Việc phát triển nhanh diện tích nuôi cá tra, cùng với việc quản lý chất thải và bảo vệ môi trường , nhất là việc sử dụng không hợp lý nguồn thức ăn, phương pháp cho ăn đã dẫn đến ô nhiễm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TNTN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Đánh giá mức độ tích lũy đạm, lân trong ao nuôi cá
tra (Pangasianodon hypophthamus) thâm canh ở
huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
Chủ nhiệm đề tài: ThS CAO VĂN THÍCH
7/2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TNTN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Đánh giá mức độ tích lũy đạm, lân trong ao nuôi cá
tra (Pangasianodon hypophthamus) thâm canh ở
huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
BAN GIÁM HIỆU LÃNH ĐẠO ĐƠN VỊ CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
7/2012
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Nông nghiệp - TNTN, các đồng nghiệp công tác tại Bộ môn thủy sản đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Chân thành cảm ơn các anh chị công tác tại phòng Nông nghiệp & PTNT
huyện Châu Phú đã giúp đỡ trong thời gian tôi thực hiện đề tài
ii
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa……… i
Lời cảm tạ……… ……… ii
Mục lục……… iii
Danh sách bảng……… v
Danh sách hình……… vi
CHƯƠNG 1……… 1
GIỚI THIỆU……… 1
1.1 Đặt vấn đề……… 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu……… 1
1.3 Nội dung nghiên cứu……… 1
CHƯƠNG 2……… 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU……… 2
2.1 Đặc điểm sinh học cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)……… 2
2.1.1 Đặc điểm phân loại……… 2
2.1.2 Hình thái……… 2
2.1.3 Đặc điểm sinh sản và phân bố……… 2
2.1.4 Sinh trưởng và dinh dưỡng……… 3
2.2 Tình hình nuôi cá tra trên thế giới……… 4
2.3 Tình hình nuôi cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long……… 4
2.4 Động thái vật chất dinh dưỡng trong ao nuôi thủy sản nói chung và ao nuôi cá da trơn nói riêng 5
2.4.1 Đặc điểm môi trường nước trong ao nuôi thủy sản……… 5
2.4.2 Chu trình dinh dưỡng trong ao nuôi cá da trơn thâm canh………… 7
2.4.3 Vấn đề ô nhiễm trong việc phát triển nghề nuôi cá tra thâm canh… 9
CHƯƠNG 3……… 10
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 10
3.1 Địa điểm nghiên cứu và thời gian thực hiện……… 10
3.2 Phương pháp nghiên cứu……… 10
3.2.1 Khảo sát khía cạnh kỹ thuật và môi trường của nghề nuôi cá tra trong ao……… 10 3.2.2 Khảo sát biến động các yếu tố chất lượng nước trong suốt vụ nuôi… 10
Trang 53.2.3 Xác định lượng vật chất dinh dưỡng, chất thải thải ra từ hệ thống nuôi
cá……… 11
3.2.4 Phương pháp thu và phân tích……… 13
3.2.5 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu……… 13
CHƯƠNG 4……… 16
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN……… 16
4.1 Tình hình nuôi cá tra thâm canh trong ao tại huyện Châu Phú, An Giang 16 4.1.1 Tổng quan về mô hình nuôi……… 16
4.1.2 Các thông tin chung về hộ nuôi……… 16
4.1.3 Thông tin về kỹ thuật ……… 18
4.2 Biến động các yếu tố môi trường trong ao nuôi cá tra thâm canh……… 21
4.2.1 Các yếu tố vật lý……… 21
4.2.2 Các yếu tố hóa học……… 22
4.2.3 Các yếu tố hóa học của bùn đáy ao……… 30
4.2.4 Chất lượng nước ao trước khi thả nuôi và sau khi thu hoạch cá…… 32
4.3 Tích lũy vật chất dinh dưỡng trong ao nuôi……… 33
4.3.1 Phân bố đạm và lân trong ao nuôi……… 33
4.3.2 Cân bằng dinh dưỡng trong ao nuôi……… 39
CHƯƠNG 5……… 41
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT……… 41
5.1 Kết luận……… 41
5.2 Đề xuất……… 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 42
PHỤ LỤC……… 47
iv
Trang 6DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Thành phần thức ăn trong dạ dày cá tra trong tự nhiên……… 5
Bảng 4.1 Giá trị các chỉ tiêu chất lượng nước thời điểm trước khi thả cá và sau khi thu hoạch……… 33
Bảng 4.2 Độ ẩm, nitơ, phospho của cá, thức ăn, bùn đáy lúc thả và thu hoạch ……… 34
Bảng 4.3 Phân bố nitơ trong ao nuôi……… 35
Bảng 4.4 Phân bố phospho trong ao nuôi……… 36
Bảng 4.5 Phân bố vật chất khô trong ao nuôi……… 37
Trang 7DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) 2
Hình 3.1 Sơ đồ thu mẫu bùn đáy ao……… 11
Hình 4.1 Phân bố nhóm tuổi lao động trong hoạt động nuôi cá tra………… 16
Hình 4.2 Phân bố trình độ học vấn trong hoạt động nuôi cá tra……… 17
Hình 4.3 Kiến thức chuyên môn của nông hộ nuôi cá tra……… 17
Hình 4.4 Mùa vụ thả nuôi trong năm……… 18
Hình 4.5 Diện tích ao nuôi cá tra tại vùng nghiên cứu……… 19
Hình 4.6 Mật độ thả nuôi tại vùng nghiên cứu……… 19
Hình 4.7 Loại thức ăn sử dụng trong quá trình nuôi tại vùng nghiên cứu… 20
Hình 4.8 Biến động nhiệt độ qua các tháng nuôi……… 22
Hình 4.9 Biến động pH qua các tháng nuôi……… 22
Hình 4.10 Biến động DO qua các tháng nuôi……… 23
Hình 4.11 Biến động COD qua các tháng nuôi……… 24
Hình 4.12 Biến động TAN qua các tháng nuôi……… 24
Hình 4.13 Biến động N – NO2 qua các tháng nuôi 25
Hình 4.14 Biến động N – NO3 qua các tháng nuôi 26
Hình 4.15 Biến động TKN qua các tháng nuôi 27
Hình 4.16 Biến động TN qua các tháng nuôi 27
Hình 4.17 Biến động P – PO4 qua các tháng nuôi 28
Hình 4.18 Biến động TP qua các tháng nuôi 29
Hình 4.19 Biến động TSS qua ác tháng nuôi 29
Hình 4.20 Biến động OSS qua các tháng nuôi 30
Hình 4.21 Biến động % OSS 30
Hình 4.22 Biến động TN của bùn đáy qua các tháng nuôi 31
Hình 4.23 Biến động TP của bùn đáy qua các tháng nuôi 31
Hình 4.24 Biến động vật chất hữu cơ trong bùn đáy ao nuôi 32
Hình 4.25 Lượng đạm tích lũy trong ao nuôi lúc thu hoạch 38
Hình 4.26 Lượng lân tích lũy trong ao nuôi lúc thu hoạch 38
Hình 4.27 Lượng vật chất khô tích lũy trong ao nuôi lúc thu hoạch 38
Hình 4.28 Phân bố nitơ khi sản xuất 1 kg cá 39
Hình 4.29 Phân bố phospho khi sản xuất 1 kg cá 39
Hình 4.30 Phân bố vật chất khô khi sản xuất 1 kg cá 40
Trang 8Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Cá Tra (Pangasianodon hypothalamus) hiện là đối tượng nuôi chủ lực ở đồng bằng
sông Cửu Long (ĐBSCL) Theo số liệu thống kê từ Hội nghị tổng kết năm 2010 và triển
khai kế hoạch năm 2011 của ban chỉ đạo sản xuất và tiêu thụ cá tra thì diện tích nuôi cá
Tra thâm canh ở vùng ĐBSCL đạt 5.420ha, sản lượng đạt khoảng 1,1 triệu tấn và kim
ngạch xuất khẩu đạt 1,4 tỷ USD (http://www.vietfish.org)
Sự gia tăng liên tục về qui mô diện tích, mật độ nuôi và sản lượng cá Tra là dấu hiệu
đáng mừng về sự phát triển không ngừng của nghề nuôi góp phần tăng thu nhập của
người dân và kim ngạch xuất khấu của đất nước Tuy nhiên, đây cũng là mối lo rất lớn
của các nhà quản lý ngành cùng các nhà chuyên môn liên quan đến vấn đề môi trường
Do sự gia tăng đáng kể diện tích nuôi và mật độ nuôi (40-50 con/m2), sử dụng hoàn toàn
thức ăn công nghiệp dẫn đến lượng vật chất thải ra từ các ao nuôi cá Tra cũng tăng lên
đáng kể Nếu không được kiểm soát và có biện pháp xử lý thích hợp thì việc nuôi cá Tra
sẽ trở thành vấn đề rất phức tạp đối với sự phát triển bền vững của nghề nuôi
Kỹ thuật nuôi cá da trơn, đặc biệt là cá tra đã có bước nhảy vọt đáng kể Năng suất nuôi
tăng nhanh và có thể đạt sản lượng khoảng 166 kg/m3 (nuôi bè), 345 tấn/ha (nuôi đăng
quầng) (Nguyễn Thanh Phương et al, 2004), 501 tấn/ha (nuôi ao) (Lê Bảo Ngọc, 2004)
Việc phát triển nhanh diện tích nuôi cá tra, cùng với việc quản lý chất thải và bảo vệ
môi trường , nhất là việc sử dụng không hợp lý nguồn thức ăn, phương pháp cho ăn đã
dẫn đến ô nhiễm môi trường do chất thải từ thức ăn thừa được đưa ra sông, rạch qua
những lần thay nước Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến sự phát sinh dịch bệnh, đặc biệt
khi mực nước sông thấp và dòng chảy chậm trong suốt mùa khô làm cho các chất thải
không phân tán kịp thời đang là vấn đề nan giải cho nghề nuôi cá tra hiện nay
Trong khi có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện trên phương diện sản xuất giống,
ương giống, dinh dưỡng - thức ăn, nuôi cá thịt và bệnh thì còn rất ít nghiên cứu về chất
thải từ nuôi cá da trơn và ảnh hưởng của nó đến môi trường Trước tình hình trên, đề tài:
“Đánh giá mức độ tích lũy đạm, lân trong ao nuôi cá tra (Pangasianodon
hypophthamus) thâm canh ở huyện Châu Phú, tỉnh An Giang“ được thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Đánh giá khả năng gây ô nhiễm môi trường từ nguồn chất thải ở ao
nuôi cá tra thâm canh làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường và
phát triển nghề nuôi cá da trơn bền vững
Mục tiêu cụ thể: Xác định mức độ tích lũy và lượng chất dinh dưỡng thải ra từ ao nuôi
cá tra thâm canh Làm cơ sở cho việc đánh giá và đề xuất các giải pháp xử lý chất thải
(nước và bùn) trước khi thải vào môi trường
1.3 Nội dung nghiên cứu
Điều tra các khía cạnh kỹ thuật và môi trường của nghề nuôi cá tra trong ao
Đánh giá sự biến động các yếu tố chất lượng nước trong ao nuôi cá tra thâm canh
Xác định lượng dinh dưỡng (đạm, lân) tích lũy trong cá và lượng vật chất thải ra môi
Trang 9Chương 2 TỔNG QUAN
1.2 Đặc điểm sinh học của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
1.2.1 Hệ thống phân loại
