1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu xây dựng tiêu chuẩn tuyển sinh năng khiếu hệ cao đẳng chuyên ngành giáo dục thể chất trường đại học an giang

51 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nâng cao năng su

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

BỘ MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN TUYỂN SINH

NĂNG KHIẾU HỆ CAO ĐẲNG CHUYÊN NGÀNH GIÁO DỤC THỂ CHẤT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

Chủ nhiệm đề tài: Ths TRẦN NGỌC HÙNG

AN GIANG, THÁNG 12 NĂM 2014

Trang 2

Đề tài nghiên cứu khoa học “ Bước đầu xây dựng tiêu chuẩn tuyển sinh năng khiếu hệ Cao đẳng chuyên ngành Giáo dục thể chất ở Trường Đại học An Giang ”, do tác giả Thạc sĩ Trần Ngọc Hùng; Phó Trưởng bộ môn Giáo dục thể chất thực hiện Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày 01/12/2014

Trần Kỳ Nam

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Với lòng biết ơn chân thành nhất, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám Hiệu, quý Thầy, Cô giáo cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên trường Đại học An Giang đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Quý Thầy, Cô và các bạn đồng nghiệp đã đóng góp ý kiến để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn cùng tất cả bạn hữu và gia đình đã động viên, khích lệ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài này

Xin trân trọng cảm ơn và xin nhận nơi đây những lời chúc tốt đẹp nhất đến toàn thể Quý vị

An Giang, ngày 30 tháng 12 năm 2014

Người thực hiện Phó Trưởng bộ môn GDTC

Ths.TRẦN NGỌC HÙNG

Trang 4

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới

về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ

công trình nào

An Giang, ngày 30 tháng 12 năm 2014

Người thực hiện Phó Trưởng bộ môn GDTC

Ths Trần Ngọc Hùng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời mở đầu 1

Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 4

1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vị trí vai trò của GDTC trong các trường Cao đẳng và Đại học 4

1.2 Những vấn đề cơ bản về phát triển thể chất cho học sinh và sinh viên 10

1.2.1 Khái quát chiều cao đứng 11

1.2.2 Khái quát về cân nặng cơ thể 12

1.2.3 Khái quát về sức mạnh 12

1.2.4 Khái quát về sức nhanh 12

1.2.5 Khái quát về sức bền 13

1.2.6 Khái quát về khéo léo 14

1.2.7 Khái quát về mềm dẻo 14

1.3 Những yếu tố đảm bảo cho công tác giáo dục thể chất 15

1.4 Cơ sở lý luận về tuyển sinh phần năng khiếu 16

1.5 Các công trình nghiên cứu có liên quan 18

Chương 2: Phương pháp và tổ chức nghiên cứu 20

2.1 Phương pháp nghiên cứu 20

1.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 20

1.2.2 Phương pháp phỏng vấn 20

1.2.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm 20

1.2.3.1 Test đánh giá sức nhanh 20

1.2.3.2 Test đánh giá sức mạnh 21

1.2.3.3 Test đánh giá sức bền 21

1.2.3.4 Test đánh giá khéo léo – mềm dẻo 22

1.2.4 Phương pháp nhân trắc học 22

1.2.4.1 Các test dánh giá hình thái 22

1.2.5 Phương pháp thống kê toán 23

2.2 Tổ chức nghiên cứu 24

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 25

2.2.3 Kế hoạch nghiên cứu 25

Chương 3: Phân tích đánh giá kết quả nghiên cứu 26

Trang 6

3.1.1 Tổng hợp các test đánh giá thể lực 26

3.1.1.1 Lực chọn test đánh giá sức nhanh 26

3.1.1.2 Lựa chọn test đánh giá sức mạnh 26

3.1.1.3 Lựa chọn test đánh giá sức bền 27

3.1.1.4 Lựa chọn test đánh giá sức mềm dẻo 27

3.1.2 Lựa chọn các test đánh giá hình thái 28

3.2 Giải quyết mục tiêu 2: Xây dựng thang điểm tuyển sinh 29

3.2.1 Thang điểm chấm các tố chất thể lực 29

3.2.1 Thang điểm chạy 30m tốc độ cao 29

3.2.2 Thang điểm bật xa tại chỗ 30

3.2.3 Thang điểm đo độ dẻo ngồi 31

3.2.2 Thang điểm chấm hình thái 33

3.3 So sánh thang điểm nghiên cứu với các trường trong khu vực 34

Kết luận – Kiến nghị 39

1 Kết luận 39

2 Kiến nghị 39

Tài liệu tham khảo 40

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Bảng 3.8 Thang điểm đo độ dẻo cột sống tư thế ngồi 32

Bảng 3.10 So sánh thanh điểm chạy 30m tốc độ cao với

Bảng 3.12 So sánh thang điểm bật xa tại chỗ với

Trường Đại học Cần Thơ

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT THƯỜNG DÙNG TRONG

ĐỀ TÀI Các từ bình thường Các từ viết tắt

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

Thể dục thể thao là một bộ phận không thể thiếu được trong nền giáo dục xã hội chủ nghĩa nhằm đào tạo và xây dựng con người mới phát triển toàn diện Thể dục thể thao góp phần nâng cao sức khoẻ cho mọi người dân Sức khoẻ vốn quý nhất của con người, có sức khoẻ thì làm việc gì cũng không thấy khó Mặt khác thể dục thể thao còn nâng cao vị trí của một đất nước trên thế giới, mang lại tính đoàn kết và sự hiểu biết giữa các dân tộc… Vì vậy bất cứ quốc gia nào dù nhỏ hay lớn, dù giàu hay nghèo…cũng đều chú trọng đến sự nghiệp phát triển thể dục thể thao

Nhận biết được tầm quan trọng của thể dục thể thao ngay sau cách mạng tháng

8 năm 1945 thành công Hồ Chủ Tịch đã đề ra chiến lược về sức khoẻ, thể chất cho dân tộc Người nói “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, xây dựng đời sống mới, việc gì cũng phải có sức khoẻ mới thành công…” “…Mỗi một người dân yếu ớt tức

là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là làm cho cả nước mạnh khoẻ và vì thế luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ, là bổn phận của mọi người dân yêu nước”[27] Thực hiện theo lời kêu gọi của Bác Hồ toàn dân ta tích cực tham gia tập luyện thể dục thể thao dù đất nước vẫn trong cảnh bom đạn chiến tranh Ngày nay đất nước đang chuyển mình chiến tranh không còn nữa Đảng và Nhà nước

ta càng chú trọng đến sự nghiệp phát triển thể dục thể thao Khẩu hiệu “ Khoẻ để xây dựng bảo vệ Tổ quốc” được nêu lên khắp mọi miền đất nước

Từ lâu con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển xã hội Giáo dục là một bộ phận đặc biệt của cấu trúc hạ tầng xã hội, là tiền đề quan trọng cho sự phát triển các lãnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa của đất nước

Giáo dục và đào tạo đóng vai trò chủ yếu trong việc giữ gìn, phát triển và truyền bá nền văn minh của nhân loại Trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay, năng lực trí tuệ được coi là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước và sự thành đạt của mỗi người

Giáo dục và đào tạo là cơ sở để phát huy nhân tố con người, trong đó giáo dục thể chất là một trong những mặt giáo dục nhằm mục đích giáo dục con người phát triển toàn diện giúp con người hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ và thể chất để phục vụ đất nước, giữ vững và tăng cường an ninh quốc phòng

Công tác GDTC và hoạt động TDTT trong trường học các cấp là một mặt giáo dục quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện mục tiêu:

Trang 10

nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 có quy định “Chế độ GDTC bắt buộc trong trường học”

Trong chiến lược phát triển con người Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến mục tiêu giáo dục cho thế hệ trẻ về phát triển Đức – Trí – Thể - Mỹ Trong chỉ thị 36/CT-TW nêu rõ: “ Phát triển TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng phát huy nhân tố con người Công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất của xã hội và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang”.[11]

Đảng và Nhà nước đã thể hiện sự quan tâm trên bằng nhiều chủ trương chính sách, trong đó phải kể đến định hướng chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được Nghị quyết TW2, khóa VIII xác định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhằm mục tiêu nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nhân lực, xây dựng những lớp người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức và phong phú về tinh thần”[4] Mục tiêu chiến lược này đã thể hiện rõ những yêu cầu cần thiết về sức khỏe và năng lực thể chất của lớp người lao động mới đang thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt cả trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, định hướng chiến lược phát triển kinh tế từ năm 2001 đến 2010 đã chỉ rõ “Đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao nâng cao tầm vóc và thể trạng của người Việt Nam là phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng rộng khắp, trong đó chú trọng là đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng viên, huấn luyện viên và vận động viên thể thao thành tích cao, đưa thể thao Việt Nam lên ngang tầm với các nước trong khu vực và châu lục”[14]

Thực trạng công tác giáo dục thể chất trong các trường đại học, cao đẳng còn gặp nhiều khó khăn Tuy hiện nay hầu hết các trường đã thực hiện nghiêm túc chương trình cải tiến của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, song chất lượng giảng dạy chưa cao do điều kiện sân bãi phục vụ cho giảng dạy chưa đáp ứng được nhu cầu tập luyện thêm của các em

Trang 11

Trước tình hình trên nhằm đào tạo và tăng cường xây dựng lực lượng nhà giáo nói chung và lực lượng giảng dạy GDTC nói riêng Trường Đại học An Giang đã đăng ký với Bộ Giáo dục và Đào tạo mở hệ cao đẳng chuyên ngành Giáo dục thể chất và đã được Bộ đồng ý

Hiện nay trường Đại học An Giang đã tuyển sinh khóa đầu tiên với sự hỗ trợ của trường ĐHSP TDTT TpHCM, để đạt được hiệu quả tốt trong việc tuyển chọn cần có một tiêu chuẩn phù hợp với thí sinh thi tuyển đầu vào hệ cao đẳng chuyên

ngành GDTC ở trường Đại học An Giang Do đó tôi chọn đề tài: “ Bước đầu xây

dựng tiêu chuẩn tuyển sinh năng khiếu hệ Cao đẳng chuyên ngành Giáo dục thể chất ở trường Đại học An Giang”

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Đề tài nghiên cứu trên nhằm đáp ứng mục đích Bước đầu xây dựng tiêu chuẩn

tuyển sinh năng khiếu hệ Cao đẳng chuyên ngành giáo dục thể chất ở trường Đại học An Giang Từ đó làm cơ sở tuyển chọn một cách có khoa học để nâng cao chất

lượng của đội ngũ giáo viên giáo dục thể chất ngày một tốt hơn

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

Để thực hiện mục đích của đề tài chúng tôi đề ra 2 mục tiêu sau:

Mục tiêu 1: Xây dựng nội dung tuyển sinh năng khiếu cho hệ cao đẳng chuyên

ngành giáo dục thể chất ở trường Đại học An Giang

Mục tiêu 2: Lập thang điểm tuyển sinh năng khiếu cho hệ Cao đẳng chuyên

ngành giáo dục thể chất trường Đại học An Giang

Trang 12

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vị trí vai trò của GDTC trong các trường Đại học và Cao đẳng

Trải qua hơn nửa thế kỷ, kể từ khi khai sinh nền thể thao Việt nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục”, lời kêu gọi của Người như ánh dương soi sáng, định hướng cho sự hình thành và sự phát triển của một nền thể thao mới do Người sáng lập Từ “Cuộc vận động toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” đã trở thành tư tưởng Hồ Chí Minh về TDTT Việt nam “TDTT là một công tác cách mạng khác Tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc đặt nền tảng xây dựng

sự nghiệp TDTT của nước ta là: khẳng định rõ TDTT là một công tác cách mạng, vừa là nhu cầu, vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của quần chúng, một sự nghiệp của toàn dân, do dân và vì dân Mục tiêu của TDTT là bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho nhân dân góp phần cải tạo nòi giống Việt nam, làm cho dân cường, nước thịnh Tiêu biểu cho điều mong muốn tha thiết của Bác là lời kêu gọi toàn dân tập thể dục: Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần đến sức khỏe mới thành công, mỗi một người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi người dân khỏe mạnh tức là góp phần cho cả nước mạnh khỏe Vậy rèn luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước” [27] Bác Hồ rất quan tâm đến sự nghiệp phát triển TDTT vì sức khỏe nhân dân, vì rằng việc gì cũng cần tới sức khỏe mới thành công Bác kêu gọi toàn dân thường xuyên RLTT nhằm giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể lực cho con người, tin yêu thế hệ trẻ Người quan tâm đến sự chăm sóc và phát triển thể chất của thế hệ trẻ

Thực hiện tâm nguyện của Người, trong những năm qua Đảng ta với chủ trương: “Để đảm bảo cho sự nghiệp TDTT của nước ta phát triển vững chắc, đem lại những hiệu quả thiết thực, từng bước xây dựng nền TDTT xã hội chủ nghĩa phát triển cân đối, có tính chất dân tộc, khoa học và nhân dân, công tác TDTT cần coi trọng, nâng cao chất lượng GDTC trong trường học, tổ chức hướng dẫn và vận động đông đảo nhân dân RLTT hàng ngày” [7]

Đảm bảo cho TDTT phát triển đúng hướng, cần tạo sự quản lý thống nhất của nhà nước và xúc tiến quá trình xã hội hóa TDTT trong các tổ chức và sơ sở hoạt động Đánh giá công tác TDTT trong những năm qua, chỉ thị 36 CT/TW của ban bí thư Trung ương về công tác TDTT trong giai đoạn mới của “những năm gần đây,

Trang 13

công tác TDTT đã có nhiều tiến bộ, phong trào TDTT ở một số địa phương và ngành

đã được chú ý đầu tư nâng cấp, xây dựng mới Tuy nhiên, TDTT nước ta còn ở trình

độ thấp, số người thường xuyên tập luyện thể thao còn rất ít, đặc biệt là thanh niên chưa tích cực tham gia tập luyện Hiệu quả GDTC trong trường học và trong các lực lượng vũ trang còn rất thấp Đội ngũ cán bộ TDTT còn thiếu và yếu về nhiều mặt [11] Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém do nhiều cấp ủy Đảng, chính quyền chưa nhận thức được đầy đủ và còn xem nhẹ vai trò của TDTT trong sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, chưa thực sự coi TDTT là một bộ phận trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng, chưa có chế

độ phù hợp với yêu cầu phát triển của TDTT Quản lý của ngành còn kém hiệu quả, chưa phát huy hết vai trò chủ động sáng tạo của toàn xã hội để phát triển TDTT Trước tình hình mới, định hướng của Đảng về sự nghiệp TDTT: Phát triển TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khỏe thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang

Pháp lệnh TDTT đã được ủy ban thường vụ quốc hội khóa X thông qua và ban hành: “ TDTT là sự nghiệp của nhà nước và của toàn dân Để phát triển sự nghiệp TDTT; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về TDTT nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực toàn dân, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách con người Việt Nam, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc: Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để mọi người tham gia hoạt động TDTT và hưởng thụ giá trị TDTT; phát triển TDTT thành tích cao đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; giữ gìn và phát triển thể thao dân tộc Kết hợp với phát triển thể thao hiện đại phù hợp với bản sắc văn hóa Việt Nam”[7]

Chỉ thị số 112CT của Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng yêu cầu các cấp các ngành thực hiện tốt nhiệm vụ và biện pháp sau: “ Đối với học sinh, sinh viên trước hết nhà trường phải thực hiện nghiêm túc việc dạy và học môn thể dục theo chương trình quy định, có biện pháp tổ chức, hướng dẫn các hình thức tập luyện và hoạt động thể thao người giờ học ” [10] Điều đó khẳng định sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và nhà nước với công tác TDTT và GDTC trong nhà trường, nhiệm vụ cấp thiết liên tục của toàn Đảng, toàn dân

Trang 14

Để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sự nghiệp TDTT nước nhà, Thủ tướng chính phủ đã có chỉ thị 133/TTg về quy hoạch phát triển ngành TDTT Trong

đó đã nêu: “ngành TDTT phải xây dựng định hướng phát triển có tính chiến lược, trong đó quy định rõ các môn thể thao và các hình thức hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng, lứa tuổi, tạo thành phong trào tập luyện rộng rãi của quần chúng, Bộ giáo dục và đào tạo cần đặc biệt coi trọng GDTC trong nhà trường Cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khóa ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn RLTT cho học sinh ở các cấp học, quy chế bắt buột ở các trường Nhất là trường Đại học phải

có sân bãi, phòng tập TDTT, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và đảm bảo đủ giáo viên, giảng dạy TDTT đáp ứng nhu cầu ở tất cả các cấp học” [13]

Để đưa công tác GDTC trong nhà trường trở thành một khâu quan trọng, xác định nhận thức đúng về vị trí GDTC trong nhà trường thì các cấp phải triển khai đồng bộ với các mặt giáo dục tri thức và nhân cách từ tuổi thơ đến đại học Bộ giáo dục và đào tạo đã có văn bản quyết định ban hành quy chế về công tác GDTC trong nhà trường các cấp, đã khẳng định: “GDTC được thực hiện trong hệ thống nhà trường từ Mầm non đến Đại học, góp phần đào tạo những công dân phát triển toàn diện GDTC là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo, nhằm giúp cho con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức: thể chất – sức khỏe tốt là nhân tố quan trọng trong việc phát triển sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [6] Cũng khẳng định: “GDTC trong nhà trường các cấp nhằm từng bước nâng cao trình độ văn hóa thể chất và thể thao của học sinh, sinh viên Góp phần phát triển sự nghiệp TDTT của đất nước đáp ứng nhiệm vụ giao tiếp của học sinh, sinh viên Việt Nam và Quốc tế” [13]

Điều 16 – pháp lệnh TDTT đã khẳng định: “ nhà trường có trách nhiệm, thực hiện chương trình GDTC cho người học Tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa, xây dựng cơ sở vật chất cần thiết đáp ứng việc giảng dạy và hoạt động TDTT trong nhà trường”

Trong các trường học đại học, cao đẳng, GDTC có tác dụng tích cực trong việc hoàn thiện cá tính, nhân cách, những phẩm chất cần thiết và hoàn thiện thể chất cho sinh viên Việc tiến hành GDTC nhằm giữ gìn sức khỏe và phát triển thể lực, tiếp thu kiến thức và kỹ năng vận động cơ bản và còn chuẩn bị tốt về mặt tâm lý và tinh thần của con người cán bộ tương lai

Kể từ buổi lễ phát động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác hồ vĩ đại” (26/03/2000) Công tác GDTC và hoạt động thể thao trong trường học đã có

Trang 15

nhiều khởi sắc Liên Bộ đã phối hợp xây dựng pháp lệnh TDTT và đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua, các vụ chức năng của Bộ giáo dục và đào tạo, ủy ban TDTT và bộ y tế đã phối hợp xây dựng quy chế về GDTC và y tế trường học được

Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ký duyệt và ban hành

Quy chế GDTC và y tế trường học có ý nghĩa quan trọng tạo điều kiện để nhà trường các cấp và các địa phương triển khai tốt công tác GDTC trong giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên Hai ngành đã cải tiến nội dung chương trình và sách hướng dẫn GDTC, các hoạt động vui chơi trong giờ học, định hướng giảm tải và nâng cao chất lượng giáo dục Trong quy chế có quy định rõ trách nhiệm của học sinh, sinh viên: Học sinh, sinh viên có trách nhiệm hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập môn thể dục và môn sức khỏe sinh viên các trường đại học và cao đẳng có chứng chỉ GDTC mới đủ điều kiện cấp bằng tốt nghiệp

Thông tư liên tịch của Bộ GD&ĐT và Ủy ban TDTT thống nhất ban hành TDTT trường học là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe

và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý chí, giáo dục nhân cách cho học sinh, sinh viên góp phần đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước TDTT trường học là môi trường thuận lợi và giàu tiềm năng để phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước

- Phát triển giáo dục TDTT trường học theo hướng đổi mới và nâng cao chất lượng giờ học thể dục nội khóa, đa dạng hóa các hình thức hoạt động ngoại khóa, đồng thời tổ chức chặt chẽ việc kiểm tra tiêu chuẩn RLTT đối với người học

- Tăng cường phối hợp liên ngành giáo dục và TDTT, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa và chuyên môn hóa, tranh thủ các nguồn lực từ xã hội để xây dựng và phát triển TDTT trường học

- Tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về TDTT trường học, góp phần nâng cao vị thế của Thể thao Việt Nam trong khu vực và thế giới

Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “ Đẩy mạnh các hoạt động TDTT cả về quy mô và chất lượng Khuyến khích và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia hoạt động và phát triển sự nghiệp TDTT Phát triển mạnh thể thao quần chúng, thể thao nghiệp dư, trước hết là trong thanh niên, thiếu niên Làm tốt công tác GDTC trong trường học ”; Nghị quyết Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Phát triển mạnh phong trào TDTT đại chúng, tập trung đầu tư nâng cao chất lượng một số môn thể thao thành tích cao nước ta có ưu thế Kiên quyết khắc phục những hiện tượng

Trang 16

tiêu cực trong thể thao” Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 1-12-2011 của Bộ Chính trị cũng khẳng định: “Phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan của xã hội, nhằm góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh ” và “ cần quan tâm đúng mức TDTT trường học với vị trí là bộ phận quan trọng của phong trào TDTT; là một mặt của giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, sinh viên ”

Sau hơn ba năm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng với sự cố gắng chung của các ngành Giáo dục và Đào tạo và ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch từ Trung ương đến cơ sở, với sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư của Đảng, Chính phủ và chính quyền các địa phương, công tác GDTC và thể thao trường học đã có bước phát triển đáng khích lệ, góp phần tích cực vào thành tích chung trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, được thể hiện như:

Công tác GDTC và thể thao trong trường học đã có những chuyển biến bước đầu Tính đến năm 2012, cả nước có trên 90% số trường học thực hiện tốt chương trình GDTC chính khoá có nề nếp theo quy định; có trên 60% số trường học có hoạt động TDTT ngoại khoá thường xuyên; có trên 85% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn thể lực theo quy định

Hình thức tổ chức và nội dung tập luyện TDTT của học sinh, sinh viên ngày càng đa dạng và dần đi vào nề nếp Trong đó, hình thức câu lạc bộ TDTT trường học

có tổ chức, có người hướng dẫn ngày càng được phát triển; nhiều nội dung tập luyện được đưa vào các hoạt động ngoại khoá, đặc biệt là các môn thể thao dân tộc, trò chơi dân gian được lồng ghép với phong trào thi đua “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

Đội ngũ giáo viên TDTT ở các trường học được đào tạo, nâng cao kiến thức, từng bước đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ; cơ sở vật chất, sân chơi, bãi tập, công trình thể thao, dụng cụ tập luyện thi đấu thể thao ở trường học các cấp bước đầu được quy hoạch và đầu tư xây dựng; công tác chỉ đạo điều hành về GDTC tiếp tục được tăng cường; công tác nghiên cứu khoa học về GDTC và y tế học đường ngày càng được chú trọng…

Hoạt động TDTT của học sinh, sinh viên đã được quan tâm Hàng năm, ngành Giáo dục và Đào tạo tổ chức các giải thể thao cho học sinh, sinh viên nhằm đánh giá

Trang 17

công tác GDTC và luyện tập của các nhà trường Đặc biệt, các hoạt động lớn được tổ chức theo chu kỳ 4 năm/lần, như: Hội khỏe Phù đổng toàn quốc, Đại hội thể thao sinh viên toàn quốc, Hội thi nghiệp vụ sư phạm văn nghệ thể thao các trường sư phạm toàn quốc, Hội thi Văn hoá thể thao các trường phổ thông dân tộc nội trú toàn quốc Qua các hoạt động phong trào, đã tuyển chọn lực lượng đại diện cho học sinh, sinh viên Việt Nam tham dự các đại hội thể thao học sinh, sinh viên quốc tế đạt được nhiều kết quả tốt Việt Nam cũng đã đăng cai tổ chức thành công Đại hội thể thao sinh viên Đông Nam Á và nhiều giải thi đấu thể thao quốc tế quan trọng khác

Tuy có những chuyển biến bước đầu, song nhìn chung công tác GDTC và thể thao trường học chưa được quan tâm đúng mức, thậm chí có nơi, có lúc còn bị coi nhẹ, thiếu bình đẳng so với các môn học khác Cơ sở vật chất còn nghèo nàn, nên chưa thực sự tạo được sự hứng thú cho học sinh, sinh viên tập luyện và thi đấu; chương trình, giáo trình phương pháp giảng dạy, công tác quản lý chậm đổi mới; đội ngũ giáo viên thể dục còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng chuyên môn; chế

độ, chính sách đối với đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu

Để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020”, công tác GDTC và thể thao trường học cần tập trung vào một số nhiệm vụ và giải pháp chính:

08 Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của TDTT trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Phát triển TDTT trường học phải được coi là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội và của nhân dân; đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong các hoạt động thể thao trường học các cấp, tạo sân chơi lành mạnh cho học sinh, sinh viên tham gia tập luyện và thi đấu thể thao

- Hai là, Nhà nước cần có chính sách cụ thể và tăng cường ngân sách để đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, hướng dẫn viên TDTT; đầu tư cơ sở vật chất, sân bãi và dụng cụ tập luyện cho hoạt động GDTC trong các trường học từ cấp học mầm non trở lên; thực hiện mỗi trường đều có giáo viên TDTT và có sân bãi, dụng cụ tập luyện Đặc biệt, cần tập trung đầu tư một cách hiệu quả và thiết thực cho miền núi, vùng sâu, vùng cao, cho những địa phương còn nghèo và khó khăn Nhà nước cần xây dựng và thực hiện các chế độ, chính sách khuyến khích về GDTC đối với trường

Trang 18

học, cũng như đối với giáo viên, học sinh Có thể coi đây là khâu đột phá để phát triển thể thao trường học…

- Ba là, tăng cường sự phối hợp liên ngành, trước hết ngành Giáo dục và Đào tạo tiếp tục đổi mới chương trình và phương pháp GDTC (kể cả giờ học thể dục nội khóa và hoạt động TDTT ngoài giờ học ở khu dân cư) Nội dung và phương pháp GDTC cho học sinh cần phải tập trung giải quyết các nhiệm vụ nâng cao tầm vóc; phát triển toàn diện các tố chất thể lực; cần xây dựng tiêu chuẩn kiểm tra và đánh giá sức khỏe thể chất thống nhất và tổ chức đánh giá sức khỏe thể chất cho trẻ em theo định kỳ hàng năm Đổi mới quản lý GDTC theo hướng phát huy vai trò chủ động sáng tạo của cơ sở trường học và sáng kiến của giáo viên, học sinh, dựa trên những quy định có tính định hướng về nội dung, tiêu chuẩn kiểm tra và phương pháp sư phạm Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học, cũng như tổng kết và phổ biến những kinh nghiệm tốt về GDTC trong nhà trường

Ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch cần tích cực chủ động phối hợp và hỗ trợ ngành Giáo dục và Đào tạo tổ chức các hoạt động TDTT ngoài giờ học và ngoài trường học cho trẻ em Cần coi TDTT trường học là công tác trọng tâm, thường xuyên trong chỉ đạo và phát triển TDTT ở tất cả các cấp Chú trọng phát triển TDTT trong hệ thống các nhà văn hóa, nhà thiếu nhi, từ cơ sở đến toàn quốc; xây dựng và thực hiện chương trình phát triển TDTT trong các đối tượng trẻ em khuyết tật, trẻ em

có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

- Bốn là, tăng cường kiểm tra, giám sát của các cấp uỷ và chính quyền trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và đầu tư cơ sở vật chất, quy hoạch đất cho thể thao trường học và tăng cường công tác giáo dục, truyền thông trong GDTC và hoạt động thể thao trường học các cấp

Phát triển thể thao trường học có ý nghĩa chiến lược to lớn, một mặt nhằm thúc đẩy GDTC, nâng cao sức khỏe, đời sống văn hóa tinh thần của học sinh, sinh viên để chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực cho tương lai, mặt khác nhằm góp phần phát hiện, đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao cho đất nước

Thực hiện tốt việc phát triển TDTT trường học là thực hiện tốt một nội dung quan trọng của chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.2 Những vấn đề cơ bản về phát triển thể chất cho học sinh và sinh viên:

Trang 19

Trong tập luyện và thi đấu TDTT ngoài các yếu tố như trình độ hiểu biết, ý chí, đạo đức, tâm lý, kỹ thuật và chiến thuật thì thể lực được xem là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả hoạt động

Tố chất vận động là những đặc điểm tương đối riêng biệt trong hoạt động thể lực của con người và thường được chia thành năm loại cơ bản: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động

Hai thuật ngữ tố chất vận động và tố chất thể lực thực chất tương đồng nhau

vì đều chủ yếu nói đến nhân tố đặc điểm về thể lực con người Tuy vậy nếu xét về góc độ điều khiển động tác của hệ thống thần kinh trung ương còn gọi là tố chất vận động, còn nếu nhấn mạnh về đặc trưng sinh cơ học thì gọi là tố chất thể lực

Phần lớn các môn thể thao đòi hỏi phát triển toàn diện các tố chất thể lực chuyên môn ưu thế Có thể là sức mạnh tương đối thuần nhất trong môn cử tạ, hoặc kết hợp sức mạnh tốc độ trong chạy cự ly ngắn… Do đặc điểm nghề nghiệp và các môn thể thao khác nhau nên cấu trúc và yêu cầu thể lực cũng khác nhau

Tố chất vận động (tố chất thể lực) là những mặt riêng biệt về khả năng vận động của con người Tố chất vận động gồm có: Nhanh, mạnh, bền, khéo léo và dẻo.[25]

Cơ sở sinh lý của sự hình thành kỹ năng vận động Con người khi mới sinh ra

có một khả năng vận động rất hạn chế về số lượng và độ phức tạp của động tác Hầu hết các hoạt động vận động của con người có được là nhờ tập luyện trong quá trình sống Trong quá trình tập luyện, các động tác mới được hình thành, các động tác thừa hưởng nhờ bẩm sinh di truyền cũng được củng cố Nhờ tập luyện dần dần con người lỉnh hội được các động tác đơn lẻ hoặc các hành động toàn vẹn Các động tác đó được thực hiện theo thói quen một cách tự động và trở thành kỹ năng vận động Quá trình hình thành các kỹ năng vận động về mặt sinh lý vận động là một quá trình phức tạp, song quá trình này lại liên quan chặt chẽ với sự phát triển các tố chất thể lực

1.2.1 Khái quát về chiều cao đứng

- Chiều cao đứng là chiều cao tính từ mặt đất lên đến đỉnh đầu Chiều cao đứng là một trong những kích thước được đo đạt trong hầu hết các công trình điều tra

về hình thái cơ thể, vì nguyên tắc về sinh lý chiều cao đứng nói lên tầm vóc của một người cho nên trong y học cũng như trong TDTT dựa vào để đánh giá sức lớn của trẻ

em, tầm vóc của một người, chiều cao có mối quan hệ mật thiết với các kích thước khác Cho nên người ta so sánh chiều cao với một số kích thước khác để thành lập

Trang 20

một số chỉ số hoặc để tính ra các số đo tương đối hoặc đánh giá sự cân bằng của cơ thể

1.2.2 Khái quát về cân nặng cơ thể người

Cân nặng là một thông số quan trọng để đánh giá tầm vóc, thể lực cơ thể và

có quy luật tăng trưởng phù hợp với quy luật tăng trưởng chiều cao, cân nặng của một người gồm 2 phần:

