1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra hiện trạng canh tác và mức độ gây hại của bệnh chổi rồng witches broom hại nhãn tại phường tân lộc quận thốt nốt thành phố cần thơ

51 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG Đề tài nghiên cứu khoa học “Điều tra hiện trạng canh tác và mức độ gây hại của bệnh chổi rồng Witches broom hại nhãn tại phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, Thành phố C

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ MỨC ĐỘ GÂY HẠI CỦA

BỆNH CHỔI RỒNG (Witches broom) HẠI NHÃN TẠI PHƯỜNG

TÂN LỘC, QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

HUỲNH THÀNH TIẾN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ MỨC ĐỘ GÂY HẠI CỦA

BỆNH CHỔI RỒNG (Witches broom) HẠI NHÃN TẠI PHƯỜNG

TÂN LỘC, QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Trang 3

CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG

Đề tài nghiên cứu khoa học “Điều tra hiện trạng canh tác và mức độ gây hại của bệnh chổi rồng (Witches broom) hại nhãn tại phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, Thành phố Cần

Thơ”, do sinh viên Huỳnh Thành Tiến thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ths Lê Hữu

Phước Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày 27/06/2014

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để bài báo cáo được hoàn thành tốt, trong suốt thời gian nghiên cứu, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các Giáo viên hướng dẫn, của các tập thể, cá nhân, sự động viên của gia đình và bạn bè

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Ths Lê Hữu Phước – Trường Đại học An Giang đã dành cho tôi sự chỉ dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian nghiên cứu hoàn thành đề tài

Tôi xin cảm ơn anh Lê Đình Dự - Trạm bảo vệ thực vật Quận Thốt Nốt đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô của khoa Nông nghiệp tài nguyên thiên nhiên Trường Đại học An Giang đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến tất cả bạn bè, người thân và gia đình đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành nghiên cứu này

Xin chân thành cảm ơn!

An Giang, ngày 17 tháng 07 năm 2014

Người thực hiện

Huỳnh Thành Tiến

Trang 5

TÓM LƯỢC

Đề tài được thực hiện tại Phường Tân Lộc, Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ

từ tháng 01 năm 2013 đến tháng 05 năm 2013 Nội dung điều tra phỏng vấn bao gồm: (1) Thông tin chung về nông hộ, đánh giá hiện trạng canh tác kỹ thuật trồng và chăm sóc, sử dụng phân bón, hiểu biết của nông dân và biện pháp quản lý bệnh chổi rồng (2) Mực độ gây hại của bệnh: thời gian xuất hiện, mức độ gây hại, tỷ lệ tái nhiễm và thiệt hại đến năng suất

Kết quả khảo sát trên 40 phiếu (40 nông hộ) cho thấy: 1./ Tất cả các nông hộ được điều tra trồng giống nhãn tiêu da bò - giống nhiễm nặng với bệnh chổi rồng 2./

học vấn của nông dân trồng nhãn tập trung ở cấp 2 (chiếm 45%), trình độ học vấn ở cấp

1 là 35%, trong khi ở cấp 3 khá thấp (chỉ 20%) 3./ Cây nhãn được trồng khá lâu năm, tập trung là 11-15 năm (chiếm 62,5%), diện tích canh tác thường là dưới 5.000 m2 (chiếm 60%) 4./ Kỹ thuật chủ yếu là kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm trồng nhãn; 4./ Bệnh chổi rồng đã gây hại nặng ở tất cả các vườn nhãn, bên cạnh đó các chủ vườn cũng đã có những hiểu biết nhất định về bệnh chổi rồng và biện pháp phòng trừ chúng, tuy nhiên biện pháp chủ yếu vẫn là cắt bỏ chồi và phun thuốc hóa học Phần lớn nông dân nhận thức được biện pháp cắt tỉa giúp loại bỏ những cành bị nhiễm bệnh để hạn chế sự lưu tồn nguồn bệnh và lây lan cho các đợt ra cơi đọt non 4./ Phân bón được nông dân sử dụng khá đa dạng, mức độ bón 2 - 4 kg/gốc chiếm khá cao (52,5%) 5./ Bệnh nhiễm nặng thêm

ở 3 lần ra cơi 1, cơi 2 và cơi 3 Sau khi vườn bị nhiễm bệnh thì năng suất giảm rất nhiều

so với trước khi bị nhiễm bệnh, tỷ lệ giảm năng suất trung bình là 77,7%, cao nhất là 98% và thấp nhất là 36,4%

Trang 6

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

An Giang, ngày 17 tháng 07 năm 2014

Người thực hiện

Trang 7

MỤC LỤC

CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM LƯỢC iii

LỜI CAM KẾT iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1.TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1

1.3.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2

1.4.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2

1.5.NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 2

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 GIỚI THIỆU BỆNH CHỔI RỒNG 3

2.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

2.2.1 Một số nghiên cứu bệnh chổi rồng trên thế giới 3

2.2.2 Một số nghiên cứu bệnh chổi rồng ở Việt Nam 4

2.2.3 Đặc điểm của nhện lông nhung, cách gây hại và triệu gây hại 5

2.2.4 Giá trị, nguồn gốc, đặc điểm sinh học cây nhãn 8

2.2.4.1 Đặc điểm sinh học của cây nhãn 8

2.2.4.2 Yêu cầu ngoại cảnh 10

2.2.5 Đặc điểm giống nhãn tiêu da bò 11

2.2.6 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 12

2.2.6.1 Chuẩn bị đất trồng 12

Trang 8

2.2.6.2 Mùa vụ 12

2.2.6.3 Cách trồng 12

2.2.6.4 Chăm sóc 13

2.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 15

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ NGHIÊN CỨU 16

3.1 MẪU NGHIÊN CỨU 16

3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 16

3.3 CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU 17

3.4 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU 17

3.5 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 17

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18

4.1 HIỆN TRẠNG CANH TÁC CÂY NHÃN TẠI TÂN LỘC, THỐT NỐT 18

4.1.1 Đặc điểm chung của nông hộ 18

19

4.1.3 Loại và liều lượng phân bón nông dân sử dụng 4.1.4 Hiểu biết của nông dân về bệnh chổi rồng nhãn 23

4.1.5 Biện pháp quản lý chổi rồng của nông dân 25

4.2 MỨC ĐỘ GÂY HẠI CỦA BỆNH CHỔI RỒNG 27

4.2.1 Thời gian xuất hiện bệnh nặng 27

4.2.2 Số lần phun thuốc và tỷ lệ nhiễm bệnh ở các vườn nhãn 27

4.2.3 Tỷ lệ tái nhiễm sau khi cắt tỉa 29

4.2.4 Thiệt hại đến năng suất nhãn của bệnh chổi rồng 29

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 31

5.1 KẾT LUẬN 31

5.2 KHUYẾN NGHỊ 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

Phụ chương 1 33

Phụ chương 2 Năng suất của 40 các hộ phỏng vấn 39

Trang 9

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1 Lá bị biến dạng, cong và nhỏ lại 7

Hình 2 Hoa hỏng và đậu quả rất ít 8

Hình 3 Biểu đồ tỉ lệ % các nông hộ cắt tỉa 25

Hình 4 Biểu đồ phương pháp xử lý cành cắt tỉa 26

5 Biểu đồ thời gian phun thuốc trừ nhện 26

Hình 6 Bệnh chổi rồng gây thiệt hại nặng theo phỏng vấn nông hộ 27

Hình 7 Biều đồ số lần phun thuốc ở mỗi cơi đọt 28

Hình 8 Tỷ lệ % nông hộ có vườn bị nhiễm bệnh 28

9 Tỷ lệ tái nhiễm sau cắt tỉa 30

Năng suất nhãn khi chưa bệnh và sau khi 30

31

Trang 10

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1 Sơ lược về đặc điểm chung của nông hộ canh tác nhãn tại phường Tân

Lộc – Thốt Nốt – Cần Thơ 19Bảng 2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây nhãn 20

Bảng 4 Hiểu biết của nông hộ về bệnh chổi rồng 23

Trang 12

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cây nhãn từ lâu được xem là cây dễ trồng và ít sâu bệnh Tuy nhiên, từ năm

2007 trở lại đây trên cây nhãn tiêu da bò, tiêu lá bầu đã xuất hiện một loại bệnh rất đặc biệt, cây nhiễm bệnh thì đọt non và chùm bông bị biến dạng xoăn tít lại giống như bó chổi nên các nhà khoa học và nông dân đặt tên cho nó là bệnh chổ rồng (Witches broom) Hiện nay, ở miền Đông và Tây Nam Bộ có diện tích trồng nhãn hàng chục ngàn hecta, nhiều địa phương tỉ lệ nhãn bị nhiễm chổi rồng hơn 80%, gây giảm năng suất trái đến 90% Các tỉnh có diện tích nhãn bị bệnh chổi rồng nặng là Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Hậu Giang và Cần Thơ (Lê Đình Dự, 2012)

Theo các nhà khoa học, bệnh chổi rồng do nhện lông nhung chích hút và truyền

vi khuẩn thuộc nhóm Gamma Proteobacteria vào trong lá non và bông mới nở, sau đó

vi sinh vật này sinh sôi nẩy nở tiết ra một độc chất làm biến dạng lá non và bông Đến nay, các nghiên cứu về bệnh này cũng chưa được chuyên sâu và biện pháp quản lý cũng chưa được bà con nông dân quan tâm đầy đủ

Toàn thành phố Cần Thơ đã trồng được 1.375 ha nhãn Tính đến ngày 01/3/2012 toàn thành phố đã có 1.246,9 ha nhãn bị nhiễm hiện tượng chổi rồng (trong

đó có quận Thốt Nốt), tỷ lệ chồi bị hại từ 10-20% cành, cao 70-100% (Lê Đình Dự, 2012)

Trước tình hình dịch bệnh ngày càng trở nên nghiệm trọng ảnh hưởng đến năng suất, thu nhập và đời sống của người nông dân trồng nhãn, việc điều tra lại tình hình canh tác và mức độ gây hại của bệnh chổi rồng trên nhãn để có hướng quản lý bệnh này trên địa bàn Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ là rất cấp thiết

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

kỹ thuật canh tác

Phố Cần Thơ

Đánh giá mức độ gây hại của nhện gây bệnh chổi rồng hại nhãn thông qua phiếu phỏng vấn nông dân trồng nhãn

Trang 13

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Bệnh chổi rồng trên các giống nhãn tại phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt,Tp Cần Thơ

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Tìm hiểu mức độ hại của bệnh chổi rồng thể hiện qua triệu chứng theo thời gian

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Những thông tin hiện trạng canh tác và mức độ gây hại của bệnh chổi rồng hại nhãn tại phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, Cần Thơ năm 2013

Trang 14

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 GIỚI THIỆU BỆNH CHỔI RỒNG

Chổi rồng có tên tiếng Anh là “witches broom”, có nghĩa đen là cái chổi của phù thủy hay cái chổi ma Ở nước ta, chổi rồng còn được gọi với các tên khác nhau như

tổ rồng, hoa tre, chổi xể, chổi ma ở miền Bắc hay đọt chổi, xù ngọn, tổ chim ở phía Nam Tên gọi chổi rồng hiện nay có vẻ không phù hợp cho lắm vì rồng theo quan niệm phương Đông tượng trưng cho cao sang, quý phái, thịnh vượng Mô tả đầu tiên về chổi rồng có thể bởi Qui ở Trung Quốc Mãi hơn thập niên sau mới có những kết quả nghiên cứu được công bố Cho đến năm 2012 hơn 70 năm kể từ khi triệu chứng chổi rồng đầu tiên được mô tả, đã có nhiều nổ lực trong nghiên cứu về tác nhân, đặc điểm phát sinh phát triển và biện pháp phòng trừ được tiến hành ở nhiều nước khác nhau Trong khoảng thời gian đó, đến nay chổi rồng đã trở thành một dịch hại nguy hiểm và là rào cản chính đối với canh tác nhãn ở nhiều nước sản xuất nhãn chủ yếu trên thế giới (Mai Văn Trị, 2005)

2.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.2.1 Một số nghiên cứu bệnh chổi rồng trên thế giới

Theo tổng quan nghiên cứu Lê Đình Dự (2012):

Hiện tượng chổi rồng được xác định là có liên quan đến nhện lông nhung

(Eriophyes dimocarpi), khi cây bị hiện tượng chổi rồng, chồi lá và chồi hoa sẽ không

tiếp tục phát triển mà biến dạng, co cụm thoái hoá chức năng và khô chết dần Sử dụng các loại thuốc trừ nhện giúp giảm quần thể nhện và cải thiện khả năng đậu

Việc xén tỉa cành theo đúng phương pháp cũng giảm mật số nhện trên chồi non

Có 6 biện pháp tổng hợp để quản lý tốt dịch hại này: tuyển chọn và sử dụng giống kháng, quản lý cây giống sạch bệnh, thường xuyên quản lý côn trùng truyền bệnh, cắt tỉa cành, chùm hoa bị bệnh đem tiêu hủy, khống chế phân bón, tưới nước và quản lý đất giúp cây sinh trưởng tốt

Bệnh chổi rồng còn được gọi là bệnh đọt chổi, tổ rồng, cùi nhãn, hoa tre, chổi

xể, chổi ma, Nhiều tác giả cho rằng bệnh là do virus gây ra Virus dạng sợi dài, được

lan truyền bởi bọ Tessaratoma papillosa Những phân tử virus cũng được tìm thấy

trong tuyến nước bọt của côn trùng truyền bệnh

Trang 15

Bệnh không do bọ đục cành gây ra và họ cũng chứng minh rằng khả năng do virus gây ra bệnh là rất thấp bởi vì đối với cây bệnh sau khi cắt tỉa cành bệnh và phun thuốc trừ nhện thì không thấy bệnh phát triển trở lại

Ở Thái Lan tìm thấy Phytoplasma trên những cây con bị bệnh Tuy nhiên sau đó bằng phương pháp PCR, không tìm thấy sự hiện diện của Phytoplasma trên nhãn bị bệnh, mà gợi ý sự hiện diện của Prokaryote

Một báo cáo khác của Trung Quốc lại cho rằng bệnh chổi rồng do nhện

Eriophyes dimocarpi Kuang gây ra

Côn trùng môi giới là thành trùng và ấu trùng bọ xít (Tessaratoma papillosa),

chúng có thể nhịn đói 12 ngày, thành trùng sống đến 311 ngày

Theo kết quả nghiên cứu tại Úc báo cáo rằng nhện lông nhung được tìm thấy trên cơ thể của một số loài ong thụ phấn

Việc sử dụng các loại thuốc trừ nhện giúp giảm quần thể nhện và cải thiện khả năng đậu quả

Việc xén tỉa cành theo đúng phương pháp cũng làm giảm mật độ nhện trên chồi non

Các nhà khoa học Trung Quốc lại cho rằng do virus và nhện Eriophyes dimocarpi là tác nhân gây bệnh chổi rồng

Việc sử dụng các loại thuốc cacbamate, cúc tổng hợp và thuốc hóa học có nhóm lưu huỳnh để trừ nhện có hiệu quả

2.2.2 Một số nghiên cứu bệnh chổi rồng ở Việt Nam

Bệnh xảy ra trên phần non của chồi lá và chồi hoa Chồi khi bị bệnh sẽ không tiếp tục phát triển mà biến dạng, co cụm, thoái hóa chức năng và khô chết dần Các phân đoạn trên cành, lá, phát hoa đều ngắn và nhỏ lại Chồi hoa nhiễm bệnh có tỷ lệ đậu quả thấp hoặc không cho quả Bệnh có thể xảy ra ở bất cứ vị trí nào trên tán nơi có

các chồi mới (Mai Văn Trị và ctv., 2005)

Sau côn trùng thì nhện cũng là nhóm động vật gây hại rất phổ biến trên cây trồng Nhện thuộc lớp động vật khác với lớp côn trùng, gọi là lớp nhện (Arachnida), cùng thuộc ngành chân đốt với côn trùng Lớp nhện cũng chia thành nhiều bộ, các loài nhện hại cây thuộc bộ ve bét còn gọi là bộ nhện nhỏ (Acarina) Ve bét là bộ gồm nhiều loài nhất trong lớp nhện, ước tính có tới vài trăm ngàn loài, hiện mới xác định khoảng 30.000 loài, phân bố rộng rải ở các vùng sinh thái trên trái đất Trong bộ ve bét có nhiều loài hại động vật (như ve bò, ve chó) và hàng trăm loài hại cây trồng, ngoài ra

Trang 16

cũng có một số ít là thiên địch của nhện và côn trùng hại cây (Nguyễn Mạnh Chinh, Mai Văn Quyền và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2005)

Nhện lông nhung có thể là vector truyền bệnh chổi rồng trên nhãn và triệu

chứng chổi rồng lộ ra sau 20 ngày lây nhiễm (Nguyễn Thị Kim Thoa và ctv., 2007)

Nhện lông nhung không phải là tác nhân trực tiếp gây nên hiện tượng chổi rồng trên cây nhãn tiêu da bò, mà có thể chỉ là vector truyền bệnh (Nguyễn Huy Cường và

ctv., 2007)

Theo kết quả nghiên cứu của Viện cây ăn quả Miền Nam tác nhân gây bệnh là

do vi khuẩn thuộc nhóm Gamma Proteobacteria Vi khuẩn này không thể nuôi cấy trên

môi trường nhân tạo Trung gian truyền bệnh là nhện lông nhung (Eriophyes dimocarpi

Kuang)

Việc tiêu hủy các bộ phận nhiễm bệnh chổi rồng sau khi cắt tỉa là quan trọng vì

có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ cây nhiễm bệnh chổi rồng (Nguyễn Văn Hoà và ctv.,

2007)

2.2.3 Đặc điểm của nhện lông nhung, cách gây hại và triệu gây hại

* Đặc điểm hình thái: nhện lông nhung có khích thước rất nhỏ, không thể quan

sát được bằng mắt thường Trứng của chúng trông như một chấm rất nhỏ, có đường kính 0,032 mm Trứng đẻ rải rác từng quả một trên mặt lá Nhện non nhỏ di chuyển rất chậm Nhện trưởng thành cũng có hình dạng như một chấm nhỏ màu trắng hồng Khi quan sát trên kính có độ phóng đại hơn 20 lần thì nhện lông nhung có dạng hình trụ dài 0,13 – 0,17 mm, rộng 0,035 – 0,04 mm Thân nhện lông nhung hình ống, thu nhỏ và thon dần về phía đuôi, phần ngực có 2 đôi chân và có 70 – 72 đốt bụng Cả giai đoạn nhện non và nhện trưởng thành tuy chỉ có 4 đôi chân phát triển nhưng di chuyển dễ

dàng (Nguyễn Thị Kim Thoa và ctv., 2007)

Nhện non thường ăn mặt dưới còn trưởng thành thường ăn phía mặt trên Khi ăn nhện chúc đầu xuống, cắm vòi vào mô để chích còn phần thân dựng vuông góc với giá thể nơi bị hút dịch Vào buổi sáng sớm và chiều tối, nhiệt độ xuống thấp, vì vậy nhện không hoạt động Nhện chích hút nhựa mạnh vào lúc trời bắt đầu nắng ấm Sau khoảng

1 tuần tại vị trí nơi nhện hút dịch xuất hiện các đốm vàng xanh Trên các đốm này mọc lên các lông nhung có màu xanh non Sau khoảng 2 tuần các đốm lan rộng, lông nhung mọc nhiều biến thành màu vàng nhạt Sang tuần thứ 3 vết này biến thành màu nâu Sau khoảng từ 1 tháng trở ra lông nhung chuyển sang màu nâu đỏ Mật độ nhện lông nhung lúc này cao nhất Trên 100 ngày các vết lá biến thành màu nâu đen, kiểm tra nhện lúc này hầu như không còn thấy chúng Nhện lông nhung phát tán nhờ gió, côn trùng và

Trang 17

máy móc Sự phát triển của chúng liên quan chặt chẽ với điều kiện khí hậu, thời tiết, thiên địch, (Nguyễn Xuân Thành, 2010)

Nhện lông nhung gây hại quanh năm nhưng nặng hơn vào vụ xuân hè Cây kém phát triển, ít hoa, ít quả, mẫu mã xấu, năng suất thấp (Trương Quốc Tùng và Lê Văn Thuyết, 2005)

Nhện nhỏ hình củ cà rốt màu trắng ngà, chiều dài 0,12 – 0,17 mm, phía cuối cơ thể thon dần Phía trước cơ thể có 2 đôi chân, vuốt chân lông 5 hàng Mặt trên lưng có

70 – 72 ngấn cắt ngang (Nguyễn Văn Đĩnh, 2005)

Nhện phát triển và gây hại mạnh nhất trong những tháng mùa nắng (tháng 4 – 5 dương lịch và tháng 11 – 12 dương lịch) Chúng chích hút mô cây, gây hại và truyền bệnh trên các chồi mới hình thành Trong quá trình chích hút dịch cây, nhện tiết ra các chất kích thích sinh trưởng tạo ra sự biến dạng trên các mô non như hình thành triệu chứng ”chổi”, ”lông nhung” (tạo ra lông tơ dài và nhiều như nhung), tạo thành nơi trú

ẩn thích hợp trên cây Nhện cũng sống được trên các lá bánh tẻ và trưởng thành, đợi đến khi có đợt đọt non mới, tiếp tục sinh sôi và gây hại Trên vườn, nhện lông nhung còn sống được trên một số cây ký chủ khác như: cây bồ ngót, cây bóng nẻ (cơm nguội)

và trên cây chôm chôm (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2011)

Thời gian phát dục của trứng từ 3 – 7 ngày Ấu trùng có 2 tuổi: tuổi 1 từ 1 – 2

ngày, tuổi 2 từ 4 – 6 ngày Vòng đời nhện lông nhung (Eriophyes dimocarpi Kuang) vào khoảng 8 – 15 ngày (Trần Thị Mỹ Hạnh và ctv., 2011)

* Cách gây hại: nhện lông nhung dùng chiếc kìm nhỏ bé chích hút vào mô của

lá nhãn, búp nhãn, vỏ cành nhãn…đi theo nước bọt là những độc chất gây có thể là nguyên nhân gây ra bệnh chổi rồng hoặc có thể trong nước bọt đó có chứa những tác nhân khác gây bệnh

* Vị trí và triệu chứng gây hại: nhện lông nhung gây hại trên các bộ phận lá

non, búp, lá bánh tẻ, lá già Triệu chứng gây hại điển hình là lá biến dạng, cong và nhỏ lại, phát triển nhanh nhưng bị biến dạng, hình thành 1 bó như cây chổi (Hình 1)

