TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA 5 DUNG DỊCH DINH DƯỠNG LÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY CẢI NGỌT VÀ RAU DỀN TRONG ĐIỀU KIỆN THỦY CANH THE
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA 5 DUNG DỊCH DINH DƯỠNG LÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY CẢI NGỌT VÀ RAU DỀN TRONG ĐIỀU KIỆN THỦY CANH THEO HỆ THỐNG KHÔNG HOÀN LƯU
NGUYỄN THÁI
An Giang, Tháng 5.2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA 4 CHẾ PHẨM DINH DƯỠNG LÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY CẢI NGỌT VÀ RAU DỀN TRONG ĐIỀU KIỆN THỦY CANH THEO HỆ THỐNG KHÔNG HOÀN LƯU
NGUYỄN THÁI MSSV: DSH104230
Ths DIỆP NHỰT THANH HẰNG
An Giang, Tháng 5.2015
Trang 3Đề tài nghiên cứu khoa học “Khảo sát hiệu quả của 5 dung dịch dinh dưỡng lên sự phát triển của cây cải ngọt và rau dền trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu”, do sinh viên Nguyễn Thái thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS Diệp Nhựt Thanh Hằng Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa Nông nghiệp và Tài nguyên thiên nhiên thông qua ngày ………
Thư ký
Cán bộ hướng dẫn
Chủ tịch Hội đồng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Bộ môn Công nghệ sinh học-Trường Đại Học An Giang, cùng các anh chị nhân viên trong khoa đã giảng dạy, trang bị cho em những kiến thức quý báu để em hoàn thành công việc học tập của mình, đồng thời cũng
là những kiến thức cơ bản để sau này em vận dụng vào công việc, vào cuộc sống của bản thân trong tương lai
Em xin cảm ơn cô Diệp Nhựt Thanh Hằng đã tận tình hướng dẫn và hỗ trợ em hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này
Do thời gian thực hiện có giới hạn, nên có thể còn nhiều thiếu sót về kiến thức và báo cáo Em kính mong nhận được nhiều sự chia sẻ và những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô để có thể hoàn thiện tốt hơn trên con đường học tập và làm việc sau này
An Giang, ngày 25 tháng 5 năm 2015
Người thực hiện
Nguyễn Thái
Trang 5TÓM TẮT
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu đối với con người Cải ngọt và rau dền là hai loại rau rất phổ biến chứa nhiều vitamin, khoáng chất và chất xơ Hiện nay, xuất hiện nhiều loại rau không rõ nguồn gốc, chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và vi sinh vật gây hại xuất thì vấn đề rau sạch luôn được quan tâm hàng đầu Trồng rau bằng phương pháp thủy canh giúp giải quyết các vấn đề nêu trên
Đề tài này nhằm tìm ra loại dung dịch dinh dưỡng phù hợp và tạo năng suất cao nhất với cải ngọt và rau dền bằng phương pháp thủy canh Gồm có năm loại dung dịch dinh dưỡng được khảo nghiệm: Yogen TC24, Yogen TC28, Hydro Greens, TC-MoBi và đối chứng (tự pha) Kết quả khảo nghiệm cho thấy dung dịch dinh dưỡng Yogen TC 24 thích hợp nhất cho rau dền, dung dịch Yogen TC28 thích hợp nhất cho cải ngọt Kết quả nghiên cứu là tiền đề lựa chọn dung dịch dinh dưỡng phù hợp cho cải ngọt và rau dền bằng phương pháp thủy canh
SUMMARY
Vegetables are foods that are indispensable for humans Sweet cabbage and amaranth are two very popular vegetables contain many vitamins, minerals and fiber Nowaday, vegetables appear unknown origin, containing residues of plant protection chemicals and micro-organisms harmful organic vegetable production, the problem has always been of primary concern Growing vegetables use hydroponic methods to help solve the problems mentioned above This research
to find out what kind of appropriate nutrient solution and generate the highest yield with sweet cabbage and spinach using hydroponic methods Consists of five types of nutrient solution was assayed: Yogen TC24, TC28 Yogen, Hydro Greens, TC-MoBi and control (auto makers) Assay results showed that the nutrient solution best suited Yogen TC 24 for amaranth, Yogen TC28 solution most appropriate for sweet cabbage The research results are a prerequisite choose nutrient solution suitable for sweet cabbage and amaranth with hydroponic method
Trang 6LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu có xuất xứ rõ ràng Những kết luận khoa học của công trình này chưa từng công bố ở bất kỳ công trình nào khác
An Giang, ngày 25 tháng 5 năm 2015
Người thực hiện
Nguyễn Thái
Trang 7MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Nội dung nghiên cứu 2
1.5 Những đóng góp của đề tài 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Ngoài nước 3
2.2 Trong nước 4
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
3.1 Vật liệu nghiên cứu 6
3.2 Cách thực hiện 6
3.3 Chỉ tiêu theo dõi 8
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 9
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 10
4.1 Hiệu quả của 5 loại dung dịch dinh dưỡng lên sự sinh trưởng và phát triển của cây cải ngọt trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu 10
4.2 Hiệu quả của 5 loại dung dịch dinh dưỡng lên sự sinh trưởng và phát triển của cây rau dền trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu 20
4.3 Hạch toán kinh tế chi phí thủy canh 33
