iv TÓM TẮT Trong nghiên cứu này, hiện trạng phát sinh tro trấu từ các lò đốt gạch trên địa bàn xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã được khảo sát bằng phương pháp phỏng vấn trực
Trang 100TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KỸ THUẬT - CÔNG NGHỆ - MÔI TRƯỜNG
HIỆN TRẠNG TRO TRẤU PHÁT SINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KỸ THUẬT - CÔNG NGHỆ - MÔI TRƯỜNG
HIỆN TRẠNG TRO TRẤU PHÁT SINH
AN GIANG, 09-2017
Trang 3i
CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Đề tài nghiên cứu khoa học “Hiện trạng tro trấu phát sinh từ các lò đốt gạch
trên địa bàn xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang” do sinh viên Nguyễn An
Khang thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ths Phan Phước Toàn Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày 8/8/2017
Thư ký
Cán bộ hướng dẫn
Chủ tịch Hội đồng
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Qua 4 năm học tập tại Trường Đại học An Giang, cùng với sự giảng dạy tận tình của các giảng viên Khoa Kỹ thuật - Công nghệ - Môi trường, đã giúp em tiếp thu nhiều kiến thức, phương pháp nghiên cứu mới trong cách học, cũng như cách thức làm việc sau này Cùng với sự tiếp xúc thực tế thông qua thời gian làm đề tài, giúp
em tích lũy kiến thức và kỹ năng vô cùng quý báu phục vụ cho quá trình làm việc sau khi ra trường
Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu Trường Đại học An Giang, Ban chủ nhiệm Khoa Kỹ thuật - Công nghệ - Môi trường cùng các thầy cô trong Bộ môn Môi trường và Phát triển bền vững đã tạo điều kiện, quan tâm, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thành nội dung khóa luận tốt nghiệp Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới ThS Phan Phước Toàn, thầy
đã hướng dẫn, chỉ bảo và góp ý một cách tận tình để từ đó em có thể hoàn thành đề tài một cách tốt nhất
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các cán bộ Phòng Tài nguyên
và Môi trường huyện Chợ Mới, các cô chú đang công tác tại UBND xã Nhơn Mỹ đã cung cấp các số liệu và tạo điều kiện cho em thực hiện đề tài trong thời gian qua
Do kiến thức còn hạn hẹp cũng như chưa tiếp xúc nhiều với thực tế, do đó bài báo cáo của em không tránh khỏi có thiếu sót Vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy, cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn Xin chân thành cám ơn!
Long Xuyên, ngày 06 tháng 9 năm 2017
Người thực hiện
Nguyễn An Khang
Trang 5iii
LỜI CAM KẾT
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em Các số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
An Giang, ngày 06 tháng 9 năm 2017
Người thực hiện
Nguyễn An Khang
Trang 6iv
TÓM TẮT
Trong nghiên cứu này, hiện trạng phát sinh tro trấu từ các lò đốt gạch trên địa bàn xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã được khảo sát bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp với 03 đối tượng là đại diện các cơ sở sản xuất gạch, các hộ dân đang chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tro trấu hoặc đang sử dụng tro trấu cùng với cán bộ quản lý tại địa phương Qua quá trình nghiên cứu cho thấy để sản xuất ra 1 triệu viên gạch thì cần sử dụng 38,7 tấn trấu và phát sinh 7,11 tấn tro, theo đó trên toàn địa bàn xã với 51 cơ sở sản xuất gạch ngói ước tính tiêu thụ 143.324 kg trấu/ngày và phát sinh lượng tro rất lớn và phát sinh ra lượng tro rất lớn 26.327 kg/ngày với tỷ lệ tro/trấu được xác định là 18,4% Kết quả điều tra cũng ghi nhận lượng tro trấu phát sinh này chủ yếu được các cơ sở sản xuất đổ đống trên bờ (77,1%
cơ sở) hoặc đổ xuống sông, kênh, rạch (57,1%), và chỉ một phần ít được tái sử dụng hoặc tận dụng vào việc khác Đề tài cũng nhận thấy đa phần các cơ sở sản xuất gạch, các hộ dân trên địa bàn vẫn chưa có những hiểu biết và nhìn nhận đúng về sự ảnh hưởng của tro trấu đến môi trường, cộng đồng cũng như các hướng tận dụng mới của tro trấu hiện nay trong nhiều lĩnh vực khác nhau Ngoài ra, cũng thấy rằng tro trấu hiện nay vừa là nguồn chất thải cần thiết phải quan tâm xử lý, vừa là nguồn nguyên liệu đầy tiềm năng có thể ứng dụng trong các lĩnh vực khác
Từ khóa: tro trấu thải, lò đốt gạch, nông thôn mới, xã Nhơn Mỹ
Trang 7v
ABSTRACT
In this study, status of rice husk ash arising from brick kilns in Nhon My commune, Cho Moi district, An Giang province was investigated by directly interviewing method with three subjects include representation of brick manufacturing facilities, households who are directly affected by rice husk ash or are using rice husk ash and local managers The results showed to produce 1 million bricks need 38.7 tonnes of rice husk and generate nearly 7.11 tonnes of ash In this case, throughout the commune with 51 brick manufacturing facilities was estimated that it consumed nearly 19.350 tonnes of rice husk a year and generated a very large amount of ash about 3.556 tonnes per a year (69.7 tonnes of ash per a year for a facility quivalent to 516 kg per a day) with the ratio of ash per rice husk is 18.4 % The results of the survey also showed that the incurred rice husk ash was mainly poured on the ground (77.1%) or rivers, canals directly (57.1%) and only a small part was reused or utilized in another On the other hand most of facilities and households
in the survey area still did not have the right knowledge and understanding for the impact of rice husk ash to the environment and community as well as new ways to utilize this material in different fields nowaday In addition, it is also found that rice husk ash is now both a waste that needs to be treated and a potential source of raw materials that can be applied in other fields
Keywords: rice husk ash, brick kilns, new countryside, Nhon My commune
Trang 8vi
MỤC LỤC
Trang
CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG i
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CAM KẾT iii
DANH SÁCH BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 2
1.5.1 Đóng góp về mặt khoa học và đào tạo 2
1.5.2 Đóng góp cho lĩnh vực bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội 2
CHƯƠNG 2.LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 4
2.1 TỔNG QUAN VỀ XÃ NHƠN MỸ, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG 4 2.1.1 Điều kiện tự nhiên 4
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 4
2.2 HIỆN TRẠNG CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT GẠCH TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NHƠN MỸ 5
2.3 TỔNG QUAN VỀ TRO TRẤU 5
2.3.1 Sơ lược về trấu và tro trấu 5
2.3.2 Thành phần của tro trấu 7
2.3.3 Hiện trạng tro trấu ở Đồng bằng sông Cửu Long 8
2.3.4 Các ứng dụng hiện tại của tro trấu 8
2.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VỀ TRO TRẤU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 9
CHƯƠNG 13 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
Trang 9vii
3.1 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 13
3.2 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 13
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.3.1 Phương pháp điều tra phỏng vấn: 13
3.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 14
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 15
4.1 TÌNH HÌNH TRO TRẤU PHÁT SINH TỪ CÁC LÕ ĐỐT GẠCH TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NHƠN MỸ 15
4.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, XỬ LÝ VÀ NHẬN THỨC CỦA CHỦ CƠ SỞ SẢN XUẤT GẠCH TRÊN ĐỊA BÀN 16
4.2.1 Thực trạng quản lý, xử lý tro trấu phát sinh của các CSSX 16
4.2.2 Nhận thức của chủ cơ sở 22
4.3 NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN TRONG VẤN ĐỀ TẬN DỤNG VÀ XỬ LÝ TRO TRẤU 25
4.4 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRO TRẤU TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NHƠN MỸ 27
4.4.1 Thuận lợi 27
4.4.2 Khó khăn 28
4.5 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 28
4.5.1 Giải pháp quản lý 28
4.5.2 Giải pháp tận dụng 30
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 31
5.1 KẾT LUẬN 31
5.2 KIẾN NGHỊ 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
PHỤ LỤC 1.CÁC PHIẾU PHỎNG VẤN 34
PHỤ LỤC 2 BẢNG SỐ LIỆU 44
PHỤ LỤC 3 HÌNH ẢNH KHẢO SÁT THỰC TẾ 54
Trang 11ix
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 1 Trấu 6
Hình 2 Tro trấu 6
Hình 3 Quy trình tạo ra tro trấu 6
Hình 4 Các phương thức xử lý tro trấu của các CSSX gạch xã Nhơn Mỹ thông qua phỏng vấn 17
Hình 5 Cầu đổ tro xuống sông của các CSSX gạch 17
Hình 6 Phương thức xử lý tro trấu sau khi đổ trên bờ 18
Hình 7 Tro bán theo đống và được thương lái xúc vào bao 19
Hình 8 Các bao tro được xếp chồng lên chờ xe của hộ dân đến lấy 19
Hình 9 Tro trộn với đất được tái sử dụng để làm hồ thay thế xi măng 20
Hình 10 Tro trấu trộn với đất nguyên liệu để đưa vào cối ép gạch lớn 20
Hình 11 Phương thức lưu trữ của các CSSX 21
Hình 12 Phương thức xử lý tro trấu chủ yếu của CSSX được phỏng vấn 21
Hình 13 Mức độ quan tâm của các CSSX đến vấn đề phát sinh tro trấu 22
Hình 14 Mức độ nhận thức của CSSX về sự ảnh hưởng của tro trấu đến môi trường 23
Hình 15 Kết quả phỏng vấn các vấn đề liên quan đến nhận thức của CSSX 23
Hình 16 Mức độ nhận xét của các CSSX đối với công tác quản lý tro trấu tại địa phương 25
Hình 17 So sánh khả năng nhận thức của 2 đối tượng hộ dân về sự ảnh hưởng của tro trấu đến chất lượng môi trường 26
Hình 18 So sánh khả năng nhận thức của 2 đối tượng hộ dân về sự ảnh hưởng của tro trấu đến hoạt động sản xuất, sinh hoạt 26
Trang 12KLTN Khóa luận tốt nghiệp RHA Rice Husk Ash (tro trấu) TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 131
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nông nghiệp là ngành kinh tế chính của nước ta, với tổng diện tích gieo trồng lúa khoảng 7,6 - 7,7 triệu ha, năng suất bình quân 57,8 tạ/ha, sản lượng đạt 44,5 triệu tấn, tương ứng với sản lượng đạt được là lượng phụ phẩm và các thành phần gây ô nhiễm môi trường mà con người cần phải quan tâm xử lý Một trong những nguồn gây ô nhiễm là tro trấu sinh ra từ quá trình đốt vỏ trấu sau giai đoạn xay xát lúa thành gạo
Mặt khác, sản xuất gạch đất nung là một nghề truyền thống ở Việt Nam Làng nghề này đã giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động phổ thông, nhất là các lao động ở nông thôn Tuy nhiên, làng nghề này đã và đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng về không khí (bởi CO2, HF,…), nước và cạn kiệt tài nguyên đất Bên cạnh đó, việc ô nhiễm môi trường từ tro trấu (nguồn gốc tạo bụi và làm thay đổi giá trị pH của nước) được tạo ra từ quá trình nung gạch cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm Hiện tại, ở Việt Nam hầu như chưa có những nghiên cứu cụ thể về lượng tro trấu phát sinh, các ảnh hưởng cũng như đề xuất những biện pháp hữu hiệu để quản
lý, xử lý hay tận dụng nguồn chất thải này Mặc dù, bên trong tro trấu có chứa một số thành phần hóa học rất hữu ích (SiO2, Al2O3,…) cho các ngành công nghiệp như công nghiệp thép, công nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng nhẹ,…Ngoài ra còn có thể tạo ra những sản phẩm phục vụ cho đời sống từ loại phụ phẩm này như chất làm sạch nước, chất khử mùi clo…Chính vì vậy, có thể coi đây là nguồn tài nguyên nhiều tiềm năng mà chúng ta cần phải khai thác và tận dụng một cách hợp lý
Nhơn Mỹ là một xã cù lao thuộc huyện Chợ Mới với thế mạnh về sản xuất nông nghiệp và sản xuất gạch ngói Có thể nói đây là một trong những xã có lò đốt gạch nhiều nhất của huyện với hơn 50 cơ sở sản xuất gạch ngói có sản lượng rất lớn
để đáp ứng nhu cầu về gạch ngói trong và ngoài tỉnh Tương ứng với đó là lượng tro trấu phát sinh từ các lò đốt gạch cũng rất lớn, lượng tro trấu này thường không được
xử lý hay tận dụng hợp lý, đa phần sẽ được đổ thẳng xuống sông gây ô nhiễm môi trường nước, vương vải trên đường, hoặc đổ đống tại các khu đất trống gây phát sinh bụi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường không khí, và sức khỏe của người dân lân cận Một phần nhỏ còn lại được người dân xung quanh mua về làm phân bón lót
để trồng rau, làm vườn cây kiểng,…Hiện tại, trên địa bàn xã công tác quản lý cũng như xử lý và tận dụng nguồn phế phẩm tro trấu từ các lò đốt gạch vẫn chưa được quan tâm đúng mức so với những công dụng vốn có của nó mang lại Nhìn chung việc khai thác chưa hợp lý vỏ trấu, tro trấu là một sự lãng phí lớn đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá này Mặt khác, môi trường là một trong số những tiêu chí quan trọng bộ tiêu tiêu chuẩn xây dựng nông thôn mới Việc nghiên cứu khai thác
Trang 14trường hiện nay Chính vì thế, việc thực hiện đề tài nghiên cứu “Hiện trạng tro trấu
phát sinh từ các lò đốt gạch trên địa bàn xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang” là cần thiết, nhằm góp phần bảo vệ môi trường, phục vụ công tác quản lý
nguồn tro trấu thải ở địa phương hiệu quả hơn cũng như làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về tro trấu
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đánh giá hiện trạng tro trấu phát sinh từ các lò đốt (sản xuất gạch) trên địa bàn xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Tro trấu từ các từ các lò đốt gạch trên địa bàn xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Đánh giá tình hình tro trấu phát sinh từ các lò đốt gạch thông qua việc khảo sát, điều tra thực tế đối với các đối tượng đại diện các cơ sở sản xuất, người dân và cán bộ địa phương;
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý, xử lý và nhận thức của các chủ cơ sở sản xuất gạch trên địa bàn;
- Đánh giá nhận thức của người dân trong vấn đề tận dụng và xử lý tro trấu;
- Đánh giá công tác quản lý tro trấu trên địa bàn xã Nhơn Mỹ;
- Đề xuất giải pháp quản lý và hướng tận dụng hiệu quả nguồn tro trấu thải
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1 Đóng góp về mặt khoa học và đào tạo
Kết quả nghiên cứu đạt được góp phần bổ sung vào những dữ liệu cho công
tác nghiên cứu về ứng dụng tro trấu sau này
Đồng thời đề tài cũng góp phần phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo của các cá nhân, tập thể trong và ngoài trường Đại học An Giang
1.5.2 Đóng góp cho lĩnh vực bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội
Kết quả nghiên cứu góp phần giúp cho cộng đồng có thể tận dụng tối đa nguồn tro trấu Phát hiện ra nguồn nguyên liệu cũng như năng lượng mới cho cộng đồng sử dụng
Trang 164
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 TỔNG QUAN VỀ XÃ NHƠN MỸ, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Xã Nhơn Mỹ là một xã nằm trong cù lao Ông Chưởng (huyện Chợ Mới, tỉnh
An Giang) có tổng diện tích là 26,68 km2 Toàn xã có 11 ấp gồm ấp Nhơn Lợi, Nhơn Lộc, Nhơn Hòa, Nhơn Ngãi, Nhơn An, Nhơn Hiệp, Mỹ Hòa, Mỹ Thuận, Mỹ Thạnh,
Mỹ An, và Mỹ Bình
Xã Nhơn Mỹ có vị trí địa lý nằm ở vĩ độ : 10°28’2’’B và kinh độ là 105°23’38’’Đ Được giới hạn bởi:
- Phía Bắc giáp xã Kiến Thành;
- Phía Nam giáp huyện Châu Thành (ngăn cách bởi sông Hậu);
- Phía Đông giáp xã Long Giang;
- Phía Tây giáp xã Mỹ Hội Đông
Địa thế xã Nhơn Mỹ nằm dọc theo bờ tả ngạn sông Hậu với chiều dài khoảng
13 km, cách trung tâm huyện Chợ Mới (tính từ trụ sở UBND xã) khoảng 19 km và cách trung tâm thành phố Long Xuyên khoảng 10 km (theo hướng phà Mương Ranh xuôi theo quốc lộ 91) Cách trung tâm thành phố Châu Đốc 44 km theo quốc lộ 91
Nhơn Mỹ với hệ thống sông ngòi kênh rạch chằn chịt, lớn nhất là rạch Đồng Xúc (chạy từ vàm Sơn Đốt đến cuối xã giáp ranh với xã Kiến Thành) vừa thuận lợi trong việc cung cấp nước ngọt quanh năm phục vụ cho sinh hoạt của người dân vừa đảm bảo lượng nước tưới tiêu lên đồng ruộng
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Theo số liệu thống kê của Cục Thống kê huyện Chợ Mới năm 2015, xã Nhơn
Mỹ có 6.617 hộ với tổng số dân là 27.008 người và mật độ khoảng 870 người/km2
Trong đó dân tộc Kinh là 26.922 người (tỉ lệ: 99,70 %), dân tộc Hoa là 69 người (tỉ lệ: 0,24 %), dân tộc Khmer là 13 người (tỉ lệ: 0,045 %), và dân tộc Chăm là 4 người (tỉ lệ: 0,015 %)
Về tín ngưỡng, tôn giáo của xã có 5 tôn giáo chính bao gồm Phật giáo Hòa Hảo:23.340 người (86,4 %), Phật giáo: 2.207 người (8,17 %), Công giáo: 769 người (2,85 %), Cao Đài: 57 người (0,21 %), Tứ Ân Hiếu Nghĩa: 11 người (0,04%), và một
số tôn giáo khác
Hầu hết người dân của xã đều sống bằng nghề nông Theo báo cáo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế năm 2016 của xã Nhơn Mỹ thì nền kinh tế của xã tiếp tục
Trang 17bố dọc theo khu vực giáp với sông Hậu và rạch Đồng Xúc (theo hướng từ cầu Mỹ Hòa vào tới cầu Kinh giáp xã Kiến Thành, huyện Chợ Mới), số cơ sở còn lại (5 cơ sở) thì phân bố rải rác trên các ấp khác của xã Nhơn Mỹ Trong tổng số 51 các cơ sở sản xuất chỉ có 13 cơ sở (chiếm 25,5 % so với tổng số) có đăng kí thủ tục hành chính
về môi trường được UBND huyện Chợ Mới cấp
Nguyên liệu để sử dụng cho việc sản xuất gạch ngói (tà lệt, đất tươi), cũng như nhiên liệu sử dụng cho các lò đốt (trấu từ các nhà máy xay xát lúa) của hầu hết các cơ sở sản xuất trên địa bàn xã đều được các thương lái chở đến tận nơi để cung cấp Với tổng số lò đốt gạch là 61 lò và sử dụng hàng trăm tấn nhiên liệu mỗi ngày
đã phát sinh ra lượng tro trấu vô cùng lớn, chúng không được xử lý, tận dụng một cách hợp lý gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí và thậm chí là sức khỏe của người dân
2.3 TỔNG QUAN VỀ TRO TRẤU
2.3.1 Sơ lược về trấu và tro trấu
Lúa (Oryza spp.) là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới, cùng với ngô (Zea Mays L.), lúa mì (Triticum sp tên khác: tiểu mạch), sắn (Manihot esculenta Crantz, tên khác khoai mì) và khoai tây (Solanum tuberosum L.) Lúa cung cấp hơn 1/5 toàn bộ lượng calo tiêu thụ bởi con người Lúa là các loài thực vật sống một năm, có thể cao tới 1 - 1,8 m, đôi khi cao hơn, với các lá mỏng, hẹp bảng (2 - 2,5 cm) và dài 50 - 100 cm Hạt của lúa gọi là hạt thóc (hạt nhỏ, cứng của các loại cây
Trang 186
ngũ cốc) dài 5 - 12 mm và dày 2 - 3 mm Sau khi xát bỏ lớp vỏ ngoài thu đƣợc sản phẩm chính là gạo và các phụ phẩm khác là cám và trấu (Vũ Thị Bách, 2014)
Hình 1 Trấu Hình 2 Tro trấu
Trấu là lớp vỏ ngoài cùng của hạt lúa và đƣợc tách ra trong quá trình xay xát Trong vỏ trấu chứa khoảng 75 % chất hữu cơ dễ bay hơi sẽ cháy trong quá trình đốt
và khoảng 25 % còn lại chuyển thành tro Chất hữu cơ chứa chủ yếu cellulose, lignin
và Hemi - cellulose (90%), ngoài ra có thêm thành phần khác nhƣ hợp chất nitơ và
vô cơ Lignin chiếm khoảng 25-30% và cellulose chiếm khoảng 35 - 40% Trấu sau khi quá trình đốt cháy sẽ sinh ra tro trấu (rice husk ash) Tóm lại, tro trấu là một loại phế phẩm từ lúa, sinh ra từ hoạt động đốt vỏ trấu Cứ 1 tấn lúa sẽ cho 0,26 tấn vỏ trấu
và 1 tấn vỏ trấu sẽ thải ra 0,2 tấn tro trấu (Bảo Vũ, 2016) Theo Mehta (1986), hàm lƣợng trấu chiếm khoảng 20 % hạt lúa và khi đốt trấu tạo thành một lƣợng tro khoảng 20% khối lƣợng trấu ban đầu Nhƣ vậy, khi xay xát mỗi tấn lúa sẽ thải ra 200
kg trấu và khi đốt sẽ còn lại khoảng 40 kg tro Tuy nhiên, đây chỉ là số liệu trung bình vì hàm lƣợng trấu trong lúa và hàm lƣợng tro trong trấu dao động trong một phạm vi khá lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ giống lúa, chất lƣợng đất, phân bón, thời vụ, khí hậu,
Hình 3 Quy trình tạo ra tro trấu
Gặt Xay xát Đốt
Trang 197
Tro trấu là những thành phần còn lại sau khi đốt vỏ trấu hay các sản phẩm từ trấu ở một nhiệt độ phù hợp
Tro trấu được sản xuất bằng cách đốt trấu ở nhiệt độ được kiểm soát (500 -
700oC) và có chứa silica với diện tích bề mặt lớn (Mehta, 1986)
2.3.2 Thành phần của tro trấu
- Thành phần hạt của tro trấu:
Theo Ngọ Văn Toản (2013), tro trấu sau khi có được bằng cách đốt trấu và được nghiền bằng máy nghiền bi rung chấn động trong thời gian 30 phút Thành phần hạt và tính chất kỹ thuật của tro trấu sau khi được phân tích:
Bảng 1 Thành phần hạt của tro trấu
Thể tích (%) các cở hạt có kích thước
Đường kính hạt D, (µm) 1.883 3.438 8.404 26.08 73.21 Kích thước hạt trung bình, (µm) 8.404
Kích thước hạt trung bình (µm) Độ hút vôi (mg/g)
(Nguồn: Ngọ Văn Toản, 2013)
- Thành phần hóa học của tro trấu:
Trấu sau khi cháy các thành phần hữu cơ sẽ chuyển hóa thành tro chứa các thành phần oxit kim loại Silic oxit là chất có tỷ lệ phần trăm về khối lượng cao nhất trong tro chiếm khoảng 80 - 90 % Và chúng có thể thay đổi tùy thuộc vào giống cây lúa, điều kiện khí hậu, đất đai của từng vùng miền (Huỳnh Diệp Hải Đăng, 2014)
Bảng 3 Thành phần hóa học của tro trấu
Thành phần oxit Tỷ lệ theo khối lượng (%)
Trang 208
(Nguồn: Ngọ Văn Toản, 2013)
2.3.3 Hiện trạng tro trấu ở Đồng bằng sông Cửu Long
Tro trấu có rất nhiều ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đặc biệt là các tỉnh vùng Tây nam bộ (An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp…), đây là một trong những vùng có sản lượng lúa lớn nhất cả nước Theo số liệu của Tổng cục Thống kê thì sản lượng lúa ĐBSCL năm 2015 là 25699,7 nghìn tấn, tương ứng với lượng lúa này sẽ cho ra 1336,4 nghìn tấn tro trấu Trong đó, lượng tro trấu ở An Giang phát sinh là 212,1 tấn (chiếm 16%)
Tro trấu ở đây chủ yếu phát sinh từ các lò đốt gạch, do chưa nhận thức được những lợi ích mang lại từ tro trấu nên phần lớn chúng thường được thải bỏ thẳng ra môi trường gây ra nhiều hệ lụy, gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi trường nước…Chỉ có một phần nhỏ được dùng làm nguyên liệu cho sản xuất, bón cây trồng,…
Người dân sống dọc sông Hậu thuộc xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới (An Giang) cho biết hàng chục lò nung gạch hoạt động quanh năm đã thải khói đen vào nhà họ, gây ra nhiều bệnh tật Khói bụi từ các lò gạch còn làm ám đen nhiều khu vực ruộng vườn khiến cây trồng không thể ra hoa kết trái Mùa mưa, nước mưa chảy tràn qua khu vực chứa tro trấu lộ thiên của các lò gạch này rồi tuôn xuống sông khiến nước sông đen sì, không thể tắm rửa hay sử dụng được (Quang Vinh, 2013)
Tại Vĩnh Long, hiện vẫn còn hàng ngàn lò gạch ở dọc các sông rạch như Cổ Chiên, Măng Thít thải khói bẩn ra môi trường Nhiều người làm việc tại các lò gạch còn thản nhiên đổ tro trấu, xà bần xuống sông rạch mà không bị xử lý hay nhắc nhở (Quang Vinh, 2013)
2.3.4 Các ứng dụng hiện tại của tro trấu
Trong nông nghiệp, tro trấu than nhiệt phân từ trấu có khả năng cải tạo đất tốt, vì có cấu trúc xốp nên đối với đất bạc màu chai cứng thì vật liệu này có thể làm đất tơi xốp lại, xét cả về hiệu quả ngắn và dài hạn (Hoàng Xuân Phương, 2009) Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng do tro trấu khi đốt sẽ có hàm lượng rất lớn silic oxit và có hoạt tính mạnh, khiến cho đất trồng tự nhiên bị gây hại
Trong ngành công nghiệp kim loại (thép công nghiệp) để sản xuất được thép chất lượng cao thì đòi hỏi quá trình đúc phải được liên tục Một số nhà máy sử dụng tro trấu rắc lên khu vực nước bề mặt của kim loại (thùng trung gian) để tránh làm mát nhanh chóng Do tro trấu có đặc tính cách nhiệt tốt và nhiệt độ nóng chảy cao
Trong ngành xây dựng, tro trấu cũng được dùng làm phụ gia cho vữa xây dựng thay thế cho silicafume (một chất phụ gia của vữa tự chảy dùng trong xây dựng, được nhập khẩu từ một số nước trên thế giới như: Thụy Điển, Australia và châu Phi), vì trong tro trấu với thành phần chủ yếu là silic ở dạng vô định hình có
Trang 219
hoạt tính cao làm cho cường độ của vữa tự chảy luôn cao hơn so với vữa dùng silicafume Bên cạnh đó, tro trấu cũng đã được nghiên cứu và ứng dụng vào các lĩnh vực như sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng nhẹ,
Công nghiệp, xi măng và bê tông: tro trấu có thể được sử dụng chủ yếu cho 2 mục tiêu:
- Thay thế xi măng Portland (Portland) để giảm chi phí sản xuất gạch xây dựng
- Sử dụng như một thành phần trong sản xuất bê tông có độ bền cao (cường
độ bê tông cao)
Với tính chất là cách nhiệt tốt, và nhiệt độ nóng chảy cao nên tro trấu sử dụng
để sản xuất vật liệu cách nhiệt, và chịu lửa (gạch chịu lửa) Ngoài ra tro trấu còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác như được sử dụng trong công nghiệp xi măng sợi (Fiber Cement) trong ngói và vật liệu nhân tạo, dùng để kiểm soát côn trùng gây hại, dùng làm vật liệu cách điện, sản xuất graphenne , sản xuất pin lithium ion , sản xuất chất mài mòn trong kem đánh răng, làm phụ gia trong sản xuất sơn, sản xuất hóa chất chống thấm, làm men trong sản xuất gốm, và sản xuất thủy tinh lỏng
Mặc dù có nhiều ứng dụng trong nhiều ngành khác nhau, nhưng theo một số khảo sát thực tế thì lượng tro trấu được tận dụng ở ĐBSCL nói riêng và ở nước ta nói chung vẫn còn rất ít Chính vì chưa có nhiều giải pháp xử lý hay tận dụng hiệu quả nên phần lớn lượng tro trấu này được thải vào môi trường, gây nên một số vấn đề ô nhiễm nhất là nguồn nước và các nguồn lợi gắn liền với nguồn nước Đây là một điều
Trên cùng một vấn đề nghiên cứu, Pankaj et al (2010), nghiên cứu khả năng
sử dụng vỏ trấu và tro trấu để loại bỏ metylen xanh từ nước thải trong điều kiện pH trung tính cho thấy 02 vật liệu này có khả năng hấp phụ metylen xanh tốt hơn so với các chất hấp phụ khác bao gồm một số phế phẩm nông nghiệp và công nghiệp, các vật liệu vô cơ và chất hấp phụ sinh học Ngoài ra, Ahmaruzzaman and Gupta (2011) cũng cho rằng vỏ trấu và tro trấu là những vật liệu rất có tiềm năng trong việc hấp
Trang 2210
phụ nhiều chất ô nhiễm khác nhau trong nước và nước thải như các loại thuốc nhuộm, hợp chất phenol, thuốc trừ sâu, các anion vô cơ, hợp chất hữu cơ và kim loại nặng
Trần Ngọc Cường (2011), nghiên cứu tổng hợp khoáng Wollastonite từ tro trấu Việt Nam bằng phương pháp thủy nhiệt Kết quả nghiên cứu đã tổng hợp thành công khoáng wollastonitte sau khi nung ở 950 oC lưu 3 giờ, và các sản phẩm trung gian sau khi phản ứng thủy nhiệt ở nhiệt độ 200 oC trong 12 giờ cho thấy với tỷ lệ mol giữa CaO/SiO2 = 1
Nguyễn Trung Thành (2012), nghiên cứu thành công dùng tro trấu từ các lò đốt gạch thủ công làm chất hấp phụ metyl da cam Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng với 200 mg tro trấu (đã hoạt hóa, hàm lượng HF trong dung dịch là 10 % thể tích) có khả năng loại bỏ 99 % metyl da cam từ 50 ml dung dịch metyl da cam (10 mg/l) ở
pH 5.0 với thời gian hấp phụ là 30 phút
Hoàng Thị Ngọc Nữ (2012), nghiên cứu tổng hợp zeolite NaA từ tro trấu và nghiên cứu khả năng hấp phụ của silica và NaA Kết quả đã tìm ra các thông số tối
ưu cho quá trình điều chế silica tro trấu như sau: dung dịch ngâm trấu là 400 ml dung dịch acid H2SO4 1M cho 15 g trấu trong thời gian 24 giờ và chế độ nung là 600 oC trong 1 giờ, rối 800 oC trong 0,5 giờ và khả năng hấp phụ của zeolite NaA với hiệu suất 93,8 %
Nguyễn Văn Cam (2013), nghiên cứu về khả năng hấp phụ của vật liệu FK đối với Arsen Kết quả nghiên cứu đã tổng hợp thành công vật liệu FK từ tro trấu cũng như điều kiện tối ưu để hoạt hóa tro trấu Ngoài ra cũng đã xác định được điều kiện tối ưu trong quá trình hấp phụ asen của FK là pH = 7
Viện Khoa học - Công nghệ Xây dựng (2013) đã nghiên cứu và đưa vào ứng dụng thành công hai loại vữa cháy và vữa bơm không co cường độ cao là GM-F, GM-B, có sử dụng phụ gia tro trấu trên cơ sở sử dụng silicafume của Tây úc (Huỳnh Diệp Hải Đăng, 2014)
Ngọ Văn Toản (2013), đã nghiên cứu ảnh hưởng của tro trấu và phụ gia siêu dẻo tới tính chất của hồ, vữa và bê tông Kết quả nghiên cứu cho thấy sự có mặt của tro trấu đã góp phần nâng cao đáng kể chất lượng của vữa và bê tông thông qua việc phối trộn với phụ gia siêu dẻo
Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2014), nghiên cứu khả năng hấp phụ các ion As và
Hg bằng vật liệu FK cải tiến Nghiên cứu đã tổng hợp thành công vật liệu FK cải tiến
có gắn MnOx và chất HĐBM của FK có kích cỡ nano lên bề mặt chất mang là tro trấu Trong điều kiện tĩnh, thời gian đạt cân bằng hấp phụ là 20 phút, hàm lượng MnOx phù hợp là 50 % khối lượng chất HĐBM Tải trọng hấp phụ đối với asen và thủy ngân lần lượt là 12,6 mg asen, 1,2 mg thủy ngân trên 1 g FK cải tiến và 126 mg asen, 12 mg trên 1 g khối lượng chất HĐBM Vật liệu FK cải tiến có khả năng xử lý asen cao hơn so với thủy ngân
Trang 2311
Huỳnh Diệp Hải Đăng (2014), nghiên cứu về vấn đề sử dụng tro trấu trong việc sản xuất gạch không nung Kết quả nghiên cứu cho thấy những ảnh hưởng đồng thời của hàm lượng tro trấu, và hàm lượng chất phụ gia cũng như đã nghiên cứu ra được điều kiện tối ưu hóa quá trình chế tạo gạch từ tro trấu Với giá trị tối ưu của cường độ nén là 51,03 daN/cm2
và khối lượng thể tích gạch là 1259,99 kg.cm3 tương ứng với các thành phần phối liệu là hàm lượng tro trấu là 48 %, hàm lượng phụ gia là
1 % và tỉ lệ nước/xi măng là 0,56
Nhóm sinh viên khoa Hóa (2014), Đại học Huế đã thành công trong việc điều chế thủy tỉnh lỏng từ tro trấu Qua quá trình thực hiện, nhóm nghiên cứu đã xây dựng được quy trình điều chế thủy tinh lỏng từ tro trấu ở quy mô phòng thí nghiệm (500 gam tro/mẻ) với hiệu suất tách SiO2 đạt 70 % Các điều kiện thích hợp của quá trình điều chế bao gồm: tỷ lệ mol NaOH/SiO2 bằng 0,7; nồng độ NaOH bằng 2,0 M; thời gian thực hiện phản ứng: 1,5 giờ; lượng nước rửa bã tro: 4,5 l/kg tro; thời gian sa lắng: 7 ngày
Theo Đào Thị Ánh Tuyết (2014), đã tổng hợp và nghiên cứu hoạt tính hút ẩm của silicagel từ tro trấu Nghiên cứu đã điều chế thành công và tìm ra quy trình để điều chế silicagel tối ưu từ tro trấu theo 4 giai đoạn: điều chế dung dịch Na2SiO3 (sử dụng tro có màu trắng), điều chế silicagel, rửa silicagel bằng C2H5OH khan rửa silicagel bằng hệ thống soxhlet
Võ Thị Hồng Nhân (2015), nghiên cứu khảo sát khả năng hấp phụ metylen xanh của tro trấu Kết quả nghiên cứu đã xác định được điều kiện tối ưu cho quá trình hấp phụ metylen xanh là: thể tích metylen xanh 50 mL; pH =7; khối lượng vật liệu hấp phụ m = 10 mg; nồng độ metylen xanh ban đầu C = 10 mg/L, thời gian hấp phụ t = 15 phút Và cũng đánh giá được hiệu quả hấp phụ của tro trấu sau khi được hoạt hóa là 94,97 % cao hơn trấu tươi (16,2 %)
Đặng Thị Thanh Lê và cộng sự (2015), nghiên cứu điều chế vật liệu nano SiO2 cấu trúc xốp từ tro trấu để hấp phụ xanh metylen trong nước Kết quả đã điều chế thành công vật liệu SiO2 có cấu trúc xốp và đã xác định được những đặc trưng của vật liệu Bột SiO2 điều chế được chủ yếu ở pha tinh thể một nghiêng monoclinic,
có cấu trúc xốp và có diện tích bề mặt riêng lớn (khoảng 258,3 m2/gam) Đồng thời,
đã đánh giá được một số yếu tốảnh hưởng đến quá trình hấp phụ xanh metylen trong dung dịch nước trên bột nano SiO2 Kết quả cho thấy, quá trình hấp phụ phù hợp theo
cả hai mô hình hấp phụ đẳng nhiệt Langmuir và Freundlich với các hằng số hấp phụ cân bằng tương ứng là 0,604 và 8,515 Vật liệu SiO2 có ái lực hấp phụ vật lý mạnh đối với xanh metylen (qmax = 20,41 mg/g và hiệu suất hấp phụ lớn hơn 90 % ở nồng
độ đầu của xanh metylen là 40 mg/l
Nghiên cứu tổng hợp vật liệu FexMnyOz/tro trấu với hàm lượng sắt tẩm cao hấp phụ asen trong nước ngầm được thực hiện bởi Nguyễn Trung Thành (2015) Kết quả nghiên cứu đã tổng hợp thành công vật liệu FexMnyOz/tro trấu, và các vật liệu
FexMnyOz/RHA cho hiệu quả hấp phụ cao đối với asen từ nước ngầm, trong đó
Trang 24410 m2/g) so với tro trấu ban đầu ( 16 m2/g), do đó làm tăng tăng khả năng hấp phụ metyl da cam của tro trấu và nghiên cứu cũng đã đánh giá được khả năng hấp phụ metyl da cam của tro trấu nhanh và cao hơn ( 1,7 lần) so với than hoạt tính
Qua đó ta cũng có thể thấy được tiềm năng ứng dụng của tro trấu là rất đa dạng và phong phú Hiện nay đa phần lượng tro trấu đang bị khai thác sử dụng một cách rất lãng phí đã và đang gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe của cộng đồng và các nghiên cứu liên quan về tro trấu cũng chỉ tập trung vào việc ứng dụng để sản xuất vào các ngành công nghiệp thép, công nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng nhẹ…Song vẫn chưa có những nghiên cứu về hiện trạng lượng phát sinh, các ảnh hưởng của tro trấu cũng như các hướng quản lý, tận dụng nguồn tài nguyên này một cách hợp lý
Trang 2513
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Thời gian thực hiện: 04 tháng, từ tháng 01/2017 đến tháng 04/2017 Tiến độ thực hiện cụ thể như sau:
1 012/2016 - 20/12/2016 Thu thập và tham khảo tài liệu về vấn đề
nghiên cứu
2 21/12/2016 - 01/01/2017 Viết đề cương và thiết kế phiếu phỏng vấn
3 02/01/2017 - 09/01/2017 Hoàn thành đề cương và nộp cho GVHD chỉnh
sửa nội dung đề cương
4 10/02/2017 - 01/03/2017 Tiến hành điều tra khảo sát thực tế
5 02/3/2017 - 17/3/2017 Phân tích, đánh giá số liệu từ khảo sát
6 18/3/2017 - 29/3/2017 Viết bài
7 19/3/2017 - 31/3/2017 Chỉnh sửa bài cùng GVHD
8 24/4/2017 - 20/5/2017 Hoàn thành đề tài
3.2 PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU
Các mẫu phiếu điều tra đối với chủ cơ sở, người dân và cán bộ địa phương (được đính kèm trong phụ lục)
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1 Phương pháp điều tra phỏng vấn:
Tiến hành khảo sát, phỏng vấn về vấn đề tro trấu ở lò đốt gạch với 3 đối tượng bao gồm đại diện cơ sở sản xuất, người dân và cán bộ địa phương
- Đối với đại diện cơ sở sản xuất:
+ Số lượng phiếu phỏng vấn được: 35 phiếu
+ Nội dung phỏng vấn:
+ Quy mô công suất của lò đốt;
+ Công nghệ đốt của các lò;
+ Nguyên liệu đốt của cơ sở;
+ Khối lượng vỏ trấu sử dụng trong 1 mẻ nung gạch;
+ Khối lượng tro trấu phát sinh trong 1 mẻ nung gạch hay trong 1 ngày;
+ Các hướng xử lý và tận dụng tro trấu phát sinh (bán, hay thải xuống sông, chất thành đống …);
Trang 2614
+ Ý thức của chủ cơ sở trong vấn đề môi trường đặc biệt là vấn đề ô nhiễm do tro trấu…
- Đối với người dân:
+ Số lượng phiếu phỏng vấn được: 30 phiếu (chọn ngẫu nhiên các hộ dân có
sử dụng tro trấu hoặc không có sử dụng tro trấu)
+ Các đề xuất của người dân trong vấn đề tro trấu…
- Đối với cán bộ địa phương:
+ Số lượng phiếu phỏng vấn được: 2 phiếu (cán bộ chuyên trách về môi
trường ở xã và huyện)
+ Nội dung phỏng vấn:
+ Số cơ sở sản xuất gạch ngói trên địa bàn xã Nhơn Mỹ;
+ Số lượng cơ sở sản xuất có giấy phép hoạt động;
+ Tổng số lò đốt từ các cơ sở sản xuất gạch;
+ Các công nghệ đốt tại các lò đốt gạch ở địa phương;
+ Tổng lượng tro trấu phát sinh hàng năm;
+ Công tác quản lý tro trấu tại các lò đốt gạch ở địa phương;
+ Địa phương xử lý tro trấu phát sinh như thế nào?
+ Các thuận lợi, khó khăn của địa phương trong công tác quản lý tro trấu…
3.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
Các số liệu thu thập và thông tin điều tra được tổng hợp và phân tích dựa trên phần mềm Microsoft Excel 2013
Trang 2715
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 TÌNH HÌNH TRO TRẤU PHÁT SINH TỪ CÁC LÕ ĐỐT GẠCH TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NHƠN MỸ
Quá trình nghiên cứu đã tiến hành khảo sát trực tiếp với tổng cộng 35 trên 51
cơ sở sản xuất gạch ngói hiện có trên địa bàn xã Nhơn Mỹ, trong đó có 34 cơ sở sản xuất gạch theo công nghệ Hoffman và 1 cơ sở sản xuất theo công nghệ thủ công truyền thống, có 40 lò đốt với 1.359 buồng đốt (hay còn gọi là miệng đốt)
Thực tế cho thấy trong 1 ngày (24 giờ) mỗi cơ sở sẽ đóng (bế) từ 6 - 10 miệng đốt gạch tùy vào số miệng đốt, mỗi lần đốt sẽ đốt từ 1 - 2 miệng (phổ biến nhất là 2 miệng để tiết kiệm tiền công và nguyên liệu đốt) và mất từ 4 giờ - 8 giờ để đốt chín gạch nhưng để đảm bảo tất cả gạch trong một buồng đốt được chín vừa tới để cho ra loại gạch xây nhà thì thường đốt trong 6 giờ Ngoài ra số giờ đốt còn phụ thuộc vào tốc độ của quạt hút, đặc biệt là nguyên liệu đốt có bị pha lẫn tạp chất khác hay không Lượng tro trấu phát sinh trong một ngày từ các lò đốt thường được tính bằng đơn vị là xe (xe tro 55 kg)
Qua quá trình khảo sát thực tế và thống kê số liệu (Bảng 4) cho thấy trung bình trong một ngày cơ sở phát sinh ra 516 kg tro sau khi sản xuất ra khoảng 72.571 viên gạch và dùng khoảng 2.810 kg trấu Tương ứng, cứ 1 triệu viên gạch được sản xuất ra sẽ sử dụng 38,7 tấn trấu và phát sinh 7,11 tấn tro Như vậy, có thể xác định được tỷ lệ khối lượng tro phát sinh và khối lượng trấu sử dụng để đốt gạch là 18,4% Tổng số lượng trấu sử dụng để đốt gạch trong một ngày từ 35 cơ sở sản xuất được khảo sát là 98.360 kg/ngày, tổng lượng tro phát sinh là 18.068 kg/ngàytrong điều kiện tất cả các cơ sở sản xuất này đều hoạt động bình thường Tính trên 51 CSSX trên địa bàn thì mỗi ngày sẽ có 3.701.143 viên gạch được sản xuất ra với lượng tro phát sinh là 26.327 kg/ngày, trấu sử dụng để đốt gạch là 143.324 kg/ngày
Bảng 4 Lượng tro phát sinh, trấu sử dụng và sản lượng gạch của các CSSX trên địa
bàn trong 1 ngày
Số CSSX Sản lượng gạch
(viên/ngày)
Lượng trấu (kg/ngày)
Lượng tro (kg/ngày)
Trung bình 1 CSSX 72.571 2.810 516
35 (Được PV) 2.540.000 98.360 18.068
51 (Ước tính) 3.701.143 143.324 26.327
Trang 2816
Để có thể xác định được lượng tro trấu phát sinh trong 1 năm của các cơ sở sản xuất gạch trên địa bàn thì ta dựa vào tỷ lệ tro trấu trung bình và sản lượng gạch của cơ sở trong 1 năm thay vì dựa vào lượng tro phát sinh, trấu sử dụng trong 1 ngày
vì việc xác định này còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như nhu cầu tiêu thụ của thị trường, thời gian làm việc trong năm, thời tiết tùy theo mùa, mong muốn của chủ cơ sở sản xuất (loại gạch mong muốn sau khi nung là gạch gì: gạch yalu, hay gạch vừa chin tới,… tùy vào mục đích sử dụng của gạch) cũng như thời gian để giải quyết các sự cố, rủi ro về kỹ thuật sản xuất,…
Qua đó có thể thấy xã Nhơn Mỹ có lượng tro trấu phát sinh hằng năm rất lớn được phát sinh từ các cơ sở sản xuất gạch ngói Theo các nghiên cứu gần đây, lượng tro trấu này có thể coi là một trong những nguồn chất thải có giá trị cần được tiếp tục khai thác, tận dụng một cách hiệu quả Tuy nhiên, hiện tại việc quản lý, xử lý nguồn chất thải này vẫn chưa được sự quan tâm đúng mức, nhất là đối tượng chủ cơ sở sản xuất gạch
4.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, XỬ LÝ VÀ NHẬN THỨC CỦA CHỦ CƠ SỞ SẢN XUẤT GẠCH TRÊN ĐỊA BÀN
Cùng với quá trình phát triển của các ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ thì nhu cầu thị trường về tiêu thụ các sản phẩm gạch ngói hiện nay cũng tăng nhanh, kéo theo đó các cơ sở sản xuất gạch cũng tăng số lượng sản phẩm của mình bằng cách tăng quy mô, công suất lò đốt cũng như thời gian làm việc trong năm,…Việc tăng sản lượng này đã phát sinh thêm một lượng lớn tro trấu từ các lò đốt gạch Mặc
dù lượng tro phát sinh rất nhiều nhưng đa phần các chủ cơ sở sản xuất gạch vẫn chưa nhận thức được các lợi ích từ việc tận dụng tro trấu cũng như các tác hại của nó đối với môi trường xung quanh nên cũng chưa có những biện pháp để quản lý, tận dụng một cách hiệu quả
4.2.1 Thực trạng quản lý, xử lý tro trấu phát sinh của các CSSX
Hiện nay trên địa bàn xã Nhơn Mỹ lượng tro trấu phát sinh từ tất cả CSSX gạch trên địa bàn ước tính 26,3 tấn/ngày, trung bình mỗi cơ sở phát sinh khoảng 516 kg/ngày và lượng tro này được hầu hết cơ sở sản xuất trên địa bàn xử lý, lưu trữ với nhiều phương thức thức khác nhau (Hình 4)
Trang 29Về việc sử dụng lại nguồn tro trấu từ lò đốt thì họ chƣa biết đƣợc nên tận dụng nhƣ thế nào và vào việc gì ngoài việc đem đổ sông để tránh gây mất diện tích cũng nhƣ
Hình 5 Cầu đổ tro xuống sông của các CSSX gạch
Trang 3018
không phát sinh bụi gây ảnh hưởng đến các hộ dân trong khu vực xung quanh cũng như ảnh hưởng công nhân đang hoạt động tại cơ sở Thông thường các cơ sở này sẽ đặt một vài cầu đổ tro cặp bờ sông (Hình 5), khi tro được lấy từ các lò đốt đổ đầy vào
xe sẽ được các công nhân đốt lò đi theo cầu này và đổ xuống sông, có một số cơ sở cẩn thận hơn sẽ dựng thêm các vách lên trên cầu đổ với mục đích tránh làm bụi tro bay đi xung quanh và không làm mất vẻ mỹ quan
Có 77,1% cơ sở (27/35 CSSX) được phỏng vấn xử lý tro trấu bằng cách đổ đống trên bờ Để có thể xử lý tro với phương thức này thì đòi hỏi cơ sở phải có diện tích lớn và phải có khu vực riêng để lưu trữ hay có các dụng cụ (màn chắn bằng cao
su, hay các thiết bị máy móc hoặc thường xuyên tưới tro bằng nước…) tránh tình trạng bụi tro phát tán xung quanh Các cơ sở xử lý tro theo phương thức này phân bố
ở khu vực ấp Mỹ Thạnh từ bến đò Sơn Đốt đi lên theo hướng Long Xuyên - Châu Đốc cho đến hết ấp, các cơ sở này có diện tích lớn để lưu trữ tro với hai mục đích là bán và khi cần sẽ sử dụng với các mục đích khác như lấp hầm hay trộn với đất làm
hồ (thay thế xi măng) để xây các công trình nhỏ trong cơ sở điển hình như xây thêm, sửa chữa các lò đốt bị hỏng, làm hồ để tô vào miệng lò đốt tránh sự thoát nhiệt,…
Tro trấu sau khi được đổ trên bờ, lưu trữ sẽ được bán hoặc tái sử dụng lại
Hình 6 Phương thức xử lý tro trấu sau khi đổ trên bờ
Đối với phương thức xử lý bán tro thì có 10/27 (chiếm 37%) cơ sở sử dụng Tro trấu phát sinh được đổ đống hoặc lưu trữ tại một khu vực sau để bán Đối tượng bán bao gồm:
- Ghe từ các tỉnh khác: mua để làm gốm hoặc dùng để cải tạo đất cho các vùng đất phèn, đất mặn; hoặc dùng làm phân bón cho nông nghiệp,… Thông thường
cơ sở sẽ bán tính theo đơn vị là ghe Mỗi ghe có các mức giá khác nhau tùy theo trọng tải của ghe
- Thương lái từ các xã, huyện trồng nhiều rau màu như xã Kiến Thành, Kiến
An hay Cái Xoài huyện Chợ Mới Cơ sở bán cho thương lái tính theo đơn vị là đống tro (đống lớn, đống nhỏ, …), dựa vào cảm quan mà người mua và người bán sẽ xác
Trang 3119
định được giá trị của một đống tro là bao nhiêu Tro trấu sau khi được thương lái mua sẽ đem bán lại với giá từ 2.000 - 4.000 đồng/bao tro
Hình 7 Tro bán theo đống và được thương lái xúc vào bao
- Cơ sở sản xuất sẽ bán hoặc cho các xe kéo của hộ dân không có việc làm trong địa bàn xã: tro trấu sẽ được cho vào bao và vận chuyển đến nơi tiêu thụ trong
xã để bán cho các hộ dân trồng rau màu hay cây kiểng Mỗi một xe kéo thường được
30 bao tro bán với giá 40.000 đồng (trung bình 1.333 đồng/bao tro)
Hình 8 Các bao tro được xếp chồng lên chờ xe của hộ dân đến lấy
Có 16/27 cơ sở sản xuất (chiếm 59,3%) được phỏng vấn có tái sử dụng lại nguồn tro trấu phát sinh từ các lò đốt gạch Tro trấu sẽ được tái sử dụng lại với 2 phương thức:
Trang 3220
- Một là, trộn với đất làm hồ thay thế xi măng như đã trình bày Phương thức này được tất cả các cơ sở sản xuất thực hiện tuy nhiên lượng tro trấu sử dụng cho mục đích này rất ít so với lượng tro phát sinh
Hình 9 Tro trộn với đất được tái sử dụng để làm hồ thay thế xi măng
- Hai là, tro sẽ được trộn với đất nguyên liệu theo tỷ lệ nhất định sau đó đưa vào cối ép gạch để sản xuất ra các viên gạch sống Tỷ lệ giữa đất nguyên liệu và tro trấu không được xác định một cách cụ thể và chính xác mà chủ yếu dựa vào cảm tính
và kinh nghiệm của người trộn bằng cách dùng tay bóp vào hỗn hợp đất - tro Phương thức này chỉ được áp dụng ở các cơ sở sản xuất có cối ép gạch lớn, còn đối với các cối ép gạch nhỏ thì không xử lý theo phương thức này được Tuy vậy, lượng tro tái sử dụng trở lại cũng chỉ một phần so với lượng tro trấu phát sinh ban đầu
Hình 10 Tro trấu trộn với đất nguyên liệu để đưa vào cối ép gạch lớn
Tuy nhiên, hiện nay thì hầu hết cơ sở đều chưa có các dụng cụ màn che chắn hay khu vực riêng dành để lưu giữ tro trấu mà chỉ đổ đống tràn lan ngoài trời ở các khu vực trống (22/27 cơ sở chiếm 81,5%), thỉnh thoảng được tưới nước để giảm bụi
và có 5/27 (chiếm 18,5%) cơ sở có che chắn ở khu vực lưu trữ (Hình 11)
Trang 3321
Hình 11 Phương thức lưu trữ của các CSSX
Còn một số CSSX xử lý tro trấu theo phương thức như lấp hầm, đổ đường đi
ở các khu vực trũng, lầy… Phương thức xử lý này có 7/35 cơ sở được phỏng vấn thực hiện (chiếm 20%)
Qua nghiên cứu cũng đã thấy rõ đa phần tro trấu phát sinh từ các CSSX chủ yếu được xử lý với phương thức là đổ sông có 20/35 (57,1%) cơ sở và đổ trên bờ 15/35 (42,9%) cơ sở thực hiện
Hình 12 Phương thức xử lý tro trấu chủ yếu của CSSX được phỏng vấn
Trong số các phương thức xử lý tại cơ sở đã nêu trên thì bán tro là phương thức đem lại lợi ích kinh tế nhiều nhất, lợi nhuận nhiều hay ít còn tùy thuộc vào lượng tro phát sinh mỗi ngày của cơ sở Trung bình lợi nhuận từ việc bán tro sau 5
18%
82%
Có che chắn ở khu vực lưu trữ
Trang 34gì mà nó mang lại cho chính cơ sở sản xuất
Nhìn chung thì đổ xuống sông, kênh, rạch và đổ trên bờ là 2 phương thức xử
lý tro trấu chủ yếu của các CSSX trên địa bàn, điều này nói lên phần nào về công tác
xử lý tro trấu của các cơ sở sản xuất trên địa bàn vẫn chưa tốt, vì vậy cần phải nâng cao ý thức cũng như sự hiểu biết của các chủ cơ sở sản xuất để họ có thể xử lý nguồn tro trấu phát sinh của mình một cách tốt hơn, hiệu quả hơn
4.2.2 Nhận thức của chủ cơ sở
Quá trình phỏng vấn đạt được các kết quả như sau:
Về mức độ quan tâm của các CSSX đến tro trấu phát sinh (Hình 13): gần 50% tổng số cơ sở được phỏng vấn đều không quan tâm đến vấn đề tro trấu phát sinh tại
cơ sở của mình, trong số 35 cơ sở chỉ có 7 cơ sở (chiếm 20%) thường xuyên quan tâm đến vấn đề tro trấu, xử lý và tận dụng tro trấu Với 17 cơ sở (chiếm 49%) không quan tâm đến vấn đề tro trấu đã làm cho một lượng lớn tro trấu phát sinh thải ra môi trường một cách vô ý gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường
Hình 13 Mức độ quan tâm của các CSSX đến vấn đề phát sinh tro trấu
20 %
31.4 %
48.6 %
Thường xuyên Thỉnh thoảng Không quan tâm
Trang 3523
Nếu tro trấu không được quan tâm một cách thường xuyên sẽ ảnh hưởng không tốt đến môi trường nước và môi trường không khí tại nơi xả thải Với môi trường nước nếu lượng tro trấu đổ xuống sông, hồ, kênh, rạch nhiều sẽ làm nước bị đục và tăng pH đột ngột gây ảnh hưởng đến hệ động, thực vật thủy sinh đang sống trong nước Về môi trường không khí nếu tro trấu phát sinh không được lưu trữ, bảo quản tốt sẽ phát sinh bụi gây ô nhiễm môi trường không khí
Hình 14 Mức độ nhận thức của CSSX về sự ảnh hưởng của tro trấu đến môi trường
Nhận thức của cơ sở về sự ảnh hưởng của tro trấu đến chất lượng môi trường (Hình 14) cho thấy có 15/35 (chiếm 42,9%) cơ sở cho rằng tro trấu ít ảnh hưởng đến chất lượng môi trường khu vực xung quanh và có 5/35 (chiếm 14,3%) cơ sở cho rằng tro trấu ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng môi trường
Hình 15 Kết quả phỏng vấn các vấn đề liên quan đến nhận thức của CSSX