Năm 2011, tại nhiều vùng trồng nhãn chuyên canh ở Đồng bằng sông Cửu Long, thiệt hại về sản lượng lên tới 30%, có nhiều vườn 60-70% hoặc mất trắng Ở miền Bắc, bệnh này đã lan đến vùng nhãn lồng nổi tiếng ở Hưng Yên, tỷ lệ hại vào khoảng 1-5%, cá biệt có vườn tới 10% Bộ phận bị hại nặng là lá non, búp hoa và hoa

(Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2011)

Triệu chứng điển hình là mặt dưới lá, trên quả có 1 lớp lông nhung màu vàng nâu đến nâu thẫm, lá nhăn nheo và dầy Khi bị hại nặng cây không phát triển được, nụ

Trang 18

và quả bị rụng Ban đầu, khi mới bị hại vết hại có màu xanh hơn bình thường, đồng thời xuất hiện các lông dài và mảnh có màu trắng bạc, sau đó 3 - 4 ngày lớp lông này

Hình 1 Lá bị biến dạng, cong và nhỏ lại

chuyển sang màu nâu nhạt rồi nâu đậm Lúc này lá bị nhăn nhúm Khi lá già hoặc lớp lông nhung chuyển sang màu nâu thẫm nhện chuyển sang các lá non khác để sinh sống Vết hại trên quả cũng tương tự như trên lá Nhưng khi bị hại nặng quả không lớn được

và rụng sớm Trên cây bị nặng, cây có thể không có quả hoặc rất ít quả, lộc hè, thu rất ít

và ngắn Bệnh lông nhung trên vải được ghi nhận đầu tiên ở vùng Hà Nội vào năm

1994 (Nguyễn Văn Đĩnh, 2004)

Theo mô tả của khi lá mới bị nhện lông nhung tấn công, triệu chứng đầu tiên là vết hại có màu xanh hơn bình thường, các lá cong diện tích lá nhỏ hơn trước và teo tóp Sau khoảng 1 ngày tại vị trí nơi nhện hút dịch xuất hiện các đốm vàng xanh Trên các đốm này mọc lên các lông nhung có màu xanh non Sau khoảng 2 ngày các đốm lan rộng, lông nhung mọc nhiều biến thành màu vàng nhạt Sang ngày thứ 3 vết hại chuyển sang màu vàng nâu Sau khoảng 6 ngày thì vết hại chuyển dần sang màu nâu, các lá phía dưới bắt đầu khô, lá bị hại co lại, diện tích lá nhỏ hơn trước Khi vết hại chuyển sang màu nâu thẫm là lúc vết hại được 9 - 11 ngày Sau 4 - 5 tuần thì vết hại khô hoàn toàn, hoa bắt đầu lụi dần Mật độ nhện lúc này giảm xuống rất thấp do lá không còn dinh dưỡng để duy trì sự sống cho quần thể nhện được nữa và buộc nhện phải di cư sang vùng mới phá hại tiếp để hoàn thành vòng đời của nó Nếu trên cây không còn đợt lộc nào nữa thì nhện sẽ không phát tán mà tiếp sống trong ở ổ lông nhung của nó Tại

Trang 19

thời điểm đó nhện sống len lỏi giữa đám lông nhung và kích thước cơ thể co ngắn lại (Lê Đình Dự, 2012)

Ngoài gây hại trên lá ra, nhện lông nhung Eriophyes dimocarpi còn gây hại trên

cả hoa và quả làm cho các phân đoạn trên hoa đều ngắn và nhỏ lại Chồi hoa nhiễm bệnh có tỉ lệ đậu quả thấp hoặc không cho quả

Triệu chứng bệnh trong 1 chùm hoa được biểu hiện ở một số dạng: toàn bộ chùm hoa thành chổi rồng (hình 2), một phần chùm hoa thành chổi rồng, còn lại một số nhánh hoa vẫn phát triển bình thường và kết trái

Chồi hoa nhiễm bệnh có tỷ lệ đậu quả thấp hoặc không cho quả Hoa bị nhiễm bệnh sẽ xù ra và không thể kết quả (Hình 2)

Hình 2 Hoa hỏng và đậu quả rất ít

2.2.4 Giá trị, nguồn gốc, đặc điểm sinh học cây nhãn

2.2.4.1 Đặc điểm sinh học của cây nhãn

Các bộ phận của cây gồm có: rễ, thân cành, lá, hoa, trái và hạt Để giúp cây phát triển tốt, mau cho trái, đạt năng suất cao cần phải nắm được các đặc tính sinh vật học của cây để có biện pháp kỹ thuật thích hợp (Nguyễn Thanh Triều, 2002)

Rễ:

Cây trồng bằng hột thì có rễ cái và rễ phụ, cây trồng bằng nhánh chiết thì chỉ có

rễ phụ Rễ phụ mới (rễ hút) có màu trắng có đường kính nhỏ 0,15-0,2 mm, giòn rất dễ gãy, rễ hút sẽ phân nhánh trong quá trình thành thục, rễ nhánh có đường kình nhỏ hơn (khoảng 0,05mm) Sau khi hình thành một tháng thì các bó gỗ ở lõi phìn to dần và gỗ hoá, chuyển từ màu trắng sang nâu hồng, các mô mềm bên ngoài nứt vỡ dần và mất đi,

Trang 20

rễ có màu nâu đỏ, vỏ ngoài lúc này không còn mô mềm mà có những chấm nhỏ lồi lên, những điểm lồi này có thể mọc ra những rễ mới (Nguyễn Thanh Triều, 2002)

Thân cành:

Nhãn là cây có thân gỗ, khi trưởng thành cây có thể cao 5-10 m, cá biệt cây trồng bằng hạt có thể cao đến 20 m, vỏ thân sần sùi, gỗ dòn, cành dễ gãy, khi trồng bằng hạt thì thân sẽ mọc thẳng, ít phân cành gần mặt đất

Trên cây nhãn chồi ngọn và chồi bên đều có thể phát triển thành cành Việc hình thành thân cành của nhãn do sự kéo dài của mầm ở đỉnh ngọn Sự ra đọt trên cùng một cành cách biệt nhau rõ ràng (còn gọi là cơi đọt) và tuỳ thuộc vào điều kiện nước, phân bón và thời tiết Cành càng thành thục thì lớp vỏ càng cứng, thô, màu nâu sậm và có các đường vân nứt (Trần Thế Tục, 1999)

Lá:

Lá nhãn thuộc loại lá kép lông chim, lá đơn mọc đối sứng hay so le, có cuống,

có từ 4-9 cặp lá chét, xếp hơi đối diện trên trục của lá Số lượng các cặp lá chét thay đổi tùy giống trồng Lá chét hình elip, màu xanh sậm, bóng láng ở mặt trên, xanh nhạt ở mặt dưới, rộng khoảng 3-5 cm, có thể dài đến 20 cm, gân lá nổi rõ Những chùm lá non mới mọc có màu đỏ nhạt Hình dạng lá trưởng thành thay đổi khác nhau tuỳ theo giống (Nguyễn Thanh Triều, 2002)

Hoa nhãn:

Theo Nguyễn Thanh Triều (2002) thì phát hoa mọc ở đầu ngọn cành dài từ 8 –

40 cm, trên phát hoa có rất nhiều hoa tuỳ thuộc vào độ lớn của cây và mùa vụ trong năm, có thể có từ vài trăm đến 2.000 – 3.000 hoa Hoa nhỏ, màu trắng vàng, có 5 lá đài,

Trang 21

Trên một cây thời gian nở hoa kéo dài, thời gian nở hoa trên một phát hoa khoảng 15 – 30 ngày, và một hoa từ 1 – 3 ngày Có sự phát triển gối nhau của các loại hoa trên một cây vì không phải tất cả gié hoa đều phát triển cùng một lúc Trên một phát hoa thông thường hoa đực nở trước rồi đến hoa cái và hoa lưỡng tính, kết thúc là hoa đực Sự nở hoa của hoa nhãn chịu sự ảnh hưởng của nhiệt độ: nhiệt độ càng cao thì thời gian nở hoa ngắn và tập trung, ngược lại gặp nhiệt độ thấp thời gian nở hoa kéo dài Nếu cây nở hoa khi thời tiết lạnh, trời âm u, nhiều mây, thiếu ánh sáng thì không những ảnh hưởng đến sự nở hoa mà còn làm rụng hoa, rụng trái non Hoa thụ phấn nhờ côn trùng (kiến, ruồi, ong) hiệu quả nhất là trong thời gian từ 8 giờ sáng đến 14 giờ chiều (Vũ Công Hậu, 1999)

Trái có thời gian phát triển từ lúc thụ phấn thụ tinh cho đến lúc chín kéo dài khoảng 3-5 tháng tùy theo giống và điều kiện khí hậu

Hạt nhãn:

Hột tròn, màu nâu sậm, đen, kích thước hột thay đổi tùy giống Ở giống Long nhãn, một đầu hột nơi tiếp giáp với cuống nứt ra có màu trắng, các giống khác thì không có đặc điểm này (Vũ Công Hậu, 1999)

2.2.4.2 Yêu cầu ngoại cảnh

Nhãn được xếp vào nhóm cây á nhiệt đới, các giống nhãn hàng hóa thường được trồng chủ yếu trong vĩ độ từ 15 – 28o

Bắc và Nam của xích đạo Cây phát triển tốt nhất trong những vùng có nhiệt độ bình quân từ 20oC trở lên, cây cần có một thời gian nhiệt độ thấp từ 8 – 14oC mới thuận lợi cho việc phân hoá mầm hoa Khi hoa nở cần có nhiệt độ cao 20 – 2 7oC, nếu gặp nhiệt độ thấp sẽ bất lợi cho thụ phấn thụ tinh dẫn đến năng suất thấp Mùa thu hoạch có nhiệt độ cao phẩm chất trái sẽ tốt (Trần Văn Hâu, 2005)

Trang 22

Nhãn cần nhiều ánh sáng, nếu ánh sáng chiếu đựơc vào bên trong tán cây phát triển tốt và cho năng suất trái cao Ánh sáng còn giúp trái đậu tốt, vỏ bóng láng và hương vị ngọt (Nguyễn Thanh Triều, 2002)

Lượng mưa hằng năm thích hợp cho sự phát triển khoảng 1.300 – 1.600 mm Đối với cây nhãn khi bị ngập úng 3 – 5 ngày cây vẫn chịu được nhưng nếu kéo dài, bộ

rễ sẽ bị thối cây yếu dần rồi chết (Nguyễn Thanh Triều, 2002)

Nhãn là cây thích ẩm và sợ ngập úng lâu Hàm lượng nước trong đất từ 15 – 20% rất thích hợp cho bộ rễ phát triển vào mùa mưa nếu cây bị ngập nước hoặc mực nước ngầm cao thì sau 48 giờ rễ sẽ bị chết, ngược lại gặp khô hạn kéo dài làm cho cây sinh trưởng chậm ra hoa và đậu quả khó khăn (Trần Thế Tục, 1999)

Nhãn không kén đất, nên có thể trồng trên nhiều loại đất: đất phù sa, đất giồng cát ven biển, đất gò đồi ở trung du và miền núi Nhưng thích hợp hơn cả là đất phù sa màu mỡ và không bị ngập nước Nếu trồng nhãn ở đất có nhiều sét cần lưu ý trộn thêm cát vào vùng rễ và bón thêm phân hữu cơ để làm đất tơi xốp Độ pH thích hợp 4,5 – 6,5 (Nguyễn Thanh Triều, 2002)

Đất cát pha, đất thịt, đất đỏ, đất phù sa có thành phần cơ giới nhẹ thích hợp cho việc trồng nhãn hơn So với các loại đất khác Cây nhãn sinh trưởng tốt trong điều kiện đất thoát nước, tơi xốp, pH = 5,5 – 6,5 độ mặn thấp, nhỏ hơn 0,2% (Trần Thế Tục, 1999)

Cây nhãn đã lớn có thể chịu được khô hạn tốt Nên trồng trên những vùng đất đồi núi cây vẫn phát triển tốt nhưng phải chú ý giữ ẩm cho cây trong mùa khô Không nên trồng nhãn ở vùng đất thấp, bị ngập úng thường xuyên trong mùa mưa vì dễ làm rễ

bị thối và chết cây Ở những vùng có gió lớn bão, có thể làm gãy đổ cây, rụng quả nên chú ý tạo tán cây thấp, trồng cây chắn gió cho vườn nhãn (Trần Văn Hâu, 2005)

2.2.5 Đặc điểm giống nhãn tiêu da bò

Là giống được trồng nhiều nhất hiện nay, tán cây dầy Lá kép, có trung bình

10-13 lá chét, nhỏ, dài, phiến lá bóng láng, bìa lá ít gợn sóng, lá có màu xanh đậm Cành non màu da bò, láng Trái có trọng lượng trung bình 10 gam, khi chín có màu vàng da

bò Cơm khá dầy (khoảng 60% trọng lượng trái), hơi dai, ngọt vừa, ráo nước Vỏ trái hơi dầy, cứng Hột nhỏ màu nâu đen, không nứt Nhãn tiêu da bò có khả năng sinh trưởng rất mạnh, phát triển tốt trên nhiều loại đất khác nhau, có khả năng cho năng suất cao, một đặc điểm quan trọng là cây không ra hoa tự nhiên trong điều kiện của đồng bằng sông Cửu Long mà phải tiến hành xử lý mới ra hoa, do đó có thể chủ động bố trí mùa vụ trong năm (Nguyễn Thanh Triều, 2002)

Trang 23

Trồng nhiều trên đất cát ở huyện Vĩnh Châu - tỉnh Sóc Trăng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tiền Giang, Minh Hải (Trần Thế Tục, 1999)

Quả chín vỏ có màu vàng da bò hoặc vàng sáng hay hồng Cùi dầy, dai, tỉ lệ cùi 65%, ít thơm Trọng lượng quả trung bình 16g Hạt tương đối to, không nứt vỏ hạt Nhãn giống da bò tuy ăn không ngon song có ưu điểm thích nghi với đất xấu, đất có ảnh hưởng mặn (Trần Thế Tục, 1999)

2.2.6 Kỹ thuật trồng và chăm sóc

2.2.6.1 Chuẩn bị đất trồng

Cây nhãn thường được trồng mô trên đất liếp không ngập nước Mô đất rộng khoảng 0,6 – 0,8 m, cao 0,3 – 0,5 m, mô đất được bón 500 gam super lân, 10 kg phân chuồng hoai mục và tro trấu, chuẩn bị trước khi trồng khoảng 15 ngày (Trần Văn Hâu, 2005)

Trên vùng đất giồng, đất cao cũng nên trồng nhãn trên mô (thấp), để tránh cho cây không bị úng cục bộ trong những đợt mưa liên tục kéo dài, đồng thời trồng trên mô

sẽ giúp cho việc xử lý ra hoa dễ thành công hơn

Trồng cây chắn gió ở bờ bao để hạn chế cây bị đỗ ngã, gãy cành nhánh, rụng hoa trái trong mùa mưa bão

2.2.6.2 Mùa vụ

Nhãn có thể trồng được quanh năm, trong điều kiện không có nước tưới thì tốt nhất là trồng vào đầu mùa mưa (4 – 5 dl) Tuy nhiên cần lưu ý thoát nước tốt cho đất Nếu đủ nước tưới thì trồng vào cuối mùa mưa (10 – 11 dương lịch), đến mùa nắng cây

sẽ phát triển tốt hơn vì có đầy đủ ánh sáng (Nguyễn Thanh Triều, 2002)

2.2.6.3 Cách trồng

Khi trồng bới một lỗ nhỏ sâu 15 – 20cm, đặt bầu cây giống vào sao cho mặt bầu bằng với mặt hố, xé bỏ túi ni lông bọc bầu lấp đất kín bầu, lèn đất chặt (chú ý không giẫm chân lên mặt bầu) Trồng xong cắm cọc và buộc cành để chống gió Dùng rơm rạ hoặc cỏ khô tủ gốc và tưới nước cho cây Tuần đầu tiên sau trồng mỗi ngày tưới một lần đủ ẩm Sau đó trong tháng đầu tiên, 2 – 3 ngày tưới một lần Tháng thứ 2, 3 – 5 ngày tưới một lần (Trần Thế Tục, 1999)

Khoảng cách trồng có thể thay đổi tuỳ theo đất tốt hoặc xấu, đất tốt trồng thưa, đất xấu trồng dầy hơn, khoảng cách thích hợp là 6 x 6 mét Có thể trồng dầy trong giai đoạn đầu với khoảng cách 3 x 3 mét hoặc 3 x 4 mét, tiến hành để trái sớm (2 năm sau

Trang 24

khi trồng), sau đó khi cây giao tán thì tỉa thưa ra giữ lại khoảng cách 6 x 6 mét hoặc 6 x

8 mét (Nguyễn Thanh Triều, 2002)

2.2.6.4 Chăm sóc

Đắp thêm mô, bồi líp:

Trong năm thứ nhất và thứ hai sau khi trồng, hàng năm đấp thêm đất vào chân

mô Bắt đầu từ năm thứ ba trở đi thì bồi líp hàng năm, chiều cao đất bồi khoảng 2-3 cm (Nguyễn Thanh Triều, 2002)

Làm cỏ, xới đất, phủ líp:

Khi cây nhãn còn chưa khép tán cần làm sạch cỏ xung quanh gốc theo đường kính tán cây Cần trồng xen các cây họ đậu để tăng độ phì cho đất, hạn chế cỏ dại, tăng thêm thu nhâp Cũng có thể trồng xen các loại rau, cây làm thuốc hoặc các cây ăn quả ngắn ngày (Trần Thế Tục, 1999)

Làm cỏ thường xuyên khi cây còn nhỏ Khi cây bắt đầu cho trái thì mỗi năm xới đất 1 lần giúp đất líp được tơi xốp Dùng rơm rạ, cây rẫy đã thu hoạch, hoặc cỏ khô đậy líp trong mùa nắng để giữ ẩm đất và hạn chế cỏ dại phát triển (Nguyễn Thanh Triều, 2002)

Trong trường hợp trồng nhãn trên đất thịt, sét, có thể cung cấp thêm cát hàng năm vào gốc cây để giúp hệ thống rễ phát triển tốt (Trần Văn Hâu, 2005)

Tưới tiêu

Cần cung cấp nước thường xuyên trong mùa nắng khi cây còn nhỏ, nhất là trồng trên đất cát pha rất dễ bị thiếu nước Đối với cây trưởng thành thì sức chịu đựng khô hạn khá, tuy nhiên phải cung cấp đủ nước trong giai đoạn phát triển chồi, ra hoa và trái Khả năng chịu đựng ngập úng của cây nhãn kém, cần thoát nước kịp thời trong mùa mưa, tránh cho cây bị ngập trong thời gian dài (Trần Văn Hâu, 2005)

Bón phân:

Theo Nguyễn Thanh Triều (2002): Lượng phân bón thay đổi tùy tình hình sinh trưởng của cây, đất đai, trong điều kiện ĐBSCL có thể áp dụng lượng phân bón như sau:

Cây 1-3 năm tuổi: Số lượng phân bón tổng cộng cho mỗi gốc trong năm từ 0,2 – 0,5 kg urê; 0,3 – 0,5 kg super lân và 0,15 – 0,3 kg KCl Chia đều bón khoảng 3 –

4 lần trong năm

Cây trên 3 năm tuổi: Hàng năm số lượng phân bón tăng dần cho mỗi gốc, từ

Trang 25

+ Trước khi ra hoa: Bón 1/3 lượng phân urê và 1/3 lượng phân KCl

+ Khi trái phát triển có đường kính khoảng 1cm: Bón 1/3 lượng phân urê và 1/3 lượng phân KCl Trước thu hoạch trái khoảng 1 tháng: Bón 1/3 lượng phân KCl còn lại

+ Sau khi thu hoạch: Bón 1/3 lượng phân urê và toàn bộ lượng phân super lân Hàng năm cần chú ý cung cấp thêm phân chuồng đã hoai mục từ 10-20kg/gốc Có thể bón thêm tro trấu, cát giúp đất trong gốc tơi xốp

Trong giai đoạn cho năng suất ổn định, tùy theo tình hình sinh trưởng, lượng phân bón tăng dần hằng năm Trong năm đầu tiên nên pha phân tưới Các năm kế tiếp

có thể rải dưới tán hoặc bón theo rãnh chung quanh cách gốc khoảng 1 – 1,5m, cho phân vào lấp lại và tưới, không nên bón phân cho cây trong mùa nước ngập vì dễ làm thối rễ

Có thể sử dụng thêm thuốc dưỡng cây như 15-30-15, Komix, Bayfolan, Thiên nông, để giúp tăng khả năng sinh trưởng, ra hoa, đậu trái Thời gian áp dụng chia ra như sau: (1) trước khi ra hoa một tháng, (2) ngay trước lúc hoa nở (3) sau khi đậu trái (4) trước khi thu hoạch một tháng (5) ngay sau khi thu hoạch (Trần Văn Hâu, 2005)

Cắt tỉa tạo hình:

Sau khi trồng cần tiến hành cắt tỉa đọt để tạo tán cho cây nhất là đối với các giống nhãn có chồi ngọn phát triển mạnh như tiêu da bò, nhãn xuồng Thường xuyên loại bỏ những cành mọc thẳng bên trong tán để tán được thoáng, các cành mọc khít nhau cũng được loại bỏ sớm, các cành nhỏ, cành ốm yếu, cành bị sâu bệnh (Nguyễn Thanh Triều, 2002)

Tạo tán bằng cách tỉa bỏ ngọn cây cách mặt đất 0,8 - 1m và bỏ những cành dầy đặc, cành vượt, cành mọc đan chéo nhau trên thân cây, chỉ để lại 3 – 4 cành phân bố đều theo các hướng cách nhau 10 – 20 cm cành thứ nhất cách mặt đất 50 – 80 cm Trên cành cấp 1 để lại 2 - 3 cành cấp 2 Khi cành này vươn dài 30 – 35 cm thì tiếp tục bấm ngọn để tạo cành cấp 3 Trên cành cấp 3 cũng làm như vậy tạo thành bộ khung cho tán cây theo hình cầu hay hình bán cầu (Trần Thế Tục, 1999)

Sau khi thu hoạch trái, để giúp cây ra chồi được đồng loạt thuận lợi trong việc chăm sóc xử lý ra hoa và thu hoạch trái vụ sau, cần tiến hành cắt ở phía ngọn tất cả các cành, thu nhỏ tán cây theo dạng hình nón, trong mùa mưa nên cắt cạn hơn mùa khô Sau khi cây ra đọt tiến hành tỉa thưa chồi non chỉ để lại 2 – 3 chồi khoẻ mạnh trên cành Khi cây đã đậu trái nên tiến hành tỉa thưa trái, tỉa bỏ bớt trái hình dạng méo mó, bị sâu bệnh, trái nhỏ, để giúp trái trên chùm đồng đều, chín đồng loạt (Nguyễn Thanh Triều, 2002)

Ngày đăng: 08/03/2021, 16:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm