1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của vốn xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp tại khoa kinh tế qtkd trường đại học an giang

77 42 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là mối quan hệ giữa VXH thông qua mạng lưới xã hội của sinh viên sau khi tốt nghiệp vớ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

XÃ HỘI ĐẾN KHẢ NĂNG TÌM KIẾM VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN SAU KHI TỐT NGHIỆP

TẠI KHOA KINH TẾ - QTKD, TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

Mã số: 17.01.KT

ThS PHẠM XUÂN QUỲNH ThS CAO VĂN HƠN

AN GIANG, THÁNG 11 NĂM 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI ĐẾN KHẢ NĂNG TÌM KIẾM VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN SAU KHI TỐT NGHIỆP

TẠI KHOA KINH TẾ - QTKD, TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

Mã số: 17.01.KT

ThS PHẠM XUÂN QUỲNH ThS CAO VĂN HƠN

Trang 3

AN GIANG, THÁNG 11 NĂM 2017

Đề tài nghiên cứu khoa học “Tác động của vốn xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp tại Khoa Kinh tế - QTKD, Trường Đại học An Giang”, do thạc sĩ Phạm Xuân Quỳnh và thạc sĩ Cao văn Hơn thực hiện Tác giả đã

báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học Trường Đại học An Giang thông qua ngày………

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

Trước tiên, chúng tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến Trường Đại học

An Giang đã cấp kinh phí, nguồn tài lực này đã giúp cho chúng tôi thực hiện

và hoàn thành được nghiên cứu này

Chúng tôi cũng gửi lời cảm ơn đến quí thầy cô trong Hội đồng khoa học của Trường Đại học An Giang và Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế - QTKD đã tạo điều kiện thuận lợi và góp ý chỉnh sửa để tài nghiên cứu này được hoàn chỉnh hơn

Chúng tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến quý thầy, cô Khoa Kinh tế - QTKD và nhóm sinh viên lớp DH14TC đã hỗ trợ tích cực trong quá trình thu thập dữ liệu cho nghiên cứu Và đặc biệt cảm ơn các bạn cựu sinh viên của Khoa Kinh tế - QTKD đã dành thời gian tham gia trả lời bảng câu hỏi khảo sát

Sau cùng, chúng tôi xin chân thành cảm ơn đến những người bạn, những đồng nghiệp và người thân đã tận tình hỗ trợ, góp ý và giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian nghiên cứu

Trong qua trình nghiên cứu không thể tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ quí thầy cô trong Hội đồng để chúng tôi rút được kinh nghiệm cho những nghiên cứu tiếp theo

Sau cùng, chúng tôi xin gửi lời chúc đến quí thầy cô và các anh/chị sinh viên dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc và thành công

Xin chân thành cảm ơn đến tất cả mọi người!

An Giang, ngày 30 tháng 11 năm 2017

ThS Phạm Xuân Quỳnh ThS Cao Văn Hơn

Trang 5

TÓM TẮT

Ngày càng có nhiều bằng chứng khoa học cho thấy nguồn vốn xã hội đóng vai trò quan trọng trong mối liên hệ qua lại giữa cung và cầu trong thị trường lao động Nghiên cứu tiến hành xem xét tác động của vốn xã hội đến khả năng tìm việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp Dựa trên các lý thuyết, quan điểm về vốn xã hội trong thị trường lao động và một số nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu tiếp cận khái niệm vốn xã hội thông qua các quan hệ xã hội ở khía cạnh cấu trúc và chất lượng, từ đó đo lường vốn xã hội của sinh viên tốt nghiệp theo 5 thành phần: mạng lưới gắn bó, mạng lưới bắc cầu, mạng lưới kết nối xã hội, mạng lưới kết nối tôn giáo, lòng tin Nghiên cứu tiến hành khảo sát 304 sinh viên đã tốt nghiệp các chuyên ngành đào tạo của Khoa tại các khóa 12 và 13 từ tháng 5/2017 đến tháng 6/2017 Kết quả nghiên cứu cho thấy mạng lưới gắn bó, mạng lưới bắc cầu, mạng lưới kết nối tôn giáo và các đặc điểm cá nhân như giới tính, xếp loại tốt nghiệp đều có ảnh hưởng đến khả năng tìm việc làm của sinh viên sau khi ra trường Bên cạnh đó, khi so sánh với các phương pháp tìm kiếm việc làm khác, tìm việc làm nhờ vào các mối quan hệ xã hội hướng sinh viên đến các công việc thuộc khu vực nhà nước cao hơn nhưng lại có mức thu nhập thấp hơn và ít phù hợp chuyên môn hơn, đặc biệt là tìm việc thông qua gia đình, người thân

Từ khóa: Vốn xã hội, mạng lưới xã hội, việc làm, sinh viên tốt nghiệp

Trang 6

ABSTRACT

There are more and more scientific evidence show that social capital plays an importan role in the interrelationship between supply and demand in the labor market This study examine the impact of social capital on the student’s ability to find a job after they graduated Based on theories, point of views on social capital in the labor market and some empirical studies, this study approaches the concept of social capital through social network in terms

of structure and quality, so that social capital consists of 5 components: bonding, bridging, social linking, religious linking, trust The study surveys

304 students who graduated from the Faculty at the 12th and 13th courses from May 2017 to June 2017 The result shows that bonding, bridging, religious linking and personal characteristics such as gender and graduation ranking all affect the student's ability to find a job In addition, when compared to other job search methods, job search method which based on social network help students get a job in state agencies with lower income, less professional suitability, particularly the job which reached through the family, relatives

Key words: Social capital, Social network, Job, Graduated student

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

Chấp thuận của hội đồng i

Lời cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Lời cam kết v

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Sự cần thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi không gian 3

1.3.3 Phạm vi thời gian 3

1.4 Ý nghĩa của đề tài 3

1.5 Cấu trúc của đề tài 3

Chương 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5

2.1 Các nghiên cứu nước ngoài 5

2.1.1 Nghiên cứu về vốn xã hội 5

2.1.2 Nghiên cứu về vốn xã hội trong thị trường lao động 6

2.2 Các nghiên cứu trong nước 7

2.2.1 Nghiên cứu về vốn xã hội 7

2.2.2 Nghiên cứu về vốn xã hội trong thị trường lao động 9

Chương 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

3.1 Cơ sở lý luận 12

3.1.1 Một số khái niệm liên quan 12

3.1.2 Vốn xã hội từ góc độ tiếp cận mạng lưới xã hội 14

3.1.3 Vốn xã hội và khả năng tìm kiếm việc làm 16

3.1.4 Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 18

3.2 Phương pháp nghiên cứu 21

3.2.1 Quy trình nghiên cứu 21

Trang 9

3.2.2 Mẫu nghiên cứu 21

3.2.3 Phương pháp xây dựng và đánh giá sơ bộ thang đo vốn xã hội 22

3.2.4 Phương pháp phân tích 25

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

4.1 Thông tin mẫu 27

4.2 Thực trạng việc làm hiện nay 29

4.2.1 Một số đặc điểm công việc tìm được của sinh viên 29

4.2.2 Nguồn thông tin việc làm 31

4.2.3 Các phương pháp tìm kiếm việc làm 32

4.3 Phân tích tác động của vốn xã hội đến khả năng tìm việc làm của sinh viên tốt nghiệp 33

4.3.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha 33

4.3.2 Đánh giá thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá EFA 34

4.3.3 Đánh giá mức độ cần thiết của các nhân tố đo lường vốn xã hội 37

4.3.4 Tác động của các nhân tố vốn xã hội đến khả năng tìm việc làm của sinh viên tốt nghiệp 39

4.4 Mối tương quan giữa phương pháp tìm kiếm việc làm và đặc điểm công việc tìm được 42

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

5.1 Kết luận 48

5.2 Kiến nghị 49

5.3 Hạn chế của nghiên cứu 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

PHỤC LỤC 56

Trang 10

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 1: Khung đo lường vốn xã hội 24

Bảng 2: Cơ cấu mẫu theo giới tính, dân tộc, xếp loại tốt nghiệp 28

Bảng 3: Đặc điểm việc làm 29

Bảng 4: Các phương pháp tìm kiếm việc làm 32

Bảng 5: Hệ số Cronbach’s Alpha của các thành phần thang đo vốn xã hội 33

Bảng 6: Kết quả phân tích EFA thang đo vốn xã hội 35

Bảng 7: Các chỉ tiêu đo lường VXH được xếp thành nhóm nhân tố 37

Bảng 8:Kết quả hồi quy Binary Logistic 39

Bảng 9: Phương pháp tìm kiếm việc làm và thời điểm tìm được việc làm 42

Bảng 10: Phương pháp tìm kiếm việc làm và môi trường làm việc 44

Bảng 11: Phương pháp tìm kiếm việc làm và thu nhập 45

Bảng 12: Phương pháp tìm kiếm việc làm và mức độ phù hợp chuyên môn được đào tạo 46

Trang 11

DANH SÁCH HÌNH

Trang

Hình 1: Mô hình nghiên cứu 1 19

Hình 2: Mô hình nghiên cứu 2 20

Hình 3: Quy trình nghiên cứu 21

Hình 4: Cơ cấu mẫu theo khóa học 27

Hình 5: Cơ cấu mẫu theo ngành học 27

Hình 6: Tỷ lệ có việc làm và không có việc làm 29

Hình 7: Nguồn thông tin việc làm 31

Hình 8: Mô hình nghiên cứu sau khi hiệu chỉnh 36

Trang 12

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Khoa Kinh tế - QTKD Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh

Trang 13

CHƯƠNG 1

GIỚI THIỆU

1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, việc làm, lao động là vấn đề được quan tâm hàng đầu và là chính sách cơ bản để ổn định xã hội và giúpphát triển nền kinh tế Việt Nam cũng không ngoại lệ, trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn xem con người là yếu tố đặc biệt quan trọng, nên đã không ngừng đào tạo, bồi dưỡng nguồn lao động đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đề ra ở từng thời kỳ Tháng 6/2013, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng Theo đó, đến năm 2020 nước ta sẽ có 460 trường đại học, cao đẳng Thế nhưng, tính đến tháng 7/2014, cả nước đã có tới 472 trường đại học, cao đẳng

Từ năm 2007 - 2013, đã có 133 trường đại học, cao đẳng được thành lập (Quang Công, 2014) Như vậy, mỗi năm lại có một lực lượng lao động rất lớn tham gia vào thị trường lao động, đó là các bạn sinh viên đã tốt nghiệp Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải sinh viên nào sau khi tốt nghiệp cũng có thể tìm được việc làm Theo Thanh Hòa (2015) thì cả nước có gần 178.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp

Có rất nhiều yếu tố tác động đến khả năng tìm kiếm việc làm của một cá nhân trong thị trường lao động như trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng,…Trong

đó, kinh nghiệm và kỹ năng, hay gọi là vốn con người (human capital) được xem là có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình tham gia và khả năng phát triển của các cá nhân trong thị trường lao động Tuy nhiên, ngày càng có nhiều bằng chứng khoa học cho thấy bên cạnh nguồn lực tài chính và nguồn lực con người, một yếu tố khác cũng có vai trò không thể bỏ qua trong mối liên hệ qua lại giữa cung và cầu trong thị trường lao động là nguồn vốn xã hội (social capital), một dạng nguồn lực “vô hình” được cấu thành bởi các mạng lưới xã hội, sự tham gia xã hội, lòng tin và sự có đi có lại giữa các cá nhân (Phạm Huy Cường, 2014) Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của vốn

xã hội (VXH) đến khả năng tìm kiếm việc làm như nghiên cứu của Granovetter (1995), Montgomery (1992), Lin (1999), Franzen và Hangartner (2006) Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy có sự tác động của VXH thông qua mạng lưới xã hội đến khả năng tìm việc làm và đặc điểm của công việc Ở Việt Nam, Phạm Huy Cường (2014) cũng khẳng định mạng lưới xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên tốt nghiệp Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 14

Trong khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, Trường Đại học An Giang (ĐHAG) là một trường có bề dày hoạt động hơn 15 năm với các chuyên ngành đào tạo như nông nghiệp, kinh tế, sư phạm, kỹ thuật môi trường, công nghệ thông tin,… Trong đó, Khoa Kinh tế - QTKD là một khoa có khá đông sinh viên theo học và đóng góp cho Tỉnh An Giang nói riêng và cả nước nói chung một lực lượng lao động đáng kể mỗi năm Nhưng cũng như tình hình chung của các trường Đại học, Cao đẳng trong cả nước, sinh viên ra trường còn gặp nhiều khó khăn khi tìm kiếm việc làm Ngoài kiến thức, kỹ năng được đào tạo

và trao dồi trên giảng đường thì có lẽ VXH là một nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tìm việc của sinh viên Khoa Kinh tế-QTKD Tuy nhiên, đến nay vấn đề này chưa được quan tâm nghiên cứu cụ thể Vì vậy, đề

tài “ Tác động của vốn xã hội đến khả năng tìm kiếm việc làm của sinh viên

sau khi tốt nghiệp tại Khoa Kinh tế-QTKD trường ĐHAG” được nghiên cứu

Một mặt là nghiên cứu thực trạng việc làm, sự vận dụng VXH trong tìm kiếm việc làm của sinh viên ngành kinh tế sau khi tốt nghiệp Mặt khác, nghiên cứu tác động của VXH đến khả năng và kết quả tìm kiếm việc làm của sinh viên ngành kinh tế như thế nào Từ đó, nghiên cứu đề xuất kiến nghị để giúp sinh viên nâng cao khả năng tìm được việc làm

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu chung của đề tài là phân tích tác động của VXH đến khả năng tìm việc làm sau khi ra trường của sinh viên Khoa Kinh tế - QTKD, Trường ĐHAG

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Các mục tiêu cụ thể như sau:

 Mô tả thực trạng việc làm và sự vận dụng VXH trong tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp

 Phân tích tác động của VXH đến khả năng tìm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp

 Phân tích mối quan hệ giữa phương pháp tìm kiếm việc làm và các đặc điểm công việc mà sinh viên đạt được

 Từ kết quả phân tích trên, nghiên cứu đề xuất kiến nghị giúp sinh viên nâng cao khả năng tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp

Trang 15

1.3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là mối quan hệ giữa VXH thông qua mạng lưới xã hội của sinh viên sau khi tốt nghiệp với khả năng tìm kiếm việc làm

1.4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Việc thực hiện nghiên cứu, tìm hiểu về thực trạng việc làm, sự vận dụng VXH và tác động của VXH đến khả năng tìm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp có ý nghĩa về mặt thực tiễn cũng như khoa học Kết quả nghiên cứu

sẽ góp phần cung cấp những thông tin về thực trạng việc làm hiện nay của một số sinh viên khoa KT-QTKD, mối quan hệ và sự ảnh hưởng của VXH cũng như các yếu tố khác đến khả năng tìm việc làm và đặc điểm công việc tìm được của sinh viên sau khi tốt nghiệp Qua đó, có thể giúp sinh viên, khoa KT-QTKD nói riêng và Trường ĐHAG nói chung có thêm một góc nhìn để thấy rõ vai trò của VXH trong quá trình tìm kiếm việc làm của lao động Từ

đó có những giải pháp trong quá trình đào tạo để giúp sinh viên nâng cao khả năng tìm việc sau khi tốt nghiệp Bên cạnh đó, nghiên cứu là một bằng chứng

về mặt định lượng nhằm giải thích một phần tình trạng việc làm hiện nay của sinh viên Khoa KT-QTKD

1.5 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài chương 1 giới thiệu vài nét về lý do, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài, các nội dung khác sẽ được sắp xếp thành 4 chương như sau:

 Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu

 Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 16

 Chương 4: Kết quả nghiên cứu

 Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 17

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 CÁC NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI

2.1.1 Nghiên cứu về vốn xã hội

Theo Harpel (2005), khái niệm VXH ra đời chỉ là sự định danh cho một hiện tượng đã tồn tại từ lâu trong đời sống cộng đồng loài người Tuy nhiên,

xu hướng nghiên cứu mang tính học thuật về khái niệm này được ghi dấu vào cuối những năm 1980 bởi các nhà xã hội học tiêu biểu: Pierre Bourdieu và James Coleman Từ những năm 90 trở lại đây VXH trở thành một chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu ở nhiều quốc gia Có thể nhắc tới các học giả tiêu biểu đã nghiên cứu và có những đóng góp cụ thể ở góc độ lý luận cũng như thực nghiệm về VXH như: Fukuyama, Lin, Portes, Putnam, Burt, Halpern,… Theo quan điểm Bourdieu (1986), vốn xã hội là các nguồn lực tồn tại trong các mối liên hệ giữa các cá nhân hoặc tổ chức (gọi chung là chủ thể) trong bối cảnh xã hội, thông qua đó các chủ thể nhận được lợi ích từ mạng lưới quan hệ như dễ dàng huy động các nguồn lực khác và tạo ra nguồn vốn con người Tuy nhiên, Bourdieu chưa phân loại được cấu trúc mạng lưới quan

hệ của các cá nhân và chưa đề cập đến các yếu tố chất lượng các mối quan

hệ đó nên rất khó có thể xây dựng các tiêu chí đo lường VXH dựa trên định nghĩa này Cũng tương tự như Bourdieu (1986), Coleman (1988) cho rằng VXH được thành hình qua những thay đổi trong liên hệ giữa người với người,

cụ thể là những liên hệ dễ dàng hoá hành động Coleman đã chỉ ra được ba khía cạnh biểu hiện chất lượng của VXH, bao gồm: nghĩa vụ, sự kỳ vọng, thông tin lẫn nhau và chuẩn mực tồn tại giữa các quan hệ xã hội

Theo Nahapiet và Ghosal (1998), VXH bao gồm các nguồn lực thực tế

và tiềm ẩn bên trong mạng lưới các mối quan hệ được sở hữu bởi một tổ chức hoặc cá nhân trong xã hội (gọi chung là chủ thể), thông qua mạng lưới đó các chủthể trong xã hội huy động được các nguồn lực khác Nhóm tác giả còn chỉ

ra ba khía cạnh của vốn xã hội là (1) khía cạnh cấu trúc mạng lưới: chỉ ra những ai trong hệ thống phân cấp mạng lưới, tần suất kết nối giữa các chủ thể, kết cấu trong mạng lưới; (2) khía cạnh quan hệ: biểu hiện chất lượng của các mối quan hệ như sự tín cẩn, kỳ vọng và chia sẻ lẫn nhau giữa các chủ thể trong mạng lưới; và (3) khía cạnh nhận thức: là những quy định về sự chia sẻ, ngôn ngữ, ký hiệu,… để giao tiếp và hành xử với nhau trong mạng lưới Thực chất khía cạnh cấu trúc đề cập đến sự cấu thành mạng lưới, khía cạnh quan

hệ và nhận thức đề cập đến yếu tố chất lượng của mạng lưới

Trang 18

2.1.2 Nghiên cứu về vốn xã hội trong thị trường lao động

Nghiên cứu của Granovetter về vai trò của mạng quan hệ xã hội và tìm kiếm việc làm (1995) Ba giả thuyết cơ bản của ông đã bắt đầu cho các

nghiên cứu kế thừa cũng như phản biện của các học giả trên thế giới góp phần quan trọng định hình những nhận thức chung nhất về VXH trong thị trường lao động (1- Nhiều người tìm kiếm việc làm thông qua các mối quan hệ xã hội chứ không chỉ các kênh chính thức; 2- Ý nghĩa của các mạng lưới xã hội là cho phép những người tìm kiếm việc làm tập hợp được những thông tin tốt hơn Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho phép người tìm việc có một sự lựa chọn công việc tốt hơn (thu nhập cao hơn và khiến bạn hài lòng hơn); 3- Thông tin về các thị trường lao động có thể được tạo ra tốt hơn thông qua các

“liên kết yếu” bởi tính mới mẻ của thông tin) Nghiên cứu cũng chỉ ra ý nghĩa hai chiều của VXH VXH giúp cá nhân đạt được công việc phù hợp hơn, thu nhập cao hơn, hài lòng hơn Tuy nhiên, tìm kiếm việc làm thông qua VXH cũng gây nguy cơ bất bình đẳng cơ hội giữa các cá nhân

Nghiên cứu của Brook (2005) – Tham gia thị trường lao động: Sự ảnh hưởng của vốn xã hội Dựa trên quan điểm VXH của Cote và Healy

(2001), VXH của người lao động là “mạng lưới cùng định mức chia sẻ, giá trị

và hiểu biết nhằm tạo điều kiện hợp tác giữa các nhóm” Nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn và tiêu chí để đo lường VXH gồm:

- Sự tham gia xã hội: tham gia các hoạt động, các nhóm, tần số và cường độ tham gia

- Sự tham gia với vị trí là một công dân: mức độ ảnh hưởng, tham gia vào vấn

đề chính trị địa phương, các nhóm trong địa phương

- Mạng xã hội và hỗ trợ xã hội: tần suất nhìn thấy, nói chuyện với bạn bè, hàng xóm; mức độ trao đổi giúp đỡ nhau,…

- Sự trao đổi và sự tin tưởng: mức độ tin tưởng người khác, sự tự tin tham gia hoạt động nhóm, mức độ ủng hộ và được ủng hộ

- Quan điểm về nơi bản thân sinh sống: quan điểm về môi trường xung quanh, các thiết bị trong khu vực, về tội phạm,…

Nghiên cứu của Franzen và Hangartner (2006) – Mạng lưới xã hội

và kết quả của thị trường lao động Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu là

sự kết hợp của lý thuyết tìm kiếm việc làm cổ điển và giả thiết mạng Thông qua phân tích thực nghiệm các Chương trình điều tra xã hội quốc tế năm 2001

về quan hệ xã hội và hệ thống hỗ trợ Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng các mối quan hệ xã hội là một chiến lược tìm kiếm việc làm phổ biến ở tất cả các nước Tuy nhiên, không có sự khác biệt về thu nhập nào giữa những người tìm

Trang 19

kiếm được công việc của mình bằng các kênh chính thức và những người khác thành công nhờ vào các mối quan hệ Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tiến hành khảo sát 8.000 sinh viên tốt nghiệp tại các trường đại học của Thụy Sĩ, những người vừa bước chân vào thị trường lao động để chứng minh ảnh hưởng tích cực của vốn xã hội đến khía cạnh phi kinh tế của công việc Kết quả cho thấy sinh viên tốt nghiệp nhận được công việc của họ thông qua các quan hệ xã hội

có xu hướng để có được công việc phù hợp với chuyên môn đào tạo cao hơn Hơn nữa, sử dụng mạng lưới quan hệ xã hội giúp làm giảm chi phí tìm kiếm việc

Nghiên cứu của Lin, N (1999) – Mạng lưới xã hội và địa vị đạt được

Bằng việc sử dụng dữ liệu khảo sát thực tế của mười huyện tại Quảng Châu năm 2014, nghiên cứu này ước tính mức độ hội nhập đô thị của các công nhân nhập cư tại Quảng Châu Kết quả nghiên cứu cho thấy, VXH của những người lao động nhập cư có tác động đáng kể đến khả năng hội nhập của họ vào thành phố Bên cạnh đó, các thành phần khác nhau trong VXH cũng có tác động khác nhau đến các khía cạnh khác nhau của sự hội nhập đô thị của lao động nhập cư VXH tích hợp được của những người lao động nhập cư chủ yếu thúc đẩy sự hội nhập của các khía cạnh kinh tế, ngược lại nó có tác động tiêu cực đối với sự hội nhập văn hóa

Các nghiên cứu nước ngoài đã cho thấy, VXH có vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực Riêng đối với vấn đề việc làm, kết quả nghiến cứu của Granovetter (1995), Franzen và Hangartner (2006) đều chỉ ra ảnh hưởng của VXH trong quá trình tìm kiếm việc làm và kết quả công việc đạt được Vì có nhiều quan điểm khác nhau nên cách đo lường VXH cũng khác nhau Một số nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi khảo sát, kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng để đưa ra những thang đo hoặc biến đại diện hữu ích để đo lường VXH.

2.2 CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

2.2.1 Nghiên cứu về vốn xã hội

Trên thế giới, VXH là một khái niệm đã xuất hiện khá lâu và được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu nhưng ở Việt Nam thì khái niệm VXH còn khá mới mẻ Tuy nhiên, ngày càng có nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy VXH đóng vai trò to lớn trong sự phát triển bền vững trong nhiều lĩnh vực của đất nước Một số nghiên cứu đáng chú ý như:

Nghiên cứu mạng lưới xã hội của những người di cư (Đặng Nguyên Anh, 1998): nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ cuộc khảo sát “Di cư và sức khỏe” (VNMHS97) do viện xã hội học (thuộc trung tâm Khoa học xã hội và nhân

Trang 20

văn Quốc gia) tiến hành năm 1997 Bài viết tập trung phân tích ảnh hưởng của mạng lưới xã hội đối với di cư nông thôn – đô thị với quy mô phân tích bao gồm 1.864 cá nhân Bằng phương pháp phân tích thống kê mô tả, nghiên cứu cho thấy hơn 75% số người di cư được khảo sát cho biết có họ hàng, người thân, bạn bè sinh sống tại nơi chuyển đến và những người thân đó là những đầu mối thông tin và nguồn hỗ trợ kinh tế - xã hội đối với người di cư Các tổ chức kể cả cơ quan chính quyền địa phương, cơ quan truyền thông đại chúng,

tổ chức giới thiệu việc làm, tổ chức ngân hàng đóng vai trò nhỏ bé đối với người dân trong việc quyết định chuyển cư và quá trình sinh kế ở nơi nhập cư Gia đình, bạn bè, người thân tại nơi chuyển đến thường giữ vai trò cưu mang, cung cấp thông tin, giúp liên hệ việc làm cũng như vượt qua những khó khăn ban đầu Những quan hệ mà người di chuyển có được tại nơi nhập cư sẽ làm thuận lợi thêm quá trình hòa nhập của họ vào môi trường sống mới

Khi mà thị trường vốn tín dụng còn chưa phát triển, các doanh nghiệp gia đình chủ yếu dựa vào nguồn VXH từ mạng lưới xã hội gia đình, người thân và bạn bè để huy động vốn kinh tế (Nguyễn Quý Thanh, 2005) Khi nghiên cứu

về sự giao thoa giữa VXH và các giao dịch sinh kế trong gia đình, Nguyễn Quý Thanh đã tiếp cận VXH dưới dạng trách nhiệm, lòng tin giữa các thành viên gia đình và mối quan hệ thân quen với các cá nhân trong các cơ quan chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng; xem gia đình như là một trong các nguồn VXH Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu xem các giao dịch kinh tế được bao bọc, gắn kết bởi các quan hệ gia đình (tức là một loại vốn xã hội) như thế nào? Những biểu hiện của nó trong việc vay vốn kinh doanh, chia

sẻ về lao động hay trong quản lý doanh nghiệp nhỏ, rất nhỏ hay doanh nghiệp gia đình ra sao? Thông qua dữ liệu khảo sát, thảo luận, nghiên cứu cho thấy bạn bè và gia đình là những nguồn quan trọng để những người kinh doanh nhỏ

có thể vay vốn khởi nghiệp Sự giúp đỡ của gia đình dường như giúp cải thiện tình trạng thiếu vốn từ thị trường vốn chính thức VXH còn giúp giảm chi phí giao dịch kinh tế cho các doanh nghiệp gia đình và tăng cường khả năng huy động nguồn lao động khi cần thiết

Trong bài phân tích sử dụng VXH trong chiến lược sinh kế của nông dân ven đô Hà Nội dưới tác động của đô thị hóa, Nguyễn Duy Thắng (2007) đã sử dụng dữ liệu từ một cuộc nghiên cứu ở 4 phường, xã ven đô Hà Nội do phòng

xã hội học đô thị, viện xã hội học thực hiện trong khuôn khổ dự án SEARUSYN Bằng phương pháp phân tích thống kê mô tả, nghiên cứu cho thấy dưới tác động của đô thị hóa, các cá nhân và gia đình ngày càng tích lũy được nhiều VXH, các mối quan hệ và mạng lưới xã hội ngày càng được mở rộng ra ở các phường xã chứ không còn bó hẹp và khép kín trong phạm vi gia

Trang 21

đình hay một cộng đồng Việc sử dụng VXH trong chiến lược sinh kế đã giúp cho người dân giảm được chi phí đầu vào cho sản xuất và các chi phí giao dịch trong tìm kiếm việc làm hay thị trường, đồng thời chia sẻ các nguồn thông tin đáng tin cậy về thị trường để tránh nguy cơ rủi ro

VXH được thừa nhận có tác động đến các giao dịch kinh tế, trong đó có vấn đề tiếp cận tín dụng Đối với thị trường tín dụng khu vực nông thôn, nhiều nghiên cứu đã chứng minh vai trò ngày càng quan trọng của VXH trong việc tiếp cận tín dụng của các hộ gia đình, trong đó có nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hoài và Trần Quang Bảo (2014) về ảnh hưởng của VXH đến tiếp cận tín dụng của hộ gia đình nông thôn Việt Nam Nghiên cứu tiếp cận khái niệm VXH thông qua mạng lưới xã hội và cụ thể ở 3 chỉ số: 2 chỉ số liên quan đến đặc điểm cấu trúc mạng lưới là mạng lưới phi chính thức và mạng lưới chính thức và một chỉ số liên quan đến chất lượng của mạng lưới là lòng tin Sử dụng mẫu gồm 859 hộ gia đình thuộc 6 tỉnh thành trích từ bộ dữ liệu VARHS

2008 được thu thập từ việc khảo sát hơn 3.000 hộ gia đình thuộc 12 tỉnh của Việt Nam, tác giả xây dựng mô hình tìm hiểu tác động của VXH đến tiếp cận tín dụng chính thức, bán chính thức và phi chính thức Kết quả nghiên cứu từ

mô hình hồi quy Binary Logistic và Multinomial Logistic cho thấy trong 3 thành phần của VXH được sử dụng để đo lường tác động đến tiếp cận tín dụng, chỉ có thành phần các mạng lưới xã hội chính thức có ý nghĩa thống kê, mạng lưới xã hội chính thức có mối quan hệ ngược chiều đến tiếp cận tín dụng chính thức và cùng chiều đến tiếp cận tín dụng bán chính thức

2.2.2 Nghiên cứu về vốn xã hội trong thị trường lao động

Theo Lê Ngọc Hùng (2003), Vận dụng lý thuyết và phương pháp tiếp

cận mạng lưới xã hội ta có thể tìm hiểu rõ thành phần và kiểu dạng các quan

hệ xã hội mà các cá nhân có thể sử dụng để tìm kiếm việc làm Những yếu tố

cơ bản, quan trọng nhất tạo nên mạng lưới xã hội ở đây là các thành viên gia đình bao gồm bố mẹ, anh em, bà con ruột thịt; những người quen thân của gia đình, các bạn bè của cá nhân và những người khác, những nhóm và tổ chức xã hội mà họ có những mối liên hệ nhất định trong quá trình sống, sinh hoạt, học tập và tham gia vào thị trường lao động xã hội Mạng lưới xã hội có vai trò trực tiếp làm cầu nối và hỗ trợ tìm kiếm việc làm Tác giả sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 229 sinh viên học năm cuối ở một số trường đại học Kinh tế, Sư phạm, Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội ở Hà Nội và phỏng vấn sâu một số nhà tuyển dụng, một số cựu sinh viên đang làm việc tại một số cơ quan Kết quả phân tích thống kê mô tả cho thấy, ngoài việc học tập chính thức ở trường

để đầu tư vào vốn người, không ít sinh viên học thêm ngoại ngữ, vi tính và một số môn khác Ngoài việc học thêm, sinh viên còn vừa củng cố, duy trì các

Trang 22

quan hệ xã hội đã có và vừa tạo lập các mối quan hệ mới, tiếp xúc với các đầu mối thông tin nhằm tìm kiếm việc làm Để tìm việc làm sau khi ra trường, phần lớn sinh viên đặt niềm tin hy vọng vào các quan hệ gia đình (61,4%), quan hệ họ hàng (13,9%), người quen biết của gia đình (11,7%), bạn bè (5,4%), trung tâm giới thiệu việc làm (4%), người yêu và gia đình người yêu (3,5%)

Nghiên cứu của Phạm Huy Cường (2014): Tác giả nghiên cứu VXH

với tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp (trường hợp cựu sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học QGHN) VXH của sinh viên tốt nghiệp được tiếp cận ở cấp độ cá nhân, là các nguồn lực gắn với mạng lưới quan hệ xã hội và các cơ cấu xã hội, tổ chức xã hội họ tham gia như một thành viên; Kích thước của VXH của sinh viên tốt phụ thuộc vào kích thước mạng lưới (các mối quan hệ xã hội nhiều hay ít), đặc điểm của các mối quan hệ (quan hệ gia đình, quan hệ ngoài gia đình, liên kết mạnh, liên kết yếu…), và “chất lượng” của các đối tác (quy mô và đặc điểm nguồn lực các đối tác chiếm giữ mà sinh viên tốt nghiệp có thể sử dụng) Nghiên cứu khảo sát 1.073 sinh viên tốt nghiệp với phương pháp chọn mẫu phân tầng tỷ lệ Bằng phương pháp phân tích số liệu dạng tần suất, tỷ lệ, nghiên cứu sử dụng kiểm định chi bình phương (X2) và các đại lượng thống kê Cramer’V và Gamma để đánh giá mối liên hệ giữa các biến số định danh và thứ bậc Kết quả nghiên cứu đưa ra một số bằng chứng thực nghiệm về vai trò của các mạng lưới quan hệ xã hội như là VXH đối với sự tham gia, phát triển của mỗi

cá nhân trong thị trường lao động, xác nhận mối liên hệ giữa mạng lưới quan

hệ xã hội với các khía cạnh kinh tế và phi kinh tế của công việc Về thu nhập, các công việc có được thông qua các mối quan hệ xã hội có thu nhập thấp hơn

so với các công việc có được thông qua các kênh chính thức Ở khía cạnh phi kinh tế, tìm kiếm việc làm thông qua các mối quan hệ xã hội hướng sinh viên tốt nghiệp tới các công việc thuộc khu vực công, có sự phù hợp với chuyên môn cao hơn Tuy nhiên những người tìm kiếm công việc nhờ vào các mối quan hệ lại gặp bất lợi về chi phí thời gian

Nghiên cứu của Nguyễn Lê Hoàng Thụy Tố Quyên (2015) – Chỉ số

đo lường vốn xã hội của lao động di cư đến thành phố Hồ Chí Minh Mục

tiêu của nghiên cứu nhằm cung cấp thông tin tổng quan về VXH của lao động

di cư từ nông thôn đến TP.HCM Xuất phát từ định nghĩa VXH là mạng lưới quan hệ cá nhân đáng tin cậy, có qua có lại và là nguồn lực quan trọng, tác giả xây dựng bộ câu hỏi đo lường VXH tập trung vào đặc điểm mạng lưới và lòng tin, bao gồm các tiêu chí:

Trang 23

- Số lượng mạng lưới: việc tham gia mạng lưới các tổ chức, hội, nhóm, mạng lưới xã hội truyền thống

- Nguồn lực tiềm năng: độ gắn kết của các mối liên hệ, tần suất liên lạc, tham gia sinh hoạt mạng lưới

- Nguồn lực thực sự: cá nhân nhận được sự giúp đỡ và cung cấp sự giúp đỡ cho mạng lưới

- Lòng tin: mức độ tin tưởng mọi người trong xã hội

Phương pháp nghiên cứu bao gồm nghiên cứu định tính sơ bộ và nghiên cứu định lượng, nghiên cứu sơ bộ để khám phá cấu trúc mạng lưới và xác định thang đo tối ưu Kỹ thuật phân tích số liệu gồm phân tích nhân tố khám phá (EFA) và mô hình hồi quy cấu trúc (PLS-SEM) Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số VXH của lao động di cư đến TP.HCM bao gồm 2 khía cạnh là mạng lưới và lòng tin Chiều mạng lưới gồm: mạng lưới gắn kết, mạng lưới gắn kết-kết nối, mạng lưới bắc cầu nối, mạng lưới bắc cầu nối-kết nối Chiều lòng tin gồm: lòng tin cụ thể và lòng tin tổng quát

Trong nước, VXH đã được các tác giả nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ giáo dục, lao động cho đến kinh tế Đa phần các nghiên cứu trong nước tiếp cận khái niệm VXH chủ yếu thông qua mạng lưới xã hội, thể hiện ở hai khía cạnh của mạng lưới là cấu trúc và chất lượng

Trang 24

Theo Hanifan (1916), VXH ám chỉ thiện chí, tình thân hữu, sự thông cảm và tương tác xã hội giữa các cá nhân và gia đình Khi một cá nhân tiếp xúc với hàng xóm, VXH sẽ được tích lũy, giúp thỏa mãn ngay nhu cầu xã hội của cá nhân đó và tiềm ẩn khả năng cải thiện các điều kiện sống của cả cộng đồng

Theo quan điểm Bourdieu (1986), VXH là các nguồn lực tồn tại trong các mối liên hệ giữa các cá nhân hoặc tổ chức (gọi chung là chủ thể) trong bối cảnh xã hội, thông qua đó các chủ thể nhận được lợi ích từ mạng lưới quan hệ như dễ dàng huy động các nguồn lực khác và tạo ra nguồn vốn con người Cũng tương tự như Bourdieu (1986), Coleman (1988) cho rằng VXH được thành hình qua những thay đổi trong liên hệ giữa người với người, cụ thể

là những liên hệ dễ dàng hoá hành động Ba khía cạnh biểu hiện chất lượng của VXH bao gồm: nghĩa vụ, sự kỳ vọng, thông tin lẫn nhau và chuẩn mực tồn tại giữa các quan hệ xã hội Tuy nhiên các nghiên cứu trên chưa phân loại được cấu trúc mạng lưới quan hệ

Năm 2000, nghiên cứu của Putnam đã phân biệt các hình thức liên kết xã hội là co cụm vào nhau (bonding social capital), loại vươn ra bên ngoài (bridging social capital) Loại co cụm vào nhau gây tác động tiêu cực cho xã hội, loại vươn ra ngoài có tác động tích cực cho xã hội Tác giả cũng phân loại được cấu trúc của các mạng lưới xã hội thành hai nhóm là nhóm quan hệ diễn

ra theo chiều ngang và quan hệ diễn ra theo chiều dọc Như vậy, VXH có thể tổng kết bởi hai đặc trưng là: (1) chất lượng của các mạng lưới quan hệ (hay gọi là khía cạnh nhận thức) như sự tín cẩn, hỗ trợ, kỳ vọng lẫn nhau, và các chuẩn mực, quy tắc hành xử, và các hình thức liên kết co cụm vào nhau, vươn

ra bên ngoài và kết nối; (2) cấu trúc của mạng lưới bao gồm cơ cấu trong mạng lưới, tần suất kết nối giữa các chủ thể, nhận diện chủ thể tham gia mạng

Trang 25

lưới, và cấu trúc quan hệ chiều ngang và chiều dọc Các định nghĩa về VXH như lược khảo trên tuy khác nhau nhưng lại bổ sung cho nhau Tổng kết các quan điểm này có thể định nghĩa VXH là tổng hợp các nguồn lực của cá nhân hoặc nhóm hoặc tổ chức (gọi chung là chủ thể) tồn tại trong các mạng lưới quan hệ có chất lượng Định nghĩa này bao gồm hai nhóm đặc trưng là cấu trúc mạng lưới xã hội và chất lượng mạng lưới xã hội

Tóm lại, do khái niệm VXH mang tính chất đa chiều nên cho đến nay, khái niệm VXH vẫn đang được tiếp tục thảo luận, phát triển với nhiều định nghĩa, cách giải thích khác nhau, và cả những phê phán đi kèm Đánh giá một cách tổng thể thì sự khác nhau đó tạo ra cả khó khăn lẫn thuận lợi cho việc áp dụng khái niệm này vào các nghiên cứu cụ thể Về mặt thuận lợi, sự đang dạng

và phong phú về định nghĩa và cách giải thích cho thấy VXH có thể được áp dụng vào nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Chẳng hạn, Coleman (1988)

sử dụng định nghĩa và cách giải thích của mình về VXH để nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục Trong khi đó Fukuyama (1995) đưa ra quan niệm của ông

về VXH để tìm hiểu sự phát triển kinh tế Do đó, theo Nguyễn Tuấn Anh (2015), mỗi nghiên cứu nên định nghĩa về VXH như là khái niệm làm việc trong một lĩnh vực cụ thể, phù hợp với mục đích của nghiên cứu đang được tiến hành, dựa trên việc khảo cứu quan điểm của các tác giả đi trước

Mặc dù còn nhiều điểm khác nhau trong cách đưa ra định nghĩa, quan điểm về VXH, song các tác giả đều thống nhất với nhau ở chỗ cho rằng VXH gắn liền với mạng lưới xã hội, quan hệ xã hội Chẳng hạn, VXH kết nối với mạng lưới xã hội tương đối bền vững (Bourdieu, 1986: 248-249), VXH nằm trong quan hệ xã hội (Coleman, 1988: 98-100), VXH ở trong mạng lưới xã hội (Lin, 2001a: 24-25), mạng lưới xã hội là một thành tố của VXH (Putnam, 2000: 19), cần quan sát VXH thông qua mạng lưới xã hội (Portes, 1998: 8)

VXH theo cách tiếp cận mạng lưới xã hội là cách tiếp cận phổ biến nhất trong nghiên cứu vi mô (Brook, 2005; Phạm Huy Cường, 2014) Do đó, trong nghiên cứu về tác động của VXH đến khả năng tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp tại Khoa Kinh tế - QTKD, Trường ĐHAG, nhóm tác giả chủ yếu tập trung tìm hiểu tác động của VXH thông qua mạng lưới xã hội đến khả năng tìm việc làm của sinh viên Theo cách tiếp cận mạng lưới thì VXH có hai đặc trưng căn bản là cấu trúc mạng lưới xã hội và chất lượng mạng lưới xã hội.

3.1.1.2 Mạng lưới xã hội

Khái niệm mạng lưới xã hội dùng để chỉ phức thể các mối quan hệ xã hội

do con người xây dựng, duy trì và phát triển trong cuộc sống thực của họ với

Trang 26

tư cách là thành viên của xã hội Hay nói theo cách khác, mạng lưới xã hội được hiểu là tập hợp các mối liên kết, các mối quan hệ giữa các cá nhân và các nhóm dân cư (Đặng Nguyên Anh, 1998)

3.1.1.3 Sinh viên tốt nghiệp

Trong nghiên cứu này, khái niệm “Sinh viên tốt nghiệp” dùng để chỉ nhóm đối tượng là người học đã hoàn thành chương trình đào tạo ở Khoa Kinh

tế - QTKD, Trường ĐHAG và được cấp bằng tốt nghiệp đồng thời có nhu cầu tham gia vào thị trường lao động

VXH của sinh viên tốt nghiệp được tiếp cận ở cấp độ cá nhân, là các nguồn lực gắn với mạng lưới quan hệ xã hội và các cơ cấu xã hội, tổ chức xã hội họ tham gia như một thành viên (Phạm Huy Cường, 2014)

3.1.1.4 Việc làm và khả năng tìm việc làm

Theo điều 13 của Bộ luật lao động nước CHXHCN Việt Nam năm 1994 ghi: “Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật nghiêm cấm được coi là việc làm” Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, các định nghĩa khái niệm việc làm ít nhiều có sự khác biệt tuy nhiên nội hàm thống nhất ở hai điểm: (1) Là một hoạt động lao động, có thể là một công việc do người khác tạo dựng và cũng có thể là công việc tự cá nhân tạo ra cho bản thân; (2) công việc đó mang lại thu nhập (Phạm Huy Cường, 2014) Phân loại theo thời gian làm việc thì có ba dạng việc làm: việc làm toàn thời gian, việc làm bán thời gian và việc làm thêm

Khả năng tìm kiếm việc làm cho thấy khả năng có được việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp, có hai trường hợp xảy ra: có việc làm và chưa có việc làm Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm tác giả xem xét việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp là việc làm toàn thời gian, không phải việc làm thêm hay việc làm theo thời vụ thì được gọi là có việc làm

3.1.2 Vốn xã hội từ góc độ tiếp cận mạng lưới xã hội

Trong xã hội học, các đặc điểm và tính chất của mạng lưới xã hội được nghiên cứu từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau Lý thuyết tương tác xã hội của Georg Simmel tập trung vào phân tích các kiểu, hình thức của mạng lưới gồm các mối liên hệ của các cá nhân đang tác động lẫn nhau Theo thuyết cấu trúc-chức năng, Emile Durkheim phân biệt hai kiểu đoàn kết xã hội hữu cơ và máy móc trên cơ sở hai hình thức phân công lao động phức tạp và đơn giản tạo nên những kiểu quan hệ và liên hệ tương ứng giữa các cá nhân và nhóm người Mạng lưới quan hệ chức năng đặc trưng cho kiểu đoàn kết hữu cơ của xã hội hiện đại và mạng lưới quan hệ phi chức năng đặc trưng cho kiểu đoàn kết máy

Trang 27

móc của xã hội truyền thống Theo Granovetter (1995), mật độ và cường độ của các mối liên hệ xã hội có tác dụng khác nhau đối với giao tiếp và sự hội nhập xã hội

Năm 2000, nhà chính trị học người Mỹ Robert Putnam xuất bản một bài nghiên cứu ngắn gọn song có nhiều phát hiện mới và quan trọng về sự giảm sút rõ rệt mức độ tham gia vào các sinh hoạt tập thể của người Mỹ Trong tác phẩm “Chơi bowling một mình: sự sụp đổ và sự trỗi dậy của cộng đồng người Mỹ” (Bowling Alone The collapse and revival of American community) Putnam đưa ra những dữ kiện thống kê và cho rằng, dân Mỹ ngày càng thích các hoạt động riêng lẻ thay vì cùng nhóm; ít tham gia vào các hoạt động công dân; ít tham gia vào các hoạt động tôn giáo; ít đóng góp cho các tổ chức từ thiện và dành ít thì giờ giao thiệp xã hội Ông cũng đưa ra nhiều lý giải liên quan đến “sự xuống dốc của cộng đồng tính này” Ông sử dụng cụm từ “vốn

xã hội” gắn với những mạng lưới xã hội và những quan hệ có đi có lại trong

xã hội, những quy tắc cho phép cá nhân, tập thể giải quyết những vấn đề chung của cộng đồng Theo Putnam thì những phương tiện truyền thông hiện đại và công nghệ đã khiến con người trong xã hội hiện đại không còn “đầu tư” vào “vốn xã hội” thông qua các sinh hoạt cộng đồng, những sinh hoạt luôn cần thiết cho sự tin tưởng và tương trợ nhau trong xã hội

Theo Lê Ngọc Hùng (2003), những yếu tố cơ bản, quan trọng nhất tạo nên mạng lưới xã hội là các thành viên gia đình bao gồm bố mẹ, anh em bà con ruột thịt; những người quen thân của gia đình, các bạn bè của cá nhân và những người khác, những nhóm và tổ chức xã hội mà họ có những mối liên hệ nhất định trong quá trình sống, sinh hoạt, học tập và tham gia vào thị trường lao động xã hội Về mặt lý thuyết có thể nêu khái quát ba kiểu mạng lưới xã hội: (1) kiểu truyền thống: cá nhân chủ yếu dựa vào các quan hệ gia đình để tìm kiếm việc làm, (2) kiểu hiện đại: cá nhân chủ yếu dựa vào các mối quan hệ chức năng với các cơ quan, tổ chức và các thiết chế của thị trường lao động để tìm kiếm việc làm và (3) kiểu hỗn hợp, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại Nghiên cứu đo lường và phân tích VXH thông qua mạng lưới xã hội và xem xét mạng lưới xã hội ở hai khía cạnh: khía cạnh cấu trúc và khía cạnh chất lượng thể hiện qua yếu tố lòng tin (Putnam, 2000; Grootaert & cs, 2004)

Ở khía cạnh cấu trúc của mạng lưới xã hội, một số nghiên cứu thực nghiệm đề xuất 3 dạng cấu trúc: gắn bó (bonding), bắc cầu (bridging) và kết nối (Linking) (Brook, 2005; Woolcock & Narayan, 2000) Quan hệ gắn bó là các mối quan hệ gẫn gũi, thân thiết như các quan hệ trong gia đình, họ hàng Quan hệ bắc cầu chỉ các mối quan hệ lỏng lẻo hơn như các mối quan hệ với bạn bè, thầy cô Quan hệ kết nối đề cập đến những quan hệ xã hội trong các tổ chức xã hội, tôn giáo, hiệp

Trang 28

hội Ở khía cạnh chất lượng của mạng lưới xã hội, hay còn gọi là lòng tin, lòng tin thể hiện qua mức độ tin tưởng mọi người trong các mối quan hệ xã hội Lòng tin thường được chia thành hai kiểu gồm: lòng tin cụ thể, lòng tin tổng quát Lòng tin cụ thể là mức độ tin tưởng vào các mối quan hệ gắn bó, lòng tin tổng quát là mức độ tin tưởng vào mọi người trong xã hội (Grootaert & cs, 2004; Chen & Lu, 2007; Wang & cs, 2013; Nguyễn Lê Hoàng Thụy Tố Quyên, 2015)

3.1.3 Vốn xã hội và khả năng tìm kiếm việc làm

Có rất nhiều yếu tố tác động đến khả năng tìm kiếm việc làm của người lao động như trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng, Tuy nhiên, ngày càng có nhiều bằng chứng khoa học cho thấy bên cạnh nguồn lực tài chính và nguồn lực con người, một yếu tố khác cũng có vai trò không thể bỏ qua trong mối liên hệ qua lại giữa cung và cầu trong thị trường lao động là nguồn VXH Mạng lưới xã hội có vai trò trực tiếp làm cầu nối và hỗ trợ tìm kiếm việc làm (Lê Ngọc Hùng, 2003) Ngày nay, ngoài việc học chuyên môn ở trường, sinh viên có xu hướng học thêm các kỹ năng như ngoại ngữ, vi tính với mục đích “xin việc dễ dàng”, bên cạnh đó không ít sinh viên sau khi tốt nghiệp phải dựa vào các đầu mối quan hệ gia đình, bạn bè để có được việc làm

Theo Granovetter (1995), khi nghiên cứu về các mối quan hệ và sự nghiệp (Getting a job: A study of contacts and career), tác giả đã chỉ ra ba luận điểm: (1) nhiều người tìm được công việc của mình thông qua các quan hệ xã hội chứ không chỉ thông qua các kênh chính thức, (2) mạng lưới các mối quan hệ xã hội cho phép những người tìm kiếm việc làm thu thập được những thông tin tốt hơn

về tính khả dụng của công ăn việc làm cũng như các đặc điểm của công việc, (3) các liên kết yếu (weak ties) có thể mang lại những thông tin hữu ích hơn các liên kết mạnh (strong ties) Theo Granovetter, những người có mạng lưới xã hội dày đặc khép kín trong đó mọi người đều quen biết và thân thiết nhau có thể sẽ tạo ra sự hạn chế trong việc trao đổi thông tin và cản trở sự liên hệ với thế giới bên ngoài Ngược lại, một mạng lưới xã hội gồm các mối liên hệ yếu ớt, lỏng lẻo, thưa thớt, luôn luôn mở lại tỏ ra có lợi cho sự trao đổi thông tin và tạo ra sự hội nhập với xã hội cũng như tạo cơ hội cho cá nhân theo đuổi mục đích của họ Trên thực tế, có nhiều cá nhân thậm chí không hề có một nỗ lực tìm kiếm nào, thông tin về công việc đến với họ bởi một người thân nào đó và họ chỉ việc đón nhận nó mà thôi (Franzen & Hangartner, 2006) Trong các tổ chức phi chính phủ, tỷ lệ nhân viên có được việc làm bởi quen biết cao hơn so với những người không sở hữu loại vốn này Điều đó cho thấy vai trò quan trọng trong việc tích lũy VXH từ các mạng lưới giao tiếp để hỗ trợ trong việc tìm kiếm cơ

Trang 29

hội việc làm VXH của người lao động có thể hỗ trợ cho những người đang thất nghiệp hoặc chưa có nghề nghiệp trong việc tìm kiếm việc làm, hoặc nếu đã có việc làm sẽ hỗ trợ trong việc thay đổi công việc hoặc thăng tiến Khi tìm kiếm một việc làm, VXH có thể là một tài sản tích cực trong việc cung cấp kiến thức

về các cơ hội cho người lao động (Brook, 2005)

Bên cạnh việc quan tâm đến khả năng có được việc làm thông qua VXH, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra tác động của VXH đến các kết quả tìm kiếm việc làm (đặc điểm công việc tìm được) Trong nghiên cứu của Granovetter (1995), tác giả khẳng định những ảnh hưởng tích cực của mạng lưới xã hội đến khía cạnh thu nhập và sự phù hợp của công việc được tìm thấy thông qua các mối quan hệ khi đa phần những cá nhân có được việc làm thông qua các mối quan

hệ có mức thu nhập cao hơn và công việc phù hợp với chuyên môn đào tạo hơn

so với những người có được việc làm từ các phương pháp khác Cùng quan điểm với Granovetter, Franzen & Hangartner (2006) gợi mở rằng những công việc được tìm thấy nhờ vào sự trợ giúp của bạn bè, đồng nghiệp hay người thân

có sự phù hợp cao hơn với chuyên môn được đào tạo Các kết quả nghiên cứu của Marsden cũng lý giải rằng VXH có ích hơn cho người tìm kiếm việc làm hay người làm công đối với những công việc có tính chuyên môn và đòi hỏi kỹ năng và nhất là các công việc đòi hỏi sự đầu tư đào tạo của nhà tuyển dụng Tuy nhiên, ngược lại với các quan điểm trên, Lin (1999), Mouw (2003), Franzen & Hangartner (2006) lại không xác nhận sự khác biệt về thu nhập nào giữa những người tìm kiếm được công việc của mình bằng các kênh chính thức và những người khác thành công nhờ vào các mối quan hệ Một số nghiên cứu khác còn chỉ ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với thu nhập từ công việc có được thông qua các mối quan hệ xã hội

Ở Việt Nam, Phạm Huy Cường (2014) cho rằngcác mạng lưới quan hệ xã hội và quy mô các nguồn lực cá nhân có thể huy động từ đó có mối liên hệ rõ rệt đến quá trình tìm kiếm việc làm(phương pháp tìm kiếm, thời gian tìm kiếm)

và các đặc điểm công việc (môi trường làm việc, thu nhập, sự phù hợp chuyên môn với công việc) của các sinh viên tốt nghiệp từ Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Mạng lưới quan hệ xã hội trước tiên có vai trò lan truyền các luồng thông tin về việc làm Đồng quan điểm với nghiên cứu của Granovetter (1995), cách thức mỗi cá nhân gắn kết với các mạng lưới quan hệ xã hội có liên hệ mật thiết tới quá trình tham gia và phát triển của người đó trong thị trường lao động Về thu nhập, các công việc có được thông qua các mối quan hệ xã hội có thu nhập thấp hơn so với các công việc có được thông qua các kênh chính thức Tuy nhiên bất lợi này có liên hệ với các mối quan hệ trong gia đình nhiều hơn Ở khía cạnh phi kinh tế, tìm kiếm

Trang 30

việc làm thông qua các mối quan hệ xã hội hướng sinh viên tốt nghiệp tới các công việc thuộc khu vực công, có sự phù hợp với chuyên môn cao hơn Tuy nhiên những người tìm kiếm công việc nhờ vào các mối quan hệ lại gặp bất lợi

về chi phí thời gian

Nhìn chung, về mặt lý luận và thực nghiệm các nghiên cứu đã cho thấy VXH, cụ thể là thông qua mạng lưới các mối quan hệ xã hội của cá nhân có ảnh hưởng đến quá trình và khả năng tìm kiếm việc làm Đồng thời cũng cho thấy đặc điểm công việc tìm được như thu nhập, sự phù hợp chuyên môn, môi trường làm việc là có sự khác nhau khi so sánh giữa những cá nhân tìm việc làm thông qua VXH và những người có việc làm thông qua các kênh khác Tuy nhiên, rõ ràng mạng lưới xã hội của mỗi cá nhân là hết sức phức tạp, có nhiều thành tố, với nhiều chiều cạnh, và các đặc điểm phong phú; ở từng thời điểm, trong các bối cảnh, với mỗi loại hình mối liên hệ khác nhau, sẽ có tác động khác nhau đến các đặc điểm của kết quảtìm kiếm việc làm

3.1.4 Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước và cơ sở lý luận về VXH cũng như ảnh hưởng của VXH trong thị trường lao động, nghiên cứu xây dựng mô hình phân tích ảnh hưởng của VXH đến khả năng tìm việc làm của sinh viên tốt nghiệp như hình 1 VXH của sinh viên tốt nghiệp được tiếp cận thông qua mạng lưới xã hội ở cả hai khía cạnh của mạng lưới xã hội là cấu trúc mạng lưới và chất lượng mạng lưới Ở khía cạnh cấu trúc mạng lưới, nghiên cứu xem xét tác động của ba dạng mối quan hệ xã hội đến khả năng tìm việc làm đó là: mạng lưới gắn bó, mạng lưới bắc cầu, mạng lưới kết nối Ở khía cạnh chất lượng mạng lưới xã hội, nghiên cứu xem xét hai yếu đố đánh giá chất lượng thể hiện qua mức độ tin tưởng của cá nhân vào các mối quan hệ gắn bó (lòng tin cụ thể), vào mọi người trong xã hội (lòng tin tổng quát)

Ngoài ra, nghiên cứu cũng xem xét ảnh hưởng của một số đặc điểm cá nhân như dân tộc, giới tính, xếp loại tốt nghiệp đến khả năng tìm việc của sinh viên

Đối với những sinh viên tìm được làm thông qua VXH, nghiên cứu tiếp tục đánh giá một số đặc điểm công việc tìm được như thu nhập, thời gian tìm được việc làm, môi trường làm việc (loại hình doanh nghiệp đang công tác), mức độ phù hợp với chuyên môn đào tạo

Trang 31

Hình 1: Mô hình nghiên cứu 1

(Nguồn: tác giả đề nghị dựa trên lược khảo tài liệu)

Giả thuyết về quan hệ giữa các thành phần của vốn xã hội đối với khả năng tìm việc làm của sinh viên tốt nghiệp:

H1: Thành phần mạng lưới gắn bó và khả năng tìm việc làm của sinh viên tốt nghiệp có quan hệ cùng chiều, nghĩa là sinh viên thường xuyên liên lạc, duy trì, chia sẻ với mọi người trong gia đình, họ hàng thì khả năng tìm được việc làm thông qua VXH càng lớn và ngược lại

H2: Thành phần mạng lưới bắc cầu và khả năng tìm việc làm của sinh viên tốt nghiệp có quan hệ cùng chiều, nghĩa là việc tạo lập và duy trì các mối quan hệ của sinh viên với bạn bè, thầy cô càng cao thì khả năng tìm được việc làm thông qua VXH càng lớn và ngược lại

H3: Thành phần mạng lưới kết nối và khả năng tìm việc làm của sinh viên tốt nghiệp có quan hệ cùng chiều, nghĩa là sự tham gia, liên kết của sinh viên với các tổ chức xã hội càng cao thì khả năng tìm được việc làm thông qua VXH càng lớn và ngược lại

H4: Thành phần lòng tin cụ thể và khả năng tìm việc làm của sinh viên tốt nghiệp có quan hệ cùng chiều, nghĩa là sinh viên tin tưởng, đánh giá chất lượng của các mối quan hệ gắn bó càng cao thì khả năng tìm được việc làm thông qua VXH càng lớn và ngược lại

H5: Thành phần lòng tin tổng quát và khả năng tìm việc làm của sinh viên tốt nghiệp có quan hệ cùng chiều, nghĩa là sinh viên tin tưởng, đánh giá

Trang 32

chất lượng của mối quan hệ cá nhân với mọi người trong xã hội càng cao thì khả năng tìm được việc làm thông qua VXH càng lớn và ngược lại

Hình 2: Mô hình nghiên cứu 2

(Nguồn: tác giả đề nghị dựa trên lược khảo tài liệu)

Trang 33

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Quy trình nghiên cứu

Hình 3: Quy trình nghiên cứu 3.2.2 Mẫu nghiên cứu

3.2.2.1 Số liệu thứ cấp

Đề tài thu thập dữ liệu thứ cấp về số lượng sinh viên tốt nghiệp mỗi năm theo ngành học, xếp loại học tập từ Khoa kinh tế-QTKD, các đơn vị có liên quan thuộc Trường ĐHAG Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng các thông tin có liên quan về việc làm, VXH được thu thập từ các tạp chí chuyên ngành trong

Nghiên cứu sơ bộ

- Thảo luận tay đôi

- Phỏng vấn thử

Điều chỉnh mô hình và thang đo

- Kiểm tra hệ số Cronbach Alpha

- Loại các biến có hệ số tương quan biến tổng nhỏ

- Loại các biến có trọng số EFA nhỏ

- Kiểm tra yếu tố trích được

- Kiểm tra phương sai trích được

Điều chỉnh mô hình

Kiểm định mô hình nghiên cứu - Hồi quy Binary Logistic - Đề xuất kiến nghị

Trang 34

13, những người mới tham gia vào thị trường lao động trong vòng 1 đến 2 năm sau khi rời trường đại học, hầu hết mới có công việc đầu tiên của mình Điều này nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc đánh giá các đặc điểm của việc làm có được thông qua VXH

Theo khuyến cáo của Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008)

cỡ mẫu đối với phân tích nhân tố phải bằng ít nhất 4 - 5 lần số tiêu chí đưa vào

mô hình, số tiêu chí phân tích nhân tố của nghiên cứu là 23 thì cỡ mẫu tối thiểu là 92 quan sát Tuy nhiên, nhằm tăng tính đại diện cho mẫu, nghiên cứu

sử dụng cỡ mẫu 304 Đề tài chọn mẫu theo phương pháp phi xác suất – phương pháp phát triển mầm: chọn ngẫu nhiên một số sinh viên thông qua mối quan hệ sẵn có, từ đó khai thác thêm thông tin về các sinh viên khác cho mẫu (Nguyễn Đình Thọ, 2011)

Bảng câu hỏi sẽ được gửi cho sinh viên bằng một trong ba cách: Phỏng vấn trực tiếp, thông qua hộp thư điện tử và mạng xã hội (facebook, zalo), trường hợp cần kiểm tra số liệu sẽ trao đổi bằng điện thoại Do đặc điểm phân tán về địa bàn làm việc và nơi cư trú của sinh viên sau khi tốt nghiệp, nên đề tài không giới hạn không gian nghiên cứu Thông qua phương pháp chọn mẫu phát triển mầm, đề tài khảo sát sinh viên làm việc ở An Giang và các tỉnh thành khác

3.2.3 Phương pháp xây dựng và đánh giá sơ bộ thang đo VXH

Đo lường VXH một cách thực nghiệm là việc không dễ dàng vì có nhiều quan điểm khác nhau về VXH nên cách thức đo lường VXH cũng khác nhau

Để có được đánh giá đúng về mức độ đóng góp của VXH, bằng cách sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, một số nghiên cứu đã đưa ra những thang đo hoặc biến đại diện hữu ích để đo lường VXH khác nhau tùy từng mức độ đo VXH của vấn đề nghiên cứu vi mô, trung mô hay vĩ mô (Woolcock & Narayan, 2000) Tuy nhiên vẫn không tránh khỏi xảy

ra tranh luận về những kết quả nghiên cứu về loại vốn này

Phương thức đo lường cơ bản nhất được Putnam (1993) giới thiệu trong phân tích sự khác biệt về năng lực tổ chức (và sự ảnh hưởng tới phát triển kinh tế) giữa miền bắc và miền nam Italia Ở quy mô rộng, tác giả thấy rằng sự

Trang 35

khác biệt có thể được giải thích bởi sự khác nhau giữa số lượng thành viên của các tổ chức tình nguyện Phương thức đo cơ bản và dễ tiếp cận này đã trở thành một phần trong yếu tố giải thích cũng như điểm khởi đầu cho rất nhiều phân tích VXH Krishna & Shrader (1999) xây dựng bảng câu hỏi bao trùm toàn bộ các phương diện của VXH Các bản điều tra nghiên cứu được chia thành 4 mục: cấp độ cá nhân/hộ gia đình, cấp độ hàng xóm/cộng đồng, cấp độ khu vực và cấp độ quốc gia Krishna & Uphoff (1999) xây dựng chỉ số VXH

từ 6 biến (thông qua phỏng vấn câu hỏi) với 3 biến cấu trúc và 3 biến nhận thức Grootaert (1999) coi VXH như một yếu tố sản xuất của hộ gia đình, nghiên cứu 6 biến của VXH (biểu hiện qua “các hiệp hội địa phương”) gồm: mật độ của các hiệp hội, tính không đồng nhất nội tại, tần suất tham gia họp, hiệu quả tham gia của các thành viên đối với việc ra quyết định, trả hội phí và mức độ hướng tới xã hội của hiệp hội Trong lĩnh vực nghiên cứu về thị trường lao động, Brook (2005) xây dựng bộ tiêu chuẩn và tiêu chí đo lường VXH gồm 5 tiêu chuẩn và 22 tiêu chí nhằm khái quát VXH thông qua cấu trúc mạng lưới xã hội và chất lượng mạng lưới xã hội Ba hình thức cấu trúc mạng lưới xã hội gồm mạng lưới gắn bó, mạng lưới bắc cầu và mạng lưới kết nối Nguyễn Lê Hoàng Thụy Tố Quyên (2015) khi đo lường chỉ số VXH của lao động di cư đến Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã sử dụng bảng câu hỏi khảo sát gồm 6 thang đo, 18 biến quan sát dựa trên nền tảng các nghiên cứu trước kết hợp với thảo luận nhóm để khám phá cấu trúc mạng lưới

Nhìn chung, khi đo lường VXH các nghiên cứu trước đây bên cạnh việc

sử dụng biến đại diện, một số nghiên cứu đã sử dụng công cụ là bảng câu hỏi khảo sát (Coleman, 1988; Putnam, 1993; Krishna & Shrader, 1999; Brook, 2005) Tùy thuộc vào lĩnh vực và đối tượng nghiên cứu, mỗi nghiên cứu định nghĩa về VXH như là khái niệm làm việc trong một lĩnh vực cụ thể, phù hợp với mục đích của nghiên cứu đang được tiến hành để đo lường VXH Nhưng

đa phần các chỉ tiêu đo lường được sử dụng thể hiện hai yếu tố cơ bản của khái niệm VXH: đặc điểm cấu trúc mạng lưới xã hội và chất lượng mạng lưới

bó, mạng lưới bắc cầu, mạng lưới kết nối Chất lượng mạng lưới thể hiện ở lòng tin cụ thể và lòng tin tổng quát Căn cứ vào đó để thiết kế dàn bài thảo luận tay đôi phục vụ cho nghiên cứu sơ bộ (Phụ lục 2) Các thông tin thu thập

Trang 36

từ thảo luận tay đôi giúp định hình cấu trúc mạng lưới xã hội của sinh viên, kết hợp với khái niệm trong cấu trúc được mô tả với các đặc trưng biểu hiện chất lượng của mối quan hệ để hình thành thang đo VXH của sinh viên

Sau khi tiến hành thảo luận tay đôi và phỏng vấn thử với một số sinh viên đang làm việc tại TP.Long Xuyên, An Giang, đề tài xây dựng khung đo lường VXH của sinh viên như sau:

Bảng 1: Khung đo lường VXH Thành phần VXH và câu hỏi đo lường Nguồn tham

khảo

Mạng

lưới gắn

Đánh giá mức độ thường xuyên liên lạc với người

thân trong gia đình, họ hàng

Hanifan (1916), Brook (2005), Wang và cs (2013)

Đánh giá mức độ tâm sự với người thân trong gia

đình, họ hàng

Giúp đỡ người thân trong gia đình, họ hàng

Nhận giúp đỡ từ người thân trong gia đình, họ hàng

Giúp đỡ thầy cô, bạn bè

Nhận giúp đỡ từ thầy cô, bạn bè

Giúp đỡ các tổ chức tôn giáo

Nhận giúp đỡ từ các tổ chức tôn giáo

Tham gia sinh hoạt các hội, nhóm, câu lạc bộ mang

tính văn hóa, giải trí

Lu (2007), Nguyễn Lê Hoàng Thụy Tố Quyên (2015)

Mối quan hệ cá nhân là công cụ quan trọng nhất giúp

đạt mục tiêu mong muốn

Quen biết cá nhân quan trọng hơn văn bản hợp đồng

Nếu sẵn lòng giúp đỡ mọi người thì khi gặp khó khăn

sẽ có người khác giúp đỡ

Đánh giá mức độ tin tưởng vào người không quen biết

(Nguồn: Tác giả đề xuất dựa trên lược khảo tài liệu và nghiên cứu sơ bộ)

Trang 37

Để đánh giá thang đo VXH, hai công cụ sử dụng trong nghiên cứu định lượng sơ bộ là hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA

Kiểm tra độ tin cậy của thang đo được đánh giá qua hệ số Cronbach’s Alpha Hệ số Cronbach’s Alpha (α) là hệ số tin cậy được sử dụng kiểm định thang đo lường tương quan giữa các cặp biến quan sát 0,8 α < 1,0: thang đo lường tốt; 0,7 α < 0,8: thang đo sử dụng được; α 0,6: sử dụng được đối với khái niệm nghiên cứu mới (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) Tuy nhiên, theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2008) nếu hệ số tin cậy Cronbach’s alpha >0,95 thì cũng không tốt vì các biến đo lường hầu như là một Việc kiểm định độ tin cậy thang đo có thể xác định nhờ

hệ số tương quan biến tổng (Correted Item – Total Correclation) nhằm loại bỏ các biến rác khỏi thang đo lường Theo Nunnally và Bursterin (1994), các biến

có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3 được coi là biến rác

Tiếp theo, nghiên cứu thực hiện phân tích EFA theo trình tự: Xét hệ số KMO và sig của kiểm định Bartlett, nếu hệ số KMO lớn hơn 0,5 và nhỏ hơn 1

và Sig nhỏ hơn α = 5% thì mô hình nghiên cứu được chấp nhận, các chỉ tiêu

đo lường VXH trong mô hình là phù hợp (Gerbing & Anderson, 1988) Tiếp theo, dựa vào tiêu chuẩn Eigenvalue lớn hơn 1 và biểu đồ định vị nhân tố để xác định số nhóm nhân tố được tạo thành, đồng thời sử dụng ma trận xoay nhân tố để giữ lại trong mô hình nghiên cứu các chỉ tiêu thỏa điều kiện có điểm nhân tố lớn hơn 0,5 và chỉ thuộc một nhóm nhân tố, tổng phương sai trích 50% (Gerbing & Anderson, 1988) Hệ số điểm nhân tố của từng chỉ tiêu sẽ đánh giá mức độ tác động của nó đến mỗi nhóm nhân tố

3.2.4 Phương pháp phân tích

Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng bảng phân phối tần số nhằm tóm tắt dữ liệu của các chỉ tiêu phân tích đã được sắp xếp thành từng tổ khác nhau, dựa trên những tần số xuất hiện của các đối tượng trong cơ sở dữ liệu để so sánh, đánh giá các chỉ tiêu về thực trạng việc làm và sự vận dụng VXH trong tìm kiếm việc làm của sinh viên tốt nghiệp

Phương pháp kiểm định mối liên hệ giữa hai biến định tính (Phân tích bảng chéo): Phân tích sử dụng trong nghiên cứu nhằm kiểm tra xem phương pháp tìm kiếm việc làm có mối quan hệ như thế nào đến đặc điểm việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên Khoa Kinh tế-QTKD và mối quan hệ này có ý nghĩa trong trường hợp tổng thể hay không Việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp được xem là biến phụ thuộc (bao gồm các đặc điểm công việc tìm được như phù hợp chuyên môn, thu nhập, môi trường làm việc, thời gian tìm việc),

Trang 38

phương pháp tìm kiếm việc làm được xem là biến độc lập Kiểm định Chi bình phương được sử dụng để kiểm tra mối liên hệ giữa các biến trong mẫu có phù hợp với tổng thể hay không Kiểm định này chỉ đủ mạnh khi không quá 20%

số ô trong bảng chéo có tần số lý thuyết nhỏ hơn 5 Nếu hệ số Pearson Square (Asymp.Sig) < α = 0,01 sẽ xác định có mối liên hệ giữa đặc điểm việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp và biến độc lập được chọn ở mức độ giải thích mô hình có ý nghĩa 99% Ngoài ra nghiên cứu còn sử dụng đại lượng thống kê Cramer’V để cho biết độ mạnh hay yếu và xu hướng của mối liên hệ giữa phương pháp tìm việc làm và đặc điểm việc làm tìm được

Chi-Phương pháp hồi quy Binary Logistic: Nhằm xác định nhóm nhân tố VXH nào vừa tìm được qua phân tích EFA có tác động mạnh đến khả năng tìm được việc làm của sinh viên Khoa Kinh tế - QTKD sau tốt nghiệp, nghiên cứu tiếp tục sử dụng phương pháp hồi quy Binary Logistic với biến phụ thuộc

Y là “khả năng có được việc làm”, Y nhận 2 giá trị 0 và 1, với 0 - không có việc làm và 1 - có việc làm Phương trình của mô hình Binary Logistic được diễn tả như sau, trong đó B0, B1, B2, , Bn là hệ số, các biến F1, F2, Fn là các nhóm nhân tố VXH tìm được sau khi phân tích nhân tố

[ ( )

( )] Khi phần dư ui có phân phối tích lũy là logistic, ui=0 Đại lượng Wald Chi Square được sử dụng để kiểm định ý nghĩa thống kê của hệ số B và kiểm định Chi bình phương sẽ kiểm định mức độ phù hợp tổng quát của mô hình đều với mức ý nghĩa Sig.α<0,05 Để đánh giá khả năng giải thích của mô hình, giá trị -2LL (-2log likelihood) được sử dụng với ý nghĩa -2LL càng nhỏ thì mức độ phù hợp càng cao

Ngày đăng: 08/03/2021, 16:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w