1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát hiệu quả của 5 loại dung dịch dinh dưỡng lên sự phát triển của cây xà lách và cải xanh trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu

74 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 2,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA 5 LOẠI DUNG DỊCH DINH DƯỠNG LÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY XÀ LÁCH VÀ CẢI XANH TRONG ĐIỀU KIỆN THỦY C

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA 5 LOẠI DUNG DỊCH DINH DƯỠNG LÊN SỰ PHÁT TRIỂN

CỦA CÂY XÀ LÁCH VÀ CẢI XANH

TRONG ĐIỀU KIỆN THỦY CANH THEO HỆ THỐNG KHÔNG HOÀN LƯU

VÕ HOÀNG ÂN

An Giang, Tháng 5 năm 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA 5 LOẠI DUNG DỊCH DINH DƯỠNG LÊN SỰ PHÁT TRIỂN

CỦA CÂY XÀ LÁCH VÀ CẢI XANH

TRONG ĐIỀU KIỆN THỦY CANH THEO HỆ THỐNG KHÔNG HOÀN LƯU

VÕ HOÀNG ÂN

MÃ SỐ SV: DSH104458

GVHD: Ths DIỆP NHỰT THANH HẰNG

An Giang, Tháng 5 năm 2015

Trang 3

Đề tài nghiên cứu khoa học “Khảo sát hiệu quả của 5 loại dung dịch dinh dưỡng lên sự phát triển của cây xà lách và cải xanh trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu” do sinh viên thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ths Diệp Nhựt Thanh Hằng Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo khoa Nông nghiệp – TNTN, Trường Đại học An Giang thông qua ngày

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian kể từ khi học tập ở giảng đường đại học đến nay, em nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè

Với lòng biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Nông Nghiệp – Tài Nguyên Thiên Nhiên, trường Đại hoc An Giang đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình đã truyền đạt vốn kiến thức quý báo cho em trong suốt thời gian học đại học Và đặc biệt trong là tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học

Em xin chân thành cảm ơn cô Diệp Nhựt Thanh Hằng đã tận tâm hướng dẫn

em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài

Lần đầu bước vào nghiên cứu khoa học, kiến thức của em còn nhiều hạn chế

và nhiều bỡ ngỡ Do vậy, em không tránh khỏi những sai sót Em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng gớp quý báo của quý thầy cô!

Trang 6

TÓM TẮT

Rau nói chung, cải xà lách và cải xanh nói riêng cung cấp nhiều vitamin A, vitamin C,… và các chất khoáng cần thiết cho con người Hiện nay, chất lượng rau bị giảm sút do dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và vi sinh vật gây hại trong rau quá cao, vượt nhiều hơn rất nhiều so với quy định cho phép Một trong những biện pháp hữu hiệu trồng rau sạch là trồng rau bằng phương pháp thủy canh Để

có thể sử dụng dung dịch dinh dưỡng thủy canh hiệu quả nhất, bài viết này giới thiệu hiệu quả khảo nghiệm của một số dung dịch dinh dưỡng như: Yogen TC24, Yogen TC28, Hydro Greens, TC-MoBi và đối chứng (tự pha) lên năng suất của cây cải xà lách và cải xanh Kết quả thử nghiệm cho thấy dung dịch dinh dưỡng Yogen TC28 thích hợp nhất cho cây xà lách và cải xanh sinh trưởng, phát triển và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Kết quả thử nghiệm là cơ sở cho việc lựa chọn dung dịch thủy canh phù hợp phù hợp cho trồng rau thủy canh trên cây xà lách và cải xanh tại thành phố Long Xuyên, An Giang

SUMMARY

Vegetables in general, lettuce and broccoli in particular provide vitamin A, vitamin C, and minerals necessary for human beings Today, the quality of vegetables has decreased due to chemical residues of plant protection and harmful microorganisms in vegetables too high, surpassing even more so than regulations allow One of the effective measures to clean the vegetable growing vegetables using hydroponic methods To be able to use hydroponic nutrient solutions most effectively, this article introduces the testing efficiency of some nutrient solution as: Yogen TC24, TC28 Yogen, Hydro Greens, TC-MoBi and control (self phase)

on the productivity of lettuce and broccoli Test results showed that Yogen TC28 nutrient solution best suited for lettuce and broccoli plants grow, develop and achieve the highest economic efficiency Test results are the basis for the selection of suitable hydroponic solution suitable for growing hydroponic vegetables on lettuce and broccoli plants in Long Xuyen City, An Giang

Trang 7

Mục lục

Chương 1: Giới thiệu 1

1.1 Tính cần thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Nội dung thực hiện 2

1.5 Khả năng triển khai ứng dụng, triển khai kết quả nghiên cứu của đề tài 2

Chương 2: Lược khảo tài liệu 3

2.1 Cơ sở trồng cây trong dung dịch thủy canh 3

2.2 Vai trò của rau xanh 3

2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau xanh 4

2.4 Tình hình nghiên cứu và sản xuất bằng công nghệ thủy canh 5

2.4.1 Trên thế giới 5

2.4.2 Ở Việt Nam 6

2.5 Giới thiệu khái quát về thủy canh 7

2.5.1 Lịch sử của thủy canh 7

2.5.2 Khái niệm về thủy canh 7

2.5.3 Phân loại hệ thống thủy canh 8

2.5.4 Ưu, nhược điểm của thủy canh 9

2.5.4.1 Ưu điểm của thủy canh 9

2.5.4.2 Nhược điểm của thủy canh 9

Chương 3:Vật liệu và phương pháp thí nghiệm 10

3.1.Vật liệu thí nghiệm 10

3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 10

3.2.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát hiệu quả của 5 loại dung dịch dinh dưỡng lên năng suất của cây cải xanh trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu 11 3.2.2 Thí nghiệm 2: Khảo sát hiệu quả của 5 loại dung dịch dinh dưỡng lên năng suất của cây xà lách trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu 11

3.3 Chỉ tiêu theo dõi: 12

3.4.Phương pháp xử lý số liệu 14

Trang 8

Chương IV: Kết quả nghiên cứu 15

4.1 Hiệu quả của 5 chế phẩm dinh dưỡng lên sự sinh trưởng và phát triển của cây xà lách trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu 15

4.4.1 Chiều cao cây xà lách 16

4.1.2 Chiều dài lá của xà lách 17

4.1.3 Chiều rộng lá của cây xà lách 18

4.1.4 Số lá của xà lách 19

4.1.5 Chiều dài rễ, trọng lượng cây, năng suất ròng, trọng lượng lá sâu lá già và năng suất thương phẩm của xà lách 20

4.1.6 pH của dung dịch dinh dưỡng trồng xà lách 23

4.1.7 EC của dung dịch dinh dưỡng trồng xà lách 25

4.2 Hiệu quả của 5 chế phẩm dinh dưỡng lên sự sinh trưởng và phát triển của cải xanh trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu 27

4.2.1 Chiều cao cải xanh 27

4.2.2 Chiều dài lá của cây cải xanh 28

4.2.3 Chiều rộng lá của cải xanh 29

4.2.4 Số lá của cây cải xanh 30

4.2.5 Chiều dài rễ, trọng lượng cây, năng suất ròng, trọng lượng lá sâu lá già và năng suất thương phẩm của cây cải xanh 33

4.2.6 pH của dung dịch dinh dưỡng trồng cải xanh 35

4.2.7 EC của dung dịch dinh dưỡng trồng cải xanh 36

4.3 Hạch toán kinh tế 38

4.3.1 Hạch toán kinh tế xà lách 38

4.3.2 Hạch toán kinh tế cải xanh 38

Chương IV Kết luận va kiến nghị 40

4.1 Kết luận 40

4.2 Kiến nghị 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

PHỤ LỤC 42

Trang 9

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1: Tình hình nghiên cứu công nghệ Thủy canh trên thế giớ

6

Hình 2 Thủy canh không hoàn lưu (A) và thủy canh hoàn lưu (B)……….8

Hình 3 Cây xà lách 8 ngày sau khi gieo đưa vào dung dịch dinh dưỡng 15

Hình 4 Cây xà lách sau 4 ngày khi gieo trực tiếp vào rọ 15

Hình 5 Cây xà lách trước khi trồng vào dung dịch dinh dưỡng 16

Hình 6 Cây xà lách ở 21 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 22

Hình 7 Cây xà lách ở 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 23

Hình 8 Cải xanh 5 ngày sau khi gieo được cấy vào rọ 27

Hình 9 Cây cải xanh ở 14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 31

Hình 10 Cải xanh ở 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 32

Trang 10

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1 Tỷ lệ thành phần các chất trong dung dịch dinh dưỡng cung cấp cho cây cải xanh 11

Bảng 2 Chiều cao (cm) của cây xà lách trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7,

14, 21 và 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 17

Bảng 3 Chiều dài lá (cm) của cây xà lách trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7,

14, 21 và 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 18

Bảng 4 Chiều rộng lá (cm) của xà lách trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7,

14, 21 và 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 19

Bảng 5 Số lá (lá) của xà lách trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7, 14, 21 và 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 20

Bảng 6 Chiều dài rễ (cm), trọng lượng (g/cây), năng suất ròng (kg/m2), trọng lượng lá sâu lá già (g/m2) và năng suất thương phẩm (kg/m2

Bảng 9 Chiều cao (cm) của cải xanh trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7, 14,

21 và 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 28

Bảng 10 Chiều dài lá (cm) của cải xanh trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7,

14, 21 và 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 29

Bảng 11 Chiều rộng lá (cm) của cây cải xanh trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7 và 14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 29

Bảng 12 Số lá của cây cải xanh trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7, 14,21 và

28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 33

Bảng 13 Chiều dài rễ (cm) trọng lượng (g/cây), năng suất tổng (kg/m2), trọng lượng lá sâu lá già (g/m2) và năng suất thương phẩm (kg/m2

) của cây cải xanh 35

Bảng 14 pH của dung dịch dưỡng sau 1, 7, 14, 21 và 28 ngày pha chế phẩm dinh dưỡng 36

Bảng 15 EC (mmhos/lá) của dung dịch dưỡng sau 1, 7, 14, 21 và 28 ngày pha chế phẩm dinh dưỡng 37

Bảng 16 Hiệu quả kinh tế (đồng/m2) của xà lách trồng theo phương pháp thủy canh (Thời điểm tháng 6 năm 2014) 38

Trang 11

Bảng 17 Hiệu quả kinh tế (đồng/m2) của cải xanh trồng theo phương pháp thủy canh. 39

Trang 12

Chương 1:

Giới thiệu 1.1 Tính cần thiết của đề tài

Hiện nay, chúng ta ai cũng hiểu rằng tình hình sản xuất và thương mại rau quả ở nước ta còn rất nhiều điều bất cập về chất lượng sản phẩm Do chạy theo lợi nhuận mà người sản xuất sẵn sàng sử dụng bất cứ loại nông dược nào mà không cần quan tâm đến tính độc hại của nó Thêm vào đó một số người buôn bán, khi thu mua hay nhập khẩu (chủ yếu từ Trung Quốc), cũng bất chấp nguồn gốc và chất lượng rau quả và sau cùng thì người tiêu dùng phải gánh chịu toàn bộ về các sản phẩm không đảm bảo chất lượng

Với tốc độ đô thị hóa như hiện nay thì việc thiếu đất canh tác đang là một vấn đề được đặt ra cho nhiều ngành cũng như các cơ quan chứ

cuộc sống của người dân nơi đô thị ải đối mặt với nhiều thực trạng, trong đó có vấn đề về sử dụng rau sạch cho sinh hoạt hàng ngày củ

ệc sản xuất rau quả an toàn và chất lượng cao bằng công nghệ thủy canh đã được thế giới công nhận và rất phù hợp cho Việ

ản phẩm có tên gọi “rau sạch thủy canh” ra đời không chỉ đáp ứng được nhu cầu cấp thiết về rau sạch hiện nay cho người tiêu dùng, nâng cao sức khỏe cho cộng đồng mà còn cải thiện môi trường sống xung quanh Cụ thể như giảm thiểu việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, giảm hàm lượng khí thải CO2, tăng sinh dưỡng khí O2, nâng cao trình độ sản xuất nông nghiệp…

Khi mật độ dân số ngày càng tăng và diện tích đất trồng trọt đang dần bị thu hẹp thì bài toàn đảm bảo một lượng rau sạch nhất định cho bữa ăn hàng ngày trở nên

vô cùng khó khăn Do vậy, trồng rau sạch bằng kỹ thuật thuỷ canh (trồng cây trong dung dịch) là một trong những giải pháp tối ưu nhất Với phương pháp này rau trồng trên giá thể sạch, không có mầm mống vi sinh vật gây bệnh cho người, rau được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng nên sinh trưởng nhanh, năng suất cao Hơn nữa trồng rau thuỷ canh có thể chủ động thời vụ, kiểm soát được chế độ phân bón và tưới nước không bị động Ngoài ra có một ưu thế vượt trội khác của

kỹ thuật thuỷ canh là việc không cần đất canh tác Ưu điểm này sẽ giải quyết được vấn đề lãng phí phần lớn diện tích các hành lang, sân thượng và ban công của các ngôi nhà cao tầng tại thành phố Từ đây không chỉ tạo ra một nguồn rau xanh đảm bảo an toàn thực phẩm mà còn tạo nên không gian xanh, thoáng mát cho ngôi nhà Đây chính là giải pháp đáp ứng hoàn toàn nhu cầu, sở thích thư giãn bằng việc trồng trọt và tạo một không gian xanh cho gia đình sau những giờ làm việc căng thẳng tại công sở của người dân thành phố Trồng rau thuỷ canh còn tạo ra một công việc nhẹ nhàng, thường xuyên và phù hợp với sức khoẻ, khả năng vận động của người già, nâng cao tình yêu thiên nhiên và ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ nhỏ Công nghệ này có thể tận dụng được những diện tích rất nhỏ

Trang 13

để tạo ra những sản phẩm rau an toàn, có năng suất cao, tạo niềm vui, hứng thú cho người trồng

Cải xanh chứa vitamin A, B, C, K, axit nicotic, catoten, abumin…Cải xanh có công dụng: thanh nhiệt, chữa mụn nhọt, hỗ trợ tiêu hóa táo bón, hỗ trợ bệnh nhân cường giáp, tiểu đường, chữa viêm ruột, gout Trong đông y, tất cả các loại cây màu xanh nào cũng đều có tác dụng thanh nhiệt, riêng rau cải có tác dụng thanh nhiệt gấp đôi Xà lách có chứa nhiều vitamin A, B, C, D, E; các chất khoáng Fe,

Ca, P, I, Mn, Zn, Cu, Na, Cl, K, Co, As, phosphat, sulfat, sterol, caroten Xà lách

có vị ngọt đắng, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, lọc máu, cung cấp chất khoáng, giảm ho, chống đái đường, Xà lách được chỉ định dùng làm thuốc trong các trường hợp thần kinh dễ bị kích thích, suy nhược tâm thần, co giật nội tạng, chứng đau dạ dày, di mộng tinh, thiếu chất khoáng, ho, suyễn, đái đường, bệnh sởi, viêm thận, hành kinh đau bụng, vàng da, táo bón, (Nguyễn Mạnh Chinh, 2011)

Chính vì vậy, đề tài “Khảo sát hiệu quả của 5 loại dung dịch dinh dưỡng lên sự phát triển của cây xà lách và cải xanh trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu” được thực hiện để tìm ra dung dịch dinh dưỡng phù hợp nhất cho cải xanh và xà lách

1.2 Mục tiêu của đề tài

Xác định hiệu quả năng suất của 5 loại dung dịch dinh dưỡng lên năng suất của cây xà lách và cải xanh trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Cây cải xà lách