Loài cá tra nuôi được mô tả lần đầu bởi Sauvage năm 1878 ở Campuchia, tên khoa học
của cá tra có nhiều tên khác nhau dựa trên cơ sở những tài liệu các tác giả nước ngoài
mô tả cá ở các khu hệ cá lân cận như Thái Lan (Smith, 1945) Trước đây, cá tra được
xếp vào họ Shilbeidae và tên khoa học của chúng là Pangasius micronemus Bleeker,
1847 (Mai Đình Yên và ctv, 1992; Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Ngoài ra, ở Thái Lan, Indonesia, Malaysia, cá tra còn có tên khoa học khác là Pangasius
sutchi (Cacot, 1998) Gần đây một số tác giả lại xếp cá tra vào một giống khác
Pangasianodon (Komarudin và Pariselle, 2000) Theo kết quả định danh lại của Roberts
và Vidthayanon (1991) cá tra có tên khoa học là Pangasius hypophthamus Fishbase
(www.fishbase.org, 9/2008) cá tra có hệ thống phân loại như sau:
Cá tra có vẩy bị thoái hóa, mắt nhỏ hoặc tiêu biến, có cơ quan hô hấp phụ và có khả
năng hô hấp qua da, qua xoang miệng vì vậy chúng có khả năng sống lâu trong bùn,
trên cạn nhưng phải đảm bảo đủ độ ẩm cho da
Hình 2.1 Cá tra - Pangasianodon hypophthalmus (http://www.fishbase.org, 9/2010)
1.2.3 Đặc điểm sinh sản và phân bố
Cá tra thành thục chậm so với các loài cá da trơn khác, chúng thành thục sinh dục vào
cuối mùa khô và đầu mùa mưa Mùa vụ sinh sản của cá basa kéo dài từ tháng 2 đến
tháng 6, trong khi đó mùa vụ sinh sản của cá tra từ tháng 3 đến tháng 8 đối với cá nuôi
bè, nhưng đối với cá tra nuôi ao thì thời gian này ngắn hơn, từ tháng 6 đến tháng 8 Sự
thành thục của cá tra cái cũng diễn ra vào cuối mùa khô và đầu mùa mưa (Cacot, 1999)
Sinh sản cá tra lần đầu tiên được công bố tại Thái Lan vào năm 1959, sau đó là ở
Indonesia vào năm 1981 và ở Malaysia năm 1983 Ở Việt Nam, sinh sản nhân tạo cá tra
vào năm 1981 nhưng kết quả đạt được rất thấp, cho đến năm 1995 với công trình nghiên
Trang 10cứu của Philip Cacot, đã sản xuất giống nhân tạo thành công 2 đối tượng cá tra và cá
basa, chính thành quả này đã mở ra triển vọng lớn cho nghề nuôi cá tra Cá bố mẹ nuôi
vỗ trong ao hay bè đều cho kết quả sinh sản nhân tạo tốt với các loại hormon thông
thường là HCG và Ovaprim (Cacot, 1999)
Cá tra phân bố nhiều trên lưu vực sông Mekong và sông Chaophraya – Thái Lan
(Roberts và Vidthayanon, 1991) Ở Việt Nam cá tra phân bố trên sông Tiền, sông Hậu,
rất nhiều ở vùng hạ lưu Cá tra giống được vớt chủ yếu trên sông Tiền, cá trưởng thành
chỉ thấy trong ao nuôi, rất ít khi tìm thấy trong tự nhiên (Mai Đình Yên và ctv, 1992)
Theo Cacot (1998), ở hạ lưu sông Cửu Long có 11 loài chủ yếu thuộc giống Pangasius,
trong đó có 8 loài có kích thước lớn (chiều dài lơn hơn 50 cm) Đặc biệt có 2 giống loài
cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá basa (Pangasius bocourti) được nuôi rất
nhiều ở Đồng bằng sông Cửu Long
1.2.4 Sinh trưởng và dinh dưỡng
1.2.4.1 Đặc điểm sinh trưởng
Cá tra tăng trưởng tương đối cao, cá tra cùng cá vồ cờ (Pangasius sanitwongsei) là hai
loài cá tăng trưởng nhanh nhất trong 10 loài thuộc họ Pangasiidae (Lazard, 1998) Cá tra
bột hết noãn hoàng có chiều dài trung bình từ 1 – 1,1 cm, sau 14 ngày ương đạt 2,0–2,3
cm và có trọng lượng là 0,52 g Cá 5 tuần tuổi đạt 1,28–1,5 g chiều dài 5-6 cm Sau 1
năm cá đạt 0,7 – 1,5 kg và đến 3 – 4 tuổi đạt 3 – 4 kg Cá còn nhỏ tăng nhanh về chiều
dài, khi cá đạt 2,5 kg là bước vào thời kỳ tích lũy mỡ, cần có chế độ nuôi dưỡng thích
hợp để phát dục tốt Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng còn tùy thuộc rất lớn vào mật độ nuôi,
chất lượng và số lượng thức ăn cung cấp Độ béo cũng tăng dần theo sự phát triển của
cá, ở năm đầu tiên độ béo tăng nhanh nhất, qua các năm sau độ béo biến đổi không đáng
kể: cá có trọng lượng 11,2 g có độ béo 0,99%, cá 560 g có độ béo 1,6%, nhưng cá 3 tuổi
nặng 3,62 kg có độ béo là 1,62% Cá đực có độ béo cao hơn cá cái (Trần Thanh Xuân,
1994)
1.2.4.2 Tập tính dinh dưỡng
Miệng cá có răng sắc nhọn trên các xương hàm, xương lá mía và xương khẩu cái Gai
trên cung mang thưa và ngắn nên không có tác dụng lọc thức ăn như các loài cá phiêu
sinh động vật Dạ dày dạng chữ U, ruột ngắn và không gấp khúc Với đặc điểm nên trên
nên trong tự nhiên, tính ăn của cá tra thiên về động vật Ở giai đoạn cá bột và cá huơng,
chúng thích ăn mồi sống, nhưng trong quá trình phát triển thì chúng thích ăn mồi chết
và phổ thức ăn rất rộng
Theo Trần Thanh Xuân (1994), khi nghiên cứu thành phần thức ăn trong dạ dày của cá
tra đánh bắt trong tự nhiên có tỉ lệ thành phần thức ăn trong dạ dày được trình bày ở
Trang 11Cũng như các loài cá khác, khi bắt đầu ăn thức ăn ngoài, cá tra ăn phiêu sinh động vật
Thức ăn ưa thích của chúng là nhóm Cladocera, nhóm Rotifer cũng xuất hiện trong dạ
dày nhưng do kích thước nhỏ nên vai trò dinh dưỡng của Rotifera không cao Trong
điều kiên ương nuôi trên bể, chúng có thể sử dụng nhiều loại thức ăn như: Artemia, trùn
chỉ, Moina, Rotifera, thức ăn chế biến…Tuy nhiên, ấu trùng Artemia và trùn chỉ cho tỉ
lệ sống cao và sinh trưởng của cá tốt nhất (Lê Thanh Hùng và ctv, 1998)
Cá tra 3 -4 ngày tuổi có thể bắt đầu ăn lẫn nhau và chúng tiếp tục ăn nhau nếu cá ương
không cho ăn thức ăn đầy đủ Khi khảo sát cá bột vớt trong tự nhiên vẫn thấy chúng ăn
lẫn nhau ngay trong các đáy chứa cá bột vớt được, ngoài ra còn trong dạ dầy của chúng
có rất nhiều phần cơ thể và mắt cá con các loài cá khác (Nguyễn Tường Anh và ctv,
1979)
Cá con 20 ngày tuổi sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến (Lê Như Xuân và ctv, 2000) Cá
tra càng lớn, phổ thức ăn của chúng càng rộng Nhìn chung, loài cá này có tập tính ăn
thiên về động vật Trong ao, bè nuôi chúng có thể sử dụng được tấm, cám, rau, bèo, phế
phẩm các nhà máy chế biến thủy sản, thức ăn tự chế dạng ẩm với hàm lượng protein
thấp Đặc điểm này có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển nuôi rộng rãi loài cá
này (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Lê Như Xuân và ctv, 2000) Cá
tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn có hàm lượng protein khác nhau, trong
điều kiện thiếu thức ăn cá có thể sử dụng các loại thức ăn bắt buộc như mùn bã hữu cơ,
thức ăn có nguồn gốc từ động vật (Trần Thanh Xuân, 1994)
1.3 Tình hình nuôi cá tra ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Nuôi cá tra, basa ở Việt Nam đã có từ những năm 50 của thế kỷ XX, xuất phát từ Đồng
bằng sông Cửu Long, ban đầu chỉ nuôi ở quy mô nhỏ, nhằm tự cung tự cấp thực phẩm
Các hình thức nuôi chủ yếu là tận dụng ao hầm, mương vườn và nguồn thức ăn sẵn có
Cuối thập niên 90, nghề nuôi cá tra, basa đã có những bước tiến vượt bậc, các doanh
nghiệp đã tìm được thị trường xuất khẩu, các nhà khoa học đã thành công trong quy
trình sản xuất giống và kỹ thuật nuôi thâm canh đạt kết quả cao Việc chủ động sản xuất
giống cá tra, basa nhân tạo, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất đã mở ra khả năng sản xuất
hàng hóa tập trung phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (Phân viện Kinh tế và
Quy hoạch thủy sản thành phố Hồ Chí Minh, 2006)
Ở khu vực miền Tây Nam bộ hệ thống nuôi cá tra, basa đặc trưng là nuôi bè, nuôi ao,
đăng quầng ở vùng sông Hậu tỉnh Ðồng Tháp và An Giang Nghề nuôi cá da trơn trên
bè bắt đầu vào những năm 1968, khi nhóm người Việt Nam sinh sống ở Campuchia
phải sơ tán về hạ lưu sông Mekong do tình hình chiến tranh (MRC, 1992 được trích bởi
Nguyễn Thanh Phương, 1998) Ðiều kiện tự nhiên ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long là
yếu tố quan trọng nhất mang tính quyết định đến hiệu quả của nghề nuôi cá tra và cá ba
sa
Việc mở rộng diện tích ao nuôi cá một cách tự phát đã làm suy thoái nghiêm trọng môi
trường nước Nhất là hiện nay, đa số ngư dân áp dụng nuôi cá theo công nghệ mới, để
nâng cao năng suất và cải thiện thịt cá, việc thay nước được thực hiện liên tục Trong
khi hệ thống ao xử lý hầu như không được quan tâm để xử lý nước thải trước khi thải ra
môi trường, điều này đã làm suy giảm môi trường nghiêm trọng Đây chính là những
nguy cơ tiềm ẩn cho nghề nuôi cá ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 121.4 Động thái vật chất dinh dưỡng trong ao nuôi thủy sản nói chung và ao nuôi
cá da trơn nói riêng
1.4.1 Đặc điểm môi trường nước trong ao nuôi thủy sản
Môi trường nước ao nuôi bao gồm tổng thể các mối quan hệ của các yếu tố vật lý, hoá
học và sinh học Các yếu tố này tác động và có mối quan hệ hữu cơ với nhau Sự biến
động của yếu tố này sẽ kéo theo sự biến động của các yếu tố khác Arnol et al (1992) đã
phân loại đặc điểm môi trường ao nuôi ra thành nhiều nhóm Trong đó đặc tính vật lý và
kết hợp của vật chất bao gồm các yếu tố độ trong, độ đục, vật chất lơ lửng và hoà tan;
thành phần vô cơ phi kim loại như là CO2, TAN, NO2-, NO3-, PO43-…; thành phần hữu
cơ kết hợp bao gồm COD, BOD, tanin…; và các thông số đánh giá sinh học như vi
khuẩn, chlorophyll-a, phytoplankton, zooplankton…
1.4.1.1 Nhiệt độ
Theo Lê Như Xuân (1994) thì khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của cá nhiệt
