiệu quả trò chơi ngôn ngữ 73% học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ; gần 93% các em nhận biết được hiệu quả của việc tham gia chơi những trò chơi này và 100% giáo viên đang áp dụng trò chơi ngôn ngữ trong mỗi tiết dạy học Tiếng Anh Đề tài cũng đưa ra 5 kiến nghị chi tiết cụ thể nhằm hỗ trợ giáo viên cải thiện hiệu quả trò chơi ngôn ngữ

Từ khóa: Trò chơi ngôn ngữ; giáo viên; học sinh; thị xã Tân Châu; tỉnh An Giang

questionnaires And the study also use qualitative research to collect additional qualitative

information detailed in-depth interviews with 46 students ; teachers and the officials About the use of language games in the 3 secondary schools in Tan Chau town: Long Thanh; Vinh Phu and Vinh Hoa, the majority of students have been aware of the importance of language games 73 % students enjoy playing language games ; nearly 93% of them aware of the good effect of

participating in language games and 100 % of teachers are applying language games in English classrooms.The study also gives some 5 detailed suggestions to help teachers improve the effects

Trang 6

LỜI CAM KẾT -

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

An Giang, ngày 29 tháng 11 năm 2014

Người thực hiện

Huỳnh Thị Tường Vy

Trang 7

BIỂU, BẢNG -

BẢNG

- Bảng 1: lệ học sinh và giáo viên tham gia trả lời phỏng vấn sâu đề tài

- Bảng 2 Loại hình trò chơi ngôn ngữ học sinh yêu thích

- Bảng 3 Thuận lợi và khó khăn của giáo viên khi tổ chức chơi trò chơi ngôn ngữ (Theo nội dung phỏng vấn sâu)

- Bảng 4 Hiệu quả trò chơi ngôn ngữ theo quan niệm của HS (Phỏng vấn sâu)

- Bảng 5 Thời điểm giáo viên tổ chức chơi trò chơi ngôn ngữ (Phỏng vấn sâu)

- Bảng 6 Chủ trương, chính sách nâng cao trình độ Tiếng Anh cho học sinh hiện nay (Phỏng vấn sâu)

- Bảng 7 Đề xuất của giáo viên trong việc phát huy hiệu quả cho trò chơi ngôn ngữ

(Phỏng vấn sâu)

ỂU ĐỒ

- Biểu đồ 1: Tỷ lệ học sinh tham gia trả lời bảng hỏi của 3 trường

- Biểu đồ 2: Tỷ lệ giới tính của học sinh trả lời Bảng hỏi

- Biểu đồ 3: Số năm học Tiếng Anh của học sinh

- Biểu đồ 4: Tỷ lệ học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ ở cả 3 trường THCS

- Biểu đồ 5: Tỷ lệ học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ (phân loại theo giới tính của học sinh)

- Biểu đồ 6: Tỷ lệ học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ ở từng trường cụ thể

- Biểu đồ 7: Lý do học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ ở cả 3 trường

- Biểu đồ 8: Lý do học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ ở từng trường

- Biểu đồ 9: HS tự đánh giá khả năng nghe tiếng Anh

Trang 8

- Biểu đồ 10: Mức độ tham gia chơi trò chơi ngôn ngữ ở từng trường

- Biểu đồ 11: Động lực tham gia chơi trò chơi ngôn ngữ của học sinh

- Biểu đồ 12: Hình thức tổ chức chơi trò chơi ngôn ngữ học sinh yêu thích

- Biểu đồ 13: Hiệu quả của trò chơi ngôn ngữ đối với học sinh

- Biểu đồ 14: Hình thức tổ chức chơi trò chơi ngôn ngữ học sinh yêu thích

- Biểu đồ 15: Hình thức tổ chức chơi trò chơi ngôn ngữ của giáo viên ở từng trường

- Biểu đồ 16: Thời điểm giáo viên tổ chức chơi trò chơi ngôn ngữ

- Biểu đồ 17: Quan niệm của học sinh về cách thức hướng dẫn chơi trò chơi ngôn ngữ của giáo viên

- Biểu đồ 18: Quan niệm của học sinh về mục đích giáo viên tổ chức chơi trò chơi ngôn ngữ

-

Trang 9

BẢNG VIẾT TẮT

-

THPT

THCS

ThS

GV Giáo viên

HS Học sinh

BGDĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA ĐỀ TÀI

1 LÝ DO NGHIÊN CỨU

Tiếng Anh- Ngôn ngữ quốc tế đã và đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình giao tiếp, nhất là với các nước đang phát triển như Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Để tranh thủ sự hỗ trợ về mặt khoa học kỹ thuật cũng như mặt tài chính, Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ cần có mối quan hệ thân thiết với các tổ chức quốc tế và các nước phát triển Song, trên thực tế, chất lượng dạy học môn Ngoại ngữ trong trường phổ thông còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội của nước ta hiện nay Chính

vì thế việc tìm kiếm và áp dụng các phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp và hỗ trợ tốt nhất cho học sinh trong quá trình rèn luyện và phát triển ngôn ngữ là nhu cầu tất yếu của các trường trung học nói chung hiện nay Nhằm mục đích hình thành ở học sinh thói quen tốt và tạo môi trường học tập tiếng Anh thuận tiện, kích thích hoạt động tiếp thu và tư duy sáng tạo cho học sinh, việc sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong quá trình giảng dạy môn tiếng Anh đã và đang là một trong những nhu cầu tất yếu Thực tế, vốn tiếng Việt của các

em học sinh lớp 7 nói riêng và học sinh THCS nói chung còn rất hạn chế, mức độ tiếp thu kiến thức còn chậm cũng như khả năng giao tiếp tiếng Anh còn nhiều hạn chế do các em còn rất thụ động nên ảnh hưởng rất nhiều và gây khó khăn đến quá trình học tập môn tiếng Anh

Tân Châu là huyện đầu nguồn nằm ở giữa hai nhánh sông Tiền và sông Hậu Tân Châu, Phú Tân và Chợ Mới, 3 huyện cù lao này nằm trên trục phát triển kinh tế của hai dòng sông, Tân Châu lại nằm ở đầu nguồn và lợi thế của Tân Châu là thị xã biên giới giáp với Campuchia về đường sông lẫn đường bộ Tất cả các dịch vụ phục vụ cho quá trình mua bán, giao lưu hàng hóa với Campuchia và các nước trong khu vực đều diễn ra tại Tân Châu Đó là lợi thế của thị xã trẻ, chính vì lợi thế này mà tỉnh cũng như Bộ Giao thông vận tải đang quy hoạch để xây dựng lại thương cảng nơi đây, để Tân Châu thực hiện chức năng giao lưu, giao dịch mua bán giữa thành phố Phnompenh và các nước trên thế giới, tạo ra những dịch vụ phát triển cho các tàu buôn quá cảnh tại Tân Châu Hiện Tân Châu đang xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu, để nơi đây có thể kinh doanh, sản xuất

Trang 11

và tập trung hàng hóa xuất khẩu qua Campuchia Năm 2009, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của cả nước vào Campuchia đạt khoảng 1,5 tỷ USD, trong đó An Giang chiếm khoảng 1,1 tỷ USD, thì cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương chiếm gần 1 tỷ USD, qua đó cho thấy tiềm năng thương mại ở đây rất lớn (Theo lời Ông Lâm Minh Chiếu, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang) Chính vì những đặc điểm kinh tế giao lưu thương mại nổi trội này, việc tìm ra những biện pháp phù hợp nhằm cải thiện khả năng giao tiếp tiếng Anh nói chung cũng như sự dụng có hiệu quả các trò chơi ngôn ngữ trong quá trình giảng dạy tiếng Anh nhằm hỗ trợ học sinh rèn luyện tiếng Anh nói riêng là nhu cầu tất yếu đang rất cần được quan tâm Tuy nhiên, hiện nay trong địa bàn tỉnh An Giang vẫn chưa có bất cứ

đề tài nào liên quan đến lĩnh vực này

-20

Chính vì thế việc thực thi đề tài Sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong giảng dạy tiếng Anh cho học sinh lớp 7 ở một số trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang là cần thiết nhằm đáp ứng được nhu cầu cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học, đồng thời tạo ra môi trường kích thích yêu thích môn học cho học sinh bằng cách vừa học vừa chơi và vừa tạo được môi trường giao tiếp ngôn ngữ hiệu quả thông qua các hoạt động dạy bằng trò chơi

Trang 12

ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu

Thực trạng sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong giảng dạy tiếng Anh cho học sinh cấp THCS và lựa chọn các trò chơi ngôn ngữ sao cho phù hợp với lứa tuổi các em “không còn là trẻ con” này đã và đang là một trong những vấn đề mang tính cấp thiết hiện nay Chính vì thế, đề tài chọn đối tượng học sinh ở lớp thấp nhất ở cấp THCS này để nghiên cứu, tức là đối tượng học sinh lớp 6 Song, đề tài đã chọn đối tượng học sinh lớp 7 do thiết nghĩ đối tượng này đã có một sự ổn định cơ bản hơn cả về tri thức lẫn tinh thần Học sinh khối 6 là những em mới vừa chuyển từ cấp Tiểu học lên Trung học nên cần có thời gian quen dần với hình thức dạy mới đồng thời cũng cần có thời gian củng cố lại tri thức

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Mô tả thực trạng sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong quá trình giảng dạy môn tiếng Anh cho học sinh lớp 7 ở một số trường THCS trên địa bàn Thị xã Tân Châu, tỉnh

3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Khảo sát thực trạng về công tác tổ chức các trò chơi ngôn ngữ trong quá trình giảng dạy tiếng Anh tại lớp và mức độ tham gia của học sinh lớp 7 ở một số trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang

- Phân tích hiệu quả của trò chơi ngôn ngữ và phương thức giáo viên tổ chức trò chơi ngôn ngữ tại lớp theo trong thời gian qua

Trang 13

4 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu tư liệu

Nghiên cứu các báo cáo tổng kết của p

Phương pháp thu thập thông tin định lượng

Khảo sát bằng bảng hỏi (phụ lục 1) để thu thập những thông tin từ học sinh nhằm đánh giá một cách toàn diện việc sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong việc dạy và học tiếng Anh ở học sinh khối 7 ở một số trường THCS trên địa bàn thị xã Tân Châu hiện nay Đây cũng là phương pháp nghiên cứu chủ đạo của đề tài:

Trang 14

Đề tài sẽ tiến hành lấy cỡ mẫu theo công thức của Yamane (1967-1986)

2

)(

N n

10

là giáo viên giảng dạy môn Tiếng Anh thuộc 3 lớp 7 đề tài tiến hành khảo sát bảng hỏi (Đề tài tiến hành khảo sát 3 lớp/ trường với 578 phiếu hỏi; 3 lớp này đại diện cho 3 đối tượng lớp: Khá giỏi; trung bình và yếu kém của trường) để tìm hiểu

- Phỏng vấn sâu cán bộ quản l

Trang 15

Phương pháp thống kê và xử lý số liệu

Nhập liệu, tổng hợp và xử lý số liệu định tính và định lượng: sử dụng máy vi tính với các phần mềm Excel và SPSS

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Ngoài nước

(2006)veness of u

Chirandon (2010)

Theo nghiên cứu của Shaban Aldabbus (2008)- Đại học Newcastle về “Tác dụng của sự tương tác giữa trò chơi ngôn ngữ với việc học Tiếng Anh trong các trường tiểu học ở Libya” (An Investigation into the Impact of Language Games on Classroom Interaction and Pupil Learning in Libyan EFL Primary Classrooms) Đề tài tiến hành cuộc khảo sát thực nghiệm nhằm so sánh sự khác nhau giữa lớp học có sử dụng trò chơi

Trang 17

Anh Nghiên cứu này sử dụng thiết kế nghiên cứu đa phương dựa trên sự kết hợp của phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính Chủ nhiệm đề tài tiến hành thu thập dữ liệu bằng cách phỏng vấn sâu giáo viên bộ môn; ghi âm những cuộc trò chuyện trực tiếp giữa học sinh và học sinh nhằm nắm bắt được sự phản hồi trực tiếp của học sinh trong quá trình thử nghiệm chơi các trò chơi, bên cạnh đó cũng kết hợp phương pháp quan sát lớp học trong quá trình tiến hành thực nghiệm bằng cách quay video và sử dụng phần mềm máy vi tính để phân tích Kết quả quá trình quan sát và phân tích cho thấy , mặc dù các giáo viên vẫn chiếm ưu thế trong quá trình đàm thoại và kiểm soát lớp học, lớp học

có sử dụng trò chơi ngôn ngữ vẫn tạo ra một số khác biệt đáng kể như hứng thú học tập của các em trong lớp này cao hơn, các em thường xuyên phản hồi bằng Tiếng Anh hơn đối với những câu hỏi dẫn dắt của giáo viên và học sinh phát biểu Tiếng Anh nhiều hơn, năng động hơn Điều đó cho thấy sự tương tác giữa học sinh và giáo viên trong lớp học

có sử dụng trò chơi ngôn ngữ được thể hiện rõ rệt hơn so với lớp học “truyền thống” Cả giáo viên và học sinh thông qua quá trình thực nghiệm đều cảm thấy hứng khởi và nhận thức của học sinh trong quá trình dạy và học Tiếng Anh được phát triển tích cực khi tham gia chơi trò chơi ngôn ngữ

nước

Trong nước

được nhắc đến trong một số công trình nghiên cứu:

Căn cứ Chỉ thị số 2737/CT-BGDDT ngày 27/07/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục

và Đào tạo (GDDT) về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2012-2013; Quyết định số 1866/QĐ-BGDĐT ngày 17/05/2012 về việc Ban hành Khung kế hoạch thời gian năm học 2012-2013 của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên, Bộ GDĐT hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học là phải tiếp tục tổ chức tốt, thu

Trang 18

lên đỉnh Olympia cho học sinh THCS ở một số tỉnh, thành phố; đổi mới phương thức tổ chức các cuộc thi Olympia Tiế

(2011)

số k

Anh

(2012)

, huyện Si Ma Cai, tỉnh Sơn La

huyện Si Ma Cai, tỉnh Sơn La,

sinh

Các công

hiện

chơi ngôn

Trang 19

ngữ trong dạy học tiếng Anh, đơn cử như ở trường Đại học An Giang cũng đã có nhiều Sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp ra trường với chủ đề Sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong giảng dạy Tiếng Anh như Mạch Bửu Hiền (ĐH2.D); Tô Thái Ngọc Dung (ĐH7.D) Tuy nhiên, tính tới thời điểm hiện nay, tỉnh ta vẫn chưa có một đề tài lớn nào phân tích cụ thể hơn về tình hình sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong việc giảng dạy Tiếng Anh cho học sinh THCS

2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

2.1 Khái niệm trò chơi

Quan niệm của tác giả ngoài nước về trò chơi:

Theo G.Piagie, “Trò chơi là hoạt động trí tuệ thuần túy, là một nhân tố quan trọng đối với

sự phát triển trí tuệ”

Còn Macxit và các nhà khoa học Xô Viết lại cho rằng: “Trò chơi có nguồn gốc từ lao động và mang bản chất xã hội Trò chơi được truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác chủ yếu bằng con đường giáo dục”

Quan niệm của tác giả trong nước về trò chơi:

Một trong hai thuật ngữ tác giả Đặng Thành Hưng đề cập đến khái niệm trò chơi như sau: “Trò chơi là những công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, như chơi, bằng chơi, ví dụ như: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi v.v ”

Trên thực tế, tất cả các trò chơi đều có luật lệ riêng của nó Trò chơi là tập trung của những quy tắc, nhiệm vụ, yêu cầu cụ thể, trò chơi là một hoạt động có tổ chức và thiết kế của cá nhân một cá nhân nào đó và được nhiều hay một số người cùng hưởng ứng tham gia vào hoạt động đó Nếu trò chơi không có những thứ yếu tố nêu trên thì đó không phải trò chơi mà chỉ có sự chơi đơn giản

Như vậy, ta có thể hiểu rằng:

Trò chơi là tập hợp của các yếu tố chơi, được tổ chức và quản lý một cách có hệ thống, trong đó những quy luật hay quy tắc chơi trò chơi chính là phương tiện tổ chức tập hợp nên trò chơi đó

Trang 20

2.2 Khái niệm trò chơi học tập:

Trò chơi trong học tập là trò chơi có nội dung học tập được lồng ghép vào hình thức chơi Trò chơi này được thiết kế sẵn nội dung và những quy tắc chơi cụ thể Đây là trò chơi đòi hỏi sự nhận thức của người chơi, người tổ chức chơi hướng đến mục tiêu mong muốn người chơi thông qua trò chơi ấy có thể mở rộng, chính xác hóa và hệ thống lại chuỗi kiến thức nào đó nhằm phát tiển năng lực trí tuệ cho người tham gia trò chơi

2.3 Khái niệm về trò chơi dạy học

- Có những quan niệm khác nhau về trò chơi dạy học Trong lý luận dạy học, tất cả những trò chơi gắn với việc dạy học như là phương pháp, hình thức tổ chức và luyện tập, không tính đến nội dung và tính chất của trò chơi thì đều được gọi là trò chơi dạy học

Do những lợi thế của trò chơi có luật được quy định rõ ràng, trò chơi dạy học còn được hiểu là loại trò chơi có luật có định hướng đối với sự phát triển trí tuệ của người học, thường do giáo viên nghĩ ra dựa trên nền tảng những kiến thức cần cung cấp trong bài học đó và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học

Trò chơi dạy học có nguồn gốc trong nền giáo dục dân gian, trong những trò chơi đầu tiên của mẹ với con, trong các trò vui và những bài hát khôi hài làm cho đứa trẻ chú ý đến những vật xung quanh, gọi tên các vật đó và dùng hình thức đó để dạy con, những trò chơi đó có chứa đựng các yếu tố dạy học

Trong tâm lý học đại cương và giáo dục học trẻ em đưa ra khái niệm Trò chơi học tập như sau:

Trò chơi học tập là “Trò chơi có luật và những nội dung cho trước, là trò chơi của

sự nhận thức, hướng tới sự mở rộng chính xác hóa, hệ thống hóa các biểu tượng đã có nhằm phát triển các năng lực trí tuệ, giáo dục lòng ham hiểu biết của trẻ- trong đó nội dung học tập kết hợp với hình thức chơi

2.4 Khái ni

Từ những khái niệm trên, ta có thể hiểu rằng:

Trò chơi ngôn ngữ là “Trò chơi của sự nhận thức nhằm phát triển năng lực tư duy ngôn ngữ cho người học (ở đây là học sinh), trong đó nội dung học tập ngôn ngữ được kết hợp và lồng ghép với hình thức vui chơi giải trí nhằm giúp học sinh phát triển

Trang 21

khả năng nhận thức và thực hành một ngôn ngữ mới một cách dễ dàng và thoải mái nhất”

2.5 Phân loại và tên các trò chơi ngôn ngữ tiêu biểu:

Tùy vào mục tiêu bài giảng và mục đích giảng dạy, giáo viên có thể áp dụng đa dạng các trò chơi ngôn ngữ cơ bản với những mục đích khác nhau :

Một số trò chơi phát triển kỹ năng nghe :

- Slap the board

- Who you are

Một số trò chơi phát triển kỹ năng đọc :

- Rub out and remember

- Gossip

- Search through

Một số trò chơi phát triển kỹ năng viết :

- Fill in the letters

- Net works

- Jumbled words

Trang 22

- If I

- Living words

- Correct common mistakes

Một số trò chơi phát triển/ ôn từ vựng hay cấu trúc ngữ pháp :

Chính vì vậy, chủ trương giáo dục ngoại ngữ nói chung và Tiếng Anh cấp THCS nói riêng tại thời điểm hiện nay có thể nhận định đang hướng tới việc xây dựng một môi trường dạy và học tiên tiến, trong đó học sinh đóng vai trò chủ đạo, là trung tâm của hoạt động dạy và học, học sinh cần có năng lực giao tiếp bằng Tiếng Anh, đồng thời hình thành và phát triển các kiến thức văn hóa xã hội phong phú và kỹ năng quan trọng khác như tư duy, học tập chủ động và học tập suốt đời Nhằm mục đích đạt được mục tiêu đó, giáo viên cũng cần đạt được những tiêu chuẩn nghề nghiệp nhất định, có sự hiểu biết hữu hiệu về người học, môi trường học, và công tác giảng dạy Đây chính là những căn cứ từ

đó Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội xây dựng nội dung Chương trình Bồi dưỡng Phương pháp giảng dạy cho giáo viên Tiếng Anh THCS:

Trang 23

Kết quả khảo sát của chương trình này cho thấy giáo viên cần được tham gia các khóa bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy và nâng cao khả năng thực hành ngoại ngữ đang giảng dạy của họ, bởi hiện tại họ có rất ít cơ hội được bồi dưỡng chuyên môn như thế Còn đối với việc nắm bắt phương pháp giảng dạy Tiếng Anh, giáo viên tỏ ra khá thiếu tự tin về năng lực của chính mình Các lĩnh vực họ ít tự tin nhất bao gồm hướng dẫn học sinh học tập tích cực chủ động, tăng cường khả năng giao tiếp tốt bằng tiếng Anh, nắm bắt được tâm lý dạy học theo lứa tuổi hay khả năng thiết kế hoạt động dạy học sáng tạo Như vậy có thể thấy giáo viên đang vẫn cố gắng có được một phương pháp dạy học mới mẻ, sáng tạo sao cho phù hợp lứa tuổi, đồng thời giúp học sinh học tập vừa hiệu quả vừa chủ động Đa số giáo viên cũng khẳng định họ cần được cải thiện phát âm và kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh Thực tế này cho thấy giáo viên cần được bồi dưỡng về kỹ năng

tự học để nâng cao khả năng phát âm và giao tiếp, đồng thời cần được củng cố về phương pháp dạy phát âm cho học sinh, bởi chính những thiếu sót về kiến thức và kỹ năng phát

âm của thầy cô sẽ ảnh hưởng đến bản thân phương pháp giáo viên dạy phát âm cho học sinh

Bên cạnh đó, phần lớn giáo viên đã áp dụng Công nghệ thông tin vào trong lớp học Tuy nhiên, có thể thấy việc sử dụng còn chưa có hiệu quả, và khả năng sử dụng những phần mềm sẵn có còn hạn chế Giáo viên mong muốn được rèn luyện và phát triển năng lực tự nâng cao năng lực Tiếng Anh và năng lực sư phạm; Phương pháp và kỹ năng giảng dạy THCS; Phương pháp áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy Tiếng Anh; Phương pháp kiểm tra đánh giá; Phương pháp tổ chức trò chơi ngôn ngữ trong quá trình giảng dạy Tiếng Anh cho học sinh THCS và sự hiểu biết căn bản về quá trình giảng dạy tiếng Anh tại trường THCS

Trang 24

3 HIỆU QUẢ CỦA TRÕ CHƠI NGÔN NGỮ TRONG DẠY HỌC TIẾNG ANH CHO HỌC SINH THCS

3.1 Trò chơi ngôn ngữ giúp GV phát huy chủ trương “Lấy người học làm trung tâm”

Nhằm đạt được mục tiêu đề ra của trò chơi ngôn ngữ, từng cá nhân HS trong mỗi nhóm phải giao tiếp với nhau, phải thảo luận với nhau để tìm ra kết quả cuối cùng Điều

đó có nghĩa là, HS phải sử dụng ngôn ngữ để xóa đi khoảng cách, chia sẻ và tổng hợp ý kiến để trình bày thông tin cần thiết để hoàn thành mục tiêu đề ra của trò chơi ngôn ngữ

HS phải nói ra hoặc viết ra những điều thể hiện được quan điểm của mình để truyền đạt thông tin với những cá thể trong cùng nhóm và sau đó sẽ phải truyền đạt ý kiến của nhóm đến những đội chơi khác Vì thế, trò chơi ngôn ngữ tạo cơ hội cho HS giao tiếp với nhau, thậm chí những HS rụt rè, thiếu tự tin cũng bị cuốn hút vào loại hoạt động này Nói cách khác, lúc này chính HS sẽ trở thành trung tâm- thành “chủ” của tất cả các hoạt động đang diễn ra trong giờ học ngôn ngữ Lúc này, giáo viên không còn đóng vai trò là người kiểm soát và chi phối mọi hoạt động trên lớp nữa Trong trò chơi ngôn ngữ, GV chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, tổ chức, điều khiển trò chơi và là người cung cấp thông tin cũng như hỗ trợ HS hoàn thành nhiệm vụ được giao GV giữ vai trò là người cung cấp thông tin về từ vựng, về cấu trúc mới gặp phải, là người gợi mở, giúp cho HS hiểu rõ hơn về vấn đề nào đó bằng việc giải thích khác đi, đơn giản hóa nôi dung giúp HS dễ hiểu hơn (Theo Rixon (1981)) Chính vì thế, sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong giảng dạy Tiếng Anh

là cách tạo ra môi trường lớp học lấy người học làm trung tâm, tạo cho HS nhiều cơ hội chủ động và tự chủ hơn để các em có thể làm chủ được mình trong các hoạt động giao tiếp

3.2 Trò chơi ngôn ngữ tạo ra môi trường kích thích hứng thú học tập

Trò chơi ngôn ngữ hỗ trợ kích thích tinh thần học tập, xua tan sự buồn tẻ của giờ học thay vào đó là tạo ra môi trường vui vẻ làm tăng sự hứng thú cho HS đối với việc học, khiến HS tích cực tham gia và xây dựng bài học

Hầu hết các trò chơi ngôn ngữ đòi hỏi HS phải hoạt động theo cặp- nhóm đồng thời đòi hỏi sự tham gia của cả lớp cùng kết hợp hay cạnh tranh với nhau để thực hiện yêu cầu của trò chơi, và nhóm (cặp) nào đạt được càng nhiều điểm càng tốt Điều này góp phần kích

Trang 25

thích tính cạnh tranh của HS Đồng thời, thông qua những trò chơi ngôn ngữ này, HS có động cơ để ôn lại những kiến thức đã học, cũng như để tiếp nhận kiến thức mới một cách hào hứng Ngoài ra, để có thể giành chiến thắng trong trò chơi, hay để giải quyết vấn đề gặp phải, từng HS tham gia trò chơi phải tham gia đóng góp ý kiến của mình, thông qua

đó các em có thể chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau Nhiệm vụ của giáo viên là phải khích lệ để tất cả HS hứng thú tham gia trò chơi Thông qua bầu không khí thư giãn, thoải mái vừa học vừa chơi, HS sẽ lĩnh hội tri thức, cùng nhau thực hành ôn tập kiến thức

cũ và sử dụng được những ngôn ngữ cũng như kiến thức mới

3.3 Trò chơi ngôn ngữ hỗ trợ việc kiểm tra kiến thức của học sinh thông qua việc

HS cung cấp sự phản hồi ngay tức thì

Trong quá trình truyền đạt tri thức mới hay trình bày những ý kiến, những vấn đề mới liên quan đến ngôn ngữ, GV luôn muốn biết liệu học sinh hiểu được nhiều hay ít những tri thức GV vừa nêu ra Và thông thường GV hay sử dụng công cụ Bài kiểm tra miệng hoặc viết để kiểm tra tri thức mà học sinh lĩnh hội được Tuy nhiên, công cụ hỗ trợ kiểm tra và đánh giá này đòi hỏi GV phải mất nhiều thời gian để chuẩn bị đồng thời cũng tốn nhiều thời gian của lớp nên GV không thể sử dụng chúng thường xuyên mà chỉ sử dụng được ở một số thời điểm nhất định trong một học kỳ Bên cạnh đó, giáo viên cũng không thể chấm điểm ngay lập tức (đối với kiểm tra viết) và trả tận tay cho HS, cho HS

sự phản hồi đối với từng bài ngay trên lớp GV phải mất thời gian khá lâu để chấm và trả bài Trong khi đó, sự phản hồi ngay sau khi giáo viên giảng bài thì mới đem lại hiệu quả cao đối với quá trình dạy và học của GV và HS Chỉ có sự kiểm tra ngay tức thì sau khi

HS vừa được giảng dạy tri thức mới thì mới có thể giúp GV nắm bắt được HS đã lĩnh hội được bao nhiêu phần trăm tri thức, qua đó GV mới biết cách điều chỉnh cũng như tìm ra những phương thức mới hỗ trợ GV truyền đạt kiến thức đến HS hiệu quả và thực tế hơn

Chính vì thế, phương pháp sử dụng trò chơi ngôn ngữ là một trong những phương pháp hữu hiệu nhất hỗ trợ GV đánh giá HS theo hình thức nhanh và thiết thực hơn Trên thực tế, đa số các trò chơi ngôn ngữ đều cung cấp sự phản hồi ngay tức thì cho HS, cụ thể thông qua kết quả thắng thua trong trò chơi Vì kết quả này cũng phụ thuộc vào việc HS thể hiện trong trò chơi ngôn ngữ tốt đến mức độ nào

Trang 26

Bên cạnh đó, GV thông qua sự quan sát tỉ mỉ và tinh tế, có thể nhận ra những ưu khuyết điểm của từng HS cũng như những thiếu sót cần được bổ sung trong quá trình tiếp thu kiến thức mới của HS

Ngoài ra, trò chơi ngôn ngữ còn hỗ trợ GV kiểm tra tri thức của HS đã hay vừa học mà không cần phải yêu cầu HS làm bài kiểm tra, hay lúc nào cũng phải ép buộc HS làm nhiều bài tập về nhà gây cảm giác nhàm chán và mệt mỏi cho HS Vì thế, hình thức kiểm tra tri thức của HS thông qua trò chơi ngôn ngữ này đặc biệt hiệu quả và có sức thu hút đối với HS

3.4 Trò chơi ngôn ngữ giúp kích thích tinh thần cộng tác và cạnh tranh ở học sinh

Tinh thần cộng tác và cạnh tranh là yếu tố thiết yếu hỗ trợ tăng cường động cơ học tập cho người học tiếng Anh nói chung cũng như HS nói riêng Trò chơi ngôn ngữ không chỉ khuyến khích tính cạnh tranh giữa các nhóm trong cùng một lớp mà còn kích thích tinh thần tương thân tương ái hỗ trợ lẫn nhau giữa các HS trong cùng nhóm

Và chính yếu tố cạnh tranh là động cơ để họ thành công trong trò chơi Tuy nhiên, trong trò chơi cạnh tranh thì điều được người chơi quan tâm nhất đó là sự chiến thắng Như vậy, những HS càng có khả năng hơn thì nhận được nhiều khen ngợi, khiến cho những

HS kém hơn trở nên mất uy tín trong lớp Bởi thế, bên cạnh việc tổ chức các trò chơi mang tính cạnh tranh trên lớp, thì tổ chức các trò chơi mang tính hợp tác, khuyến khích

sự hỗ trợ lẫn nhau là điều cực kỳ quan trọng

Các trò chơi ngôn ngữ đòi hỏi HS phải hợp tác với nhau trong khi đóng vai playing), tranh luận, thảo luận, và sử dụng ngôn ngữ trong nhiều tình huống khác nhau phụ thuộc vào từng loại trò chơi được tổ chức trên lớp Điều này rõ ràng thúc đẩy cơ hội giao tiếp giữa HS với nhau Đây chính là mục đích của quá trình giảng dạy ngoại ngữ, đồng thời thúc đẩy sự hợp tác và cạnh tranh giữa các em Đây cũng là hai yếu tố cơ bản làm tăng động cơ học ngoại ngữ nói chung, và học tiếng Anh nói riêng

(role-Để giành chiến thắng cho bản thân hay cho nhóm của mình, người chơi cố gắng hết sức là người đầu tiên tìm ra câu trả lời cũng như giành được điểm về cho đội của mình Vì thế, khi tham gia trò chơi, người chơi sẽ ít chú ý đến cấu trúc hay dạng câu mà chỉ chú ý đến cách giao tiếp sao cho tự nhiên hơn Người chơi sẽ hợp tác với nhau bằng cách chia sẻ những thông tin họ nhận được để hoàn thành nhiệm vụ và yêu cầu trò chơi

Trang 27

đặt ra cho họ Đó chính là sự cộng tác và hợp tác giữa các sinh viên với nhau trong các trò chơi ngôn ngữ

3.5 Trò chơi ngôn ngữ tạo động cơ học tập “vừa học vừa chơi” cho học sinh

Trò chơi là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp tăng cường hứng thú học tập cho học sinh Trò chơi ngôn ngữ giúp học sinh “khởi động cảm xúc” và thường được coi là bước đệm thu hút sự chú ý của sinh viên vào môi trường dạy và học ngôn ngữ mới Bên cạnh đó, trò chơi ngôn ngữ cũng hỗ trợ giáo viên kiểm soát và đánh giá tiết học Theo Hallowen (1989) nếu đem so sánh việc giáo viên áp dụng các trò chơi ngôn với việc dạy bài học trong sách giáo khoa theo biện pháp “truyền thống” thì việc giáo viên sử dụng trò chơi ngôn ngữ luôn tăng cường động cơ học tập cho học sinh ở mức độ lớn hơn, bởi lúc chơi trò chơi, vị trí của học sinh sẽ trở thành “trung tâm”, là chủ thể của hoạt động dạy và học thay vì giáo viên, vì thế bắt buộc học sinh phải tham gia tích cực vào trò chơi thì hoạt động dạy học mới có thể thực hiện được

Đối với hầu hết các trò chơi, sự cạnh tranh giữa những người chơi và đội chơi là một nhân tố làm tăng mạnh mẽ động cơ học tập cho họ, khích lệ họ tham gia trò chơi Đây cũng là lý do quan trọng nhất khiến hầu hết sinh viên trở nên hứng thú và bị lôi cuốn vào các trò chơi

Trên thực tế, trong giờ thực hành ngôn ngữ, nếu giáo viên chỉ giảng và giảng bài dồn dập trong thời gian dài thì rất ít học sinh có thể tập trung vào việc học được Rất ít học sinh thu được hiệu quả thực sự từ cách học này Thay vào đó, nếu giáo viên sử dụng trò chơi trong giảng dạy, học sinh sẽ cảm thấy thoải mái và thú vị hơn, nhờ đó giáo viênó thể duy trì động cơ học tập cho các em hiệu quả hơn Và khi học sinh có cơ hội để tham gia trò chơi trên lớp, các em sẽ được khuyến khích lựa chọn bạn chơi cùng mình Điều đó không chỉ giúp giáo viên tạo ra không khí học tập thân thiện mà còn khích lệ học sinh biết quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau thực hành ngôn ngữ và lĩnh hội tri thức mới sâu sắc hơn Nhất là khi giáo viên biết cách khéo léo kết hợp một học sinh kém hơn thì với một học sinh giỏi hơn trong nhóm, tinh thần hỗ trợ, nêu gương của học sinh giỏi và tinh thần cầu tiến của học sinh kém sẽ được vực dậy từ đó giúp các em tự tin hơn và có thể mạnh dạn bày tỏ ý kiến và giao tiếp bằng ngôn ngữ mới trước lớp Với trò chơi ngôn

Trang 28

tham gia vào trò chơi hơn, mà động cơ học tập là một yếu tố không thể thiếu được trong quá trình thu nhận kiến thức của học sinh Đây chính là nhân tố thiết yếu quyết định thành công hay thất bại của cá nhân mỗi học sinh Sự thành công và động cơ học tập có mối tương hỗ nhau: nếu học sinh được quan tâm, được hỗ trợ, được là “trung tâm” của hoạt động dạy học ngôn ngữ và đạt được thành công dù lớn hay nhỏ trong quá trình lĩnh hội tri thức thì học sinh ấy cũng sẽ càng có nhiều động cơ hơn để thực hiện những nhiệm

vụ được giáo viên đề ra trong quá trình học tập

Trang 29

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TRÒ CHƠI NGÔN NGỮ TRONG GIẢNG DẠY TIẾNG ANH CHO HỌC SINH LỚP 7 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THCS TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1.1 Tỷ lệ học sinh tham gia trả lời bảng hỏi của 3 trường

Biểu đồ 1: Tỷ lệ học sinh tham gia trả lời bảng hỏi của 3 trường

Đề tài tiến hành phát 578 bảng hỏi ở 3 trường THCS Long Thạnh; THCS Phú Vĩnh và THCS Vĩnh Hòa với tỷ lệ học sinh tương đương là 34% (Long Thạnh); 33% (Phú Vĩnh) và Vĩnh Hòa 33% Chủ nhiệm đề tài thu về và xử lý 572 bảng hỏi hợp lệ (có

6 bảng hỏi không thể xử lý vì bị lỗi và thiếu nhiều thông tin cần thiết)

Trang 30

1.2 Giới tính của học sinh trả lời Bảng hỏi

Biểu đồ 2: Giới tính của học sinh trả lời Bảng hỏi

Tỷ lệ học sinh nam nữ trả lời phiếu hỏi gần như cân bằng nhau với 50,2% tương đương với 286 nữ sinh và 48,8% tương đương với 285 nam sinh

1.3 Tỷ lệ học sinh và giáo viên tham gia trả lời phỏng vấn sâu cho đề tài:

Bảng 1: Tỷ lệ học sinh và giáo viên tham gia trả lời phỏng vấn sâu cho đề tài

THCS Long Thạnh

THCS Phú Vĩnh

THCS Vĩnh Hòa

Trang 31

Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu 30 em học sinh và 9 giáo viên ở 3 trường THCS Long Thạnh; THCS Phú Vĩnh và THCS Vĩnh Hòa Riêng đối với học sinh, hình thức phỏng vấn sâu được chủ nhiệm đề tài tiến hành ở địa điểm các quán nước nhỏ, học sinh tập hợp thành nhóm (10 em ở mỗi trường) cùng nhau chơi những trò chơi ngôn ngữ và tiến hành trả lời những câu hỏi (liên quan đến phụ lục Phỏng vấn sâu và Bảng hỏi của đề tài) nhằm tạo bầu không khí thân thiện và thoải mái nhất cho các em Tuy nhiên, do số lượng phỏng vấn sâu đề tài chỉ được thực thi ở số lượng giới hạn nhằm bổ sung những thông tin chi tiết và cần thiết cho đề tài (Đề tài sử dụng chú trọng phương pháp thu thập thông tin định lượng) và nội dung câu hỏi phỏng vấn sâu cũng tương đối 90% giống nội dung bảng hỏi nên chủ nhiệm đề tài tiến hành phân tích lồng ghép nội dung phỏng vấn sâu vào từng biểu đồ có liên quan, thay vì phân tích nội dung này thành 1 chương riêng biệt nhằm tránh tình trạng nội dung phân tích bị lặp đi lặp lại gây nhàm chán cho người đọc

Bên cạnh đó, đề tài còn tiến hành phỏng vấn 3 cán bộ quản lý, tức chỉ đạt được mục tiêu 3/7 cán bộ quản lý như chủ nhiệm đề tài đưa ra ngay từ đầu do một số yếu tố ảnh hưởng khách quan và chủ quan khác nhau Tuy nhiên, những nội dung thu thập được cũng tương đối đầy đủ và đảm bảo tính khả thi và chính xác có thể phản ánh được thực trạng chung của tình hình sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong giờ học Tiếng Anh THCS ở địa bàn thị xã hiện nay

Trang 32

1.4 Số năm học Tiếng Anh của học sinh

Biểu đồ 3: Số năm học Tiếng Anh của học sinh

Về số năm học Tiếng Anh của các em học sinh tính đến thời điểm các em tham gia trả lời phiếu hỏi, biểu đồ thể hiện câu trả lời với tỷ lệ như sau:

+ Học sinh học Tiếng Anh được 1 năm: 1%

+ Học sinh học Tiếng Anh được 2 năm: 11%

+ Học sinh học Tiếng Anh được 3 năm: 6%

+ Học sinh học Tiếng Anh được 4 năm: 19%

+ Học sinh học Tiếng Anh được 5 năm: 63% (chiếm tỷ lệ cao nhất)

Và không có học sinh nào đã có điều kiện tiếp xúc với Tiếng Anh trên 5 năm cả

Theo khung chương trình giảng dạy Tiếng Anh được Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định hiện nay, học sinh sẽ bắt đầu được học tập và làm quen với Tiếng Anh từ lớp 3 ở cấp Tiểu học, cho nên đối với câu trả lời “học Tiếng Anh đã được 5 năm” (tính cả thời điểm năm học lớp 7 hiện nay của các em) là câu trả lời chính xác và hoàn toàn hợp lý nhất

Trang 33

2 THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ CỦA TRÕ CHƠI NGÔN NGỮ THEO

SỞ THÍCH VÀ QUAN NIỆM CỦA HỌC SINH

2.1 Tỷ lệ học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ ở cả 3 trường THCS

Biểu đồ 4: Tỷ lệ học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ ở cả 3 trường THCS

Nhìn chung, đối với trò chơi ngôn ngữ, hầu hết các em học sinh đều hứng thú và

có ấn tượng sâu sắc Khi được hỏi có yêu thích trò chơi ngôn ngữ không, đa số học sinh tuy tuổi còn nhỏ (lớp 7) đang mới chỉ học THCS nhưng các em đã nhận biết ngay Trò chơi ngôn ngữ là gì và cho một số ví dụ minh họa Mức độ yêu thích của các em được thể hiện rõ rệt thông qua biểu đồ trên với 40% HS trả lời thích chơi trò chơi ngôn ngữ và thậm chí đến 33% các em bảo rằng “Rất thích” được chơi trò chơi trên lớp trong khi chỉ

có 6% HS không thích chơi trò chơi ngôn ngữ

Bên cạnh đó, khi phân tích sở thích chơi trò chơi ngôn ngữ cùng với giới tính của học sinh, biểu đồ dưới đây thể hiện sở thích khác nhau của nữ và nam học sinh

Trang 34

2.2 Tỷ lệ học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ (phân loại theo giới tính của học sinh)

Biểu đồ 5: Tỷ lệ học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ (phân loại theo giới tính của học sinh)

Biểu đồ cho thấy mặc dù nam sinh thường hay được nhận định năng động hơn nữ sinh, nhưng nói đến môn học Tiếng Anh nói chung cũng như nói đến mức độ yêu thích trò chơi ngôn ngữ nói riêng, nữ sinh luôn có tỷ lệ % yêu thích nhiều hơn với 51,65% Bên cạnh đó, số lương nam sinh “không thích” trò chơi ngôn ngữ cũng nhiều nữ sinh nhiều với 68,75% so với 31,43% nữ sinh

Cụ thể về mức độ yêu thích trò chơi ngôn ngữ ở từng trường, ta có thể thấy rõ hứng thú của các em qua biểu đồ sau:

Trang 35

2.3 Tỷ lệ học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ ở từng trường cụ thể

Biểu đồ 6: Tỷ lệ học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ ở từng trường cụ thể

Phân tích cụ thể hơn mức độ yêu thích Trò chơi ngôn ngữ ở từng trường, tỉ lệ phần trăm cao nhất là 41.21% số học sinh trường THCS Long Thạnh rất thích chơi trò chơi ngôn ngữ Học sinh trường THCS Phú Vĩnh cũng quan tâm phương pháp hỗ trợ này không kém với 40,66% Còn với trường THCS Vĩnh Hòa, tuy đây là đại diện cho vùng sâu xa của thị xã, nhưng trường cũng tạo điều kiện cho giáo viên vận dụng trò chơi ngôn ngữ vào giảng dạy môn Tiếng Anh nên trường cũng có 37,33% học sinh cảm thấy

“Thích” cách học này Nếu như so sánh về mức độ không thích Trò chơi ngôn ngữ thì có

2 trường THCS Phú Vĩnh là có số lượng HS không thích trò chơi ngôn ngữ là 19 em, chiếm tỷ lệ 54,3% và THCS Vĩnh Hòa với tỷ lệ 40% (14 em) so với trường THCS Long Thạnh chỉ có 2 học sinh với 5,7% Trường THCS Long Thạnh là trường điểm nằm ngay thị xã Tân Châu nên hầu như các em HS trường đều quen thuộc và yêu thích trò chơi ngôn ngữ đặc biệt nhiều hơn những trường khác Trong khi tiến hành phỏng vấn sâu học sinh cũng như giáo viên trường, chủ nhiệm đề tài cũng nhận thấy giáo viên và học sinh trường có nhiều kinh nghiệm và tâm đắc với trò chơi ngôn ngữ (10/10 học sinh đều yêu thích chơi trò chơi ngôn ngữ) Bên cạnh đó, số lượng học sinh 2 trường THCS Phú Vĩnh

Trang 36

được tầm quan trọng của trò chơi Tuy nhiên, hầu hết các em đều còn khá tự ti về năng lực tiếng Anh của mình và cảm thấy không tự tin để tham gia chơi trò chơi ngôn ngữ mặc

dù các em rất thích

Mục đích học tốt nghe nói tiếng Anh chính là tạo nền tảng vững chắc cho HS sau này phát triển khả năng ngôn ngữ để giao tiếp với các quốc gia trên thế giới nhằm lĩnh hội tri thức khoa học xã hội mới, phát triển nền kinh tế, con người, phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập toàn cầu Muốn HS có được khả năng giao tiếp lưu loát ngôn ngữ

ấy thì nhất thiết phải tạo cho các em hứng thú học tập và rèn luyện sự tự tin, dạn dĩ cho các em ngay khi các em còn ngồi ở ghế nhà trường, nhất là ở cấp THCS Trò chơi ngôn ngữ chính là một trong những phương thức hỗ trợ học sinh phát triển, giúp các em đam

mê tiếng Anh, phát triển tư duy ngôn ngữ, trở thành con người hữu ích trong thế hệ mai sau

Trang 37

2.4 Loại hình trò chơi ngôn ngữ học sinh yêu thích

Bảng 2: Loại hình trò chơi ngôn ngữ học sinh yêu thích

Tên trò chơi ngôn ngữ Số lƣợng học sinh

Slap the board (Đập bảng) 11/30 1

Shark attack (Cá mập lên bờ) 4/30 5

Nội dung phỏng vấn sâu 30 học sinh của đề tài ở 3 trường THCS Long Thạnh; THCS Phú Vĩnh và THCS Vĩnh Hòa cho thấy 100% các em học sinh đều hiểu Trò chơi ngôn ngữ là những trò chơi nào; hoạt động này đang được giáo viên tiến hành tại lớp ra sao và 100% các em đều yêu thích chơi trò chơi ngôn ngữ tại lớp Em N lớp 7A1 giải thích: “Theo em, trò chơi ngôn ngữ là trò chơi trí tuệ, dùng kiến thức đã học và ngôn ngữ của mình để trả lời câu hỏi giáo viên đưa ra”, hay em T lớp 7A2 cho rằng: “Trò chơi ngôn ngữ là trò chơi tận dụng những kiến thức cũ và những bài học mới môn Tiếng Anh vào để chơi giúp học sinh ôn lại và ghi nhớ bài tốt hơn” Tuy khoảng 60% em không nhớ

và nắm bắt được tên Tiếng Anh của trò chơi (các em nhớ tên Tiếng Việt như Đập bảng; Treo cổ v.v ), các em vẫn liệt kê được những trò chơi phổ biến giáo viên đã và đang tổ chức trong quá trình giảng dạy Tiếng Anh THCS trong thời gian qua Trong đó, học sinh yêu thích nhất là trò chơi Slap the board (Đập bảng), Bingo và Lucky numbers (Con số may mắn) theo các em, đây là trò chơi vui và hỗ trợ các em ôn lại ngay những từ vựng vừa học trong bài cũ cũng như vừa dạy trong bài mới

Trang 38

2.5 Lý do học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ ở cả 3 trường

Biểu đồ 7: Lý do học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ ở cả 3 trường

Khi hỏi về lí do tại sao học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ, hầu hết đều thấy được công dụng của trò chơi ngôn ngữ Với tỷ lệ chiếm cao nhất: 61,79% học sinh “thấy

có ích trong việc học Tiếng Anh” Bên cạnh đó, 27,68% học sinh cho rằng em yêu thích Tiếng Anh vì đó là thời gian các em được thư giãn, vui chơi cùng bạn bè; 4,29% học sinh chọn câu trả lời “bị giáo viên bắt buộc tham gia” và 1,96% học sinh nêu ra những lí do khác như: “Vừa được chơi vừa được học cùng lúc”; “Được ôn lại kiến thức cũ”; “Được giải trí ngay trong giờ học” v.v…Tuy nhiên, vẫn còn 4,29%, tương đương với 24 học sinh không tham gia trò chơi ngôn ngữ Trong quá trình phỏng vấn sâu cá nhân từng em,

có một số em nhận định rằng ngoài một số bạn không thích trò chơi ngôn ngữ là vì các bạn này có tư tưởng tiêu cực: “Giáo viên chỉ kêu những bạn lanh và giỏi tham gia”, còn

cá nhân HS ấy cũng thích tham gia nhưng không được mời nên “Riết rồi không thích tham gia nữa” Một số khác không tham gia vì các em cảm thấy không tự tin với năng lực

Trang 39

bị chê cười, nhất là khi giáo viên chia nhóm chơi cạnh tranh với nhau thì lớp đều muốn

chọn bạn giỏi để nhóm mình được thắng

Có thể thấy, do lứa tuổi lớp 7 của các em còn khá nhỏ nên không tránh khỏi một

số em còn không thông suốt lắm về mặt tư tưởng và còn khá thụ động nên dần dà các em

cũng quen dần với sự thụ động và tự ti ấy Chính vì thế, việc làm sao để học sinh vừa có

hứng thú chơi trò chơi ngôn ngữ vừa có điều kiện tham gia chơi đồng đều trên tinh thần

vừa cạnh tranh vừa hỗ trợ lẫn nhau là nhiệm vụ nan giải mà giáo viên phải bỏ nhiều tâm

huyết để hỗ trợ các em

Biểu đồ tiếp theo cũng thể hiện lí do vì sao các em thích chơi trò chơi ngôn ngữ

nhưng phân tích tỷ lệ cụ thể ở từng trường:

2.6 Lý do học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ ở từng trường

Biểu đồ 8: Lý do học sinh thích chơi trò chơi ngôn ngữ ở từng trường

Trang 40

Tỷ lệ học sinh nhận thức được vai trò “Có ích cho việc học Tiếng Anh” chiếm cao nhất ở trường THCS Long Thạnh và trường này cũng là trường có ít học sinh không tham gia trò chơi ngôn ngữ nhất với tỷ lệ 4,17% so với 2 trường còn lại Học sinh trường THCS Phú Vĩnh yêu thích trò chơi ngôn ngữ vì được vui chơi giải trí nhiều nhất với 52,26%, tuy nhiên khi phỏng vấn sâu học sinh trường, 10/10 học sinh của trường cũng đều nhận biết được vai trò hữu ích của trò chơi mặc dù các em vẫn nhận định các em đều

“ham được chơi”; đều muốn giáo viên Tiếng Anh ngày càng tìm ra được nhiều phương pháp giúp các em “vừa học vừa thư giãn vậy mới vui, thay vì chỉ bắt học và học”

2.7 Mức độ tham gia chơi trò chơi ngôn ngữ ở cả 3 trường

Biểu đồ 9: Mức độ tham gia chơi trò chơi ngôn ngữ ở cả 3 trường

Trò chơi ngôn ngữ là một trong những hoạt động chủ điểm nhất, đóng vai trò quan trọng nhất trong việc hỗ trợ HS cải thiện và tăng cường khả năng nghe nói tiếng Anh Thông qua những trò chơi ngôn ngữ, ta cũng có thể tạo thêm hứng thú ngôn ngữ cho các em, nhất là những hoạt động vui chơi có liên quan đến giao lưu văn hóa (chơi các

Ngày đăng: 08/03/2021, 16:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w