- Cây cải xanh

1.4 Nội dung thực hiện

- Khảo sát hiệu quả của 5 dung dịch dinh dưỡng lên năng suất của cây xà lách trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu

- Khảo sát hiệu quả của 5 dung dịch dinh dưỡng lên năng suất của cây cải xanh trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu

1.5 Khả năng triển khai ứng dụng, triển khai kết quả nghiên cứu của đề tài

- Thông qua đề tài xác định được loại dung dịch dinh dưỡng phù hợp cho sự phát triển của cây cải xanh và xà lách trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu

- Kết quả đạt được là cơ sở để xây dựng quy trình trồng xà lách và cải xanh trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu

Trang 14

Cùng với nước thì các chất khoáng cũng có vai trò quan trọng đối với hoạt động sống của cây Năm 1938, Sachs và Knop đã phát hiện rằng để cây trồng sinh trưởng và phát triển bình thường thì cần phải có 16 nguyên tố cơ bản là: C, H, O,

N, P, K, Ca, Mg, S, Fe, Cu, Mn, Zn, Mo, Bo, Cl Từ đó các ông đã đề xuất trồng cây trong dung dịch Từ 16 nguyên tố cơ bản kể trên thì 3 nguyên tố H, O, C cây lấy chủ yếu từ khí cacbonic và nước, 13 nguyên tố còn lại cây phải lấy từ đất là chính Như vậy, cơ sở khoa học của thủy canh là dựa vào bản chất sinh trưởng, phát triển phụ thuộc vào một số yếu tố như nước, muối khoáng, ánh sáng, sự lưu thong không khí,… mà không phụ thuộc vào môi trường trồng cây có đất hay không Cho nên, chúng ta có thể trồng cây không dùng đất, chỉ cần đáp ứng đầy

đủ các nhu cầu về dinh dưỡng

2.2 Vai trò của rau xanh

Trong ăn uống hàng ngày, rau tươi có vai trò đặc biệt quan trọng Tuy lượng protid và lipid trong rau tươi không đáng kể, nhưng chúng cung cấp cho cơ thể nhiều chất hoạt tính sinh học, đặc biệt là các muối khoáng có tính kiềm, các vitamin, các chất pectin và axit hữu cơ Ngoài ra trong rau tươi còn có loại đường tan trong nước và chất xenluloza

Một đặc tính sinh lý quan trọng của rau tươi là chúng có khả năng gây thèm ăn và ảnh hưởng tới chức phận tiết của tuyến tiêu hoá Bữa ăn có rau tươi tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiêu hoá và hấp thu các thành phần dinh dưỡng khác

Về thành phần và giá trị dinh dưỡng của rau tươi có khác nhau tuỳ theo từng loại rau Lượng protid trong rau tươi nói chung thấp (dao động từ 0,5 - 1,5%) Hàm lượng trung bình của glucid trong rau tươi khoảng 3 - 4 %, có những loại có tới 6

- 8% Chất xenluloza của rau có vai trò sinh lý lớn vì cấu trúc của nó mịn màng hơn xenluloza của ngũ cốc Trong rau, xenluloza ở dưới dạng liên kết với các chất pectin tạo thành phức hợp pectin-xenluloza có tác dụng kích thích mạnh chức

Trang 15

năng nhu động ruột và tiết dịch của ruột giúp tiêu hoá dễ dàng (Nguồn: http://www.saigonthuycanh.com.vn/VN/news.aspx?subid=6)

Rau tươi là nguồn vitamin và muối khoáng quan trọng Nhu cầu về vitamin và muối khoáng của con người được cung cấp qua bữa ăn hàng ngày qua rau tươi Các chất khoáng trong rau tươi cũng rất quan trọng Trong rau có nhiều chất khoáng có tính kiềm như kali, canxi, magiê Chúng giữ vai trò quan trọng trong

cơ thể và cần thiết để duy trì kiềm toan Trong cơ thể những chất này cho những gốc tự do cần thiết để trung hoà các sản phẩm axít do thức ăn hoặc do quá trình chuyển hoá tạo thành Đặc biệt rau có nhiều kali ở dưới dạng kali cacbonat, muối kali của các axít hữu cơ và nhiều chất khác dễ tan trong nước và dịch tiêu hoá Các muối kali làm giảm khả năng tích chứa nước của protid ở tổ chức, do đó có tác dụng lợi tiểu (Nguồn: Nguyễn Mạnh Chinh, 2011)

Rau còn là nguồn chất sắt quan trọng Sắt trong rau được cơ thể hấp thu tốt hơn sắt ở các hợp chất vô cơ

Tóm lại, rau tươi có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng; bữa ăn hàng ngày của chúng ta không thể thiếu rau Điều quan trọng là phải đảm bảo rau sạch, không có

vi khuẩn gây bệnh và các hoá chất độc nguy hiểm

2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau xanh

Theo ước tính của các nhà dinh dưỡng học, nhu cầu rau xanh trong ngày của một người trung bình 250 – 350 gam (khoảng 7,5 – 10 kg một tháng) Ở nước ta hiện nay sản lượng rau mới chỉ cung cấp cho một người một ngày khoảng 180 – 200 gam (tức khoảng 5,4 – 6 kg một tháng) Ngoài ra yêu cầu phát triển chăn nuôi cũng cần một số lượng rau rất lớn

Theo thống kê năm 2000, diện tích trồng rau cả nước ta khoảng 400.000 ha, năng suất trung bình 13,5 tấn/ ha Sản lượng đạt khoảng 6.000.000 tấn/ năm Như vậy mới đạt mức bình quân khoảng 6,2 kg/ người một tháng (75 kg/năm) Vùng sản xuất rau tập trung ở vùng đồng bằng sông Hồng 30% diện tích và 35% sản lượng

cả nước Đây cũng là vùng rau hàng hóa với nhiều loại rau ôn đới có khả năng xuất khẩu như: cải bắp, xúp lơ, su hào, cà rốt, măng tây, cà chua, hành tây, khoai tây,… Ở các tỉnh phía nam vùng rau tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng và thành phố

Hồ Chí Minh: 9.000 ha theo kế hoạch đến năm 2005, diện tích trồng rau cả nước khoảng 5.000 ha với năng suất trung bình 14 tấn/ ha, đảm bảo nhu cầu rau cho một người một tháng khoảng 8 kg

Trong phạm vi cả nước, sản xuất rau chủ yếu trong vụ Đông Xuân vì có điều kiện thời tiết thích hợp Trong vụ này, thành phần rau phong phú, chất lượng ngon, năng suất cao, do đó giá thành cũng rẻ Các tháng mùa mưa (từ tháng 5 – 10) diện tích rau giảm, chủ yếu là các loại rau nhiệt đới như rau muống, rau dền, bầu bí, dưa leo,…

Đầu tư cho sản xuất rau nói chung cao hơn so với trồng lúa và cây lương thực khác Lao động sử dụng cho trồng rau cao hơn lúa bắp trung bình từ 2 đến 4 lần

Trang 16

chi phí cũng cao hơn nhiều Tuy vậy lợi nhuận trồng rau cũng cao, so với trồng lúa hoặc bắp gấp 3 – 5 lần Mặc dù sản lượng rau chỉ chiếm khoảng 5% tổng sản lượng nông nghiệp nhưng góp phần tăng thu nhập đáng kể cho nông dân Trong tương lai, để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống và sự phát triển của quá trình đô thị hóa, việc đẩy mạnh sản xuất rau càng có vai trò quan trọng (Nguyễn Mạnh Chinh, 2011)

Trên thế giới và Việt Nam, diện tích, năng suất và sản lượng rau xanh liên tục tăng Nhu cầu tiêu thụ rau xanh cũng ngay càng tăng Theo FAO, 2006 nhu cầu tiêu thụ rau, quả trên thế giới tăng 3,6%/năm Ở Việt Nam, 10 năm trở lại đây, nhiều tổ chức và cá nhân đã nghiên cứu, ứng dụng nhiều kỹ thuật sản xuất rau an toàn, kết hợp trồng rau trái vụ tăng hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm cho xuất khẩu và tiêu dùng Trong đó, có nhiều nghiên cứu về kỹ thuật thủy canh Nhiều tỉnh, thành trong cả nước đã xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao như

Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Lâm Đồng…

2.4 Tình hình nghiên cứu và sản xuất bằng công nghệ thủy canh

Năm 1931 người ta công bố phương pháp trồng cây cẩm chướng trong nhà kính

sử dụng cát sạch và các dung dịch dinh dưỡng hòa tan thay cho đất Trong khi đó, Gericke đã dùng dung dịch dinh dưỡng đậm đặc thoáng khí, ấm để trồng thực vật nổi và kỹ thuật này rất thành công tuy ban đầu có khó khăn Gericke xứng đáng với danh hiệu là người sáng tạo ra phương pháp thủy canh hiện đại cả về ý tưởng khoa học và tính khả thi của phương pháp cho kết quả tốt ( Nguyễn Xuân Nguyên, 2004)

Khoa học hiện đại về thủy canh thực tế đã xuất hiện vào khoảng những năm 1936 khi những thử nghiệm của tiến sỹ W.E Gericke ở trường Đại học California được công bố Ông đã trồng các loại cây trong nước trong đó có cây cà chua trong 12 tháng có chiều cao 7.5 m (Nguyễn Xuân Nguyên, 2004)

Nhiều thập kỷ sau đó đã phân tích thành phần cơ bản của thực vật và khả năng hấp thu dinh dưỡng cho sự phát triển của cây bằng thực nghiệm Năm 1983, Hoagland đưa ra công thức dinh dưỡng mà ngày nay vẫn còn được sử dụng

Dung dịch dinh dưỡng để trồng cây bằng kĩ thật thuỷ canh được nghiên cứu cùng với sự ra đời của kỹ thuật thuỷ canh Từ khi xác định được 16 nguyên tố hoá học cần thiết cho cây trồng (C, H, O, N, P, K, Ca, Mg, S, Fe, Cu, Mn, Zn, Mo, B, Cl); hàng loạt dung dịch dinh dưỡng để nuôi trồng cây bằng kỹ thuật thuỷ canh được

Trang 17

ra đời Từ khi kỹ thuật thuỷ canh ra đời đến nay nó đã trải qua rất nhiều kiểu dụng

cụ để trồng cây, như: Hệ thống trồng cây trong nước sâu (hệ thống Gericke); hệ thống thuỷ canh nổi; hệ thống trồng cây trong nước sâu có tuần hoàn; hệ thống màng mỏng dinh dưỡng là hệ thống thuỷ canh động; hệ thống màn sương dinh dưỡng là một biến thái của thuỷ canh (Nguyễn Minh Chung, 2012)

Từ năm 1966 đến nay đã có trên 500 sáng chế về kỹ thuật trồng cây thủy canh Nhật Bản là nước vượt lên dẫn đầu với khoảng 260 sáng chế, chiếm 47% Theo sau đó là Hàn Quố ế chiếm 19%, Mỹ với 46 sáng chế chiếm 9%…

Hình 1 Tình hình nghiên cứu công nghệ Thủy canh trên thế giớ

2.4.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, kỹ thuật này mới được đưa vào nghiên cứu và ứng dụng từ những năm 1993 nhờ sự hợp tác giữa Đại học Quốc gia Hà Nội với tổ chức R & D Hồng Kông

Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật thủy canh trong sản xuất nông nghiệp, như:

- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Dần (1998), Nguyễn Khắc Thái Sơn và Nguyễn Quang Thạch (1999), Nguyễn Quang Thạch và cộng sự (1998),… sản xuất và khảo nghiệm các loại dung dịch dinh dưỡng, các loại cây trồng, cải tiến dụng cụ chứa dung dịnh và giá thể để trồng cây, ứng dụng kỹ thuật này vào sản xuất cây giống, nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại trong trồng cây bằng kỹ thuật thủy canh

Trang 18

- Các tác giả Trần Khắc Thi, Nguyễn Minh Chung và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật thủy canh hoàn lưu trong sản xuất rau ăn lá trái vụ trong điều kiện khí hậu miền Bắc Việt Nam

- Một khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao cũng đã được phê duyệt với quy mô 100 ha Tại đây, sẽ có khu sản xuất rau bằng phương pháp thủy canh, trồng trên giá thể không đất, nuôi trồng các loại lan, sản xuất nấm Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa tiêu chí công nghệ cao vào nông nghiệp bằng việc áp dụng các công nghệ tiên tiến với hơn 100 ha tại huyện Cửu Chi Trong đó, tập trung phát triển mô hình trồng rau bằng kỹ thuật thủy canh, màng dinh dưỡng, canh tác trên giá thể không đất,…

- Tác giả Lê Sỹ Lợi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu trồng rau thủy canh công nghệ cao trong điều kiện nhà có mái che sản xuất trong nước phục vụ phát triển kinh tế-xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam” được thực hiện từ tháng 1/2010 đến tháng 12/ 2011

- Đề tài “Khảo sát một số biện pháp kỹ thuật của thủy canh cải mầm” Luận văn Thạc sĩ chuyên Ngành Trồng trọt Ngô Thị Hồng Yến bảo vệ thành công năm

2011

2.5 Giới thiệu khái quát về thủy canh

2.5.1 Lịch sử của thủy canh

Khoa học hiện đại về thủy canh thực tế đã xuất hiện vào năm 1936 khi thử nghiệm của tiến sĩ W.E Gericke công bố khả năng về thương mại ngành thủy canh và đặt tên nó là “hydroponics” trong tiếng Hy Lạp là nước và “ponos’ có nghĩa là dao động vì vậy ngành thủy canh được hiểu theo nghĩa đen là làm việc với nước

Từ lâu con người đã biết trồng cây không cần đất vườn treo Babylon nổi tiếng là một hình thức thủy canh

Năm 1699 ở Anh, John Woodward trồng cây trong nước có thêm những lượng đất khác nhau và đã kết luận rằng, chính các chất hòa tan trong đất thúc đẩy sự phát triển của thực vật chứ không phải là đất

Năm 1772, Priesley phát hiện ra rằng, cây xanh để trong buồn kính giàu CO2trong một thời gian sẽ sản sinh ra O2 Năm 1804, Nicholas de Sausure chứng minh rằng, nước và cacbon đồng thời tồn tại trong cây và kết quả là cây tang trọng lượng hơn thế nữa, sự tang trưởng của cây không thể đạt được nếu rễ cây không hấp thụ nitrat và các chất khoáng

Nhiều thập kỷ sau đó đã phân tích thành phần cơ bản của thực vật và khả năng hấp thu dinh dưỡng cho sự phát triển của cây bằng thực nghiệm Năm 1983, Hoagland đưa ra công thức dinh dưỡng mà ngày nay vẫn còn được sử dụng Năm 1931 người ta công bố phương pháp trồng cây cẩm chướng trong nhà kính

sử dụng cát sạch và các dung dịch dinh dưỡng hòa tan thay cho đất Trong khi đó,

Trang 19

Gericke đã dùng dung dịch dinh dưỡng đậm đặc thoáng khí, ấm để trồng thực vật nổi và kỹ thuật này rất thành công tuy ban đầu có khó khăn Gericke xứng đáng với danh hiệu là người sáng tạo ra phương pháp thủy canh hiện đại cả về ý tưởng khoa học và tính khả thi của phương pháp cho kết quả tốt ( Nguyễn Xuân Nguyên, 2004)

2.5.2 Khái niệm về thủy canh

Thủy canh (Hydroponics) là hình thức canh tác trồng cây trong dung dịch, là biện

kỹ thuật trồng cây không dùng đất Cây trồng được trồng trên hoặc trong dung dịch dinh dưỡng, sử dụng dung dịch hòa tan trong nước dươi dạng dung dịch dinh dưỡng Trồng cây trong dung dịch đã được đề xuất từ lâu đời bởi các nhà khoa học như: Knop, Kimusa,… (Nguyễn Minh Chung 2012)

2.5.3 Phân loại hệ thống thủy canh

Chia làm 2 hệ thống thủy canh:

- Hệ thống thủy canh không hoàn lưu: Ở hệ thống này, một hoặc toàn bộ rễ cây được nhúng liên tục trong một dung dịch dinh dưỡng là hệ thống mà trong quá trình trồng cây, dung dịch dinh dưỡng không chuyển động Hệ thống này

có ưu điểm là không phải đầu tư chi phí thiết bị làm chuyển động dung dịch nên giá thành thấp hơn, nhưng hạn chế là thường thiếu oxy trong dung dịch và

dễ sinh ra chua gây ngộ độc cho cây

- Hệ thống thủy canh hoàn lưu: đây là hệ thống mà trong quá trình trồng cây, dung dịch dinh dưỡng có sự chuyển động; chi phí cao hơn nhưng trồng cây không bị thiếu oxi Các hệ thống thủy canh động hoạt động trên nguyên lý thủy triều, sục khí, tưới nhỏ giọt Hệ thống thủy canh này chia làm hai loại sau: + Thủy canh mở là hệ thống thủy canh động mà trong dung dịch dinh dưỡng không có sự tuần hoàn trở lại, gây lãng phí dung dịch

+ Thủy canh kín là hệ thống thủy canh mà trong đó dung dịch dinh dưỡng

có sự tuần hoàn trở lại nhờ một hệ thống hút dung dịch dinh dưỡng từ bể chứa (Nguyễn Minh Chung, 2012)

Hình 2 Thủy canh không hoàn lưu (A) và thủy canh hoàn lưu (B)

Trang 20

2.5.4 Ưu, nhược điểm của thủy canh

2.5.4.1 Ưu điểm của thủy canh

Có thể chủ động điều chỉnh dinh dưỡng cho cây, các loại dinh dưỡng được cung cấp theo yêu cầu của từng loại rau, có thể loại bỏ các chất gây hại cho cây và không có các chất tồn dư từ vụ trước

Tiết kiệm nước do cây sử dụng trực tiếp nước trong dụng cụ đựng dung dịch nên nước không bị thất thoát do ngấm vào đất hoặc bốc hơi

Giảm chi phí công lao động do không phải làm một số khâu như làm đất, làm cỏ, vun xới và tưới nước

Hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và điều chỉnh được hàm lượng dinh dưỡng nên tạo ra sản phẩm rau an toàn đối với người sử dụng

Trồng được rau trái vụ do điều khiển được các yếu tố môi trường

Nâng cao năng suất và chất lượng rau: Năng suất rau có thể tăng từ 25 – 500% (Lê Sỹ lợi, 2011)

2.5.4.2 Nhược điểm của thủy canh

Giá thành cao do đầu tư ban đầu lớn Điều này rất khó mở rộng sản xuất vì điều kiện kinh tế của người dân còn nhiều khó khăn nên không có điều kiện đầu tư cho sản xuất Mặt khác giá thành cao nên tiêu thụ khó khăn

Yêu cầu kỹ thuật cao Khi sử dụng kỹ thuật thủy canh yêu cầu người trồng phải

có kiến thức về sinh lý cây trồng, về hóa học và kỹ thuật trồng trọt cao hơn vì tính đệm hóa trong dung dịch dinh dưỡng thấp hơn trong đất nên việc sử dụng quá liều một chất dinh dưỡng nào đó có thể gây hại cho cây, thậm chí dẫn đến chết Mặt khác mỗi loại rau yêu cầu một chế độ dinh dưỡng khác nhau nhên việc pha chế dinh dưỡng phù hợp với từng loại thì không đơn giản

Sự lan truyền bệnh nhanh Mặc dù đã hạn chế được nhiều sâu bệnh hại nhưng trong không khí luôn có mầm bệnh, khi xuất hiện thì một thời gian ngắn chúng có mặt trên toàn bộ hệ thống, đặc biệt là hệ thống thủy canh tuần hoàn Mặt khác ẩm

độ cao, nhiệt độ ổn định trong hệ thống là điều kiện thuật lợi cho sự phát triển cuả bệnh cây

Cây trồng trong hệ thống thủy canh thường tiếp xúc với ánh sáng tán xạ nên cây mềm yếu, hàm lượng nước cao nên dễ xuất hiện vết thương tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập

Đòi hỏi nguồn nước đảm bảo tiêu chuẩn Độ mặn trong nước cần được xem xét

kỹ khi sử dụng cho trồng rau thủy canh, tốt nhất là nhỏ hơn 2.500 ppm (Lê Sỹ Lợi, 2011)

Trang 21

- Hạt rau: cải xanh và xà lách

- Xơ dừa (để cố định cây)

- Kệ: để đặt hộp xốp trồng cây nhằm cách nhiệt hộp xốp với nền và giữ cho hộp xốp trồng cây sạch sẽ, cách biệt với nguồn giun sán từ mặt đất

- Mục tiêu: Xác định được dung dịch dinh dưỡng thích hợp cho cây xà lách phát

triển trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu

- Địa điểm thí nghiệm: Sân nhà nông dân, phường Bình Đức thành phố Long

Xuyên, tỉnh An Giang

- Thời gian sinh trưởng cải xanh dự kiến: 3 tuần

- Cách thực hiện:

+ Cây con xà lách sau khi gieo 5 đến 7 ngày đồng đều nhau về kích cỡ

+ Chuẩn bị hộp xốp: Mỗi hộp xốp bố trí trồng 24 cây

Trang 22

+ Xử lý giá thể: ngâm rửa mụn sơ dừa trong nước có bổ sung Canxi hypochloride 1-3%

+ Pha dung dịch dinh dưỡng: pha theo nồng độ khuyến cáo của từng sản phẩm

+ Pha dung dịch dinh dưỡng (nghiệm thức 5): được tổng hợp từ các hóa chất: Calcium Nitrate, Ion EDTA, Amonium phosphate, Potassium phosphate, Potassium nitrate, Magnesium sulphate, Boric acid, Zinc sulphate, Manganous sulphate, Copper sulphate, Ammonium molybdate (Bảng 1)

Bảng 1 Tỷ lệ thành phần các chất trong dung dịch dinh dưỡng cung

- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên,

gồm 5 nghiệm thức với 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1 hộp xốp (24 cây)

Trang 23

+ Nghiệm thức 4: TC-MoBI

+ Nghiệm thức 5: đối chứng (tự pha với thành phần ở bảng 1)

3.2.2 Thí nghiệm 2: Khảo sát hiệu quả của 5 loại dung dịch dinh dưỡng lên năng suất của cây cải xanh trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu

- Mục tiêu: Xác định được dung dịch dinh dưỡng thích hợp cho cây cải xanh phát

triển trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu

- Địa điểm thí nghiệm: Sân nhà nông dân, phường Bình Đức thành phố Long

Xuyên, tỉnh An Giang

- Thời gian sinh trưởng cải xà lách dự kiến: 3 tuần

- Cách thực hiện:

+ Cây con cải xanh sau khi gieo 7 đến 10 ngày đồng đều nhau về kích cỡ

+ Chuẩn bị hộp xốp: Mỗi hộp xốp bố trí trồng 24 cây

+ Xử lý giá thể: ngâm rửa mụn sơ dừa trong nước có bổ sung Canxi hypochloride 1-3%

+ Pha dung dịch dinh dưỡng: pha theo nồng độ khuyến cáo của từng sản phẩm

(Tiến hành bố trí thí nghiệm giống như thí nghiệm 1)

3.3 Chỉ tiêu theo dõi:

+ Ghi nhận: ngày gieo hạt, ngày trồng và ngày thu hoạch

+ Nhiệt độ, ẩm độ: trong không khí và nhà lưới đo bằng nhiệt kế, ẩm kế treo ở nơi thí nghiệm và trong nhà lưới Định kỳ 1 ngày đo 1 lần

+ Nhiệt độ: trong giá thể, dùng nhiệt kế cắm trong vật liệu trồng cây sâu 10

cm, cách gốc cây khoảng 10 cm Mỗi ngày lấy chỉ tiêu 3 lần (sáng 7 giờ, trưa 11 giờ, chiều 5 giờ)

+ Đo pH, EC dung dịch dinh dưỡng Định kỳ 7 ngày đo 1 lần

+ Chỉ tiêu về tăng trưởng (Đo định kỳ 1 tuần 1 lần) đo lúc mới trồng, 7, 14,

21, … ngày sau khi trồng đến khi thu hoạch Mỗi nghiệm thức lấy 5 cây

* Chiều cao cây (cm): dùng thước dây đo từ gốc đến chóp lá cao nhất

* Số lá: đếm những lá thật có chiều dài phiến lớn hơn 1,5 cm

* Chiều dài lá: đo lá có kích thước lớn nhất, tính từ chỗ phình ra bắt đầu lá cho đến ngọn lá

* Chiều rộng lá: đo lá có kích thước lớn nhất, vị trí rộng nhất của lá + Chỉ tiêu về năng suất: ghi nhận lúc thu hoạch

Trang 24

* Khối lượng cây (g/cây): dùng cân điện tử, cân trọng lượng 10 cây lấy

ngẫu nhiên ở mỗi nghiệm thức, rồi tính trọng lượng cây trung bình cho mỗi

nghiệm thức

* Năng suất ròng (kg/m2): Dùng cân 2 kg, cân toàn bộ số cây trên thùng

xốp rồi quy ra năng suất tạo ra trên m2 cho mỗi nghiệm thức

Với:

 A: là khối lượng trung bình tổng số cây trên mỗi thùng xốp của 3 lần lặp lại (kg)

 0.27 là diện tích của hộp xốp (45 x 60 x 15 cm)

* Năng suất lá sâu và già không dùng được (kg/ m2): Dùng cân 2 kg,

cân toàn bộ lá sâu và già không dùng được trên thùng xốp rồi quy ra năng suất

tạo ra trên m2 cho mỗi nghiệm thức

Với:

 B: là khối lượng trung bình tổng lá sâu và già không dùng được trên mỗi thùng xốp của 3 lần lặp lại (kg)

 0.27 là diện tích của hộp xốp (45 x 60 x 15 cm)

* Năng suất thương phẩm (kg/m2): Dùng cân 2 kg, tách riêng các lá sâu

bệnh đem cân, rồi lấy trọng lượng tổng trừ đi trọng lượng lá sâu bệnh

Năng suất thương phẩm = Năng suấ - Năng suất lá sâu và già

+ Hiệu quả kinh tế: Tổng thu – tổng chi

+ Tổng thu = Tổng năng suất thương phẩm x giá bán

+ Chỉ tiêu sâu bệnh hại chính

Trang 25

Sâu ăn lá: Tính tỷ lệ cây bị sâu ăn phần xanh của lá Thang điểm của

IRRI (1988) để đánh giá khả năng phản ứng với sâu ăn lá

+ Cấp 0: không có cây bị hại

Trang 26

Chương IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Hiệu quả của 5 chế phẩm dinh dưỡng lên sự sinh trưởng và phát triển của cây xà lách trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu

Cây xà lách được bố trí trồng thủy canh với điều kiện nhiệt độ không khí trung bình là 28,840C, dao động từ 28,840

C (vào buổi sáng) đến 33,060C (vào buổi trưa)

Độ ẩm không khí dao động từ 65% (vào buổi trưa) đến 88% (vào buổi sáng) Nhiệt độ giá thể thấp nhất vào buổi sáng (7 giờ) là 25,880C, tăng lên cao nhất vào buổi trưa (12 giờ) là 28,310C sau đó giảm dần đến 17 giờ là 27,850C Thời tiết thuận lợi cho cây xà lách phát triển Hạt xà lách sau khi gieo vào khay 8 ngày thì tiến hành cấy vào rọ (Hình 2) Cho rọ đã cấy cây xà lách vào thùng xốp để cây ổn định 2 ngày tiến hành pha dung dịch dinh dưỡng (Hình 3) Nếu không có điều kiện gieo cây con trong khay thì có thể gieo hạt trực tiếp vào rọ đã có sẵn sơ dừa

và cho vào thùng xốp, sau khi gieo 9 ngày thì có thể tiến hành pha dung dịch dinh dưỡng (Hình 4) Sau khi pha dung dịch dinh dưỡng phải theo dõi mực nước trong hộp xốp: 1 - 5 ngày đầu cho đáy rọ nhựa ngập trong dung dịch từ 1-2 cm, sau đó chừa phân nửa bộ rễ nằm trên mặt dung dịch Trong quá trình trồng cây xà lách không thấy sâu và bệnh xuất hiện Khoảng 25 – 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng thì có thể thu hoạch cây xà lách

Hình 3 Cây xà lách 8 ngày sau khi gieo đưa vào dung dịch dinh dưỡng

Trang 27

a z

Hạt xà lách được gieo trực tiếp vào rọ

Cây xà lách sau 4 ngày gieo

Hình 4 Cây xà lách sau 4 ngày khi gieo trực tiếp vào rọ

Hình 5 Cây xà lách trước khi trồng vào dung dịch dinh dưỡng

4.4.1 Chiều cao cây xà lách

Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, kết quả bảng 2 cho thấy chiều cao cây xà

lách của các nghiệm thức không khác biệt nhau qua phân tích thống kê, chiều cao

ở nghiệm thức 4,90 cm (TC MoBI), 4,60 cm (Hydro Green), 4,57 cm (Yogen

TC24), 4,50 cm (Yogen TC28), 4,43 cm (đối chứng)

Sau 7 ngày khi pha dung dịch dinh dưỡng, chiều cao cây xà lách lần lượt là 9,80

cm (đối chứng), 6,97 cm (Yogen TC240, 7,43 cm (Yogen TC28), 7.50 cm (Hydro

Greens) và 7,50 cm (TC – MoBI) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê

(Bảng 2)

Ở 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng, chiều cao cây xà lách của các

nghiệm thức 18,13 cm (đối chứng), 15,83 cm (Yogen TC28) và 15,80 cm (Hydro

Greens) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%, nhưng

Trang 28

các nghiệm thức này khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với nghiệm thức 10,77 cm (TC – MoBI) Chiều cao cây xà lách của nghiệm thức 13,57 cm (Yogen TC24), Yogen 15,83 cm (TC28) và 15,80 cm (Hydro Greens) cũng không khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% Tương tự, chiều cao cây xà lách của nghiệm thức 13,57 cm (Yogen TC24) và 10,77 cm (TC – MoBI) cũng không khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% Nhưng giữa 13,57 cm (Yogen TC24), 18,13 cm (đối chứng) lại khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% ( Bảng 2)

Bảng 2 Chiều cao (cm) của cây xà lách trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7,

14, 21 và 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

Nghiệm thức

Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng

7 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

21 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

Ghi chú: Trong cùng một cột, các trung bình có cùng mẫu tự theo sau thì không

khác biệt nhau qua phân tích thống kê bằng phép thử LSD

ns: Không khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%

*: Khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%

4.1.2 Chiều dài lá của xà lách

Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, kết quả bảng 3 cho thấy chiều dài lá xà lách của các nghiệm thức không khác biệt nhau qua phân tích thống kê, cao nhất ở nghiệm thức 1,40 cm (TC – MoBI) và thấp nhất ở nghiệm thức 1,13 cm (Yogen TC24)

Sau 7 ngày khi pha dung dịch dinh dưỡng, chiều dài lá xà lách của nghiệm thức

7,23 cm (đối chứng), 5,30 cm (Yogen TC24), 6,03 cm (Yogen TC28), 6,43 cm (Hydro Greens) và 5,63 cm (TC – MoBI) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê (Bảng 3)

Trang 29

Sau 28 ngày pha dung dịch dinh dưỡng, chiều dài lá cây xà lách của các nghiệm thức 12,37 cm (đối chứng), 10,03 cm (Yogen TC28) và 10,20 cm (Hydro Greens) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% nhưng các nghiệm thức này khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%

so với nghiệm thức 9,33 cm (Yogen TC24) Chiều dài lá cây xà lách của nghiệm thức 9,33 cm (Yogen TC24), 10,03 cm (Yogen TC28) và 10,20 cm (Hydro Greens) cũng không khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% nhưng so với 12,37 cm (đối chứng) và 7,07 cm (TC – MoBI) khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% (Bảng 3)

Bảng 3 Chiều dài lá (cm) của cây xà lách trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7,

14, 21 và 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

Nghiệm thức

Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng

7 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

21 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

Ghi chú: Trong cùng một cột, các trung bình có cùng mẫu tự theo sau thì không

khác biệt nhau qua phân tích thống kê bằng phép thử LSD

ns: Không khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%

*: Khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%

4.1.3 Chiều rộng lá của cây xà lách

Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, kết quả bảng 4 cho thấy chiều rộng lá xà lách của các nghiệm thức không khác biệt nhau qua phân tích thống kê, lớn nhất ở nghiệm thức 0,60 cm (TC – MoBI) và nhỏ nhất ở nghiệm thức 0,50 cm (đối chứng) và 0,50 cm (Yogen TC24) (Bảng 4)

Sau 7 ngày pha dung dịch dinh dưỡng, chiều rộng lá xà lách của các nghiệm thức

4,03 cm (đối chứng), 4,23 cm (Hydro Greens) và 3,17 cm (TC – MoBI) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%, nhưng khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với nghiệm thức 2,67 cm (Yogen TC24) Giữa các nghiệm thức 4,03 cm (đối chứng), 3,07 cm (Yogen

Trang 30

TC28) và 3,17 cm (TC – MoBI) cũng không khác biệt nhau qua phân tích thống

kê ở mức ý nghĩa 5% nhưng giữa 4,03 cm (đối chứng) và 2,67 cm (Yogen TC24) khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% (Bảng 4)

Sau 28 ngày pha dung dịch dinh dưỡng, chiều rộng lá xà lách của các nghiệm thức 6,23 cm (đối chứng), 6,20 cm (Yogen TC24), 6,37 cm (Yogen TC28), 5,33

cm (Hydro Greens) và 4,13 cm (TC – MoBI) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê (Bảng 4)

Bảng 4 Chiều rộng lá (cm) của xà lách trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7,

14, 21 và 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

Nghiệm thức

Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng

7 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

21 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

ns: Không khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%

*: Khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%

4.1.4 Số lá của xà lách

Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, kết quả bảng 5 cho thấy số lá xà lách của các nghiệm thức không khác biệt nhau qua phân tích thống kê, cao nhất ở nghiệm thức 2,30 lá (đối chứng), 2,30 lá (Yogen TC24) và thấp nhất ở nghiệm thức 2,25

lá (Yogen TC28), 2,25 lá (Hydro Green), 2,25 lá (TC – MoBi) (Bảng 5)

Sau 7 ngày pha dung dịch dinh dưỡng, số lá xà lách của các nghiệm thức 4,60 lá

(đối chứng), 3,60 lá (Yogen TC24), 4,50 lá (Yogen TC 28), 4,30 lá (Hydro Green), 4,37 lá (TC – MoBi) cũng không khác biệt nhau qua phân tích thống kê (Bảng 5)

Sau 28 ngày pha dung dịch dinh dưỡng, số lá xà lách của các nghiệm thức 9,65 lá (đối chứng), 7,75 lá (Yogen TC 24), 8,25 lá (Yogen TC28), 8,40 lá (Hydro

Trang 31

Greens), 6,65 lá (TC – MoBI) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê (Bảng 5)

Bảng 5 Số lá (lá) của xà lách trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7, 14, 21 và

28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

Nghiệm thức

Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng

7 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

21 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

Ghi chú: Trong cùng một cột, các trung bình có cùng mẫu tự theo sau thì không

khác biệt nhau qua phân tích thống kê bằng phép thử LSD

ns: Không khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%

4.1.5 Chiều dài rễ, trọng lượng cây, năng suất ròng, trọng lượng lá sâu lá già và năng suất thương phẩm của xà lách

Chiều dài rễ xà lách (bảng 6) ở nghiệm thức 25,43 cm (đối chứng) khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% so với các nghiệm thức còn lại Chiều dài rễ của cây xà lách của các nghiệm thức 14,30 cm (Yogen TC24), 18,57 cm (Yogen TC28), 14,27 cm (Bio Life), 18,47 cm (Hydro Greens) và 15,23 cm (TC – MoBI) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1%

Trọng lượng cây xà lách ở nghiệm thức đối chứng (11,44 g/cây), Yogen TC24 (6,99 g/cây), Yogen TC28 (7,39 g/cây), Hydro Greens (6,08 g/cây), TC – MoBI (4,84 g/cây) không khác biệt nhau qua phân tích thống (Bảng 6)

Năng suất ròng của nghiệm thức 2,40 kg/m2 (đối chứng) khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với các nghiệm thức còn lại Trong khi

đó giữa các nghiệm thức 1,47 kg/m2

(Yogen TC24), 1,75 kg/m2 (Yogen TC28), 1,48 kg/m2 (Hydro Greens) và 1,21 kg/m2 (TC – MoBI) cũng không khác biệt nhau qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% (Bảng 6)

Trang 32

Trọng lượng lá sâu lá già của nghiệm thức 91,92 g/m2 (đối chứng), 36,02 g/m2

(Yogen TC24), 59,08 g/m2 (Yogen TC28), 31,06 g/m2 (Hydro Greens) và 32,46 g/m2 (TC – MoBI) không khác biệt qua phân tích thống kê (Bảng 6)

Năng suất thương phẩm xà lách cao nhất ở nghiệm thức 2,31 kg/m2 (đối chứng) khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với các nghiệm thức còn lại Tương tự, năng suất thương phẩm giữa các nghiệm thức 1,44 kg/m2 (Yogen TC24), 1,70 kg/m2 (Yogen TC28), 1,45 kg/m2 (Hydro Greens) và 1,17 kg/m2 (TC – MoBI) cũng không khác biệt nhau qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% (Bảng 6)

Như vậy, đối với cây xà lách trồng theo phương pháp thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu thì bốn dung dịch dinh dưỡng Yogen TC24, Yogen TC28, Hydro Greens và TC – MoBI đều thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt tương đương với đối chứng (tự pha) Nhưng xét về hiệu quả kinh tế thì nghiệm thức Yogen TC28 cho lợi nhuận cao nhất nên được chọn để trồng trình diễn và xây dựng quy trình cho trồng cây xà lách theo phương pháp thủy canh

Trang 33

TC-MoBI Hình 6 Cây xà lách ở 21 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

Trang 34

TC-MoBI Hình 7 Cây xà lách ở 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng

Bảng 6 Chiều dài rễ (cm), trọng lượng (g/cây), năng suất ròng (kg/m2), trọng lượng lá sâu lá già (g/m2) và năng suất thương phẩm (kg/m2) của cây xà lách

Nghiệm thức

Chiều dài rễ (cm)

Trọng lượng cây (g/cây)

Năng suất ròng (kg/m 2 )

Trọng lượng lá sâu lá già (g/m 2 )

Năng suất thương phẩm (kg/m 2 )

Ghi chú: Trong cùng một cột, các trung bình có cùng mẫu tự theo sau thì không

khác biệt nhau qua phân tích thống kê bằng phép thử LSD

ns: Không khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%

*: Khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%

**: Khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1%

4.1.6 pH của dung dịch dinh dưỡng trồng xà lách

Kết quả bảng 7 cho thấy pH sau 1 ngày pha chế phẩm dinh dưỡng cao nhất ở nghiệm thức 5,91 (TC – MoBI) khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% so với các nghiệm thức còn lại pH ở các nghiệm thức 5,44 (đối chứng), 5,76 (Yogen TC24), 5,62 (Yogen TC28) và 5,64 (Hydro Greens) cũng khác biệt nhau

Trang 35

qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1%, nhưng pH ở nghiệm thức 5,64 (Hydro Green) và 5,62 (Yogen TC28) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê

pH 7 ngày sau pha chế phẩm dinh dưỡng ở nghiệm thức 5,87 (TC – MoBI) không khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% so với nghiệm thức 5,64 (Yogen TC24), 5,63 (Yogen TC28) nhưng có khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% so với nghiệm thức 5,36 (đối chứng), 5,45 (Hydro Greens) pH

ở các nghiệm thức 5,64 (Yogen TC24), 5,63 (Yogen TC28) và 5,45 (Hydro Greens) cũng không khác biệt nhau qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% nhưng có khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% so với nghiệm thức 5,36 (đối chứng) và 5,87 (TC – MoBI) (Bảng 7)

Sau 28 ngày pha chế phẩm dinh dưỡng, pH của các nghiệm thức 5,62 (đối chứng), 5,15 (Yogen TC24), 5,40 (Yogen TC28), 5,77 (Hydro Greens), 5,36 (TC – MoBI) không khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% (Bảng 7)

Theo Trần Thị Ba (2010) thì duy trì pH của dung dịch dinh dưỡng ở mức pH = 5,5 – 6,0 thích hợp cho hầu hết các loại rau phát triển Chính vì vậy, pH của các nghiệm thức dung dịch dinh dưỡng trồng xà lách sau 1, 7, 14, 21, 28 ngày ở bảng 3.13 cho thấy dao động từ 5,15 – 6,14 thuận lợi cho cây xà lách sinh trưởng và phát triển tốt

Bảng 7 pH của dung dịch sau 1, 7, 14, 21 và 28 ngày pha dung dịch dinh dưỡng

Nghiệm thức

Sau 1 ngày pha chế phẩm dinh dưỡng

Sau 7 ngày pha chế phẩm dinh dưỡng

Sau 14 ngày pha chế phẩm dinh dưỡng

Sau 21 ngày pha chế phẩm dinh dưỡng

Sau 28 ngày pha chế phẩm dinh dưỡng

Ghi chú: Trong cùng một cột, các trung bình có cùng mẫu tự theo sau thì không

khác biệt nhau qua phân tích thống kê bằng phép thử LSD

ns: Không khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%

*: Khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%

**: Khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1%

Trang 36

4.1.7 EC của dung dịch dinh dưỡng trồng xà lách

EC sau 1 ngày pha chế phẩm dinh dưỡng, bảng 8 cho thấy EC nghiệm thức 3,40 mmhos/cm (Yogen TC24), 2,97 mmhos/cm (Yogen TC28), 3,12 mmhos/cm (TC – MoBI) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% nhưng khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% so với nghiệm thức 5,44 mmhos/cm (đối chứng), 2,38 mmhos/cm (Hydro Greens) Và giữa 2 nghiệm thức 5,44 mmhos/cm (đối chứng), 2,38 mmhos/cm (Hydro Greens) khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1%

Tương tự, sau 7 ngày pha chế phẩm dinh dưỡng, EC ở các nghiệm thức đều giảm

và giữa các nghiệm thức có khác biệt nhau qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% cao nhất ở nghiệm thức 2,72 mmhos/cm (đối chứng), kế đến là ở 2,27 mmhos/cm (Yogen TC24), 1,93 mmhos/cm (Yogen TC28), 1,90 mmhos/cm (TC – MoBI), và thấp nhất là của nghiệm thức 1,51 mmhos/cm (Hydro Greens) Tuy nhiên, EC giữa nghiệm thức 1,93 mmhos/cm (Yogen TC28) và 1,90 mmhos/cm (TC – MoBI) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% (Bảng 8)

Sau 28 ngày khi pha chế phẩm dinh dưỡng, EC giữa các nghiệm thức tiếp tục khác biệt nhau qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% cao nhất vẫn ở nghiệm thức 1,52 mmhos/cm (đối chứng), kế đến là ở 0,93 mmhos/cm (Yogen TC28), 0,92 mmhos/cm (Yogen TC24), 0,64 mmhos/cm (TC – MoBI) và thấp nhất là ở nghiệm thức 0,57 mmhos/cm (Hydro Greens) Tuy nhiên, EC ở nghiệm thức 0,92 mmhos/cm (Yogen TC24) và 0,93 mmhos/cm (Yogen TC28) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% Tương tự, EC ở nghiệm thức 0,57 mmhos/cm (Hydro Greens) và 0,64 mmhos/cm (TC – MoBI) cũng không khác biệt nhau qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1% (Bảng 8)

Theo Trần Thị Ba (2010) thì EC (độ dẫn điện) trong dung dịch dinh dưỡng tăng cần duy trì EC < 4 mmhos/cm, trung bình 1 – 2 mmhos/cm Nên EC của các nghiệm thức đối chứng, Yogen TC24, Yogen TC28, Hydro Greens, TC – MoBI phù hợp cho cây xà lách phát triển tốt trong 21 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng Nghiệm thức Hydro Greens và TC – MoBI thì tới 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng thì EC = 0,57 mmhos/cm và 0,64 mmhos/cm nên một số lá non có triệu chứng vàng Riêng nghiệm thức Bio Life thì EC chỉ dao động trong khoảng 0,16 – 0,37 mmhos/cm nên không cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây xà lách phát triển (Hình 11 và Hình 12)

Trang 37

Bảng 8 EC (mmhos/cm) của dung dịch dưỡng sau 1, 7, 14, 21 và 28 ngày pha

chế phẩm dinh dưỡng

Nghiệm thức

Sau 1 ngày pha chế phẩm dinh dưỡng

Sau 7 ngày pha chế phẩm dinh dưỡng

Sau 14 ngày pha chế phẩm dinh dưỡng

Sau 21 ngày pha chế phẩm dinh dưỡng

Sau 28 ngày pha chế phẩm dinh dưỡng

Ghi chú: Trong cùng một cột, các trung bình có cùng mẫu tự theo sau thì không

khác biệt nhau qua phân tích thống kê bằng phép thử LSD

**: Khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1%

4.2 Hiệu quả của 5 chế phẩm dinh dưỡng lên sự sinh trưởng và phát triển của cải xanh trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu

Cải xanh được bố trí trồng thủy canh tại sân nhà nông dân ở phường Bình Đức thành phố Long Xuyên trong tháng 7/2013 Nhiệt độ không khí trung bình là 28,610C, dao động từ 25,700C (vào buổi sáng) đến 31,660C (vào buổi trưa) Độ

ẩm không khí dao động từ 65% (vào buổi trưa) đến 86% (vào buổi sáng) Nhiệt

độ giá thể thấp nhất vào buổi sáng (7 giờ) là 25,560C, tăng lên cao nhất vào buổi trưa (12 giờ) là 27,830C sau đó giảm dần đến 17 giờ là 27,600

C Thời tiết thuận lợi cho cây cải xanh phát triển Hạt cải xanh sau khi gieo vào khay 5 ngày thì tiến hành cấy vào rọ (Hình 13) Cho rọ đã cấy cây cải xanh vào thùng xốp để cây ổn định 2 ngày tiến hành pha dung dịch dinh dưỡng (Hình 13) Nếu không có điều kiện gieo cây con trong khay thì có thể gieo hạt trực tiếp vào rọ đã có sẵn sơ dừa

và cho vào thùng xốp, sau khi gieo 5 ngày thì có thể tiến hành pha dung dịch dinh dưỡng Sau khi pha dung dịch dinh dưỡng phải theo dõi mực nước trong hộp xốp:

1 - 5 ngày đầu cho đáy rọ nhựa ngập trong dung dịch từ 1-2 cm, sau đó chừa phân nửa bộ rễ nằm trên mặt dung dịch Trong quá trình trồng cây cải xanh không thấy bệnh xuất hiện, chỉ có sâu xanh ăn lá nhưng tỷ lệ không đáng kể Khoảng 21 – 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng thì có thể thu hoạch cây cải xanh

Ngày đăng: 08/03/2021, 16:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w