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
PHỤ LỤC 39
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Tình hình nghiên cứu công nghệ thủy canh trên thế giới 4
Hình 2: Cây cải ngọt 5 ngày tuổi sau khi gieo cấy vào rọ 10
Hình 3: Cây cải ngọt ở 14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 15
Hình 4: Cây cải ngọt ở 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 16
Hình 5: Cây rau dền được trồng thủy canh trước sân nhà nông dân 21
Hình 6: Cây rau dền 10 ngày sau khi gieo được cấy vào rọ 21
Hình 7: Cây rau dền trước khi pha dung dịch dinh dưỡng 22
Hình 8: Cây rau dền ở 14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡn 28
Hình 9: Cây rau dền ở 21 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 29
Hình 10: Cây rau dền ở 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 30
Hình 11: Cây rau dền ở thời điểm thu hoạch 30
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Tỉ lệ thành phần các chất trong dung dịch dinh dưỡng cung cấp cho cây cải ngọt 7 Bảng 2: Chiều cao (cm) của cây cải ngọt trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7, 14, 21 và 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng .11 Bảng 3: Chiều dài lá (cm) của cây cải ngọt trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7, 14, 21 và 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 12 Bảng 4: Chiều rộng lá (cm) của cây cải ngọt trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7 và 14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 13 Bảng 5: Số lá (lá) của cây cải ngọt trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7 và 14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 14 Bảng 6: Chiều dài rễ (cm), trọng lượng (g/cây), năng suất tổng (kg/m2), trọng lượng lá sâu lá già (g/m2) và năng suất thương phẩm (kg/m2
) của cây cải ngọt 18 Bảng 7: pH của dung dịch dưỡng sau 1, 7, 14, 21 và 28 ngày pha dung dịch dinh dưỡng 19 Bảng 8: EC (mmhos/cm) của dung dịch dưỡng sau 1, 7, 14, 21 và 28 ngày pha dung dịch dinh dưỡng .20 Bảng 9: Chiều cao (cm) của cây rau dền trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7, 14, 21 và 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 23 Bảng 10: Chiều dài lá (cm) của cây rau dền trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7, 14, 21 và 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 24 Bảng 11: Chiều rộng lá (cm) của cây rau dền trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7, 14, 21 và
28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 25 Bảng 12: Số lá (lá) của cây xà lách trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7, 14, 21 và 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng 26 Bảng 13: Chiều dài rễ (cm), trọng lượng (g/cây), năng suất tổng (kg/m2), trọng lượng lá sâu lá già (g/m2) và năng suất thương phẩm (kg/m2
) của cây rau dền .31 Bảng 14: pH của dung dịch dưỡng sau 1, 7, 14, 21 và 28 ngày pha dung dịch dinh dưỡng 32 Bảng 15: EC (mmhos/lá) của dung dịch dưỡng sau 1, 7, 14, 21 và 28 ngày pha dung dịch dinh dưỡng .33 Bảng 16: Hiệu quả kinh tế (đồng/m2) của cải ngọt trồng theo phương pháp thủy canh 34 Bảng 17: Hiệu quả kinh tế (đồng/m2) của rau dền trồng theo phương pháp thủy canh 35
Trang 10CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay rau sạch đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu khi trên thị trường rau quả, người tiêu dùng luôn phải đối mặt với các loại rau quả nhập khẩu không rõ nguồn gốc xuất xứ và chất lượng sản phẩm cùng với các loại rau củ trong nước lại được sản xuất với những phương thức không an toàn, lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, các chất kích thích sinh trưởng độc hại, vi khuẩn, hóa chất gây bệnh, … ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của người tiêu dùng Vậy nguồn rau sạch và an toàn có thể tìm thấy ở đâu?
Trong khi mà nguồn cung cấp loại thực phẩm quan trọng này chủ yếu là từ phương pháp địa canh truyền thống và phụ thuộc quá nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu thì việc đáp ứng nhu cầu đang ngày càng tăng cao của người tiêu dùng dường như là một bài toán nan giải Cần có một cách thức canh tác mới để khắc phục vấn đề thời tiết
và tăng sản lượng cũng như chất lượng rau?
Một vườn rau tại nhà, tự tay trồng nên những luống rau cung cấp bữa ăn ngon và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho gia đình được nhiều người nghĩ đến Tuy nhiên với những gia đình ở thành phố, không có đất vườn và khoảng không gian duy nhất của
họ chỉ có thể là sân nhà, ban công hoặc sân thượng thì như thế nào?
Tất cả các vấn đề trên được giải quyết bởi một phương thức canh tác hiện đại và tiết kiệm: Trồng cây thuỷ canh Phương thức mới này có thể áp dụng với mọi hộ gia đình và ở bất kỳ đâu với mức chi phí vừa phải và sản phẩm làm ra rất an toàn
Cải ngọt có chất aibumin, chất đường, vitamin B1, axít bốc hơi, axít pamic, coban, iốt Rễ và lá có nhiều chất kiềm thúc đẩy sự tiêu hoá, thúc đẩy cơ thể tiếp thu aibumin bảo vệ gan, chống mỡ trong gan Theo nghiên cứu, thì trong 100 g cải có chứa: 1,1 g protein; 0,2 lipit; 2,1 g cacbohidrat; 61 mg canxi; 37 mg photpho; 0,5 mg sắt; 0,01 mg caroten; 0,02 thiamin (B1); 0,04 mg ribopalavin (B2); 0,3 mg niaxin (B3);
20 mg axit ascorbic (C)
Thân và lá rau dền có vị ngọt, chứa sắt, vitamin B2, vitamin C, axít nicotic
và canxi (dền gai có hàm lượng canxi tối đa đến 0,2%) Hạt ngoài các thành phần vitamin A, vitamin C còn giàu tinh bột, đạm thực vật (các loài dền hạt trồng làm lương thực có hàm lượng đạm thực vật từ 12 đến 16%) và lysin Rau dền có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, làm mát máu, cầm máu; ngưng kiết lỵ; chủ trị bệnh ly trực khuẩn, tiểu tiện không thông, mắt đỏ, đau họng, chảy máu cam
Chính vì vậy Đề tài “Khảo sát hiệu quả của 5 dung dịch dinh dưỡng lên sự phát triển của cây cải ngọt và rau dền trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu” được thực hiện nhằm tìm ra chế phẩm dinh dưỡng mà cây cải xanh và
rau dền có thể phát triển tốt nhất trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định hiệu quả của 5 dung dịch dinh dưỡng lên năng suất của cây cải ngọt và rau dền trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu
Trang 111.3 Đối tƣợng nghiên cứu
Cây cải ngọt
Cây rau dền
1.4 Nội dung nghiên cứu
Khảo sát hiệu quả của 5 dung dịch dinh dưỡng lên năng suất của cây cải ngọt trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu
Khảo sát hiệu quả của 5 dung dịch dinh dưỡng lên năng suất của cây rau dền trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu
1.5 Những đóng góp của đề tài
Đóng góp về mặt khoa học, phục vụ công tác đào tạo:
Kết quả đề tài sẽ đóng góp thêm cho các công trình nghiên cứu về phương pháp trồng cây thủy canh đang trên đà phát triển tại Việt Nam Góp phần xây dựng nền nông nghiệp sạch
Những đóng góp liên quan đến phát triển kinh tế:
Xây dựng vườn rau tại nhà, tiết kiệm chi phí sinh hoạt, có thể tái sử dụng nhiều lần
Những đóng góp về mặt xã hội (các giải pháp cho vấn đề xã hội):
Vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 12CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Ngoài nước:
Kỹ thuật thủy canh đã được thực hiện từ nhiều thế kỷ trước ở vùng Amazon, Babylon, Ai Cập, Trung Quốc và Ấn Độ Người xưa đã sử dụng phân bón hòa tan để trồng dưa chuột, dưa hấu và nhiều loại rau củ khác trên cát ở các lòng sông Sau đó, các nhà sinh lý thực vật bắt đầu trồng các loại cây trên những môi trường dinh dưỡng đặc
biệt vì mục đích thí nghiệm, họ gọi đó là "nuôi cấy dinh dưỡng" (nutriculture)
Năm 1699 ở Anh, John Woodward trồng cây trong nước có thêm những lượng đất khác nhau và đã kết luận rằng, chính các chất hòa tan trong đất thúc đẩy sự phát triển của thực vật chứ không phải là đất
Thuật ngữ "thủy canh" (hydroponics) lần đầu tiên được Gericke (1937) giới thiệu
để mô tả tất cả các phương pháp nuôi trồng thực vật trong môi trường lỏng cho mục đích thương mại Gericke cũng là người đầu tiên khảo sát, phát triển một phương pháp nuôi trồng thực vật trong nước (dịch dinh dưỡng) khả thi về mặt kinh tế cho mục đích thương mại Ngoài Gericke, nhiều nhà khoa học khác như Lauria (1931), Eaton (1936), Withorow (1936), Mllard (1939) và Amon (1940) cũng đã đưa ra nhiều kỹ thuật và phương pháp nuôi trồng thực vật không cần đất (soiless culture) ở quy mô thương mại từ thập niên 1930
Nhiều thập kỷ sau đó đã phân tích thành phần cơ bản của thực vật và khả năng hấp thu dinh dưỡng cho sự phát triển của cây bằng thực nghiệm Năm 1983, Hoagland đưa ra công thức dinh dưỡng mà ngày nay vẫn còn được sử dụng
Năm 1931 người ta công bố phương pháp trồng cây cẩm chướng trong nhà kính sử dụng cát sạch và các dung dịch dinh dưỡng hòa tan thay cho đất Trong khi đó, Gericke đã dùng dung dịch dinh dưỡng đậm đặc thoáng khí, ấm để trồng thực vật nổi và kỹ thuật này rất thành công tuy ban đầu có khó khăn Gericke xứng đáng với danh hiệu là người sáng tạo ra phương pháp thủy canh hiện đại cả về ý tưởng khoa học và tính khả thi của phương pháp cho kết quả tốt ( Nguyễn Xuân Nguyên, 2004)
Dung dịch dinh dưỡng để trồng cây bằng kĩ thật thuỷ canh được nghiên cứu cùng với sự ra đời của kỹ thuật thuỷ canh Từ khi xác định được 16 nguyên tố hoá học cần thiết cho cây trồng (C, H, O, N, P, K, Ca, Mg, S, Fe, Cu, Mn, Zn, Mo, B, Cl); hàng loạt dung dịch dinh dưỡng để nuôi trồng cây bằng kỹ thuật thuỷ canh được ra đời Từ khi kỹ thuật thuỷ canh ra đời đến nay nó đã trải qua rất nhiều kiểu dụng cụ để trồng cây, như:
Hệ thống trồng cây trong nước sâu (hệ thống Gericke); hệ thống thuỷ canh nổi; hệ thống trồng cây trong nước sâu có tuần hoàn; hệ thống màng mỏng dinh dưỡng là hệ thống thuỷ canh động; hệ thống màn sương dinh dưỡng là một biến thái của thuỷ canh Trong
hệ thống thủy canh, vấn đề bệnh hại đang được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu như: Price và Fox, Stanghellini và Rasmussen, Schuerger và Hammer… trên dưa chuột,
cà chua, hồ tiêu, các loại rau ăn lá… (Nguyễn Minh Chung, 2012)
Điểm qua việc nghiên cứu trồng rau thủy canh, từ năm 1966 đến nay đã có trên
500 sáng chế về kỹ thuật trồng cây thủy canh Nhật Bản là nước vượt lên dẫn đầu với khoảng 260 sáng chế, chiếm 47% Theo sau đó là Hàn Quố ế chiếm 19%, Mỹ với 46 sáng chế chiếm 9%…(Hình 1)
Trang 13Trong khi đó ở các vùng Vịnh Ả Rập, Israel, thuỷ canh được sử dụng rất phổ biến để trồng rau Ở các nước Châu Mỹ La Tinh rau sạch cũng là sản phẩm chính của thuỷ canh Hà Lan có hơn 3.600 cây trồng không cần đất, Nam Phi có khoảng 400ha Ở Singapore, Liên Doanh Areo green Technology là công ty đầu tiên của Châu Á áp dụng
kỹ thuật thuỷ canh trồng rau trong dung dịch dinh dưỡng không đất và không phải dùng phân hoá học có hại để sản xuất rau với quy mô lớn Hàng năm Singapore tiêu thụ lượng rau trị giá 260 triệu USD Vì đất có giới hạn nên hơn 90% rau xanh xuất khẩu, hiện tại nông trại Areo Green ở Lim Chu Kang trị giá 5 triệu USD đang thu hoạch khoảng 900
kg rau mỗi ngày
Nhật Bản đẩy mạnh kỹ thuật thuỷ canh để sản xuất rau sạch An toàn thực phẩm
là một trong những vấn đề mà người Nhật rất quan tâm, họ luôn lo ngại và thận trọng đối với những phụ gia thực phẩm hay thuốc trừ sâu nông nghiệp Hơn nữa vì diện tích đất canh tác quá hạn hẹp nên chính phủ Nhật rất khuyến khích và trợ giúp kiểu trồng này, rau sạch sản xuất bằng phương pháp này đắt hơn 30% so với rau trồng ở môi trường bên ngoài nhưng tiêu dùng vẫn chấp nhận (Võ Thị Bạch Mai, 2003)
Do nhu cầu của thị trường đòi hỏi cây rau ngày càng phải sạch và nên công nghệ trồng rau trên chất nền đã xuất hiện và dần thay thế cho việc trồng rau trên nền đất truyền thống Hiện nay, gần như 100% vùng đai xanh ven đô Sydney đã sản xuất rau-hoa-quả trên chất nền trong nhà kính vừa đảm bảo tính vệ sinh vừa cho năng suất cao (Nguyễn Quốc Vọng, 2006)
Hình 1 Tình hình nghiên cứu công nghệ Thủy canh trên thế giới
(
2.2 Trong nước:
Ở Việt Nam, kỹ thuật này mới được đưa vào nghiên cứu và ứng dụng từ những năm 1993 nhờ sự hợp tác giữa Đại học Quốc gia Hà Nội với tổ chức R & D Hồng Kông Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật thủy canh trong sản xuất nông nghiệp, như: nghiên cứu của Nguyễn Thị Dần (1998), Nguyễn Khắc Thái Sơn và Nguyễn Quang Thạch (1999), Nguyễn Quang Thạch và cộng sự (1998), Ngô Thị Xuyên
và Nguyễn Văn Đĩnh… tự sản xuất và khảo nghiệm các loại dung dịch dinh dưỡng, các loại cây trồng, cải tiến dụng cụ chứa dung dịnh và giá thể để trồng cây, ứng dụng kỹ
Trang 14thuật này vào sản xuất cây giống, nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại trong trồng cây bằng kỹ thuật thủy canh Các tác giả Trần Khắc Thi, Nguyễn Minh Chung và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật thủy canh hoàn lưu trong sản xuất rau ăn lá trái
vụ trong điều kiện khí hậu miền Bắc Việt Nam
Tác giả Lê Sỹ Lợi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu trồng rau thủy canh công nghệ cao trong điều kiện nhà có mái che sản xuất trong nước phục vụ phát triển kinh tế-xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam” được thực hiện từ tháng 1/2010 đến tháng 12/
2011
Đề tài “Khảo sát một số biện pháp kỹ thuật của thủy canh cải mầm” Luận văn Thạc sĩ chuyên Ngành Trồng trọt Ngô Thị Hồng Yến bảo vệ thành công năm 2011
Trang 15- Hạt rau: cải ngọt và rau dền
- Xơ dừa (để cố định cây)
- Kệ: để đặt hộp xốp trồng cây nhằm cách nhiệt hộp xốp với nền và giữ cho hộp xốp trồng cây sạch sẽ, cách biệt với nguồn giun sán từ mặt đất
- Mục tiêu: Xác định được môi trường dinh dưỡng thích hợp cho cây cải ngọt phát triển
trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu
- Địa điểm thí nghiệm: Sân nhà nông dân, phường Bình Đức thành phố Long Xuyên,
tỉnh An Giang
- Thời gian sinh trưởng cải ngọt dự kiến: 25 ngày
- Vật liệu thí nghiệm:
+ Cây con cải ngọt sau khi gieo 5 đến 7 ngày đồng đều nhau về kích cỡ
+ Chuẩn bị hộp xốp: Mỗi hộp xốp bố trí trồng 24 cây
+ Xử lý giá thể: ngâm rửa mụn sơ dừa trong nước có bổ sung Canxi hypochloride 3%
+ Pha dung dịch dinh dưỡng: pha theo nồng độ khuyến cáo của từng sản phẩm
Trang 16+ Pha dung dịch dinh dưỡng (nghiệm thức 5): được tổng hợp từ các hóa chất: Calcium Nitrate, Ion EDTA, Amonium phosphate, Potassium phosphate, Potassium nitrate, Magnesium sulphate, Boric acid, Zinc sulphate, Manganous sulphate, Copper sulphate, Ammonium molybdate (Bảng 1)
Bảng 1 Tỷ lệ thành phần các chất trong dung dịch dinh dƣỡng cung cấp cho cây
cải ngọt (pha loãng 1/100)
Dung dịch mẹ Liều lƣợng (gram/60 lít) Phần A
(Nguồn: Trung tâm quốc gia nghiên cứu cây trồng nhà kính Gosford, Sydney, Úc, 2004)
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 5
nghiệm thức với 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1 hộp xốp (24 cây)
Trang 17b) Thí nghiệm 2: Khảo sát hiệu quả của 5 dung dịch dinh dưỡng lên năng suất của
cây rau dền trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu
- Mục tiêu: Xác định được môi trường dinh dưỡng thích hợp cho cây Rau dền phát triển
trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu
- Địa điểm thí nghiệm: Sân nhà nông dân, phường Bình Đức thành phố Long Xuyên,
tỉnh An Giang
- Thời gian sinh trưởng rau dền dự kiến: 30 ngày
- Vật liệu thí nghiệm:
+ Cây con rau dền sau khi gieo 7 đến 10 ngày đồng đều nhau về kích cỡ
+Chuẩn bị hộp xốp: Mỗi hộp xốp bố trí trồng 24 cây
+ Xử lý giá thể: ngâm rửa mụn sơ dừa trong nước có bổ sung Canxi hypochloride
1-3%
+ Pha dung dịch dinh dưỡng: pha theo nồng độ khuyến cáo của từng sản phẩm
(Tiến hành bố trí thí nghiệm giống như thí nghiệm 1)
3.3 Chỉ tiêu theo dõi:
+ Ghi nhận: ngày gieo hạt, ngày trồng và ngày thu hoạch
+ Nhiệt độ, ẩm độ: trong không khí và nhà lưới đo bằng nhiệt kế, ẩm kế treo ở nơi
thí nghiệm và trong nhà lưới Định kỳ 1 ngày đo 1 lần
+ Nhiệt độ: trong giá thể, dùng nhiệt kế cắm trong vật liệu trồng cây sâu 10 cm,
cách gốc cây khoảng 10 cm
+ Đo pH, EC dung dịch dinh dưỡng Định kỳ 7 ngày đo 1 lần
+ Chỉ tiêu về tăng trưởng (Đo định kỳ 1 tuần 1 lần) đo lúc mới trồng, 7, 14, 21, …
ngày sau khi trồng đến khi thu hoạch Mỗi nghiệm thức lấy 5 cây
* Chiều cao cây (cm): dùng thước dây đo từ gốc đến chóp lá cao nhất
* Số lá: đếm những lá thật có chiều dài phiến lớn hơn 1,5 cm
* Chiều dài lá: đo lá có kích thước lớn nhất, tính từ chỗ phình ra bắt đầu lá cho
đến ngọn lá
* Chiều rộng lá: đo lá có kích thước lớn nhất, vị trí rộng nhất của lá
+ Chỉ tiêu về năng suất: ghi nhận lúc thu hoạch
* Trọng lượng cây (g/cây): dùng cân điện tử, cân trọng lượng 10 cây lấy ngẫu
nhiên ở mỗi nghiệm thức, rồi tính trọng lượng cây trung bình cho mỗi nghiệm thức
* Năng suất tổng (kg/m2): Dùng cân 2 kg, cân toàn bộ số cây trên thùng xốp
rồi quy ra năng suất tạo ra trên m2 cho mỗi nghiệm thức
* Năng suất thương phẩm (kg/m2): Dùng cân 2 kg, tách riêng các lá sâu bệnh
đem cân, rồi lấy trọng lượng tổng trừ đi trọng lượng lá sâu bệnh
+ Hiệu quả kinh tế: Tổng thu – tổng chi
Trang 18+ Tổng thu = Tổng năng suất thương phẩm x giá bán
+ Chỉ tiêu sâu bệnh hại chính
Sâu ăn lá: Tính tỷ lệ cây bị sâu ăn phần xanh của lá Thang điểm của IRRI
(1988) để đánh giá khả năng phản ứng với sâu ăn lá
+ Cấp 0: không có cây bị hại + Cấp 1: 1-10% cây bị hại
3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý thống kê theo chương trình SAS 9.1
Trang 19Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Hiệu quả của 5 dung dịch dinh dưỡng lên sự sinh trưởng và phát triển của cây cải ngọt trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu
Cây cải ngọt được bố trí trồng thủy canh tại sân nhà nông dân ở phường Bình Đức thành phố Long Xuyên trong tháng 7/2013 Nhiệt độ không khí trung bình là 28,610C, dao động từ 25,700
C (vào buổi sáng) đến 31,660C (vào buổi trưa) Độ ẩm không khí dao động từ 65% (vào buổi trưa) đến 86% (vào buổi sáng) Nhiệt độ giá thể thấp nhất vào buổi sáng (7 giờ) là 25,560C, tăng lên cao nhất vào buổi trưa (12 giờ) là 27,830C sau đó giảm dần đến 17 giờ là 27,600
C Thời tiết thuận lợi cho cây cải ngọt phát triển Hạt cải ngọt sau khi gieo vào khay 5 ngày thì tiến hành cấy vào rọ (Hình 2) Cho
rọ đã cấy cây cải ngọt vào thùng xốp để cây ổn định 2 ngày tiến hành pha dung dịch dinh dưỡng (Hình 2) Nếu không có điều kiện gieo cây con trong khay thì có thể gieo hạt trực tiếp vào rọ đã có sẵn sơ dừa và cho vào thùng xốp, sau khi gieo 5 ngày thì có thể tiến hành pha dung dịch dinh dưỡng Sau khi pha dung dịch dinh dưỡng phải theo dõi mực nước trong hộp xốp: 1 - 5 ngày đầu cho đáy rọ nhựa ngập trong dung dịch từ 1-2 cm, sau
đó chừa phân nửa bộ rễ nằm trên mặt dung dịch Trong quá trình trồng cây cải ngọt không thấy bệnh xuất hiện, chỉ có sâu xanh ăn lá nhưng tỷ lệ không đáng kể Khoảng 21 – 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng thì có thể thu hoạch cây cải ngọt
Hình 2 Cây cải ngọt 5 ngày sau khi gieo được cấy vào rọ
Trang 204.1.1 Chiều cao cây cải ngọt
Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, kết quả bảng 2 cho thấy chiều cao cây cải ngọt ở các nghiệm thức không khác biệt nhau qua phân tích thống kê, cao nhất ở nghiệm thức TC - MoBI là 5,49 cm và thấp nhất ở nghiệm thức Yogen TC28 và Hydro Greens đều là 5,25 cm
Sau 7 ngày khi pha dung dịch dinh dưỡng, chiều cao cây ở nghiệm thức đối
chứng (7,65 cm), Yogen TC24 (6,53 cm), Yogen TC28 (6,81 cm), Hydro Greens (6,25
cm) và TC – MoBI (6,61 cm) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê (Bảng 2)
Ở 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng, chiều cao cây cải ngọt ở các nghiệm thức đối chứng (32,53 cm) và Hydro Greens (27,96 cm) cũng không khác biệt nhau qua phân tích thống kê , nhưng 2 nghiệm thức này khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với nghiệm thức TC – MoBI (20,61 cm) Chiều cao cây cải ngọt của nghiệm thức Yogen TC24 (23,29 cm), Yogen TC28 (25,65 cm) và TC – MoBI (20,68 cm) cũng không khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê (Bảng 2)
Bảng 2: Chiều cao (cm) của cây cải ngọt trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7, 14, 21
và 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
Nghiệm thức
Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng
7 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
21 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
Ghi chú: Trong cùng một cột, các trung bình có cùng mẫu tự theo sau thì không khác
biệt nhau qua phân tích thống kê bằng phép thử Duncan
ns: Không khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%
*: Khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%
4.1.2 Chiều dài lá của cây cải ngọt
Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, kết quả bảng 3 cho thấy chiều dài lá cây cải ngọt ở các nghiệm thức không khác biệt nhau qua phân tích thống kê, cao nhất ở nghiệm thức TC – MoBI (0,88 cm) và thấp nhất ở nghiệm thức đối chứng (0,83 cm)
Sau 7 ngày khi pha dung dịch dinh dưỡng, chiều dài lá cây cải ngọt ở nghiệm
thức đối chứng (1,74), Yogen TC24 (1,92 cm), Yogen TC28 (1,7 cm), Hydro Greens (1,99 cm) và TC – MoBI (1,77 cm) không có sự khác biệt nhau qua phân tích thống kê (Bảng 3)
Trang 21Tương tự sau 28 ngày pha dung dịch dinh dưỡng, chiều dài lá cây cải ngọt của nghiệm thức đối chứng (7 cm) không khác biệt qua phân tích thống kê so với nghiệm thức Yogen TC24 (6,87 cm), Yogen TC28 (6,6 cm) và Hydro Greens (6,63 cm) và TC – MoBI (6,27 cm) (Bảng 3)
Bảng 3: Chiều dài lá (cm) của cây cải ngọt trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7, 14,
21 và 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
Nghiệm thức
Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng
7 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
21 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
Ghi chú: Trong cùng một cột, các trung bình có cùng mẫu tự theo sau thì không khác
biệt nhau qua phân tích thống kê bằng phép thử Duncan
ns: Không khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%
*: Khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%
4.1.3 Chiều rộng lá của cây cải ngọt
Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, kết quả bảng 4 cho thấy chiều rộng lá cây cải ngọt ở các nghiệm thức không khác biệt nhau qua phân tích thống kê, lớn nhất ở nghiệm thức TC – MoBI (1,18 cm) và thấp nhất ở nghiệm thức Yogen TC24 (0,24 cm)
Sau 7 ngày pha dung dịch dinh dưỡng, chiều rộng lá cây cải ngọt ở nghiệm thức
đối chứng (1,46 cm), Yogen TC24 (1,63 cm), Yogen TC28 (1,31 cm), Hydro Greens (1,55 cm) và TC – MoBI (1,52 cm) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê (Bảng 4)
Sau 28 ngày pha dung dịch dinh dưỡng, chiều rộng lá cây cải ngọt ở các nghiệm thức đối chứng (6,43 cm), Yogen TC24 (6,03 cm), Yogen TC28 (5,77 cm), Hydro Greens (5,87 cm) và TC – MoBI (5,5 cm) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê (Bảng 4)
Trang 22Bảng 4: Chiều rộng lá (cm) của cây cải ngọt trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7 và
14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
Nghiệm thức
Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng
7 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
21 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
ns: Không khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%
*: Khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%
4.1.4 Số lá của cây cải ngọt
Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, kết quả bảng 5 cho thấy số lá ngọt ở các nghiệm thức không khác biệt nhau qua phân tích thống kê, cao nhất ở nghiệm thức Yogen TC28 (2,93 lá) và thấp nhất ở nghiệm thứcnghiệm thức đối chứng, Hydro Greens
và TC – MoBI (2,6 lá)
Tương tự, sau 7 ngày pha dung dịch dinh dưỡng, số lá cây cải ngọt ở các nghiệm
thức cũng không khác biệt nhau qua phân tích thống kê, cao nhất ở nghiệm thức Hydro Greens (4,73 lá) và thấp nhất ở nghiệm thức TC – MoBI (4,33 lá) (Bảng 5)
Sau 28 ngày pha dung dịch dinh dưỡng, số lá cây cải ngọt ở các nghiệm thức đối chứng (11,27 lá), Yogen TC24 (11,4 lá), Yogen TC28 (11 lá), Hydro Greens (10,67 lá)
và TC – MoBI (10,4 lá) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê (Bảng 5)
Bảng 5: Số lá (lá) của cây cải ngọt trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, 7 và 14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
Nghiệm thức
Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng
7 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
21 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
Ghi chú: Trong cùng một cột, các trung bình có cùng mẫu tự theo sau thì không khác
biệt nhau qua phân tích thống kê bằng phép thử Duncan
ns: Không khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%
Trang 23Hình 3 Cây cải ngọt ở 14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
Trang 24Hình 4 Cây cải ngọt ở 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng
Trang 254.1.5 Chiều dài rễ, trọng lượng cây, năng suất tổng, trọng lượng lá sâu lá già và năng suất thương phẩm của cây cải ngọt
Kết quả bảng 6 cho thấy chiều dài rễ cây cải ngọt ở nghiệm thức đối chứng (28,77 cm) khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với các nghiệm thức Yogen TC24 (17,63 cm), Yogen TC28 (19,9 cm), Hydro Greens (21,8 cm) và TC – MoBI (15,9 cm)
Trọng lượng cây cải ngọt ở nghiệm thức đối chứng (24,03 g/cây) và Hydro Greens (20,55 g/cây) khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với Yogen TC24 (10,19 g/cây), Yogen TC28 (11,93 g/cây) và TC – MoBI (9,32 g/cây) (Bảng 6)
Năng suất tổng của nghiệm thức đối chứng (3,95 kg/m2
) khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với các nghiệm thức còn lại Trong khi đó, nghiệm thức Hydro Greens (2,44 kg/m2) không khác biệt qua phân tích thống kê so với các nghiệm thức Yogen TC24 (1,48 kg/m2), Yogen TC28 (1,78 kg/m2), nhưng khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với nghiệm thức TC – MoBI (1,06 kg/m2) (Bảng 6)
Trọng lượng lá sâu lá già ở nghiệm thức đối chứng (253,3 g/m2) khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với các nghiệm thức còn lại Trọng lượng lá sâu
lá già ở các nghiệm thức Yogen TC24 (48,62 g/m2), Yogen TC28 (75,92 g/m2), Hydro Greens (61,34 g/m2) và TC – MoBI (58,65 g/m2) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê (Bảng 6)
Năng suất thương phẩm cây cải ngọt cao nhất ở nghiệm thức đối chứng (3,70 kg/m2) khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với các nghiệm thức còn lại Trong khi đó, năng suất thương phẩm ở nghiệm thức Hydro Greens (2,38 kg/m2) không khác biệt qua phân tích thống kê so với các nghiệm thức Yogen TC24 (1,44 kg/m2), Yogen TC28 (1,7 kg/m2), nhưng khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với nghiệm thức TC – MoBI (1,0 kg/m2) (Bảng 6)
Tóm lại, đối với cây cải ngọt trồng theo phương pháp thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu thì bốn dung dịch dinh dưỡng Yogen TC24, Yogen TC28, Hydro Greens
và TC – MoBI đều thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt tương đương với đối chứng (tự pha) Nhưng xét về hiệu quả kinh tế thì nghiệm thức Yogen TC28 cho lợi nhuận cao nhất nên được chọn để trồng trình diễn và xây dựng quy trình cho trồng cây cải ngọt theo phương pháp thủy canh Còn ở nghiệm thức tự pha cho năng suất thương phẩm cao nhất nhưng quá trình pha đòi hỏi trang thiết bị hiện đại và đắt tiền nên khó áp dụng ở nông hộ
Trang 26Bảng 6: Chiều dài rễ (cm), trọng lượng (g/cây), năng suất tổng (kg/m2), trọng lượng lá sâu lá già (g/m2) và năng suất thương phẩm (kg/m2
) của cây cải ngọt
Nghiệm thức
Chiều dài
rễ (lá)
Trọng lượng cây (g/cây)
Năng suất tổng (kg/m 2 )
Trọng lượng lá sâu
lá già (g/m 2 )
Năng suất thương phẩm (kg/m 2 )
*: Khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%
4.1.6 pH của dung dịch dinh dưỡng trồng cải ngọt
pH sau 1 ngày pha dung dịch dinh dưỡng (bảng 7) cho thấy ở nghiệm thức đối chứng (5,69) khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với nghiệm thức Yogen TC24 (6,1) và TC – MoBI (6,04) pH giữa các nghiệm thức Yogen TC24 (6,1), Yogen TC28 (5,88), Hydro Greens (5,81) và TC – MoBI (6,04) cũng không khác biệt nhau qua phân tích thống kê
Sau 28 ngày pha dung dịch dinh dưỡng, pH ở nghiệm thức đối chứng (5,38), Yogen TC24 (5,54), Yogen TC28 (5,2), Hydro Greens (5,31) và TC – MoBI (5,37) đều không khác biệt nhau qua phân tích thống kê (Bảng 7)
pH của các nghiệm thức dung dịch dinh dưỡng trồng cải ngọt sau 1, 7, 14, 21 và
28 ngày ở bảng 3.27 cho thấy dao động từ 5,43 – 6,42 thuận lợi cho cây cải ngọt sinh trưởng và phát triển tốt Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Thanh Huyền (2012) cho rằng cây cải ngọt có thể trồng được trên nhiều loại đất có độ pH = 5,5 – 6,5 Còn theo Trần Thị Ba (2010) thì duy trì pH của dung dịch dinh dưỡng ở mức pH = 5,5 – 6,0 thích hợp cho hầu hết các loại rau phát triển
Trang 27Bảng 7: pH của dung dịch dưỡng sau 1, 7, 14, 21 và 28 ngày pha dung dịch dinh dưỡng
Nghiệm thức
Sau 1 ngày pha dung dịch dinh dƣỡng
Sau 7 ngày pha dung dịch dinh dƣỡng
Sau 14 ngày pha dung dịch dinh dƣỡng
Sau 21 ngày pha dung dịch dinh dƣỡng
Sau 28 ngày pha dung dịch dinh dƣỡng
Ghi chú: Trong cùng một cột, các trung bình có cùng mẫu tự theo sau thì không khác biệt nhau qua phân tích thống kê bằng phép thử Duncan
ns: Không khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%
*: Khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%
4.1.7 EC của dung dịch dinh dƣỡng trồng cây cải ngọt
Kết quả bảng 8 cho thấy EC sau 1 ngày pha dung dịch dinh dưỡng cao nhất ở nghiệm thức đối chứng (3,59 mmhos/cm), kế đến là của Yogen TC24 (3,26 mmhos/cm), Yogen TC28 (3,08 mmhos/cm), TC – MoBI (2,92 mmhos/cm) và thấp nhất là của nghiệm thức Hydro Greens (2,58 mmhos/cm) Hầu hết EC ở các nghiệm thức đều khác biệt nhau qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% trừ giữa nghiệm thức Yogen TC28 (3,08 mmhos/cm) và TC – MoBI (2,92 mmhos/cm) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê
Tương tự, sau 7 ngày pha dung dịch dinh dưỡng, EC ở các nghiệm thức khác biệt nhau qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% cao nhất vẫn ở nghiệm thức đối chứng (2,46 mmhos/cm), kế đến là ở Yogen TC24 (2,12 mmhos/cm), Yogen TC28 (1,94 mmhos/cm), Hydro Greens (1,78 mmhos/cm) và thấp nhất là của nghiệm thức TC – MoBI (1,5 mmhos/cm) (Bảng 8)
28 ngày khi pha dung dịch dinh dưỡng, EC ở nghiệm thức đối chứng (1,08 mmhos/cm) khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với các nghiệm thức còn lại Các nghiệm thức Yogen TC24 (0,79 mmhos/cm), Yogen TC28 (0,69 mmhos/cm), và TC – MoBI (0,72 mmhos/cm) không khác biệt nhau qua phân tích thống kê EC giữa nghiệm thức Yogen TC28 (0,69 mmhos/cm), Hydro Greens (0,63 mmhos/cm) và TC – MoBI (0,73 mmhos/cm) không khác biệt nhau qua phân tích thống
kê (Bảng 8)
Theo Trần Thị Ba (2010) thì EC (độ dẫn điện) trong dung dịch dinh dưỡng tăng cần duy trì EC < 4 mmhos/cm, trung bình 1 – 2 mmhos/cm Nên EC của các nghiệm thức đối chứng, Yogen TC24, Yogen TC28, Hydro Greens phù hợp cho cây cải ngọt phát triển tốt trong 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng EC của nghiệm thức TC – MoBI phù hợp cho cây cải ngọt phát triển tốt trong 14 ngày sau khi pha dung dịch dinh
Trang 28dưỡng, tới 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng thì TC – MoBI có EC = 0,26 mmhos/cm nên một số lá non có triệu chứng vàng
Bảng 8: EC (mmhos/cm) của dung dịch dưỡng sau 1, 7, 14, 21 và 28 ngày pha dung
dịch dinh dưỡng
Nghiệm thức
Sau 1 ngày pha dung dịch dinh dưỡng
Sau 7 ngày pha dung dịch dinh dưỡng
Sau 14 ngày pha dung dịch dinh dưỡng
Sau 21 ngày pha dung dịch dinh dưỡng
Sau 28 ngày pha dung dịch dinh dưỡng
Ghi chú: Trong cùng một cột, các trung bình có cùng mẫu tự theo sau thì không khác
biệt nhau qua phân tích thống kê bằng phép thử Duncan
*: Khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5%
4.2 Hiệu quả của 5 dung dịch dinh dưỡng lên sự sinh trưởng và phát triển của cây rau dền trong điều kiện thủy canh theo hệ thống không hoàn lưu
Cây rau dền được bố trí trồng thủy canh tại sân nhà nông dân ở phường Bình Đức thành phố Long Xuyên từ ngày 15/7/2013 đến ngày 15/8/2013 (Hình 5) Nhiệt độ không khí trung bình là 30,210C, dao động từ 26,140
C (vào buổi sáng) đến 31,810C (vào buổi trưa) Độ ẩm không khí dao động từ 60% (vào buổi trưa) đến 86% (vào buổi sáng) Nhiệt độ giá thể thấp nhất vào buổi sáng (7 giờ) là 25,780C, tăng lên cao nhất vào buổi trưa (12 giờ) là 27,980C sau đó giảm dần đến 17 giờ là 27,340
C Thời tiết thuận lợi cho cây rau dền phát triển Hạt rau dền sau khi gieo vào khay 10 ngày thì tiến hành cấy vào
rọ (Hình 7) Cho rọ đã cấy cây rau dền vào thùng xốp để cây ổn định 2 ngày tiến hành pha dung dịch dinh dưỡng (Hình 6) Nếu không có điều kiện gieo cây con trong khay thì
có thể gieo hạt trực tiếp vào rọ đã có sẵn sơ dừa và cho vào thùng xốp, sau khi gieo 10 ngày thì có thể tiến hành pha dung dịch dinh dưỡng Sau khi pha dung dịch dinh dưỡng phải theo dõi mực nước trong hộp xốp: 1 - 5 ngày đầu cho đáy rọ nhựa ngập trong dung dịch từ 1-2 cm, sau đó chừa phân nửa bộ rễ nằm trên mặt dung dịch Trong quá trình trồng cây rau dền không thấy bệnh xuất hiện, chỉ có sâu xanh ăn lá nhưng tỷ lệ không đáng kể Khoảng 25 – 28 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng thì có thể thu hoạch cây rau dền
Trang 29Hình 5 Cây rau dền được trồng thủy canh trước sân nhà nông dân
Hình 6 Cây rau dền 10 ngày sau khi gieo được cấy vào rọ
Trang 30Hình 7 Cây rau dền trước khi pha dung dịch dinh dưỡng 4.2.1 Chiều cao cây rau dền
Trước khi pha dung dịch dinh dưỡng, kết quả bảng 9 cho thấy chiều cao cây rau dền của các nghiệm thức không khác biệt nhau qua phân tích thống kê, cao nhất ở nghiệm thức Yogen TC24 là 4,60 cm và thấp nhất ở nghiệm thức TC - MoBI là 4,45 cm
Sau 7 ngày khi pha dung dịch dinh dưỡng, chiều cao cây rau dền của nghiệm
thức đối chứng (4,79 cm) không có sự khác biệt qua phân tích thống kê so với các nghiệm thức còn lại Chiều cao cây rau dền của các nghiệm thức Yogen TC24 (4,70 cm), Yogen TC28 (4,69 cm), Hydro Greens (4,98 cm) và TC – MoBI (4,71 cm) ( Bảng 9)
Ở 14 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng, chiều cao cây rau dền của nghiệm thức đối chứng (11,57 cm) có sự khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với Yogen TC28 (10,03 cm), và không có sự khác biệt qua phân tích thống kê so với Yogen TC24 (11,07 cm), Hydro Greens (10,87 cm) và TC – MoBI (10,77 cm) Nghiệm thức Yogen TC28 (10,03 cm) không có sự khác biệt qua phân tích thống kê so với Yogen TC24 (11,07 cm), Hydro Greens (10,87 cm) và TC – MoBI (10,77 cm)( Bảng 9)
Ở 21 ngày sau khi pha dung dịch dinh dưỡng, chiều cao cây rau dền của nghiệm thức đối chứng (22,33 cm) có sự khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với Yogen TC28 (17,30cm), Hydro Greens (17,70 cm) và TC – MoBI (17,07 cm), và không có sự khác biệt qua phân tích thống kê so với Yogen TC24 (19,93 cm) Nghiệm thức Yogen TC24 (19,93 cm) không có sự khác biệt qua phân tích thống kê so với Yogen TC28 (17,30cm), Hydro Greens (17,70 cm) và TC – MoBI (17,07 cm)( Bảng 9)