TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GIÁ THỂ LÊN CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ LÓC Channa striata NUÔI TRONG HỆ THỐNG TUẦN H
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GIÁ THỂ LÊN CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA
CÁ LÓC (Channa striata) NUÔI TRONG HỆ
THỐNG TUẦN HOÀN
Ths PHAN THỊ THANH VÂN
AN GIANG TH NG NĂM 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI GIÁ THỂ LÊN CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA
CÁ LÓC (Channa striata) NUÔI TRONG HỆ
THỐNG TUẦN HOÀN
Ths PHAN THỊ THANH VÂN
AN GIANG, TH NG NĂM 2018
Trang 3CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Đề tài nghiên cứu khoa học “Ảnh hưởng của các loại giá thể lên chất lượng nước
và tăng trưởng của cá Lóc (Channa striata) nuôi trong hệ thống tuần hoàn” do
tác giả Phan Thị Thanh Vân, công tác tại Khoa Nông nghiệp – Tài nguyên Thiên nhiên thực hiện Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày 28 tháng 3 năm 2018
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Chủ nhiệm đề tài chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu, Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác Quốc tế, Phòng Kế hoạch – Tài vụ, Ban chủ nhiệm Khoa Nông nghiệp - Tài nguyên Thiên nhiên Phòng thí nghiệm, Bộ môn Thủy Sản, của Trường Đại học An Giang đã hỗ trợ và tạo mọi điều kiện cho việc thực hiện đề tài này
An Giang, ngày 7 tháng 3 năm 2018
Người thực hiện
Phan Thị Thanh Vân
Trang 5Cá Lóc dùng cho thí nghiệm có kích cỡ 6,77±0,04 g/con Cá được cho ăn bằng thức ăn công nghiệp 40% đạm Sau 12 tuần thí nghiệm, các yếu tố môi trường đều nằm trong khoảng thích hợp cho sự sinh trưởng của cá Ở đợt thu mẫu cuối, TAN của nghiệm thức sử dụng giá thể MBBR Carrier có thấp hơn hai nghiệm thức còn lại (4,21±0,31 mg/L), nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Nồng độ NO3- của nghiệm thức sử dụng giá thể MBBR Carrier cao hơn hai nghiệm thức còn lại (3,65±0,17 mg/L), tuy nhiên khác biệt không có ý nghĩa thống
kê (p>0,05) Tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng của cá giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Tỷ lệ sống của cá đạt 98,89% - 100% Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng (DWG) ở các nghiệm thức sử dụng giá thể Kaldnes, MBBR Carrier và RK BioElements lần lượt là 2,98±0,01, 3,07±0,02 và 3,02±0,02 g/ngày Tốc độ tăng trưởng tuơng đối về khối lượng (SGRW) ở các nghiệm thức lần lượt là 3,38, 3,57 và 3,49 %/ngày Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) trong thí nghiệm dao động từ 1,22 đến 1,23 Ở nghiệm thức sử dụng giá thể MBBR Carrier có tốc độ tăng trưởng của cá đạt cao nhất, FCR thấp nhất, thể tích giá thể cần sử dụng thấp nhất (24 L)
Từ khóa: Cá Lóc, giá thể lọc, hệ thống tuần hoàn nước
NO 3 - in trearment 3 was more than the other two treatments ((3,65±0,17 mg/L)), but this differencenot was not statistically significant (P>0.05) Survival rate, growth rate of fish between treatments was not statistically significant (P>0.05) Survival rate was 98,89% - 100% DWG of fish in the three treatments Kaldnes Carrier, MBBR Carrier and RK BioElements Carrier respectively was 2,98±0,01, 3,07±0,02 and 3,02±0,02 g*day -1 SGR W in three treatments respectively was 3,38, 3,57 và 3,49%*day -1 FCR in the experiment was from 1.22 to 1.23 The fish in treatment MBBR Carrier had the highest about growth rate, the lowest about FCR and the lowest about the volume of the carrier(24L)
Keywords: Snakehead fish , The carriers, Recirculating aquaculture systems
Trang 6CAM KẾT KẾT QUẢ
Tôi xin cam kết đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này xử lý rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công
trình nghiên cứu này chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
An Giang, ngày 7 tháng 3 năm 2018
Người thực hiện
Phan Thị Thanh Vân
Trang 7MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 01
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 01
1.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 01
1.3 ĐỐI TƯƠNG NGHIÊN CỨU 01
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 01
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 02
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 03
2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ LÓC 03
2.1.1 Phân loại 03
2.1.2 Phân bố và khả năng thích nghi 04
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 05
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 05
2.1.5 Đặc điểm sinh sản 06
2.2.2 Tổng quan, kỹ thuật nuôi cá lóc và hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn 06
2.2.2.1 Tình hình nuôi cá lóc hiện nay 06
2.2.2.2 Các nghiên cứu về kỹ thuật ương, nuôi cá lóc 07
2.2.2.3 Các nghiên cứu về hệ thống tuần hoàn 08
2.2.2.4 Ứng dụng của mô hình nuôi thủy sản trong hệ thống tuần hoàn trên thế giới và Việt Nam 9
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 MẪU NGHIÊN CỨU 13
3.1.1 Nguồn cá thí nghiệm, thức ăn: 13
3.1.2 Nguồn nước dùng cho thí nghiệm: 13
3.1.3 Giá thể lọc 13
3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 13
3.2.1 Hệ thống nuôi 13
3.2.2 Bố trí thí nghiệm 13
3.2.3 Chăm sóc 13
3.3 CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU 15
3.3.1 Phương pháp thu, phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước 15
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi về tỷ lệ sống, tăng trưởng và FCR của cá Lóc 15
3.4 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU 15
3.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 15
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 BIẾN ĐỘNG CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG NƯỚC TRONG HỆ THỐNG TUẦN HOÀN 16
4.1.1 Biến động nhiệt độ 16
4.1.2 Biến động pH 16
4.1.3 Biến động DO 17
4.1.4 Biến động độ kiềm 17
Trang 84.1.5 Biến động TAN 18
4.1.6 Biến động NO2- 19
4.1.7 Biến động NO3 20
4.2 TĂNG TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG, FCR CỦA CÁ 21
4.2.1 Các chỉ tiêu tăng trưởng 21
4.2.2 Tỷ lệ sống, FCR của cá 22
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 24
5.1 KẾT LUẬN 24
5.2 KHUYẾN NGHỊ 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
PHỤ LỤC 29
Trang 93 Bảng 3: Biến động nhiệt độ trong hệ thống tuần hoàn 15
6 Bảng 6: Biến động độ kiềm trong hệ thống tuần hoàn 16
7 Bảng 7: Biến động TAN (mg/L) qua các đợt thu mẫu 17
8 Bảng 8: Biến động NO2
9 Bảng 9: Biến động N-NO3- qua các đợt thu mẫu 19
10 Bảng 10: Tăng trưởng về khối lượng của cá lóc 20
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cá Lóc (Channa striata) là loài cá nước ngọt có kích thước lớn, thịt ngon, sinh
trưởng nhanh, cá có thể đạt từ 0,8 – 1 kg/con sau 5 – 6 tháng nuôi (Dương Nhựt Long, Nguyễn Anh Tuấn & Lam Mỹ Lan, 2014) Hiện nay, cá Lóc có thể được nuôi trong ao, lồng, bè, trên bể lót bạt, vèo sông, vèo ao (Lam Mỹ Lan, Nguyễn Thanh Hiệu & Dương Nhựt Long, 2011) Đây là đối tượng nuôi mang lại hiệu quả kinh tế
cao Tuy nhiên, nghề nuôi nuôi cá Lóc đã và đang có nhiều tồn tại như: (i) Để thu
được năng suất cao, người nuôi đầu tư thật nhiều thức ăn và nuôi mật độ cao, dẫn đến một lượng lớn nước thải và bùn đáy từ nguồn thức ăn dư thừa, phân và các chất bài tiết của cá được xả vào môi trường, làm cho môi trường nuôi và nguồn nước cấp
bị ô nhiễm; (ii) Các độc tố phát sinh từ quá trình phân hủy chất thải trong ao nuôi
làm cho môi trường nuôi bị suy thoái, dịch bệnh xảy ra ngày nhiều, dẫn đến một lượng lớn hóa chất được sử dụng để phòng trị, lượng hóa chất này sẽ tồn lưu trong sản phẩm và môi trường
Vì vậy, khi phát triển nghề nuôi cá Lóc vấn đề cần quan tâm giải quyết là chất thải sinh ra từ hệ thống nuôi Để giải quyết vấn đề này, hiện nay người nuôi thường áp dụng biện pháp thay nước Tuy nhiên, biện pháp thay nước có một số nhược điểm như: gây ra ô nhiễm nguồn nước, lượng nước sử dụng lớn, theo Lam Mỹ Lan, Nguyễn Thanh Hiệu và Dương Nhựt Long (2009) khi nuôi cá Lóc trong bể lót bạt, lượng nước đã thay sau 120 ngày nuôi gấp 51,3 lần lượng nước dùng để nuôi cá Trong hệ thống nuôi tuần hoàn, giá thể là một nhân tố góp phần quan trọng trong hiệu quả lọc của vi khuẩn, giúp nâng cao hiệu quả lọc và tiết kiệm được thể tích bể lọc, góp phần làm giảm giá thành của sản phẩm Vì vậy, để phát triển nghề nuôi cá Lóc bền vững, giải pháp hiện nay đang được các nhà khoa học đề nghị là xây dựng các mô hình nuôi tuần hoàn Để hệ thống tuần hoàn hoạt động hiệu quả thì việc tìm
ra loại giá thể lọc phù hợp là một vấn đề quan trọng Do đó, đề tài “Ảnh hưởng của
các loại giá thể lên chất lượng nước và tăng trưởng của cá Lóc (Channa striata)
nuôi trong hệ thống tuần hoàn” được thực hiện
1.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Đề tài thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của các loại giá thể khác nhau lên sự biến đổi chất lượng nước, sinh trưởng của cá trong hệ thống nuôi tuần hoàn, làm cơ sở
cho việc thiết kế hệ thống tuần hoàn nuôi cá Lóc thích hợp
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Cá Lóc nuôi trong hệ thống tuần hoàn
- Chất lượng nước trong hệ thống nuôi tuần hoàn
- Ba loại giá thể: Kaldnes, MBBR Carrier, RK BioElements
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Theo dõi một số chỉ tiêu môi trường như: nhiệt độ, pH, độ kiềm, DO, TAN,N-NO2
-và N-NO3-
Trang 13- Theo dõi tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và hệ số chuyển hóa thức ăn của cá Lóc
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Đóng góp về mặt khoa học: Kết quả của đề tài sẽ cung cấp các thông số về môi trường của 03 loại giá thể Đây sẽ là nguồn tư liệu cơ sở cho các nghiên cứu chuyên
sâu về kỹ thuật nuôi cá Lóc thâm canh trong hệ thống tuần hoàn
- Đóng góp công tác đào tạo: Các số liệu thu được từ đề tài sẽ là nguồn tư liệu cho phục vụ giảng dạy ở các môn Quản lý chất lượng nước, môn Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt
- Ứng dụng cho các đơn vị khác:
+ Các viện nghiên cứu và trường đại học, cao đẳng: số liệu thu được từ kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tư liệu cho các nghiên cứu ứng dụng về kỹ thuật nuôi, phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo về kỹ thuật nuôi, nhất là kỹ thuật nuôi cá Lóc trong hệ thống nuôi tuần hoàn, giúp người nuôi có thể chọn lựa loại giá thể tốt nhất
và là tài liệu giảng dạy trong ngành nuôi trồng thủy sản
+ Các trung tâm khuyến nông, các hộ nông dân: Từ kết quả nghiên cứu của
đề tài sẽ tìm ra được loại giá thể tốt phục vụ cho việc nuôi cá Lóc trong hệ thống tuần
có hiệu quả lọc cao, giúp giảm giá thành và tạo ra hệ thống nuôi bền vững
Trang 14
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghề nuôi cá Lóc đã và đang có nhiều tồn tại như: (i) Người nuôi đầu tư để đạt năng
suất thật cao, đã sử dụng lượng thức ăn quá lớn, dẫn đến một lượng lớn nước thải và chất thải rắn từ nguồn thức ăn dư thừa, phân và các chất bài tiết của cá được xả vào
môi trường, làm cho môi trường nuôi và nguồn nước cấp bị ô nhiễm; (ii) Các độc tố
phát sinh từ quá trình phân hủy chất thải trong ao nuôi làm cho môi trường nuôi bị suy thoái, dịch bệnh xảy ra ngày nhiều, dẫn đến một lượng lớn hóa chất được sử dụng để phòng trị, những lượng hóa chất này sẽ tồn lưu trong sản phẩm và môi trường
Theo Martins và cs, (2010), Emmanuelle và cs, (2009), các nước phát triển đã ứng
dụng rất thành công hệ thống tuần hoàn trong sản xuất thâm canh trên các đối tượng
cá nước ngọt và cá biển Ở Việt Nam, quy trình lọc sinh học tuần hoàn được áp dụng phổ biến trong các trại sản xuất giống (Nguyễn Thanh Phương, Trần Ngọc Hải, Trần
Thị Thanh Hiền, Marcy N Wilder, 2003)
Hiện nay, có rất nhiều loại giá thể được sử dụng trong hệ thống nuôi tuần hoàn, với các diện tích bề mặt khác nhau Việc tìm ra một loại giá thể có hiệu suất lọc tối ưu đang là một vấn đề đặt ra, để làm giảm chi phí đầu tư và giá thành sản xuất
Vì vậy, việc thử nghiệm mô hình nuôi cá Lóc trong hệ thống tuần hoàn với các loại giá thể khác nhau cần được nghiên cứu và phát triển
2.2 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Kết quả nghiên cứu hình thái học hiện nay đã công bố có 30 loài cá Lóc họ
Channidae bao gồm 2 giống Channa và Parachanna Riêng giống Channa có 27 loài phân bố chủ yếu ở Châu Á và giống Parachanna có 3 loài phân bố ở Châu Phi
(www.fishbase.org)
Trang 15Cá Lóc phân bố ở Việt Nam chỉ có duy nhất một giống Channa gồm 8 loài, sống
trong các ao hồ sông ngòi, đặc biệt là ở ĐBSCL và Đồng bằng sông Hồng (Nguyễn Văn Hảo, 2005):
Cá Trèo đồi (Channa asiatica)
Hình 1: Cá Lóc đen (Channa striata, Bloch, 1793)
Vào thập niên 1990, ở ĐBSCL đã có thêm nhóm cá Lóc Môi trề, cá Lóc Đầu vuông
và cá lóc Đầu nhím phân bố ở huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp Đây là nhóm cá Lóc có kích c lớn, giá trị kinh tế cao, được nuôi và mang lại hiệu quả kinh tế cho nghề nuôi cá Lóc (Nguyễn Văn Hòa, 2008)
Qua so sánh hình thái học giữa 3 loại hình của nhóm cá Lóc Môi trề, Đầu vuông và lóc Đầu nhím thì số lượng tia vây, vẩy đường bên, tỉ lệ số đo và đặc điểm đặc trưng ngoại hình không có sự khác biệt lớn nên đây chỉ là một loại hình duy nhất Khi phân
tích hình thái và DNA giữa cá Lóc môi trề và cá Lóc đen (C.striata) có sự khác biệt
lớn về tỉ lệ số đo (84,21 ), còn các chỉ tiêu số lượng là rất giống nhau Ngoại hình bên ngoài giữa chúng chỉ khác nhau điển hình nhất là sự chênh lệch chiều dài hàm trên so với chiều dài hàm dưới Do đó cá Lóc môi trề và cá lóc đen chỉ là một loài, tuy nhiên cá lóc môi trề có thể là một dòng mới do có vài đặc điểm ngoại hình sai
khác so với cá Lóc C striata (Nguyễn Văn Hòa, 2008)
2.2.1.2 Phân bố và khả năng thích nghi
Cá Lóc (Channa striata) là loài cá nước ngọt, phân bố ở các quốc gia thuộc Châu Phi
và Châu Á Cá có tập tính ăn động vật (ếch, nhái, cá, côn trùng, …) Là loài cá có cơ quan hô hấp khí trời nên sống được trong môi trường có hàm lượng oxy hòa tan thấp,
có thể sống ngoài môi trường nước trong thời gian dài nếu mang được giữ ẩm Cá thường sống trong những thủy vực nông, nước tĩnh, có nhiều cây cỏ thủy sinh để dễ trú ẩn và bắt mồi cá có khả năng chui sâu vào lớp bùn đáy khi gặp nguy hiểm hoặc
Trang 16vào mùa khô và sống ở đó cho đến khi môi trường thích hợp trở lại (Muntaziana M.P.A., S.M.N Amin, A Aminur Rahman, A.A Rahim & K Marimuthu., 2012 )
Cá sống và phát triển tốt trong môi trường có pH thấp từ 4 -5 Thông thường, cá thích sống ở nơi nước tĩnh có mực nước trung bình khoảng từ 5 - 1 m, có nhiều rong đuôi chó, cỏ, đám bèo, lục bình vì ở nơi đó cá rất dể ẩn mình để rình mồi Mùa hè cá thường hoạt động và bắt mồi ở tầng nước mặt Mùa đông cá thích hoạt động ở tầng nước sâu hơn trong thuỷ vực Chất nước có pH thích hợp cho hoạt động sống và phát triển của cá Lóc từ 6,5 - 7,5 (Swingle, H.S, 1969) cá cũng có thể sống ở vùng nước
lợ, trong đều kiện nồng độ muối thấp hơn 5 ‰ (Pillay, 1990)
Trong tự nhiên cá có thể đạt kích thước 1m chiều dài, trước đây thường bắt gặp cá có kích c 60 – 70 cm Tuy nhiên, do áp lực khai thác, kích c cá thường gặp chỉ đạt dưới 30 cm (Tongsanga S, 1960) Cá tăng trưởng nhanh hơn trong điều kiện nuôi, với thức ăn và mật độ phù hợp sau 9 tháng nuôi cá đạt khối lượng 300 – 500g và đạt
500 – 800g sau 11 tháng (Boonyaratpalin, M., E W Mc Coyand & T Chitapalapong., 1985)
2.2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Lóc là loài cá dữ, có dạng hình thon dài, lược mang dạng hình núm, thực quản ngắn, vách dầy, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn, dạ dày to hình chữ Y Cá là loài cá dữ có tính ăn động vật điển hình Quan sát ống tiêu hóa của cá cho thấy thức
ăn là cá tạp chiếm 63,01%, tép 35,94 , ếch nhái 1,03 và sau cùng là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ chiếm 0,02 % (Dương Nhựt Long, 2003)
Theo các nghiên cứu trước đây, cá Lóc có sự lựa chọn thức ăn khác nhau qua từng giai đoạn phát triển, thức ăn của cá thay đổi khi kích c cá tăng Cá mới nở còn sử dụng dinh dư ng từ khối noãn hoàng Từ ngày thứ 4 -5, khi khối noãn hoàng đã hết,
cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài Lúc này, cá bột ăn các loài động vật phù du vừa c miệng chúng như luân trùng, trứng nước Khi cá dài c 5-6 cm, chúng có thể rượt bắt các loài tép và cá có kích c nhỏ hơn chúng Khi cơ thể đạt trên 10 cm, cá có tập tính
ăn như cá trưởng thành (Phạm Văn Khánh, 2003)
Trong quá trình phát triển, ấu trùng cá Lóc mới nở thường tập trung thành đàn với mật độ cao và bơi ở tầng mặt, bơi phía dưới là cá cái để bảo vệ con (Duong Nhut Long, Nguyen Van Trieu, Le Son Trang, Lam My Lan & Jean-Claude Micha., 2004)
Cá Lóc ăn thịt lẫn nhau khi có sự sai khác về kích c Nghiên cứu của Qin, J và
A.W Fast (1996) cho thấy tỷ lệ kích c cá nhỏ/cá lớn = 0,64/L sẽ có hơn 40 cá nhỏ
bị cá lớn ăn thịt và đến 100 cá nhỏ bị cá lớn ăn thịt khi tỷ lệ này = 0,35/L Tính ăn thịt lẫn nhau của cá Lóc đen giống được dựa trên kích thước/hình thái của độ rộng miệng, độ rộng đầu và chiều dài cơ thể đối với chiều dài con vật ăn thịt Victor (1992), trích dẫn bởi Phan Hồng Cương (2009), cũng nhận thấy khi được nuôi đơn trong điều kiện dinh dư ng thấp (tỷ lệ dạ dày rỗng cao 75 ), thức ăn cho cá cung cấp không thích hợp, cá phụ thuộc vào thức ăn tự nhiên và lúc này chúng thể hiện tính ăn nhau rất lớn
2.2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Giai đoạn cá nhỏ, cá tăng chủ yếu về chiều dài Cá càng lớn tăng trọng càng nhanh Trong điều kiện tự nhiên sức lớn của cá phụ thuộc vào thức ăn có sẵn trong thủy vực
Do vậy, tỷ lệ sống của cá trong tự nhiên khá thấp Trong điều kiện nuôi có thức ăn và chăm sóc tốt cá có thể lớn từ 0,8 – 1 kg/con sau 5 -6 tháng nuôi (Dương Nhựt Long, 2004) Theo Phạm Văn Khánh (2003), trong điều kiện chăm sóc tốt và thức ăn đầy
đủ cá có thể lớn từ 0,5 – 0,8 kg/năm và đạt tỷ lệ sống cao
Trang 17Nuôi cá Lóc cho thức ăn tự chế tăng trưởng chậm hơn so với cá ăn thức ăn là cá tạp (Dương Nhựt Long, 2004; Phan Hồng Cương, 2009) Khi so sánh tăng trưởng của cá Lóc nuôi với 03 loại thức ăn khác nhau là cá tạp, thức ăn tự chế và thức ăn viên công nghiệp cho thấy, cá cho ăn thức ăn cá tạp tăng trưởng nhanh nhất (6,59 g/ngày), so với cá ăn thức ăn viên công nghiệp (6,11 g/ngày) và thức ăn tự chế (5,77 g/ngày) Hệ
số tiêu tốn thức ăn lần lượt là 1,4; 3,1; và 3,9 khi sử dụng thức ăn công nghiệp, thức
ăn tự chế và thức ăn cá tạp (Dương Nhựt Long, 2011)
Kết quả khảo sát 62 hộ nuôi cá Lóc trong bể của Lê Xuân Sinh và Nguyễn Minh Chung (2009), ở các tỉnh ĐB SCL cho thấy, diện tích bể nuôi trung bình là 34,4±30,6m2 với mực nước là 0,8±0,2 m cá được thả nuôi ở mật độ 111,7±136,7 con.m-2 cho năng suất và tỷ lệ sống lần lượt là 74,9±96 kg/m3 và 46,1±23,6% Theo kết quả của Lam Mỹ Lan và cs (2009) thì năng suất trung bình của cá Lóc nuôi trong
2.2.1.5 Đặc điểm sinh sản
Cá Lóc đen sau 1 tuổi bắt đầu tham gia đẻ trứng, mùa vụ sinh sản thường từ tháng 4 -
8, tập trung nhiều vào các tháng 4 – 5 (Dương Nhựt Long, 2003) Trong tự nhiên, cá thường đẻ trứng vào sáng sớm sau những trận mưa một hai ngày ở nơi yên tĩnh có nhiều cây cỏ thủy sinh Theo Pillay (1990) khi cá Lóc thành thục sinh dục, có thể dùng não thùy thể cá Chép kết hợp với HCG hay chỉ thuần HCG với liều lượng liên
hệ mật thiết với chất lượng cá Lóc bố mẹ nuôi vỗ thành thục sinh dục, nhằm kích thích cá sinh sản thành công Trong quá trình phát triển, ấu trùng cá Lóc mới nở thường tập trung thành đàn với mật độ cao và bơi ở tầng mặt, bơi phía dưới là cá cái
để bảo vệ con Sau 3 ngày cá nở, cá bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài, thức ăn lúc này thường là Luân trùng, Daphnia, Moina (Dương Nhựt Long, 2003)
Do phụ thuộc vào điều kiện thức ăn có trong các thủy vực, nên tỉ lệ sống trong tự nhiên của cá khá thấp Khi cơ thể cá có chiều dài từ 3 – 8 cm, chúng có thể săn bắt các loại tép và cá con có kích cở nhỏ hơn và khi cơ thể cá đạt chiều dài trên 10 cm cá chuyển tính ăn như tính ăn của loài trưởng thành Cá thường ăn mồi sống và bắt mồi chủ động, thức ăn chủ yếu là các loài động vật tôm, tép, cá tạp mồi phải phù hợp với c miệng của chúng (Dương Nhựt Long, 2011)
2.2.2 Tổng quan kỹ thuật nuôi cá Lóc và hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn
2.2.2.1 Tình hình nuôi cá Lóc hiện nay
Nghề nuôi cá Lóc thương phẩm tập trung nhiều ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Tỉnh Đồng Tháp, tổng sản lượng cá Lóc thu hoạch năm 2008 đạt 4,98 nghìn tấn, có 1.975 hộ nuôi, với diện tích nuôi ao là 195,4 ha và 1,392 cái vèo nuôi ao, 160 cái lồng bè với tổng thể tích nuôi là 128,33 nghìn m3 Các hộ nuôi cá Lóc tập trung chủ yếu ở 3 huyện Tam Nông, Tân Hồng và Hồng Ngự, có đến 1,020 hộ nuôi và riêng sản lượng nuôi của 3 huyện này đạt 3,069 tấn (2008) chiếm 61,2 so sản lượng nuôi cá Lóc cả tỉnh năm 2008 Riêng tỉnh An Giang tính đến cuối năm 2009, tổng sản lượng cá Lóc nuôi toàn tỉnh đạt 15,241 tấn với 75,4 ha nuôi cá Lóc ao hầm, 6,9
ha nuôi vèo và các mô hình nuôi khác, với 476 cái lồng bè có thể tích nuôi 38,98 nghìn m3 nước nuôi Bên cạnh đó, diện tích nuôi cá Lóc ở Cần Thơ năm 2008, có 3,3
Trang 18nghìn hộ nuôi gồm 195,4 ha nuôi ao và thể tích nuôi là 128,3 nghìn m3
nước nuôi trong đó có vèo ao là 1,4 nghìn cái, lồng bè 160 cái với sản lượng nuôi khoảng 5 nghìn tấn
2.2.2.2 Các nghiên cứu về kỹ thuật ương, nuôi cá Lóc
Theo Lai, L., & K Lam (1998) lịch sử nghề nuôi cá Lóc bắt đầu ở Trung Quốc từ
những năm 1950 dưới hình thức nuôi giữ cá ngoài tự nhiên Vào những năm đầu thập
kỷ 1970, việc kích thích cho thành thục và sinh sản thành công trong điều kiện nuôi góp phần cho việc cung cấp con giống và thúc đẩy nghề nuôi cá Lóc phát triển ở Trung Quốc Nghề nuôi cá Lóc cũng được phát triển ở miền trung và miền đông Thái Lan Sau đó phát triển nhanh vào những năm 1980 để thay thế cho nghề nuôi cá Trê đang bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh và giá cả biến động với sản lượng hàng năm đạt
7.255 tấn trị giá khoảng 11 triệu USD (Boonnyaratpalin & cs., 1985) Cá Lóc chiếm
13 tổng sản lượng cá nước ngọt trên thị trường nội địa ở Ấn Độ và trở thanh đối tượng nuôi quan trọng ở nhiều quốc gia như Philipines, Malaysia và Việt Nam
(Muntaziana & cs., 2012)
Theo điều tra của Nguyễn Thị Diệp Thúy (2010) nghề nuôi cá Lóc ở địa bàn nghiên cứu (Cần Thơ, Hậu Giang, An Giang và Đồng Tháp) với 5 mô hình nuôi là ao đất, vèo ao, vèo sông, lồng/bè và bể bạt Và mùa vụ nuôi cá Lóc tập trung nhất từ tháng 2
- 4 ÂL và thu hoạch phổ biến từ tháng 8 -10 âm lịch Kích c giống thả nuôi trung bình của cá Lóc đen/lai là 1,3g/con Thức ăn sử dụng nuôi cá Lóc chủ yếu là cá tạp nước ngọt (51,7 ) và cá tạp biển (41,9 ) Hệ số tiêu tốn thức ăn trung bình nhóm cá Lóc đen là 4,3 Nghiên cứu về chuỗi giá trị của cá Lóc, mật độ nuôi bình quân của các mô hình nuôi là 114con/m3, trong đó nuôi vèo sông là có mật độ cao nhất 190con/m3 Kích c giống thả từ 350-785 con/kg và tỷ lệ sống dao động từ 48,7-56,1 và hệ số thức ăn tươi sống (FCR) là 3,9-4,3; thức ăn viên 1,2-1.4 (Đỗ Minh Chung, 2010)
Theo Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung (2009), hiện nay ĐBSCL có 5 mô hình nuôi phổ biến, bao gồm nuôi ao đất, ao nổi (còn gọi là nuôi bể bạt hoặc bể xi măng), vèo
ao, sông và lồng bè Mật độ thả cá giống nuôi đề được tính trên m3.Mật độ nuôi trong
ao đất bình quân khoảng 21,5 con/m3
(45,9 con/m2) Trong các mô hình còn lại thì nuôi trên bể bạt có mật độ thả nuôi cao nhất 236 con/m3
kế đến là lồng bè 147,6 con/m3 và thấp nhất là mô hình nuôi vèo 109 con/m3 Tùy theo đặc tính của mô hình
mà diện tích bình quân thay đổi khác nhau, trong đó mô hình nuôi ao đất có diện tích nuôi lớn nhất (1500 m2/hộ) và thấp nhất là mô hình nuôi vèo sông 34,5 m2
và bể bạt 93,1 m2 Mật độ thả bình quân của tất cả là 114 con/m3, trong đó vèo sông có mật độ thả dày nhất 190 con/m3, ao đất có mật độ thả thưa nhất, bình quân 66 con/m3
Mật độ thả nuôi phụ thuộc vào kích c con giống và hình thức nuôi Ở Thái Lan, cá Lóc được nuôi bằng 02 hình thức: nuôi lồng và nuôi trong ao đất Với hình thức nuôi lồng mật độ cá thả nuôi từ 50 – 80 con/m2
với cá giống c 4cm chiều dài, tỷ lệ sống sau 3 tháng nuôi đạt hơn 80 Với hình thức nuôi ao, mật độ cá hương ban đầu rất cao 350 – 800 con/m2 Cá giống thu được từ tự nhiên, được thả trực tiếp vào ao nuôi với mật độ 200 – 400 con/m2, tỷ lệ sống sau 3 tháng nuôi chỉ khoảng 13 – 15% (Boonnyaratpalin & cs., 1985) Cá giống có kích c lớn (4 cm chiều dài), được nuôi mật độ 50 – 80 con/m2, tỷ lệ sống đạt hơn 80 Cá nuôi ao được cho ăn cá tạp biển, sau 6 - 8 tháng nuôi cá đạt kích c 600 g với hệ số tiêu tốn thức ăn là 4,2 (Lai và Lam, 1998) Trong một nghiên cứu khác, cá nuôi ở ao đất với mật độ 40 – 80 con/m2, tỷ lệ sống chỉ đạt 13 – 15% sau 9 – 11 tháng nuôi Theo Qin J và A.W
Trang 19Fast (1998), trong điều kiện thức ăn đầy đủ, mật độ cá thả nuôi thương phẩm thich hợp trên bể là 30 con/m2
Kết quả thí nghiệm của Lam Mỹ Lan và cs (2009) tại 9 nông hộ xã Hòa An, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang với 03 mật độ thả khác nhau 100, 80, 60 con/m2
nuôi trong bể lót bạt nilon với mực nước duy trì là 0,7 m trong suốt quá trình nuôi Cá Lóc được cho ăn bằng cá tạp, cua và ốc bưu vàng với lượng thức ăn từ 5 – 10 khối lượng thân Sau 4 tháng nuôi, cá đạt khối lượng trung bình từ 267 – 304 g/con Tỷ lệ sống là 52,7 – 70,5 Năng suất trung bình cá ở mật độ 100 và 80 con là 18,9 và 15,2 kg/m2 Ở mật độ 60 con, năng suất đạt thấp hơn có ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với mật độ cao nhất
Kết luận của Tiêu Quốc Sang (2012) khi thả nuôi cá Lóc với 03 mật độ 100 con/m2
,
150 con/m2, 200 con/m2 ở tỉnh An Giang trong bể lót bạt với mực nước duy trì là 0,7
m trong suốt quá trình nuôi Cá Lóc được cho ăn bằng bằng thức ăn viên có hàm lượng đạm giảm dần từ 44 đến 30 , cho ăn theo nhu cầu Sau 4,5 tháng nuôi cá ở
bể nuôi mật độ 100 con/m2 có tỷ lệ sống cao nhất (79,6 ) nhưng ở mật độ 200 con/m2lại cho năng suất và lợi nhuận cao nhất
2.2.2.3 Các nghiên cứu về hệ thống tuần hoàn
Nguyên lý hoạt động của hệ thống tuần hoàn
Hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn nước (RAS – Recirculating Aquaculture System) chỉ mới được áp dụng trong những năm gần đây Công nghệ này được phát triển bởi nhóm chuyên gia thủy sản trường đại học Wageningen (Hà Lan) nhằm tuân thủ những quy định của Hà Lan và của Cộng đồng chung Châu Âu trong lĩnh vực sử dụng nước, quản lý nước thải và tiết kiệm năng lượng Ở Việt Nam trước đây, công nghệ này chưa được quan tâm Tuy nhiên, do việc áp dụng những tiêu chuẩn mới về sản phẩm thủy sản của những nhà nhập khẩu Châu Âu và Mỹ trong đó có việc quản
lý chất lượng nước như giảm lượng dư ng chất thải ra môi trường
Nhìn chung, hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn hiện nay được xem là công nghệ nuôi trồng thủy sản tiên tiến Nó phù hợp ở những nơi khó khăn về đất và nước, những nơi có chất lượng nước kém hay nhiệt độ ngoài vùng tối ưu của loài thủy sản hoặc đặc biệt khi cần kiểm soát chất thải tác động đến nguồn tài nguyên nước Những nơi nuôi thâm canh cần hệ thống tuần hoàn hơn so với hệ thống mở như ao, hồ
RAS là hệ thống nuôi khép kín, ít hoặc không thay nước Nước trong hệ thống nuôi được lọc sạch, tái sử dụng liên tục và ổn định chất lượng nhờ các cơ chế lọc sinh học
và cơ học.các hợp phần của hệ thống xử lý nước được thiết kế với chức năng khác nhau để duy trì chất lượng nước khi thức ăn được cung cấp liên tục vào hệ thống nuôi Các hợp phần bao gồm hệ thống tách chất thải rắn, cung cấp oxy, khử chất hữu
cơ hòa tan, lọc sinh học khử NH3, NO2, và NO3 nhờ hoạt động của các nhóm vi khuẩn chuyển hóa đạm tảo hay các loại thực vật thủy sinh cũng được sử dụng kết hợp để xử lý nước (Timmons, MB., J.M Ebeling, F.W Wheaton, S.T Summerfelt,
& B.J Vinci., 2002)
Các loại hệ thống lọc tuần hoàn và nguyên lý hoạt động
Hệ thống lọc tuần hoàn bao gồm: lọc chảy nhỏ giọt (Trickling filter), lọc quay (Rotating biological contactor), lọc hạt (Bead filter), lọc giá thể chuyển động (Moving bed biofilm reactor), lọc giá thể chìm (Submerged filter), lọc dòng đáy (Fluidized bed filter) Trong đó lọc chảy nhỏ giọt, lọc quay và lọc giá thể chuyển động được sử dụng phổ biến
Trang 20Trong hệ thống tuần hoàn (nói chung) khoảng 3 thức ăn hàng ngày sẽ được sinh ra dưới dạng ammonia-nitơ mặc dù nó cũng liên quan đến hàm lượng protein có trong thức ăn Ngoài ra, thức ăn dư thừa và vật chất hữu cơ được vi khuẩn phân hủy sinh ra ammonia thông qua quá trình khoáng hóa Bên cạnh đó, 1g ammonia sinh ra 4,42 g nitrate và 5,93 g gam CO2, thêm vào đó là lượng nhỏ sinh khối của vi sinh vật Quá trình nitrate hóa này tiêu thụ 4,57 g O2 and 7,14 g độ kiềm (Eding E.H., A Kamstra,
J.A.J Verreth, E.A Huisman & A Klapwijk., 2006)
Khi thiết kế hệ thống tuần hoàn, pH và NH3 là hai chỉ tiêu quan trọng và có mối liên
hệ với nhau Qin, J., và A.W Fast, (1997) tiến hành thí nghiệm về sự ảnh hưởng của
cá Lóc (Channa striatus) trong bể đối với ammonia với 3 mức pH (8,0, 9,0 và 10,0)
và đề nghị không nên để cá tiếp xúc kéo dài khi nồng độ NH3 vượt ngư ng 0,54 mg/ (pH 8,0), 1,49 mg/l (pH 9,0) và 1,57 mg/l (pH 10,0) Nếu cá tiếp xúc trong môi trường NH3 tồn tại cao hơn các giới hạn ở các mức pH tương ứng sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và năng suất của các hệ thống nuôi trong đó có hệ thống tuần hoàn
Hiện nay, ở châu Âu đặc biệt là Bỉ và Hà Lan, cá Trê (Clarias gariepinus) được nuôi
thương phẩm trong bể, sử dụng hệ thống tuần hoàn với giá thể lọc là nhựa; thể tích nước trung bình để sản xuất ra 1kg cá 0,13 m3
và hàng năm năng suất thu được là
700 – 1000 kg/m3 Theo Emmanuelle R, Jean-Paul B và Alain B, (2009) sự phát triển của cá hồi giai đoạn 100 đến 700 g là tương đương ở mật độ 60 kg/m3
giữa hệ thống lọc chuyển động (70 m3) so với hệ thống nước chảy thông thường, kết quả
cũng cho thấy không có dấu hiệu của bệnh trên cá Cá rô phi (Oreochromis niloticus
L) cũng là đối tượng quan trọng được nuôi thương phẩm trong hệ thống tuần hoàn Theo Martins C.I.M , E.H Eding, M.C.J Verdegema, L.T.N Heinsbroeka, O Schneiderc, J.P Blanchetond , E Roque d’Orbcasteld và J.A.J Verretha., (2010)
FCR trên cá hồi (Oncorhynchus mykiss) giảm được 30 và giảm được gần như 20
chất thải tác động đến môi trường Vì hệ thống tuần hoàn cung cấp môi trường nuôi thuận lợi quanh năm (hàm lượng CO2 và ammonina đều thấp hơn) Các thông số về chất lượng nước đều nằm trong khoảng an toàn cho sự sinh trưởng của cá Điều đó chứng tỏ rằng hệ thống tuần hoàn sử dụng thể tích nước hạn chế nhưng tiềm năng về khả năng sản suất là rất lớn
2.2.2.4 Ứng dụng của mô hình nuôi thủy sản trong hệ thống tuần hoàn trên thế giới và Việt Nam
Mô hình nuôi thủy sản trong hệ thống tuần hoàn trên thế giới
Những nghiên cứu ban đầu về hệ thống tuần hoàn nước trên thế giới tập trung vào việc hấp thu chất dinh dư ng của thực vật phù du và những loài thực vật thuỷ sinh khác để đồng hoá chất dinh dư ng (chất hữu cơ) dư thừa trong ao nuôi Hệ thống sản xuất bao gồm: một hoặc một dãy ao liên tiếp như hồ chứa nước xanh để cung cấp cho ao nuôi Một vài hệ thống có kết hợp với mương sử dụng tảo hoặc thực vật thuỷ sinh như những máy lọc để giảm hàm lượng các chất dinh dư ng trước khi đưa chúng trở lại ao nuôi Tuy nhiên, hiệu quả xử lý phản ứng phototrophic hiện nay vẫn còn quá thấp và dẫn đến không phù hợp trong sản xuất giống cá và phản ứng phototrophic (Schneider O, Chabrillon-Popelka M, Smidt H, Sereti V, Eding EH & Verreth JAJ (2006)
Hệ thống tuần hoàn nước hiện nay được sử dụng phổ biến ở các nước Châu Âu bao gồm một bể lắng dùng để loại thải những chất rắn lơ lửng và một cấu trúc xử lý sinh
học dùng để oxy hóa các chất hữu cơ hoà tan
Trang 21Kể từ những năm 80 nuôi cá bằng hệ thống tuần hoàn nước đã tăng lên đáng kể về khối lượng và đa dạng loài (Rosenthal, 1980; Verreth and Eding, 2006; Martins & cs., 2005) Ngày nay hơn 10 loài cá được sản xuất theo công nghệ hệ thống tuần hoàn nước (cá da trơn Châu Phi, lươn, cá hồi bố mẹ, cá bơn, cá chẽm) Gần đây một
số cơ sở mới được thành lập ở Anh (cá mú), Pháp (cá hồi) và Đức (các loài động vật biển khác)
Hình 2: Sơ đồ hệ thống tuần hoàn (theo Oliver Schneider, Mariana
Chabrillon-Popelka, Hauke Smidt, Olga Haenen, Vasiliki Sereti, Ep H Eding & Johan A J Verreth, 2007)
Nhiều báo cáo cho thấy rằng sản xuất giống ngày càng áp dụng theo công nghệ hệ thống tuần hoàn nước Ví dụ sản xuất giống cá Hồi Đại Tây Dương ở đảo Faeroe hoàn toàn áp dụng theo công nghệ RAS từ sau năm 2000 (Bergheim và cs., 2008) Tại Na Uy dự kiến sản xuất 85 triệu cá Hồi giống theo công nghệ hệ thống tuần hoàn nước (Del campo và cs., 2010) Tình trạng thiếu nước trong tương lai, nhiệt độ theo mùa thay đổi lớn là những yếu tố chuyển sản xuất giống cá Hồi theo công nghệ hệ thống tuần hoàn nước ở Na Uy (Kristensen và cs., 2009) Ngoài ra, Terjesen và cs., (2008) đề xuất tăng chất lượng (tỷ lệ sống và tăng trưởng) của cá Hồi theo mô hình nuôi công nghệ hệ thống tuần hoàn nước
Theo Verreth (1993), RAS là một sản phẩm nhỏ của nuôi trồng thủy sản châu Âu và
là quan trọng nhất ở Hà Lan và Đan Mạch Các loài nước ngọt chủ yếu sản xuất trong RAS là cá da trơn và cá Chình, những loài khác đã được sản xuất bằng cách sử dụng loại công nghệ này Việc sản xuất cá Chình ở EU là khoảng 11.000 tấn/năm đến năm 2001, và sau đó giảm xuống còn khoảng 8.500 tấn/năm từ năm 2002 và ổn định tổng thể
Cá Rô phi là một loài cá nước ấm đã trở thành loài cá nuôi trong hệ thống tuần hoàn đựơc Hoa kỳ ủng hộ Cá Rô phi phát triển tốt nhất ở 80 – 85 0F và sẽ chết ở nhiệt độ thấp hơn 55 0F Điều này hạn chế việc sản xuất cá Rô phi quanh năm ở Hoa kỳ Mặc
dù vậy, cá Rô phi vẫn có thể phát triển trong bể ương được thiết kế trong nhà ở vùng
có nhiệt độ lạnh hơn như South Dakota (Jared Krause và cs, 2006)
Trang 22Một số mô hình nuôi thủy sản trong hệ thống tuần hoàn nước ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hệ thống tuần hoàn sử dụng lọc sinh học hiện chỉ mới áp dụng chủ yếu trong sản xuất giống tôm sú và tôm càng xanh
Đỗ Thị Thanh Hương (1986) đã thử nghiệm ương ấu trùng tôm càng xanh trong hệ thống tuần hoàn Hệ thống tuần hoàn trong thí nghiệm là hệ thống các bể kính để ương ấu trùng và mỗi ngày thay 10 thể tích nước bể ương Hệ thống tuần hoàn theo tác giả là một hệ thống nuôi thay nước liên tục và nước mới thay là nước đã được lọc bằng sinh học, các chất thải qua các phản ứng sẽ không còn gây độc cho tôm Tuy nhiên, ở đề tài này, tác giả không nêu rõ phương pháp thiết kế và vận hành bể lọc sinh học Kết quả chỉ tập trung vào tỷ lệ sống và chất lượng của tôm giống
Nhận rõ lợi ích của hệ thống lọc sinh học tuần hoàn, những năm về sau, nhiều đề tài
đã tập trung nghiên cứu để hoàn thiện qui trình sản xuất giống tôm sú, trong hệ thống tuần hoàn Các phương pháp thiết kế và vận hành bể lọc được nghiên cứu sâu hơn, kể
cả tốc độ nước tuần hoàn trong bể ương, mật độ vi khuẩn Nitrate hóa và diện tích bề mặt của giá thể cũng được đề cập đến
Thạch Thanh, Trương Trọng Nghĩa và Nguyễn Thanh Phương, (1999) khi tiến hành
bố trí nghiệm ương ấu trùng tôm sú với 3 hệ thống thay nước, không thay nước và lọc sinh học cho thấy có sự khác biệt về tỷ lệ sống ở PL7 Kết quả cho thấy ở hệ thống không thay nước cho tỷ lệ sống thấp nhất (33 ), kế đến là hệ thống thay nước (41 ) và cao nhất là hệ thống lọc sinh học (50 )
Mật độ ấu trùng thích hợp nhất trong hệ thống lọc sinh học ứng dụng vào thực tế để ương ấu trùng tôm sú là 150 Nauplius/lít tỷ lệ sống đạt 42 Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất mật độ ương ấu trùng của các trại giống khoảng 200-300 Nauplius/lit thường tỷ lệ sống đến PL15 đạt khoảng 25-35 , Phạm Văn Quyết (2000)
Năm 2010 - 2012, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2 cùng các chuyên gia Đại học Wageningen (Hà Lan) lắp đặt và vận hành RAS nuôi cá tra thương phẩm Kết quả, năng suất đạt trên 600 tấn/ha/vụ, cao gấp 2 lần tính theo diện tích và cao hơn 4,9 lần tính theo thể tích, chi phí thức ăn giảm 5 , chi phí dịch bệnh giảm 30 so với nuôi bình thường
Công nghệ RAS trong nuôi trồng thủy sản đang được ứng dụng tại Việt Nam dựa trên nguyên lý công nghệ và có cải tiến để phù hợp thực tế Đây là một công nghệ có chi phí đầu tư cao, yêu cầu người vận hành công nghệ phải có trình độ chuyên môn
và được đào tạo bài bản
Công nghệ RAS được ứng dụng vào nuôi thâm canh ở nước ta đang còn khiêm tốn, chỉ dừng ở đề tài, dự án nghiên cứu và mô hình thử nghiệm Nguyên nhân do nghề nuôi thủy sản ở phần lớn quy mô nhỏ lẻ, nông hộ; việc đầu tư một hệ thống có kinh phí hàng tỷ đồng để nuôi là không dễ Mặt khác, cá nuôi có giá bán tương đối rẻ và đầu ra không ổn định nên khó thuyết phục các nhà đầu tư sử dụng Hiện, chỉ một số trang trại sản xuất giống tôm mới ứng dụng công nghệ này vào sản xuất (Nguyễn Quang Chương, 2013)
Thạch Thanh và cs (2003) nghiên cứu triển vọng ứng dụng của ozon trong sản xuất giống tôm sú (Penaneus monodon) cho thấy nước tôm ương được xử lý ozone trong
quá trình ương thì các khí độc như NH3 và NO2- đều giảm rõ rệt Đặc biệt lượng vi khuẩn cũng giảm đáng kể Một số bệnh thường gặp như: bệnh do vi khuẩn, nấm và đặc biệt là do Protozoa cũng ít xuất hiện hơn Bên cạnh đó thì tỷ lệ sống của nghiệm
Trang 23thức sử dụng ozon cao hơn tỷ lệ sống của nghiệm thức đối chứng Cũng theo Thạch Thanh và cs (2003) thì ozone có thể dùng trong sản xuất giống để xử lý nước và khử trùng trại giống Ozone có thể thay thế hoàn toàn Chlorine trong xử lý nước trước khi ương ấu trùng Mục đích của sử dụng ozone là duy trì chất lượng nước nhờ khả năng oxy hóa chất thải của tôm và thức ăn thừa trong bể ương, đồng thời hạn chế sự phát triển của mầm bệnh
Nghiên cứu gần đây nhất của Nguyễn Đăng Khoa (2012) về cân bằng vật chất dinh
dư ng trong hệ thống tuần hoàn nuôi cá Lóc (Channa striata), kết quả thu được,
tronghệ thống tuần hoàn cân bằng, hệ số chuyển hóa TAN của hệ thống là 0,01g/ngày m2 Hiệu suất chuyển hóa TAN của hệ thống là 99 ; cá tích lũy vật chất khô (DM) và nitơ (N) là 25,32 và 40,05%; cá bài tiết DM và N dưới dạng hòa tan
là 12,68% và 26,36%, cá thải DM và N qua phân là 11,97 và 11,37 DM và N tích lũy trong sinh khối vi khuẩn nitrate hóa là 0,28 và 0,54 ; Lượng DM và N thất thoát do rò rỉ và bay hơi là 49,74 và 22,22 Để sản xuất ra 1 kg cá lượng nitơ
và vật chất khô cần cung cấp là 59,33 g và 893,52 g; cá tích lũy được lượng nitơ và vật chất khô là 20,72 g và 226,24 g Lượng nitơ và vật chất khô thải ra môi trường là 38,61 g và 667,28 g Tỷ lệ sống của cá đạt 90,4
Báo cáo của Nguyễn Cao Phúc (2015), trong thí nghiệm cân bằng dinh dư ng của cá Lóc nuôi trong hệ thống tuần hoàn cho thấy lượng nitơ (N), lân (P) và vật chất khô trung bình cung cấp từ thức ăn được tích lũy trong cá là 13,27%, 18,72%, 24,82%
Cá bài tiết N, P và DM dưới dạng hoà tan là 67,76 , 19,16 , 1,04 Cá thải N, P,
DM qua phân là 12,08 , 39,36 , 33,69 Lượng N, P và DM thất thoát là 6,89 , 22,76 , 40,45 Để sản xuất ra 1 kg cá, cần cung cấp 1031,12 g DM (có chứa 56,95
g N, 45,95 g P), cá tích lũy 257,90 g DM (có chứa 7,45 g N, 8,53g P), lượng chất thải là 773,26 g DM (có chứa 49,5 g N, 37,42 g P)