đới là 25 – 30oC Như vậy với khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng Đồng bằng song Cửu
Long, có nhiệt độ trung bình 26 – 28oC, là phù hợp cho sự phát triển và sinh trưởng của
cá nói chung Riêng đối với cá da trơn theo NRC (1993) thì nhiệt độ từ 26 – 30oC là lý
tưởng
Hùynh Trường Giang và ctv (2007) đã so sánh nhiệt độ ở các ao nuôi cá tra tại An
Giang kết quả báo cáo cho thấy nhiệt độ dao động từ 27,5 – 34oC là tốt đối với cá tra
1.4.1.2 pH
Theo Lê Văn Cát và ctv (2006), (Boyd, 1990) thì khoảng tối ưu cho tôm cá nước ngọt
phát triển và sinh sản là từ 6,5 – 9,0 Điểm chết đối với chúng là pH < 4 và pH > 11
Theo Dương Thúy Yên (2003) thì cá tra có thể sống trong điều kiện môi trường có pH
rất thấp, khoảng 4,0, do đó ảnh hưởng của pH, nhất là pH thấp lên cá tra nuôi là ít xảy
ra Ngoài ra, sự biến động pH theo ngày đêm phụ thuộc vào mật độ phiêu sinh vật thực
vật
Theo TCVN 5945: 2005, tiêu chuẩn nước thải được đổ vào các vực nước thường được
dùng cho làm nguồn nước cho mục đích sinh hoạt (mức A), chỉ số pH = 6 - 9 Ở mức B
(pH = 5,5 - 9), thì được đổ vào các vực nước nhận thải khác trừ các thủy vực quy định ở
mức A Nếu ở mức C (pH = 5 - 9), chỉ được phép thải vào các nơi quy định (như hồ
chứa nước thải được xây riêng, cống dẫn đến nhà máy xử lý nước thải tập trung )
1.4.1.3 Oxy hòa tan (DO)
Nồng độ oxy hòa tan tự do trong nước khoảng 8-10 ppm và sẽ dao động mạnh phụ
thuộc vào nhiệt độ và các quá trình phân hủy các hợp chất và sự quang hợp của thực vật
thủy sinh (Lê Văn Khoa, 2001)
Khi nghiên cứu trên đối tượng cá tra, Dương Nhựt Long và ctv (2004) cho rằng hàm
lượng thích hợp cho ao nuôi cá thâm canh là 3,5 – 6,5 ppm Dương Thúy Yên (2003)
khi nghiên cứu về ngưỡng oxy dưới của cá tra đã kết luận rằng giá trị này nhỏ hơn 2,0
mg/L Nuôi cá ở mật độ cao, ao nuôi cũng thường xảy ra hội chứng thiếu oxy cục bộ do
sự gia tăng hàm lượng CO2 trong nước, pH giảm, NO2- tăng và biến động của một số
yếu tố môi trường khác (Schmittou, 1993)
Trang 131.4.1.4 Tiêu hao oxy hóa học (COD)
Giá trị COD của nước phụ thuộc vào nhiệt độ và hàm lượng chất hũu cơ trong thuỷ vực
COD quan hệ tỉ lệ thuận với các hợp chất hữu cơ, các hợp chất hydrocarbon trong nước
(Arnol et al., 1992)
Theo Lê Như Xuân và ctv (1994 ) thì COD thích hợp cho các ao nuôi cá là 15 – 30
ppm, giới hạn cho phép là 15 – 40 ppm
Theo TCVN 5945: 2005, tiêu chuẩn nước thải được đổ vào các vực nước thường được
dùng làm nguồn nước cho mục đích sinh hoạt (mức A), chỉ số COD phải ≤ 50 mg/L Ở
mức B (50 mg/L< COD≤80 mg/L), thì được đổ vào các vực nước nhận thải khác trừ các
thủy vực quy định ở mức A Nếu ở mức C (80 mg/L< COD≤400 mg/L), chỉ được phép
thải vào các nơi quy định (như hồ chứa nước thải được xây riêng, cống dẫn đến nhà
máy xử lý nước thải tập trung )
1.4.1.5 Tổng vật chất lơ lửng (TSS)
Vật chất lơ lửng trong ao nuôi thủy sản thường do phù sa, vật chất hữu cơ và phiêu sinh
vật tạo nên
Vật chất lơ lửng thường đi vào ao nuôi thông qua nguồn nước cấp, nước mưa hoặc do
bởi sóng gió hay dòng nước chảy mạnh làm xói lở bờ ao Phần lớn những vật chất này
sẽ lắng tụ xuống đáy ao, nhưng một phần sẽ lơ lững trong nước trong thời gian dài gây
nên độ đục trong nước Ngoài ra ao nuôi tôm cá nước đục còn do phiêu sinh thực vật có
trong ao thì đây là yếu tố có lợi, vì chúng là thức ăn cho tôm cá, trong khi đó độ đục do
vật chất phù sa hay vật chất hữu cơ thì ít nhiều sẽ gây hại cho đối tượng nuôi và hàm
lượng này thích hợp cho ao nuôi dao động trong khoảng 10 – 50 mg/L (Boyd, 1998)
Kết quả nghiên cứu của Trương Quốc Phú et al (2003) cho thấy vào thời điểm từ tháng
4 – tháng 6, tại một số điểm trên sông Hậu gần khu vực chợ thì hàm lượng TSS thường
vượt quá 200 mg/L Theo Lawson (1995), hàm lượng TSS thích hợp trong ao nuôi thuỷ
sản phải nhỏ hơn 80 mg/L
Theo TCVN 5945: 2005, tiêu chuẩn nước thải được đổ vào các vực nước thường được
dùng làm nguồn nước cho mục đích sinh hoạt (mức A), tổng chất rắn lơ lửng phải ≤ 50
mg/L Ở mức B (50 mg/L< tổng chất rắn lơ lửng ≤100 mg/L), thì được đổ vào các vực
nước nhận thải khác trừ các thủy vực quy định ở mức A Nếu ở mức C (100 mg/L< tổng
chất rắn lơ lửng ≤200 mg/L), chỉ được phép thải vào các nơi quy định (như hồ chứa
nước thải được xây riêng, cống dẫn đến nhà máy xử lý nước thải tập trung )
1.4.1.6 Tổng đạm amôn (TAN)
Theo Boyd (1998) nước dùng cho nuôi trồng thủy sản thì hàm lượng TAN tốt nhất là
không được vượt quá 2 mg/L, vào cuối vụ nuôi nước ao nuôi cá Tra thâm canh đã vượt
quá giới hạn trên
Ở các ao nuôi cá tra thâm canh, mặc dù vào cuối vụ việc thay nước diễn ra thường
xuyên hơn so với đầu vụ nhưng hàm lượng TAN vẫn ở mức cao, cao hơn 5 lần so với ao
nuôi tôm thâm canh và cao hơn 10 lần so với ao nuôi thủy sản thông thường (Trương
Quốc Phú, 2007)
Kết quả nghiên cứu của Dương Nhựt Long và ctv (2005) thì cho rằng hàm lượng NH4+
thường thấp hơn 1,5 mg/L còn Boyd (1998) và Chanratchakool (2003) thì hàm lượng
NH4+ thích hợp hợp cho ao nuôi tôm dao động trong khoảng 0,2 – 2,0 mg/L Nếu hàm
lượng NH4+ lớn hơn 2,0 mg/L ao sẽ giàu dinh dưỡng và tảo trong ao sẽ phát triển rất
Trang 14mạnh Môi trường nước không ô nhiễm thường có hàm lượng NH4+ nhỏ hơn 0,1 mg/L
và trong nước mặt tự nhiên NH4+ thường hiện diện ở mức <0,2 mg/L (Chapman, 1997)
1.4.1.7 Đạm nitrite (N-NO2 - )
Hàm lượng N-NO2- thích hợp cho ao nuôi cá <0,3 mg/L và đạm (N-NO3-) một trong
những dạng đạm được thực vật hấp thu dễ dàng, không độc hại đối với thuỷ sinh vật là
0,2 – 10 mg/L (Boyd, 1998) Theo Boyd, 1998 thì trong ao nuôi cá nheo có thay nước
hàm lượng nitơ tổng và COD tăng theo thời gian nuôi, trong đó nitơ ở dạng nitrite và
nitrate không vượt quá 0,05 mg/L và 0,1 mg/L và ammonia tổng không vượt quá 0,75
mg/L
1.4.1.8 Đạm Nitrate (N-NO3 - )
Theo Boyd (1998) nitrate là dạng đạm không độc nhưng với hàm lượng quá cao cũng
không có lợi cho tôm cá, khi hàm lượng nitrate trong nước cao sẽ làm tảo phát triển quá
mức Theo nhận định của ông thì hàm lượng NO3- thích hợp trong ao nuôi thuỷ sản từ
0,2 - 3,0 mg/L Riêng Lawson (1995) đã nhận xét hàm lượng NO3-thích hợp cho ao
nuôi thuỷ sản là nhỏ hơn 3,0 mg/L
1.4.1.9 Lân (PO4 3- và TP)
Phospho là nguyên tố giới hạn của sự phát triển phiêu sinh thực vật trong hệ thống ao
nuôi thuỷ sản (Boyd, 1990) và nếu trong thủy vực tự nhiên có nhiều phospho thì thực
vật phiêu sinh càng phát triển (Lee, 1970) Thật vậy, Mortimer (1954) và Hicking
(1962) đã thí nghiệm trên ao bón phân thì hàm lượng phospho tăng và đồng thời năng
suất cá cũng tăng (trích bởi Nguyễn Thanh Long, 2003)
Thông thường, đối với môi trường ao nuôi giàu dinh dưỡng, TAN và lân hoà tan rất cao,
nhưng đối với những ao có lớp bùn đáy dầy, độ cứng cao thì sự biến động lân hoà tan
không cùng qui luật với TAN Theo Lê Bảo Ngọc (2004) đối với ao nuôi thâm canh,
hàm lượng lân hoà tan đạt giá trị 0,44 ± 0,52 mg/l Vũ Nam Sơn và ctv (2004) cho rằng
hàm lượng tổng lân (TP) trong nước nuôi tôm càng xanh đăng quầng chỉ dao động từ
0,156 – 0,161 mg/L và không có sự khác biệt về hàm lượng TP giữa nguồn nước vào và
ra khỏi quầng
Theo kết quả nghiên cứu của Pekar (1997), hàm lượng lân hoà tan trong ao dao động
trong khoảng 0,02 – 0,4 mg/L là thể hiện chất lượng nước ao nuôi có hàm lượng dinh
dưỡng khá phong phú, là điều kiện để tảo phát triển tốt trong ao
1.4.2 Chu trình dinh dưỡng trong ao nuôi cá da trơn thâm canh
Nuôi cá thâm canh làm cho môi trường nước xung quanh giàu chất dinh dưỡng và có
nguy cơ bị ô nhiễm Thức ăn dư thừa và phân cá làm cho hàm lượng chất dinh dưỡng và
vật chất hữu cơ lơ lửng trong nước tăng và vì thế lượng tiêu hao sinh học và ô nhiễm
môi trường tăng (Muir, 1992) Hàm lượng chất dinh dưỡng trong nước thải từ ao nuôi
cá trê thâm canh rất cao (Veerina, 1989) và hơn 64% đạm tổng và 77% lân tổng từ thức
ăn thất thoát ra môi trường nước (Udomkarm, 1989)
Nuôi cá thâm canh trong ao đất thì cá được cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn tự chế hoặc
thức ăn công nghiệp Thức ăn tự chế có hàm lượng đạm từ 20 – 30% Nếu cho ăn thừa
thì thức ăn sẽ chìm xuống đáy ao, thối rữa tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát
triển Thức ăn thối rữa làm gia tăng sự phát triển của phiêu sinh vật trong nước, phiêu
sinh chết sẽ ảnh hưởng làm ô nhiễm nguồn nước Theo Popma (2000) thì nitơ trong chất
thải bài tiết là ammonia đơn giản Theo Lê Huy Phước (2002) thì việc sử dụng phân bón
Trang 15và thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao làm cho nguồn nước thải từ các ao nuôi rất
giàu các nguồn dinh dưỡng hoà tan, nhất là nitơ và phốt-pho Khi tổng hàm lượng đạm
và tổng lân nâng cao dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước xung quanh các
khu nuôi tập trung sẽ có sự thay đổi lớn hệ sinh vật của thuỷ vực, đồng thời làm ảnh
hưởng trực tiếp đến các tính chất thuỷ lý hoá của nguồn nước
Nghiên cứu của Penczak et al (1982) ước tính trong 123kg nitơ tiêu thụ thì chỉ có
