Kết quả nghiệm thức cho thấy bón vôi, phân hữu cơ và hóa học cân đối giúp gia tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất, hàm lượng Carbon dễ phân hủy và hàm lượng lân hữu dụng trong đất, khác
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN TRICHOMIX - DT
VÀ VÔI ĐẾN TÍNH CHẤT HÓA HỌC ĐẤT, NĂNG SUẤT CÂY ỚT TRỒNG TẠI XÃ HỘI AN, CHỢ MỚI - AN GIANG
HỒNG H C
AN GIANG, 12/2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG
ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN TRICHOMIX - DT
VÀ VÔI ĐẾN TÍNH CHẤT HÓA HỌC ĐẤT, NĂNG SUẤT CÂY ỚT TRỒNG TẠI XÃ HỘI AN, CHỢ MỚI - AN GIANG
HỒNG H C CH165819
Giảng viên hướng dẫn: TS NGUYỄN VĂN CHƯƠNG
AN GIANG, 2/2020
Trang 3i
CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ “Ảnh hưởng của phân Trichomix – dt đến tính chất hóa học đất, năng suất cây ớt trồng tại xã Hội An - Chợ Mới, An Giang”, do học viên Lê Hồng Phúc thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Chương Tác giả đã báo cáo luận văn nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo thông qua ngày … tháng 12 năm 2019
Trang 4ii
LỜI CẢM TẠ
Chân thành cảm tạ
Thầy TS Nguyễn Văn Chương đã tận tình hướng dẫn, cung cấp kiến thức
và kinh nghiệm cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Cuối cùng xin gởi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến tất cả mọi người đã giúp đỡ
và chia sẽ khó khăn để tôi hoàn thành luận văn này Trong quá trình viết luận văn không thể tránh khỏi những sai sót, rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và toàn thể các bạn
An Giang, ngày… tháng …… năm 2020
Tác giả luận văn
Lê Hồng Phúc
Trang 5iii
LÝ LỊCH KHOA HỌC
1 LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ và tên: Lê Hồng Phúc Giới tính: Nam
Ngày sinh: 13/06/1993 Nơi sinh: Chợ Mới, An Giang
Quê quán: Chợ Mới, An Giang Dân tộc: Kinh
Địa chỉ liên lạc: ấp Mỹ Phú, xã Mỹ An, Huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
Số điện thoại: 0944.428.124
E-mail: lehongphuc1368@gmail.com
2 QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO
Từ năm 2000-2005: Học sinh – Trường tiểu học A Hội An
Từ năm 2005-2009: Học sinh – Trường trung học cơ sở Hội An
Từ năm 2009-2011: Học sinh – Trường THPT Huỳnh Thị Hưởng
Từ năm 2012-2016: Sinh viên – Ngành Phát triển nông thôn, Trường Đại học An Giang
An Giang, ngày 13 tháng 2 năm 2020
Tác giả luận văn
Lê Hồng Phúc
Trang 6iv
Lê Hồng Phúc 2019 Ảnh hưởng của phân lân vi sinh Trichomix - DT và vôi đến tính chất hóa học đất và năng suất cây ớt (Capsicum annuum L.) tại xã Hội
An - Chợ Mới, An Giang Luận văn Thạc sĩ chuyên Ngành Khoa học Cây trồng,
Khoa Nông nghiệp và Tài nguyên thiên nhiên, Trường Đại học An Giang, 63 trang Người hướng dẫn khoa học: Ts Nguyễn Văn Chương
TÓM TẮT
Ở Đồng bằng sông Cửu Long, nông dân chỉ áp dụng phân bón vô cơ cho trồng ớt và không chú ý nhiều đến việc sử dụng vôi, phân hữu cơ Với lượng phân đạm (N) và lân (P) cao được bón, việc trồng ớt thâm canh đã dẫn đến suy thoái đất và năng suất ớt thấp Đề tài “Ảnh hưởng của phân Trichomix - DT và vôi đến tính chất hóa học và năng suất cây ớt (Capsicum annuum L.) tại xã Hội An, Chợ Mới, An Giang” được thực hiện với các mục tiêu: (i) điều tra hiện trạng sản xuất
ớt của xã Hội An trong năm 2019 (ii) đánh giá hiệu quả phân hữu cơ và vôi lên tính chất hóa học đất và năng suất cây ớt Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại, gồm 5 nghiệm thức tương ứng với các tổ hợp phân khác nhau: NT1: Đối chứng – phân hóa học; NT2: phân hóa học
và vôi; NT3: phân hữu cơ và vôi; NT4: phân hữu cơ và phân hóa học; NT5: vôi, phân hữu cơ và phân hóa học Qua kết quả điều tra cho thấy: 100% nông hộ sử dụng phân hóa học, chỉ có 13,33% nông hộ sử dụng phân hữu cơ và 76,67% nông
hộ sử dụng vôi Kết quả nghiệm thức cho thấy bón vôi, phân hữu cơ và hóa học cân đối giúp gia tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất, hàm lượng Carbon dễ phân hủy và hàm lượng lân hữu dụng trong đất, khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng Đối với năng suất ớt của các nghiệm thức có bón phân hữu cơ, phân hóa học và vôi thì: phân hữu cơ và vôi có sự khác biệt ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng (NT1) Kết quả thí nghiệm cho thấy khi bón kết hợp 1600 kg Vôi + 110 kg Urea + 120 kg DAP + 45 kg Kali + 2000 kg phân hữu cơ Trichomid-dt thì cây sinh trưởng, cho năng suất (10,66 tấn/ha) và hiệu quả kinh tế cao nhất (tỷ suất lợi nhận 0,34 ÷ 1,17)
Từ khóa: Cây ớt, phân hữu cơ, vôi, năng suất, độ phì nhiêu đất
Trang 7v
Le Hong Phuc 2019 Effects of Trichomix - DT and lime microbiological fertilizers on soil chemistry and yield of capsicum (Capsicum annuum L.) in Hoi
An commune - Cho Moi, An Giang Master's thesis in Crop Science, Faculty of
Agriculture and Natural Resources, An Giang University, 63 pages Science
instructor: Dr Nguyen Van Chuong
SUMMARY
In the Mekong Delta, farmers applied only inorganic fertilizers for chili growing and did not pay much attention to the use of lime and organic fertilizer With a high level of nitrogen (N) and phosphorus (P) fertilizers applied, intensive chili cultivation has resulted in soil degradation and low chili yield The project
"Effect of Trichomix fertilizer - DT and lime on chemical properties and yield of chili tree (Capsicum annuum L.) in Hoi An commune, Cho Moi, An Giang" was implemented with the following objectives: (i) Investigate the current status of chili production in Hoi An in 2019 (ii) Assess the effectiveness of organic fertilizer and lime on soil chemistry and chili yield The experiment was arranged
in a completely randomized block format with 4 replications, including 5 treatments corresponding to different combinations of fertilizer: NT1: Control - chemical fertilizer; NT2: chemical fertilizer and lime; NT3: organic fertilizer and lime; NT4: organic and chemical fertilizers; NT5: lime, organic fertilizers and chemical fertilizers The survey results showed that: 100% of households use chemical fertilizers, only 13.33% of households use organic fertilizers and 76.67% of households use lime The experimental results showed that the use of lime, organic fertilizers and balanced chemicals helped increase the organic matter content in the soil, the content of easily decomposable carbon and the amount of available phosphorus in the soil, significantly different from control For the yield of chili in the treatments with organic fertilizer, chemical fertilizer and lime, the organic fertilizer and lime were statistically different from the control treatment (NT1) Experimental results show that when applying combined
1600 kg Lime + 110 kg Urea + 120 kg DAP + 45 kg Potassium + 2000 kg of Trichomid-dt organic fertilizer, the plants grow, yield (10.66 tons / ha) and the highest economic efficiency (profit margin of 0.34 ÷ 1.17)
Key words: Pepper, compost, lime, yield, soil fertility
Trang 8vi
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân, các số liệu và kết quả đƣợc trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực
Tác giả luận văn
Lê Hồng Phúc
Trang 9vii
MỤC LỤC
Trang
Chấp nhận của hội đồng……….……… i
Lời cảm tạ……… ……… ii
Lý lịch khoa học……… ……… …iii
Tóm tắt……… ………….iv
Lời cam kết……… … vi
Mục lục…….……… …v
Danh sách bảng……….…… …x
Danh sách hình……… …xii
Danh mục từ viết tắt……….xiii
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU……….………… 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI……….1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU……… …2
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU……… 2
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU……… ……… 2
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI………2
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU……… 3
2.1 TỔNG QUAN CÂY ỚT……… 3
2.1.1 Nguồn gốc, phân loại, phân bố……… 3
2.1.2 Đặc điểm thực vật học cây ớt……….…5
2.1.3 Tình hình sản xuất ớt……… 7
2.1.4 Kỹ thuật canh tác cây ớt……… 10
Trang 10viii
2.2 HIỆU QUẢ CỦA BÓN VÔI VÀ PHÂN HỮU CƠ ĐỐI VỚI ĐỘ PHÌ NHIÊU
CỦA ĐẤT VÀ NĂNG SUẤT CÂY TRỒNG……… 16
2.2.1 Bón vôi……… 16
2.2.2 Bón phân hữu cơ……… 19
2.3 ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU XÃ HỘI AN, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG……… 31
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………….32
3.1 Phương tiện nghiên cứu……… 32
3.1.1 Địa điểm nghiên cứu……… 32
3.1.2 Thời gian nghiên cứu……… 32
3.1.3 Phương tiện thu mẫu……… 32
3.1.4 Phương tiện phân tích……… 32
3.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU……… 33
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu……… 33
3.2.2 Phạm vi nghiên cứu……… 33
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU……… 34
3.3.1 Phần 1: Điều tra hiện trạng sản xuất ớt của xã Hội An 2019……… 34
3.3.2 Phần 2: Bố trí thí nghiệm trên đồng ruộng……….……… 34
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……….… 39
3.4.1 Phương pháp thu mẫu và phân tích số liệu……….…… 39
3.4.2 Phương pháp phân tích……….……39
3.4.3 Xử lý số liệu……….40
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN……….……… 41
4.1 TÌNH HÌNH CANH TÁC ỚT TẠI VÙNG NGHIÊN CỨU……… 41
4.1.1 Độ tuổi người chủ hộ trồng ớt……… 41
Trang 11ix
4.1.2 Diện tích trồng ớt……… ………41
4.1.3 Giống……….… 42
4.1.4 Tình hình sử dụng phân bón……….42
4.1.5 Chi phí sản xuất - hiệu quả kinh tế……… 43
4.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến thành phần hóa học đất……… …45
4.2.1 pH đất… ……… 45
4.2.2 Đạm tổng số……… …………46
4.2.3 Lân dễ tiêu……… 46
4.2.4 Kali trao đổi……… …47
4.2.5 Phần trăm chất hữu cơ……… 48
4.2.6 Mức độ phân hủy chất hữu cơ……… ……… ….48
4.3 ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ LÊN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CÂY ỚT……… ……… 49
4.3.1 Chiều cao cây……….……… 49
4.3.2 Số lá trên cây……….……… 50
4.3.3 Số chồi trên cây……….… 51
4.3.4 Năng suất……… 52
4.4 Hiệu quả kinh tế……… 52
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… …54
5.1 KẾT LUẬN……… ……….……….…54
5.2 KIẾN NGHỊ……… ……… 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….55
Trang 12x
DANH MỤC CÁC BẢNG
2.2 Diện tích ớt, năng suất ớt trên thế giới (2009-2012) 8
2.4 Sản lượng ớt ở một số nước trên thế giới (2009-2012) 9
2.6 Thang đánh giá chất hữu cơ trong đất (%CHC) 20 2.7 Hàm lượng NPK có trong có trong các loại phân hữu cơ tự nhiên
(tính theo % chất khô)
25
3.1 Các nghiệm thức được bố trí trên đất Hội An 34 3.2 Liều lượng sử dụng phân ở nghiệm thức 1 (Đối chứng) 37 3.3 Liều lượng sử dụng phân ở nghiệm thức 2 (PHC+PVC) 37 3.4 Liều lượng sử dụng phân ở nghiệm thức 3(PHC) 38 3.5 Liều lượng sử dụng phân ở nghiệm thức 4(PHC+PVC) 38 3.6 Liều lượng sử dụng phân ở nghiệm thức 5(Vôi +PHC+PVC) 38
4.9 Đạm tổng số trong đất trước và sau thí nghiệm 46 4.10 Lân dễ tiêu trong đất trước và sau thí nghiệm 47 4.11 Kali trao đổi trong đất trước và sau thí nghiệm 48 4.12 Phần trăm chất hữu cơ trong đất trước và sau thí nghiệm 49 4.13 Tỉ số C/N trong đất trước và sau thí nghiệm 50 4.14 Chiều cao cây ớt hiểm ở các nghiệm thức khác nhau (Đơn vị (cm)) 51 4.15 Số lá trên cây của cây ớt ở các lần lấy chỉ tiêu trên các nghiệm thức
bón phân khác nhau
51
Trang 13xi
4.16 Số chồi trên cây (Chồi) của cây ớt ở các lần lấy chỉ tiêu trên các
nghiệm thức bón phân khác nhau
Trang 142.8 Bệnh gây hại trên cây ớt 24 2.9 Sự chuyển hóa chất hữu cơ trong đất 28 3.1 Vị trí bố trí thí nghiệm 41 3.2 Bố trí thí nghiệm trồng cây ớt 44 3.3 Phân hữu cơ vi sinh trichomid - dt 45
Trang 15FAO Food and Agriculture Organization
EU Liên minh Châu Âu
TT Cách bón phân theo nông dân
NS Năng suất NSKT Ngày sau khi trồng
UAE Các tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất NSTT Năng suất thực tế
Tp Thành phố
SL Sản lượng TGST Thời gian sinh trưởng
USDA United States Department of Agriculture
Nts Nitơ tổng số
Pts Photpho tổng số
Phh Photpho hữu hiệu
Kts Kali tổng số CHC Chất hữu cơ
PVC Phân vô cơ
PHC Phân hữu cơ
VSV Vi sinh vật
NSCT Năng suất cá thể
NSLT Năng suất lý thuyết
NSTT Năng suất thực thu
Trang 161
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 T NH Ấ THI T ỦA Đ T I
Việc cung cấp các nguyên tố vi lượng, các dưỡng chất từ phân hữu cơ có
ý nghĩa trong việc gia tăng phẩm chất nông sản, làm trái cây ngon ngọt và ít sâu bệnh hơn Bón phân hữu cơ là nguồn thực phẩm cần thiết cho hoạt động của vi sinh vật đất: Các quá trình chuyển hóa, tuần hoàn dinh dưỡng trong đất,
sự cố định đạm, sự nitrat hóa, sự phân hủy tồn dư thuốc bảo vệ thực vật cũng như ức chế sự hoạt động của vi sinh vật gây bất lợi cho cây trồng
Cây ớt là một trong những cây trồng chủ lực ở huyện Chợ Mới – An Giang Hiệu quả kinh tế mang lại rất lớn Theo hiện trạng canh tác cây ớt và một số tính chất hóa học đất trồng ớt của vùng Chợ Mới – An Giang cho thấy hữu cơ đầu vụ từ thấp đến rất thấp, đa số nông dân nơi đây chỉ sử dụng phân
vô cơ NPK để bón cho cây ớt dẫn đến năng suất ớt không cao
Do đó, đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của phân trichomix – dt và vôi đến tính chất hóa học đất, năng suất cây ớt trồng tại xã Hội an, Chợ Mới - An Giang” là cần thiết, góp phần giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra trong sản xuất
nông nghiệp ở Chợ Mới – An Giang, nhằm nâng cao năng suất, tăng hiệu quả kinh tế và cải tạo độ phì nhiêu của đất trên cơ sở phát triển nông nghiệp bền vững
1.2 Ụ TI U NGHI N ỨU
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ và vôi đến năng suất cây ớt
- Đánh giá ảnh hưởng của bón vôi và phân hữu cơ đến một số đặc tính hóa học của đất, năng suất của cây ớt
- Điều tra hiện trạng sản xuất ớt của xã Hội An, Chợ Mới – An Giang năm 2019
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Cây ớt
- Đặc tính hóa học của đất
Trang 172
1.4 N I UNG NGHI N ỨU
- Tiến hành bố trí thí nghiệm bón vôi kết hợp phân hữu cơ trên đất trồng
ở xã Hội An và đo chỉ tiêu về chiều cao, đếm số lá, số chồi vào các giai đoạn
25, 45, 65 NSKT và lúc thu hoạch
- Tiến hành lấy mẫu đất và phân tích các chỉ tiêu về dinh dưỡng: N, P, K,
pH, chất hữu cơ (CHC) và tỷ lệ C/N trước và sau thí nghiệm
- Từ kết quả tiến hành tính toán hiệu quả kinh tế
+ Phân hữu cơ giúp cung cấp Cacbon hữu dụng cho VSV đất, thúc đẩy tốc độ phân hủy chất hữu cơ trong đất, làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, tăng
độ phì nhiêu, làm tăng năng suất cho cây trồng
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có thể dùng làm cơ sở khoa học để khuyến cáo cho nông dân áp dụng trong việc bón phân hữu cơ kết hợp với bón vôi tối ưu và có hiệu quả, giúp gia tăng năng suất cây trồng, đem lại hiệu quả kinh tế cho nông dân
Trang 18Cây ớt (Capsicum annuum L.) có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và vùng
cận nhiệt đới Châu Mỹ, bằng chứng về trồng ớt được tìm thấy sớm nhất ở nơi
an táng của người Peru và dấu vết về hạt giống là khoảng 5000 năm trước Công nguyên, được tìm thấy ở các hang động ớt Tehuacan, Mexico (Vincent
và cs, 1986) “Theo các nhà nghiên cứu phân loại thực vật thì trung tâm khởi nguồn của ớt là Mexico và trung tâm thứ hai là Guatemala, còn theo Valilop thì trung tâm khởi nguồn thứ hai là Evari” (Mai Thị Phương Anh và cs., 1996) Cây ớt được phân bố rộng rãi khắp châu Mỹ, bao gồm dạng hoang dại
và dạng trồng trọt (Muthukrishman và cs., 1986)
Theo tổ chức lương thực và nông nghiệp liên hiệp quốc (FAO, 2012) thì cây ớt được xem là một trong những cây trồng quan trọng của vùng nhiệt đới, diện tích trồng ớt thế giới vào khoảng 1.914.685 ha cho mục đích lấy quả tươi với sản lượng 31.171.567 tấn Các nước nhập khẩu và xuất khẩu quan trọng nhất bao gồm: Ấn Độ, Mexico, Trung Quốc, Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ (Zhejiang Univ Sci B, 2008) Cây ớt có mặt ở nước ta được du nhập từ Trung Quốc, Ấn
Độ Diện tích phân bố khá rộng rãi, tập trung ở miền Bắc và miền Trung, ở miền Nam diện tích trồng ớt còn phân tán
Ở Việt Nam cây ớt ngọt do người Pháp đưa sang (Trung tâm khuyến nông Tiền Giang, 2001)
2.1.1.2 Phân loại và phân bố
Theo Bosland P.W and Votava (2000) cây ớt thuộc họ cà (Solanaceae), chi Capsicum Hiện nay có ít nhất 25 loài hoang dại được biết đến và 5 loài
được thuần hóa bao gồm: Capsicum frutescens, bao gồm cả ớt Tabasco; Capsicum chinense, bao gồm cả loài ớt cay nhất như naga, habanero và Scotch bonnet; Capsicum pubescens, bao gồm cả ớt rocoto Nam Mỹ; Capsicum baccatum, bao gồm cả ớt cay Nam Mỹ; Capsicum annuum, bao gồm nhiều
loại khác nhau như Bell pepper, Paprika, Cayenne, Jalapexnos và Chiltepin
Trang 194
Trong năm loài trồng trọt thì loài Capsicum annuum là loài được trồng rộng khắp và thông dụng nhất, hầu hết các giống trồng trọt đều thuộc chi này (FAO ALG, 2002) Độ cay là một đặc điểm tiêu biểu của loài Capsicum annuum, hầu hết các giống thuộc loài này đều cay Tuy nhiên, một số giống cay không thuộc loài này (Bosland P.W and Votava, 2000) Capsicum frutescens được biết đến với dạng quả nhỏ và rất cay, nó được trồng phổ biến rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Các loài còn lại chỉ hạn chế ở
Nam và Trung Mỹ (Mai Thị Phương Anh và cs., 1996)
Bảng 2.1 Phân loại khoa học cây ớt hân loại khoa học
Phân họ (subfamilia) Solanoideae
Loài (species) 20 – 27 loài
- Thân: Khi cây già, phần gốc thân chính hóa gỗ, dọc theo chiều dài thân
có 4 – 5 cạnh Thân có lông hoặc không lông, cây cao 35 – 65 cm, có giống cao 125 – 135 cm Ớt phân tán mạnh, kích thước thay đổi theo điều kiện canh tác và giống
- Lá: Mọc đơn, đôi khi mọc chùm thành hình hoa thị, lá nguyên có hình trứng đến bầu dục, phiến lá nhọn ở đầu, lá màu xanh nhạt hoặc đậm, có lông hoặc không lông
Trang 20Hình 2.2 (A); (B) Hình thái hoa ớt; (C) Hình thái trái ớt
(Nguồn:https://www.syngenta.com.vn/cay-ot)
- Trái: Trái có 2-4 thùy, dạng trái rất thay đổi từ hình cầu đến hình nón,
bề mặt trái có thể phẳng, gợn sóng, có khía hay nhẵn; trái khi chín có màu đỏ đen vàng; trái không cay hay rất cay
- Hạt: Hạt có dạng thận và màu vàng rơm, chỉ có hạt của C.pubescens có màu đen Hạt có chiều dài khoảng 3-5 mm Một gam hạt ớt cay có khoảng 220 hạt (Mai Thị Phương Anh, 1999; Bosland P.W and Votava, 2000)
Trang 21& Yamaguchi (1986) nhiệt độ trung bình ngày là 20 – 250C, cây sinh trưởng tốt khi nhiệt độ ban đêm không vượt quá là 200C, nhiệt độ có khuynh hướng làm giảm mùi vị và sự phát triển của màu sắc trái
Nhìn chung, ớt có thể chịu được nhiệt độ cao hơn so với khoai tây hoặc
cà chua Tuy nhiên, hoa không thụ tinh ở nhiệt độ dưới 160C hoặc trên 320C
do số lượng hạt phấn ít Nhiệt độ tối cao cho hoa đậu là nhiệt độ ban ngày và ban đêm trong khoảng 16- 210
C, nhiệt độ ban đêm trên 240C dẫn đến hiện tượng rụng hoa, nhưng trái đậu có thể rụng nếu nhiệt độ trên 320
C (Bosland & Votava, 2000; V.E Rubatzky, M.Yamaguchi, 1986)
Ánh sáng
Theo Egovora (1975) ảnh hưởng của ánh sáng đến cây trồng bao gồm thời điểm chiếu sáng và cường độ ánh sáng Ớt là cây trồng không mẫn cảm với quang chu kỳ (ở nước ta cây ớt có thể trồng được quanh năm) Tuy nhiên, trong điều kiện ánh sáng ngày ngắn (thời gian chiếu sáng 9 – 10 giờ/ngày) sẽ
kích cây sinh trưởng tăng năng suất 21 – 24% (Mai Thị Phương Anh và cs.,
1996) Trong điều kiện trời âm u sẽ hạn chế sự đậu trái và giảm năng suất (Mai Thị Phương Anh, 1999)
*Đất và dinh dƣỡng:
Đất:
Với cây ớt, đất tương đối phù hợp là đất nhẹ, giàu vôi Ớt có thể sinh trưởng trên đất cát nhưng phải đảm bảo tưới tiêu và bón phân Đất chua và
Trang 22Anh và cs., 1996)
inh dƣỡng:
Nhu cầu dinh dưỡng của cây ớt tương đối lớn do cây sinh trưởng và phát triển mạnh, cây vừa sinh trưởng sinh dưỡng vừa ra hoa kết trái, thời gian sinh trưởng và thu hái kéo dài
Ớt là cây rất mẫn cảm với phân bón, trước hết là phân hữu cơ, nó cần lượng phân bón cao, bón sớm và cân đối lượng NPK Trong quá trình sinh trưởng của cây ớt cần xới xáo, làm cỏ để cây sinh trưởng và phát triển tốt (Nguyễn Xuân Điệp, 2010)
2.1.3 Tình hình sản xuất ớt
2.1.3.1 Giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng của cây ớt
Ớt chia thành hai nhóm ớt cay và ớt ngọt dựa vào hàm lượng capsicin chứa trong trái Ớt cay được trồng nhiều nơi trên khắp thế giới và các nước châu Á, trái được dùng một loại rau xanh để ăn hoặc chế biến (Trần Khắc Thi, 2003)
Ớt là loại cây trồng vừa được sử dụng như rau tươi, vừa được dùng làm gia vị vì có giá trị vitamin cao trong các loại rau nhất là vitamin C và vitamin
A (Caroten), theo một số tài liệu thì hàm lượng vitamin C ở một số giống ớt là 340mg/100g trái tươi, ngoài ra còn chứa một số vitamin như B1, B2, P,
E và khoáng chất (Mai Thị Phương Anh và cs., 1996; Trần Thị Tú Ngà, Trần Thế Tục và cs., 1995)
Theo Bajajj và CS (Mai Thị Phương Anh và cs., 1996) thì thành phần
cùa ớt đỏ gồm có:
- Chất khô 22,01%
- Axit acorbic 131,06mg/100g tươi
- Chất khô có màu 67,38 đơn vị ASTA
- Capsicin 0,34% trọng lượng khô
- Chất sơ thô 26,75% và tro tổng số 6,69%
Trang 23Anh và cs, 1996; Bosland P.W and Votava, 2000)
Nhìn chung, vai trò của ớt ngày nay đã được khẳng định, ngoài sử dụng như một loại thực phẩm, gia vị, y học Ớt còn được sử dụng như một loại cây cảnh dùng để trang trí trong gia đình
2.1.3.2 Tình hình sản xuất ớt trên thế giới
Xuất phát từ giá trị dinh dưỡng, hiệu quả kinh tế, cây ớt đã giữ một vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp hàng hóa, đặc biệt là các nước có điều kiện khí hậu, đất trồng thích hợp Cây ớt được xem là một trong những cây trồng quan trọng ở các vùng nhiệt đới Diện tích và sản lượng ớt trên thế giới ngày càng tăng
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất ớt trên thế giới (2009 – 2012)
Các châu
Thế giới 1.813.871 1.827.229 1.865.626 1.914.685 15.834 15.998 16.114 16.280 Châu Phi 324.070 301.182 321.053 363.937 9.051 8.726 7.866 7.929 Châu Mỹ 218.093 218.976 217.917 212.670 16.121 17.627 16.939 19.009 Châu Á 1.145.356 1.181.726 1.205.453 1.218.792 16.770 16.767 17.364 17.522 Châu Âu 123.791 122.620 118.497 116.545 24.298 23.427 24.115 24.279 C.Đại Dương 2.560 2.726 2.706 2.741 21.798 20.798 20.959 20.943
(Nguồn: FAO STAT Database, 2014)
Theo FAO, diện tích trồng ớt năm 1994 trên thế giới là 1,25 triệu ha thì tới năm 2001 diện tích này tăng lên 1,45 triệu ha, tăng lên 1,656 triệu ha vào năm 2004, với sản lượng ớt tươi là 24,027 triệu tấn (Zhejiang Univ Sci B, 2008) Tới năm 2009, diện tích ớt đã tăng lên trên 1,8 triệu ha Lên đến 1,91 triệu ha vào năm 2012, trong đó Châu Á dẫn đầu cả về sản lượng và diện tích với 63,6% diện tích và 68,5% sản lượng của toàn thế giới Tuy nhiên, về năng suất có thể nhận thấy Châu Á chỉ có năng suất đạt loại trung bình với trên 17,5 tấn/ha, Châu Phi có năng suất rất thấp 7,9 tấn/ha vào năm 2012 Châu Âu với việc áp dụng các công nghệ kỹ thuật tiên tiến trong canh tác ớt cho năng suất
Trang 249
cao gấp 1,5 năng suất trung bình của thế giới và gấp 3 lần so với Châu Phi năm 2012 Ngoài ra, Châu Đại Dương cũng có năng suất trung bình ở mức khá cao trên 20 tấn/ha
Bảng 2.3 Sản lượng ớt trên thế giới (2009 – 2012)
Châu Đại Dương 55.804 56.697 56.717 57.407
(Nguồn: FAO STAT Database, 2014) (Đơn vị: tấn)
Một số nước có sản lượng ớt cao như: Trung Quốc, Mexico, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ Trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng ớt cao nhất thế giới, sản lượng ớt hàng năm của nước này chiếm khoảng 30% sản lượng ớt của thế giới
Bảng 2.4 Sản lượng ớt ở một số nước trên thế giới (2009 – 2012)
Trang 25Nhìn chung, ớt được thương mại hóa trên toàn thế giới, đối với các nước đang phát triển thì mặc dù ớt chiếm tỷ trọng nhỏ trong sản xuất hàng hóa nhưng là nguồn thu nhập đáng kể (Bosland P.W and Votava, 2000)
2.1.3.3 Tình hình sản xuất ớt ở Việt Nam
Ở nước ta, ớt là một loại gia vị rất phổ biến, ở nông thôn được trồng trong vườn gia đình người ta thường trồng một vài cây ớt thường dùng trong bữa ăn hàng ngày, vừa để làm cảnh Ngoài lượng ớt trồng để sử dụng trong nước, hàng năm hàng trăm tấn ớt được xuất khẩu sang nhiều nước (Bùi Bách Tuyến, 1998)
Theo số liệu thống kê năm 1998 (Trần Ngọc Hùng, 1999) diện tích sản xuất ớt của cả nước là 2.114 ha, năng suất trung bình 5,6 tấn/ha, trồng tập trung chủ yếu tại các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, ĐBSCL, Tây Nam Bộ và các tỉnh Miền Trung
Tại ĐBSCL có 6 tỉnh trồng ớt với diện tích lớn đó là Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Sóc Trăng, Vĩnh Long và Trà Vinh Tổng diện tích trồng
ớt của 6 tỉnh này năm 2015 khoảng 7.079 ha, sản lượng đại 97.951 tấn (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, 2105)
Nông dân tỉnh An Giang đã xuống giống trồng được gần 2.000 ha ớt, chiếm 10% tổng diện tích cây rau màu, trong đó nhiều nhất là huyện Chợ Mới,
An Phú, Phú Tân, Tân Châu, thành phố Long Xuyên nhưng sản lượng vẫn không đủ cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu mạnh sang Campuchia (Nguồn: http://www.angiang.gov.vn)
2.1.4 Kỹ thuật canh tác ớt
2.1.4.1 Giống ớt
Hiện nay nhiều nơi vẫn canh tác giống địa phương là chính Giống trồng phổ biến ở ĐBSCL có giống Sừng Trâu, Chỉ Thiên, ớt Búng, ớt Hiểm, ở miền Trung có giống ớt Sừng Bò, Chìa Vôi Ngoài ra Viện Nghiên Cứu Nông nghiệp Hà Nội công bố bộ sưu tập với 117 giống nội địa (1987), điều này chứng minh nguồn giống ớt phong phú, đa dạng chưa được biết đến ở nước ta
Trang 2611
Tuy nhiên, giống địa phương bị lai tạp nên thoái hóa, quần thể không đồng đều và cho năng suất kém, trong khi các giống F1 có khả năng cho năng suất vượt trội trong điều kiện thâm canh cao nên bắt đầu được ưa chuộng
và đang thay thế dần các giống địa phương
* Giống lai F1:
- Giống Jet 18 (Công ty Syngenta sản xuất): Cây sinh trưởng khỏe, phân cành và ra hoa sớm, đậu quả tập trung, thu hoạch từ 75-80 ngày sau khi trồng; năng suất cao, ở điều kiện chăm sóc tốt có thể đạt 15-20 tấn/ha Dạng trái dài 6-7cm, đẹp, đều, thẳng, cứng, bóng láng, màu sắc đỏ tươi được thị trường ưa chuộng Jet18 chống chịu tốt với nhiều sâu bệnh hại quan trọng
- Giống Chili (Công ty Trang Nông phân phối): Trái to, dài 12-13 cm, đường kính trái 1,2-1,4cm; trọng lượng trung bình trái 15-16 gram, dạng trái chỉ địa, trái chín đỏ, cứng, cay trung bình, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng Cây cao trung bình 75-85 cm, sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh tốt và cho năng suất cao
- Giống số 20 (Công ty Giống Miền Nam phân phối): sinh trưởng mạnh, phân tán lớn, ra nhiều hoa, dễ đậu trái, bắt đầu cho thu hoạch 85-90 ngày sau khi cấy, cho thu hoạch dài ngày và chống chịu tốt bệnh virus Trái
ớt chỉ địa dài 14-16 cm, thẳng, ít cay, trái cứng nên giữ được lâu sau thu hoạch, năng suất 2-3 tấn/1.000m
- Giống TN 16 (Công ty Trang Nông phân phối): Cho thu hoạch 70-75 ngày sau khi gieo, trái chỉ thiên khi chín đỏ tươi, rất cay, dài 4-5 cm, đường kính 0,5-0,6cm, trọng lượng trung bình 3-4g/trái, đậu nhiều trái và chống chịu khá với bệnh thối trái, sinh trưởng tốt quanh năm
- Giống Hiểm lai 207 (Công ty Hai Mũi Tên Đỏ phân phối): Giống cho trái chỉ thiên, dài 2-3 cm, trái rất cay và thơm, năng suất 2-3 kg trái/cây, chống chịu khá bệnh thán thư
*Giống ớt hiểm F1 số 04 (Công ty Chánh Phong phân phối):
+ Cây sinh trưởng và phát triển rất mạnh, dễ trồng, đậu nhiều trái, thu hoạch sau gieo 95 ngày
+ Trái chỉ thiên, màu đỏ tươi, rất cay, trái cứng chắc, thích hợp bán ớt tươi, phơi khô cho thị trường trong nước và xuất khẩu
+ Kháng bệnh chết cây và thối trái
Trang 2712
* Giống địa phương:
- Giống Sừng Trâu: Bắt đầu cho thu hoạch 60-80 ngày sau khi cấy Trái màu đỏ khi chín, dài 12-15 cm, hơi cong ở đầu, hướng xuống Năng suất 8-10 tấn/ha, dễ nhiễm bệnh virus và thán thư trên trái
- Giống Chỉ Thiên: Bắt đầu cho trái 85-90 ngày sau khi cấy Trái thẳng, bóng láng, dài 7-10 cm, hướng lên, năng suất tương đương với ớt Sừng nhưng trái cay hơn nên được ưa chuộng hơn
- Giống Ớt Hiểm: Cây cao, trổ hoa và cho trái chậm hơn 2 giống trên nhưng cho thu hoạch dài ngày hơn nhờ chống chịu bệnh tốt Trái nhỏ 3-4 cm nên thu hoạch tốn công, trái cay và kháng bệnh đén trái nên trồng được trong mùa mưa
Hình 2.3 Các giống ớt phổ biến ở ViệtNam
(Nguồn:https://www.syngenta.com.vn/cay-ot)
2.1.4.2 Thời vụ
Ở tỉnh An Giang ớt có thể trồng quanh năm, tuy nhiên trong sản xuất thường canh tác ớt vào các vụ sau:
- Vụ sớm: Gieo tháng 8-9 dl, trồng tháng 9-10 dl, bắt đầu thu hoạch
tháng 12-1 dl và kéo dài đến tháng 4-5 dl năm sau Vụ này ớt trồng trên đất bờ liếp cao không ngập nước vào mùa mưa Ớt trồng mùa mưa đỡ công tưới nhưng đất phải thoát nước tốt, thu hoạch trong mùa khô dễ bảo quản, chế biến
và thời gian thu hoạch dài
- Vụ Đông xuân (vụ chính): Gieo tháng 10-11 dl, trồng tháng 11-12 dl,
bắt đầu thu hoạch tháng 2-3 dl năm sau Trong vụ này cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, ít sâu bệnh
Trang 2813
- Vụ Hè thu: Gieo tháng 4-5 dl, trồng tháng 5-6 dl, thu hoạch 8-9 dl là
thời điểm mùa lũ, bán được giá Mùa này cần trồng trên đất thoát nước tốt, có
đê bao chống lũ triệt để để tránh úng ngập
Hình 2.4 Các vụ ớt chính trong năm
(Nguồn:https://www.syngenta.com.vn/cay-ot)
2.1.4.3 Chuẩn bị cây con
Lượng hạt giống gieo đủ cấy ch 1 ha từ 15-25 gram (150-160 hạt/g) Diện tích gieo ươm cây con là 250 m2 Giá thể ươm hạt ớt gồm Xơ dừa + phân chuồng hoai (phân trùn quế) + tro trấu (mụn dừa) trộn theo tỉ lệ 1:1:1, bổ sung 0,5 kg Super lân và 5 g nấm Trichoderma cho 10 kg giá thể, trộn đều và sau đó cho nước vào đủ ẩm Giá thể sau khi trộn cho vào khay ươm chuyên dùng nén vừa chặt rồi gieo hạt.Sau khi gieo hạt 5-7 ngày, tưới thêm phân DAP liều
lượng 20-30g/10 lít nước (ngâm trước 5 giờ), định kỳ 5-6 ngày/lần
Hình 2.5 Gieo cây con ớt: Khay ươm chuyên dùng
(Nguồn: Trần Thị Ba).
2.1.4.4 Chuẩn bị đất trồng
- Đất trồng ớt: yêu cầu phải thoát nước tốt, có bờ bao chống lũ
- Đất được làm sạch cỏ, bón vôi (khi bón vôi không nên bón chung với các loại phân hóa học), cày ải phơi đất 10-15 ngày
Trang 2914
- Lên liếp: Chiều rộng liếp từ 1,0-1,2 m, cao 20-30 cm, khoảng cách 2 liếp 0,4-0,5 m Trong mùa mưa liếp cao ở giữa, hai bên thấp dần (dạng mui ghe)
do ánh nắng, hay rửa trôi do mưa
Công thức phân bón (1 ha): 222,7 kg N - 222,7 kg P2O5- 230,5 kg K2O
Chú ý: phun vôi sữa (Cavita) qua lá (30 cc/16 lít x 30 bình/ha) định kỳ
10 ngày/lần từ khi tượng trái (60 ngày sau khi trồng) nhằm hạn chế hiện tượng thối chóp đuôi trái
b) Tưới nước
Giai đoạn đầu tưới nước đủ ẩm, ớt cần nhiều nước nhất lúc ra hoa rộ và
phát triển trái mạnh Giai đoạn này thiếu nước hoặc quá ẩm đều dẫn đến đậu trái ít Nếu trồng trên chân đất lúa tưới thấm là phương pháp hiệu quả nhất, tùy theo độ ẩm đất có thể 3-5 ngày tưới/lần, mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt, không để nước ứ đọng lâu cây dễ bị bệnh và chết Tưới đủ nước, đất vừa ẩm, không lưu giữ nước dưới rãnh đi lại dễ bệnh héo rũ (tưới thấm buổi chiều, khoảng 60 phút sau rút cạn nước, tưới 2-4 ngày/lần)
Trang 3015
c) Tỉa nhánh
Các cành nhánh dưới điểm phân cành (chán ba) đều được tỉa bỏ cho gốc thông thoáng và các lá dưới cũng tỉa bỏ để ớt phân tán rộng
(a) Trước khi tỉa (b) Sau khi tỉa
Hình 2.6 Tỉa nhánh cho cây ớt: (a) trước khi tỉa nhánh và (b) sau khi tỉa nhánh
(Nguồn: Trần Thị Ba).
d) Làm giàn
Giàn giữ cho cây đứng vững, dễ thu hái trái, kéo dài thời gian thu hoạch, cành lá và trái không chạm đất, hạn chế thiệt hại do sâu đục trái và bệnh thối trái làm thiệt hại năng suất Giai đoạn cây ớt khoảng 40-45 ngày tuổi dùng cọc cắm dọc theo hàng ớt khoảng 2,5 - 3 m/cọc, sau đó dùng dây gân căng dọc theo hàng ớt
e) Quản lý sâu, bệnh hại
Áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp trên nguyên tắc hạn chế thấp nhất thiệt hại do sâu bệnh gây ra để đạt hiệu quả kinh tế cao, ít độc hại cho con người và môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho cây ớt phát triển
Các biện pháp quản lý sâu bệnh áp dụng như sau:
+ Mật độ trồng: 3.000 - 3.500 cây/ha
+ Bón phân: Cân đối đạm, lân và kali, tăng cường phân hữu cơ
Trang 3116
+ Vệ sinh đồng ruộng, thu gom và diệt ổ trứng sâu
- Biện pháp sinh học
+ Đặt bẫy màu vàng (có tráng keo) rất hiệu quả đối với rầy phấn trắng,
bù lạch và bướm sâu ăn tạp,
+ Sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học
đã thu hoạch bằng các hoá chất BVTV
+ Khi dùng thuốc BVTV phải tuân thủ theo nguyên tắc “4 đúng”
2.1.4.6 Thu hoạch
Khi trái ớt bắt đầu chuyển màu Ngắt nhẹ nhàng cả cuống trái mà không làm gãy nhánh Ớt cay cho thu hoạch khoảng 35-40 ngày sau khi trổ hoa, ở các lứa rộ thu hoạch thường cách 3-5 ngày thu hoạch 1 lần
2.2 HIỆU QUẢ CỦA BÓN VÔI VÀ PHÂN HỮU Ơ ĐỐI VỚI Đ PHÌ NHIÊU
CỦ ĐẤT V NĂNG SUẤT CÂY TRỒNG
2.2.1 Bón vôi
Vôi không chỉ đơn thuần là phân bón cung cấp dưỡng chất canxi (Ca) cho cây trồng mà còn nhiều tác dụng nữa mà phân hóa học khác không có được, đó là: (a) Vôi ngăn chận sự suy thoái của đất; (b) Vôi khử được tác hại của mặn; (c) Vôi ức chế sự phát triển của nấm bệnh trong đất; và (d) Vôi phát huy hiệu lực của phân hữu cơ, phân vô cơ và thuốc diệt cỏ
Cần hiểu rõ tác dụng của từng dạng vôi trước khi sử dụng: (1) Bột đá vôi (CaCO 3 ): được làm ra bằng cách nghiền mịn đá vôi Loại nầy tác dụng chậm, thường từ 2-6 tháng sau khi bón tùy theo độ mịn của bột đá; (2) Vôi nung” (CaO): được tạo ra bằng cách nung đá vôi trong lò nung như làm gạch ở nhiệt
độ khoảng 900-1.000o
C Loại nầy tác dụng mạnh và nhanh nhất nhưng dễ gây
bỏng khi gặp nước; (3) Vôi tôi (Ca(OH) 2 ): được tạo ra bằng cách tưới lên vôi
nung một lượng nước gần bằng trọng lượng của nó, lúc đó vôi tả ra thành bột, sinh nhiệt (khoảng 150oC) và bốc hơi Dạng vôi nầy tác dụng cũng khá nhanh;
Trang 3217
(4) Vôi thạch cao (CaSO 4 ): Đây là dạng vôi đặc biệt có chứa lưu huỳnh, tác
dụng nhanh nhưng không nên sử dụng ở đất có phèn
Vôi cung cấp dưỡng chất Canxi cho cây trồng
Canxi là dưỡng chất trung lượng nên cây trồng cần nhiều Canxi để làm vững chắc vách tế bào Do đó, thiếu Canxi cây yếu ớt dễ đổ ngã, dễ bị sâu bệnh tấn công, trái hay bị nứt; khi thiếu trầm trọng đọt lá non biến dạng, quăn queo rồi chết khô Ngoài ra, Canxi còn giúp cây trồng giải độc, tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi của nắng nóng, mặn và phèn Hầu hết đất canh tác ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đều thiếu Canxi, do đó cần phải bón vôi (bột đá vôi hay vôi tôi) mỗi năm một lần để cung cấp Ca cho cây Đối với lúa, nên bón lúc làm đất vụ Hè Thu, còn vườn cây ăn trái nên bón vào đầu mùa mưa với liều lượng từ 30-50 kg/công Lưu ý, Ca được cây hấp thụ qua tiến trình hút nước, đồng thời Ca không chuyển vị trong cây nên cây cần
Ca trong suốt quá trình sinh trưởng
Vôi ngăn chận sự suy thoái của đất
Ở đất có phèn, đất thâm canh, đất canh tác bón nhiều phân đạm (urê) và kali lâu năm, và nhất là điều kiện nóng, ẩm mưa nhiều như ở ĐBSCL thì sự suy thoái của đất diễn ra khá nhanh chóng Khi đất bị suy thoái, năng suất cây trồng giảm dần theo thời gian canh tác, khoáng sét trong đất bị phá hủy, đất mất dần cấu trúc, trở nên rời rạc, mềm nhão khi gặp nước và kết dính đóng váng khi khô, đất trở nên bí chặt kém thông thoáng Nếu để tình trạng suy thoái kéo dài, đất trở nên già cổi, bạc màu, sức sản xuất kém, năng suất và chất lượng của cây trồng giảm, lúc đó không thể khôi phục lại sức sống của đất được Bón vôi (bột đá vôi) vào đấu mùa mưa là một trong những biện pháp hữu hiệu ngăn chận tiến trình suy thoái nầy, giảm ngộ độc sắt (Fe), nhôm (Al)
và măngan (Mn) cho cây trồng, phục hồi cấu trúc đất làm đất thông thoáng, thấm nước tốt
Vôi khử được tác hại của mặn
Mực nước biển dâng lên do tác động của biến đổi khí hậu, cùng với lưu lượng nước sông Cửu Long ngày càng ít đi trong mùa nắng, làm cho nước biển xâm nhập sâu vào đất liền gây nhiễm mặn nhiều vùng đất ven biển ở ĐBSCL Đất nhiễm mặn bị mất dần cấu trúc, rời rạc; Còn cây trồng thì không hút được nước và dưỡng chất Để hạn chế tác hại của mặn, những vùng đất mặn có phèn nên bón vôi nung (CaO) để rửa mặn, còn đất mặn không phèn nên bón vôi thạch cao (CaSO4) với liều lượng khoảng 30-50 kg/công Bón
Trang 3318
bằng cách rải đều trên đất ruộng đã được cày xới và ngập nước, đối với đất liếp phải được cuốc lên trước khi bón vôi Sau khi rải vôi cần bừa hoặc trục cho vôi trộn đều trong đất, ngâm nước từ 1-2 ngày rồi rút bỏ nước nầy đi Còn đất liếp vườn cây ăn trái thì phải tưới một lượng nước ngọt dư thừa để rửa mặn
ra khỏi liếp
Vôi ức chế sự phát triển của nấm bệnh trong đất
Đất trở nên chua khi bị suy thoái là điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh trong đất phát triển Trên đất ruộng, nấm bệnh làm dưa bị chạy dây, cà bị héo
rủ Bệnh vàng lá, thối rễ, chảy mủ thânở cây ăn trái trồng trên đất liếp lâu năm ngày càng trở nên nghiêm trọng ở ĐBSCL Một trong những biện pháp ức chế
sự phát triển của những loại nấm gây hại nầy là bón vôi cải tạo đất Thông thường có thể bón hàng năm vào thời điểm sửa soạn đất hoặc bón liều cao từ 100-200 kg/công nhưng vài năm mới bón lại một lần Bón vôi sẽ giúp cho những vi khuẩn có lợi trong đất phát triển như vi khuẩn cố định đạm ở cây họ đậu Câu “không lân, không vôi thôi trồng đậu” cũng đã nói lên vai trò của vôi trong canh tác
Vôi phát huy hiệu lực của chất hữu cơ, phân vô cơ và thuốc diệt cỏ
Bón vôi giúp chất hữu cơ phân hủy nhanh hơn, làm giảm ngộ độc hữu cơ
ở đất lúa; Vôi giúp giữ chất mùn (từ sự phân hủy chất hữu cơ) không bị rửa trôi ở đất liếp vườn cây ăn trái và ở đất có nhiều cát, nên đã phát huy vai trò của chất hữu khi được cung cấp vào đất
Ở đất phèn, phân lân bón vào đất chỉ hữu dụng khoảng 30%, bón vôi trước khi bón phân lân, nhất là lân supe sẽ làm gia tăng sự hữu dụng của phân lân Bón vôi còn làm gia tăng hữu dụng dưỡng chất Môlipđen (Mo) và gia tăng sự hấp thu Kali (K) của cây trồng
Các loại thuốc diệt cỏ thuộc nhóm hoá học Triazine (Ametryn, Atrazine)
và nhóm Sulfonylurea (Bensulfuron Methyl, Cinosulfuron, Ethoxysulfuron) phát huy tác dụng diệt cỏ hữu hiệu hơn ở đất có bón vôi
Tóm lại, vôi có nhiều tác dụng tốt làm tăng năng suất, chất lượng cây trồng và giúp môi trường canh tác bền vững Nguyên liệu làm vôi (đá vôi) ở nước ta có rất nhiều từ Bắc chí Nam và ngay cả ở ĐBSCL Lâu nay nông dân
có phần ngán ngại trong việc sử dụng do bột vôi gây khó khăn cho người rải phân Do đó, cần có những nghiên cứu kỹ thuật sản xuất vôi giúp cho nông dân sử dụng được tiện lợi hơn (Nguyễn Bảo Vệ, 2014)
Trang 3419
2.2.2 Bón phân hữu cơ
2.2.2.1 Khái niệm phân hữu cơ và sự khoáng hoá chất hữu cơ
Phân hữu cơ là tên gọi chung cho các loại phân được sản xuất từ các vật liệu hữu cơ như dư thừa thực vật, phân chuồng, phân xanh, chất thải thực vật, các phế phẩm nông nghiệp vùi trực tiếp vào đất hay ủ thành phân Sau khi phân giải có khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây Quan trọng hơn nữa là có khả năng tái tạo lớn Đây là nguồn phân quý, không những tăng năng suất cây trồng mà còn có khả năng làm tăng hiệu lực của phân hóa học, cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu của đất (Ngô Ngọc Hưng, 2004)
Kinh nghiệm trong quá trình sử dụng, nghiên cứu phân bón cho thấy để đảm bảo năng suất cao và ổn định, việc cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng chỉ dựa vào phân vô cơ là không đủ, mà phải có phân hữu cơ ít nhất 25% trong tổng số dinh dưỡng (Vũ Hữu Yêm, 2005)
Michel Vilain (1989) đề nghị phân loại theo mức độ khoáng hóa chất hữu cơ hay khả năng tạo mùn của chất hữu cơ Chất hữu cơ có tỷ lệ C/N cao được vùi trực tiếp vào đất không qua chế biến, chức năng chủ yếu là cải tạo đất thì được gọi là chất hữu cơ cải tạo đất Chất hữu cơ thông qua chế biến hay không thông qua chế biến có tỷ lệ C/N thấp thì gọi là phân hữu cơ (Vũ Hữu Yêm, 2005)
Chất hữu cơ là một thành phần cơ bản kết hợp với các sản phẩm phong phú từ đá mẹ để tạo thành đất Chất hữu cơ là một đặc trưng để phân biệt đất với đá mẹ và là nguồn nguyên liệu để tạo nên độ phì của đất Số lượng và tính chất của chất hữu cơ quyết định đến nhiều tính chất hóa lý và sinh học của đất (Nguyễn Thế Đặng, 1999)
Chất hữu cơ là bộ phận của đất có thành phần phức tạp và có thể chia làm hai phần: Chất hữu cơ chưa bị phân giải và những tàn tích hữu cơ như: thân, rễ, lá thực vật, xác động vật, xác vi sinh vật Phần thứ hai là những chất hữu cơ đã phân giải Trong phần chất hữu cơ đã phân giải này chia làm hai nhóm:
+ Nhóm những hợp chất hữu cơ ngoài mùn
+ Nhóm những hợp chất mùn
Nhóm những hợp chất trong đất ngoài mùn chiếm tỷ lệ thấp trong toàn
bộ chất hữu cơ thường không vượt quá 10-15% (trừ than bùn hoặc đất dưới rừng có tầng thảm mục dày) Nhóm chất hữu cơ này gồm các chất hữu cơ
Trang 35cơ
Bảng 2.6 Thang đánh giá chất hữu cơ trong đất (% CHC)
(theo I.V Chiurin, 1972)
Chất hữu cơ trong đất, % Đánh giá
<1.0% Rất nghèo 1.1 – 3.0% Nghèo 3.1 – 5.0% Trung bình 5.1 – 8.0% Khá
>8.1% Giàu Theo Nguyễn Thế Đặng (1999), thì sự khoáng hoá phụ thuộc vào : thành phần chất hữu cơ, ẩm độ của đất (thích hợp là 70-80%), nhiệt độ (thích hợp là 25-35oC), pH đất (thích hợp 6.5-7.5), và càng thoáng khí khoáng hoá càng nhanh Quá trình khoáng hoá xảy ra nhanh khi gặp điều kiện thuận lợi tạo ra nhiều chất dinh dưỡng cho cây trồng Tuy nhiên khoáng hoá xảy ra trong điều kiện yếm khí thì sẽ sinh ra nhiều chất độc có hại cho cây trồng như:
CH4, CO2, H2S…(Lê Huy Bá, 2000)
Hình 2.9 Sự chuyển hóa chất hữu cơ trong đất (Dương Minh Viễn, 2003)
* Nguồn gốc chất hữu cơ
Nguồn gốc nguyên thủy của chất hữu cơ trong đất là mô thực vật: thân,
rễ, lá cây sau khi chết đi sẽ bị mục nát, hoa màu sau khi thu hoạch thì phần còn lại như: Lá hay rễ cũng bị phân hủy để cung cấp chất hữu cơ cho đất
Trang 36Phân hữu cơ đối với đất đang canh tác thì lượng chất hữu cơ do con người bón vào đất là nguồn hữu cơ đáng kể Những nơi thâm canh cao người
ta có thể bón tới 80 tấn hữu cơ trên ha Nguồn phân hữu cơ bao gồm: phân chuồng, phân xanh, phân rơm rác, bùn ao tùy thuộc vào loại phân hữu cơ khác nhau mà chất lượng khác nhau (Ngô Ngọc Hưng, 2004)
Phân hữu cơ là loại phân bón được loài người sử dụng đầu tiên, từ gần
3000 năm trước đây ở Trung Quốc (Nguyễn Đăng Nghĩa, 2002)
2.2.2.2 Vai trò của phân hữu cơ
* Vai trò của phân hữu cơ đối với cây trồng
Từ lâu vấn đề này được biết đến, chất hữu cơ trong đất có ảnh hưởng đến
sự phát triển của cây trồng, nó không thể giải thích thông qua sự thêm dinh dưỡng đơn độc Chất hữu cơ chứa các nguyên tố N, P, K, Mg, Ca, S và nhiều nguyên tố vi lượng cần thiết cho cây
Cây có thể hút trực tiếp một lượng chất đạm hữu cơ dưới dạng Amino Acid như: Alanine, Glyeine, còn thông thường cây hút các chất dinh dưỡng dưới dạng muối khoáng có được từ sự khoáng hóa chất hữu cơ Ví dụ: Cây lúa hút 80% chất đạm từ sự khoáng hóa chất hữu cơ trong đất, ngay cả khi đất được bón phân (Đỗ Thị Thanh Ren, 1993) Bón kết hợp thích đáng giữa phân hóa học và phân hữu cơ sẽ có tác dụng tăng năng suất cây trồng
Phân hữu cơ có chứa đầy đủ các loại chất khoáng cần thiết cho cây trồng nhưng hàm lượng không nhiều Mặc dù phân hữu cơ không có tác dụng tức thời như phân hóa học, nhưng bón với số lượng lớn thì tác dụng của nó không thua kém phân hóa học (Nguyễn Thanh Hùng, 1984)
* Vai trò của phân hữu cơ đối với đất
- Cải tạo hóa tính đất và bồi dưỡng đất
Trang 3722
Phân hữu cơ có tác dụng cải tạo đất toàn diện, đặt biệt nó cải tạo nhiều đặc tính xấu của đất ngoài việc cải tạo đất nghèo dinh dưỡng, phân hữu cơ còn làm tăng lượng chất hữu cơ và mùn trong đất mà phân hóa học không có được Bón phân hữu cơ đất ít bị rửa trôi thành đất bị bạc màu hoặc trơ cát sỏi Chất hữu cơ có tác dụng như keo giữ lại các hạt đất rất nhỏ Đồng thời, nếu chất mùn trong đất được tăng lên thì các chất dinh dưỡng do ta bón cho cây như: N,
P, K cũng ít bị rửa trôi hay bay hơi đi mất Ngoài ra, đất có tính đệm nghĩa là khi bón các loại phân hóa học hoặc vôi vào đất thì tính chất hóa học của đất như: chua, kiềm, mặn ít tăng đột ngột nên cây trồng ít bị thiệt hại Bón phân hữu cơ vào các loại đất thịt nhẹ, đất xám, đất cát làm cho đất không có cấu trúc rời rạc, nhờ đó hạn chế sự bốc hơi nước của đất và giúp cây ít bị khô héo nhanh khi bị nắng hạn, nhưng khi gặp mưa dầm thì đất ít bị dính chặt, dễ hút nước hơn…Ngược lại, đất thịt nặng hoặc đất sét nếu được bón nhiều phân hữu
cơ thì đất trở nên tơi xốp hơn do đó cây trồng sẽ phát triển mạnh để hút nhiều thức ăn cho năng suất cao (Nguyễn Thanh Hùng, 1984)
Theo Vũ Hữu Yêm (1995) và Nguyễn Ngọc Nông (1999) cho rằng: Phân hữu cơ khi bón vào đất sau khi phân giải sẽ cung cấp thêm các chất khoáng làm phong phú thêm thành phần thức ăn cho cây và sau khi mùn hóa làm tăng khả năng trao đổi của đất Đặc biệt là các humic aicd trong phân có tác dụng khoáng hóa đạm rất tốt trong đất (Nguyễn Bảo Vệ, 1996)
Bón phân hữu cơ sẽ cung cấp thêm các khoáng chất cho cây, phân hữu
cơ làm tăng khả năng hòa tan cho chất khoáng khó hòa tan
Các chất hữu cơ sau khi mùn hóa làm tăng khả năng trao đổi chất của đất Đặc tính này quan trọng đối với thành phần cơ giới nhẹ: khả năng trao đổi của mùn gấp 5 lần khả năng trao đổi của đất sét
Cây trồng lấy từ đất một lượng dinh dưỡng khá lớn, nhiều chất bị rửa trôi, bay hơi (N) nên phải trả lại lượng dinh dưỡng cho đất để duy trì độ phì nhiêu của đất Để đáp ứng thức ăn cho cây trồng Bón phân hữu cơ có tác dụng cung cấp cho đất gần đầy đủ các loại dưỡng chất cần thiết: N, P, K, Ca, Mg và nhiều chất vi lượng khác mà phân hóa học không có đặc điểm này (Nguyễn Thanh Hùng, 1984)
Theo Ngô Ngọc Hưng và cs., 2004 phân hữu cơ còn cung cấp CO2 cho
sự quang tổng hợp chất hữu cơ, cung cấp các chất dinh dưỡng hữu cơ như: Đường và các amino acid là sản phẩm trung gian trong quá trình phân hủy, có thể được cây trồng sử dụng, làm giảm khả năng trực di các cation, điều này
Trang 3823
quan trọng trong các loại đất chứa ít sét, làm gia tăng khả năng đện các chất dinh dưỡng, chủ yếu là N, P, K và S Vì vậy, làm tăng hiệu quả của phân hóa học vào đất
Hữu cơ còn là nhân tố tích cực tham gia vào chuyển hóa lân trong đất từ
dạng khó tiêu sang dạng dễ tiêu, hữu dụng cho cây trồng (Nguyễn Thị Thủy và cs., 1997) Mặt khác, chất hữu cơ còn có tác dụng đệm trong hầu hết các loại
đất (Đỗ Thị Thanh Ren, 1998), hay tạo phức chất hữu cơ – khoáng để khắc
phục các yếu tố độc hại trong đất (Lê Văn Khoa và cs., 1996) Theo Lê Duy
Phước (1968), tăng cường bồi dưỡng đất bằng phân hữu cơ kết hợp sử dụng vôi, phân hóa học hợp lý để cải tạo thành phần lý – hóa của đất, cải tạo nhanh chóng đất bạc màu Bên cạnh đó, chất hữu cơ còn phát huy tác dụng của các chất điều hòa tăng trưởng sinh ra trong đất (Hoàng Minh Châu, 1998)
- Cải tạo lý tính của đất
Các kết quả nghiên cứu cho thấy việc trộn chất hữu cơ vào đất làm tăng
độ định kết cấu đất Tác dụng ổn định cấu trúc đất phụ thuộc vào bản chất chất hữu cơ, và mức độ mùn hóa Mùn tăng khả năng kết dính các hạt đất để tạo thành đoàn lạp và làm giảm khả năng thấm ướt khiến cho kết cấu được bền trong nước (Đỗ Thị Thanh Ren, 1998)
Chất hữu cơ làm cho nước ngấm vào đất thuận lợi hơn, khả năng giữ nước cao hơn, việc bốc hơi mặt đất ít đi nhờ vậy mà tiết kiệm nước được tưới Phân hữu cơ có tác dụng làm đất thông thoáng tránh sự tạo váng và tránh
sự xói mòn Cải thiện lý hóa tính và đặc tính sinh học của đất, làm đất tơi xốp, thoáng khí , ổn định pH, giữ ẩm cho đất, tăng khả năng chống hạn cho cây trồng Tạo điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động của các vi sinh vật hữu ích trong đất, giúp bộ rễ và cây trồng phát triển tốt Góp phần đẩy mạnh quá trình phân giải các hợp chất vô cơ, hữu cơ thành nguồn dinh dưỡng dễ tiêu N, P, K,
vi lượng để cây trồng hấp thụ, qua đó giảm các tổn thất do bay hơi, rữa trôi gây ra Phân hủy các độc tố trong đất, tiêu diệt các loại mầm bệnh, các loại vi sinh vật gây hại, làm giảm mầm mống sâu bệnh trong đất Góp phần làm sạch môi trường, cho nông sản sạch, an toàn trong tiêu dùng, chất lượng cao (Vũ Hữu Yêm, 1995)
Ngoài ra, phân hữu cơ còn đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi và nâng cao độ phì nhiêu đất thoái hóa, khối lượng phân hữu cơ vùi vào đất càng lớn thì độ phì nhiêu hồi phục càng nhanh (Lê Hồng Tịch, 1997)
- Tác dụng đến đặc tính sinh học của đất
Trang 3924
Trong quá trình phân giải, phân hữu cơ cung cấp thêm thức ăn cho vi sinh vật, cả thức ăn khoáng và thức ăn hữu cơ, nên khi vùi phân hữu cơ vào đất tập đoàn vi sinh vật trong đất phát triển nhanh, cả giun đất cũng phát triển mạnh
Bón phân chuồng, phân rác vào đất còn làm phong phú thêm tập đoàn vi sinh vật trong đất
Một số chất có hoạt tính sinh học (phytohormone) được hình thành lại tác động đến việc tăng trưởng và trao đổi chất của cây (Đỗ Thị Thanh Ren, 1998)
Thông qua hoạt động của vi sinh vật chất hữu cơ phân hủy biến thành mùn, mùn có khả năng kiên kết những hạt đất phân tán làm cho đất có cấu trúc tốt, thoáng khí, tăng độ xốp, đất dễ cày bừa, giữ phân và giữ nước tốt hơn Khi bón phân hữu cơ một cách có hệ thống sẽ cải thiện những tính chất lý – hóa
cũng như sinh học, chế độ nước, chế độ nhiệt của đất (Lê Văn Khoa và cs.,
1996)
Bón phân hữu cơ vào đất làm tăng dung tích hấp thụ NH4+ Bón từ 6-15 tấn hữu cơ khả năng hấp thu NH4+ tăng lên 15-24%, dung tích hấp thu tăng Bón phân hữu cơ làm tăng hiệu quả của khoáng hóa
Khối lượng phân hữu cơ vùi vào trong đất càng nhiều thì độ phì nhiêu phục hồi càng nhanh (Ngô Ngọc Hưng, 2004)
- Chức năng vệ sinh, bảo vệ
Tăng cường phân hủy sinh học nông dược dư tồn trong đất thông qua việc kích thích hoạt động vi sinh vật trong đất
Hấp phụ các chất làm ô nhiễm đất như tạo phức với kim loại nặng một
số nông dược (Phạm Tiến Hoàng, 2003)
- Tác dụng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng
Phân hữu cơ cung cấp chất dinh dưỡng cho cây nhờ chất acid humic (Hoàng Minh Châu , 1998) Theo Nguyễn Bảo Vệ, 1996 các chất hữu cơ cũng
là nguồn dinh dưỡng cung cấp cho cây do mùn bị phân hủy (Akio Inoko, 1984) và hòa tan các chất vô cơ trong đất
Chất hữu cơ không chỉ là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng
mà còn có tính chất bền vững đến tiềm năng, năng suất cao nhất cho phép của
Trang 40Bảng 2.7 Hàm lượng NPK có trong các loại phân hữu cơ tự nhiên
2.2.2.3 Lợi ích của việc bón phân hữu cơ
Qua những phân tích về mặt bất lợi về lý, hóa cũng như sinh học đất do
sự suy giảm độ phì nhiêu của đất Hướng lâu dài để cải thiện và phục hồi dần cấu trúc đất, tăng cường độ phì nhiêu về mặt dinh dưỡng và sinh học đất, chống chịu các nguồn sâu bệnh từ đất là là tăng cường hàm lượng chất hữu cơ trong đất
Các loại phân hữu cơ như phân chuồng, phân xanh, rơm rạ, tàn dư thực vật đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi và nâng cao độ phì nhiêu của đất bị thoái hóa Khối lượng phân hữu cơ vùi vào đất càng lớn thì độ phì nhiêu hồi phục càng nhanh
Các lợi ích của việc bón phân hữu cơ
ợi ích thứ nhất: cải thiện và ổn định kết cấu của đất Đây là điều kiện
tiên quyết làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, từ đó: