1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống sư phạm cho sinh viên khoa sư phạm trường đại học an giang

180 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt Nghiên cứu này được tiến hành trên 322 trẻ, giáo viên, phụ huynh và tại huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, tỉnh An Giang nhằm mục đích khảo sát thực trạng công tác chuẩn bị của giáo viên,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

KHOA SƯ PHẠM

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG XỬ LÝ TÌNH HUỐNG SƯ PHẠM CHO

SINH VIÊN KHOA SƯ PHẠM, TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

MÃ SỐ: 18.05.SP

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TRẦN THỊ HUYỀN

AN GIANG, THÁNG 9 NĂM 2019

Trang 4

Xin cảm ơn chân thành đến:

- Trường Mẫu giáo Châu Lăng

- Trường Mẫu giáo Ô Lâm

- Trường Mẫu giáo Văn Giáo

- Trường Mẫu giáo Vĩnh Trung

Đã cung cấp thông tin và giúp đỡ nhóm nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện điều tra

An Giang, ngày 10 tháng 10 năm 2016

Người thực hiện

Trần Thị Huyền

Trang 5

Tóm tắt

Nghiên cứu này được tiến hành trên 322 trẻ, giáo viên, phụ huynh và tại huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, tỉnh An Giang nhằm mục đích khảo sát thực trạng công tác chuẩn bị của giáo viên, phụ huynh cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 và đánh giá mức độ thực hiện một số chỉ số giáo dục của trẻ em, so với bộ chuẩn phát triển dành cho trẻ 5 – 6 tuổi của Bộ Giáo dục và Đào tạo Kết quả nghiên cứu cho thấy giáo viên đều chuẩn bị tốt các kiến thức, kĩ năng, trong khi ở đối tượng phụ huynh học sinh, các thông số trên chưa đạt tiêu chuẩn Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra thực trạng phần lớn đối tượng trẻ em 5 – 6 tuổi dân tộc Khmer chưa đáp ứng các yêu cầu của Bộ chuẩn dành cho trẻ em 5 tuổi trước khi vào lớp 1 Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để hỗ trợ trường mẫu giáo thực hiện tốt việc chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1

Từ khóa: Chuẩn bị; Trẻ em dân tộc Khmer; vào lớp 1; Tịnh Biên; Tri Tôn

Abstract

This study has been conducted on 322 children, teachers, parents, and local authorities

in Tinh Bien and Tri Ton, An Giang province The study not only investigates the preparation of both teachers and parents to encourage Khmer’s children coming to grade 1 at primary school, but also evaluates the process of applying educational indicators regarding the children development framework within 5 – 6 years old, designed by The Vietnamese Ministry of Education and Training (MOET) The findings show that most of primary school teachers perform greatly in terms of their knowledge and skills, whereas children’s parents are at low level Also, most of Khmer children, from 5 – 6 years old, do not satisfy the requirements of the MOET’s framework The study finally proposes several solutions to allow kindergarten schools

to do a great job of preparation among preschool Khmer children

Trang 7

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 11

1.1 Tính cần thiết của đề tài 11

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 12

1.3 Nội dung nghiên cứu 12

1.4 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 13

1.5 Những đóng góp của đề tài 14

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 15

2.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 15

2.2 Lược khảo vấn đề nghiên cứu 29

2.3 Câu hỏi nghiên cứu 37

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

3.1 Mẫu nghiên cứu 38

3.2 Thiết kế nghiên cứu 39

3.3 Công cụ nghiên cứu 40

3.4 Tiến trình nghiên cứu 40

3.5 Phân tích dữ liệu 41

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42

4.1 Khái quát tình hình giáo dục mầm non huyện Tịnh Biên và Tri Tôn 42

4.2 Thực trạng công tác chuẩn bị của giáo viên và phụ huynh cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp một ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn 44

4.3 Công tác chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer trước khi vào lớp 1 của chính quyền địa phương 61

Trang 8

4.4 Mức độ đạt được của trẻ 5-6 tuổi dân tộc Khmer ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn so với chuẩn dành cho trẻ 5-6 tuổi của Bộ Giáo dục và Đào tạo 624.5 Một số giải pháp nhằm chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn 66

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HẠN CHẾ 73

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Mẫu nghiên cứu ở Tri Tôn và Tịnh Biên 38Bảng 2: Xét theo lĩnh vực chuẩn bị 44Bảng 3: Công tác chuẩn bị của giáo viên cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 ở lĩnh vực phát triển thể chất 47Bảng 4: Công tác chuẩn bị của giáo viên cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 ở lĩnh vực tình cảm và quan hệ xã hội 49Bảng 5: Công tác chuẩn bị của giáo viên cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 ở lĩnh vực ngôn ngữ 50Bảng 6: Công tác chuẩn bị của giáo viên cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 ở lĩnh vực nhận thức 53Bảng 7: So sánh mức độ chuẩn bị của giáo viên và mức độ đạt được của học sinh của một số chỉ số thuộc 4 lĩnh vực chuẩn bị 56Bảng 8: Xét theo lĩnh vực chuẩn bị 57Bảng 9: Công tác chuẩn bị của phụ huynh cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 ở lĩnh vực phát triển thể chất và lĩnh vực tình cảm, quan hệ xã hội 58Bảng 10: Công tác chuẩn bị của phụ huynh cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 ở lĩnh vực ngôn ngữ và giao tiếp và lĩnh vực phát triển nhận thức 59Bảng 11: Xét mức độ đạt được của trẻ em 5-6 tuổi dân tộc Khmer biểu hiện chỉ số của

4 lĩnh vực 63

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Mức độ chuẩn bị tốt và chưa tốt ở các lĩnh vực theo đánh giá của giáo viên 45Biểu đồ 2: Mức độ đạt yêu cầu và không đạt yêu cầu ở một số lĩnh vực qua kết quả khảo sát trẻ 46Biểu đồ 3: So sánh mức độ chuẩn bị của giáo viên và mức độ không đáp ứng yêu cầu của trẻ ở một số chỉ số của lĩnh vực ngôn ngữ và giao tiếp 51Biểu đồ 4: So sánh mức độ chuẩn bị của giáo viên về một số chỉ số thuộc lĩnh vực phát triển nhận thức và mức độ đạt yêu cầu của trẻ 54Biểu đồ 5: Mức độ đạt yêu cầu và không đạt yêu cầu của trẻ xét theo lĩnh vực 63

Trang 11

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Mục tiêu giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm

mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1, hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời (Bộ Giáo dục và Đào Tạo, 2013) Đảng và Nhà nước ban hành nhiều luật và chính sách thể hiện sự quan tâm đến quyền lợi được đi học mẫu giáo cho tất cả trẻ em Ngày 12/8/2014 Bộ Giáo dục và Đào tạo có thông tư: Ưu tiên nguồn lực, tập trung phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi Ngày 14/8/2014 Ban chỉ đạo Phổ cập giáo dục - Chống mù chữ của tỉnh An Giang chỉ đạo: Cần thực hiện tốt công văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo về phổ cập giáo dục mầm non

5 tuổi (Sở Giáo dục và Đào tạo An Giang, 2014)

Như vậy, việc chuẩn bị tốt cho trẻ 5 tuổi vào lớp 1 là rất quan trọng, bởi vì các

em sẽ được chuẩn bị những kỹ năng như tự lập, sự kiềm chế, khả năng diễn đạt rõ ràng, đồng thời hình thành hứng thú đối với việc đến trường tiểu học, tăng khả năng sẵn sàng để bước vào giai đoạn giáo dục phổ thông

Việc chuẩn bị tốt cho trẻ về thể chất, tâm lí từ tuổi mẫu giáo là yêu cầu quan trọng giúp trẻ kích thích việc học tập ở bậc tiểu học Trên thực tế, ở An Giang vẫn còn nhiều trẻ em không được chuẩn bị một cách khoa học cho việc đến trường nên khi vào lớp 1 trẻ có nhiều bỡ ngỡ, không thích ứng được với cuộc sống và học tập ở trường tiểu học

Theo Báo cáo tổng kết năm học 2013 - 2014 của Phòng Giáo dục huyện Tri Tôn

và Tịnh Biên, phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi đạt chuẩn chiếm tỷ lệ 60% Riêng trẻ

em dân tộc Khmer đang theo học các lớp mẫu giáo là 2320 em, trong đó có hơn 1000

em đang theo học lớp mẫu giáo 5 tuổi ở các trường: Mẫu giáo Châu Lăng, Mẫu giáo

An Tức, Mẫu giáo Núi Tô, Mẫu giáo Ô Lâm, Mẫu giáo Văn Giáo và Mẫu giáo Vĩnh Trung Cộng đồng người dân tộc Khmer ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn đã tham gia vào công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 thông qua việc tổ chức cho trẻ học tại chùa và tham gia các lớp mẫu giáo trước khi vào lớp 1 Tuy nhiên công tác chuẩn bị cho trẻ

em dân tộc Khmer trước khi vào lớp 1 ở các trường mẫu giáo còn nhiều khó khăn, bất cập, vì vậy những người làm công tác giáo dục cần có nhiều chính sách và biện pháp

hỗ trợ để công tác chuẩn bị cho trẻ em tộc Khmer vào lớp 1 đạt được kết quả như mong muốn

Chính vì những lí do trên, người nghiên cứu chọn đề tài "Công tác chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 tại huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tỉnh An Giang - Thực trạng và giải pháp" làm nghiên cứu Với mong muốn chỉ ra được các thực trạng và

Trang 12

trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp mang tính thực tiễn để giúp các em dân tộc Khmer

ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn được chuẩn bị tốt nhất trước khi bước vào lớp 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mô tả thực trạng về việc chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 tại huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tỉnh An Giang

Đánh giá mức độ thực hiện một số chỉ số của trẻ em dân tộc Khmer ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tỉnh An Giang so với bộ chuẩn phát triển dành cho trẻ 5 - 6 tuổi của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Đề xuất một số giải pháp để giúp một số trường mẫu giáo thực hiện tốt việc chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 tại huyện Tịnh Biên và Tri Tôn nhằm thực hiện tốt công văn số 4318/ BGDĐT - GDMN của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 14/8/2014 về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục mầm non năm học 2014-

2015 và công văn số 1266/BCĐ - PCGDCMC ngày 12/8/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang về việc triển khai thông tư 36/TT/BGDĐT

1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1.3.1 Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, bao gồm:

Các văn bản liên quan đến các chính sách của nhà nước thể hiện sự quan tâm quyền lợi được đi học của trẻ em dân tộc Khmer

Các văn bản liên quan đến phổ cập giáo dục chống mù chữ của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Sở Giáo dục Đào tạo tỉnh An Giang

Tại sao cần chuẩn bị cho trẻ trước khi vào lớp 1

Tầm quan trọng của việc chuẩn bị cho trẻ trước khi vào lớp 1

Một số đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Chuẩn phát triển của trẻ 5 tuổi

Bước ngoặt 6 tuổi

1.3.2 Hội thảo khoa học nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu với chủ đề:

Giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn tỉnh An Giang

1.3.3 Thực trạng về công tác chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn

Khái quát tình hình giáo dục mầm non ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tỉnh An Giang

Thực trạng về công tác chuẩn bị của giáo viên và phụ huynh cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tỉnh An Giang

Trang 13

Khả năng đáp ứng của trẻ em dân tộc Khmer tại huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tỉnh An Giang so với chuẩn dành cho trẻ 5-6 tuổi của Bộ Giáo dục và Đào tạo Cụ thể

ở các lĩnh vực:

+ Lĩnh vực phát triển thể chất

+ Lĩnh vực phát triển ngôn ngữ và giao tiếp

+ Lĩnh vực phát triển nhận thức

+ Lĩnh vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội

1.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm giúp một số trường mẫu giáo thực hiện tốt việc chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn 1.4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Công tác chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong đề tài này chỉ nghiên cứu trẻ em dân tộc Khmer có độ tuổi từ 5 - 6 tuổi đang theo học lớp lá (diện chính quy) ở các trường mẫu giáo: Châu Lăng; Ô Lâm, Văn Giáo, Vĩnh Trung Lí do chọn Châu Lăng (trên 80% người dân tộc Khmer), Ô Lâm (trên 97% người dân tộc Khmer), Văn Giáo (trên 80% người dân tộc Khmer), Vĩnh Trung (trên 90 % người dân tộc Khmer) nghiên cứu vì đây là địa bàn phần lớn người dân tộc Khmer sinh sống

1.4.3 Phạm vi về nội dung nghiên cứu

Trong nghiên cứu này tác giả chỉ nghiên cứu việc chuẩn bị của giáo viên và phụ huynh cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 tại huyện Tịnh Biên, Tri Tôn Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu tác giả chỉ chọn một số chỉ số của các lĩnh vực như:

[1] Lĩnh vực phát triển thể chất (Chỉ số 5: Tự mặc và cởi được áo; Chỉ số 6: Tô màu kín, không chờm ra ngoài đường viền các hình vẽ; Chỉ số 7: Cắt theo đường viền thẳng và cong của các hình đơn giản; Chỉ số 14: Tham gia hoạt động học tập liên tục

và không có biểu hiện mệt mỏi trong khoảng 30 phút)

[2] Lĩnh vực phát triển ngôn ngữ và giao tiếp (Chỉ số 63: Hiểu nghĩa một số từ khái quát chỉ sự vật, hiện tượng đơn giản, gần gũi; Chỉ số 65: Nói rõ ràng; Chỉ số 67:

Sử dụng các loại câu khác nhau trong giao tiếp; Chỉ số 68: Sử dụng lời nói để bày tỏ cảm xúc, nhu cầu, ý nghĩ và kinh nghiệm của bản thân; Chỉ số 74: Chăm chú lắng nghe người khác và đáp lại bằng cử chỉ, nét mặt, ánh mắt phù hợp; Chỉ số 91: Nhận dạng được chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt)

[3] Lĩnh vực phát triển nhận thức (Chỉ số 92: Gọi tên nhóm cây cối, con vật theo đặc điểm chung; Chỉ số 96: Phân loại được một số đồ dùng thông thường theo chất liệu và công dụng; Chỉ số 104: Nhận biết con số phù hợp với số lượng trong phạm vi 10; Chỉ số 106: Biết cách đo độ dài và nói kết quả đo; Chỉ số 107: Chỉ ra được khối cầu, khối vuông, khối chữ nhật và khối trụ theo yêu cầu; Chỉ số 108: Xác

Trang 14

định được vị trí (trong, ngoài, trên, dưới, trước, sau, phải, trái) của một vật so với một vật khác; Chỉ số 109: Gọi tên các ngày trong tuần theo thứ tự; Chỉ số 110: Phân biệt được hôm qua, hôm nay, ngày mai qua các sự kiện hàng ngày; Chỉ số 111: Nói được ngày trên lốc lịch và giờ trên đồng hồ)

[4] Lĩnh vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội (Chỉ số 27: Nói được một số thông tin quan trọng về bản thân và gia đình; Chỉ số 35: Nhận biết các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận, xấu hổ của người khác; Chỉ số 58: Nói được khả năng và sở thích của bạn b và người thân)

(Ghi chú: Tham khảo bộ chuẩn dành cho trẻ 5-6 tuổi ở phụ lục)

1.4.4 Phạm vi về thời gian và không gian; địa điểm nghiên cứu

- Về thời gian: Đề tài tiến hành từ tháng 04/2015 đến 06/2016

- Không gian: Đề tài sẽ tiến hành khảo sát trẻ em 5-6 tuổi dân tộc Khmer, giáo viên, Ban Giám hiệu, phụ huynh ở 4 trường chọn nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Huyện Tri Tôn, Tịnh Biên

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến nội dung nghiên cứu: các văn bản liên quan đến các chính sách của nhà nước đối với công tác giáo dục cho trẻ em dân tộc Khmer; tầm quan trọng của việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1; đặc điểm tâm lý trẻ trước khi vào lớp 1

Kết quả nghiên cứu thực tiễn đã mô tả được thực trạng công tác chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn

Đề tài đã đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn từ chính những người trực tiếp làm công tác giáo dục

Trang 15

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1.1 Các văn bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu

2.1.1.1 Quyết định số 239/QĐ – TTg (Phê duyệt Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 – 2015)

Quyết định số 239/QĐ – TTG ngày 09/02/2010 của Thủ tướng chính phủ về Phê duyệt Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010 –

2015 nhấn mạnh: phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong giáo dục mầm non nhằm chuẩn bị tốt nhất cho trẻ vào lớp 1 đối với tất cả các vùng miền trong cả nước; việc chăm lo để mọi trẻ em 5 tuổi được đến trường, lớp mầm non là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của mỗi gia đình và toàn xã hội Theo quyết định này, đến năm 2015 có 100% trẻ tại các

cơ sở giáo dục mầm non trên cả nước được học Chương trình giáo dục mầm non mới, chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào học lớp 1; ở vùng đặc biệt khó khăn và vùng dân tộc thiểu số, trẻ được chuẩn bị tiếng Việt để vào học lớp 1 Đối với việc đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục mầm non quyết định cũng nêu rõ: Xây dựng chương trình, tài liệu chuẩn bị tiếng Việt cho các lớp mầm non 5 tuổi người dân tộc thiểu số; ban hành và hướng dẫn sử dụng bộ Chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi; xây dựng và mở rộng mô hình dạy tiếng dân tộc cho giáo viên công tác tại các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số, có học phần dạy tiếng dân tộc thiểu số cho giáo sinh cử tuyển trong các trường sư phạm

2.1.1.2 Hướng dẫn số: 4318/BGDĐT-GDMN ngày 14/08/2014 của Bộ GD&ĐT gửi cho các sở GD&ĐT về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Mầm non năm học 2014-2015

Theo hướng dẫn số: 4318/BGDĐT-GDMN ngày 14/08/2014 của Bộ GD&ĐT gửi cho các sở GD&ĐT về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Mầm non năm học 2014-2015 đã chỉ đạo: Tổ chức sơ kết đánh giá, nhân rộng điển hình thực hiện Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi, đảm bảo đến năm học 2014-2015 tất cả các cơ sở giáo dục mầm non đều sử dụng Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi để hỗ trợ thực hiện chương trình giáo dục mầm non đảm bảo chất lượng, phối hợp giữa nhà trường và gia đình theo dõi sự phát triển của trẻ, có biện pháp tác động kịp thời giúp trẻ phát triển tốt, tạo nền tảng vững chắc cho trẻ bước vào lớp 1 Hướng dẫn cũng xác định tăng cường các biện pháp chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số; đảm bảo tất cả trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số được chuẩn bị tiếng Việt trước khi vào lớp 1; hỗ trợ thực hiện Chương trình giáo dục mầm non ở các vùng khó khăn; tổ chức Hội thảo tổng kết

Trang 16

Chương trình giáo dục mầm non, đặc biệt là Chương trình giáo dục mầm non ở vùng miền núi khó khăn

Trang 17

2.1.1.3 Hướng dẫn số 1266/BCĐ – PCGDCMC về việc triển khai thực hiện thông

tư số 36/2013/TT-BGDĐT ngày 12/08/2014 của Ban chỉ đạo PCGD – CMC UBND tỉnh An Giang

Hướng dẫn số 1266/BCĐ – PCGDCMC về việc triển khai thực hiện thông

tư số 36/2013/TT-BGDĐT ngày 12/08/2014 của Ban chỉ đạo PCGD – CMC UBND tỉnh An Giang chỉ đạo hướng dẫn cho các Phòng GD&ĐT huyện thị, thành phố các điều kiện, tiêu chuẩn đạt phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi các trường mầm non trong địa bàn Trong đó, hướng dẫn nêu rõ: trẻ em được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi phải hoàn thành chương trình giáo dục mầm non (mẫu giáo 5 – 6 tuổi) do Bộ GD&ĐT ban hành trước 6 tuổi; trẻ em hoàn thành chương trình này là trẻ được học 2 buổi/ ngày trong thời gian năm học (9 tháng) Hướng dẫn còn nhấn mạnh 100% số trẻ em mẫu giáo 5 tuổi dân tộc thiểu số ra lớp được chuẩn bị tiếng Việt trước khi vào lớp 1

2.1.1.4 Hướng dẫn số 42/HD – SGDĐT ngày 21/09/2015 của Sở GD&ĐT An Giang

về Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục dân tộc năm học 2015 – 2016

Hướng dẫn số 42/HD – SGDĐT ngày 21/09/2015 của Sở GD&ĐT An Giang

về Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục dân tộc năm học 2015 – 2016 có nêu: cần đảm bảo duy trì số lượng và nâng cao chất lượng giáo dục trẻ em, học sinh dân tộc thiểu số ở các cấp học; triển khai việc chuẩn bị và tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non và học sinh tiểu học dân tộc thiểu số qua các hoạt động dạy học, trong các môn học và hoạt động giáo dục Hướng dẫn cũng đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý và giáo viên ở vùng dân tộc thiểu số

2.1.2 Chuẩn bị cho trẻ sẵn sàng đi học

Chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 là một quá trình tác động nhằm đảm bảo hình thành ở trẻ sự sẵn sàng đi học, giúp trẻ thích ứng với hoạt động học tập ở lớp 1(Nguyễn Thị Bích Liên, 2006)

Sẵn sàng đi học, trong Tâm lý học và Giáo dục học vấn đề “Sẵn sàng” được nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau Theo viện nghiên cứu giáo dục Mầm non của A.V Daparôgiet; L.A.Vengher; P.A Côkhin; L.E.Rurôva; T.V.Taruntaeva, có thể chia ra làm hai mảng lớn: Chung và Chuyên biệt (CĐ Mẫu giáo TW3, 1999), Cụ thể là:

Ở mảng sẵn sàng chung, bao gồm: Sẵn sàng về thể chất: Theo nghiên cứu của A.V Daparôgiet, M.IU Kixchiacôvxcôi, N.T Têrêkhôvô nên hiểu là tình trạng sức khoẻ, sự phát triển các tố chất vận động, khả năng điều khiển các cơ nhỏ và cũng là khả năng của cơ thể và trí óc

Sẵn sàng về nhân cách: Theo nghiên cứu của R.C Bure, T.A RêpiNôi, T.V Kravsôva, R.B Xterkinôi, T.V Antônnôvôi, thể hiện ở sự chủ định của

Trang 18

hành vi, trong sự hình thành giao tiếp, trong sự đánh giá và trong động cơ học tập Ngoài ra, sự sẵn sàng về nhân cách còn thể hiện ở sự tích cực, sự sốt sắng giải quyết những nhiệm vụ chung, ở tính kỉ luật và ở kết quả công việc, ở việc xuất hiện tính bền vững tính cố gắng của trẻ

Sẵn sàng về trí tuệ: theo nghiên cứu của A.V Daparôgiet, N.N Pôđiakôv, P.A Côkhin, L.A Vengher, L.A Paramônôva chỉ số chính của sự phát triển trí tuệ ở cuối tuổi mẫu giáo là sự hình thành tư duy hình ảnh, trí tưởng tượng, óc sáng tạo, cơ sở của tư duy ngôn ngữ lôgic và ngay cả sự lĩnh hội những phương thức hoạt động nhận thức (kỹ năng phân loại, khái quát hoá, giản lược, mô hình hoá), lĩnh hội tiếng mẹ đẻ, các hình thức cơ bản của ngôn ngữ