- Phần cố định chiếm 1/3 tổng số cân nặng gồm: xương, da, các tạng và thần kinh

- Phần thay đổi chiếm 2/3 tổng số cân nặng gồm: ¾ là trọng lượng cơ thể và

¼ là mỡ và nước, cho nên tăng cân là tăng trọng lượng cơ thể

1.2.3 Khái quát về sức mạnh

Sức mạnh là năng lực chống đỡ hoặc khắc phục sức cản bên ngoài nhờ những

nổ lực của cơ bắp [25]

- Số lượng tham gia vào vận động

- Chế độ cơ của các sợi cơ đó

- Chiều đài ban đầu của các sợi cơ trước lúc cao

Quá trình tập luyện để nâng cao sức mạnh có ý nghĩa quan trọng đối với người tập Tập luyện để phát triển sức mạnh là tập để tăng tiết diện ngang sinh lý sợi

cơ, nhờ sợi cơ dày lên mà sức mạnh càng tăng lên, các cơ quan trong cơ thể cũng được phát triển nhờ có sức mạnh mà sức nhanh, sức bền, khả năng phối hợp vận động cũng được phát huy mạnh mẽ

1.2.4 Khái quát về sức nhanh

Sức nhanh là năng lực thực hiện đông tác trong khoãng thời gian ngắn nhất [25]

Sức nhanh là một tổ hợp thuộc tính chức năng con người Nó quy định chủ yếu là đặc tính tốc độ động tác cũng như thời gian phản ứng vận động Có 3 hình thức đơn giản biểu hiện sức nhanh:

- Thời gian tiềm tàng của phản ứng vận động

- Tốc độ động tác đơn ( với lượng đối kháng bên ngoài)

- Tần số động tác

Sức nhanh động tác là một trong những cơ sở quyết định thành tích trong nhiều môn thể thao như: các môn nhảy, ném đẩy trong điền kinh, ném trong các môn bóng, trong thi đấu đối kháng giữa hai người, trong các môn thể thao mang tính nghệ thuật trong các môn có chu kỳ sức mạnh động tác cũng đặc biệt quan trọng đối với

Trang 21

toàn bộ hoặc từng phần trong các tình huống như: chạy cự ly ngắn, tăng tốc, xuát phát trong các môn bơi đua thuyền, xe đạp…

Yếu tố sức nhanh mang tính di truyền “bẩm sinh” Đứng ở góc độ cấu trúc cơ thể người ta thấy chỗ dựa lớn nhất của “tốc độ trời phú” tức là sự khác nhau giữa các thành phần của nhóm sợi cơ, cơ bắp, cơ thể được phân ra 3 loại sợi cơ: Sợi cơ nhanh (màu sáng), sợi cơ chậm (màu sẫm) và sợi cơ trung gian.Tỉ lệ sợi cơ màu sáng và màu sẫm trong từng cơ thể con người khác nhau, cũng không giống nhau và tỉ lệ phần trăm các sợi cơ là do di truyền quyết định, giữa chúng không thể chuyển hóa cho nhau được

Phương pháp cơ bản để giáo dục sức nhanh là phương pháp lặp lại, song để tránh sự đơn điệu người ta có thể sử dụng các trò chơi như chạy tiếp sức, các trò chơi với các môn bóng

Trong giáo dục sức nhanh thường hay xuất hiện “hàng rào tốc độ”, để phá vỡ hàng rào tốc độ, chúng ta phải áp dụng các bài tập như chạy xuống dốc, chạy theo người có tốc độ nhanh hơn, chạy theo người đi xe đạp…

Từ những vấn đề trên, yếu tố sức nhanh là hết sức cần thiết trong tập luyện và thi đấu thể thao Sức nhanh còn là một trong những điều kiện tiên quyết để tuyển chọn năng khiếu cho môn thể dục và nó còn có tiêu chí chung để tuyển sinh vào các câu lạc bộ thể thao ở các trường Đại học và Cao đẳng

Sự phát triển của sức bền phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của sự phối hợp giữa chức năng vận động và chức năng dinh dưỡng, vào độ bền vững chức năng của các cơ quan nội tạng, đặc biệt ở hệ hô hấp và tim mạch, là những hệ đảm bảo cung cấp ôxy cho cơ thể hoạt động

Những biện pháp chủ yếu để phát triển sức bền chung cho sinh viên là những

Trang 22

đựng của cơ thể, khắc phục mệt mỏi và duy trì hoạt động, vận động với hiệu quả cao nhất Đó là những bài tập chạy việt dã, bài tập chạy với quãng đường từ 1000m – 5000m với cường độ không lớn Đối với sinh viên cho tập phát triển sức bền khoảng một lần trong một tuần và tuân theo nguyên tắc tăng dần lượng vận động

1.2.6 Khái quát về khéo léo

Khéo léo là năng lực tiếp thu nhanh các động tác và ứng phó kịp thời với những thay đổi bất ngờ Xác định và đánh giá tố chất khéo léo là việc khó, có thể tính bằng khoảng thời gian thực hiện thay đổi động tác Khéo léo là một tố chất có liên quan chặt chẽ với tố chất khác và đặc biệt là với ý chí người tập

Khéo léo cũng là một tố chất đặc biệt, có những vận động viên rất khéo léo

khi chơi phối hợp đồng đội, nhưng kỹ thuật cá nhân lại kém, hoặc ngược lại [25]

1.2.7 Khái quát về mềm dẻo

Mềm dẻo là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn [25]

Tố chất mềm dẻo là chỉ biên độ hoạt động của các khớp xương và khả năng vươn duỗi của phần dây chằng và cơ bắp Tố chất mềm dẻo có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động thể thao Tố chất mềm dẻo có tác dụng khác nhau ở các môn thể thao khác nhau

Tố chất mềm dẻo là một trong những tiền đề để vận động viên có thể giành được thành tích cao trong thể thao chuyên sâu, nhằm giúp VĐV thực hiện động tác

- Sự phát triển của các năng lực: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền và khả năng phối hợp vận động bị hạn chế hoặc do kém năng lực trên không đầy đủ

- Biên độ động tác bị hạn chế do ảnh hưởng đến sức nhanh của động tác ( quãng đường tăng tốc ngắn)

- Chất lượng thực hiện động tác bị hạn chế, do ảnh hưởng trực tiếp đến thành tích

Trang 23

Trong quá trình huấn luyện người ta thường xuyên kiểm tra mức độ phát triển của năng lực mềm dẻo bằng nhiều cách đo khác nhau Mềm dẻo cũng là một yếu tố không thể thiếu trong tuyển chọn, huấn luyện thể thao

1.3 Những yếu tố đảm bảo cho công tác GDTC

GDTC là một mặt giáo dục đào tạo trong nhà trường, do vậy, cần phải có sự đầu tư, trang thiết bị những điều kiện đảm bảo cần thiết phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập ngoại khoá, cũng như tự rèn luyện thể thaovà hoạt động văn hoá- thể thao của học sinh – sinh viên “Từng trường có định mức kinh phí phục vụ cho công tác GDTC và hoạt động văn hoá thể thao của học sinh, sinh viên trong quá trình giáo dục Từng trường phải đảm bảo yêu cầu tối thiểu về các phương tiện dụng cụ phục

vụ dạy học và học thể dục thể thao theo chương trình GDTC và hoạt động thể thao của nhà trường”

Do vậy, việc đầu tư phục vụ dạy và học thể dục trong nội khoá phải có sân tập, nhà tập, các dụng cụ phục vụ giảng dạy và học tập theo nội dung học tập nội khoá: “Các trường đại học phải có sân bãi, phòng TDTT”

Do vậy, phải tạo mọi điều kiện cần thiết và cơ sở vật chất và kinh phí để thực hiện việc dạy và học thể dục bắt bụôc tất cả các trường học Ban quy hoạch xây dựng và nâng cấp trường phải đảm bảo sân chơi, bãi tập cho học sinh, sinh viên

Các văn bản pháp quy, quy chế quy định tính bắt buộc thực hiện công tác GDTC trong nhà trường Đó cũng là những chỉ thị, hướng dẫn của Đảng, Nhà nước

và lãnh đạo Bộ GD&ĐT về tổ chức hướng dẫn thực hiện công tác GDTC và các quy phạm đánh giá, cũng như những văn bản chế độ chính sách động viên, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật về các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện công tác GDTC

để GDTC là một công tác của toàn xã hội

Công tác cán bộ giảng dạy và quản lý phong trào TDTT trong các trường Đại học, Cao đẳng là nhân tố quyết định công tác GDTC, tiến hành việc dạy và học thể dục theo chương trình quy định, tổ chức hướng dẫn các hoạt động ngoại khóa và huấn luyện các đội tuyển thể thao học sinh, sinh viên, tổ chức ngày hội thể thao của nhà trường và tham gia các hoạt động chung của ngành, địa phương và toàn quốc Đồng thời phối hợp với cơ quan y tế tổ chức khám và phân loại sức khoẻ cho học sinh, để có biện pháp tập luyện riêng cho những học sinh, sinh viên yếu sức khoẻ, phát hiện và bồi dưỡng những học sinh, sinh viên có năng khiếu về thể thao Tổ chức biên soạn giáo trình, giáo án phục vụ công tác giảng dạy học tập và tiến hành dạy tốt

Trang 24

môn học thể dục với các trường không chuyên và các môn thể thao trong chương trình đào tạo giáo viên TDTT đối với các trường đại học, cao đẳng TDTT

1.4 Cơ sở lý luận về tuyển sinh phần năng khiếu:

Trong tuyển sinh chuyên ngành giáo dục thể chất thì nội dung, thang điểm về năng khiếu là một khâu quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên về giáo dục thể chất Nó luôn luôn được nghiên cứu cải tiến không ngừng

để đáp ứng kịp thời và có hiệu quả nhất cho sự phát triển đội ngũ giáo viên thể dục thể thao nước nhà nói chung và của địa phương nói riêng Bởi vì, nếu tuyển sinh có chất lượng cao, sinh viên sẽ có đủ năng lực tiếp thu kiến thức, lượng vận động chuyên ngành đảm bảo sẽ là lực lượng hậu bị có trình độ chuyên môn cao

Căn cứ vào quyết định số 4337/QĐ-BGDĐT, ký ngày 01/10/2013 Quyết định

về việc giao cho Trường Đại học An Giang đào tạo trình độ cao đẳng hệ chính quy ngành giáo dục thể chất, mã số: 51140206 Từ đó làm cơ sở cho việc tuyển sinh hệ Cao đẳng chuyên ngành Giáo dục thể chất ở trường Đại học An Giang

Vấn đề năng khiếu thể thao:

Cho đến nay, tuyển chọn và đào tạo lực lượng hậu bị trong các môn thể thao vẫn đang là những vấn đề trọng tâm của lý luận và phương pháp thể thao Cần nhấn mạnh rằng, trong 30 năm gần đây vấn đề tuyển chọn tài năng thể thao trở thành một hướng nghiên cứu độc lập trong khoa học TDTT và ngày càng được quan tâm một cách đặc biệt

Tuyển chọn và đánh giá năng khiếu thể thao là một vấn đề có nhiều mặt: Kinh

tế, xã hội, đạo đức, triết học, sư phạm, tâm sinh lý, y học, quản lý… Chính bởi lẻ đó

đã có những công trình nghiên cứu vấn đề này càng thu hút rất nhiều chuyên gia hàng đầu của một số lĩnh vực khác như: Y sinh học, sư phạm, kinh tế … Và cũng chính vì vậy mà tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong xây dựng cơ sở lý luận cho tuyển chọn và đánh giá năng khiếu thể thao

Khái niệm năng khiếu thể thao đã được các nhà nghiên cứu xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau như: Giáo dục học, sinh học, tâm lý học, điều khiển học…Dưới đây chúng tôi xin được tổng hợp, tóm tắt một số quan điểm mang tính định hướng của các công trình nghiên cứu lớn trong việc xác định năng khiếu thể thao:

- Theo quan điểm của tâm lý học cho rằng: Tài năng thể thao là các đặc điểm

tâm, sinh lý của con người tạo ra các tiền đề quyết định sự thành công trong một môn thể thao nào đó Nó phản ảnh hiệu quả cao của các hoạt động thể chất và tâm lý

của các VĐV dựa trên các tư chất bẩm sinh Đồng thời thành tích thể thao xuất

Trang 25

chúng là mối quan hệ biện chứng giữa việc phát hiện tài năng với môi trường đào tạo

và bồi dưỡng các tài năng đó

- Theo quan điểm của Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn thì cho rằng: Năng

khiếu thể thao là sự kết hợp đặc biệt về chất những đặc điểm giải phẫu sinh lý và tâm

lý của từng cá thể, trên cơ sở đó có thể đạt được thành tích thể thao cao nhưng không nhất thiết Khả năng đạt được thành tích nhiều hay ít trong một môn thể thao

nào đó phụ thuộc vào mức độ và khối lượng của sự kết hợp ấy Do vậy phải nhận rõ rằng không phải thành tích thể thao phụ thuộc vào năng khiếu, mà chỉ có khả năng đạt thành tích thể thao phụ thuộc vào năng khiếu mà thôi

- Quan điểm khác cho rằng: Tài năng thể thao là sự tổng hòa những đặc điểm

rất đa dạng về hình thái, chức phận, tâm lý và những đặc điểm khác của con người kết hợp với sự tập luyện kiên trì, lâu dài để đạt những kết quả kỷ lục trong từng môn thể thao cụ thể Vì vậy để có tài năng thể thao thực sự sau này, nghĩa là có thành tích

thể thao cao trong tương lai, cần phải tập luyện lâu dài nhằm nắm chắc được các kỹ năng, kỹ xảo động tác của môn thể thao chuyên sâu và rèn luyện các phẩm chất tâm

lý cần thiết

Nếu xác định rằng năng khiếu thể thao là những đặc điểm cá nhân là tiền đề để thực hiện có hiệu quả một hoạt động nào đó, thì trình độ phát triển về chất của năng khiếu được diễn đạt bằng khái niệm tài năng và nhân tài Sự khác biệt giữa chúng thường được xác định bởi tính chất của các kết quả hoạt động

Tài năng là phức hợp những năng lực cho phép đem lại những kết quả hoạt động sáng tạo có yếu tố mới mẻ, có mức độ hoàn thiện cao và được xã hội thừa nhận Nhân tài là đỉnh cao của sự phát triển tài năng cho phép đem lại một sự thay đổi căn bản trong một lĩnh vực sáng tạo nào đó Thiên tài khác với tài năng không chỉ ở chỗ là đỉnh cao của tài năng mà còn ở chỗ tạo ra được thành tựu sáng tạo mới về chất, tạo ra con đường chưa biết đến cho sự sáng tạo

Những VĐV lập được những thành tích, kỷ lục rất cao đem lại một phong cách, một trường phái về kỹ thuật, chiến thuật thể thao, đánh dấu một mốc phát triển mới

về khả năng sáng tạo của con người trong lĩnh vực thể thao [28]

Tóm lại: Từ các quan điểm về năng khiếu thể thao ở trên, có thể tổng hợp và

đưa ra một khái niệm tổng quát về năng khiếu thể thao như sau: Năng khiếu thể thao

là sự phối hợp ổn định của các khả năng vận động và tâm lý, cũng như các tư chất giải phẫu tâm lý, tạo thành tiềm năng tổng hợp để đạt thành tích cao ở một môn thể

Ngày đăng: 08/03/2021, 16:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Lê Bửu – Nguyễn Thế Truyền, (1986) “ Kiểm tra năng lực thể chất và thể thao”, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra năng lực thể chất và thể thao
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
18. Lê Văn Lẫm, (2007) “ Giáo trình đo lường thể thao ”. NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đo lường thể thao
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
19. Nguyễn Đức Văn, (1967) “Phương pháp thống kê toán trong Thể dục thể thao”, NXB Thể dục thể thao Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương pháp thống kê toán trong Thể dục thể thao”
Nhà XB: NXB Thể dục thể thao Hà Nội
21. Nguyễn Kim Minh, (1990) “ Tổng quan về sự phát triển thể chất học sinh Việt Nam đến năm 2000” . NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về sự phát triển thể chất học sinh Việt Nam đến năm 2000
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
22. Nguyễn Ngọc Cừ (1997). “ Khoa học tuyển chọn tài năng thể thao ”. Tài liệu dùng cho lớp bồi dưỡng nghiệp vụ HLV các môn thể thao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học tuyển chọn tài năng thể thao
Tác giả: Nguyễn Ngọc Cừ
Năm: 1997
23. Trịnh Trung Hiếu, (1987) “Lý luận và phương pháp Giáo dục Thể dục thể thao”, NXB Thể dục thể thao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp Giáo dục Thể dục thể thao”
Nhà XB: NXB Thể dục thể thao
24. Trịnh Trung Hiếu, (1994) “ Phương pháp giảng dạy TDTT trong nhà trường”, NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy TDTT trong nhà trường
Nhà XB: NXB TDTT
25. Trịnh Trung Hiếu, (2001) “ Lý luận và phương pháp Giáo dục TDTT trong nhà trường”, NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp Giáo dục TDTT trong nhà trường
Nhà XB: NXB TDTT
26. Phạm Tuấn Phượng (1994) “ Đo đạt thể hình”, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo đạt thể hình
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
27. Trương Quốc Uyên, (2000) “ Chủ tịch Hồ Chí Minh với TDTT”, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với TDTT
Nhà XB: NXB TDTT Hà Nội
1. Bộ Giáo dục – Đào tạo, quyết định số 931/RLTC ngày 29 tháng 4 năm 1993. V/v ban hành qui chế về công tác giáo dục thể chất trong nhà trường các cấp Khác
2. Bộ Giáo dục – Đào tạo, thông tư số 11/TT GD-ĐT ngày 01 tháng 08 năm 1994 về công tác TDTT trong giai đoạn mới đối với ngành GDTC Khác
3. Bộ Giáo dục – Đào tạo, thông tư số 2869/GDTC về hướng dẫn chỉ thị 133/TTg ngày 04 tháng 5 năm 1995 Khác
4. Ban chấp hành TW Đảng khóa VIII năm 1996, về công tác giáo dục – đào tạo Khác
5. Công văn số 1290/CV-TDTT ngày 19/7/1991 của Bộ Văn hóa,TT, thể thao Khác
6. Chỉ thị số 17-CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Hà Nội ngày 23 tháng 10 năm 2002 Khác
7. Chỉ thị của Thủ Tướng chính phủ ngày 21/04/1997, về qui hoạch phát triển sự nghiệp TDTT ngành GD-ĐT thời kỳ 1996 – 2000 và định hướng đến 2010 Khác
8. Chỉ thị số 106-CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Hà Nội ngày 02 tháng 10 năm 1958 Khác
9. Chỉ thị số 112-CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Hà Nội ngày 13 tháng 01 năm 1960 Khác
10. Chỉ thị số 122- CT/TW của Hội đồng Bộ Trưởng về công tác TDTT, Hà Nội ngày 09 tháng 05 năm 1989 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w