1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp khắc phục lỗi chính tả cho sinh viên ngành sư phạm giáo dục tiểu học ở trường đại học an giang

74 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 3,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với những người đứng lớp như chúng tôi, lỗi chính tả của sinh viên, đặc biệt sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học đã trở thành nguy cơ ảnh hưởng lớn đến sự phong phú và trong sáng của t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

Trang 3

TRANG CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG

Đề tài nghiên cứu khoa học “Giải pháp khắc phục lỗi chính tả cho sinh viên ngành GDTH ở trường Đại học An Giang ” do tác giả Nguyễn Nguyệt Nga, công

tác tại bộ môn Giáo dục Tiểu học, khoa Sư phạm thực hiện Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu đồng thời được Hội đồng khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày 23 tháng 3 năm 2016

Trang 4

Đặc biệt, tôi xin đƣợc nói lời cảm ơn chân tình với các em sinh viên các lớp 12GT, 13GT, 14GT, 15GT, 37GT, 38GT, 39GT, cảm ơn các em đã bỏ thời gian, tâm trí để nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài

Xin trân trọng cảm ơn!

Đại học An Giang, ngày 25 tháng 12 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Nguyệt Nga

Trang 5

TÓM TẮT

Công trình nghiên cứu này, chúng tôi tìm hiểu về thực trạng lỗi chính tả của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học Trường Đại học An Giang Bằng việc sử dụng một bảng khảo sát, với 27 câu hỏi và 1 bài tập điền thanh hỏi - thanh ngã cùng với hơn 700 bài kiểm tra, chúng tôi đã tìm ra và thống kê được những loại lỗi chính tả

mà sinh viên thường mắc phải một cách khách quan, trung thực Thông qua kết quả khảo sát, chúng tôi có thể so sánh, đối chiếu tỉ lệ và mức độ mắc lỗi chính tả giữa sinh viên các lớp đại học với cao đẳng và giữa các lớp cùng hệ đào tạo với nhau Từ

đó chúng tôi đưa ra một số giải pháp và khuyến nghị nhằm khắc phục tình trạng lỗi chính tả về phụ âm đầu, âm chính, âm cuối và thanh điệu của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học An Giang

Từ khóa: Chính tả, lỗi chính tả, cách khắc phục lỗi chính tả

Trang 6

ABSTRACT

In our research, we explored the spelling proficiency of An Giang University students majoring in Primary Education By using a survey with 27 questions and 1 fill-in-the-blank exercise on falling rising tones (hỏi) and high rising tones (ngã) and over 700 tests, we found that the statistics reveal those typos that students often make suffer from internal and external factors Through the survey results, we compared the rate and extent of spelling errors between university and college students with comparable findings between classes and training systems We then offer solutions and recommendations for improving the spelling of initial consonants, sounds, final syllables, and tone of An Giang University students majoring in Primary Education Keywords: Spelling, typos, misspelling solutions

Trang 7

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu trong báo cáo này là số liệu đƣợc khảo sát từ thực tế do chính bản thân tôi thực hiện Những kết luận của đề tài là những điều mới mẻ và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ bài báo hay công trình nghiên cứu nào khác

Đại học An Giang, ngày 25 tháng 12 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Nguyệt Nga

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: GIỚI THIỆU ……… 1

1.1 Tính cần thiết của đề tài……… 1

1.2 Vài nét về đặc điểm dân cư của tỉnh An Giang ……… 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu……… 3

1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu……… 3

1.5 Nội dung nghiên cứu……… 4

1.6 Câu hỏi nghiên cứu ……… 4

1.7 Những đóng góp của đề tài……… 4

Chương 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU……… 6

2.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu ……… 6

2.2 Lược khảo vấn đề nghiên cứu……… 6

2.3 Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu …….… 8

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 15

3.1 Mẫu nghiên cứu……… 15

3.2 Thiết kế nghiên cứu……….… 15

3.3 Công cụ nghiên cứu……….… 15

3.4 Tiến trình nghiên cứu……… 16

Chương 4: KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 18 4.1 Kết quả khảo sát……….……… 18

4.2 Nguyên nhân mắc lỗi chính tả của sinh viên ngành GDTH

trường ĐH An Giang và giải pháp khắc phục ……… 32

Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……….……… 48

6.1 Kết luận……….………….…… 48

6.2 Khuyến nghị……… ……… 49

Tài liệu tham khảo ……… 51

Phụ lục ……… 53

Trang 9

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 1 Kết quả khảo sát về dân tộc và nơi học phổ thông

Bảng 2 Theo bạn, sai nhiều lỗi chính tả có ảnh hưởng đến việc học và kết

quả học tập không?

Bảng 3 Theo bạn, khi giảng dạy ở trường Tiểu học, giáo viên thườngviết

sai chính tả có gây trở ngại cho học sinh và giáo viên không?

Bảng 4 Bạn có quan tâm đến lỗi chính tả khi viết không?

Bảng 5 Có khi nào thầy (cô), bạn bè, người thân nhắc nhở hay phê bình

bạn về việc viết sai chính tả không?

Bảng 6 Bạn có ý thức khắc phục lỗi chính tả của mình không?

Bảng 7 Tổng hợp số lượng sinh viên mắc các loại lỗi chính tả

Bảng 8 Tỉ lệ sinh viên mắc các loại lỗi phụ âm đầu

Bảng 9 Tỉ lệ sinh viên mắc các loại lỗi âm chính

Bảng 10 Tỉ lệ sinh viên mắc các loại lỗi âm cuối

Bảng 11 Tỉ lệ, mức độ sinh viên mắc lỗi không phân biệt thanh hỏi - ngã

Trang 11

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Chính âm, chính tả là điều kiện bắt buộc đối với một giáo viên Đứng trên bục giảng, người giáo viên muốn mang đến cho học sinh điều hay lẽ phải thì trước hết phải

là người đúng: nói đúng, viết đúng, làm đúng Và sinh viên Sư phạm nói chung, sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học nói riêng sẽ là những người phải nói đúng, viết đúng và làm đúng trên bục giảng cũng như trong đời sống Tuy nhiên, một điều không thể phủ nhận được là phần đông học sinh, sinh viên ngày nay đang gặp phải những khó khăn rất lớn trong vấn đề nói và viết Không chỉ là việc nói, viết như thế nào để diễn đạt hết tâm

tư, nguyện vọng, ước muốn của bản thân mà các em còn vướng mắc ngay trong việc nói, viết như thế nào cho đúng từ mình đã chọn Phát âm sai, viết sai chính tả thì hệ quả tất yếu sẽ là người nghe, người đọc không thể hiểu hoặc hiểu sai những điều đã được đọc, được nghe Đối với học sinh, sinh viên, không hiểu hoặc hiểu sai điều đã được đọc, được nghe thì hậu quả là không thể lường trước được

Thực trạng không chính âm, chính tả không còn là việc của các em học sinh Tiểu học, không còn là việc của trường ở vùng sâu, vùng xa hay nơi thành phố, thị xã mà nó

là việc của tất cả các trường học trên đất nước ta Chúng ta nhìn thấy được việc này khi chúng ta dự giờ hoặc tham gia vào bất kỳ hoạt động nào của học sinh ở tất cả các trường,

kể cả trường đại học Đã từ nhiều năm nay, chính tả luôn là mối bận tâm của những nhà ngôn ngữ học, những bậc phụ huynh và đặc biệt là những thầy cô giáo Nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu phản ánh tình trạng học sinh, sinh viên, thậm chí là cả giáo

viên viết sai chính tả Tác giả Nguyễn Văn Bản đã kết luận: “Chỉ có 34% số học sinh lớp

4 và 41% học sinh lớp 5 tỉnh Đồng Tháp được khảo sát đạt yêu cầu không mắc quá 5 lỗi chính tả/bài viết, còn tới 66% học sinh lớp 4 và 59% học sinh lớp 5 chưa đạt yêu cầu này Số học sinh mắc nhiều lỗi chính tả trong một bài viết (từ 10 đến 22 lỗi) lớp 4 chiếm

29%, lớp 5 chiếm 12%” (Nguyễn Văn Bản, 2010, tr 7)

Không khó để tìm ra các tiêu đề như: “Bằng tốt nghiệp ĐH loại giỏi sai chính tả, sinh viên điêu đứng”, “700 bằng tốt nghiệp đại học mắc lỗi chính tả”, “Nhan nhản lỗi chính tả ở “tài liệu hướng dẫn” của Bộ”, “Thầy sai chính tả, lớp trống bốn bề”… trên các trang báo mạng

Không chỉ trong nhà trường, các phương tiện thông tin đại chúng, báo, đài cũng sai chính tả Theo Phạm Thịnh, (2010) “Tỉ lệ lỗi chính tả trung bình của văn bản tiếng

Việt là 7,79%, cao gần tám lần so với chuẩn 1%, đáng nói, tỷ lệ lỗi khu vực đại học và viện nghiên cứu cũng xấp xỉ mức trung bình xã hội”

Ở An Giang, hiện tượng sai chính tả xảy ra thế nào? Có nhiều đến mức phải báo động không? Giáo viên Lê Tấn Thời Trường THCS Thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới,

Trang 12

An Giang viết: Một chị đồng nghiệp cho tôi xem đơn xin phép nghỉ học đầy lỗi chính tả

của học sinh Chị cho biết không ít lần gặp tình huống như thế qua bài làm của các em Chữ viết cẩu thả, vô vàn lỗi chính tả, dấu chấm, dấu phẩy loạn xạ (Lê Tấn Thời, 2014)

“Sổ dự giờ” do Sở Giáo dục và Đào tạo An Giang phát hành (hiện đang được bán phổ

biến ở các nhà sách khắp cả tỉnh) cũng sai chính tả, mục I Phần Lượt thuật giờ dạy, thay vì Lược thuật giờ dạy Trong kỳ chấm thi tuyển sinh đại học 2014, có thí sinh đã viết: “Ngày sưa nhân vân ta phải sống chong cảnh một cổ hai chòng” Đây là những

lỗi chính tả mà đúng ra các em học sinh Tiểu học cũng không mắc phải Không chỉ thí sinh, sinh viên của Trường Đại học An Giang nói chung, sinh viên ngành GDTH nói riêng “sai chính tả” cũng đang là một vấn đề đáng báo động Trong bài thi hoặc bài kiểm tra, các em viết sai chính tả rất nhiều, thậm chí có câu giáo viên không thể hiểu được các

em muốn nói gì, vì chỉ có 8 từ mà đã sai 5 từ như: phí phách quân tửu chỉ có giá chị ở

thờ sa sưa Những lỗi chính tả như: quý báo (quý báu), công tắt (công tắc), chao chuốt

(trau chuốt), mờ mịch (mờ mịt), nghành nghề (ngành nghề), mở màng (mở màn), gỏ

gàng (rõ ràng), dặng dò (dặn dò), năng khíu (năng khiếu), miêng mang (miên man) …

và những lỗi tương tự xuất hiện tràn lan trên các bài làm của các em Ví dụ: từ lái (từ láy), từ gép (từ ghép), hoán ngữ (quán ngữ) … Ngay cả trên trang đánh giá giáo viên của

trường, đã suy nghĩ thật kỹ và chỉ viết một vài từ, các em cũng viết sai chính tả Bài thi

giáo án điện tử của sinh viên năm cuối ngành GDTH có yêu cầu: “Các em xem hai hình

ảnh sau và đón xem ảnh nào là rễ cọc, ảnh nào là rễ chùm” Nếu đây là bài dạy thực tế

tại lớp thì có thể giáo viên này sẽ không nhận được phản hồi của học sinh, vì các em sẽ

rất im lặng, trật tự để đón xem chứ không hề thử đoán xem Đây là những lỗi không thể

chấp nhận được đối với một sinh viên đại học, nhưng rất tiếc lại có rất nhiều em viết như thế Không thể kể hết những lỗi chính tả của sinh viên, không thể liệt kê tất cả những loại lỗi chúng tôi đã gặp, đã sửa trong thời gian giảng dạy Có thể nói rằng, sai chính tả trong học sinh, sinh viên không còn là vấn đề bên lề, không còn là vấn đề bỏ qua là xong, cũng không còn là vấn đề dễ dàng thông cảm là được Đối với những người đứng lớp như chúng tôi, lỗi chính tả của sinh viên, đặc biệt sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học

đã trở thành nguy cơ ảnh hưởng lớn đến sự phong phú và trong sáng của tiếng Việt, đồng thời nó cũng là mối đe dọa đến tương lai nhiều thế hệ Và đây cũng là lý do chúng tôi chọn đề tài “Giải pháp khắc phục lỗi chính tả cho sinh viên ngành GDTH ở Trường ĐHAG”

1.2 VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM DÂN CƢ CỦA TỈNH AN GIANG

Với 4 dân tộc: Kinh, Khmer, Chăm, Hoa, An Giang là tỉnh có dân số đông nhất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Dân tộc Kinh chiếm đa số dân số của tỉnh, có mặt ở tất cả các thành phố, huyện, thị của tỉnh, công việc chủ yếu là làm nghề nông

Trang 13

Dân tộc Khmer chiếm khoảng 3.9% dân số toàn tỉnh, sống tập trung ở hai huyện miền núi Tri Tôn và Tịnh Biên, số còn lại sống rải rác ở các huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn Đồng bào dân tộc Khmer có mối quan hệ rộng rãi với đồng bào dân tộc Khmer các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia, công việc chủ yếu của họ là trồng trọt, chăn nuôi và làm thuê theo thời vụ

Dân tộc Chăm chiếm khoảng 0.62% dân số toàn tỉnh, sống tập trung ở huyện An Phú và thị xã Tân Châu, số còn lại sống rải rác ở các huyện Phú Tân, Châu phú và Châu Thành Nguồn thu nhập chính của họ là bằng nghề chài lưới, buôn bán nhỏ và dệt thủ công truyền thống

Dân tộc Hoa chiếm khoảng 0.65% tổng dân số toàn tỉnh Đại bộ phận sống ở thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, có mối quan hệ chặt chẽ với người Hoa trong vùng và nhiều nước trên thế giới Một bộ phận lớn người Hoa kinh doanh thương mại, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có cuộc sống ổn định, thu nhập khá hơn so với các dân tộc khác (Viện Nước tưới tiêu và Môi trường – IWE, 2011)

Các dân tộc Khmer, Chăm ở An Giang có số dân tương đối đông, chủ yếu sống tập trung theo khu vực, giao tiếp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ, những công việc của họ lại chủ yếu bó hẹp trong làng, xã, không có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp xúc với dân cư nhiều vùng miền khác nhau và không thường xuyên sử dụng tiếng Việt, thậm chí có người không biết nói tiếng Việt Người dân tộc chỉ thực sự cần đến ngôn ngữ chung của quốc gia khi các em nhỏ đến trường đi học, khi người dân có việc cần liên hệ với chính quyền các cấp Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng sử dụng tiếng Việt của đồng bào Khmer, Chăm nói chung và của các em học sinh, sinh viên người dân tộc nói riêng

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đề tài được nghiên cứu nhằm:

- Chỉ ra được thực trạng lỗi chính tả của sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học Trường Đại học An Giang

- Đề xuất những giải pháp khắc phục những loại lỗi chính tả sinh viên thường mắc

1.4 ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Lỗi chính tả tiếng Việt của sinh viên ngành GDTH Trường ĐH An Giang

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Những loại lỗi chính tả mà sinh viên các lớp DH15GT, DH14GT, DH13GT, DH12GT và CD39GT, CD38GT, CD37GT thường mắc phải Cụ thể là lỗi chính tả âm

Trang 14

tính, đó là lỗi thanh điệu, chủ yếu là lỗi không phân biệt được thanh hỏi và thanh ngã Chúng tôi không đề cập đến những loại lỗi về viết hoa, viết tắt hay phiên âm tiếng nước ngoài, vì cách viết hoa, viết tắt hay phiên âm tiếng nước ngoài là những quy định do Bộ Giáo dục và Đào tạo hay Bộ Nội vụ ban hành, chúng chỉ có tính chất tạm thời và những quy định này đã rất ngắn gọn, rõ ràng Hơn nữa, việc khảo sát những loại lỗi này đòi hỏi rất nhiều thời gian, công sức Do đó, chúng tôi xin được nghiên cứu vấn đề lỗi viết hoa, viết tắt hay phiên âm tiếng nước ngoài trong những đề tài khác với quy mô rộng hơn, sâu hơn

1.5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung vào những nội dung nghiên cứu sau:

- Những loại lỗi chính tả sinh viên thường mắc phải

- Mức độ mắc lỗi chính tả của sinh viên các khóa khác nhau như thế nào?

- Nguyên nhân dẫn đến việc sinh viên viết sai chính tả

- Thái độ của sinh viên trong việc khắc phục lỗi chính tả

- Cách khắc phục lỗi chính tả

+ Lỗi phụ âm đầu

+ Lỗi âm chính

+ Lỗi âm cuối

+ Lỗi thanh điệu

1.6 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1 Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học Trường Đại học An Giang thường mắc những loại lỗi chính tả nào?

2 Mức độ mắc lỗi chính tả của sinh viên các khóa khác nhau như thế nào? Kết quả này có liên quan đến vai trò, trách nhiệm của giáo viên Bộ môn GDTH và giáo viên của Trường Đại học An Giang không?

3 Những nguyên nhân nào dẫn đến việc sinh viên viết sai chính tả?

4 Những loại lỗi chính tả sinh viên ngành Sư phạm Giáo dục Tiểu học thường mắc có thể khắc phục bằng cách nào?

1.7 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

- Chỉ ra thực trạng lỗi chính tả của sinh viên ngành GDTH Trường Đại học An Giang

Trang 15

- Giúp sinh viên khắc phục những loại lỗi chính tả các em thường mắc phải (trừ lỗi viết hoa, viết tắt, phiên âm tiếng nước ngoài)

Trang 16

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Lỗi chính tả là vấn đề không mới nhưng nó vẫn luôn gây bức xúc cho những ai quan tâm đến giáo dục Không thể gọi là vấn nạn nhưng nếu học sinh viết sai chính tả quá nhiều thì lỗi là do đâu? Bắt đầu từ ai? Nếu tình trạng này không được khắc phục thì hậu quả sẽ ra sao? Tương lai tiếng Việt sẽ thế nào? Không dừng lại ở học sinh mà sinh viên, học viên và ngay cả giáo viên cũng viết sai chính tả Chúng ta có thể làm gì để khắc phục tình trạng này? Người viết mong rằng, sau khi công bố đề tài này thì có thể tạo ra trong sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học một ý thức thường trực, một thói quen, thói quen sửa lỗi chính tả mỗi khi cầm bút

2.2 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Vấn đề chính tả tiếng Việt là vấn đề rất được các nhà ngôn ngữ Việt quan tâm và quan tâm từ rất sớm Sự quan tâm này được thể hiện thông qua việc hàng loạt từ điển tiếng Việt ra đời, nhằm giúp người Việt nói và viết đúng tiếng Việt Có thể kể đến quyển

từ điển tiếng Việt đầu tiên do người Việt biên soạn là Ðại Nam quốc âm tự vị, xuất bản năm 1895 của Paulus Huỳnh Tịnh Của Dựa theo cuốn tự điển đầu tiên này nhiều từ

điển Việt Nam khác được các tác giả sau này biên soạn như: Đồng âm tự vị của Nguyễn Văn Mai (1912), Quốc âm tân chế của Lê Mai (1925), Việt Nam tự điển của Hội Khai trí

Tiến Ðức (1931), Sách mẹo tiếng Nam của Nguyễn Hiệt Chi và Lê Thước (1935), Lược khảo Việt ngữ của Lê Văn Nựu (1943), T ừ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên (1967) ,

Từ điển chính tả phổ thông của nhiều tác giả (1963), Việt Nam từ điển của Lê Văn Đức (1970) hay Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (1988) và nhiều từ điển tiếng Việt

của nhiều tác giả hoặc tập thể tác giả khác Đồng thời với từ điển tiếng Việt là những

Mẹo luật chính tả tiếng Việt của Lê Trung Hoa (1984, 1994), Sổ tay mẹo luật chính tả -

Lê Trung Hoa (2005)…) Đây là những cuốn sách cung cấp cho người đọc những hiểu biết về các hiện tượng có tính quy luật chi phối chính tả tiếng Việt Song song với việc cung cấp những hiện tượng có tính quy luật, tác giả cũng đã nêu ra một số mẹo nhằm giúp cho người đọc tránh được những lỗi chính tả thường mắc như lỗi về thanh điệu, lỗi

về âm đầu, âm chính và âm cuối Tiếng Việt thực hành là một môn học được dạy ở tất

cả các các ngành của các trường đại học và đây cũng là một môn học mà sinh viên được cung cấp những kiến thức về chữ viết tiếng Việt, về những nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt, về những nguyên tắc viết hoa và đặc biệt là những loại lỗi chính tả và cách khắc phục chúng Người học có thể tìm thấy những nội dung này trong tất cả những sách

Tiếng Việt thực hành của các tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng (2008);

Hoàng Dân (2006); Hà Thúc Hoan (1998) Hoàng Kim Ngọc (2010); Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2001) … Không chỉ từ điển, không chỉ mẹo luật chính tả, các nhà

Trang 17

ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu, các giáo viên … còn có hàng loạt bài viết, sáng kiến kinh nghiệm, công trình nghiên cứu…về cách khắc phục những loại lỗi chính tả thường gặp Những cách khắc phục này thường xoay quanh 3 giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất là “phát âm đúng để viết đúng chính tả” Khởi xướng quan điểm này là tác giả Đỗ Thuận, đồng quan điểm với ông là các tác giả Hoàng Phê, Lê Văn Nựu, Nguyễn Châu … Tác giả Lê Văn Nựu đã cho rằng: đối với học sinh nhỏ tuổi, trong các giờ tập đọc nếu được “luyện tập cách phát âm cho đúng thì dần dần chúng sẽ sửa chữa được những chỗ sai lầm và khi phát âm được đúng mỗi vần, mỗi tiếng thì viết ra tự

nhiên hợp cách không còn khó khăn ngại ngần gì nữa” (Nguyễn Thiện Giáp, 2005)

Thứ 2 là “học mẹo chính tả để viết đúng chính tả” Đây là quan điểm của không ít tác giả có tên tuổi như: Nguyễn Đình, Trần Văn Thanh, Lê Ngọc Trụ, Phan Ngọc, Hà Thúc Hoan, Nguyễn Minh Thuyết, Lê Trung Hoa … Theo tác giả Phan Ngọc (1982),

“Cách đây 40 năm Nguyễn Đình đã nói đến luật hỏi ngã” Năm 1954, Trần Văn Thanh

với Đồng âm dẫn giải và Mẹo luật chính tả đã đưa ra 26 mẹo chính tả bao gồm mẹo về

phụ âm đầu, vần, thanh cho từ thuần Việt và từ Hán Việt Năm 1972, Lê Ngọc Trụ trong

quyển Việt ngữ chính tả tự vị đã bổ sung thêm một số mẹo luật về hỏi ngã Đến năm

1994, tác giả Lê Trung Hoa đã tổng hợp những thành tựu về mẹo luật chính tả trước đó

và sáng tạo thêm, đưa vào công trình Mẹo luật chính tả với 36 mẹo luật cho phụ âm đầu,

âm chính, âm cuối và phân biệt hỏi, ngã tiếng Việt (Hoàng Phê, 1979)

Thứ 3 là “học chính tả bằng cách nhớ từng chữ một” Nguyễn Đức Dương, Nguyễn Quý Thành, Hoàng Hòa Bình, Bùi Tất Tươm, Nguyễn Thị Ly Kha … đều không đồng tình với nguyên tắc dùng chính âm để giải quyết chính tả Theo các tác giả,

để viết đúng chính tả, người học cần được luyện tập những trường hợp có vấn đề về chính tả một cách có định hướng, có phương pháp Từ quan điểm của mình về vấn đề chính tả, tác giả Ly Kha đã đề nghị những nhà biên soạn sách giáo khoa xây dựng một danh sách từ- chữ có vấn đề chính tả cho từng học kỳ, từng lớp để giúp người dạy và

người học có kế hoạch luyện tập chính tả cho học sinh (Nguyễn Thị Ly Kha, 2009)

Tham khảo, tổng hợp ba giải pháp cơ bản trên, nhiều tác giả, phần đông là giáo viên, đã có những bài viết, sáng kiến kinh nghiệm, công trình nghiên cứu có giá trị để giúp cho học sinh của mình viết tốt hơn, ít sai chính tả hơn Ví dụ như: Lê Đức Đồng (2014): “Lỗi chính tả của học sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long và một số cách khắc

phục”, trong bài viết này tác giả đã khái quát được thực trạng lỗi chính tả của học sinh

vùng Đồng bằng sông Cửu Long là “một thực trạng đáng lo ngại”, từ đó tác giả đã đưa

ra nguyên nhân và một số giải pháp khắc phục Về biện pháp khắc phục, tác giả Lê Đức Đồng đã đặc biệt lưu ý đến việc luyện phát âm đúng cho học sinh, việc sử dụng những mẹo luật chính tả và việc rèn luyện thói quen, niềm say mê đọc sách của học sinh… Tiếp

theo có thể kể đến đề tài: Giải pháp khắc phục lỗi chính tả phương ngữ cho học sinh lớp

Trang 18

4 và lớp 5 tỉnh Đồng Tháp của tác giả Nguyễn Văn Bản (2010) Luận án này đã khái

quát được thực trạng lỗi chính tả của học sinh lớp 4 và lớp 5 các trường Tiểu học ở tỉnh Đồng Tháp Luận án khẳng định mối quan hệ giữa ngữ âm – chữ viết và các nguyên tắc chính tả chi phối việc dạy học chính tả ở tiểu học; mối quan hệ giữa ngôn ngữ toàn dân với tiếng địa phương chi phối vấn đề chính tả phương ngữ của tỉnh Đồng Tháp dẫn đến việc học sinh mắc nhiều lỗi chính tả phương ngữ khi viết Tác giả cũng khẳng định cần xác định rõ mục tiêu, nội dung và phương pháp chữa lỗi chính tả phương ngữ cho học sinh Luận án đã đề xuất các giải pháp và hệ thống các bài tập để chữa lỗi chính tả cho học sinh, đề xuất kế hoạch dạy học, phương pháp dạy học và đề xuất về kiểm tra đánh giá kết quả dạy học chính tả phương ngữ Đề cập đến lỗi chính tả của học sinh và cách

khắc phục, chúng ta còn có thể kể đến đề tài nghiên cứu khoa học cấp Khoa “Tìm hiểu

thực trạng viết sai chính tả của học sinh trường THPT Nguyễn Khuyến và một số biện pháp khắc phục” của 2 sinh viên trường Đại học An Giang là Huỳnh Ngọc Nguyên

Hồng và Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2004) Đây là những công trình nghiên cứu về những loại lỗi chính tả mà học sinh THCS, THPT thường mắc phải Các tác giả đã thống

kê, phân loại lỗi chính tả của học sinh thông qua các bài kiểm tra thu thập được và trên

cơ sở đó khái quát về thực trạng lỗi chính tả của học sinh, đồng thời đề nghị cách khắc phục thông qua hệ thống bài tập Các đề tài này đã đề xuất nhiều giải pháp và những hệ thống bài tập phong phú nhưng những giải pháp này, nhìn chung vẫn nằm trong ba giải pháp đã nêu Đó là luyện phát âm đúng để chính tả, ghi nhớ những mẹo luật chính tả để tránh những loại lỗi chính tả thông thường và luyện tập để khắc sâu những từ - chữ có vấn đề chính tả

Mặc dù đã được cung cấp những quy tắc chính tả, những mẹo luật chính tả và đã

có rất nhiều giáo viên thường xuyên hướng dẫn thực hiện những bài tập luyện chính âm, chính tả nhưng hiện tượng lỗi chính tả trong những bài viết của học sinh, sinh viên vẫn rất nhiều Đặc biệt, sinh viên ngành GDTH của Trường Đại học An Giang, những giáo viên Tiểu học tương lai, các em vẫn chưa thấy được tác hại của việc viết sai chính tả và vẫn bàng quan với vai trò của mình trong tương lai Điều này càng khẳng định tính cần

thiết của đề tài “Giải pháp khắc phục lỗi chính tả cho sinh viên ngành GDTH ở trường

Đại học An Giang”

2.3 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

2.3.1 Chính âm

2.3.1.1 Khái niệm Chính âm là cách phát âm phù hợp với chuẩn phát âm đã được thừa

nhận trong một ngôn ngữ, phù hợp với hệ thống các chuẩn mực phát âm của ngôn ngữ

đó

2.3.1.2 Hệ thống ngữ âm chuẩn mực trong tiếng Việt

Trang 19

Muốn rèn kỹ năng chính âm, cần dựa vào các đơn vị ngữ âm và phương thức phát

âm chuẩn mực các đơn vị ngữ âm Các đơn vị ngữ âm đó là âm vị và âm tiết

Âm vị: Âm vị là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất có chức năng khu biệt nghĩa, nhận diện từ

Các âm vị trong hệ thống ngữ âm được phân chia thành phụ âm và nguyên âm

* Âm vị phụ âm

Tiếng Việt có 23 âm vị là phụ âm và được ghi lại bằng 27 chữ viết 27 chữ viết

này được hình thành từ 19 chữ cái (con chữ)

10 / k / c/q/ k xê/quy/ca c/q/k ca, quý, ki

Trang 20

Những âm tiết không có âm đầu (như: âm, êm, oai, uyên) khi phát âm được bắt

đầu bằng động tác khép kín khe thanh, sau đó mở ra đột ngột gây nên một tiếng bật Động tác khép kín ấy có giá trị như một phụ âm và người ta gọi là âm tắc thanh hầu, kí hiệu: /?/

* Âm vị nguyên âm

Tiếng Việt có 16 âm vị là nguyên âm (trong đó có 13 nguyên âm đơn, 3 nguyên

âm đôi) và 2 âm vị là bán nguyên âm và được ghi lại bằng 20 chữ viết 20 chữ viết này được hình thành từ 12 chữ cái (con chữ)

Trang 21

7 /ɤ/ ơ ơ ơ ơ hờ, bơ phờ

14 / ie/ iê/yê/ia/ya iê/ia i+ê/y+ê/i+a/y+a tiêm, chuyên, mía, khuya

15 / uo/ uô/ ua uô/ ua u+ô/ u+a buồm, mua

16 / / ươ/ưa ươ/ưa ư+ơ/ư+a trước, trưa

(MaxReading.com)

Hai âm vị nguyên âm / / và thì / /vừa đóng vai trò là âm đệm, vừa đóng vai trò

âm cuối, còn / / đóng vai trò âm cuối

Âm tiết

Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất được phân định trong chuỗi lời nói, bao gồm một số yếu tố ngữ âm cấu thành Mỗi âm tiết tiếng Việt được phát thành một tiếng và khi viết được viết tách rời nhau

Mỗi âm tiết tiếng Việt đều mang một thanh điệu nhất định Khi viết chữ, phải ghi dấu thanh lên âm chính hoặc bộ phận âm chính (đối với âm chính là nguyên âm đôi) của

âm tiết Khi âm tiết có một nguyên âm, bao giờ cũng phải ghi thanh điệu bên trên hoặc bên dưới nguyên âm đó Khi âm tiết có 2 nguyên âm trở lên, nếu:

- Âm tiết có âm cuối là một trong các phụ âm: m, n, p, t, c, ng, nh, ch, ta đặt dấu ghi thanh điệu trên (dưới) ký hiệu nguyên âm cuối cùng bên phải: giường, hoàng,

quyết…

- Âm tiết có các nguyên âm đôi, về nguyên tắc, không thể kết hợp được với các

phụ âm cuối m, n, p, t, c, ng, nh, ch, ta đặt dấu thanh ngay trên (dưới) bên trái ký hiệu nguyên âm cuối cùng: múa, phía, chứa…

Cấu tạo âm tiết của tiếng Việt rất chặt chẽ và ổn định Ở dạng đầy đủ, âm tiết tiếng Việt có cấu tạo như sau:

Trang 22

Thanh điệu Phụ

âm đầu

Vần

âm đệm

âm chính

âm cuối Trong đó, âm chính và thanh điệu là hai bộ phận không thể thiếu trong cấu tạo của bất kỳ âm tiết nào

4.1.2 Chính tả

4.1.2.1 Khái niệm

Chính tả, hiểu một cách đơn giản, là cách viết chữ được coi là chuẩn Nói một

cách cụ thể, chính tả là hệ thống các quy tắc về việc viết chữ của một ngôn ngữ

4.1.2.2 Nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt

*Các chữ cái biểu thị các phần của âm tiết

- Tất cả các chữ cái ghi phụ âm đều có thể làm ký hiệu ghi âm đầu của âm tiết

- Tất cả các chữ cái ghi nguyên âm đều có thể làm ký hiệu ghi âm chính của âm tiết

- Cả hai chữ cái để ghi âm đệm là o và u (giữa chúng có sự phân bố rõ rệt)

- Các kí hiệu: / p, t, m, n, i, u / biểu thị các âm cuối

*Sự phân bố vị trí giữa các ký hiệu cùng biểu thị một âm

Tuy có những chỗ chưa hợp lý, song chữ quốc ngữ đã thiết lập được một bộ quy tắc kết hợp hiệu chỉnh cần thiết và đủ mạnh để loại bỏ khả năng tùy tiện, nước đôi khi viết Các quy tắc bổ sung này đã được xã hội hóa và trở thành thói quen chính tả của người Việt Nhờ chúng mà chính tả chữ quốc ngữ khắc phục được tính phức tạp, rắc rối

phát nguyên từ những trường hợp vi phạm nguyên tắc ngữ âm học (Bùi Minh Toán,

C viết trước các ký hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi): a, ă, â, o, ô, ơ,

u, ƣ: ca, căn, co, cư, cân …

Một số trường hợp , theo thói quen k vẫn viết trước a: kaki

Trang 23

Q viết trước âm đệm /-u-/: quả, quang, quân, quý …

G – Gh; NG – Ngh

G, Ng viết trước các ký hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi): a, ă, â, o,

ô, ơ, u, ƣ: nga, ngân, ngư, ngo ngô, ngơ, go, gô, gu, gần, …

Gh, Ngh viết trước các ký hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi) e, i, ê:

nghe, nghi, nghê, ghe, ghi, ghê…

*IÊ, YÊ, YA, IA

IÊ viết sau âm đầu, trước âm cuối: tiền tiến, chiến, liên …

YÊ viết sau âm đệm, trước âm cuối: tuyên, truyền, huyền…hoặc khi mở đầu âm

tiết: yên, yết, yêu …

IA viết sau âm đầu, không có âm cuối: chia, phía, mía, lia …

YA viết sau âm đệm không có âm cuối: khuya

*UA, UÔ

UA viết khi không có âm cuối: của, múa, chúa, lúa …

UÔ viết trước âm cuối: suối, chuối, tuổi …

*ƢA, ƢƠ

ƢA viết khi không có âm cuối: thừa, trưa, mưa …

ƢƠ viết trước âm cuối: trường, nước, sương …

* I, Y làm âm chính

I viết sau âm đầu: phi, minh, bi, thi …

Y viết sau âm đệm: quý, khuynh, huy …

Khi đứng một mình viết I đối với các từ thuần Việt: ỉ, ỉn, ỉm, ầm ĩ…Viết Y đối

với từ gốc Hán: y tá, ý kiến, y phục …

* U, O làm âm đệm

Sau chữ cái ghi phụ âm Q chỉ viết u: quốc, quân, quang, quyên …

Sau các phụ âm khác hoặc mở đầu âm tiết:

O viết trước các nguyên âm a, ă, e: toe, toét, khoăn, hoằn …

U viết trước các nguyên âm y, ya, yê, ê, â: khuya, huynh, huân, tuệ, huệ …

4.1.3 Lỗi chính tả

Trang 24

Lỗi chính tả là lỗi viết chữ sai chuẩn chính tả Lỗi chính tả bao gồm hiện tượng vi

phạm các quy định chính tả về viết hoa, viết tắt, dùng số và chữ biểu thị số , và hiện tượng vi phạm diện mạo ngữ âm của từ thể hiện trên chữ viết, tức chữ viết ghi sai từ

Lỗi chính tả âm vị là hiện tượng vi phạm diện mạo ngữ âm của từ thể hiện trên

chữ viết Nói đơn giản hơn, đó là hiện tượng chữ viết ghi sai từ Dựa vào cấu trúc của

âm tiết tiếng Việt, có thể chia lỗi chính tả âm vị thành hai kiểu nhỏ: lỗi chính tả âm vị siêu đoạn tính và lỗi chính tả âm vị đoạn tính

- Lỗi chính tả âm vị siêu đoạn tính:

Âm vị siêu đoạn tính là loại âm vị không được định vị trên tuyến thời gian khi phát âm, mà được thể hiện lồng vào các âm vị đoạn tính Trong âm tiết tiếng Việt, thanh

điệu là âm vị siêu đoạn tính Lỗi chính tả âm vị siêu đoạn tính là hiện tượng chữ viết ghi

sai thanh điệu của âm tiết

Tiếng Việt có tất cả sáu thanh điệu, được thể hiện trên chữ viết năm thanh, riêng thanh ngang không thể hiện trên chữ viết Hiện tượng ghi sai thanh điệu thường xảy ra ở hai thanh hỏi, ngã

- Lỗi chính tả âm vị đoạn tính

Âm vị đoạn tính là các âm vị được phân bố nối tiếp nhau trên tuyến thời gian khi phát âm Trong âm tiết tiếng Việt, âm vị đoạn tính gồm có phụ âm đầu, âm đệm, âm

chính và âm cuối Lỗi chính tả âm vị đoạn tính là hiện tượng người viết không nắm được

đặc điểm và nguyên tắc kết hợp các chữ cái hay lỗi do viết không đúng với phát âm chuẩn

Chính tả tiếng Việt về căn bản là thống nhất Tuy nhiên do tiếng Việt có nhiều phương ngữ, thổ ngữ, nên bên cạnh tính thống nhất nó cũng có những nét dị biệt khá rõ ràng trong cách phát âm, cách dùng từ giữa các vùng và tạo ra ấn tượng mạnh mẽ về sự tồn tại trong thực tế ba giọng nói khác nhau, tương ứng với ba vùng phương ngữ theo cách chia tách của các nhà ngôn ngữ: phương ngữ Bắc Bộ, phương ngữ Trung Bộ, phương ngữ Nam Bộ Mỗi một vùng phương ngữ có những đặc điểm phát âm tiếng Việt khác nhau Chẳng hạn, đặc điểm nổi bật của phương ngữ Bắc Bộ là sự phát âm không

phân biệt các từ có phụ âm đầu là s và x; tr – ch; gi – d hoặc phát âm lẫn lộn các phụ âm

l – n Còn đặc điểm của phương ngữ Trung Bộ, Nam Bộ là không phân biệt các âm tiết

có âm cuối là ch – t, n – ng, t- c, … các âm tiết có âm đầu là d – v, qu – h … (Bùi Minh

Toán, 2008)

Trang 25

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 MẪU NGHIÊN CỨU

Mẫu nghiên cứu của đề tài được lựa chọn tại bộ môn GDTH khoa Sư phạm, Trường ĐH An Giang Tổng số phiếu khảo sát là 420 phiếu, được phát cho 60/94 sinh viên lớp 12GT, 60/140 sinh viên lớp 13GT, 60/107 sinh viên lớp 14GT, 60/120 sinh viên lớp 15GT và 60/104 sinh viên lớp 37GT, 60/98 sinh viên lớp 38GT, 60/109 sinh viên lớp 39GT 60 sinh viên cho mỗi lớp, vì đây là con số thể hiện gần nhất 50% sỉ số của mỗi lớp

3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng để chỉ ra thực trạng sinh viên mắc các loại lỗi chính tả Trên cơ sở đó, các giải pháp khắc phục các loại lỗi chính tả sẽ được

đề xuất Đề tài được chúng tôi tiến hành nghiên cứu bằng cách thu thập dữ liệu từ việc

phát phiếu khảo sát, sau khi đã có dữ liệu chúng tôi sẽ tiến hành thống kê, phân loại để tìm ra tỉ lệ sinh viên mắc lỗi chính tả và những loại lỗi chính tả sinh viên thường mắc Chúng tôi chọn cách phát phiếu khảo sát vì nội dung, dung lượng của phiếu do chính người nghiên cứu thiết kế nên nó thể hiện đầy đủ những yêu cầu và mục đích của người làm phiếu Hơn nữa, phiếu khảo sát được thết kế dưới dạng câu hỏi lựa chọn, giúp cho việc trả lời nhanh chóng, không làm mất quá nhiều thời gian của người tham gia Bên cạnh việc tiến hành phát phiếu khảo sát, chúng tôi cũng sẽ tổ chức một chuyên đề nhằm thu thập ý kiến từ giáo viên và sinh viên về kinh nghiệm khắc phục lỗi chính tả để phục vụ cho đề tài nghiên cứu Chuyên đề có tên “Nhận diện từ láy tiếng Việt để viết đúng chính tả ” Chuyên đề này được thực hiện ở cấp độ bộ môn, với ít nhất

3 bài tham luận và với sự tham dự, đóng góp ý kiến của giáo viên, đại diện sinh viên 2

bộ môn GDTH và Ngữ văn

3.3 CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung vào việc khảo sát thực trạng sinh viên viết sai chính tả nên công cụ chính của chúng tôi là 1 phiếu khảo sát được thiết kế dưới dạng trả lời trắc nghiệm Phiếu khảo sát gồm 3 phần Phần I có 10 câu hỏi, thu thập các ý kiến tập trung vào những vấn đề về môi trường học tập ở phổ thông, về ý thức, thái độ, về quan điểm đối với việc viết sai chính tả của sinh viên Căn cứ vào những câu trả lời của sinh viên ở phần này, chúng tôi không chỉ nắm bắt được những thông tin đã nêu mà thông qua đó, chúng tôi còn có thể tách riêng số sinh viên là người dân tộc để có thể nghiên cứu và có những kết luận, đề xuất về vấn đề chính tả đối với nhóm sinh viên này

Trang 26

Phần thứ 2 khảo sát sinh viên về lỗi thanh điệu, cụ thể là thanh hỏi và thanh ngã Phân này, chúng tôi có dữ liệu gồm 30 từ khuyết thanh, yêu cầu sinh viên điền thanh hỏi hoặc thanh ngã Thông qua phần khảo sát này, chúng tôi có thể thống kê và phân loạI được tỉ lệ cũng như mức độ sinh viên mắc lỗi thanh điệu của các lớp

Phần thứ III, gồm 17 câu hỏi, khảo sát sinh viên về các loại lỗi chính tả như lỗi phụ âm đầu, âm chính và âm cuối Trong 17 câu hỏi này, có 7 câu trắc nghiệm, kiểm tra sinh viên về lỗi phụ âm đầu, 5 câu trắc nghiệm về âm chính và 5 câu trắc nghiệm về âm cuối Mỗi câu hỏi của phần này, chúng tôi có 4 yêu cầu, mỗi yêu cầu có 2 lựa chọn, sinh viên sẽ khoanh tròn hoặc gạch dưới từ đúng Từ những lựa chọn của sinh viên, chúng tôi thống kê được số lượng và mức độ sinh viên mắc lỗi chính tả về âm đầu, âm chính, âm cuối Dựa trên kết quả này, chúng tôi sẽ có những đề xuất đối với sinh viên, giáo viên và những bên có liên quan đến vấn đề chính tả của học sinh, sinh viên

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng hơn 700 bài tập, bài kiểm tra của sinh viên để làm

cơ sở dữ liệu cho đề tài Từ những bài kiểm tra này, chúng tôi có thể liệt kê được một cách cụ thể những từ sinh viên viết sai cũng như số lượng và mức độ của các loại lỗi

chính tả sinh viên thường mắc phải một cách khách quan, trung thực

3.4 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU

- Đầu tiên, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Sử dụng phương pháp này để thu thập và chọn lọc tài liệu có liên quan đến đề tài

- Tiếp theo là phương pháp khảo sát: Tiến hành khảo sát bằng phiếu khảo sát Phiếu này gồm có 3 phần, khảo sát sinh viên về những vấn đề có liên quan đến việc mắc lỗi chính tả của các em

- Kế đến là phương pháp thống kê – phân loại: Phương pháp này được tiến hành sau khi thu thập đầy đủ phiếu khảo sát Đây là phương pháp được sử dụng để thống kê các kết quả khảo sát, từ đó phân loại những lỗi chính tả sinh viên thường mắc, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp khắc phục

- Và phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp này sử dụng để phân tích nguyên nhân mắc lỗi, phân tích để chỉ ra những loại lỗi sinh viên mắc phải, từ đó tổng hợp để đưa đến kết luận cho từng vấn đề và làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp khắc phục các loại lỗi chính tả

Trang 27

Từ kết quả so sánh này, chúng tôi có thể đi tìm nguyên nhân, chỉ ra những yếu tố tác động trực tiếp đến việc mắc các loại lỗi chính tả của sinh viên, từ đó có những đề xuất và khuyến nghị thỏa đáng cho vấn đề này

Trang 28

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

4.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT

4.1.1 Ý thức, thái độ và quan điểm của sinh viên đối với việc viết sai chính tả

Bảng 1 Kết quả khảo sát về dân tộc và nơi học phổ thông

Kinh Khmer Hoa Chăm Thành

phố

Nông thôn

Biên giới

Vùng cao, sâu

12GT 54/60

(90%)

5/60 (8.3%)

1/60 (1.6%)

18/60 (30%)

32/60 (53.3%)

5/60 (8.3%)

1/60 (1.6%) 13GT 51/60

(85%)

8/60 (13.3%)

1/60 (1.6%)

27/60 (45%)

28/60 (46.6%)

4/60 (6.6%)

1/60 (1.6%) 14GT 52/60

(86.6%)

8/60 (13.3%)

19/60 (31.6%)

40/60 (66.6%)

1/60 (1.6%) 15GT 54/60

(90%)

5/60 (8.3%)

1/60 (1.6%)

24/60 (40%)

28/60 (46.6%)

6/60 (10%)

2/60 (3.3%) 37GT 48/60

(80%)

8/60 (13.3%)

4/60 (6.6%)

22/60 (36.6%)

32/60 (53.3%)

6/60 (10%) 38GT 54/60

(90%)

6/60 (10%)

25/60 (41.6%)

23/60 (38.3%)

5/60 (8.3%)

7/60 (11.6%) 39GT 57/60

(95%)

3/60 (5%)

19/60 (31.6%)

31/60 (51.6%)

1/60 (1.6%)

9/60 (15%)

Lớp DH12GT có 54/60 em được hỏi là người dân tộc Kinh, 5 em người dân tộc Khmer và 1 em người Hoa Đa số các em học phổ thông ở vùng ngoại ô, nông thôn (32/60), có 18/60 học tại thị xã, thành phố, chỉ có 5/60 học phổ thông tại các vùng biên giới và 1/60 em học ở vùng cao, vùng sâu

Lớp DH13GT có 51/60 sinh viên được hỏi là người dân tộc Kinh, 8/60 em là người dân tộc Khmer và 1/60 em là người dân tộc Chăm Có 27/60 em học phổ thông tại thành phố, thị xã, 28/60 em học tại những vùng ngoại ô, nông thôn, có 1/60 em học tại vùng cao, vùng sâu và 4/60 học ở các vùng biên giới

Trong khi đó lớp DH14GT có 40/60 sinh viên được hỏi đã học phổ thông tại các trường ở những vùng ngoại ô, nông thôn, 19/60 em học tại thị xã, thành phố, chỉ có 1 em học tại vùng cao, vùng sâu Có 52/60 em là người dân tộc Kinh và 8/60 em là người dân tộc Khmer

Trang 29

Có 24/60 sinh viên lớp DH15GT được khảo sát đã học phổ thông ở thị xã, thành phố 28/60 em học ở các vùng ngoại ô, nông thôn 2/60 em học ở vùng cao, vùng sâu 6/60 em học tại các vùng biên giới trong số 60 em được khảo sát có 54 em là người dân tộc Kinh, 5 em là người dân tộc Khmer, chỉ có 1 em là người Hoa

Lớp CD37GT có 48/60 em được hỏi là người dân tộc Kinh, 8/60 em là người Khmer và 4 em là người Hoa Có 22/60 em được học phổ thông tại thành phố, thị xã; 32/60 em học phổ thông tại các vùng ngoại ô, nông thôn; 6 em còn lại được học ở các vùng cao, vùng sâu

Đối với lớp CD38GT, tỉ lệ sinh viên là người Kinh chiếm 54/60 em và 6/60 em là người dân tộc Khmer Lớp này có 25/60 em được khảo sát đã học phổ thông tại thành phố, thị xã; 23/60 em học phổ thông tại các vùng ngoại ô, nông thôn; 7/60 em học tại các vùng cao, vùng sâu và 5 em còn lại đã học phổ thông ở những vùng biên giới

Lớp 39GT là lớp mới vào học ở trường đại học chưa hết năm thứ nhất Đối với các

em việc học ở đây vẫn đang rất mới mẻ Các em có 57/60 em được hỏi là người dân tộc Kinh, 3 em còn lại là người dân tộc Khmer Đa số các em được học phổ thông tại các vùng ngoại ô, nông thôn (31/60 em), một số khác lại học ở các vùng biên giới (9/60 em)

và vùng cao, vùng sâu (1/60 em), chỉ có 19 em học tại thành phố, thị xã

Bảng 2 Trả lời câu hỏi: Theo bạn, sai nhiều lỗi chính tả có ảnh hưởng đến việc học

Ảnh hưởng tương đối nhiều

Có ảnh hưởng nhưng không nhiều

Không ảnh hưởng gì

(51.6%)

22/60 (36.6%)

8/60 (13.3%)

1/60 (1.6%)

(46.6%)

20/60 (33.3%)

11/60 (18.3%)

1/60 (1.6%)

(56.6%)

24/60 (40%)

2/60 (3.3%)

0

(50%)

22/60 (36.6%)

8/60 (13.3%)

0

(41.6%)

23/60 (38.3%)

12/60 (20%)

0

(48.3%)

22/60 (36.6%)

9/60 (15%)

0

(41.6%)

30/60 (50%)

5/60 (8.3%)

0

Trang 30

Biểu thị bằng biểu thức: n/60

n= số sinh viên chọn mức độ ảnh hưởng 60= số sinh viên của lớp được khảo sát (Các bảng 2, 3, 4, 5 cùng biểu thị bằng biểu thức này) Căn cứ trên bảng kết quả (bảng 2), chúng ta có thể thấy quan điểm của các em sinh viên các lớp về mức độ ảnh hưởng của việc sai nhiều lỗi chính tả đối với việc học và kết quả học tập không khác nhau nhiều giữa các lớp Tuy nhiên, so với các lớp cao đẳng thì

tỉ lệ các em sinh viên đại học chọn mức độ ảnh hưởng “rất nhiều” cao hơn

Khi được hỏi “Theo bạn, sai nhiều lỗi chính tả có ảnh hưởng đến việc học và kết quả học tập không?”, có 31/60 sinh viên lớp DH12GT đã trả lời “ảnh hưởng rất nhiều”, 20/60 em cho rằng “ảnh hưởng tương đối nhiều”, 8/60 em khẳng định “có ảnh hưởng nhưng không nhiều” và 1/60 em cho rằng “không ảnh hưởng gì”

Cùng một câu hỏi: “sai nhiều lỗi chính tả có ảnh hưởng đến việc học và kết quả học tập không?”, có 1/60 sinh viên lớp DH13GT đã khẳng định “không ảnh hưởng gì”, 11/60 em trả lời “có ảnh hưởng nhưng không nhiều”, 20/60 em nhận thấy rằng “ảnh hưởng tương đối nhiều” và 28/60 em cho rằng “ảnh hưởng rất nhiều”

Có 34/60 sinh viên lớp 14GT cho rằng sai nhiều lỗi chính tả có ảnh hưởng rất nhiều đến việc học và kết quả học tập, 24/60 em nhận thấy “ảnh hưởng tương đối nhiều”

và 2 em còn lại nghĩ rằng “có ảnh hưởng nhưng không nhiều”

Lớp DH15GT là lớp mới học năm thứ nhất đại học Khác với các lớp DH12GT, DH13GT và DH14GT, các em lớp DH15GT gần như là “sản phẩm” nguyên vẹn của các trường phổ thông, các em chưa có nhiều thời gian để cải thiện hay khắc phục những lỗi chính tả mà các em thường mắc phải Vậy so với các lớp anh/chị, ý thức, thái độ của các

em sinh viên lớp DH15GT về vấn đề lỗi chính tả cũng như thực trạng lỗi chính tả của các em có khác không? Đối với 30/60 em sinh viên lớp DH15GT thì sai nhiều lỗi chính

tả có “ảnh hưởng rất nhiều” đến việc học và kết quả học tập 22/60 em thấy rằng “ảnh hưởng tương đối nhiều” 8 em còn lại khẳng định sai nhiều lỗi chính tả tuy “có ảnh hưởng đến học tập và kết quả học tập nhưng không nhiều” Như vậy tất cả các em đều khẳng định sai nhiều lỗi chính tả có ảnh hưởng trực tiếp đến việc học tập và kết quả học tập của các em, tuy mức độ ảnh hưởng có khác nhau

Các em lớp CD37GT là lớp cuối khóa, thời gian phát phiếu khảo sát là thời gian các em đã thực tập xong Cũng như lớp DH12GT, các em nhận thấy rằng sai nhiều lỗi chính tả có ảnh hưởng đáng kể đến việc học và kết quả học tập cũng như việc giảng dạy

ở trường Tiểu học Cụ thể là có 25/60 em cho rằng sai nhiều lỗi chính tả “ảnh hưởng rất nhiều” đến việc học và kết quả học tập, 23 em cho rằng “ảnh hưởng tương đối nhiều”,

12 em cho rằng “có ảnh hưởng nhưng không nhiều”

Các em lớp CD38GT nhận thấy rất rõ tác động không tốt của việc viết sai nhiều lỗi chính tả đối với việc học và kết quả học tập của các em Có 29/60 em cho rằng “ảnh

Trang 31

hưởng rất lớn”, 22/60 em thấy rằng “ảnh hưởng tương đối nhiều” và đối với 9 em còn lại thì tuy việc sai nhiều lỗi chính tả “có ảnh hưởng đến việc học nhưng không nhiều” Theo 25/60 em lớp CD39GT thì việc viết sai nhiều lỗi chính tả “ảnh hưởng rất lớn” đối với việc học và kết quả học tập của các em 30/60 em cho rằng “ảnh hưởng tương đối nhiều” và có 5 em nhận thấy “có ảnh hưởng nhưng không nhiều”

Bảng 3 Trả lời câu hỏi: Theo bạn, khi giảng dạy ở trường Tiểu học, giáo viên thường

viết sai chính tả có gây trở ngại cho học sinh và giáo viên không?

11/60 (18.3%)

1/60 (1.6%)

(31.6%)

41/60 (68.3%)

(56.6%)

26/60 (43.3%)

Ở bảng 3 này có sự chênh lệch giữa các lớp đại học và cao đẳng về số lượng sinh viên lựa chọn các mức độ trở ngại Các lớp đại học, tỉ lệ các em lựa chọn mức độ trở ngại “rất lớn” là đa số, gần như 100% Trong khi số đông các em sinh viên ở các lớp cao đẳng lại chọn mức trở ngại thấp hơn, mức “tương đối lớn”

Trả lời câu hỏi “Sai nhiều lỗi chính tả sẽ gây trở ngại gì cho việc dạy ở trường Tiểu học sau này?”, tất cả các em sinh viên lớp DH12GT đều trả lời “làm cho học sinh khó hiểu bài, các em cũng viết sai chính tả, ảnh hưởng lớn đến học tập của học sinh cũng như uy tín của chính người giáo viên”

Như vậy, hầu hết sinh viên lớp DH12GT cho rằng: việc viết sai nhiều lỗi chính tả

có ảnh hưởng lớn đến việc học cũng như việc dạy của các em sau này Vì vậy khi các

em được hỏi “Bạn có quan tâm đến lỗi chính tả khi viết không?” thì có đến 44/60 sinh viên trả lời “luôn luôn quan tâm” và “Bạn có ý thức trong việc khắc phục lỗi chính tả của mình không?” thì số sinh viên trả lời là “luôn luôn có ý thức khắc phục” lên đến

Trang 32

46/60 Đây là một kết quả cho thấy sinh viên lớp DH12GT không những nhìn thấy tầm quan trọng của việc viết đúng chính tả đối với một sinh viên, một giáo viên ngành Giáo dục Tiểu học mà các em còn rất có ý thức trong việc khắc phục lỗi chính tả của mình Các em sinh viên lớp DH13GT sẽ trả lời thế nào khi được hỏi: “Sai nhiều lỗi chính

tả sẽ gây trở ngại gì cho việc dạy ở trường Tiểu học sau này?”? Đã có 52/60 em trả lời:

“Làm học sinh khó hiểu bài, các em cũng viết sai chính tả, ảnh hưởng lớn đến học tập của học sinh cũng như uy tín của chính người giáo viên”, 8 em còn lại cho rằng “không

có ảnh hưởng nhiều, chỉ đôi lúc làm học sinh khó hiểu bài” Kết quả trả lời cho câu hỏi này đã làm tiền đề cho việc trả lời câu hỏi “Bạn có quan tâm đến lỗi chính tả khi viết không?” Có 39/60 em “luôn luôn quan tâm”, 13/60 em “thường xuyên quan tâm”, 8 em còn lại cho biết “thỉnh thoảng có nghĩ tới” Quan điểm của sinh viên lớp DH13GT trong việc viết sai chính tả so với lớp DH12GT đã có sự khác nhau Trong khi tất cả 60 sinh viên được hỏi của lớp DH12GT đều cho rằng sai chính tả nhiều có ảnh hưởng rất lớn đến việc dạy trong tương lai thì có 8/60 sinh viên lớp 13GT lại trả lời “không ảnh hưởng nhiều”

Có 56/60 sinh viên lớp DH14GT cho rằng sai nhiều lỗi chính tả có ảnh hưởng rất nhiều đến việc giảng dạy ở trường Tiểu học sau này, cụ thể là “Làm cho học sinh khó hiểu bài, học sinh cũng viết sai chính tả, ảnh hưởng lớn đến việc học tập của học sinh và

uy tín của chính người dạy” Như vậy, đối với đa số các em lớp DH14GT thì việc sai quá nhiều lỗi chính tả trong khi viết sẽ gây ra những hậu quả không nhỏ cho việc học tập cũng như việc giảng dạy của các em trong tương lai Vì thế có đến 41/60 em nhận thấy rằng cần phải “luôn luôn” quan tâm đến lỗi chính tả khi viết, 18/60 em đã “thường xuyên” quan tâm đến lỗi chính tả, chỉ có 1 em “thỉnh thoảng” có nghĩ tới vấn đề chính

tả

Các em lớp DH15GT đã nhận thấy rằng: giáo viên sai nhiều lỗi chính tả cũng sẽ gây trở ngại cho việc học của học sinh và uy tín của giáo viên ở trường Tiểu học Và 60/60 em nghĩ rằng những trở ngại đó là: đôi lúc gây cho học sinh sự khó hiểu, dẫn đến không hiểu bài, làm cho học sinh cũng viết sai chính tả, ảnh hưởng lớn đến học tập của học sinh cũng như uy tín của chính người giáo viên Có được suy nghĩ này là do có đến 30/60 sinh viên của lớp đã “luôn luôn” quan tâm đến lỗi chính tả khi viết, 26/60 em

“thường xuyên” quan tâm, chỉ có 4 em “thỉnh thoảng” mới để ý tới Nhận thấy việc sai nhiều lỗi chính tả tác động không nhỏ đến việc học cũng như việc dạy trong tương lai, hầu hết các em lớp DH15GT đã rất chú ý đến việc khắc phục lỗi chính tả

Có 17/60 em lớp CD37GT nhận thấy nếu giáo viên sai nhiều lỗi chính tả sẽ gây

“rất nhiều trở ngại” cho học sinh và cho cả giáo viên 31/60 sinh viên lớp này cho rằng giáo viên thường xuyên viết sai chính tả sẽ gây “rất nhiều trở ngại” cho học sinh, làm cho các em cũng viết sai chính tả, các em sẽ rất khó hiểu bài hoặc không hiểu bài nhưng không ảnh hưởng đến giáo viên 11/60 em lại thấy rằng giáo viên sai nhiều lỗi chính tả

“có ảnh hưởng đến học sinh nhưng không nhiều”, cụ thể là chỉ đôi lúc làm học sinh khó

Trang 33

hiểu dẫn đến không hiểu bài Vậy khi viết các em có quan tâm đến lỗi chính tả không?

Có 34/60 em luôn luôn quan tâm đến lỗi chính tả khi viết, 13/60 em thường xuyên quan tâm, 10/60 em thỉnh thoảng có quan tâm và 3 em không bao giờ quan tâm đến lỗi chính

tả Tỉ lệ sinh viên lớp CD37GT có quan tâm đến lỗi chính tả khi viết là rất lớn

Về câu hỏi “Giáo viên giảng dạy ở trường Tiểu học thường xuyên viết sai nhiều lỗi chính tả có gây trở ngại cho việc học tập của học sinh và uy tín của giáo viên không?”, các em sinh viên lớp CD38GT đã có nhiều câu trả lời khác nhau nhưng kết luận cuối cùng của 41/60 em là “gây trở ngại tương đối lớn” và của 19 em còn lại là “rất lớn” Ảnh hưởng nhiều, trở ngại lớn là hai cụm từ các em thường dùng khi nói về hậu quả của việc viết sai nhiều lỗi chính tả nhưng các em lớp CD38GT có quan tâm đến lỗi chính tả khi viết và các em có ý thức khắc phục những lỗi chính tả mà mình đã mắc phải không? Có 42/60 em “luôn luôn” quan tâm đến lỗi chính tả khi viết, 14 em thường xuyên quan tâm và 4 em thỉnh thoảng có quan tâm Đồng thời có 41/60 em “luôn luôn”

có ý thức khắc phục lỗi chính tả khi viết, 13 em thường xuyên nhắc nhở bản thân trong việc sửa lỗi chính tả và có 6 em thỉnh thoảng có chú ý đến

Khi được hỏi “Nếu giáo viên dạy ở trường Tiểu học thường xuyên viết sai chính tả

có gây trở ngại gì cho việc học của học sinh và uy tín của giáo viên không?” 34/60 sinh viên lớp CD39GT đã trả lời “trở ngại rất lớn”, 26 em còn lại trả lời “trở ngại tương đối lớn” Cụ thể là làm cho học sinh không hiểu nghĩa của từ, dẫn đến không hiểu bài, các

em cũng viết sai chính tả, ảnh hưởng đến việc học của các em và uy tín của giáo viên Nhận ra hậu quả của việc viết sai chính tả nên 37/60 em sinh viên của lớp này “luôn luôn” quan tâm đến lỗi chính tả khi viết, 20 em “thường xuyên” quan tâm và 3 em

“thỉnh thoảng” có chú ý tới Đồng thời các em cũng rất có ý thức khắc phục lỗi chính tả 41/60 em “luôn luôn” có ý thức khắc phục lỗi chính tả; 17 em “thường xuyên” chú ý đến, chỉ có 2 em “thỉnh thoảng”mới nghĩ đến

Bảng 4 Trả lời câu hỏi: Bạn có quan tâm đến lỗi chính tả khi viết không?

1/60 (1.6%)

0

(65%)

13/60 (21.6%)

8/60 (13.3%)

0

(68.3%)

18/60 (30%)

1/60 (1.6%)

0

(50%)

26/60 (43.3%)

4/60 (6.6%)

0

Trang 34

Lớp 37GT 34/60

(56.6%)

13/60 (21.6%)

10/60 (16.6%)

3/60 (5%)

(70%)

14/60 (23.3%)

4/60 (6.6%)

0

(61.6%)

20/60 (33.3%)

3/60 (5%)

0

Ở bảng 4 này chúng tôi hỏi sinh viên về mức độ quan tâm của các em đến lỗi chính tả khi viết và chúng tôi lại có 1 kết quả khảo sát với các con số tương đương nhau giữa các lớp Đa số các em đều “luôn luôn” quan tâm đến lỗi chính tả khi viết Như vậy, chúng ta không thể nói sinh viên đại học hay cao đẳng, lớp mới hay lớp cũ thì sự chú ý đến lỗi chính tả khi viết là nhiều hơn hay ít hơn, thường xuyên hay không thường xuyên hơn

Tuy nhiên, làm thế nào để các em biết rằng mình có mắc lỗi chính tả và tình trạng mắc lỗi đang ở mức độ nào? Để giải đáp những thắc mắc này, chúng tôi đã đặt ra cho sinh viên một câu hỏi: “Có khi nào bạn bị thầy cô, bạn bè, người thân … nhắc nhở, phê bình vì viết sai chính tả không?

Bảng 5 Trả lời câu hỏi: Có khi nào thầy (cô), bạn bè, người thân … Nhắc nhở hay

phê bình bạn về việc viết sai chính tả không?

12/60 (20%)

(8.3%)

44/60 (73.3%)

11/60 (18.3%)

(6.6%)

53/60 (88.3%)

3/60 (5%)

(11.6%)

46/60 (76.6%)

7/60 (11.6%)

(8.3%)

45/60 (75%)

10/60 (16.6%)

(11.6%)

45/60 (75%)

8/60 (13.3%)

(6.6%)

47/60 (78.3%)

9/60 (15%)

Trang 35

Câu hỏi này chúng tôi đặc biệt chú ý đến sự quan tâm của mọi người đối với vấn

đề chính tả của học sinh, sinh viên Căn cứ trên bảng kết quả khảo sát, không có em sinh viên nào trong số 420 em được hỏi trả lời “luôn luôn” có người nhắc nhở hay phê bình

em về việc viết sai chính tả Số rất ít các em được “thường xuyên” nhắc nhở Đa số các

em “thỉnh thoảng” mới có người nhắc nhở hay phê bình và một số không nhỏ các em sinh viên “chưa bao giờ” nghe nhắc nhở hay phê bình về chuyện này

Có đến 12/60 sinh viên của lớp DH12GT trả lời “không bao giờ” bị nhắc nhở hay phê bình, 41/60 em cho rằng “thỉnh thoảng” có bị nhắc nhở hay phê bình, chỉ có 7/60 trả lời “thường xuyên” bị nhắc nhở Kết quả này nói lên điều gì? Có phải do các em không viết sai hay rất ít viết sai chính tả? Có thể trả lời câu hỏi này bằng những con số trong các Bảng kết quả khảo sát trong mục 5.1.2 Vậy các em lớp DH12GT sẽ khắc phục lỗi chính tả của mình bằng cách nào? Có 7/60 sinh viên lớp này chọn cách tra từ điển tiếng Việt 8/60 em thấy rằng cần ghi nhớ những mẹo luật chính tả và làm theo 45 em còn lại nghĩ rằng phải có sự kết hợp của nhiều phương pháp như: tra từ điển, ghi nhớ những mẹo luật chính tả, đọc nhiều sách báo và lắng nghe, ghi nhớ những hướng dẫn của giáo viên

Vậy, các em lớp DH13GT có khi nào bị thầy cô, bạn bè, người thân … nhắc nhở hay phê bình vì viết sai chính tả không? 11/60 em chưa bao giờ bị nhắc nhở hay phê bình, 44/60 em thỉnh thoảng có bị nhắc nhở, 5 em còn lại thường xuyên bị nhắc nhở vì sai chính tả Nếu bị nhắc nhở hay phê bình vì viết sai chính tả thì các em lớp DH13GT

“có ý thức khắc phục lỗi chính tả của mình không?” Có 50/60 em đã trả lời “luôn luôn” chú ý đến việc khắc phục lỗi chính tả của bản thân, chỉ có 10/60 em cho rằng “thỉnh thoảng” cũng có nghĩ đến việc khắc phục những lỗi chính tả mà mình đã mắc phải Như vậy quyết tâm khắc phục lỗi chính tả của các em lớp DH13GT là rất lớn, nhưng các em

sẽ khắc phục như thế nào? Có 8/60 em cho rằng chỉ cần tra từ điển là có thể khắc phục được lỗi chính tả 17/60 em nhận thấy cần phải ghi nhớ những mẹo luật chính tả 35/60

em lại cho rằng, phải có sự kết hợp nhiều phương pháp như: tra từ điển, ghi nhớ và làm theo những mẹo luật chính tả, đọc nhiều sách báo và đồng thời kết hợp với sự hướng dẫn của giáo viên Và kết quả khảo sát thực trạng lỗi chính tả của sinh viên lớp DH13GT chúng ta có thể xem ở các bảng kết quả khảo sát mục 5.1.2

Việc các em sinh viên luôn luôn quan tâm đến lỗi chính tả là rất tốt nhưng tự bản thân các em không thể phát hiện ra mình mắc những loại lỗi chính tả nào và mức độ đến đâu Người có thể giúp đỡ các em nhiều nhất trong việc này chính là những giáo viên đứng lớp Tuy nhiên, có đến 53/60 em lớp DH14GT cho biết “thỉnh thoảng” có bị thầy,

cô, bạn bè, người thân… nhắc nhở hoặc phê bình vì viết sai chính tả và có 3/60 em cho rằng “không bao giờ” có người nhắc nhở hay phê bình vì viết sai chính tả Điều này chứng tỏ rằng giáo viên các cấp chưa quan tâm đúng mức đến việc chính tả của học sinh, sinh viên Vậy các em sinh viên lớp DH14GT sẽ làm thế nào để khắc phục lỗi chính tả của mình? Cách nào theo các em là tối ưu nhất? 4/60 em chọn cách ghi nhớ những mẹo

Trang 36

luật chính tả và làm theo 7/60 em thấy rằng dựa theo những hướng dẫn của giáo viên thì

sẽ khắc phục được lỗi chính tả 49 em còn lại nghĩ khác Các em khẳng định phải kết hợp nhiều cách thức, nhiều phương pháp mới có thể giải quyết triệt để vấn đề chính tả của bản thân

Có đến 45/60 sinh viên lớp DH15GT cho biết “thỉnh thoảng” mới có người nhắc nhở hay phê bình các em về việc viết sai chính tả, 7/60 em lại chưa bao giờ được ai nhắc nhở hay phê bình về lỗi này? Khi được hỏi: “Nếu biết mình mắc nhiều lỗi chính tả, bạn

có chú ý đến việc khắc phục lỗi chính tả không? Chỉ có 1/60 em trả lời “không bao giờ” quan tâm đến việc này, 8/60 em “thỉnh thoảng” có nghĩ đến, 16/60 em “thường xuyên” nhắc nhở bản thân và 35/60 em “luôn luôn” có ý thức trong việc khắc phục lỗi chính tả Vậy các em sẽ sửa lỗi chính tả của mình bằng cách nào? Có 2/60 em thường xuyên tra từ điển tiếng Việt 58 em còn lại cho rằng không chỉ thường xuyên tra từ điển mà còn phải ghi nhớ những mẹo luật chính tả, đồng thời phải đọc nhiều sách báo cũng như phải chú ý đến những hướng dẫn của giáo viên để có thể khắc phục tình trạng lỗi chính tả của mình Tuy nhiên có phải các em quan tâm đến là có ý thức và quyết tâm khắc phục lỗi chính tả của mình không? Đối với lớp CD37GT thì 2 việc này có sự song song với nhau

Có 38/60 em “luôn luôn” có ý thức khắc phục lỗi chính tả, 16 em “thường xuyên” chú ý khắc phục lỗi chính tả của mình, chỉ có 6 em “thỉnh thoảng” có nhớ đến việc sửa lỗi chính tả khi viết Và vẫn câu hỏi giống như sinh viên các lớp đại học đã được hỏi: Có khi nào thầy (cô), bạn bè, người thân… nhắc nhở hay phê bình bạn vì viết sai chính tả không? 10/60 em đã trả lời “không bao giờ” có ai nhắc nhở hay phê bình, 45/60 em nhận thấy “thỉnh thoảng” có người nhắc nhở, chỉ có 5 em trả lời là “thường xuyên” bị nhắc nhở về chuyện viết sai chính tả Cũng giống như những lớp khác, đa số các em sinh viên lớp CD37GT (53/60 em) khắc phục lỗi chính tả của mình bằng cách kết hợp nhiều phương pháp như tra từ điển, ghi nhớ mẹo luật chính tả, đọc nhiều sách báo và làm theo hướng dẫn của giáo viên Chỉ có 7/60 em cho rằng chỉ cần tra từ điển để khắc phục lỗi chính tả

Vậy khi được hỏi “Có khi nào thầy (cô), bạn bè, người thân … nhắc nhở hay phê bình bạn về việc viết sai chính tả không?”, các em lớp CD38 GT đã trả lời ra sao? Có 7/60 em “không bao giờ” bị ai nhắc nhở hay phê bình, 45 em “thỉnh thoảng” có bị nhắc nhở, 7 em còn lại “thường xuyên” bị nhắc nhở

Cũng như sinh viên của các lớp trước, các em sinh viên lớp CD39GT không có nhiều em thường xuyên bị nhắc nhở vì viết sai chính tả (chỉ có 4/60 em), trong khi đó có đến 47/60 em “thỉnh thoảng” mới bị nhắc nhở và 9 em “không bao giờ” bị phê bình hay nhắc nhở về chuyện này

Dựa trên kết quả khảo sát của 4 lớp đại học và 3 lớp cao đẳng của ngành sư phạm Giáo dục Tiểu học, chúng ta có thể thấy đa số các em sinh viên đều ý thức được rằng: sai nhiều lỗi chính tả là một bất lợi lớn trong học tập cũng như trong giảng dạy ở trường

Trang 37

Tiểu học, tuy nhiên mức độ và tỉ lệ có sự khác nhau giữa các lớp Chúng ta có thể nhận thấy điều đó qua các bảng so sánh kết quả trả lời giữa các lớp của từng câu hỏi

Bảng 6 Trả lời câu hỏi: Bạn có ý thức khắc phục lỗi chính tả của mình không?

3/60 (5%)

0

(83.3%)

8/60 (13.3%)

2/60 (3.3%)

0

(68.3%)

17/60 (28.3%)

2/60 (3.3%)

0

(58.3%)

16/60 (26.6%)

8/60 (13.3%)

1/60 (1.6%)

(63.3%)

16/60 (26.6%)

6/60 (10%)

0

(68.3%)

13/60 (21.6%)

6/60 (10%)

0

(68.3%)

17/60 (28.3%)

2/60 (3.3%)

0

Ở bảng 6 chúng tôi muốn tìm hiểu về ý thức, thái độ của sinh viên trong việc khắc phục lỗi chính tả của các em Hầu hết các em đều có ý thức thường trực trong việc sửa lỗi chính tả của bản thân Mức độ quyết tâm giữa các lớp ĐH – ĐH, CĐ – CĐ và giữa các lớp ĐH – CĐ với nhau không chênh lệch nhiều và đều tập trung ở mức “luôn luôn”

có ý thức khắc phục

5.1.2 Thực trạng lỗi chính tả của sinh viên

Các em sinh viên thường mắc lỗi chính tả trong những hoàn cảnh nào? Có 60/60

em sinh viên của lớp DH12GT thường mắc lỗi chính tả những khi: nghe - viết lại; khi viết bảng tập giảng; khi làm bài thi, bài kiểm tra, viết báo cáo khoa học…, lớp DH13GT

có 27/60 em chỉ mắc lỗi chính tả khi nghe - viết lại, 33 em còn lại thường mắc lỗi chính

tả trong những hoàn cảnh giống như các anh/chị lớp DH12GT Lớp DH14GT có 8/60

em thấy rằng mình chỉ mắc lỗi chính tả khi viết bảng tập giảng; 12 em chỉ sai chính tả khi làm bài thi, bài kiểm tra hoặc viết báo cáo khoa học; 25/60 em thường sai chính tả khi nghe – viết lại; 15 em sai trong nhiều hoàn cảnh như: nghe - viết lại; khi viết bảng tập giảng; khi làm bài thi, bài kiểm tra, viết báo cáo khoa học… Lớp DH15GT có 15/60

em thấy rằng mình thường sai chính tả khi làm bài thi, bài kiểm tra hoặc viết báo cáo khoa học; 45/60 em thường sai chính tả trong nhiều hoàn cảnh: nghe – viết; viết bảng,

Ngày đăng: 08/03/2021, 16:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w