Ở mảng sẵn sàng chuyên biệt – sự chuẩn bị để lĩnh hội những môn học của trường phổ thông, đảm bảo cho trẻ những kỹ năng đầu tiên của việc đọc, làm toán và cả sự phát triển chung

Vậy, sự sẵn sàng đi học chính là kết quả quan trọng của việc chuẩn bị, các hoạt động giáo dục lâu dài có mục đích, có định hướng ở trường mầm non Sẵn sàng đi học được coi như sự phát triển nhiều mặt nhân cách trẻ và được thể hiện ở sự sẵn sàng chung cũng như sự sẵn sàng chuyên biệt để học ở phổ thông (Nguyễn Thị Bích Liên, 2006)

2.1.3 Tại sao cần chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1

Trong nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục có đoạn viết

về nội dung giáo dục Mầm non như sau: Cố gắng làm cho các cháu sớm bộc lộ những mầm mống năng khiếu và phát triển tiềm lực trí tuệ, chuẩn bị tốt cho

việc học tập văn hoá ở trường phổ thông sau này (Phạm Minh Hạc,1995) Nhận

định trên đây của Bộ Chính trị đã nêu cao vai trò và tầm quan trọng của công tác giáo dục và dạy trẻ ở trường Mẫu giáo - Chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông Vai trò này đặc biệt có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay, khi mà thế giới trong nền văn minh mới là thế giới của sự biến đổi cực kỳ nhanh, với sự phát triển vũ bão về khoa học – kỹ thuật – công nghệ và xã hội đang tiến dần

tới xã hội học tập, mọi người đều đi học, đi học thường xuyên, học suốt đời Trẻ

sẽ không đủ khả năng và thời gian để đạt tới một trình độ học vấn cao nếu như khi còn bé, ở trường mẫu giáo trẻ không được chuẩn bị một cách đầy đủ

Bước vào lớp 1, là một bước ngoặt trong đời sống của trẻ Đó là sự chuyển qua một lối sống mới với những điều kiện hoạt động mới, chuyển qua một địa vị mới trong xã hội, chuyển qua những quan hệ mới với người lớn và bạn bè cùng tuổi

Hồ Ngọc Đại đã cho rằng: 6 tuổi là một bước ngoặt hạnh phúc Vì khi trẻ bước vào 6 tuổi, hoạt động vui chơi vốn giữ vai trò chủ động trong suốt thời kỳ mẫu giáo, nay những yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh để tiến tới

Trang 19

giữ vị trí chủ đạo ở giai đoạn sau bước ngoặt 6 tuổi Khi bước vào lớp 1, vào một môi trường mới trẻ em sẽ đến với thầy với bạn, đến với nền văn minh nhà trường hiện đại để có thêm những gì không có trong quá khứ 6 năm qua của trẻ (Hồ Ngọc Đại)

Hơn nữa, khi bước vào lớp 1 trong quá trình phát triển tâm lý trẻ còn trải qua một cuộc khủng hoảng Những câu hỏi về thế giới xung quanh cứ dồn dập nảy sinh mà trẻ không thể tìm câu trả lời đích thực trong các trò chơi Do các hoạt động vui chơi dần dần mất đi ý nghĩa chủ đạo và hơn nữa trong nhiều công trình nghiên cứu, người ta đã xác định rằng ở trẻ dưới 6 tuổi có sự phát triển mạnh mẽ về hình thái và chức năng của não Trọng lượng não bộ của trẻ 6 tuổi đạt tới 90% trọng lượng não của người lớn Đặc biệt trình độ tổ chức các vùng chức năng của não, khả năng tích tụ máu ở não đã đủ chín muồi

để có thể lĩnh hội và xử lý lượng thông tin khá lớn và phức tạp

Vì thế việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 hết sức đặc biệt và ý nghĩa và việc chuẩn bị cho trẻ trước khi bước vào trường phổ thông còn đóng một vai trò rất quan trọng Vai trò trước tiên đó là giúp trẻ hoàn thiện những thành tựu phát triển tâm lý trong suốt thời kỳ mẫu giáo Mặt khác, vai trò lớn nhất của việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 là tích cực chuẩn bị cho trẻ có đủ điều kiện để qua đó giúp trẻ làm quen dần với các hoạt động học tập và cuộc sống cũng như chế độ sinh hoạt ở trường phổ thông Đồng thời, trẻ sẽ có một tâm thế tốt, một tinh thần tốt cho việc học tập mới này, giúp trẻ hình thành được những mối quan hệ tốt với thầy cô và bạn bè, biết trách nhiệm của bản thân cũng như nhận thức được vị trí của bản thân trong xã hội này

Đến 6 tuổi, trẻ em phát triển bình thường đều có thể đi học được Đối với trẻ em, việc đến trường phổ thông được xem như một bước ngoặt quan trọng của cuộc đời

Ở trẻ 5 tuổi, hoạt động vui chơi giữ vai trò chủ đạo Chơi là hoạt động mang tính chất thoải mái, không bắt buộc

Vào lớp 1, trẻ phải làm một nhiệm vụ của người học sinh, hoạt động chủ yếu bây giờ là học tập, là hoạt động mang tính chất bắt buộc, có tổ chức chặt chẽ,

có mục đích, có kế hoạch Đây là đặc điểm đặc trưng, khác biệt giữa hoạt động vui chơi và hoạt động học tập

Ở mỗi giai đoạn phát triển đều có những đặc điểm riêng, từ giai đoạn này đến giai đoạn khác là một bước nhảy vọt, có sự chuyển biến về chất Hơn nữa, sự phát triển của mỗi giai đoạn vừa là kết quả của giai đoạn trước đó, vừa là tiền đề cho giai đoạn phát triển kế tiếp Điều đó có nghĩa là nếu trẻ được phát triển tốt ở giai đoạn trước cũng chính là chuẩn bị tốt cho giai đoạn sau Ở tuổi mẫu giáo nếu trẻ được chăm sóc, giáo dục để phát triển toàn diện về cả mặt thể chất, tâm lí,

xã hội thì việc trẻ vào lớp 1 là điều tự nhiên, không cần phải băn khoăn, lo lắng Thế nhưng không phải bất cứ gia đình nào, lớp mẫu giáo nào cũng làm tốt việc

Trang 20

đó Một số trẻ còn ngơ ngác, không biết nghe lời dặn dò của giáo viên Do không được dạy giao tiếp với người xung quanh, nên không ít trẻ tuy đã đến trường nhưng rất nhút nhát, sợ thầy, cô, sợ bạn bè Mặt khác trẻ không làm quen được với hoạt động trí tuệ nên không biết quan sát sự vật, không có hứng thú nhận thức các vấn đề xung quanh Do vậy một số em sẽ rất sợ đi học, đến trường chỉ là bắt buộc

Về mặt thực tiễn, bằng kết quả nghiên cứu của một số công trình nghiên cứu khoa học cho thấy trên 95 % số trẻ 5 tuổi được chuẩn bị chu đáo, hợp lí trước khi vào lớp 1 đều có khả năng học tập tốt và thích ứng nhanh với những yêu cầu của lớp 1 (Nguyễn Thị Hòa 2010) Chính vì vậy việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 là một việc làm cần được thực hiện một cách nghiêm túc và cấp bách

mà các bậc cha mẹ và người làm công tác giáo dục cần quan tâm và tạo điều kiện cho trẻ bước vào lớp 1 thuận lợi và hiệu quả

Trang 21

2.1.4 Tầm quan trọng của việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1

Trong thời đại ngày nay, trẻ em được xem là tương lai của đất nước, là những chủ nhân quyết định vận mệnh xã hội Quan tâm tới cả chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ là là vấn đề nóng bỏng

Đối với học sinh đầu tiểu học, khi chuyển từ giai đoạn vui chơi là hoạt động chủ đạo, sang hoạt động học tập là chính yếu - tức là giai đoạn chuẩn bị vào lớp 1 của trẻ - luôn được đánh dấu là giai đoạn bước ngoặt, là một trong những dấu ấn lớn nhất trong cuộc đời mỗi con người Như đã đề cập, khi còn ở tuổi mẫu giáo, hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi Trẻ thích thì chơi không thích thì thôi chứ không bị bắt buộc

Đến 6 tuổi, bất cứ một em bé nào phát triển bình thường đều có thể đi học được Đối với trẻ em, việc đến trường phổ thông được coi như một bước ngoặt quan trọng Đó là việc trẻ được chuyển qua một lối sống mới với những hoạt động mới, đồng thời trẻ cũng được chuyển qua một vị trí xã hội mới với những mối quan hệ mới của một người học sinh thực thụ

Vào lớp 1, trẻ phải làm nhiệm vụ của một người học sinh, hoạt động chủ đạo bây giờ là học tập, mà hoạt động học tập lại là một hoạt động mang tính chất bắt buộc, có tổ chức chặt chẽ, có mục đích, có kế hoạch Bản thân mỗi học sinh đều phải cố gắng mới có thể đạt được kết quả tốt đẹp

Đến trường Phổ thông, đứa trẻ phải hoà nhập vào những quan hệ mới với những người xung quanh, với bạn bè, với những người lớn khác, đặc biệt là với cô giáo, thầy giáo Trước đây ở trường Mầm non “cô là mẹ và các cháu là con”, trẻ được sống trong không khí gia đình thì giờ đây trẻ sống trong một khung cảnh của trường học, mối quan hệ giữa cô giáo, thầy giáo với trẻ em là mối quan hệ giữa người dạy (thầy giáo, cô giáo) và người học (học sinh), đành rằng trong đó có tình cảm thầy trò

2.1.5 Các quan điểm khoa học về việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1

* Cần chuẩn bị đúng cho trẻ trước khi vào lớp 1

Mỗi giai đoạn phát triển đều có những đặc điểm riêng, từ giai đoạn này đến giai đoạn khác là một bước nhảy vọt, có sự chuyển biến về chất Hơn nữa sự phát triển của một giai đoạn vừa là kết quả của giai đoạn trước đó, vừa là tiền đề cho giai đoạn phát triển kế tiếp Điều đó có nghĩa là nếu trẻ được phát triển tốt ở giai đoạn trước cũng chính là chuẩn bị tốt cho giai đoạn sau Thế nhưng có nhiều phụ huynh lại có nhiều quan niệm chưa đúng về công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1

Quan niệm khá phổ biến hiện nay về việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 chủ yếu là dạy cho trẻ biết đọc, biết viết, biết làm các phép tính đang tồn tại ở nhiều phụ huynh Tưởng chừng việc dạy học trước sẽ giúp trẻ học giỏi khi vào lớp 1,

Trang 22

nhưng thật ra việc làm đó không phù hợp với quy luật phát triển của trẻ em dưới

6 tuổi Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã chứng minh rằng trẻ

em dưới 6 tuổi nói chung là chưa đủ khả năng để học chữ, học tính theo đúng ý nghĩa của môn học Hơn nữa, cho dù có học chữ, học tính toán sớm theo một chương trình chặt chẽ thì cũng không mang lại lợi ích gì nhiều cho sự phát triển trí tuệ, thậm chí còn “có hại” cho sự phát triển nhân cách nói chung Trên thực

tế, có nhiều đứa trẻ do chỉ biết học chữ, học tính mà không được chuẩn bị một cách đầy đủ về nhiều mặt nên càng học càng đuối Một số trẻ do học trước nên sinh ra chủ quan khi phải học lại những điều đã biết Từ đó, dễ sinh ra sự thiếu tập trung trong học tập vì không học được điều mới lạ so với cái mình đã biết (Trịnh Dân; Đinh Văn Vang, 2012)

Chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 không phải làm việc thay cho giáo viên tiểu học, không nên dạy trước những gì mà sau này trẻ sẽ được học ở trường tiểu học; không nên yêu cầu trẻ phải như một “học sinh” thực thụ ngay khi còn ở tuổi mẫu giáo; bảo đảm cho trẻ được sống đúng lứa tuổi của chính mình, vẫn hồn nhiên, vui tươi, không làm cho trẻ già đi trước tuổi Đó cũng là điều kiện để sau này trẻ học tốt ở trường tiểu học (Huỳnh Văn Sơn, 2013)

Tuổi mầm non là “bậc thang” đầu tiên, làm nền móng cho những bậc thang tiếp theo của một con người Không thể phủ nhận sự cần thiết và vai trò của trường mầm non trong việc phát triển cũng như chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 Để vào lớp 1, trẻ cần được chuẩn bị tâm lí sẳn sàng đi học – hay còn gọi là “độ chín muồi học đường” Vì thế, một trong những yêu cầu quan trọng để giúp trẻ học tốt chương trình tiểu học là cần chuẩn bị cho trẻ toàn diện về mặt thể chất, trí tuệ, tình cảm – xã hội, ngôn ngữ, một số kĩ năng cần thiết cho hoạt động học tập (Nguyễn Ánh Tuyết, 2004)

* Chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 không phải là việc làm thay cho giáo dục tiểu học

Chuẩn bị cho trẻ 5 -6 tuổi vào lớp 1 không thể là việc làm thay cho công việc dạy dỗ ở lớp 1

Hiện nay trong thực tế có một quan niệm khá phổ biến rằng việc chuẩn bị cho trẻ vào Phổ thông chủ yếu là chuẩn bị cho trẻ biết đọc, biết viết, biết làm các phép tính Từ đó mà không ít người ( phần lớn là phụ huynh) đã bắt con em mình phải ngồi vào bàn để học một cách nghiêm túc Việc này đồng nghĩa với việc tước đi những nhu cầu mà trẻ đáng được có như thời gian vui chơi, hoạt động về nhiều mặt mà đứa trẻ vốn yêu thích và rất cần cho sự phát triển cho trẻ (Nguyễn Ánh Tuyết, 1998, tr7-8)

* Chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 là chuẩn bị toàn diện

Chuẩn bị cho trẻ thích ứng với cuộc sống ở trường tiểu học

Để giúp cho trẻ thích ứng với cuộc sống chế độ sinh hoạt ở trường tiểu học cần chuẩn bị cho trẻ về nhiều mặt:

Trang 23

- Về chế độ sinh hoạt: cần tạo cho trẻ có một chế độ sinh hoạt nề nếp, phù

hợp với độ tuổi và có hành vi văn hoá vệ sinh

- Về quan hệ với những người xung quanh: giúp trẻ chủ động, thiết lập mối

quan hệ với những người xung quanh và mở rộng dần những mối quan hệ đó

- Về tư thế, tác phong: rèn luyện cho trẻ tư thế, tác phong gọn gàng, nhanh

nhẹn, tự tin vào bản thân và tôn trọng người khác trong giao tiếp nhưng vẫn hồn nhiên

và vui tươi trong các hoạt động

* Chuẩn bị cho trẻ thích ứng với hoạt động học tập

- Về tâm thế khi đến trường tiểu học

- Về hứng thú nhận thức các hiện tượng tự nhiên và xã hội

- Về hoạt động trí tuệ và thao tác bàn tay cho phù hợp với hoạt động hoc tập

- Về việc tự phục vụ trong sinh hoạt hàng ngày

- Về sức khoẻ, bao gồm chế độ dinh dưỡng và chế độ tập luyện thân thể

Việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 thực sự là nhu cầu khách quan và những nội dung cần chuẩn bị là hết sức đa dạng, nhiều mặt, đòi hỏi phải có kế hoạch chuẩn bị một cách toàn diện sớm trước khi trẻ đi học

Chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 được tiến hành thông qua việc tổ chức hoạt động cho trẻ

Duy trì vai trò chủ đạo của hoạt động vui chơi: Chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 phải được tiến hành trước hết là thông qua hoạt động vui chơi bởi hoạt động này đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển tâm lý của trẻ Chính trong hoạt động vui chơi, những phẩm chất tâm lý cần cho hoạt động học tập được hình thành và phát triển thuận lợi như tính chủ định trong tri giác, sức tập trung chú ý, tính tích cực trong tư duy ở trẻ phát triển Điều đó có nghĩa là khi chơi trẻ mong muốn đạt được kết quả nào đó, muốn vậy trẻ cần phải nắm được luật chơi, cách chơi, nếu không đạt kết quả thì không được thừa nhận Chính nhờ đó mà những yếu tố của hoạt động học tập dần dần đuợc xuất hiện

Thông qua một số hoạt động khác mà trẻ yêu thích

Bên cạnh hoạt động vui chơi, việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 còn được tiến hành trong các hoạt động mà trẻ yêu thích như hoạt động tạo hình, múa hát, đọc thơ, kể chuyện Những hoạt động này không chỉ làm cho tâm hồn trẻ vui tươi mà còn rèn cho trẻ những kỹ năng sống và học tập cần thiết (Nguyễn Ánh Tuyết)

Tổ chức một số hoạt động có cấu trúc gần giống với tiết học ở lớp 1

Tiết học của trẻ 5 tuổi tại trường Mầm non được tổ chức một cách nhẹ nhàng, thoải mái, linh hoạt hơn, không những về hình thức tổ chức mà cả về nội dung lẫn phương pháp truyền đạt kiến thức cho trẻ

2.1.6 Các lĩnh vực cần chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1

Trang 24

2.1.6.2 Chuẩn bị về ngôn ngữ và giao tiếp

Ngôn ngữ trẻ lứa tuổi mầm non chủ yếu là ngôn ngữ nói: Sự phát triển ngôn ngữ nói của trẻ em phụ thuộc rất lớn vào sự giao tiếp của trẻ em với người lớn và trẻ em với nhau Để thực hiện nhiệm vụ này, cần chú trọng các vấn đề cơ bản sau:

Trước hết cần cung cấp cho trẻ vốn từ, giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ và khuyến khích trẻ hoạt động nói một cách tích cực

Thông qua trò chuyện, giao tiếp thường ngày, thông qua kể chuyện, chơi,

ăn, ngủ, tiếp xúc với đồ chơi, đồ dùng, môi trường người lớn cần cung cấp cho trẻ vốn từ phong phú về thế giới xung quanh, giải thích một cách đơn giản để hiểu được nghĩa của từ

Trong quá trình tổ chức cho trẻ hoạt động và giao tiếp, cần tạo điều kiện cho trẻ diễn đạt một cách rõ ràng, mạch lạc ý nghĩa, nguyện vọng của mình, uốn nắn kịp thời ngôn ngữ của trẻ

Phát triển ở trẻ khả năng sử dụng ngôn ngữ trong cuộc sống hàng ngày một cách phong phú; hình thành một số kĩ năng chuẩn bị cho việc đọc, viết, thông qua hoạt động sinh hoạt hàng ngày

Giúp trẻ biết nhận dạng các chữ trong bảng chữ cái, giúp trẻ làm quen với cách đọc và viết Tiếng Việt (Bộ Giáo dục và Đào tạo 2014)

2.1.6.3 Chuẩn bị về mặt tình cảm và quan hệ xã hội

Một số nhiệm vụ cần chuẩn bị như sau:

- Giáo dục cho trẻ ý thức về bản thân như đặt các câu hỏi để kích thích trẻ biểu

Trang 25

lộ những suy nghĩ, cảm xúc của mình thông qua tranh ảnh, hình vẽ, thơ truyện Khuyến khích trẻ tự tổ chức các trò chơi, đặc biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề Giáo dục trẻ thói quen tự phục vụ bản thân

- Giúp trẻ tự lựa chọn và tham gia các hoạt động vui chơi nhằm phát triển tính

tự tin, tự lực và sáng tạo của trẻ

- Giúp trẻ ham học bằng cách thiết kế những hoạt động thú vị vui nhộn, vừa sức cho trẻ

- Giáo dục trẻ ý thức chấp hành nội quy, quy định ở trường, lớp học, những nơi công cộng, chấp hành luật lệ an toàn giao thông Giúp trẻ có tinh thần trách nhiệm, bước đầu có ý thức công dân, có ý thức nghĩa vụ với bản thân và mọi người xung quanh, có tính kỷ luật

- Giáo dục trẻ ý thức và thái độ cư xử phù hợp đối với người thân trong gia đình

- Bước đầu tập cho trẻ có kĩ năng cùng chung sống, kĩ năng chia sẻ, cảm thông Giáo dục trẻ tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè, cô giáo và những người lớn khác (Bộ Giáo dục và Đào tạo 2014)

2.1.6.4 Chuẩn bị về mặt phát triển nhận thức

Một số nhiệm vụ cần chuẩn bị nhƣ sau:

- Cung cấp cho trẻ một số biểu tượng về bản thân (nói đúng họ tên, tuổi, giới tính khi trò chuyện, khi được hỏi)

- Cung cấp cho trẻ một số biểu tượng về môi trường tự nhiên, môi trường xã hội xung quanh trẻ (biết được địa chỉ của gia đình, biết được tên trường Mầm non mình đang học, nói được tên, tuổi, giới tính, công việc của các thành viên trong gia đình; nhận biết được một số nghề phổ biến và truyền thống ở địa phương)

- Hình thành cho trẻ một số biểu tượng toán sơ đẳng (như màu sắc, hình dáng, kích thước, biểu tượng về thời gian và khả năng định hướng trong không gian, đặc biệt chú trọng biểu tượng về số lượng trong phạm vi 10)

- Phát triển ngôn ngữ nói mạch lạc và cho trẻ làm quen với môi trường chữ viết Việc hiểu nghĩa của từ một cách khái quát, việc nghe và hiểu cũng như cách diễn đạt cho cô giáo, các bạn hiểu được những ý tưởng, dự định của mình giúp trẻ tự tin trong giao tiếp và hiểu sâu sắc hơn những yêu cầu cần phải thực hiện, giúp trẻ lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng cần thiết cho việc vào học ở lớp 1

- Cần rèn luyện và phát triển độ tinh, nhạy, khéo léo của các giác quan (Bộ Giáo dục và Đào tạo 2014)

2.1.7 Một số đặc điểm về thể chất và tâm lí của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

2.1.7.1 Đặc điểm về thể chất

Về tầm vóc:

- Trẻ 5 – 6 tuổi tăng nhanh về chiều cao và cân nặng Tầm vóc cơ thể là trạng thái phát triển về hình thái, cấu trúc cơ thể bao gồm mức độ phát dục sinh trưởng, thể

Trang 26

hình và tư thế thân người của con người Sinh trưởng chủ yếu chỉ quá trình biến đổi của cơ thể từ nhỏ đến lớn, từ nhẹ đến nặng, từ thấp đến cao, nó phản ánh quá trình biến đổi dần của khối lượng cơ thể

- Năng lực cơ thể là biểu hiện khả năng tham gia vận động thể lực Đối với trẻ

5 – 6 tuổi, năng lực cơ thể được thể hiện một cách rõ nét (Huỳnh Văn Sơn 2013)

Về giải phẫu sinh lý:

- Hệ xương: Hệ xương của trẻ 5 tuổi bắt đầu được cốt hoá, cơ bắp to ra Tuy nhiên, hệ xương của trẻ chưa hoàn thành quá trình cốt hoá, thành phần hoá học xương của trẻ chứa nhiều nước và chất hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn, nên có nhiều sụn xương, xương mềm nên dễ bị cong và gãy

- Hệ cơ: của trẻ em phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ, mảnh, thành phần nước trong cơ thể tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắp còn yếu do đó cơ nhanh mệt mỏi

- Khớp: trẻ có đặc điểm là ổ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn mềm yếu, dây chằng lỏng lẻo, tính vững chắc của khớp tương đối còn kém

- Hệ hô hấp: Các tổ chức tế bào của hệ hô hấp ở trẻ em đang còn ở giai đoạn phát triển và chưa được biệt hoá hoàn toàn

- Hệ tuần hoàn: Sức co bóp cơ tim của trẻ còn yếu, mỗi lần co bóp chỉ chuyển

đi được một lượng máu rất ít, nhưng mạch đập nhanh hơn ở người lớn.Trẻ càng nhỏ tuổi thì tần số mạch đập càng nhanh Trẻ 5 tuổi: 100 lần/ phút

- Hệ thần kinh: Sự phát triển hệ thần kinh ở trẻ 5 - 6 tuổi đã ở mức độ cao hơn

so với trẻ nhỏ, sự trưởng thành của các tế bào thần kinh của đại não kết thúc Tuy nhiên, ở trẻ em quá trình hưng phấn và ức chế cân bằng, sự hưng phấn mạnh hơn sự

ức chế Trẻ 5 – 6 tuổi, quá trình ức chế tích cực dần dần phát triển Trẻ đã có khả năng phân tích, đánh giá, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo vận động và phân biệt được các hiện tượng xung quanh

- Hệ trao đổi chất: Cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi bổ sung liên tục năng lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và mô Quá trình hấp thụ các chất ở trẻ vượt cao hơn quá trình phân huỷ và đốt cháy Tuổi càng nhỏ thì quá trình lớn lên và sự hình thành các tế bào, mô của trẻ diễn ra càng mạnh – đặc biệt

là ở trẻ 5 – 6 tuổi Khác với người lớn, ở trẻ em năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và

dự trữ chất nhiều hơn là cho hoạt động cơ bắp (Huỳnh Văn Sơn, 2013)

2.1.7.2 Đặc điểm về tâm lý

Đặc điểm lĩnh hội chuẩn cảm giác ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

- Tri giác màu sắc và hình dáng: Trẻ nắm được một tập hợp hình dạng và màu sắc tương đối đầy đủ

- Tri giác về độ lớn: Phát triển ở trẻ mẫu giáo trên cơ sở lĩnh hội các biểu tượng

về quan hệ độ lớn giữa các vật: được biểu thị bằng từ chỉ rõ vật ở vị trí nào giữa các vật khác Các biểu tượng về độ lớn trở nên phong phú hơn khi trẻ đối chiếu một vật với các vật khác có độ lớn khác nhau (lớn hơn, nhỏ hơn, lớn nhất, nhỏ nhất)

Trang 27

- Hình thành những biểu tượng về chiều của độ lớn: Chiều dài, rộng (Huỳnh Văn Sơn,2013)

Chú ý ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi:

- Chú ý không chủ định của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi: Khối lượng chú ý tăng lên,

số lượng đối tượng chú ý tăng lên, ít bị lôi cuốn bởi các vật có bề ngoài hấp dẫn như ở lứa tuổi ấu nhi, mà thường chú ý đến đặc điểm của đối tượng, mối liên hệ giữa các vật Ngôn ngữ của người lớn cũng là đối tượng chú ý của trẻ Khi trẻ đến 5-6 tuổi khi kích thích bằng từ gây chú ý mạnh hơn kích thích thị giác, cùng một lúc trẻ chú ý được 2-3 đối tượng một cách đầy đủ Tính bền vững của chú ý phát triển

- Chú ý có chủ định của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi: Trẻ bắt đầu điều khiển sự chú ý, biết tự giác hướng chý ý của mình vào những đối tượng cần thiết Chú ý có chủ định liên hệ trực tiếp với việc nắm vững ngôn ngữ, vì mục đích hoạt động của trẻ chỉ được biểu đạt bằng từ Ban đầu chú ý có chủ định của trẻ ở tuổi mẫu giáo rất không bền vững, người lớn cần tổ chức hoạt động cho trẻ cần giải thích, hướng dẫn cái gì cần xem, sự vật đang tri giác có những đặc điểm gì, cần phải đạt được những kết quả gì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Một trong những biện pháp có hiệu quả là tổ chức

các trò chơi có luật

Trí nhớ ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi:

- Trí nhớ vận động: Nhiều kĩ xảo mới được hình thành như: kĩ xảo tự phục vụ,

kĩ xảo học tập, kĩ xảo thể dục đơn giản Đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, dần dần có thể

bỏ hình mẫu, nhưng lời chỉ dẫn của người lớn vẫn có ý nghĩa Động tác của trẻ vững vàng hơn, nhanh hơn, chính xác hơn và ít có những động tác thừa của thân thể

- Trí nhớ hình ảnh: Trí nhớ hình ảnh của trẻ 5-6 tuổi phát triển khá tốt, trẻ nhớ những phong cảnh đã được tham quan, nhớ những bức tranh mình đã vẽ Biểu tượng

về thế giới xung quanh đã gắn kết, sinh động và hấp dẫn hơn Khi vẽ tranh trẻ có khả năng ứng dụng những hành động thực tế vào việc miêu tả và tạo ra các bức tranh trên

cơ sở tái hiện những biểu tượng quen thuộc

- Trí nhớ từ ngữ - lôgic: Ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh, đạt chất lượng cao

cả về mặt phát âm, vốn từ và những hình thức ngữ pháp, vốn từ phong phú, ngôn ngữ mạch lạc

- Trí nhớ cảm xúc: Trẻ 5-6 tuổi có thể nhớ những gì mình trải qua khá dễ dàng Cảm xúc vui, buồn thường làm trẻ nhớ khá lâu (Huỳnh Văn Sơn, 2013)

Tư duy của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

- Tư duy trực quan hành động: Khi giải quyết các bài tập tư duy trẻ không bắt tay ngay vào hành động, mà chăm chú xem xét đồ chơi, sau khi tìm ra cách giải quyết trong óc trẻ mới hành động, lúc này hành động của trẻ đã có mục đích Điều này cho thấy trong khi suy nghĩ để giải quyết vấn đề trẻ không còn quá lệ thuộc vào hành động, không “thử” và “sai” mà trẻ đã lược bớt đi các giai đoạn hành động và giải quyết vấn đề dựa vào sự tái hiện ra trước hình ảnh hành động trong đầu

- Tư duy trực quan hình ảnh: Phát triển mạnh mẽ giúp trẻ giải một số bài toán

Trang 28

thực tiễn, nhưng trong thực tế nhiều thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng trẻ cần tìm hiểu lại (Nguyễn Ánh Tuyết, 1997)

- Tư duy trực quan sơ đồ: Trẻ 5-6 tuổi có khả năng hiểu một cách dễ dàng và nhanh chóng về cách biểu hiện sơ đồ và sử dụng có kết quả những sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật Chẳng hạn trẻ có thể nhìn vào sơ đồ tìm ra một địa chỉ nào đó mà không gặp khó khăn nào hoặc để chỉ đường đi đến một nơi nào đó trẻ chỉ cần vẽ một vạch chủ yếu, tức là trẻ nắm được kĩ năng sơ đồ hóa (Nguyễn Ánh Tuyết, 1997)

Tưởng tượng của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

- Tưởng tượng của trẻ phong phú, linh hoạt, biểu hiện ở khía cạnh trẻ tự tạo ra

đồ chơi, tự nghĩ thêm nhân vật cho trò chơi

- Tưởng tượng có chủ định phát triển, thể hiện rõ ràng ở các hoạt động vui chơi khi trẻ biết hình dung mục đích và cách thức hành động khi chơi

- Tưởng tưởng của trẻ tách khỏi hoạt động thực tiễn, cùng với tư duy để giải quyết vấn đề

- Hình ảnh tưởng tượng đầy đủ, chính xác phản ánh gần gũi với hiện thực hơn

- Tưởng tượng của trẻ mang tính hiện thực hơn, biết phân biệt giữa hiện thực

và điều trẻ tưởng tượng

- Tuy nhiên một số trẻ vẫn tưởng tượng có xu hướng bay bổng, dễ xa rời thực

tế

- Tưởng tượng của trẻ gắn liền với ngôn ngữ Nhờ ngôn ngữ mà trẻ hình dung những gì trẻ không nhìn thấy được, ngôn ngữ càng phát triển thì năng lực tưởng tượng của trẻ càng trở nên phong phú hơn

- Tưởng tượng của trẻ còn gắn chặt với tư duy, gắn chặt với hứng thú của trẻ

- Tưởng tượng sáng tạo của trẻ được hình thành và phát triển trong các dạng hoạt động của trẻ (Huỳnh Văn Sơn, 2013)

Tình cảm của trẻ 5-6 tuổi

- Tình cảm trí tuệ: Ở lứa tuổi này trẻ xuất hiện tình cảm bạn bè, tuy nhiên tình cảm này chưa ổn định nhưng trẻ đã biết quan tâm đến bạn bè trong nhóm; trẻ biết so sánh mình với các bạn; trẻ rất quan tâm đến em nhỏ, tỏ thiện chí, muốn chăm sóc để thể hiện vai trò của một người lớn Tình cảm của trẻ dễ dàng được chuyển vào các nhân vật trong truyện cổ tích hoặc chuyện kể Trẻ thâm nhập vào câu chuyện, trải nghiệm cảm xúc cùng nhân vật Trẻ còn biểu lộ tình cảm đối với thế giới động vật, cỏ cây, hoa lá

- Tình cảm thẩm mĩ: Trẻ 5-6 tuổi dễ rung cảm, khá nhạy bén với những cái đẹp trong thế giới xung quanh, đó là những cảm xúc tích cực khi trẻ tiếp xúc trực tiếp với cái đẹp khiến trẻ thấy thiết tha với con người và cảnh vật xung quanh, kích thích trẻ làm những điều tốt lành (Huỳnh Văn Sơn, 2013)

2.1.8 Bước ngoặt 6 tuổi

- Trong quá trình phát triển của trẻ em trong xã hội hiện đại, các nhà tâm lý học coi thời điểm lúc trẻ tròn 6 tuổi là bước ngoặt quan trọng Phía bên này là một

Trang 29

đứa trẻ bé nhỏ đang phát triển để hoàn thiện các cấu trúc tâm lý của con người, với hoạt động chủ đạo là vui chơi mà chưa thể thực hiện bất kì một nghĩa vụ nào của xã hội Còn phía bên kia là một học sinh đang thực hiện một nghĩa vụ xã hội trao cho, bằng hoạt động học tập nghiêm túc Đứng về phía mặt phát triển tư duy thì bên này cột mốc đứa trẻ mới chỉ có biểu tượng về sự vật, sang phía bên kia nó đang trở thành những khái niệm khoa học về sự vật (Nguyễn Ánh Tuyết, 2004)

- Theo J.Piaget, phía bên này là cột mốc là thời kì tiền thao tác, sang bên kia là thời kì thao tác, có nghĩa trẻ có thể sử dụng thao tác đảo ngược để tiến hành tư duy trừu tượng

- Bước vào trường phổ thông, là một bước ngoặt trong đời sống của đứa trẻ

Đó là sự chuyển qua một lối sống mới những điều kiện hoạt động mới, chuyển qua một địa vị mới trong xã hội, chuyển qua những quan hệ mới với người lớn và bạn bè cùng tuổi

- Tuổi mẫu giáo lớn là thời kì trẻ chuyển sang bước ngoặt với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo Hoạt động vui chơi vốn giữ vai trò chủ đạo trong suốt thời kì mẫu giáo, nay những yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh để tiến tới giữ vị trí chủ đạo ở giai đoạn sau bước ngoặt 6 tuổi Đó là một bước ngoặt hạnh phúc, 6 tuổi trẻ

em sẽ đến với thầy với bạn, đến với nền văn minh nhà trường hiện đại để sống trong một môi trường mới (Hồ Ngọc Đại, 1992)

- Qua trò chơi, từng tí một, trẻ chuyển những quan hệ xã hội khách quan vào trong nhân cách mình, tạo ra đời sống nội tâm bằng sự trải nghiệm Kết quả là tạo ra một cách nhìn nhận bản thân mình: Sự hình thành ý thức cá nhân Nhờ đó trẻ nhận ra

vị trí nhỏ bé của mình trong đời sống của xã hội (người lớn) mình còn chưa biết gì

Sự đánh giá này là một bước tiến về chất trong quá trình phát triển tâm lý, tạo ra cuộc khủng hoảng mới lúc 6-7 tuổi (Hồ Ngọc Đại,1992) Những câu hỏi về thế giới xung quanh cứ dồn dập nảy sinh mà trẻ không thể tìm được câu trả lời đích thực trong các trò chơi Do đó hoạt động vui chơi dần dần mất đi ý nghĩa chủ đạo và hơn nữa trong nhiều công trình nghiên cứu, người ta đã xác định rằng ở trẻ 6 tuổi có sự phát triển mạnh mẽ về hình thái và chức năng của não Trọng lượng não bộ của trẻ 6 tuổi đã đạt tới 90% trọng lượng não của người lớn Trình độ tổ chức các vùng khác nhau của não, khả năng tích tụ máu ở não của trẻ em 6 tuổi đã đủ chín muồi để có thể lĩnh hội

và xử lý lượng thông tin khá lớn và phúc tạp Đó cũng chính là điều kiện thuận lợi để trẻ em thực hiện một loạt hoạt động mới, tức là hoạt động học tập (Nguyễn Ánh Tuyết, 2004)

- Do đó, bước ngoặt 6 tuổi là một sự kiện quan trọng, khiến các nhà giáo dục cần phải quan tâm, một mặt là để giúp trẻ hoàn thiện những thành tựu phát triển tâm

lý trong suốt thời kì mẫu giáo, mặt khác là tích cực chuẩn bị cho trẻ có đủ điều kiện

để làm quen dần với hoạt động học tập và cuộc sống ở trường phổ thông

2.2 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Trang 30

Trong cuốn “Tâm lí học mẫu giáo” V.X.Mukhina do Nguyễn Ánh Tuyết dịch, đã nói tới vai trò của khả năng định hướng trong không gian với việc học tập của đứa trẻ Tác giả cho rằng trẻ sắp bước vào trường phổ thông cần phải biết tri giác không gian và mối quan hệ không gian khá đầy đủ, chính xác và tỉ

mỉ, vì việc học tập ở lớp 1 chủ yếu dựa trên những tài liệu khác nhau dưới sự chỉ đạo của giáo viên Trong quá trình học tập, trẻ phải tách biệt thuộc tính bản chất của sự vật Việc định hướng chính xác trong không gian và thời gian có ý nghĩa rất quan trọng Ngay từ ngày đầu bước chân tới trường, đứa trẻ đã nhận được những lời chỉ dẫn mà em không thể thực hiện được nếu không tính toán đến các dấu hiệu không gian của đối tượng, nếu không có những hiểu biết về phương hướng không gian

Ngoài ra, nhà tâm lí học Binaka Zazzo (1999) đã chỉ ra rằng: trẻ 5- 6 tuổi trước khi bước vào trường tiểu học gặp rất nhiều trở ngại tâm lí, theo tác giả sự thay đổi môi trường hoạt động một cách triệt để, gọi là chuyển dạng hoạt động chủ đạo Mẫu giáo lấy hoạt động vui chơi làm chủ đạo, vừa học vừa chơi, hoạt động đa dạng, tính tự do tùy hứng cá nhân nặng hơn là tính chỉ đạo của giáo viên Bước sang lớp 1, học tập là hoạt động chủ đạo, học sinh phải học nghiêm chỉnh theo sự chỉ đạo của giáo viên, theo nguyên tắc “lớp học”

Trong cuốn "Tâm lí học trẻ em và ứng dụng" của J Piagiê (2000), để giúp trẻ 5-6 tuổi phát triển tốt ngôn ngữ và tư duy, người lớn cần phải cho trẻ tham gia nhiều hoạt động, trong đó có trò chơi đóng vai và trò chơi học tập và phát triển ngôn ngữ tích cực

Theo nghiên cứu của Carrey và Dollaghan (2000) trẻ 1,5 tuổi mới biết 50

từ đến 5-6 tuổi đã tích lũy được từ 8000 từ đến 14 000 từ Khi có vốn từ thích hợp, trẻ có thể mở rộng nghĩa của ngôn ngữ, tạo ra những từ mới và sáng tạo ra những ẩn dụ Về cơ bản đến 6 tuổi, trẻ hầu hết nắm được các dạng cấu trúc câu đơn và câu phức, nắm được quy tắc ngữ pháp, trật tự các từ trong câu và sử dụng chúng tương đối thành thạo

Ngoài ra, tác giả A.A Liublinxkaia trong cuốn: "Tâm lí trẻ em - tập 1 và tập 2" (2003) do Trương Anh Tuấn và Trần Trọng Thủy dịch, tài liệu đã đề cập đến đặc điểm phát triển sự định hướng trong không gian của trẻ em lứa tuổi mầm non Tác giả đã vạch ra những đặc điểm phát triển biểu tượng về các hướng không gian và sự định hướng không gian của trẻ ở các độ tuổi khác nhau Tác giả khẳng định, ở giai đoạn đầu của lứa tuổi mẫu giáo trẻ định hướng được trong không gian trên cơ sở hệ thống cảm giác quy chiếu tức là trên chính cơ thể trẻ Định hướng “trên chính mình” là nguồn gốc để trẻ nhỏ định hướng vị trí các vật khác so với trẻ Định hướng trong không gian tốt sẽ giúp trẻ học tốt các môn

tự nhiên khi bước vào trường phổ thông

Richard Wallay (2010) với bài viết: "Chương trình giáo dục mầm non của New Zealand" Tác giả cho biết Chương trình giáo dục mầm non của New

Trang 31

Zealand được xây dựng trên nguyên tắc thúc đẩy học sinh học tập và phát triển toàn diện, giáo dục mầm non gắn kết tích cực với việc tăng tính chuẩn bị cho việc học lớp 1, giảm tình trạng học lại và giảm nguy cơ phải học lớp đặc biệt Mục tiêu lớn của giáo dục mầm non New Zealand là giúp trẻ tự tin vào bản thân, khỏe mạnh về thể chất và tâm hồn, có khả năng giao tiếp và tôn trọng tri thức Trẻ mầm non ở New Zealand có những kỹ năng học như: được tự tìm điều mình quan tâm; biết chuyên tâm vào công việc của mình; biết đối mặt với khó khăn và tìm cách giải quyết ở mức độ nhất định; trẻ cần học cách thể hiện ý tưởng và chịu trách nhiệm với ý tưởng của mình

Minoura Yasuko (2012), trong bài viết: "Vài nét về giáo dục mầm non Nhật Bản", tác giả đã chỉ ra các đặc trưng của chương trình giáo dục mầm non ở Nhật Bản, như: giáo viên mầm non ở Nhật tham gia trực tiếp vào giáo dục trẻ,

họ có quyền tự quyết rất lớn về cách dạy và nội dung dạy, họ hoàn toàn không phụ thuộc vào một chương trình được áp đặt từ trên xuống Mục đích giáo dục mầm non lấy hoạt động chơi làm trung tâm, theo các chuyên gia hoạt động tự nhiên của trẻ - hoạt động chơi của chúng sẽ giúp cung cấp những hiểu biết cần thiết cho sự tăng trưởng cân đối của thể chất và trí tuệ, cụ thể là chơi tự do nghĩa

là trẻ được hoàn toàn tự do chọn lựa cái mình làm; trẻ không phải chọn các hoạt động do giáo viên thiết kế

Victor Seah (2012) với bài viết "Phương pháp giáo dục Montessori dành cho trẻ mầm non" Phương pháp giáo dục Montessori là phương pháp lấy đứa trẻ làm trung tâm dựa trên nền tảng tự do, cho phép trẻ được tự tiếp xúc, ứng xử, khám phá môi trường một cách tự nhiên với môi trường xung quanh Mục đích chính của phương pháp là: Tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nhân cách đặc biệt của trẻ, giúp trẻ thích ứng tốt về mặt xã hội và tình cảm, phát triển tốt

về mặt thể lực, trở thành những đứa trẻ vui tươi, hạnh phúc; tạo đà cho việc học tập của trẻ, đồng thời giúp trẻ phát huy hết khả năng, trí tuệ của mình

Sheldon Shaeffer (2013) cho rằng: “Giáo dục mầm non thúc đẩy sự phát triển tình cảm cũng như các kỹ năng về ngôn ngữ, nhận thức và thể chất của trẻ, chính những kỹ năng mà đứa trẻ tiếp thu được qua các chương trình chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho hoạt động học tập sau này của trẻ, bởi vì đây là giai đoạn phát triển đặc biệt quan trọng của bộ não trẻ"

Giáo dục mẫu giáo ở Singapore được cung cấp bởi các trung tâm nhà trẻ hoặc các trung tâm chăm sóc trẻ em bao gồm các chương trình 3 năm cho trẻ em tuổi từ 3 đến 6 tuổi Được Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp phép, các nhà trẻ tại Singapore được hoạt động bởi các tổ chức cộng đồng, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức kinh tế xã hội Hầu hết các nhà trẻ hoạt động 2 buổi một ngày, mỗi buổi từ 2,5 đến 4 giờ, 5 ngày một tuần Chương trình bao gồm các chương trình tiếng Anh và một ngôn ngữ thứ hai, ngoại trừ những trường quốc tế và hệ thống giáo dục nước ngoài (Singaporeedu.gov.sg, 2014)

Trang 32

2.2.2 Các nghiên cứu trong nước

Lê Thị Đức (1994) với nghiên cứu: "Nghiên cứu ảnh hưởng của giáo dục mầm non đối với sự chuẩn bị cho trẻ đi học lớp 1", đề tài đã điều tra trẻ có tham gia học lớp mẫu giáo và trẻ không tham gia lớp mẫu giáo với các chỉ số: Sự hiểu biết của trẻ về bản thân, gia đình, môi trường xung quanh; sự phát triển tư duy, trí nhớ, ngôn ngữ của trẻ; sự thích ứng của trẻ trong môi trường mới

Nguyễn Thị Hồng Nga (1996) với nghiên cứu: "Góp phần hoàn thiện bộ trắc nghiệm đo lường mức độ sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi vào lớp 1" Trắc nghiệm sẵn sàng đi học xây dựng chủ yếu dựa vào các trắc nghiệm nước ngoài: Test Tanak - Binet, Test Git, Test Reversal, Test đến tuổi đi học

Nguyễn Thị Mến (2001) với nghiên cứu: "Sự chín muồi đến trường và thích nghi học đường của học sinh lớp 1" Nghiên cứu đề cập đến: sự chín muồi đến trường của trẻ 6 tuổi chuẩn bị bước vào lớp 1, cần chuẩn bị trước những gì cho các em đến tuổi đi học phụ huynh phải làm gì để giúp trẻ thích nghi với việc học khi vào lớp 1

Trong cuốn "Tâm lí trẻ em lứa tuổi mầm non" của Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2004), tác giả cho rằng: Trẻ ở độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi "mầm non" - tức là lứa tuổi trước khi đến trường tiểu học

Ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm lý đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây, đặc biệt là trong độ tuổi mẫu giáo nhỡ vẫn tiếp tục phát triển mạnh Đặc biệt là sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày Ở trẻ bắt đầu xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới - tư duy trực quan

sơ đồ và những yếu tố của kiểu tư duy lôgic Tác giả cũng đã đề cập đến bước ngoặt 6 tuổi, là bước vào trường tiểu học, là một bước ngoặt trong đời sống của đứa trẻ, khiến nhà giáo cần phải quan tâm, một mặt là để giúp trẻ hoàn thiện những thành tựu phát triển tâm lý trong suốt thời kì mẫu giáo, mặt khác là tích cực chuẩn bị cho trẻ có đủ điều kiện để làm quen dần với hoạt động học tập và cuộc sống ở trường phổ thông

Nguyễn Ngọc Trâm (2005) với công trình: "Nghiên cứu mức độ chín muồi nhập học lớp 1 tiểu học ở trẻ 5 tuổi", kết quả nghiên cứu cho thấy: Trình độ phát triển trí tuệ của trẻ 5 tuổi hiện nay có biểu hiện cao hơn so với trẻ cùng tuổi 10 năm trước đây, nhưng nhìn chung trẻ mẫu giáo 5 tuổi có mức độ chín muồi đi học vẫn còn thấp Trẻ mẫu giáo 5 tuổi ở khu vực thành phố có mức độ chín muồi

đi học cao hơn so với khu vực miền núi, nông thôn

Thủ tướng Chính phủ (2006) đã phê duyệt phát triển đề án: "Phát triển giáo dục Mầm non giai đoạn 2006 -2015" Mục tiêu chung của đề án là: Phát triển giáo dục mầm non nhằm tạo bước chuyển biến cơ bản, vững chắc và toàn diện, nâng cao chất lượng nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ; củng cố, mở rộng mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, đặc biệt chú trọng đối với vùng đồng bào dân tộc, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng sâu,

Trang 33

vùng xa, vùng biên giới, hải đảo; đa dạng hoá các phương thức chăm sóc, giáo dục; bảo đảm chế độ, chính sách cho giáo viên mầm non theo quy định Phấn đấu đến năm 2010 hầu hết trẻ em đều được chăm sóc, giáo dục bằng những hình thức thích hợp, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng Mục tiêu cụ thể, trong đó có mục tiêu liên quan đến trẻ mẫu giáo 5 tuổi: Củng cố, mở rộng mạng lưới trường, lớp, nâng tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ, nhóm trẻ từ 15% năm 2005 lên 20% năm 2010 và đạt 30% năm 2015; trẻ từ 3 đến 5 tuổi đến lớp mẫu giáo đạt 58% năm 2005 lên 67% năm 2010 và đạt 75% năm 2015; trẻ 5 tuổi đến lớp mẫu giáo đạt 92% năm 2005 lên 95% năm 2010 và 99% năm 2015

Trong cuốn "Giáo trình giáo dục học mầm non tập 2" của Nguyễn Thị Thường và Nguyễn Thị Ngọc Lan (2007), tác giả đã đề cập đến công tác chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông, trong đó bao gồm các nội dung chuẩn bị như: Hình thành ở trẻ lòng mong muốn đến trường, phát triển ngôn ngữ cho trẻ giúp trẻ biết sử dụng tiếng mẹ đẻ, cung cấp cho trẻ những hiểu biết nhất định về môi trường gần gũi xung quanh, dạy trẻ biết định hướng trong không gian và trong thời gian, tổ chức cho trẻ hoạt động trí tuệ

Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2007) với bài viết: "Phát huy tác dụng của nhà trường mầm non vào đời sống cộng đồng trong quá trình xã hội hóa giáo dục" đề cập đến thực trạng xã hội hóa giáo dục mầm non và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tác dụng của nhà trường mầm non vào đời sống cộng đồng

Trần Nguyễn Huyền Trân (2008), với bài viết: "Ứng dụng chương trình NIE vào hoạt động làm quen chữ viết cho trẻ 5-6 tuổi" (NIE là tên gọi của một chương trình giáo dục ứng dụng, được hiểu là ứng dụng báo chí vào thực tiễn hoạt động giáo dục) Tác giả đã giới thiệu phương pháp ứng dụng NIE vào hoạt động làm quen chữ viết cho trẻ, gồm các nhóm phương pháp như: nhóm phương pháp của giáo viên, nhóm phương pháp thuộc về cha mẹ trẻ; các hình thức tiến hành hoạt động NIE: tìm chữ giống nhau, tô màu và sao chép chữ, làm thẻ chữ cái, làm kim tự tháp từ, tìm chữ to và chữ nhỏ Tác giả cũng nêu một số nguyên tắc khi tiến hành hoạt động NIE, như: giáo viên nên gợi ý câu hỏi để trẻ đề xuất các ý kiến khác nhau, cần giáo dục trẻ tính ngăn nắp, giữ gìn vệ sinh

Trong cuốn "Đánh giá trong giáo dục mầm non" của Đinh Thị Kim Thoa (2008), tác giả đã đề cập đến công cụ đo lường và đánh giá sự phát triển của trẻ Bao gồm: Công cụ đo lường và đánh giá nhận thức của trẻ; Công cụ đánh giá kĩ năng ngôn ngữ nói; Công cụ đánh giá kĩ năng trình diễn; Sản phẩm của trẻ là công cụ đánh giá chính trẻ

Nguyễn Ngọc Tài (2009), với nghiên cứu: "Công tác chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 tại Sóc Trăng: thực trạng và giải pháp", tác giả đã chỉ

ra những thuận lợi và khó khăn trong việc chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 tại Sóc Trăng Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp như: Chú trọng nâng cao cơ sở vật chất cho các trường mẫu giáo, chú trọng đào tạo giáo viên là

Trang 34

người dân tộc Khmer, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về lợi ích của việc chuẩn

bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 cho cộng đồng người dân Khmer, có chính sách miễn giảm học phí cho trẻ em mẫu giáo dân tộc Khmer

Huỳnh Văn Sơn (2010) với nghiên cứu: "Thực trạng nhận thức của phụ huynh học sinh tại thành phố Hồ Chí Minh về sự phát triển trí tuệ xã hội của trẻ

từ 6-11 tuổi", nghiên cứu này đã chỉ ra rằng: Nhận thức của phụ huynh học sinh

về sự phát triển trí tuệ xã hội đạt mức trung bình, theo đánh giá của phụ huynh gia đình có ảnh hưởng nhiều nhất, sau đó đến thầy cô, bạn bè đến các đối tượng khác Tuy nhiên phụ huynh chưa đánh giá đúng vai trò của trẻ đối với sự phát triển trí tuệ xã hội

Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010) với đề án "Đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010 - 2015" Mục tiêu chung của đề án: Bảo đảm hầu hết trẻ em 5 tuổi ở mọi vùng miền được đến lớp để thực hiện chăm sóc, giáo dục 2 buổi/ngày, đủ một năm học, nhằm chuẩn bị tốt về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, tiếng Việt và tâm lý sẵn sàng đi học, bảo đảm chất lượng để trẻ em vào lớp 1 Mục tiêu cụ thể: Củng cố, mở rộng mạng lưới trường, lớp bảo đảm đến năm 2015, có 95% số trẻ em trong độ tuổi 5 tuổi được học 2 buổi/ngày; Nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục đối với các lớp mầm non 5 tuổi, giảm tỷ

lệ trẻ suy dinh dưỡng, phấn đấu đến năm 2015 có 100% trẻ em tại các cơ sở giáo dục mầm non được học Chương trình giáo dục mầm non mới, chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào học lớp 1; Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non, đảm bảo 100% giáo viên dạy mầm non năm tuổi đạt chuẩn trình

độ đào tạo vào năm 2010, phấn đấu đến năm 2015 có 50% giáo viên đạt trình độ

từ cao đẳng sư phạm mầm non trở lên, 80% giáo viên đạt chuẩn nghề nghiệp mức độ khá Đưa số tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

từ 55% năm 2010 lên 85% năm 2012 và 100% năm 2015

Trong cuốn "Hướng dẫn tổ chức thực hiện Chương trình giáo dục mầm non mẫu giáo lớn 5-6 tuổi" của Trần Thị Ngọc Trâm (2010), tác giả đề ra các mục tiêu cần đạt đối các lĩnh vực phát triển, tác giả hướng dẫn cách tổ chức chế

độ sinh hoạt và các hoạt động học tập dành cho trẻ 5-6 tuổi

Đinh Thị Tứ (2010), với bài viết: "Nhận thức của giáo viên mầm non về nội dung cần chuẩn bị biểu tượng số cho trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi vào học toán lớp 1" Tác giả đề cập đến thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về nội dung cần chuẩn bị biểu tượng số cho trẻ Mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) vào học toán ở lớp 1 Kết quả khảo sát cho thấy: Đa số giáo viên mầm non nhận thức sai về nội dung cần chuẩn bị biểu tượng số cho trẻ vào học toán ở lớp 1 Theo giáo viên, để chuẩn

bị biểu tượng số cho trẻ vào lớp 1 cần quan tâm nhiều đến việc cho trẻ thao tác trên đồ vật và quan tâm đến việc luyện cho trẻ thực hiện các phép tính cộng và trừ đơn giản để trẻ chủ động ngay từ những ngày đầu vào lớp 1

Trang 35

Đinh Thị Tứ và Triệu Bá Đạt (2011), với nghiên cứu: "Thực trạng chuẩn

bị biểu tượng số cho trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) vào học toán ở lớp 1 của một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh" Kết quả nghiên cứu cho thấy: Giáo viên mầm non chưa chuẩn bị tốt biểu tượng số cho trẻ vào học toán ở lớp 1, biểu tượng số đã được hình thành trong đầu trẻ, tuy nhiên biểu tượng này còn ở mức độ thấp và chưa được khái quát

Trong cuốn "Chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông", của Huỳnh Văn Sơn (2013) đã đề cập đến các khía cạnh như: Tầm quan trọng và những quan điểm chưa đúng của việc chuẩn bị cho trẻ đến trường tiểu học, đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo Tác giả cho rằng cần chuẩn bị cho trẻ trước khi vào lớp 1 với những nội dung sau: Chuẩn bị tâm thế: nuôi dưỡng hứng thú lâu bền cho trẻ; kích thích lòng mong muốn được đi học; tổ chức tốt cho trẻ hoạt động trí tuệ; dạy trẻ biết điều khiển chú ý của mình, phát triển hoạt động nhận cảm; phát triển tư duy: Định hướng tư duy trực quan hình tượng, các loại tư duy và thao tác tư duy ở trẻ 5 tuổi; định hướng vào môi trường xung quanh: Không gian, thời gian, hiểu biết về môi trường gần gũi xung quanh, định hướng vào xã hội; phát triển ngôn ngữ

Trong nghiên cứu: "Nâng cao việc phát triển tư duy cho trẻ 5-6 tuổi qua việc giúp trẻ làm quen truyện cổ tích ở trường mầm non thị trấn Yên Thịnh - Ninh Bình" của An Thị Tâm (2013), đã chỉ ra: Việc giúp trẻ kể chuyện cổ tích là rất quan trọng đối với việc phát triển tư duy và hình thành nhân cách ở trẻ Tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp như: Giúp trẻ làm quen chuyện cổ tích bằng sử dụng phương pháp đàm thoại, giúp trẻ tiếp nhận truyện cổ tích bằng phương pháp trực quan, trao đổi, gợi mở

Lê Thu Hương (2013) với bài viết: "Những điểm mới của Chương trình giáo dục Mầm non" đã chỉ ra những điểm mới của Chương trình giáo dục Mầm non theo hướng tích hợp được xây dựng với đầy đủ các thành tố từ mục tiêu, nội dung, phương pháp các hoạt động giáo dục nội dung đánh giá và các điều kiện thực hiện chương trình

Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013) "Chương trình Giáo dục mầm non" Nội dung của chương trình đã đề cập đến: Chương trình giáo dục nhà trẻ: nhằm giúp trẻ từ 3 tháng tuổi đến 3 tuổi phát triển hài hòa về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mĩ; chương trình giáo dục mẫu giáo: nhằm giúp trẻ từ 3 đến 6 tuổi phát triển hài hòa về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mĩ, chuẩn bị cho trẻ vào học ở tiểu học

Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014) với công văn: "Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Mầm non năm học 2014 - 2015", có nội dung liên quan đến trẻ 5 tuổi như: Ưu tiên nguồn lực, tập trung thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi; Nâng cao chất lượng thực hiện Chương trình Giáo dục

Trang 36

mầm non, đẩy mạnh đổi mới hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; Tập trung phát triển đội ngũ, cán bộ quản lý, giáo viên mầm non đáp ứng nhu cầu chăm sóc, giáo dục trẻ và yêu cầu thực hiện Chương trình Giáo dục mầm non

UNICEF (2014) với "Chương trình để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non ở Việt Nam", đề cập đến "Giai đoạn vàng" để phát triển, cụ thể: Giáo dục mầm non tập trung vào tầm quan trọng của giáo dục trong những năm đầu đời của trẻ, là “giai đoạn vàng để phát triển”, thiết lập nền tảng về thể chất, nhận thức, tình cảm và xã hội, ngôn ngữ - những nền tảng quan trọng giúp trẻ phát triển hết tiềm năng của mình trong tương lai Giáo dục mầm non hỗ trợ trẻ em phát triển toàn diện, thúc đẩy động lực và khả năng học tập ở những giai đoạn khác nhau của trẻ, trong đó có giai đoạn vỡ lòng và những năm đầu tiểu học 2.2.3 Các nghiên cứu tỉnh An Giang

Phan Thái Bích Thủy (2007), với nghiên cứu: "Thực trạng dạy học tiếng Việt cho học sinh Khmer bậc tiểu học huyện Tri Tôn tỉnh An Giang" Tác giả đã

mô tả được thực trạng và nhu cầu dạy - học tiếng Việt của học sinh dân tộc Khmer ở huyện Tri Tôn; và đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy - học tiếng Việt cho học sinh dân tộc Khmer huyện Tri Tôn

Phan Thái Bích Thủy (2008), với nghiên cứu: "Cải tiến phương pháp dạy học vần cho học sinh lớp 1 dân tộc Khmer huyện Tri Tôn tỉnh An Giang", tác giả ứng dụng phương pháp hợp tác nhóm và trò chơi học tập vào cải tiến phương pháp dạy học vần cho học sinh lớp 1 dân tộc Khmer huyện Tri Tôn Tác giả cũng kiến nghị để áp dụng phương pháp hợp tác nhóm và trò chơi học tập đạt hiệu quả cao giáo viên cần đảm bảo một số yêu cầu sau: Lựa chọn trò chơi phù hợp với nội dung bài dạy, sắp xếp chổ ngồi cho phù hợp, giáo viên cần phải hướng dẫn rõ ràng

Trần Thị Huyền (2008), với nghiên cứu: "Bồi dưỡng kỹ năng đọc và viết cho học sinh chậm biết đọc, biết viết tiếng Việt ở huyện Tri Tôn tỉnh An Giang sau khi hoàn thành chương trình lớp 1", tác giả đã khảo sát thực trạng về vấn đề chậm biết đọc, biết viết của học sinh dân tộc Khmer ở huyện Tri Tôn sau khi đã hoàn thành chương trình lớp 1 theo 4 mức:

Mức 1: Chưa nhận biết hết các chữ trong bảng chữ cái tổng hợp

Mức 2: Biết đọc và viết vài âm tiết đơn giản

Mức 3: Biết đọc, ghép và viết các âm từ 2 âm trở lên

Mức 4: Đọc trơn từ có cấu tạo từ 2 âm tiết trở lên

Sau khi thu thập được mức độ đạt được của học sinh chậm biết đọc, biết viết theo từng mức, tác giả thử nghiệm bồi dưỡng kỹ năng đọc viết tiếng Việt theo lý thuyết của P Ia Galpêrin

Trang 37

La Hồng Huy, Phan Thái Bích Thủy (2009), với dự án: Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em dân tộc Khmer trong Phum Sóc với sự hỗ trợ của sinh viên dân tộc Khmer Dự án hướng tới đối tượng chính là những trẻ em dân tộc Khmer ở lứa tuổi từ 4 đến 14 tuổi Dự án nhằm giúp các em hình thành các kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Việt với sự hỗ trợ của sinh viên dân tộc Khmer

Như vậy, tính đến thời điểm hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về công tác chuẩn bị cho trẻ em dâ tộc Khmer vào lớp 1 tại huyện Tịnh Biên và Tri Tôn tỉnh An Giang

2.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1) Giáo viên đã chuẩn bị được những nội dung nào cho trẻ em dân tộc Khmer ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn vào lớp 1? Kết quả của quá trình chuẩn bị đó ra sao? 2) Phụ huynh đã chuẩn bị được những nội dung nào cho trẻ em dân tộc Khmer ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn trước khi vào lớp 1?

3) Chính quyền địa phương đã tham gia vào công tác chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn trước khi vào lớp 1 như thế nào?

4) Trẻ em dân tộc Khmer ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn có đáp ứng được một số chỉ số thuộc bộ chuẩn phát triển dành cho trẻ 5 tuổi của Bộ Giáo dục và Đào tạo không?

Trang 38

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 MẪU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này lấy mẫu thuận tiện bao gồm:

Bảng 1: Mẫu nghiên cứu ở Tri Tôn và Tịnh Biên

Chính quyền địa phương

04

Tổng: 332 3.1.1 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

3.1.1.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá và khái quát hoá những luận điểm cũng như những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài

3.1.1.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra

a Mục đích: Tìm hiểu thực trạng việc chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn trước khi vào lớp 1

b Nội dung: Khảo sát bằng bảng hỏi đối với giáo viên, phụ huynh về công tác chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer ở một số trường mẫu giáo và phiếu đánh giá mức độ đạt được của trẻ em dân tộc Khmer từ 5-6 tuổi ở các trường Mẫu giáo Châu Lăng, Mẫu giáo Ô Lâm, Mẫu giáo Văn Giáo, Mẫu giáo Vĩnh Trung so với chuẩn dành cho trẻ 5-6 tuổi của

Bộ Giáo dục và Đào tạo

(+ Lĩnh vực phát triển thể chất

+ Lĩnh vực phát triển ngôn ngữ và giao tiếp

+ Lĩnh vực phát triển nhận thức

+ Lĩnh vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội)

Khảo sát giáo viên trực tiếp giảng dạy ở các lớp lá ở các trường Mẫu giáo Châu Lăng, Mẫu giáo Ô Lâm, Mẫu giáo Văn Giáo, Mẫu giáo Vĩnh Trung

Trang 39

Khảo sát giáo viên bằng bảng hỏi nhằm thu thập những thông tin liên quan đến việc chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer trước khi vào lớp 1 ở huyện Tịnh Biên

và Tri Tôn

Khảo sát phụ huynh của trẻ em dân tộc Khmer trước khi vào lớp 1 ở huyện Tịnh Biên, Tri Tôn về các nội dung liên quan đến công tác chuẩn bị cho trẻ trước khi vào lớp 1

c Đối tượng điều tra: 200 trẻ em dân tộc Khmer, 40 giáo viên, 80 phụ huynh thuộc 4 trường chọn nghiên cứu

d Cách thức thực hiện:

Bước 1: Nhóm nghiên cứu đi tiền trạm, thống nhất ngày, giờ điều tra giáo viên, phụ huynh và trẻ

Bước 2: Tiến hành điều tra:

Đối với giáo viên: Nhóm nghiên cứu hướng dẫn cho giáo viên cách thức đánh vào phiếu điều tra, sau đó phát ra cho giáo viên trả lời trong thời gian 15 - 20 phút thu lại

Đối với phụ huynh: Nhóm nghiên cứu cùng với sự hỗ trợ của giáo viên (dân tộc Khmer) trong trường (phiên dich), đối với những phụ huynh biết tiếng Việt nhóm nghiên cứu sẽ trao đổi trực tiếp từng câu, phụ huynh trả lời rồi đánh vào, riêng những phụ huynh hạn chế về tiếng Việt nhờ giáo viên trong trường phiên dịch Đối với trẻ: Nhóm nghiên cứu cùng với giáo viên của trường và một số sinh viên dân tộc Khmer sẽ điều tra trực tiếp từng trẻ

Phương pháp phỏng vấn

a Mục đích: Thu thập các thông tin về đặc điểm khách thể nghiên cứu

b Nội dung: Trao đổi các vấn đề như: Đặc điểm tâm lý, mức độ đạt được các chỉ

3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này sẽ được tiến hành theo trình tự như sau:

Trang 40

- Tiến hành quan sát các điều kiện về các nguồn lực như con người và cơ sở vật chất phục vụ cho việc giáo dục mầm non ở địa bàn chọn nghiên cứu

- Phỏng vấn sâu Ban Giám hiệu nhằm thu thập các thông tin liên quan đến các vấn đề như: những khó khăn trong việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là người dân tộc Khmer ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn

- Phát phiếu điều tra cho giáo viên mẫu giáo nhằm thu thập những thông tin liên quan đến việc chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn vào lớp 1

- Điều tra trẻ em 5-6 tuổi dân tộc Khmer ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn về mức

3.3 CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU

Dựa vào Chương trình giáo dục mầm non thiết kế bảng hỏi nhằm điều tra

về mức độ đạt được các chỉ số của trẻ em dân tộc Khmer ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn cụ thể:

Phiếu hỏi dành cho giáo viên (Phụ lục 2)

Phiếu hỏi dành cho cha mẹ trẻ (phụ lục 3)

Bảng câu hỏi phỏng vấn dành cho Ban Giám hiệu (phụ lục 4)

Bảng câu hỏi phỏng vấn dành cho chính quyền địa phương (phụ lục 5) Nội dung chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi (phụ lục 6)

3.4 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU

Để đánh giá được mức độ đạt các chỉ số phát triển của trẻ em dân tộc Khmer ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn trước khi vào lớp 1, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành làm quen và tham gia tổ chức một số trò chơi liên quan đến việc hoạt động học của các em Nhóm nghiên cứu sẽ thực hiện các bài tập nhằm đo lường

về các lĩnh vực như: Phát triển thể chất; phát triển ngôn ngữ và giao tiếp; phát triển nhận thức; phát triển tình cảm và quan hệ xã hội Đồng thời tiến hành phát phiếu điều tra, phỏng vấn các đối tượng như: Ban Giám hiệu, giáo viên, phụ huynh để thu thập những thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Ngày đăng: 08/03/2021, 16:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm