1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của môi trường và stress đến một số chỉ tiêu huyết học của cá tra giống pangasianodon hypophthalmus

52 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Nghiên cứu “Ảnh hưởng của môi trường và stress đến một số chỉ tiêu huyết học cá Tra giống Pangasianodon hypophthalmus” được thực hiện nhằm mục tiêu xây dựng một số chỉ tiêu huy

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG VÀ STRESS ĐẾN

MỘT SỐ CHỈ TIÊU HUYẾT HỌC CỦA

CÁ TRA GIỐNG (Pangasianodon hypophthalmus)

ThS Đặng Thế Lực

AN GIANG, THÁNG 12 NĂM 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG VÀ STRESS ĐẾN

MỘT SỐ CHỈ TIÊU HUYẾT HỌC CỦA

CÁ TRA GIỐNG (Pangasianodon hypophthalmus)

ThS Đặng Thế Lực

AN GIANG, THÁNG 12 NĂM 2017

Trang 3

CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG

Đề tài nghiên cứu khoa học “Ảnh hưởng của môi trường và stress đến một số chỉ

tiêu huyết học cá Tra giống (Pangasianodon hypophthalmus)”, do tác giả Đặng

Thế Lực, công tác tại Phòng Công tác Sinh viên thực hiện Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày 29/12/2017

Thư ký

Phản biện 1

Chủ tịch Hội đồng

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

Để hoàn thành nghiên cứu này, tác giả đã nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình từ phía Ban Giám Hiệu, Khoa Nông Nghiệp – Tài nguyên thiên nhiên, các phòng ban chức năng, đặc biệt là Trại thủy sản trường Đại học An Giang

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể Bộ môn Thủy sản, Khoa Nông nghiệp – TNTN đã động viên, giúp đỡ về mặt chuyên môn trong thời gian thực hiện nghiên cứu, đặc biệt là thầy Lê Văn Lễnh

Xin gửi lời cảm ơn đến Hội đồng Khoa học của Trường Đại học An Giang đã đóng góp ý kiến để tôi có thể hoàn thiện nghiên cứu này

Cảm ơn các bạn sinh viên của lớp Đại học Nuôi trồng thủy sản khóa 14, Cao đẳng Nuôi trồng thủy sản khóa 39 đã hỗ trợ tôi hoàn thành nghiên cứu này

Đồng thời cũng gửi lời cảm ơn thành viên trong gia đình đã động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu

An Giang, ngày 29 tháng 12 năm 2017

Người thực hiện

Đặng Thế Lực

Trang 5

TÓM TẮT

Nghiên cứu “Ảnh hưởng của môi trường và stress đến một số chỉ tiêu huyết học

cá Tra giống (Pangasianodon hypophthalmus)” được thực hiện nhằm mục tiêu xây

dựng một số chỉ tiêu huyết học cơ bản (baseline) cho cá Tra giống, đồng thời áp dụng các thông số cơ bản làm tiền đề để chẩn đoán sức khoẻ cá Tra giống dựa trên

sự thay đổi nhiệt độ, độ mặn và thời gian gây stress khác nhau

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12/2016 đến tháng 10/2017 tại Trường Đại học

An Giang, số 18 Ung Văn Khiêm, phường Đông Xuyên, TP Long Xuyên, An Giang với 3 thí nghiệm khác nhau nhằm khảo sát sự biến động của các chỉ tiêu huyết học (Hb, Glucose và pH máu) ở các nhiệt độ và độ mặn khác nhau, ở các thời gian stress khác nhau, ở các điều kiện môi trường kết hợp thời gian stress khác nhau và khảo sát

sự tương quan giữa các chỉ tiêu máu ở các điều kiện khác nhau

Ở điều kiện bình thường, hàm lượng Hb trung bình dao động trong khoảng 4,36 – 4,90 g/dL, hàm lượng Glucose trung bình dao động trong khoảng 3,83 – 5,23 mmol/L và chỉ số pH máu trung bình dao động trong khoảng 7,73 – 8,20 Các chỉ tiêu Hb, Glucose và pH máu đều có biến động tăng giảm không định hướng khi nhiệt

độ tăng từ 24 đến 32 0

C Ở thời gian gây stress là 30 phút, chỉ có hàm lượng Glucose

bị tác động Đề tài tìm thấy có sự tương tác giữa 3 yếu tố: nhiệt độ, độ mặn và thời gian gây stress lên các chỉ tiêu huyết học Đặc biệt cho thấy rằng cá Tra giống có nguy cơ bị ảnh hưởng đến quá trình sinh lý chỉ sau thời gian gây stress là 5 phút ở nhiệt độ 24 0C, 32 0C cùng độ mặn là 6 và 12 ppt

Nghiên cứu tìm được sự tương quan thuận giữa hàm lượng Hb và Glucose trong máu Đồng thời cũng tìm ra được sự tương quan nghịch giữa hàm lượng Hb và độ

pH máu Qua kết quả thí nghiệm, sự biến động của các chỉ tiêu huyết học có thể được xem xét là cơ sở để chẩn đoán, xác định tình trạng sinh lý và sức khỏe của động vật thủy sản, đặc biệt là sức khỏe cá Tra giống

Từ khóa: cá Tra giống, Haemoglobin, Glucose, pH máu, stress

Trang 6

ABSTRACT

The study “Effects of the environment and stress on blood variables of Tra

catfish fingerlings (Pangasianodon hypophthalmus)” was carried out from

December 2016 to October, 2017 at An Giang University There were 3 experiments

to examine how some blood variables including Haemoglobin concentration, Glucose amd pH levels change in different conditions such as temperature, salinity, stress level, a combination of all factors Relationships between blood variables in

different environment were also determined

In normal condition, mean Hb concentration varied from 4.36 – 4.90 g/dL, mean Glucose levels varied from 3.83 – 5.23 mmol/L and mean pH level varied from 7.73 – 8.20 The concentration of Hb, Glucose and pH levels changed when temperature increased from 24 to 32 0C After chasing 30 minutes, there was only Glucose levels influenced This study found that there was an interaction between temperature, salinity and stress level on blood variables This pointed out that the physiology of Tra catfish fingerling could be affected after chasing 5 minutes at 24 0C, 32 0C in the

condition of 6 và 12 ppt

A positive correlation between Hb concentration and Glucose level and negative correlation between Hb concentration and pH level were found Results showed that changes in blood variables could be used to determine aquatic animal health and

physiological status, especially Tra catfish health

Keywords: Tra catfish, Haemoglobin, Glucose, pH, stress

Trang 7

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

An Giang, ngày 29 tháng 12 năm 2017

Người thực hiện

Trang 8

MỤC LỤC

CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG i

LỜI CẢM TẠ ii

TÓM TẮT iii

ABSTRACT iv

LỜI CAM KẾT v

MỤC LỤC vi

DANH SÁCH BẢNG viii

DANH SÁCH HÌNH ix

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 2

1.5.1 Đóng góp về mặt khoa học 2

1.5.2 Đóng góp công tác đào tạo 2

1.5.3 Đóng góp phát triển kinh tế xã hội 2

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.2 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.2.1 Phân loại, phân bố và môi trường sống của cá Tra 3

2.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 7

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

3.1 MẪU NGHIÊN CỨU 8

3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 8

3.3 CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU 8

3.4 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU 8

3.4.1 Bố trí thí nghiệm 8

Trang 9

3.4.2 Phương pháp tiến hành 10

3.4.3 Thu thập số liệu 11

3.5 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 11

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 12

4.1 HAEMOGLOBIN (Hb) 12

4.2 GLUCOSE MÁU 15

4.3 ĐỘ pH MÁU 19

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 25

5.1 KẾT LUẬN 25

5.2 KHUYẾN NGHỊ 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

PHỤ LỤC 1 30

PHỤ LỤC 2 40

Trang 10

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 9

Bảng 2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 9

Bảng 3: Biến động của chỉ tiêu Hb trong thí nghiệm 1 12

Bảng 4: Biến động hàm lƣợng Hb ở thí nghiệm 2 13

Bảng 5: Biến động hàm lƣợng Hb ở thí nghiệm 3 (trong cùng thời gian gây stress) 14 Bảng 6: Biến động hàm lƣợng Hb ở thí nghiệm 3 (thời gian gây stress khác nhau) 14 Bảng 7: Biến động hàm lƣợng Glucose ở thí nghiệm 1 15

Bảng 8: Biến động hàm lƣợng Glucose ở thí nghiệm 2 17

Bảng 9: Biến động hàm lƣợng Glucose ở thí nghiệm 3 (trong cùng thời gian gây stress) 18

Bảng 10: Biến động pH máu ở thí nghiệm 1 19

Bảng 11: Biến động pH máu ở thí nghiệm 2 20

Bảng 12: Biến động pH máu ở thí nghiệm 3 (trong cùng thời gian gây stress) 21

Bảng 13: Biến động pH máu ở thí nghiệm 3 (thời gian gây stress khác nhau) 21

Trang 11

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1: Biến động hàm lượng Hb ở thí nghiệm 1 13

Hình 2: Biến động hàm lượng Glucose ở thí nghiệm 1 16

Hình 3: Biến động độ pH ở thí nghiệm 1 20

Hình 4: Mối tương quan giữa hàm lượng Hb và Glucose ở thí nghiệm 1 (0h) 23

Hình 5: Mối tương quan giữa hàm lượng Hb và Glucose ở thí nghiệm 1 (1h) 23

Hình 6: Mối tương quan giữa hàm lượng Hb và pH máu ở thí nghiệm 3 24

Trang 12

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

Trang 13

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) hiẹ n đang đu ợc xuất khẩu sang nhiều quốc

gia trên thế giới và chủ yếu có nguồn gốc từ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (De Silva & Phu o ng, 2011) Tính đến tháng 11/2017, tổng sản lu ợng cá Tra ước tính đạt gần 1,8 tỷ USD, tăng gần 4% so với năm 2016 (Lê Hằng, 2017) Đây là một trong những ngành nghề đặc trưng của Đồng bằng sông Cửu Long, đem lại thu nhập chính cho người dân An Giang Tuy nhiên, trước thực tế của biến đổi khí hậu, sự nóng lên của môi trường cũng như quá trình xâm nhập mặn đã tác động không nhỏ đến quá trình nuôi cá Tra hiện nay

Nhiẹ t đọ gây ảnh hu ởng đến sự trao đổi chất ở đọ ng vạ t thủy sản; nhiẹ t đọ nu ớc ta ng trong giới hạn có thể làm ta ng cu ờng hoạt đọ ng trao đổi chất và ta ng tốc đọ ta ng tru ởng của cá; trong khi nhiẹ t đọ thấp thu ờng làm giảm hiẹ u suất (Kemp, 2009) Trong quá trình tiến hóa của cá, mỗi loài chỉ hoạt đọ ng tốt nhất trong mọ t giới hạn nhiẹ t đọ thích hợp, với hầu hết các loài cá nhiẹ t đới cho thấy cá phát triển tốt nhất ở khoảng nhiẹ t đọ từ 25 – 32 °C (Wright & Tobin, 2011)

Stress là hiẹ n tu ợng sinh l phổ biến ở cá và cũng nhu các loài sinh vạ t khác, để đáp ứng tru ớc những ảnh hu ởng, kích thích hay sự thay đổi của môi tru ờng nhằm tồn tại, duy trì các yếu tố cân bằng bên trong của co thể bằng cách chuyển đổi trạng thái, chức na ng sinh l và tạo ra mức na ng lu ợng cao để đáp ứng với những tác đọ ng từ bên ngoài (Fuzzen và cs., 2011) Sự thay đổi đọ mạ n của môi tru ờng sống là mọ t yếu

tố gây stress thu ờng xuyên và có khả na ng ảnh hu ởng đến nhiều quá trình sinh l ở

cá (Fashina-Bombata & Busari, 2003; Konstantinov & Martynova, 1993; Partridge

& Jenkins, 2002; Sink, 2010)

Tuy nhiên, có ít nghiên cứu về những biến đổi 1 số chỉ tiêu huyết học của cá Tra Chưa có nghiên cứu nào xây dựng được bộ chỉ tiêu huyết học tiêu chuẩn làm tiền đề

để đánh giá sức khoẻ của cá Chưa có nghiên cứu nào khảo sát sự biến động của các chỉ tiêu huyết học khi có sự tác động tổng hợp của yếu tố nhiệt độ và độ mặn cũng như các mức độ stress khác nhau ở cá Tra giống

Chính vì vậy, nghiên cứu “Ảnh hưởng của môi trường và stress đến một số chỉ

tiêu huyết học cá Tra giống (Pangasianodon hypophthalmus)” được thực hiện

nhằm bổ sung kiến thức về sức khoẻ của cá Tra giống, cũng như bước đầu đóng góp xây dựng một số chỉ tiêu máu cơ bản cho đối tượng cá Tra nhằm quản lý sức khoẻ cá

có hiệu quả và khoa học hơn

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Bước đầu xây dựng một số chỉ tiêu huyết học cơ bản (baseline) cho cá Tra giống

- Chẩn đoán sức khoẻ cá Tra giống dựa trên sự thay đổi của các chỉ tiêu huyết học ở các nhiệt độ, độ mặn và mức độ stress khác nhau

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Cá Tra có khối lượng trung bình 25,96 ± 0,67 g/con

Trang 14

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Khảo sát sự biến động của các chỉ tiêu huyết học (Hb, Glucose và pH máu) ở các nhiệt độ và độ mặn khác nhau

- Khảo sát sự biến động của các chỉ tiêu huyết học (Hb, Glucose và pH máu) ở các mức độ stress khác nhau

- Khảo sát sự biến động của các chỉ tiêu huyết học (Hb, Glucose và pH máu) ở các điều kiện môi trường kết hợp mức độ stress khác nhau

- Khảo sát sự tương quan giữa các chỉ tiêu máu (Hb, Glucose và pH máu) ở các điều kiện khác nhau

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

1.5.1 Đóng góp về mặt khoa học

Nghiên cứu là đóng góp quan trọng trong công tác chẩn đoán, phòng bệnh và đánh giá sức khoẻ của cá Tra giống

1.5.2 Đóng góp công tác đào tạo

Nghiên cứu đóng góp thêm khối kiến thức bổ sung quan trọng, mở ra hướng đi mới cho việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào việc chẩn đoán và đánh giá sức khoẻ động vật thuỷ sản trong môn học Bệnh học thuỷ sản, Sinh l động vật thuỷ sản và Miễn dịch học trong nuôi trồng thuỷ sản dành cho sinh viên Đại học và Cao Đẳng NTTS

1.5.3 Đóng góp phát triển kinh tế xã hội

Nghiên cứu là tiền đề cho việc triển khai áp dụng cách chăm sóc quản lý sức khoẻ cá Tra giống mang tính khoa học và hiện đại hơn trong tương lai

Trang 15

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu về ảnh hưởng của môi trường và stress đến một số chỉ tiêu huyết học của đối tượng nuôi trồng thủy sản là vấn đề mới hiện nay Nghiên cứu với mục đích bổ sung kiến thức về sức khỏe của cá Tra và bước đầu xây dựng nên một số chỉ tiêu huyết học cơ bản cho cá Tra nhằm quản lý sức khỏe cá có hiệu quả và khoa học

2.2 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phân loại, phân bố và môi trường sống của cá Tra

Tên tiếng Việt: cá Tra

Tên đồng danh:

Helicophagus hypophthalmus (Sauvage, 1878)

Pangasius sutchi (Fowler, 1937)

2.2.1.2 Phân bố, môi trường sống

Họ Pangasiidae phân bố ở lưu vực sông Mekong gồm 4 nước Lào, Việt Nam, Campuchia và Thái Lan Cá Tra xuất hiện trên lưu vực sông Mekong và Chao Phraya ở Thái Lan (Roberts & Vidthayanon, 1991)

Theo Ủy hội sông Mekong (MRC) (2005), trong tự nhiên có ít nhất 2 quần thể cá Tra riêng biệt:

- Một quần thể ở thượng lưu sông Mekong phân bố kéo dài từ sông Lô-ây (Thái Lan) ngược lên biên giới giữa Trung Quốc và Myanmar

- Một quần thể lớn hơn ở hạ lưu sông và là nguồn cung cấp quan trọng cho nghề đánh cá ở đây Nó kéo dài từ Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam vào hệ thống sông Tonle Sap – Biển Hồ, và đi xa đến tận thác Khône

Cá Tra có cơ quan hô hấp khí trời nhưng không bắt buộc (Browman & Kramer, 1985 được trích dẫn bởi Cacot, 1999; Lefevre và cs., 2011) Cá chịu đựng được điều kiện môi trường khắc nghiệt, dơ bẩn và mật độ cao Ngưỡng oxy của cá Tra giống (15 –

20 g/con) là 0,78 mg/L (Lương Thị Diễm Trang, 2009) Tuy nhiên, cá thích sống ở

Trang 16

vùng nước sâu và chảy Cá Tra sống chủ yếu ở nước ngọt, chịu được nước lợ nhẹ (độ mặn dưới 10 ppt), chịu đựng được nước phèn có pH > 4 (Phạm Văn Khánh, 2003) Theo Do và cs (2008), cá Tra giống (12 – 15 g) có thể sống được ở độ mặn 12 ppt nhưng sinh trưởng cũng như yếu tố sinh lý của cá tốt nhất ở 9 ppt Như vậy, cá Tra

có thể nuôi ở môi trường nước lợ nhẹ; và thực tế cá Tra có thể nuôi thương phẩm ở những vùng đã bắt đầu nhiễm mặn ở ĐBSCL (Sóc Trăng, Bến Tre và Trà Vinh) (Nguyễn Thanh Phương và cs., 2012)

2.2.2 Một số chỉ tiêu huyết học của động vật thủy sản

2.2.2.1 Huyết sắc tố haemoglobin (Hb)

Hb là một protein phức tạp gồm một phân tử globin (96%) kết hợp với 4 phân tử Heme (4%) Haemoglobin chiếm 90% trọng lượng chất khô của hồng cầu và làm cho hồng cầu có màu đỏ (Nguyễn Văn Tư, 2005)

Theo Nguyễn Văn Tư (2005), quan hệ giữa hàm lượng Hb và tính hoạt động của cá nước ngọt không rõ ràng Tuy nhiên hàm lượng Hb của cá nước ngọt biểu hiện sự khác nhau rõ rệt theo phái tính: cá đực luôn luôn có hàm lượng Hb cao hơn cá cái; ngoài ra hàm lượng Hb còn liên quan tới độ thành thục của tuyến sinh dục

Hàm lượng Hb trong máu được xem là chỉ tiêu đánh giá khả năng mang và vận chuyển oxy cho máu, là yếu tố giúp đánh giá khả năng của cá đảm bảo được lượng oxy cần thiết cho cơ thể cũng như giúp chẩn đoán được tình trạng sức khoẻ và sinh

lý ở cá, đặc biệt là bệnh thiếu máu ở cá (Houston, 1997)

Dựa vào hàm lượng Hb có thể xác định được tình trạng thiếu oxy trong cơ thể cá Cá sống ở vùng nước thiếu oxygen thì có hàm lượng Hb cao hơn cá sống ở vùng giàu oxygen, cá có cơ quan hô hấp phụ thì có hàm lượng Hb cao hơn cá thở bằng oxygen trong nước (Nguyễn Văn Tư, 2005)

2.2.2.2 Hàm lượng đường glucose

Hàm lượng đường Glucose trong máu là thành phần chủ yếu trong huyết tương Hàm lượng đường ở cá biến đổi khá lớn tùy theo điều kiện cơ thể và môi trường Hàm lượng đường trong máu cá sụn thấp Hàm lượng đường trong máu cá xương biển có liên hệ đến tập tính của cá: cá hoạt động chậm chạp có lượng đường huyết thấp, cá hoạt động mạnh có lượng đường huyết cao Khi lượng đường huyết của cá hoạt động tương đối mạnh giảm xuống thì cá hoạt động chậm chạp, còn ở cá có tập tính hoạt động chậm chạp thì hàm lượng đường bị ảnh hưởng không rõ rệt (Nguyễn Văn Tư, 2005)

Hàm lượng đường trong máu thay đổi tùy theo trạng thái sinh lý của cá như cá tăng vận động thì lượng đường trong máu tăng lên Điều kiện môi trường ngoài không thuận lợi như thiếu oxy, chấn thương do hoạt động cơ học, dồn ép cá trong khối nước chật hẹp… cũng làm tăng lượng đường trong máu (Nguyễn Văn Tư, 2005)

Ở các loài cá nước ngọt, sự quan hệ giữa lượng đường máu và tập tính hoạt động không rõ rệt nhưng có sự khác nhau giữa giống loài Hàm lượng đường trong máu thay đổi tùy theo trại thái sinh lý của cá như cá tăng vận động thì lượng đường trong máu tăng lên và ngược lại Tuy nhiên, khi cá hoạt động đến một mức độ nào đó, hàm lượng đường trong máu sẽ giảm (Nguyễn Văn Tư, 2005)

2.2.2.3 Độ pH máu

Độ pH của máu cá cũng là một chỉ tiêu sinh lý quan trọng phản ánh trạng thái sinh lý của cơ thể và sự biến động của môi trường sống của cá pH của máu lệ thuộc vào tỷ

Trang 17

lệ ion H+ và OH- trong máu Trị số trung bình của máu cá thay đổi vào khoảng 7,52 – 7,71, không ổn định bằng động vật hữu nhũ (Nguyễn Văn Tư, 2005)

Khi máu biến động pH thiên về acid hoặc kiềm đều làm cho hoạt tính của của hệ thống enzyme trong tế bào bị ảnh hưởng, đồng thời tính chất lý hóa học của các chất trong tế bào cũng bị thay đổi do đó ảnh hưởng đến chức năng bình thường của cơ thể một cách rõ rệt (Nguyễn Văn Tư, 2005)

Trị số pH của máu cá biển tương đối ổn định hơn cá nước ngọt mặc dù hàm lượng

các chất đệm trong máu cá biển ít hơn cá nước ngọt là do nước biển có hệ thống đệm khá hoàn chỉnh nên pH môi trường tương đối ổn định trong khi nồng độ ion H+ trong nước ngọt thay đổi rất lớn theo thời gian và địa điểm Do đó, cá sống ở nước ngọt thích nghi mạnh đối với sự thay đổi pH của môi trường hơn cá sống ở biển (Nguyễn Văn Tư, 2005)

2.2.3 Tổng quan nghiên cứu về chỉ tiêu máu trong và ngoài nước

2.2.1.1 Trong nước

Nguyễn Loan Thảo và cs (2013) đã thử nghiệm ảnh hưởng của độ mặn lên sự tăng trưởng của cá Tra giống Kết quả cho thấy cá sống trong độ mặn từ 2 - 10 ppt có tỷ lệ sống cao nhất Tuy nhiên trong điều kiện độ mặn cao (từ 14 - 18p ppt) cá có sức tăng trưởng và tỷ lệ sống thấp nhất Nghiên cứu cũng cho thấy hàm lượng cortisol trong máu tăng cao khi độ mặn tăng Khi sinh vật bị stress, vỏ thượng thận tiết ra cortisol, kích thích chuyển hoá glycogen trong các cơ quan thành glucose trong huyết tương Hàm lượng glucose trung bình là 25,2 mg/100 mL Cá trong các bể có nhiệt độ tăng thì hàm lượng glucose trong huyết tương tăng cao Sau 14 ngày, hàm lượng glucose trong huyết tương dao động từ 24,9 - 33,0 mg/100 mL Nguyễn Chí Lâm (2010) cũng đã cho thấy sự thích ứng và tăng trưởng của cá Tra giống ở các độ mặn khác nhau và cho thấy rằng tỷ lệ sống của cá Tra giống đạt 93% ở 3 ppt và tỷ lệ sống chỉ còn đạt 75% ở 15 ppt

Nhiệt độ là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và sức khoẻ của

cá Tra Theo thí nghiệm của Phan Vĩnh Thịnh và cs (2014), cá Tra giống được bố trí

ở 6 mức nhiệt độ (24, 30, 32, 34 và 360

C) với nghiệm thức đối chứng được kiểm soát

ở 26 - 280C Cá được thu mẫu máu để phân tích hàm lượng glucose và cortisol Sau

14 ngày thí nghiệm cho thấy cá bị stress khi nhiệt độ tăng lên 360C và khi nhiệt độ hạ thấp 240C Hàm lượng glucose dao động từ 23,8 đến 34,3 mg/100mL Nghiên cứu đã đưa ra kết luận nhiệt độ thấp cá tăng trưởng kém còn nhiệt độ cao kích thích cá tăng trưởng nhanh Tuy nhiên khi nhiệt độ quá cao sẽ gây stress cho cá vì làm ức chế quá trình sinh trưởng và phát triển bình thường của cá Nghiệm thức từ 28 - 300

C không cho thấy được sự khác biệt thống kê ở các chỉ tiêu phân tích

Hàm lu ợng cortisol trong huyết tu o ng thu ờng đu ợc sử dụng để đánh giá khả na ng chịu đựng stress của nhiều loài cá nuôi Ở Đồng bằng sông Cửu Long, cá tra đu ợc

vạ n chuyển từ ao u o ng đến ao nuôi thu o ng phẩm bằng ghe, cá bị stress tùy theo thời gian vạ n chuyển Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Hà & Đỗ Thị Thanh Hương (2014), các chỉ số huyết học, hàm lu ợng cortisol và glucose của cá đu ợc đo ở thời gian vạ n chuyển 2, 4 và 6 giờ trong điều kiẹ n thực tế và mô phỏng trong phòng thí nghiẹ m Máu cá đu ợc thu tại thời điểm cá đu ợc giữ trong lu ới tại ao, trong sọt, 1,

3 và 5 giờ trong ghe và trong sọt (tru ớc khi thả xuống ao nuôi) Kết quả cho thấy, trong điều kiẹ n thực tế hàm lu ợng cortisol và glucose của cá biến đọ ng từ 170 ng/ml đến 249 ng/ml và 60mg/100 mL đến 110 mg/100 mL Hàm lu ợng cortisol của cá

ta ng có nghĩa khi cá ở trong sọt khi vạ n chuyển 4 giờ và 6 giờ (p<0,05) Trong điều

Trang 18

kiẹ n phòng thí nghiẹ m, thời gian vạ n chuyển 4 và 6 giờ, hàm lu ợng cortisol máu cá ở

mạ t đọ 4.000 con/m3 cao ho n có nghĩa (p<0,05) so với mạ t đọ 3.000 con/m3 Sau 1 ngày, chỉ tiêu này vẫn còn cao cho thấy khi vạ n chuyển mạ t đọ cao thì cá bị stress nhiều ho n và phục hồi chạ m ho n

Ở các loài cá khác, độ mặn và nhiệt độ cũng được xem là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cá Lam Mỹ Lan và cs (2014) đã xem xét ảnh hưởng của độ mặn lên khả năng điều hoà áp suất thẩm thấu và tăng

trưởng của cá Leo (Wallago attu) Kết quả cho thấy áp suất thẩm thấu và nồng độ ion

Na+ và K+ trong huyết tương của cá Leo tương đối ổn định ở môi trường nước có độ mặn từ 0 - 9 ppt Tăng trưởng của cá Leo cao nhất ở 0 ppt và tỷ lệ sống cao nhất ở 3

ppt Ở cá Lóc (Channa striata), Đỗ Thị Thanh Hương & Lê Trần Tường Vi (2013)

đã tiến hành khảo sát ảnh hưởng của hàm lượng Nitrit lên số lượng hồng cầu, hematocrit và haemoglobin Kết quả cho thấy các chỉ tiêu huyết học tỷ lệ nghịch với mức tăng cao của hàm lượng Nitrit Sau 90 ngày nuôi, tăng trưởng của cá giảm đáng

kể, đồng thời tỷ lệ sống thấp hơn có nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng

2.2.1.2 Ngoài nước

Các chỉ tiêu huyết học ở cá đã được quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây Dựa vào các chỉ tiêu huyết học có thể đánh giá được sức khoẻ của cá và làm cơ sở cho việc chẩn đoán và phòng bệnh cho cá nuôi (Dang, 2015) Có nhiều nghiên cứu

đã khẳng định được mối liên hệ giữa các chỉ tiêu huyết học khi cá bị stress (Grutter

& Pankhurst, 2000; Meka & McCormick, 2005) Khi động vật thuỷ sản bị stress, lactate được sản xuất bởi quá trình trao đổi chất kỵ khí Nồng độ lactate thay đổi là dấu hiệu cho thấy cá bị stress hoặc rối loạn sinh lý (Pickering và cs., 1982) Theo Barton (2002), phản ứng của động vật thuỷ sản khi bị stress gồm có sự sản sinh hormone dẫn đến nồng độ glucose và lactate cũng như các chỉ tiêu miễn dịch trong

cơ thể động vật thay đổi Một số nghiên cứu cho thấy nồng độ glucose, lactate và cortisol thay đổi khi cá bị stress còn phụ thuộc vào kích cỡ cá (Grutter & Pankhurst, 2000; Meka & McCormick, 2005)

Những nghiên cứu đầu tiên về chỉ tiêu huyết học ở cá được thực hiện chủ yếu trên cá ngừ vi xanh Nghiên cứu của Thomas và cs (2003) khẳng định các chỉ tiêu huyết học

có thể dùng để đánh giá tình trạng sức khoẻ của cá Cụ thể sự thay đổi của nồng độ glucose, lactate và pH của huyết tương là những dấu hiệu cho thấy cá bị stress Kirchhoff và cs (2011) đã chứng minh rằng cá ngừ nuôi trong lồng bè có hàm lượng glucose cao hơn 30% so với cá ngừ ngoài tự nhiên do cá trong lồng bè có khả năng stress cao

Ở cá ngừ, hàm lượng Hb phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian nuôi giữ trong lồng bề hay khả năng chịu đựng ký sinh trùng của cá (Kirchhoff và cs., 2011; Kirchhoff và cs., 2014) Hàm lượng Hb của cá ngừ dao động từ 22,29 đến 28,68 g/dL trong thời gian năm 2010 đến 2012 (Kirchhoff và cs., 2014) Mansel và cs (2005) đã tìm thấy được hàm lượng Hb của cá kingfish bị tác động bởi ký sinh trùng

trên mang cá (Zeuxapta seriolae) và loài k sinh này đã gây ra hiện tượng thiếu máu

ở cá Từ hiện tượng ấy, cá bị stress và dẫn đến hàm lượng lactate bị thay đổi

Dang (2015) đã tìm thấy mối tương quan giữa các chỉ tiêu huyết học khác nhau trên

cá ngừ vi xanh Cụ thể có mối tương quan thuận giữa hàm lượng Hb và glucose trong huyết tương Hàm lượng glucose lại tỷ lệ nghịch với nồng độ pH trong huyết tương của cá ngừ được nuôi lồng thu hoạch năm 2014 Bên cạnh đó, hàm lượng Hb

được tìm thấy là có mối tương quan nghịch với số lượng đĩa hút máu cá Cardicola

forsteri trong tim cá ngừ với r = -0,260 (p<0,05) Như vậy một lần nữa, các nghiên

Trang 19

cứu góp phần khẳng định, khi cá bị ký sinh trùng, hay stress, các chỉ tiêu huyết học

sẽ thay đổi Chính vì vậy, xem xét các chỉ tiêu huyết học sẽ góp phần quan trọng trong công tác chẩn đoán và phòng bệnh trên động vật thuỷ sản

2.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Thông qua sự biến đổi các yếu tố nhiệt độ và độ mặn, sức khoẻ của cá Tra giống biến đổi như thế nào? Nếu có sự tác động tổng hợp của nhiệt độ, độ mặn và stress thì sức khoẻ cá bị ảnh hưởng ra sao?

Trang 20

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 MẪU NGHIÊN CỨU

- Cá Tra giống (25,96 ± 0,67 g/con) được mua ở xã Tân Hội Trung, Cao Lãnh, Đồng Tháp và được thuần hoá trước khi bố trí thí nghiệm Cá khoẻ mạnh, màu sắc tươi sáng tự nhiên, không xây xát, không có dấu hiệu bệnh

- Thức ăn được sử dụng là thức ăn viên công nghiệp và cho ăn theo nhu cầu trong suốt thời gian bố trí thí nghiệm

3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

- Thời gian: Từ tháng 12/2016 đến tháng 10/2017

- Địa điểm: Trại thực nghiệm Thủy sản và Phòng thí nghiệm Bệnh học Thủy sản, Trường Đại học An Giang, số 18 Ung Văn Khiêm, phường Đông Xuyên, TP Long Xuyên, An Giang

3.3 CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU

Hệ thống bể: 27 thùng nhựa 80 L, bể chứa nước ngọt, bể chứa nước ót

Nước ngọt (nước máy sinh hoạt đã loại bỏ Chlorine)

Nước ót (đã qua xử lý Chlorine)

Ống Vacutainer®

, ống kim tiêm

Thiết bị đo Hb, thiết bị đo glucose (ACON, Mỹ)

Một số dụng cụ và trang thiết bị khác như: vợt vớt cá, găng tay, thau, xô, dụng cụ dùng để siphon thùng, máy bơm nước, máy phát điện…

Thức ăn cho cá: sử dụng thức ăn công nghiệp 40% đạm trong suốt quá trình nghiên cứu

3.4 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU

3.4.1 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm 1

Khảo sát sự ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn đến một số chỉ tiêu huyết học cá Tra

(Pangasianodon hypophthalmus) được bố trí với 27 nghiệm thức khác nhau và 3 lần

lặp lại theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên ở mật độ 30 con/bể Thí nghiệm gồm

có 2 nhân tố: nhiệt độ (24 °C, 28 – 30 °C và 34°C) và độ mặn (0 ppt, 6 ppt và 12 ppt) Sơ đồ bố trí thí nghiệm được thể hiện ở bảng 1 Nhiệt độ đối chứng được duy trì ở 28 – 30 °C

Các bước tiến hành như sau:

1 Thuần cá Tra giống đến mức độ mặn cần thiết từ 0 ppt đến 6 ppt và 12 ppt Mỗi ngày không nâng quá 2 ppt Phương pháp nâng độ mặn: sử dụng nước ót mua từ thị trường và pha loãng với nước ngọt

2 Sau khi cá đã được thuần ở độ mặn cần thiết thì giữ cá trong 24h để ổn định

Trang 21

3 Tiến hành điều chỉnh nhiệt độ ở 24 °C, 28 - 30 °C (đối chứng - ĐC) và 34 °C Mỗi lần nâng hoặc hạ nhiệt độ không quá 2°C trong khoảng thời gian từ 2 – 3 giờ Sử dụng heater để giữ nhiệt độ ổn định

4 Sau khi đạt đến mức nhiệt độ cần thiết, tiến hành thu ngẫu nhiên 3 con/bể để gây

mê tại thời điểm 0 giờ, 1 giờ và 24 giờ Sau khi toàn bộ mẫu cá hoàn toàn được gây

mê, lấy mẫu để thu máu

5 Mẫu máu được trữ lạnh bằng đá lạnh trước khi tiến hành ly tâm và phân tích mẫu

Khảo sát sự ảnh hưởng của stress đến một số chỉ tiêu huyết học cá Tra

(Pangasianodon hypophthalmus) giống được bố trí với mật số 30 con/bể với 9

nghiệm thức khác nhau và 3 lần lặp lại theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên Cá sẽ được gây stress bằng cách dùng vợt rượt đuổi cá (chasing method) theo phương pháp của Lopez-Patino và cs (2014) trong các khoảng thời gian khác nhau: 5, 15 và 30 phút Trước khi tiến hành gây stress, tiến hành thu mẫu ngẫu nhiên 3 con để lấy máu làm nghiệm thức đối chứng Sau đó, tại các điểm thời gian gây stress là 5, 15 và 30 phút, tiến hành thu 3 con/bể để gây mê và lấy máu

Bảng 2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2

NT 1.1 NT 3.1 NT 3.2

NT 3.3 NT 2.1 NT 2.3

NT 1.3 NT 2.2 NT1.2

Trang 22

Ghi chú: NT 1: nghiệm thức cá được gây stress trong thời gian 5 phút; NT 2: nghiệm thức cá được gây stress trong thời gian 15 phút; NT 3: nghiệm thức cá được gây stress trong thời gian 30 phút

Thí nghiệm 3:

Khảo sát sự biến động của các chỉ tiêu huyết học ở điều kiện môi trường khác nhau kết hợp các thời gian gây stress khác nhau được bố trí với mật số 30 con/bể với 9 nghiệm thức khác nhau và 3 lần lặp lại Cá sẽ được thuần hoá tương tự thí nghiệm 1

và bao gồm các nghiệm thức sau:

1 Nghiệm thức A có độ mặn 0 ppt và nhiệt độ ĐC (28 - 30 0C) Nghiệm thức con A5, A15 và A30 được xây dựng dựa trên thời gian stress đối với nghiệm thức A là 5 phút, 15 phút và 30 phút

2 Nghiệm thức B có độ mặn 6 ppt và nhiệt độ ĐC (28 - 30 0C) Nghiệm thức con B5, B15 và B30 được xây dựng dựa trên thời gian stress đối với nghiệm thức B là 5 phút, 15 phút và 30 phút

3 Nghiệm thức C có độ mặn 12 ppt và nhiệt độ ĐC (28 - 30 0C) Nghiệm thức con C5, C15 và C30 được xây dựng dựa trên thời gian stress đối với nghiệm thức C là 5 phút, 15 phút và 30 phút

4 Nghiệm thức D có độ mặn 0 ppt và nhiệt độ 24 0C Nghiệm thức con D5, D15 và D30 được xây dựng dựa trên thời gian stress đối với nghiệm thức D là 5 phút, 15 phút và 30 phút

5 Nghiệm thức E có độ mặn 6 ppt và nhiệt độ 24 0C Nghiệm thức con E5, E15 và E30 được xây dựng dựa trên thời gian stress đối với nghiệm thức E là 5 phút, 15 phút

8 Nghiệm thức H có độ mặn 6 ppt và nhiệt độ 34 0C Nghiệm thức con H5, H15 và H30 được xây dựng dựa trên thời gian stress đối với nghiệm thức H là 5 phút, 15 phút và 30 phút

9 Nghiệm thức I có độ mặn 12 ppt và nhiệt độ 34 0C Nghiệm thức con I5, I15 và I30 được xây dựng dựa trên thời gian stress đối với nghiệm thức I là 5 phút, 15 phút

và 30 phút

Sau khi đạt được độ mặn và nhiệt độ cần thiết, tiến hành gây stress tương tự nghiệm thức 2 trong các khoảng thời gian khác nhau: 5, 15 và 30 phút Tại các điểm thời gian gây stress cần thiết, tiến hành thu ngẫu nhiên 3 con/bể để gây mê và lấy máu tương tự ở thí nghiệm 1 và 2

3.4.2 Phương pháp tiến hành

3.4.2.1 Chuẩn bị bể

Trước khi bố trí thí nghiệm, hệ thống bể ương được rửa sạch và phơi khô trước khi

tiến hành bố trí thí nghiệm

Trang 23

3.4.2.2 Chuẩn bị cá thí nghiệm

Nguồn gốc cá thí nghiệm: cá được mua từ trại giống ở xã Tân Hội Trung, Cao Lãnh, Đồng Tháp có khối lượng (25,96 ± 0,67 g/con) trữ trong bể bạt cho cá ổn định thì tiến hành bố trí Cá bố trí phải đảm bảo là cá khoẻ mạnh, có màu sắc tươi sáng tự nhiên, không xây xát và không có dấu hiệu bệnh

3.4.2.4 Phương pháp lấy mẫu máu:

Trước khi phân tích mẫu, cá được gây mê bằng dung dịch MS-222 với nồng độ 0,3 ppm Máu cá được thu bằng kim tiêm ở động mạch chủ đuôi Mỗi mẫu gồm có 2 mL máu và được chứa trong ống Vacutainer®

(BD, USA) có chứa chất chống đông máu heparin

Tất cả mẫu máu sẽ được trữ lạnh với đá trước khi tiến hành phân tích

Tất cả các chỉ tiêu máu phải đảm bảo đạt được phân phối chuẩn trước khi tiến hành phân tích và được thử bởi phương pháp thử Levene Sự khác biệt giữa các nghiệm thức được kiểm chứng bởi phép thử Duncan

Trang 24

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 HAEMOGLOBIN (Hb)

Kết thúc thí nghiệm 1, chỉ tiêu Hb trong máu cá có sự biến đổi Hàm lượng Hb trung bình trong điều kiện môi trường bình thường dao động trong khoảng 4,36 – 4,90 g/dL Kết quả thống kê cho thấy, có sự tương tác giữa nhiệt độ và độ mặn lên sự biến động của chỉ tiêu Hb Chỉ tiêu Hb biến động lớn qua các thời điểm thu mẫu từ 2,90 ± 0,10 g/dL đến 6,03 ± 0,45 g/dL, và không ổn định trong các lần thu mẫu ở các nghiệm thức từ 0 giờ, 1 giờ và 24 giờ, thể hiện ở bảng 3 Điều này có thể giải thích bởi sự tác động tương tác cùng lúc của nhiệt độ và độ mặn ở các thời điểm khác nhau gây ra

Bảng 3: Biến động của chỉ tiêu Hb trong thí nghiệm 1

Hàm lượng Hb trong thí nghiệm 1 cho thấy sự biến động lớn khi có sự thay đổi về điều kiện môi trường Hàm lượng Hb trung bình trong nghiệm thức đối chứng ở điều kiện bình thường là 4,36 g/dL đã bị tăng vọt đến 6,03 g/dL khi nhiệt độ giảm còn 24

0

C sau 24 giờ Tuy nhiên, khi xét trong cùng mức nhiệt độ, hầu hết hàm lượng Hb giảm ở thời điểm 0 giờ, sau 1 giờ và 24 giờ Hàm lượng Hb giảm nhiều nhất được tìm thấy ở nhóm nghiệm thức có nhiệt độ 24 0C (giảm từ 6,03 còn 3,26 g/dL)

Khi xét trong cùng độ mặn, hàm lượng Hb tăng liên tục khi nhiệt độ tăng từ 24 0C đến 34 0

C ở 0 ppt ở thời điểm 0 giờ (tăng từ 3,33 đến 4,85 g/dL), sau 1 giờ (tăng từ 3,33 đến 4,90 g/dL) và ở 12 ppt sau 24 giờ (tăng từ 3,26 đến 4,86 g/dL) Riêng ở độ mặn 0 ppt, sau 24 giờ, hàm lượng Hb giảm khi nhiệt độ tăng lên (giảm từ 6,03 còn 4,20 g/dL) Các nghiệm thức còn lại, hàm lượng Hb có sự biến động không rõ rệt, tuy nhiên khi nhiệt độ tăng lên 34 0C, hàm lượng này đều cao hơn khi so sánh ở nhiệt

độ 24 0

C

T24.0 3,33 ± 0,35ab 3,33 ± 0,35ab 6,03 ± 0,45dT24.6 2,90 ± 0,10a 3,46 ± 0,45abc 3,36 ± 0,15abT24.12 3,10 ± 0,30a 3,16 ± 0,32a 3,26 ± 0,35abTĐC.0 4,36 ± 0,65bc 4,16 ± 0,25c 4,90 ± 0,10cTĐC.6 3,66 ± 0,85ab 3,93 ± 0,35bc 2,90 ± 0,10aTĐC.12 3,86 ± 0,85ab 4,10 ± 0,40c 4,76 ± 1,15cT34.0 4,85 ± 0,55c 4,90 ± 0,45d 4,20 ± 0,20bcT34.6 3,30 ± 0,40ab 3,30 ± 0,30ab 4,25 ± 0,45bcT34.12 3,70 ± 0,50ab 3,63 ± 0,45abc 4,86 ± 0,95c

Ghi chú: Các chữ cái trên cùng một cột khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống

kê (p < 0,05)

Trang 25

Trong thực tế, nếu hàm lượng Hb của cá tăng cao có thể là do cá bị thiếu oxy Khi cá

bị thiếu oxy, cá tăng cường hô hấp để cung cấp oxy cho cơ thể từ đó chúng huy động một lượng lớn Hb có trong cơ thể để kết hợp với oxy và mang oxy tới những cơ quan cần thiết Chính vì thế, hàm lượng Hb cao hơn mức bình thường Tuy nhiên, khi hàm lượng Hb của cá thấp hơn mức bình thường có thể chẩn đoán tình trạng sinh l của

cá bị thiếu máu hoặc cá bị nhiễm k sinh trùng Như vậy có thể chẩn đoán rằng, với

sự thay đổi hàm lượng Hb trong thí nghiệm 1, cá đã có sự điều chỉnh chức năng sinh

l trong cơ thể để đáp ứng sự thay đổi của điều kiện môi trường Bất kỳ sự thay đổi

về nhiệt độ hay độ mặn đều sẽ có sự tác động đến hàm lượng Hb của cá Tra

Nghiệm thức Hàm lượng Hb (g/dL) Min - Max

Đối chứng 4,33 ± 0,65a 3,70 - 5,00

NT1 3,88 ± 1,49a 3,00 – 5,60

NT2 3,94 ± 0,45a 3,50 – 4,40

NT3 3,51 ± 0,38a 3,20 – 3,93

Trang 26

Ở thí nghiệm 3, kết quả thí nghiệm cho thấy có sự tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường và stress đến sự biến động hàm lượng Hb trong máu cá Hàm lượng này thay đổi từ 2,97 – 6,45 g/dL Hàm lượng Hb cao nhất (6,45  0,35 g/dL) được tìm thấy ở nghiệm thức 24 0C, độ mặn 12 ppt và sau thời gian gây stress là 15 phút Ngược lại, hàm lượng Hb thấp nhất (2,97  0,06) tìm thấy ở nghiệm thức đối chứng,

độ mặn 12 ppt và sau thời gian gây stress 15 phút

Bảng 5: Biến động hàm lượng Hb ở thí nghiệm 3 (trong cùng thời gian gây stress) Nghiệm thức 5 phút 15 phút 30 phút

Hb ở nghiệm thức B tăng cao nhất (6,40  0,20 g/dL) và thấp nhất là ở nghiệm thức

E (2,97  0,06 g/dL) Hàm lượng Hb ở các nghiệm thức khác nhau có nghĩa thống

kê (p<0,05) khi so sánh trong cùng một thời gian gây stress

Ở các mức thời gian gây stress khác nhau, kết quả thống kê xác định có sự khác biệt nghĩa ở các nghiệm thức B (nhiệt độ đối chứng, 6 ppt), nghiệm thức C (nhiệt độ đối chứng, 12 ppt) và nghiệm thức F (24 0

C, 12 ppt) sau thời gian gây stress 30 phút Trong đó, hàm lượng Hb ở nghiệm thức A và B có chiều hướng tăng (khoảng 50%)

và ở nghiệm thức F giảm (khoảng 5%) (Bảng 6) Điều này cho thấy rằng, sau thời gian gây stress 30 phút, hàm lượng Hb bắt đầu có sự thay đổi rõ rệt

Bảng 6: Biến động hàm lượng Hb ở thí nghiệm 3 (thời gian gây stress khác nhau)

Ngày đăng: 08/03/2021, 16:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w