27,2kg được tích luỹ Với 22% nitơ tiêu thụ được tích luỹ và 78% thải ra thì trong đó có
khoảng 30% được tích luỹ trong vòng chuyển hoá
Nghiên cứu của Bergheim et al (1984) cho rằng lượng đạm trong thức ăn thường vượt
quá 100 lần trong khẩu phần thức ăn cung cấp Như vậy, cho thấy đạm phần lớn cung
cấp cho cá vượt quá nhu cầu cho sự hấp thu dinh dưỡng trong quá trình nuôi Lượng
thức ăn dư thừa có hàm lượng đạm rất lớn, kết quả phân tích lượng đạm thải ra từ một
trang trại nuôi cá hồi là 28.9 kg (Liao và Mayo, 1974) và 32 kg (Willoughby et al,
1972) trong một tấn thức ăn tiêu thụ (trích bởi Pillay, 1990) Theo Hakanson et al
(1988), sự cân bằng nitơ và phốt-pho khi sản xuất 1 kg cá, có thể tổng hợp khoảng 25%
nitơ và 15% mất đi theo chất thải là phân và chất lắng; 60% thải ra là ammonia từ mang
cá Một nghiên cứu khác ở vùng đất mặt về sự chuyển hoá này cho thấy lượng
ammonium sinh ra trên một tấn cá là 45 kg ở nông trại nuôi cá hồi ở Đan Mạch
(Warrer-Hansen, 1982) và 55 kg ở nông trại vùng Bắc Ailen và nước Anh (Solbe,
1982)
Ở các bè nuôi cá da trơn, phần trăm vật chất lơ lửng hữu cơ trong tổng vật chất lơ lửng
khá cao, biến động từ 36,6% đến 48,9%, các phần tử hữu cơ có nguồn gốc từ thức ăn đã
làm tổng vật chất hữu cơ lơ lửng tăng cao Mặc khác, độ trong của nước trong bè
thường thấp hơn ngoài bè, do có sự hiện diện của thức ăn và các sản phẩm thải từ cá
Tổng lượng đạm của lớp bùn đáy ở khu vực cuối nguồn cao hơn có ý nghĩa so với giữa
và đầu nguồn (Trương Quốc Phú và Yang Yi, 2005)
Một nghiên cứu của Lê Bảo Ngọc (2004) về đánh giá chất lượng môi trường ao nuôi cá
tra thâm canh ở xã Tân lộc, huyện Thốt Nốt, thành phố cần Thơ đã đi đến kết luận tổng
đạm và tổng lân cuối vụ nuôi tăng rất cao so với lúc mới thả cá Hàm lượng TKN và TP
trong bùn đáy ao lần lượt trước khi thả là 1,97±0,65 mg/g và 0,39±0,16 mg/g và tăng
lên tương ứng khi thu hoạch là 4,98mg và 2,19±1,77 mg/g bùn khô
Trương Quốc Phú (2007) khi nghiên cứu chất lượng nước và bùn đáy ao nuôi cá tra
thâm canh, kết luận một ao nuôi cá tra thâm canh với năng suất khỏang 500 tấn/vụ thì
lượng thức ăn (thức ăn công nghiệp + tự chế) cung cấp vào ao khỏang 1.000 tấn (hệ số
thức ăn = 2) Tổng lượng nitơ đưa vào ao khỏang 18,8 tấn, lượng phospho khỏang 4,2
tấn
Theo Boyd (1998) nguồn nitơ vào ao nuôi chủ yếu từ thức ăn, lượng nitơ cao chủ yếu
do sản phẩm thải của cá và thức ăn dư thừa, có 26,8% nitơ và 30,1% phốt-pho từ thức
ăn được tích luỹ trong cá Khi sản xuất 1kg cá nuôi sẽ tiêu thụ 1,32 kg thức ăn và thải ra
môi trường 51,1 g N và 7,2gP
Để tận dụng nguồn dinh dưỡng trong hệ thống ao nuôi một cách hiệu quả, một thí
nghiệm về nuôi ghép cá trê lai và cá rô phi thâm canh với mục tiêu tận dụng nguồn dinh
dưỡng dư thừa đã được Lam Mỹ Lan và Yang Yi (2004) thực hiện và kết quả là nhu cầu
nitơ để sản xuất 1kg cá dao động 52,1 – 52,4 g và nhu cầu lân là 6 g trong hệ thống nuôi
ghép và 57,5 g trong hệ thống nuôi đơn, đồng thời thải ra môi trường một lượng 17,6 –
21,7 g nitơ và 3 g lân
Trang 161.4.3 Vấn đề ô nhiễm trong việc phát triển nghề nuôi cá tra thâm canh
Hàm lượng dinh dưỡng tích lũy trong ao nuôi cá tra thâm canh rất cao, gấp nhiều lần so
với các ao nuôi thâm canh các đối tượng khác Hàm lượng vật chất dinh dưỡng tích lũy
trong bùn đáy cũng rất cao Vì vậy, lượng chất thải ra môi trường cũng rất lớn
Các nghiên cứu về chất lượng nước ao nuôi cá Tra thâm canh (Lê Bảo Ngọc, 2004;
Huỳnh Trường Giang, 2008; Cao Văn Thích, 2008) thì một số yếu tố như độ đục, TSS,
TN, TP… hầu như vượt các tiêu chuẩn về chất lượng nước TCVN 5945-2005, TCVN
6774-2000, TCVN 6980-2001, TCVN 6984-2001
Kết quả khảo sát của Trần Anh Dũng (2005) cho thấy có hai nguyên nhân chính gây ra
hao hụt trong quá trình nuôi cá tra ở những năm gần đây là do: (i) môi trường bị ô
nhiễm, chất lượng nước vùng nuôi bị suy giảm, đặc biệt là do các yếu tố môi trường như
pH, chất thải từ đồng ruộng, … từ đó phát sinh dịch bệnh trên cá nuôi; (ii) chất lượng
con giống không đảm bảo nguyên nhân vì người sản xuất giống chạy theo số lượng nên
dung quá nhiều kháng sinh ở giai đoạn cá giống làm cho việc phòng trị bệnh trong giai
đoạn nuôi cá thịt gặp nhiều khó khăn
Tóm lại để phát triển nuôi thuỷ sản bền vững, con người có vai trò quan trọng trong hệ
thống nuôi thuỷ sản vì con người có thể kiểm soát nguồn vào, phát huy chức năng quản
lý hệ thống nuôi và dự đoán được mối quan hệ đối với môi trường bên ngoài hệ thống
(Alex, 2000)
Trang 17Chương 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5 Địa điểm nghiên cứu và thời gian thực hiện
Đề tài được thực hiện tại xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang từ
tháng 8 năm 2009 đến tháng 3 năm 2010
Mẫu được bảo quản và phân tích tại Phòng Thí nghiệm phân tích chất lượng nước thuộc
Bộ môn Thuỷ sinh học Ứng dụng và Phòng thí nghiệm Dinh dưỡng và Chế biến Thuỷ
sản – Khoa Thuỷ sản - Trường Đại học Cần Thơ
1.6 Phương pháp nghiên cứu
1.6.1 Khảo sát khía cạnh kỹ thuật và môi trường của nghề nuôi cá tra trong ao
Đề tài đã điều tra, phỏng vấn 30 (chọn ngẫu nhiên) các hộ nuôi cá tra thâm canh trong
ao tại xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, theo bảng câu hỏi soạn
sẵn (Phụ lục 1A) về các nội dung chính như: quản lý môi trường nước, chất lượng và số
lượng thức ăn cho ăn, các vấn đề liên quan xử lý nước, những trở ngại trong quá trình
quản lý môi trường ao nuôi… và một số thông tin khác
1.6.2 Khảo sát sự biến động các yếu tố chất lượng nước trong suốt vụ nuôi
Nghiên cứu đã được thực hiện trên 3 ao nuôi (ao 1, ao 2 và ao 3) có cùng diện tích
1.000 m2/ao, với mật độ nuôi tương ứng là 48 con/m2 Các ao thí nghiệm có độ sâu mực
nước trong ao là 3 m thời gian nuôi từ tháng 8/2009 đến 3/2010
1.6.2.1 Cải tạo ao
Trước khi thả cá, ao được làm vệ sinh và được bón vôi với liều lượng 1 kg/m2 và phơi
nền đáy 3 ngày trước khi lấy nước vào ao
Nguồn nước được lấy từ kênh nội đồng
Ở giữa mỗi ao nuôi có đặt một thước đo để theo dõi độ sâu mực nước trong ao, giúp cho
việc theo dõi và tính toán lượng nước cấp và tiêu
1.6.2.2 Thả giống
Nguồn cá giống được sử dụng là cá giống nhân tạo, cá giống sau khi mua ở trại giống
về, được dưỡng 15 ngày, để ổn định sức khỏe và loại cá yếu Sau đó chọn lựa cá đồng
cỡ và khỏe mạnh để thả vào các ao thí nghiệm Khối lượng trung bình cá thả ban đầu
20±0,3 g/con
1.6.2.3 Cho ăn và quản lý cho ăn
Trong suốt thời gian thí nghiệm, cá được cho ăn một loại thức ăn công nghiệp có hàm
lượng đạm 26% (ghi trên bao bì) Trong ba tháng đầu cá được cho ăn 3 lần/ngày với
khẩu phần ăn dao động từ 10 – 12% trọng lượng thân cá/ngày Từ tháng thứ 4 trở đi số
lần cho ăn giảm dần còn 1 lần/ngày, lượng thức ăn cho theo nhu cầu của cá
1.6.2.4 Quản lý môi trường nước ao nuôi
Trong thời gian thí nghiệm, ao nuôi được thay nước tùy thuộc vào chất lượng nước
trong ao thông qua việc theo dõi bằng mắt thường và biên độ triều
Các yếu tố chất lượng nước như nhiệt độ, pH, DO, COD, TSS, OSS, NH4+/NH3+,
N-NO2, N-NO3+ , P-PO43-, TN, TP được đo đạc mỗi tuần một lần vào buổi sáng Tuy
Trang 18nhiên, ở mỗi lần thay nước cũng được tiến hành thu mẫu Mẫu nước được thu bao gồm
mẫu nước thải ra và mẫu nước cấp vào Song song đó lượng nước thải ra, lượng nước
cấp vào và số cá hao hụt hàng ngày cũng được ghi nhận rất cụ thể về số lượng và khối
lượng
1.6.2.5 Thu mẫu bùn đáy
Mẫu bùn đáy sẽ được thu mỗi tuần một lần để xác định biến động TN, TP Ống nhựa
PVC có đường kính 60 mm dài 100 mm đã được sử dụng thu mẫu đất đáy ao
Cách thu mẫu: Ống nhựa PVC được ấn sâu vào lớp bùn đáy, sau khi đưa lên mặt đất
bùn đáy sẽ được đẩy trào lên mặt ống và gạn lấy phần bùn cho vào lọ thu mẫu
Sơ đồ vị trí thu mẫu bùn đáy được mô tả theo Hình 3.1, sau đây:
Hình 3.1: Sơ đồ thu mẫu bùn đáy ao
1.6.3 Xác định lượng vật chất dinh dưỡng chất thải thải ra từ hệ thống nuôi cá,
bao gồm nước thải và chất thải rắn
1.6.3.1 Xác định nguồn vật chất dinh dưỡng đầu vào
(i) Nguồn nước cấp
- Thu mẫu nước ở lần cấp nước đầu tiên vào ao sau khi cải tạo ao
- Xác định TN và TP của nước cấp (ao lắng)
- Tính toán thể tích nước cấp vào ao
- Đo các yếu tố TNA, TPA, TSSA, TAN, NO2-, NO3-, PO43-
- Tính tổng khối lượng NA, PA cấp vào ao theo nguồn nước bằng cách nhân giá trị
TNA, TPA, với thể nước cấp
(ii) Cá giống
- Cá giống được thu ngẫu nhiên 5 con để phân tích độ ẩm, TN và TP
- Xác định khối lượng cá giống thả vào mỗi ao
- Đo đạc các yếu tố: Ẩm độB, TNB, TPB
- Tính tổng khối lượng NB, PB từ cá giống thả vào ao bằng cách nhân giá trị TNB, TPB
Trang 19(iv) Thức ăn
- Thức ăn cho cá cũng được thu mẫu để phân tích độ ẩm, hàm lượng ni tơ và phospho
- Ghi nhận tổng lượng thức ăn đã sử dụng trong suốt vụ nuôi
- Đo đạc Ẩm độD, TND, TPD,
- Tính tổng khối lượng ND, PD từ thức ăn bằng cách nhân giá trị TND, TPD với tổng
khối lượng thức ăn đã sử dụng
(v) Nước thay (nước cấp vào mỗi lần thay nước)
- Xác định thể tích nước cấp vào
- Xác định các chỉ tiêu môi trường của nước ao lắng
- Ước lượng thể tích nước cấp vào ao trong mỗi lần thay nước dựa trên thước đo
- Đo đạc các yếu tố TNE, TPE, TSS, TAN NO2-, NO3-, PO43-
- Tính tổng khối lượng NE, PE từ nguồn nước thay vào bằng cách nhân giá trị TNE,
TPE, với tổng thể tích nước đã thay vào
1.6.3.2 Xác định nguồn vật chất dinh dưỡng đầu ra
(i) Nước thải
- Nước thải được thu trong ao trước mỗi lần thay nước
- Ước lượng thể tích nước thải ra trong mỗi lần thay nước dựa trên thước đo
- Đo đạc các yếu tố TNG, TPG, TSS, TAN NO2-, NO3-, PO43-
- Tính tổng khối lượng NG, PG thải ra môi trường khi thay nước bằng cách nhân giá trị
TNG, TPG với tổng thể tích nước đã thay ra
(ii) Bùn thải (lượng bùn thải vào giữa vụ)
- Bùn thải được thu ở các lần siphon đáy ao trong chu kỳ nuôi Mẫu được bảo quản và
chuyển về phân tích tại phòng thí nghiệm
- Ước lượng khối lượng bùn thải mỗi lần siphon đáy ao dựa trên cơ sở:
• Thu mẫu nước siphon ở 3 thời điểm siphon, thu vào bình nhựa 2 lít, sau đó để
lắng và thu lấy phần bùn phân tích
• Lượng bùn và nước được tính toán dựa trên tỷ lệ phần bùn và nước của thể tích
bình thu và dựa trên mức nước của thước đo để tính tổng lượng bùn và nước thải
- Đo đạc các yếu tố: Ẩm độH, TNH, TPH, Vật chất hữu cơ
- Tính tổng khối lượng NH, PH thải ra môi trường khi siphon đáy ao bằng cách nhân
giá trị TNH, TPH với khối lượng bùn thải
(iii) Cá thu hoạch, cá chết
- Thu mẫu cá vào lúc cá thu hoạch với số lượng 5 con, thu ngẫu nhiên Mẫu được bảo
quản và chuyển về phân tích tại phòng thí nghiệm
- Ghi nhận tổng sản lượng cá thu hoạch
- Đo đạt các yếu tố: Ẩm độI, TNI1, TPI1
Trang 20- Tính tổng khối lượng NI, PI tích lũy trong cơ thể cá lúc thu hoạch bằng cách nhân
giá trị TNI1, TPI1 với tổng khối lượng cá thu hoạch
- Đối với cá chết thu tổng số cá vớt được
- Ghi nhận tổng lượng cá chết
- Đo đạc các yếu tố TNI2, TPI2
- TNI, TPI = (TNI1+TNI2), (TPI1+TPI2)
(iv) Nước thải khi thu hoạch
- Mẫu được thu trong ao sau khi thu hoạch cá
- Tính toán thể tích nước còn lại trong ao sau thu hoạch dựa trên thước đo
- Đo đạc các yếu tố: TNK, TPK, TSS, TAN NO2-, NO3-, PO4
3 Tính tổng khối lượng NK, PK tích lũy trong nước ao sau thu hoạch bằng cách nhân
giá trị TNL, TPL với thể tích nước ao sau thu hoạch
(v) Bùn lắng tụ trong ao
- Bùn đáy ao được thu sau khi thu hoạch
- Tính toán khối lượng bùn đáy còn lại trong ao sau khi thu hoạch bằng cách tính thể
tích bùn đáy còn lại trong ao và quy đổi sang đơn vị khối lượng
- Đo đạc các yếu tố: Ẩm độL, TNM, TPM
- Tính tổng khối lượng NM, PM tích lũy trong bùn đáy ao sau thu hoạch bằng cách
nhân giá trị TNM, TPM với khối lượng bùn đáy ao
(vi) Thất thoát (N, P)
- Lượng (N, P) thất thoát dự tính do bay hơi (đối với ni tơ) hoặc ngấm vào đất
- Tính tổng lượng (N, P) thất thoát bằng cách lấy tổng (N, P) đầu vào trừ cho tổng (N,
P) đầu ra
1.6.4 Phương pháp thu, phân tích mẫu và xử lý số liệu
1.6.4.1 Dụng cụ thu mẫu
Dụng cụ thu và đo các thông số môi trường gồm máy đo pH, nhiệt kế thủy ngân, chai
nhựa (1000 ml), chai thủy tinh nâu (10 ml), chai nút mài trắng (125 ml), chai nút mài
nâu (125 ml), keo nhựa 200 g giữ mẫu bùn đáy, xô nhựa dùng để trộn mẫu nước, …
1.6.5 Phương pháp thu và phân tích mẫu
Nhiệt độ: đo nhiệt đô bằng máy đo điện cực YSI.556 (USA)
pH: đo pH bằng máy đo điện cực YSI.556 (USA)
Oxy hòa tan: Đo hàm lượng oxy hòa tan bằng máy đo điện cực YSI.556(USA)
P-PO43-: xác định bằng phương pháp Acid Ascorbic (Arnol et al., 1995)
N-NH4+: xác định bằng phương pháp Indo-phenol blue (Arnol et al., 1995)
N-NO- 2: xác định bằng phương pháp Diazonium (Arnol et al., 1995)
N-NO3-: xác định bằng phương pháp salicylate (Arnol et al., 1995)
Trang 21Tổng lân (TP): công phá mẫu theo phương pháp persulfate (APHA et al,,1995) Sau đó
dùng phương pháp Acid Ascorbic blue để xác định TP
Tổng đạm (TN): công phá mẫu theo phương pháp persulfate (APHA et al, 1995) Sau
đó dùng phương pháp Salicylate để xác định TN
Đối với mẫu bùn đáy, thức ăn cá và mẫu cá sử dụng phương pháp Kjeldahl sau đó xác
định TN và TP bằng phương pháp Indo-phenol blue và Molypden blue
Vật chất lơ lửng (TSS và OSS): thu mẫu vào chai nhựa 1 lít, giữ lạnh và phân tích bằng
phương pháp lọc mẫu qua giấy lọc Giấy lọc mẫu được sấy ở 1050C và đốt ở 5000C
(Arnol et al., 1995)
Tiêu hao oxy hóa học (COD): mẫu được thu vào chai nút mài 125ml và cố định bằng
dung dịch H2SO44M Mẫu được phân tích ở phòng thí nghiệm bằng phương pháp chuẩn
độ KMnO4 trong môi trường kiềm
Độ ẩm bùn đáy, thức ăn cá,và mẫu cá: sấy ở nhiệt độ 1050C trong 3 giờ
1.6.5.1 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu
Các số liệu được tính trung bình theo từng tháng và theo từng ao riêng biệt Đối với các
thông số tính toán cân bằng vật chất thì tính trung bình của 3 ao Sử dụng phần mềm
Microsoft Excel để lưu trữ, xử lý, sắp xếp và vẽ đồ thị
NE, PE: Thay nước
(ii) Tổng lượng đầu ra (chưa kể lượng thất thoát)
Trang 22NM, PM: Bùn còn lại sau thu hoạch
(iii) Lượng thất thoát = tổng đầu vào – tổng đầu ra
(iv) Lượng (N, P, VCK) tích lũy = cần thiết – thải ra môi trường
- Lượng N tích lũy trong 1kg cá (g/kg) = ((NI+NK) - NB)/ (WI+WK)
- Lượng N cần thiết để sản xuất 1 kg cá (g/kg) = ND/(WI + WK – WB)
- Lượng N thải ra môi trường khi sản xuất 1kg cá (g/kg) = Nra/( WI + WK – WB )
- Lượng P tích lũy trong 1kg cá (g/kg) = ((PI+PK) - PB)/ (WI+WK)
- Lượng P cần thiết để sản xuất 1 kg cá (g/kg) = PD/(WI + WK – WB)
- Lượng P thải ra môi trường khi sản xuất 1kg cá (g/kg) = Pra/( WI + WK-WB )
- Lượng vật chất khô cần thiết để sản xuất 1 kg cá (kg) = VCKTA/(WI +WK- WB)
- Lượng vật chất khô tích lũy trong 1 kg cá (kg) = (VCKI + VCKK – VCKB) /(WI + WK)
- Lượng vật chất khô thải ra môi trường để sản xuất 1 kg cá (kg) = VCKra/(WI + WK –
(v) Lượng chất thải rắn = lượng bùn đáy ao + lượng bùn siphon
(vi) Lượng chất thải lỏng = lượng nước thay ra + lượng nước ao cuối vụ
Trang 23Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 1.7 Tình hình nuôi cá tra thâm canh trong ao tại huyện Châu Phú – An Giang
1.7.1 Tổng quan về mô hình nuôi
Châu Phú là huyện có điều kiện tự nhiên ưu đãi, nguồn nước ngọt dồi dào, hệ thống
sông ngòi, kinh rạch chằng chịt, hệ thống thủy lợi nội đồng tương đối hoàn chỉnh Đây
là điều kiện tốt cho việc phát triển ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và đặc biệt là
nghề nuôi cá tra hầm nói riêng
1.7.2 Các thông tin chung về hộ nuôi
1.7.2.1 Độ tuổi
Khảo sát ở 30 hộ nuôi, độ tuổi trung bình lao động trong hoạt động nuôi cá là 43 ± 7,6
tuổi và có đến 56% nhóm người nằm trong độ tuổi từ 41 – 50 (Hình 4.1) Ở độ tuổi nhỏ
hơn 30 tuổi chiếm một tỉ lệ rất ít trong hoạt động này Điều này cũng hoàn toàn phù hợp
thực tế là việc nuôi cá tra đòi hỏi nguồn đầu tư lớn, rủi ro về dịch bệnh, đòi hỏi người
nuôi cần có những kinh nghiệm, cũng như nguồn vốn nhất định Vì vậy, ở nhóm tuổi
này theo khảo sát chỉ chiếm khoảng 6% Tương tự như vậy, ở độ tuổi trên 50, xét về góc
độ kinh tế xã hội thì độ tuổi này mặc dù đã tích lũy nhiều kinh nghiệm cũng như tài
chính, nhưng không đảm bảo vấn đề sức khỏe để đảm trách các công việc cần thiết cho
sản xuất Vì vậy, kết quả khảo sát đã cho thấy rằng độ tuổi này chiếm một tỉ lệ không
Như đã thảo luận ở mục trên, phân bố tuổi lao động cho hoạt động nuôi cá tra tập trung
chủ yếu vào độ tuổi 41 – 50 tuổi Ở độ tuổi này do những điều kiện khách quan về kinh
tế - xã hội, trình độ học vấn của họ còn hạn chế Vì vậy, kết quả khảo sát cho thấy có
đến 87% số người nuôi có trình độ từ cấp 1 đến cấp 2 (Hình 4.2) Trong khi đó người có
trình độ cao đẳng hoặc đại học chỉ chiếm 13% Điều này phản ánh một thực tế đa số
người nuôi cá tra là qua tích luỹ kinh nghiệm nhiều năm hoặc học hỏi được từ nhiều
kênh thông tin khác nhau
Trong những năm qua, sản lượng và năng suất nuôi cá tra không ngừng nâng cao, từ đó
cho thấy nuôi cá tra phụ thuộc vào kinh nghiệm của người nuôi hơn là trình độ học vấn
Tuy nhiên, trình độ học vấn thấp cũng là một khó khăn lớn cho nghề nuôi cá tra, trong
Trang 24bối cảnh nhu cầu thị trường đòi hỏi ngày càng cao về mức độ an toàn, chất lượng sản
phẩm, đòi hỏi người nuôi cần có trình độ cơ bản để tiếp thu khoa học – kỹ thuật nuôi
tốt, đảm bảo môi trường nuôi phát triển bền vững theo các tiêu chuẩn quy định của
Hình 4.2: Phân bố trình độ học vấn trong hoạt động nuôi cá tra
1.7.2.3 Kiến thức chuyên môn và nguồn thông tin tiếp nhận
Để giảm chi phí, tăng thu nhập, nâng cao hiệu quả sản xuất, việc tiếp cận những thông
tin kỹ thuật là một trong những vấn đề thiết yếu Trong thực tế có nhiều kênh để cập
nhật thông tin khoa học kỹ thuật, phổ biến là đúc kết kinh nghiệm trong quá trình nuôi
của bản thân, kế tiếp là học hỏi từ những người nuôi khác, qua các lớp tập huấn kỹ
thuật, các phương tiện truyền thông… Tuy nhiên, theo kết quả điều tra, có đến 88% hộ
nuôi chưa qua khoá tập huấn nào (Hình 4.3) Họ chủ yếu nuôi theo kinh nghiệm, được
học hỏi từ những người nuôi trước thông qua việc hỏi thăm tình hình nuôi, cách thức
nuôi, cách thức sử dụng thuốc hóa chất để phòng trị bệnh trong quá trình nuôi Sau đó
về áp dụng cho ao nuôi nhà mình mà không được qua các lớp đào tạo, tập huấn về kỹ
thuật nuôi, cách thức quản lý ao nuôi, cách xử lý nguồn nước thải hoặc được hướng dẫn
nuôi cá theo qui trình nuôi cá sạch nhằm nâng cao chất lượng cá nuôi Điều này đã phần
nào hạn chế năng suất cá nuôi, đặc biệt là khâu bảo vệ môi trường, phòng chống dịch
bệnh trên cá nuôi hiện nay vẫn chưa được coi trọng Hầu hết (85%) số người nuôi trong
vùng khảo sát khi được hỏi, không thể tính chính xác lượng thức ăn và FCR Họ chỉ cho
ăn đơn giản theo kinh nghiệm và quan sát hoạt động của cá Điều này đã dẫn đến chất
thải từ thức ăn thừa nhiều và việc cho ăn không đạt hiệu quả cao
Hình 4.3: Kiến thức chuyên môn của nông hộ nuôi cá tra
%
Có qua tập huấn Không qua tập huấn
11%
Trang 251.7.3 Thông tin về kỹ thuật
1.7.3.1 Mùa vụ thả nuôi
Do khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có điều kiện tự nhiên thuận lợi, phù hợp cho
việc nuôi cá tra thâm canh, nên các hộ nuôi có thể nuôi cá được quanh năm Tuy nhiên
nghề nuôi cá tra cũng giống như các nghề nuôi thủy sản khác, phụ thuộc vào rất nhiều
các yếu tố như: thời tiết nhất là những tháng giao mùa, nguồn nước, dịch bệnh Do đó,
việc nuôi một vụ hay nhiều vụ sẽ ảnh hưởng đến năng suất, chi phí và lợi nhuận Kết
quả khảo sát cho thấy các hộ nuôi từ 2 vụ trong năm chiếm tới 53% Các hộ chỉ nuôi 1
vụ trong năm chiếm 47% (Hình 4.4), vì trong quá trình nuôi có phát sinh nhiều vấn đề
như: cá chết hàng loạt, bệnh bùng phát,…phải ngưng nuôi để cải tạo ao thật kỹ, hay cần
có thời gian cách ly nguồn bệnh an toàn
Về thời gian nuôi, bình quân là 6 -7 tháng, một số hộ (58%) bắt đầu nuôi khoảng tháng
4 âm lịch và kết thúc vào tháng 10 âm lịch nhưng cũng có thể kéo dài đến tháng 11 – 12
âm lịch Một số hộ (36%) bắt đầu nuôi khoảng tháng 7 -8 âm lịch và kéo dài đến tháng
2 âm lịch năm sau Theo ý kiến các hộ nuôi, các tháng thả nuôi tốt nhất là tháng 2 -3 âm
lịch, do môi trường nước tốt, cá ít bệnh, phát triển tốt, lớn nhanh Các tháng không nên
thả nuôi được các cán bộ kỹ thuật khuyến cáo từ tháng 9 đến tháng 12 âm lịch lý do đây
là thời điểm nước rút, điều kiện thay nước rất khó khăn Đặc biệt do gió mùa Đông Bắc
nên nhiệt độ thường xuyên xuống thấp, dễ phát sinh dịch bệnh
52%
48%
Hình 4.4: Mùa vụ thả nuôi trong năm
1.7.3.2 Quy mô diện tích ao nuôi
Kết quả khảo sát ở Hình 4.5 đã chỉ ra rằng diện tích ao nuôi cá tra rất khác nhau, tập
trung trong khoảng diện tích 3.000 – 4.000 m2 (26,8%), thấp nhất là diện tích ao 4.000 –
5.000 m2 (12,1%) Mức chênh lệch diện tích giữa các hộ nuôi rất lớn, hộ có diện tích ao
nuôi nhỏ nhất là 1000 m2 và hộ có diện tích ao nuôi lớn nhất là 15.000 m2 Trong đó,
ao nuôi có diện tích <5000 m2 có thể đang được ưa chuộng hiện nay Điều này hoàn
toàn phù hợp với những nông hộ nuôi có nguồn vốn ít, khả năng đầu tư còn hạn chế nếu
đào ao có diện tích lớn (khoảng 1ha) là rất khó quản lý đồng thời gặp trở ngại về vốn
đầu tư con giống và thức ăn Số hộ đào ao diện tích lớn theo ghi nhận trong quá trình
khảo sát tập trung vào những nông hộ có tiềm lực về kinh tế, có trình độ chuyên môn
thủy sản hoặc có cán bộ kỹ thuật hướng dẫn trực tiếp
Một vấn đề nữa là nuôi cá tra chủ yếu là phong trào tự phát, người dân đào ao nuôi một
cách tự phát không theo qui hoạch vùng nuôi hoặc chưa tuân thủ theo những kỹ thuật
cần thiết nên kết quả cho thấy diện tích ao nuôi phân bố trải rộng từ 1.000 m2 đến lớn
hơn 5.000 m2
Trang 26Mật độ cá thả nuôi có liên quan đến năng suất, dịch bệnh và hiệu quả kinh tế Trong tình
hình hiện nay, khi diện tích ao nuôi ngày càng tăng, việc phát triển vùng nuôi chưa theo
quy hoạch, cơ sở hạ tầng phục vụ cho nghề nuôi còn yếu thì việc thả cá nuôi với mật độ
cao sẽ dẫn đến rủi ro nhiều hơn Qua khảo sát, mật độ cá thả trung bình 30 – 45 con/m2
chiếm đa số (58%) trong tổng số hộ được điều tra Tuy nhiên vẫn có tới 41% số hộ nuôi
thả mật độ rất dày từ 50 con/m2 trở lên (Hình 4.6) Kết quả này cao hơn so với báo cáo
của Lê Lệ Hiền (2008) khi điều tra mật độ cá tra thả nuôi ở các tỉnh An Giang, Đồng
Tháp, Cần Thơ với mật độ thả cá tra trung bình là 47,2 con/m2 và cao hơn rất nhiều so
với khảo sát của Nguyễn Thanh Phương và ctv (2004) là 20,5 con/m2 và Trần Anh
Dũng (2005) là 27,7 con/m2 Việc thả mật độ quá cao này là cơ sở cho sự phát sinh vấn
đề ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm môi trường, khi chất lượng nước không tốt sẽ làm
giảm năng suất, chất lượng cá nuôi và tạo điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh bùng phát,
nếu không có biện pháp kỹ thuật xử lý kịp thời và thích hợp
1.7.3.4 Thức ăn sử dụng và cách cho ăn
Thức ăn chiếm tỷ lệ rất cao trong cơ cấu chi phí nuôi nói chung và cá tra nói riêng Kết
quả khảo sát của Nguyễn Phú Son và ctv (2003), chi phí thức ăn chiếm 69,33% trong
tổng chi phí sản xuất Chính vì vậy việc sử dụng và quản lý loại thức ăn một cách thích
hợp và hiệu quả cho cá sẽ giúp giảm giá thành, tăng lợi nhuận cho người nuôi
Kết quả tổng hợp ở Hình 4.7 cho thấy thức ăn viên công nghiệp chiếm tỷ lệ rất cao
(92%), gồm một số loại thường dùng như Con Cò, Việt Thắng, Cargill, AFIEX,…
Trang 27Thức ăn tự chế chiếm tỷ lệ rất nhỏ (8%), gồm các thành phần: cám, cá tạp, bột đậu
nành, bột cá, tấm kết hợp với các loại men tiêu hóa, vitamin, premix … Trong đó thành
phần cám chiếm tỷ lệ cao (50 – 70%), cá tạp thấp hơn (10 – 30%)
Kết quả này là khá cao so với kết quả của Huỳnh Thị Tú và ctv, 2005 khi nghiên cứu về
tình hình nuôi và sử dụng thức ăn cho cá tra nuôi ao và bè ở An Giang, hầu hết ngư dân
sử dụng thức ăn tự chế với 2 hình thức: sử dụng thức ăn viên kết hợp với thức ăn tự chế
(55,5%) trong thời gian 3 – 4 tuần đầu, sử dụng hoàn toàn thức ăn tự chế (44,5%) Điều
này cho thấy người nuôi đã có ý thức trong việc sử dụng thức ăn cho cá và ngày càng
nhận thức được vai trò của thức ăn công nghiệp trong nuôi cá tra
Theo người dân việc dùng thức ăn tự chế thường không đủ số lượng cần sử dụng, điều
kiện bảo quản khó khăn và hàm lượng dinh dưỡng không được ổn định, dễ làm nước ao
bị ô nhiễm Thức ăn công nghiệp hàm lượng dinh dưỡng tương đối ổn định, chủ động
trong việc cung cấp, ít gây ô nhiễm môi trường ao nuôi Tuy nhiên, cũng theo người dân
khi sử dụng thức ăn tự chế họ có thể điều chỉnh được thành phần của thức ăn, dựa trên
giá cả của từng loại nguyên liệu và giai đoạn phát triển của cá
Nghiên cứu về tình hình sử dụng thức ăn trong nuôi cá tra và basa khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long, Lê Thanh Hùng và ctv (2006) cũng nhận định, trong nuôi ao, hệ số sử
dụng thức ăn tự chế dao động từ 2,0 – 3,5, trong khi đó nếu là thức ăn công nghiệp thì
từ 1,5 – 1,7
Việc sử dụng thức ăn công nghiệp không chỉ là vấn đề lợi nhuận mà còn giúp giảm áp
lực từ việc khai thác cá ngoài tự nhiên (cá tạp thường là thành phần của thức ăn tự chế),
giảm thức ăn dư thừa (dễ tan rã trong nước), đồng thời cũng giảm các loại chất thải độc
hại khác như tro, dầu, bụi là những sản phẩm sản sinh từ việc chế biến thức ăn tự chế
93%
7%
Công nghiệp Tự chế
Hình 4.7: Loại thức ăn sử dụng trong quá trình nuôi tại vùng nghiên cứu
Về lượng thức ăn hàng ngày, hầu hết các hộ cho ăn theo nhu cầu, khi cá còn ăn rất ít thì
họ mới ngừng cho ăn Thời gian cho ăn và số lượng thức ăn trong mỗi lần ăn còn phụ
thuộc vào điều kiện môi trường, thông thường vào thời điểm trời mát, nhiệt độ ít dao
động, nguồn nước trong ao tốt cá sẽ ăn nhiều hơn Vì vậy người nuôi thường cho ăn 2
lần/ngày, sáng từ 8 – 9 h, chiều từ 4 – 5 h
Trang 28Nhìn chung, việc sử dụng thức ăn không dựa trên cơ sở khoa học, không tính toán kỹ
nhu cầu của cá về lượng thức ăn cần thiết ở từng giai đoạn phát triển, dễ dẫn tới dư thừa
thức ăn trong ao và hậu quả là chi phí tăng cao, nước trong ao bị ô nhiễm nhanh
Ngoài ra theo tập quán nuôi của người dân, cũng như để phục vụ nhu cầu xuất khẩu, cá
tra thường được nuôi theo phương pháp nuôi đơn, nên lượng thức ăn thừa không được
những loài khác tận dụng Vì vậy, việc tìm ra những loài thích hợp để nuôi với cá tra và
khuyến cáo các hộ nuôi cá thực hiện nuôi ghép là một vấn đề cần đặt ra
1.7.3.5 Vấn đề xử lý nước thải sau thu hoạch
Môi trường nước hiện nay đang ngày càng bị ô nhiễm, do đó việc sử dụng nguồn nước
là một trong những vấn đề cần quan tâm trong nghề nuôi cá Lượng chất thải từ các ao
nuôi cá tra, nhất là những vùng nuôi tập trung và có mức thâm canh cao thường rất lớn,
đã ảnh hưởng xấu đến nguồn nước sản xuất và sinh hoạt Qua phỏng vấn trực tiếp 30 hộ
nuôi cá tra thâm canh tại huyện Châu Phú cho thấy hầu hết các hộ nuôi đều thay nước
dựa theo thủy triều hoặc bơm điện chiếm 100% Nước thải từ ao nuôi được xả trực tiếp
ra kênh, rạch, sông (100%) mà không qua xử lý (Phụ lục A.1) Trong tháng đầu tiên
thường không thay nước, từ tháng thứ 2 – 3 thì định kỳ 10 ngày thay nước một lần, từ
tháng thứ 4 trở về sau thì thay nước hàng ngày khi có nước lớn Lượng nước thải ra môi
trường rất lớn, do các hộ nuôi chưa ý thức về việc xử lý nguồn nước thải, chi phí dùng
để xử lý nước thải khá cao và do các cơ quan chức năng chưa tích cực vân động, tổ chức
các lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi và qui trình xử lý nguồn nước thải hợp lý Tình trạng
này nếu không có biện pháp khắc phục kịp thời sẽ dẫn đến hiện tượng ô nhiễm nguồn
nước sinh hoạt cho các hộ dân tại khu vực và dần dần sẽ lan rộng ra trên toàn khu vực
Việc phát triển thiếu quy hoạch nghề nuôi cá tra thâm canh trong ao tại huyện Châu
Phú, mà trong đó đa số các ao được xây dựng trong những khu dân cư sinh sống, trong
đó nước thải từ các ao nuôi không được xử lý, điều này đã gây ra mâu thuẫn trong việc
sử dụng nước giữa những người cần nước cho sinh hoạt, cho nông nghiệp và cho nuôi
cá
Qua khảo sát từ nông hộ cho biết, tỷ lệ cá chết trong những năm gần đây tăng cao (vào
khoảng 15 – 30%) so với những năm trước đây (khoảng 3 – 5%) Tỷ lệ chết tăng có liên
quan đến mật độ cá thả tăng, chất lượng giống, dịch bệnh và chất lượng nước suy giảm,
trong đó sự suy giảm chất lượng nước là nguyên nhân quan trọng nhất
1.8 Biến động các yếu tố môi trường ao nuôi cá tra thâm canh
1.8.1 Các yếu tố vật lý của nước ao
1.8.1.1 Biến động nhiệt độ
Dao động nhiệt độ trung bình giữa các ao nuôi là 29,80C, khoảng nhiệt độ này thích hợp
cho sự sinh trưởng và phát triển của cá Tra khi nuôi trong ao Theo Lê Như Xuân
(1994) thì khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của cá nhiệt đới là 25 – 300C Kết
quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Dung (2001) trong ao nuôi cá tra thâm canh nhiệt độ
biến động từ 25 – 300C
Trang 29Hình 4.8: Biến động nhiệt độ qua các tháng nuôi
Nhiệt độ giữa 3 ao nuôi không có sự chênh lệch nhiều (Hình 4.8), ao 1 là 29,13±1,250C,
ao 2 là 29,15±1,160C và ao 3 là 29,15±1,230C Nhiệt độ cao nhất ở tháng nuôi thứ 3: ao
1 là 31,13 0C, ao 2 là 31,12 0C và ao 3 là 31,24 0C Mặc dù nhiệt độ nước ở tầng mặt
tăng cao nhưng đối với ao nuôi cá Tra thâm canh có diện tích lớn (1000 m2), độ sâu lớn
2,5 – 3 m (tính từ mặt nước) thì cá vẫn sinh trưởng bình thường Ở tháng thứ 6 nhiệt độ
ở 3 ao xuống thấp nhất: ao 1 là 25,85 0C, ao 2 là 25,96 0C và ao 3 là 25,76 0C do trong
thời gian khảo sát ở thời điểm là tháng 1 khí hậu lạnh Bởi vì, nhiệt độ nước ao cũng
biến động theo quy luật nhiệt độ không khí theo mùa và thời tiết trong năm
1.8.1.2 Biến động pH
Giá trị pH trung bình của 3 ao là 7,7 Theo Boyd (1990), pH thích hợp cho sự phát triển
của cá là từ 6,5-9 và kết quả nghiên cứu của Lê Bảo Ngọc (2004), pH trong ao nuôi cá
tra thâm canh biến động từ 8,06 – 8,12, thì kết quả của nghiên cứu này cho thấy hoàn
Hình 4.9: Biến động pH qua các tháng nuôi
Trong thời gian nuôi pH có xu hướng giảm dần về cuối vụ nuôi (Hình 4.9) Trong điều
kiện ao nuôi, pH sẽ biến động tùy vào sự phát triển của tảo được kích thích bởi hàm
lượng chất dinh dưỡng trong nước từ quá trình cho ăn và quá trình thay nước (điều kiện
Trang 30chăm sóc) Quan sát thực tế ở những thời điểm pH tăng cao ao thường có màu nước
xanh đậm, một số ao có nổi váng sợi của tảo lam Ngược lại, khi pH giảm nước ao
thường trong hơn Mặc dù vậy, pH của các ao cũng không giảm xuống quá ngưỡng
thích hợp cho cá tra sinh sống và phát triển
1.8.2 Các yếu tố hóa học của nước ao
1.8.2.1 Biến động oxy hòa tan (DO)
Hàm lượng oxy hòa tan trong ao nuôi có sự biến động trong suốt quá trình nuôi Mức
dao động oxy hòa tan trung bình của các ao là 4,0 – 5,1 mg/L Kết quả này phù hợp với
khảo sát của Huỳnh Trường Giang và ctv (2007), hàm lượng oxy của các ao nuôi thâm
canh cá tra dao động từ 0,44 – 15,9 mg/L và kết quả nghiên cứu của Dương Thúy Yên
(2003), cá tra có khả năng sống được trong môi trường có hàm lượng oxy <2 mg/L
Oxy hòa tan trong ao nuôi bị ảnh hưởng bởi mức độ sử dụng oxy trong ao và sẽ dao
động mạnh phụ thuộc vào nhiệt độ, các quá trình phân hủy các hợp chất, quá trình
quang hợp và hô hấp của thực vật thủy sinh và mức độ thay nước cho ao Dựa trên kết
quả phân tích, ta thấy giá trị oxy hòa tan của 3 ao cao nhất là ở những đợt thu mẫu tháng
đầu và giảm dần đến những đợt thu mẫu cuối vụ nuôi (Hình 4.10)
Hình 4.10: Biến động DO qua các tháng nuôi
Đầu vụ nuôi, hàm lượng oxy hòa tan đạt mức bão hòa là do chất lượng nước trong các
ao còn rất tốt Sau khi cải tạo ao, hàm lượng dinh dưỡng thấp nên mật độ tảo không cao
Hơn nữa, sinh lượng cá trong ao thấp, nên lượng oxy tiêu hao do quá trình hô hấp của
sinh vật thấp Những đợt thu cuối vụ nuôi khi khối lượng cá trong ao tăng, lượng thức
ăn sử dụng cho ao nhiều, thức ăn thừa và sản phẩm thải từ cá đã dẫn đến sự tích tụ vật
chất dinh dưỡng, làm nhu cầu oxy của ao tăng và dẫn đến oxy hòa tan thấp Tuy nhiên,
cá tra là loài chịu được điều kiện khắc nghiệt, do cá có thể lấy oxy khí trời qua cơ quan
hô hấp phụ, nên cá không bị ảnh hưởng lớn khi hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp
Trang 311.8.2.2 Biến động tiêu hao oxy hóa học (COD)
Lượng tiêu hao oxy hóa học (COD) trung bình của 3 ao nuôi dao động trong khoảng từ
9,9 -10,9 mg/L (Hình 4.11) Mức dao động COD trung bình qua các đợt thu mẫu ở ao 1
là 9,9±2,1 mg/L, ao 2 là 10,9±2,5 mg/L và ao 3 là 10,7±2,3
4812162024
nuôi Điều này hoàn toàn hợp lý, vì càng về cuối vụ nuôi thì hàm lượng vật chất hữu cơ
trong ao càng tăng lên (thức ăn dư thừa, chất thải của cá, ) Mặt khác, giá trị COD còn
phụ thuộc vào quá trình thay nước trong ao nuôi
Nhìn chung hàm lượng COD các ao nuôi biến động ở mức độ trung bình, ở mức độ này
là thích hợp cho ao nuôi thủy sản Theo tiêu chuẩn TCVN 5945: 2005 thì nước sử dụng
cho nuôi trồng thủy sản phải có COD nhỏ hơn 35 mg/L, theo Boyd (1998) hàm lượng
COD tốt nhất cho nuôi tôm cá phải nhỏ hơn 50 mg/L
1.8.2.3 Biến động tổng đạm ammonia (TAN)
Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng TAN ở các ao nuôi có khuynh hướng tăng dần về
cuối vụ và biến động tương đối đồng đều ở các ao nuôi (Hình 4.12) Vào tháng cuối vụ,
do việc thay nước diễn ra thường xuyên nên lượng TAN có giảm ở các ao Hàm lượng
trung bình TAN của các ao dao động trong khoảng 2,56 - 3,16 mg/L Trong đó, hàm
lượng TAN trung bình ở ao 1 là 2,8±1,69 mg/L, ao 2 là 2,65±1,9 mg/L và ao 3 là
Trang 32TAN trong nước được cung cấp từ quá trình amôn hóa các protein của thức ăn dư thừa,
xác bã động thực vật thối rửa, sản phẩm thải của cá Tất cả các chất này đều phải trải
qua quá trình amôn hóa để chuyển thành NH3 và NH4+ nhờ nhiều vi sinh vật hiếu khí và
kỵ khí Với nhiệt độ trung bình các ao luôn cao hơn 290C là điều kiện để quá trình amôn
hóa mạnh mẽ hơn và góp phần làm cho hàm lượng TAN càng cao về cuối vụ nuôi Mặt
khác, trong ao nuôi cá tra thâm canh, tảo thường phát triển mạnh, khi quá trình quang
hợp mạnh vào giữa trưa, pH tăng cao (>8) có thể làm tăng hàm lượng NH3 vượt khỏi
mức C của tiêu chuẩn TCVN 5945: 2005 về tiêu chuẩn nước thải
Theo Boyd (1998) nước dùng cho nuôi trồng thủy sản thì hàm lượng TAN tốt nhất là
không được vượt quá 2 mg/L, vào cuối vụ nuôi nước các ao nuôi đã vượt quá giới hạn
trên
1.8.2.4 Biến động đạm nitrite (N-NO2 - )
Hàm lượng trung bình nitrite của 3 ao dao động từ 0,176 – 0,180 mg/L Ở ao 1 là
0,180±0,903 mg/L, ao 2 là 0,176±0,096 mg/L và ao 3 là 0,182±0,099 mg/L Kết quả
này cao hơn so với báo cáo của Huỳnh Trường Giang và ctv (2007) khi nghiên cứu các
ao nuôi cá tra thâm canh tại An Giang trung bình N-NO2- dao động 0,15±0,27 mg/L
Theo Boyd (1998) N-NO2- có tác dụng gây độc cho tôm cá khi > 2 mg/L, hàm lượng
thích hợp cho ao nuôi thủy sản phải nhỏ hơn 0,3 mg/L
trong nước cao Độ độc N-NO2- phụ thuộc rất nhiều vào nồng độ oxy hòa tan, pH, mức
độ nhiễm bẩn, (Nguyễn Đình Trung, 2004) N-NO2 sinh ra từ quá trình oxy hóa NH4+
dưới tác động của vi khuẩn Nitrosomonas, như vậy N-NO2 chỉ tăng lên khi có NH4+ và
vi khuẩn nitrite hóa phát triển trong ao Ở giai đoạn đầu, do ao mới, lượng vi khuẩn
Nitrosomonas chưa phát triển, cộng với các vật chất hữu cơ trong ao còn ít, nên hàm
lượng N-NO2- tương đối thấp sau đó lượng N-NO2- tăng lên và biến động theo sự biến
động của NH4+ Mặt khác, N-NO2- có độ bền không lớn dễ chuyển hóa thành nitrate
ngay trong điều kiện môi trường có lượng oxy hòa tan tự nhiên Do đó hàm lượng
N-NO2- trong các ao nuôi có sự biến động liên tục, biến động này còn phụ thuộc và chế độ
thay nước cho ao nuôi và càng về cuối vụ thì hàm lượng N-NO2- có xu hướng tăng
Trang 331.8.2.5 Biến động đạm nitrate (N-NO3 - )
Hàm lượng N-NO3- cao hơn rất nhiều so với N-NO2- (Hình 4.14) Điều này cho thấy có
sự chuyển hóa đạm rất tốt trong ao Hàm lượng N-NO3- trung bình của các ao biến động
không lớn, nằm trong khoảng từ 1,3 – 1.6 mg/L Kết quả về sự biến động N-NO3- thu
được thấp hơn so với kết quả của Lê Bảo Ngọc (2004) hàm lượng N-NO3- dao động từ
0,03-19,5 mg/L ở ao nuôi cá tra thâm canh và Boyd (1998) cho rằng khoảng thích hợp
trong ao nuôi từ 0,2 – 10 mg/L Sở dĩ hàm lượng NO3- khảo sát ở những ao này thấp
hơn so với báo cáo của Lê Bảo Ngọc (2004), theo chúng tôi, chủ yếu là do sự khác nhau
về mật độ nuôi (mật độ cá thả những ao thí nghiệm của Ngọc (2004) trung bình là
89,3±21,8 con/m2, ở ao thí nghiệm này là 47,6±1,5 con/m2)
Hình 4.14: Biến động N-NO3- qua các tháng nuôi
Sự biến động hàm lượng N-NO3- trong cácao nuôi thâm canh có liên quan rất lớn đến
tích lũy vật chất dinh dưỡng và sự phát triển của tảo Trong ao nuôi thâm canh, thức ăn
được cung cấp với số lượng lớn, quá trình phân hủy hữu cơ tạo ra nhiều loại muối dinh
dưỡng trong đó có dạng NO3- và NO3- trong ao còn chịu sự tác động của mật độ tảo khi
tảo phát triển mạnh sẽ hấp thu NO3- làm nồng độ NO3- giảm, khi tảo tàn thì NO3- tăng
do không có tảo hấp thu Ngoài ra hàm lượng NO3- cũng như các dạng đạm khác còn
phụ thuộc vào chế độ thay nước của ao Trong suốt quá trình nuôi giá trị N-NO3- có xu
hướng tăng dần về cuối vụ nuôi (Hình 4.14), do lượng vật chất hữu cơ tích lũy trong ao
ngày càng cao ở cuối vụ
1.8.2.6 Biến động đạm Kjeldahl (TKN)
Kết quả phân tích TKN ở các ao nuôi cho thấy dao động trung bình giữa các ao nuôi từ
18.7 – 20,9 mg/L Mức trung bình ở ao 1 là 20,5±18,8 mg/L, ao 2 là 18,7±18,7 mg/L, ao
3 là 20,9±19,5 mg/L Nồng độ TKN tăng cao về cuối vụ nuôi (Hình 4.15) Giữa các ao
nuôi không thể hiện sự khác biệt lớn về hàm lượng TKN Tuy nhiên kết quả thu được
cao hơn nhiều so với kết quả nghiên cứu của Lê Bảo Ngọc (2004) tại các ao nuôi cá tra
thâm canh, hàm lượng TKN biến động trung bình từ 2,02 – 3,39 mg/L
Trang 34thông thường TKN sẽ tăng dần đến cuối vụ nuôi vì càng gần về cuối vụ lượng chất thải
tích lũy sẽ nhiều lên Biến động TKN tăng cao ở cuối vụ nuôi cũng đã chỉ ra, nếu không
quản lý chất lượng nước tốt sẽ dễ tạo nên hiện tượng phú dưỡng và ô nhiễm môi trường
ao nuôi
1.8.2.7 Biến động tổng đạm (TN)
Tổng đạm (TN) là tổng hàm lượng TKN, nitrite (N-NO2-), nitrate (N-NO3-) Trong số
này dạng đạm TKN chiếm phần lớn… Sự biến động hàm lượng đạm tổng trong ao nuôi
cá Tra luôn lớn và phụ thuộc rất nhiều vào nguồn thức ăn và mô hình nuôi Hàm lượng
TN dao động trung bình giữa 3 ao nuôi không khác biệt lớn, ở ao 1 là 23,5±16,4 mg/L,
ao 2 là 21,3± 20,5 mg/L và ao 3 là 20,7± 17,7 mg/L nhưng tăng vọt vào tháng thứ 6 - 7
Sau đó do có thay nước nên hàm lượng TN giảm xuống (Hình 4.16), Khoảng dao động
trung bình TN của các ao từ 14,8-16,6 mg/L So với kết quả của Lê bảo ngọc (2004),
lượng TN trung bình 20,9±3,8 mg/L thì hàm lượng TN tại các ao nuôi có thấp hơn
Trang 351.8.2.8 Biến động lân hòa tan (P-PO4 3- )
Qua kết quả nghiên cứu hàm lượng trung bình P-PO43- các ao dao động từ 0,21 – 0,29
mg/L, trong đó dao động trung bình qua các đợt thu mẫu ở ao 1 là 0,21±0,13 mg/L, ao 2
cao sẽ tạo điều kiện cho tảo phát triển mạnh và cũng dễ gây ô nhiễm (Hardy, 1999 trích
bởi Lê Bảo Ngọc, 2004) Theo Boyd (1998) hàm lượng P-PO43- thích hợp cho ao cá là
0,005 – 0,2 mg/L (5 – 200 µg/l), khi PO43- < 5 µg/L tảo ngừng phát triển; PO43- >200
µg/L tảo sẽ nở hoa Kết quả chỉ ra rằng các ao nuôi có hàm lượng lân hòa tan cao hơn so
với giới hạn cho phép Hàm lượng P-PO43- trong các ao có dao động tương đối (Hình
4.17) chủ yếu là do chế độ thay nước
1.8.2.9 Biến động tổng lân (TP)
Hàm lượng tổng lân có sự biến động như hàm lượng P-PO43- trong chu kỳ nuôi (Hình
4.18) Tổng lân trung bình của các ao trong suốt chu kỳ nuôi biến động từ 1,39-1,48
mg/L và biến động trung bình ở ao 1 là 1,39±0,61 mg/L, ao 2 là 1,46±0,56 mg/L và ao 3
là 1,48±0,56 mg/L So với kết quả của Yang Yi et al (2002) khi nghiên cứu chất lượng
nước ở các bè nuôi cá tra hàm lượng TP < 6 mg/L và kết quả nghiên cứu của Lê Bảo
Ngọc (2004) ở môi trường ao nuôi cá tra thâm canh biến động từ 1,57 – 2,2 mg/L, thì
hàm lượng TP ở các ao thí nghiệm có thấp hơn
Trang 36Hình 4.18: Biến động TP qua các tháng nuôi
So sánh với tiêu chuẩn TCVN 5945:2005, hàm lượng TP trong các ao nằm trong mức
quy định (<4 mg/L)
1.8.2.10 Biến động tổng vật chất lơ lửng (TSS) và tổng vật chất hữu cơ lơ lửng
(OSS)
Trung bình dao động tổng vật chất lơ lửng (TSS) qua các đợt thu mẫu từ 73,8-84,4
mg/L, vật chất hữu cơ lơ lửng (OSS) từ 30,9-36,4 mg/L TSS sẽ biến động bởi hàm
lượng phiêu sinh động thực vật, phù sa, sự xói mòn, rửa trôi đất, thức ăn bổ sung vào
thủy vực, và một phần do sự di chuyển của đối tượng nuôi trong ao Qua kết quả thí
nghiệm cho thấy OSS cũng biến động tương quan với TSS (Hình 4.19; Hình 4.20),
Hàm lượng TSS và OSS đối với tất cả các ao thí nghiệm trong suốt chu kỳ nuôi đều có
chiều hướng tăng đều về cuối vụ Vì trong ao nuôi càng về sau các hạt lơ lửng được
cung cấp từ xác thủy sinh vật phân hủy, thức ăn dư thừa, chất thải của cá … tăng, làm
cho hàm lượng TSS, OSS trong ao tăng cao Phần trăm OSS chứa trong TSS biến động
từ 45.1% đến 46.6% ở cuối vụ nuôi cho thấy các phần tử hữu cơ có nguồn gốc từ thức
ăn đã làm tổng vật chất hữu cơ lơ lửng tăng lên (hình 4.19, 4.20)
Trang 37TSS ở các ao nuôi bắt đầu vượt qua ngưỡng 100 mg/L kể từ tháng nuôi thứ 6 và đến
tháng nuôi thứ 8 đã vượt đến ngưỡng 150 mg/L ở các ao nuôi (Hình 4.19 và phụ lục B1,
B2, B3), cao hơn 1,5 lần so với mức B của tiêu chuẩn TCVN 5945:2005 (100 mg/L)
Căn cứ vào TCVN 5945:2005 thì nguồn nước từ ao nuôi này chỉ được phép thải vào các
nơi quy định (như hồ chứa nước thải được xây riêng, cống dẫn đến nhà máy xử lý nước
thải tập trung, …) trước khi thải ra khu vực nước dùng cho mục đích tưới tiêu, nuôi
trồng thủy sản, trồng trọt, …
1.8.3 Các yếu tố hóa học của bùn đáy ao
1.8.3.1 Tổng đạm (TN)
Hàm lượng trung bình TN của bùn đáy trong các ao nuôi dao động từ 11,4– 11,8 mg/g
và có khuynh hướng tăng dần về cuối vụ nuôi (Hình 4.22) Hàm lượng TN trung bình ở
ao 1 là 11,4±5,6 mg/g, ao 2 là 11,7±5,2 mg/g, ao 3 là 11,8±4,7 mg/g
Trang 38canh đạt 2,5 mg/g Như vậy, lượng TP trong các ao nuôi của thí nghiệm này cao hơn
gần 5 lần so với các ao nuôi tôm sú thâm canh
Trong ao nuôi cá tra thâm canh, thức ăn được đưa vào ao nuôi nhiều, hơn nữa lượng cho
ăn cũng không được tính toán và cân đối kỹ Vì vậy một lượng lớn thức ăn dư thừa
được lắng đọng dưới lớp bùn đáy ao, dẫn đến TN trong bùn đáy ao sẽ được tích tụ dần
Hàm lượng TN trong bùn đáy tăng dần theo các tháng nuôi càng về cuối vụ lượng TN
Trang 391.8.3.3 Tổng vật chất hữu cơ
Tổng vật chất hữu cơ trung bình ở các ao nuôi dao động từ 11,6 – 11,62% Nhìn chung
bùn đáy ao có hàm lượng hữu cơ khá cao, theo Boyd (1990) thì bùn đáy ao nuôi trồng
thủy sản thường có hàm lượng hữu cơ khoảng 5%, đất nông nghiệp khoảng 2% chất
hữu cơ, như vậy bùn đáy ao nuôi thâm canh trung bình có mức tích lũy hữu cơ cao hơn
2 lần so với ao nuôi thông thường và cao hơn 5 lần so với đất nông nghiệp
Hình 4.24: Biến động vật chất hữu cơ trong bùn đáy ao
1.8.4 Chất lượng nước ao trước khi thả nuôi và sau khi thu hoạch cá
Kết quả tử Bảng 4.1 cho thấy các yếu tố thủy lý như nhiệt độ, pH, hầu như không có sự
dao động lớn ở thời điểm trước khi thả nuôi và sau thu hoạch Ngược lại các chỉ tiêu
dinh dưỡng tăng rất cao ở cuối vụ nuôi Trong nước lượng TN tăng từ 3,7±2,46 mg/L
lên 9,67±1,38 mg/L (2,5 lần), lượng TP tăng từ 0,8±0,11 mg/L lên 1,43±0,52 mg/L (1,8
lần) ở cuối vụ nuôi, lượng TSS tăng từ 25,4±10,9 mg/L ở đầu vụ nuôi lên đến 178 ±
40,2 mg/L (7 lần) ở thời điểm thu hoạch cá Hàm lượng TAN, NO2-, NO3-, và PO43- ở
hai thời điểm trước khi thả cá và sau khi thu hoạch đều rất cao
Nhìn chung, các yếu tố môi trường, đặc biệt là những yếu tố có liên quan đến dinh
dưỡng đều tăng ở thời điểm thu hoạch Sự gia tăng này có liên quan mật thiết đến sự
tích lũy các vật chất dinh dưỡng trong ao nuôi, cụ thể là sự gia tăng dần của lượng thức
ăn dư thừa cộng với sự gia tăng sinh khối cá làm tăng các sản phẩm cá thải ra
Trang 40Bảng 4.1 Giá trị các chỉ tiêu chất lượng nước thời điểm trước khi thả cá và sau khi thu
1.9 Tích lũy vật chất dinh dưỡng trong ao nuôi
1.9.1 Phân bố nitơ và phospho trong ao nuôi
1.9.1.1 Kết quả phân tích trên cá, thức ăn và bùn đáy
Kết quả phân tích ẩm độ, nitơ và phốt pho của các loại thức ăn, cá và bùn đáy ở lúc thả
và lúc thu hoạch cá được trình bày ở Bảng 4.2
Ẩm độ trung bình của cá lúc thu hoạch là 51,1±1,17% thấp hơn so với lúc cá thả là
61,7±3,33% Do cá thịt có nhiều mỡ hơn nên ẩm độ thấp hơn so với cá giống Đối với
bùn đáy, ẩm độ lúc thu hoạch là 63,7±6,87% cao hơn so với lúc ban đầu là 55,7±3,42%
Có thể là do, đây là những ao mới đào, lượng bùn đáy ban đầu rất ít, ẩm độ thấp Đất có
nhiều chất hữu cơ ở cuối vụ sẽ hấp thu nước nhiều hơn nên ẩm độ cao hơn Biến động
nitơ và phospho trong thức ăn ở các thời điểm khác nhau, điều này phụ thuộc vào nhà
sản xuất và cho thấy thức ăn được cung cấp có hàm lượng dưỡng chất không ổn định
Lượng nitơ, phospho của cá thu hoạch tương ứng là 3,6±0,72% và 1,0±0,42%, giảm
hơn so với cá giống là 6,05±0,45% và 3,9±0,01% Do khi cá lớn, vật chất dinh dưỡng
được cá hấp thu, có khuynh hướng chuyển sang tích lũy ở dạng lipid Riêng đối với hàm