Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong Hát phường vải Nghệ Tĩnh Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong Hát phường vải Nghệ Tĩnh Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong Hát phường vải Nghệ Tĩnh luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ MAI HOA
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỚI TÍNH TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI NGHỆ TĨNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
VINH – 2010
LỜI CAM ĐOAN
Trang 2Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các công trình nghiên cứu khác có liên quan và được trích dẫn trong Luận án có chú thích rõ ràng ở phần tài liệu tham khảo Mọi tư liệu, kiến giải, kết luận là của bản thân, không sao chép
từ bất kì một tài liệu nào Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Vinh, ngày 20 tháng 06 năm 2010
Người viết
Nguyễn Thị Mai Hoa
MỤC LỤC
trang Lời cam đoan
Mục lục
2
3
Trang 3Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt
2.1 Vai giao tiếp trong hát phường vải
2.2 Giới tính thể hiện qua hệ thống từ xưng hô trong hát phường vải
2.3 Tiểu kết
Chương 3: NGÔN NGỮ GIỚI TÍNH THỂ HIỆN QUA MỘT SỐ HÀNH
ĐỘNG NÓI TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI
3.1 Dẫn nhập
3.2 Hành động nói trong một số bước hát của cuộc hát phường vải lề lối
3.3 Tiểu kết
Chương 4: GIỚI TÍNH VAI GIAO TIẾP THỂ HIỆN QUA CÁCH SỬ DỤNG
NGÔN TỪ TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI
4.1 Cách dùng một số lớp từ đặc trưng về giới
4.2 Cách dùng hệ thống biểu tượng nói về giới
4.3 Cách dùng hệ thống từ ngữ chỉ thời gian, không gian
4.4 Cách dùng nghệ thuật chơi chữ và dẫn ngữ
4.5 Tiểu kết
KẾT LUẬN
DANH MỤC NHỮNG BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4Bảng 1.1: Tổng quát năm lớp hành động nói của Searle 1979 (theo Yule 1996)
Bảng 1.2: Các đặc trƣng của loại hình văn hoá gốc nông nghiệp (Theo Trần Ngọc Thêm 1977)
27
36
Trang 5Bảng 2.1: Phân loại lời hát phường vải theo vai giao tiếp qua các chặng hát
Bảng 2.2: Quan hệ tương tác vai giao tiếp qua các cặp từ xưng hô đầy đủ
Bảng 2.3: Tổng hợp các cặp từ xưng hô trống từ chỉ ngôi
Bảng 3.1: Hành động nói trong hát phường vải xét theo giới tính vai giao tiếp
Bảng 4.1: Tổng hợp số liệu lớp từ ngữ về giới trong hát phường vải
Bảng 4.2: Tổng hợp lớp từ có ý nghĩa định danh nói về giới trong hát phường vải
Bảng 4.3: Tổng hợp lớp từ chỉ quan hệ thân tộc nói về giới
Bảng 4.4: Tổng hợp lớp từ chỉ ngoại hình nói về giới
Bảng 4.5: Tổng hợp lớp từ chỉ tài năng, phẩm chất, phong thái theo giới tính
Bảng 4.6: So sánh lớp từ chỉ công việc gắn với giới tính
Bảng 4.7: Tổng hợp hệ thống biểu tượng theo vai giao tiếp trong hát phường vải
Bảng 4.8: Tổng hợp từ ngữ biểu thị thời gian trong hát phường vải
Bảng 4.9: Tổng hợp từ ngữ biểu thị không gian trong hát phường vải
Bảng 4.10: Tổng hợp các phương tiện, biện pháp tu từ trong hát phường vải
Bảng 4.11: Tổng hợp các biện pháp chơi chữ trong hát phường vải
Trang 6thần một thời của người xứ Nghệ, phản ánh sâu sắc văn hoá đặc trưng xứ Nghệ Xuất phát từ hoàn cảnh giao tiếp này, các vai giao tiếp trong HPV có thể quy về hai giới: vai nam và vai nữ Theo đó, đặc trưng ngôn ngữ giới tính cũng thường chi phối trực tiếp tới nội dung và hình thức biểu hiện lời ca của các vai giao tiếp Mặt khác, ở một mức độ nhất định, ngôn ngữ giới tính trong HPV cũng chịu ảnh hưởng của đặc trưng văn hoá xứ Nghệ
1.2 Tuy nhiên, khi nghiên cứu về ca dao dân ca (CDDC) nói chung, HPV nói riêng, các nhà nghiên cứu thường tập trung quan tâm khai thác ở góc độ văn học Hướng nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học là một hướng nghiên cứu ít được chú ý tới
Thời gian gần đây, một số nhà nghiên cứu đã vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học xã hội
và lí thuyết dụng học vào việc khai thác giá trị của thơ ca dân gian Nhờ đó, các giá trị ngôn ngữ của thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh, của HPV Nghệ Tĩnh đã được soi xét trên một số bình diện từ nhiều góc độ khác nhau Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu đã có vẫn chưa đặt ra vấn đề tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ giới tính trong các loại hình văn học nghệ thuật nói chung cũng như trong HPV nói riêng; mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính vẫn là một lĩnh vực mới mẻ và số công trình nghiên cứu còn khiêm tốn Chưa
có công trình nào bàn chuyên về đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong HPV Nghệ Tĩnh
Vì vậy, đây vẫn còn là một hướng đi khá mới mẻ, hấp dẫn
1.3 Với những kết quả đã đạt được, lí thuyết ngôn ngữ học xã hội và lí thuyết dụng học đang ngày càng khẳng định mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính, giữa ngôn ngữ giới tính và văn hoá Như vậy, việc nghiên cứu, xác định yếu tố giới tính trong ngôn ngữ đối đáp nam nữ của HPV cũng sẽ góp phần tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ, văn hoá và con người xứ Nghệ Và công việc này càng có ý nghĩa hơn khi đây vẫn là một mảng đề tài chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu
Chính ý nghĩa quan trọng của việc nghiên cứu yếu tố giới tính trong HPV và tính
mới mẻ, hấp dẫn của vấn đề này là cơ sở để chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: "Đặc
điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh"
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1 Về vấn đề quan hệ giữa giới tính và ngôn ngữ
Trang 7Quan hệ giữa giới tính và ngôn ngữ đã và đang là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực chuyên môn trong xã hội Nó không còn là lĩnh vực riêng của các nhà ngôn ngữ học và những nhà chuyên môn về ngôn ngữ mà còn được nhìn rộng ra theo cách tiếp cận ngôn ngữ - xã hội liên quan đến hàng loạt vấn đề khác như sinh học, địa vị, vai trò trong gia đình cũng như trong xã hội của mỗi giới Tính xã hội của vấn đề còn thể hiện ở sự đông đảo, đa dạng của giới chuyên môn đã và đang quan tâm nghiên cứu yếu
tố giới tính trong ngôn ngữ như: các nhà ngôn ngữ học, các phóng viên, công chức, biên tập viên, các nhà quản lí, các nhà giáo dục học, tâm lí học, sử học, xã hội học, luật sư Theo đó, phương pháp nghiên cứu và trọng tâm phân tích cũng khác nhau Những người nghiên cứu không chuyên về ngôn ngữ có thiên hướng tập trung vào một số hiện tượng như sự định kiến về giống, sự thiếu cân đối trong việc sử dụng từng cặp, lối diễn
tả nam giới và nữ giới, tính vô hình của nữ giới trong ngôn ngữ, hoặc tập trung vào kết cấu của những diễn ngôn mang tính kì thị giới Ngược lại, các nhà ngôn ngữ học lại sử dụng các phương pháp tiếp cận chuyên ngành (phương pháp ngôn ngữ học so sánh, phương pháp ngôn ngữ học lịch sử, phương pháp phân tích diễn ngôn ) để khảo sát, nghiên cứu những biểu hiện giới tính trong ngôn ngữ thể hiện trên một số phương diện:
âm vị, từ vựng, ngữ pháp, phong cách ngôn ngữ [55, tr 27, 28] Để có căn cứ lí luận cho việc triển khai các nội dung của đề tài, ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới một số kết quả nghiên cứu về vấn đề quan hệ gữa giới tính và ngôn ngữ trong lĩnh vực ngôn ngữ
học
Những phát hiện về sự khác biệt trong ngôn ngữ giữa nam và nữ đã có từ lâu, nhưng phải đến đầu thế kỉ XX, ấn tượng về sự khác biệt này mới thực sự hình thành rõ nét nhờ môt số công trình nghiên cứu chuyên sâu Đó là sự khác nhau xét về mặt âm vị, cách dùng từ, phát âm mới được phát hiện qua kết quả quan sát, khảo cứu của E.d.Sapir đối với hiện tượng sử dụng luân phiên một số âm vị khác nhau giữa nam và
nữ trong tiếng Yana Inndian; của O.Jesperson về sự khác biệt trong từ vựng và phong cách của nam và nữ khi giao tiếp bằng tiếng Anh; của Yuan RenZhao, Chen Songling khi nghiên cứu về tiếng Trung Quốc Sự khác nhau xét về mặt ngữ pháp phải kể đến các nghiên cứu của Mary Haas (tiếng Koasati - Mĩ), Ralph Fasold (tiếng Kurux - Ấn
Trang 8Độ)… Theo từng mức độ nhất định, các nghiên cứu đều khẳng định những biểu hiện khác biệt rõ rệt trong ngôn ngữ của giới nam và giới nữ trên các bình diện: từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu còn tập trung khảo sát và chỉ ra sự phân biệt đối xử về giới tính thể hiện trong ngôn ngữ như: sự định kiến về giống, tính
vô hình của nữ giới trong ngôn ngữ, kết cấu của những diễn ngôn mang tính phân biệt
đối xử về giới tính, sự phân biệt đối xử về giới tính trong xã hội theo quan niệm “nam
tôn nữ ti” Có thể kể đến công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học như: Allen
Nilsen, B Thorne, C.Kramarac và N Henley (Dẫn theo [93, tr 146-155])
Một khía cạnh khác cũng được quan tâm là vấn đề phong cách ngôn ngữ mang yếu tố giới tính Người có công đóng góp đáng kể trong nghiên cứu phong cách ngôn ngữ nữ giới là nhà ngôn ngữ học Mĩ Robin Lakoff Từ những khảo sát về cách sử dụng tiếng Anh của phụ nữ trung lưu trong môi trường bà sống, Lakoff (1975) đã đưa ra giả thuyết về ngôn từ của phụ nữ trung lưu: về âm, có khuynh hướng lên giọng ở cuối câu khẳng định và thường sử dụng những biến thể ngữ âm uy tín; về từ vựng, nữ dùng những từ làm nhẹ ý/hoặc nhấn mạnh nhiều; về cú pháp, thường dùng những câu hỏi kèm theo câu khẳng định và những câu cực kì lịch sự Theo Lakoff, phong cách ngôn
từ mà phái nữ có khuynh hướng sử dụng để duy trì bản sắc nữ giới đã tạo cho người nghe một cái nhìn không hay về khả năng của người nói và làm cho phái nữ bị thiệt thòi trong giao tiếp xã hội (dẫn theo [89, tr.14, 15]) Những giả thuyết của bà đã đưa đến nhiều cuộc tranh luận sôi nổi và nhiều nghiên cứu thực nghiệm trong hơn hai thập
kỉ theo tinh thần hoặc tiếp thu, phát triển, hoặc chỉ ra những điểm cần phải tiếp tục bàn luận để có cái nhìn toàn diện và sâu sát hơn Ngoài ra phải kể đến một số kết quả nghiên cứu của W.Labov (1970), P Trudghill (1972) với những kết luận quan trọng về phong cách ngôn ngữ giới tính: "Ở phong cách thận trọng phụ nữ ít dùng biến thể phi chuẩn hơn nam, và mẫn cảm với mô hình uy tín hơn nam" [100, tr.187]; "Mô hình khác biệt theo giới tính khác với chuẩn mực thông thường cho thấy một sự biến đổi ngôn ngữ đang xảy ra: nữ trung lưu đi tiên phong trong việc dùng các dạng thức chuẩn mực còn nam công nhân đi tiên phong trong việc dùng các dạng thức quy chuẩn" [162, tr 207]
Trang 9Ở Việt Nam, thời gian gần đây, lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ giới tính đã bắt đầu
được các nhà ngôn ngữ học quan tâm Trong cuốn Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn
đề cơ bản (1999), từ những khác biệt trong ngôn ngữ giới tính xét trên hai mặt: tiền đề
lí thuyết và kết quả khảo sát thực tế, tác giả Nguyễn Văn Khang đề cập tới vấn đề ngôn
ngữ và giới tính trên cơ sở xem xét và phân tích các vấn đề cụ thể: sự phân biệt đối xử
về giới tính thể hiện trong ngôn ngữ; phong cách ngôn ngữ của mỗi giới, v.v… và đưa
ra một số kết luận: Cùng một vấn đề nhưng cách diễn đạt của nam giới thường "mạnh
mẽ”,“khẳng định/phủ định một cách dứt khoát”, nữ giới thường chọn cách diễn đạt
"dài" và "uyển chuyển hơn”; nam giới "thích dùng các câu khẳng định, yêu cầu, ra
lệnh" một cách “thẳng thắn”, “công khai” và do đó “mệnh lệnh của nam giới thường chứa đựng cả quyền lực bắt phải phục tùng” thì nữ giới lại "ưa dùng những câu phối hợp xin - yêu cầu - ra lệnh”, thể hiện yêu cầu một cách “lịch sự”, “kín đáo”, “bỏ ngỏ
sự khẳng định”… chính vì vậy, "cách diễn đạt của nữ giới lại gây ấn tượng mạnh và trong nhiều trường hợp đạt hiệu quả cao hơn nam giới” Đồng thời khẳng định rằng
"yếu tố giới tính là sự tồn tại có thực trong giao tiếp ngôn ngữ” từ hai chiều: chiều tác
động của giới tính đến sự lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp và chiều thông qua giao
tiếp yếu tố giới tính được bộc lộ [93, tr 144-168] Trước đó, trong bài "Sự bộc lộ giới
tính trong giao tiếp ngôn ngữ” (1996), tác giả đã xem xét yếu tố giới tính thông qua
ứng xử giao tiếp trên cơ sở hai góc độ: ngôn ngữ nói về mỗi giới và ngôn ngữ của mỗi giới Khi đề cập tới ngôn ngữ nói về mỗi giới, tác giả chỉ đưa ra một nhận xét duy nhất
là những từ nhất định chỉ dùng cho giới này hoặc giới kia mà thôi [92, tr 176-186]
Từ góc độ nghiên cứu hiện tượng phân biệt giới tính của người sử dụng ngôn ngữ trong tiếng Nhật, tác giả Nguyễn Thị Việt Thanh (1999) đã đưa ra 5 tiêu chí phân biệt ngôn ngữ của nam giới và nữ giới dựa trên đặc điểm quan trọng là ngôn ngữ nữ giới Nhật có tính mềm mại và tính chuẩn mực, cụ thể là: (1) Sự khác biệt trong sử dụng từ
để gọi giữa nam giới và nữ giới mà đặc quyền sử dụng thuộc về giới nam, nếu nữ giới dùng sẽ bị đánh giá là xấc xược; (2) Sự "mềm mại" trong ngôn ngữ nữ giới được thể hiện trong việc sử dụng vốn từ vựng tiếng Nhật, cụ thể là nữ giới hay dùng từ thuần Nhật dễ hiểu, còn nam giới lại thường dùng từ Hán - Nhật có tính trang trọng; (3) Việc
Trang 10sử dụng thán từ ở cuối câu cũng có sự phân biệt về giới tính thể hiện qua hiện tượng nam giới thường thêm vào cuối câu những từ cảm thán, tình thái từ tạo nên cảm giác mạnh mẽ, dứt khoát; (4) Nữ giới tuân thủ các quy định về sử dụng kính ngữ chặt chẽ hơn nam giới; (5) Cách phát âm của nữ giới Nhật được người Nhật coi là chuẩn hơn nam giới Hay nói cách khác, nữ giới phát âm rõ ràng, không nuốt âm, biến âm trong lời nói (Dẫn theo [149, tr 57-59])
Trong một công trình nghiên cứu yếu tố giới tính trong cách xưng gọi của trẻ em trước tuổi đến trường ở Hà Nội, Hà Tây, tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình đã đi đến kết luận: trẻ em nữ dùng nhiều biến thể chuẩn hơn trẻ em nam, trẻ em xưng và gọi không
"nhầm giới" Còn các tác giả Vũ Thị Thanh Hương (1999), Vũ Tiến Dũng (2002) lại quan tâm nghiên cứu vấn đề ngôn ngữ giới tính trên cơ sở chỉ ra ngôn ngữ đặc trưng của từng giới cũng như mối quan hệ giữa giới tính và lịch sự, và cùng chung nhận định: mối quan hệ giữa giới tính và ứng xử lịch sự không đơn giản mà là tương liên phức tạp với các tham số xã hội tình huống khác, trong đó không chỉ có giới, mà cả tuổi tác, nghề nghiệp của người nói, mối tương liên về quyền và khoảng cách xã hội giữa người
nói và người nghe; từ đó rút ra kết luận: xu hướng chung là nữ lịch sự hơn nam; và nữ
giới thường nhấn mạnh đến quan hệ quyền lực hơn nam giới, ngược lại, nam giới thường nhấn mạnh đến quan hệ thân hữu nhiều hơn [44, tr 172; 85, tr 17-30]
Từ phương diện nghiên cứu sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ qua cứ liệu tiếng
Anh và tiếng Việt, Trần Xuân Điệp (2005) lại tập trung phân tích khía cạnh phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính trong ngôn ngữ Đối với nữ giới, sự kì thị giới tính được xem xét qua các vấn đề: phạm trù giống trong ngữ pháp và quan hệ của nó với phạm trù giới (về mặt sinh học); thói quen đánh dấu về giống, đặc biệt là đối với danh từ tác nhân chỉ người; sự thiếu cân đối về mặt ngữ nghĩa giữa các từ chỉ nam giới và các từ chỉ nữ giới; sự kì thị giới tính trong các tập quán gọi tên/xưng hô và sự rập khuôn về giới tính trong ngôn ngữ Đối với nam giới, sự kì thị giới tính được đề cập tới thông qua việc phân tích 3 hình thức thể hiện: những cách sử dụng thể hiện tính loại trừ giống, những cách sử dụng thể hiện tính hạn chế giống, sự rập khuôn tiêu cực về nam giới [55, tr 57-162]
Trang 11Việc điểm lại các công trình nghiên cứu đã có cho thấy ngôn ngữ giới tính đang dần trở thành một lĩnh vực nghiên cứu hấp dẫn, thu hút sự quan tâm ngày càng nhiều của các nhà nghiên cứu, nhất là các nhà ngôn ngữ học và những người quan tâm tới vấn đề ngôn ngữ và giới tính Dựa trên những cứ liệu được thu thập một cách chính xác
và có hệ thống mô hình khác biệt theo giới tính trong các cộng đồng ngôn ngữ và các hoạt động khảo sát cụ thể, xác thực về việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp của một số nhóm đối tượng cụ thể, các nhà nghiên cứu đều khẳng định sự tồn tại có thực của yếu
tố giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ và bước đầu đưa ra những kết luận, lí giải về một
số điểm khác biệt cơ bản trong ngôn ngữ giao tiếp của giới nam và giới nữ
2.2 Về vấn đề ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh
Từ khoảng giữa thế kỉ XX trở về sau này, các nhà nghiên cứu văn học dân gian đã
có một số công trình có giá trị về thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh, tiêu biểu là: Nguyễn
Chung Anh với Hát ví Nghệ Tĩnh (1958); Nguyễn Đổng Chi và Ninh Viết Giao với Hát
giặm Nghệ Tĩnh (1962, 1963); Ninh Viết Giao với các công trình Về văn học dân gian Nghệ Tĩnh (1982), Hát phường vải Nghệ Tĩnh (1993), Về văn hoá xứ Nghệ (2003); Vi
Phong với Dân ca Nghệ Tĩnh (2000) Trong lĩnh vực ngôn ngữ học đã có một số nhà
nghiên cứu quan tâm tới việc khai thác giá trị thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh: Nguyễn Nhã
Bản (chủ biên) với Bản sắc văn hoá của người Nghệ Tĩnh (2001), Cuộc sống của thành
ngữ, tục ngữ trong kho tàng ca dao người Việt (2003); Ngô Văn Cảnh với Đặc trưng hình thức của các thể thơ dân gian Nghệ Tĩnh (Luận án TS, 2004)… Ngoài ra, có khá
nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu văn học dân gian, các nhà ngôn ngữ học bàn về văn hoá dân gian xứ Nghệ đăng trên các tạp chí chuyên ngành
Từ các góc độ nghiên cứu với nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, những người quan tâm tới văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh đã khai thác nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của các loại hình văn học dân gian mang đậm màu sắc văn hoá xứ Nghệ Một số công trình đã đề cập sơ lược tới vấn đề giới tính trong CDDC (vai giao tiếp,
hình tượng nhân vật nữ ) Chẳng hạn như trong Hát giặm Nghệ Tĩnh (1963), tác giả Nguyễn Đổng Chi đã phân loại hát giặm vè và hát giặm nam nữ Tuy nhiên, việc xác
Trang 12định hát giặm nam nữ chỉ giới thuyết về chủ đề, hình thức của các bài hát giặm, chưa đặt ra vấn đề giới tính vai giao tiếp
Người đầu tiên thực sự quan tâm tới giới tính vai giao tiếp trong HPV là nhà
nghiên cứu văn hoá dân gian Ninh Viết Giao Trong Tiểu luận về HPV, tác giả đã đề
cập tới yếu tố giới tính khi phân tích nguồn gốc HPV, giới thiệu lề lối cuộc hát và chân dung các nghệ nhân phường vải Về nguồn gốc HPV, theo tác giả, ban đầu là thể hát ví gắn với nghề kéo vải của phụ nữ, sau phát triển, mở rộng dần thành tục hát đối đáp giữa nam và nữ, trở thành một hình thức sinh hoạt văn hoá - văn nghệ đặc sắc của nhiều vùng quê xứ Nghệ Giới thiệu thể thức, thủ tục cuộc hát, tác giả mô tả hoạt động
của các vai giao tiếp đối đáp là phường nam, phường nữ, đồng thời sắp xếp lời hát thành các chặng, các bước theo giới tính vai giao tiếp (nam hát, nữ hát; nam hỏi, nữ
hỏi…) Trong phần giới thiệu chân dung các nghệ nhân (các nhà nho, các nghệ nhân
dân gian), tác giả đã quan tâm tới yếu tố giới tính khi phân tích, phác hoạ chân dung của các nghệ nhân phường vải Đó là các nhà nho "mẫn tiệp, nhanh trí, uyên bác, nhiệt thành", có hoài bão, chí khí hơn người Còn các "nghệ nhân tại gia" lại đem đến cho HPV dấu ấn đậm nét qua nhiều giai thoại gắn với tên tuổi của họ(1)
So sánh giữa các vai giao tiếp, tác giả đã nêu một số nhận xét về các nữ nghệ nhân phường vải như có
"cách phô diễn, đối phó nhanh nhạy, đối chọi, tấn công tài tình", luôn "giành thế chủ động", do vậy "nhiều phen họ làm cho một số vị có tên tuổi trong làng khoa bảng sững
sờ thua cuộc” [I, tr 135]
Kết quả của các công trình nghiên cứu đã công bố cho thấy: (i) Hướng nghiên cứu
về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính ở Việt Nam vẫn còn là một lĩnh vực mới mẻ, số lượng công trình nghiên cứu chưa nhiều Việc nghiên cứu, khảo sát ngôn ngữ giới tính chủ yếu đang tập trung ở một số nhóm đối tượng, trên một số địa bàn nhất định và trong môi trường giao tiếp sinh hoạt (ii) Hướng nghiên cứu chung về CDDC xứ Nghệ chủ yếu tập trung vào các đặc điểm hình thức, những giá trị nội dung của các thể loại ca dao, vè, hát giặm, hát ví… Các công trình nghiên cứu đã có chưa đặt ra vấn đề tìm hiểu đặc trưng
(1) Trong dân gian còn lưu truyền nhiều giai thoại về tài hát ví phường vải của các nghệ nhân dân gian như cô Sạ,
cô Cúc, cô Nhẫn, bà Dũng Thơn, bà cháu Ban [I, tr 134]
Trang 13ngôn ngữ giới tính trong hình thức nghệ thuật dân gian đặc sắc này Tuy nhiên, với những kết quả đã đạt được, các công trình nghiên cứu đã có mang ý nghĩa gợi mở, cung cấp cơ sở
lí luận và một số tư liệu quan trọng cho chúng tôi trong việc nghiên cứu đặc điểm ngôn
ngữ giới tính trong HPV Nghệ Tĩnh
3 ĐỐI TƯỢNG, NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngôn ngữ giới tính thể hiện qua lời hát của vai nam/nữ trong HPV Nghệ Tĩnh
3.2 Nguồn tư liệu
Tư liệu được sử dụng phục vụ quá trình nghiên cứu là những lời HPV đã được
sưu tầm và tập hợp trong cuốn Hát phường vải của Ninh Viết Giao (2002) Ngoài ra, các tư liệu từ hai văn bản: Hát phường vải ở Trường Lưu của các tác giả Vi Phong, Thư Hiền (1997) và Dân ca Nghệ Tĩnh của tác giả Vi Phong (2000) được dùng với
mục đích đối chiếu, so sánh, liên hệ, mở rộng
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Luận án chỉ tập trung xem xét, so sánh ngôn ngữ lời HPV theo giới tính vai giao tiếp với hai nhóm tư liệu: lời nam và lời nữ; mô tả đặc điểm ngôn ngữ của các vai giao tiếp nam/nữ trên một số phương diện như: từ xưng hô, các hành động nói đóng vai trò chủ đạo trong một số bước hát, cách sử dụng từ ngữ và các biện pháp, phương tiện nghệ thuật Từ đó rút ra những kết luận bước đầu về những điểm tương đồng và khác biệt trong ngôn ngữ của vai giao tiếp nam/nữ Vấn đề so sánh, đối chiếu kết quả nghiên cứu HPV Nghệ Tĩnh với CDDC các vùng miền hoặc các thể hát ví khác trong kho tàng thơ ca dân gian xứ Nghệ cần được thực hiện bằng một công trình nghiên cứu khác có quy mô lớn hơn Với khả năng và điều kiện có hạn, người viết không đặt ra ở luận án này
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu
Kết hợp lí thuyết dụng học về giao tiếp và lí thuyết ngôn ngữ học xã hội về giới tính, luận án khảo sát và xác định những đặc điểm ngôn ngữ mang đặc trưng giới tính
Trang 14trong HPV Nghệ Tĩnh Từ đó góp phần làm rõ thêm một số vấn đề về văn hoá giao tiếp
xứ Nghệ và về con người xứ Nghệ từ góc nhìn lí thuyết ngôn ngữ giao tiếp và giới tính
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đặt ra là:
- Khảo sát, xác định, phân tích cứ liệu cụ thể (các lời HPV được xác định theo giới tính), trên cơ sở đó xem xét biểuừ hiện đặc điểm ngôn ngữ giới tính các vai giao tiếp trên một số phương diện: từ xưng hô, các hành động nói trong một số bước hát, cách thức sử dụng từ ngữ và một số biện pháp, phương tiện tu từ
- Tìm hiểu những điểm tương đồng và khác biệt trong ngôn ngữ HPV được hình thành dựa trên cơ sở khác biệt về giới tính
- Bổ sung kết quả khảo sát, đánh giá tư liệu cho việc nghiên cứu văn hoá xứ Nghệ, con người xứ Nghệ qua HPV
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đây là đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lí thuyết dụng học và lí thuyết ngôn ngữ học xã hội, với đối tượng là nguồn tư liệu văn học (hát ví phường vải), do vậy, phương pháp chủ đạo được sử dụng trong công trình nghiên cứu bao gồm: thống kê, miêu tả, phân tích, quy nạp, so sánh
- Phương pháp thống kê được sử dụng để thống kê nguồn tư liệu trên cơ sở tập
hợp, phân loại những lời HPV theo các nhóm: nhóm lời hát nam/ nhóm lời hát nữ; các cặp từ xưng hô gắn với các vai giao tiếp nam/nữ; các hành động nói, các lớp từ ngữ, các phương tiện nghệ thuật được phân bố trong lời hát của từng vai giao tiếp nam/nữ Với kết quả thống kê mang tính định lượng cụ thể, đây là phương pháp đóng vai trò quan trọng, tạo ra một số căn cứ thực tiễn để có được những đánh giá định tính bảo đảm tính thuyết phục hơn
- Phương pháp miêu tả được sử dụng kết hợp phương pháp định lượng để giới
thiệu sự khác biệt về vị trí (khách/chủ) của các vai giao tiếp nam/nữ gắn với từng bước, từng chặng trong HPV; sự khác biệt trong cách lựa chọn từ xưng hô, trong biểu đạt hành động nói, sự lựa chọn các từ ngữ, các phương tiện, biện pháp nghệ thuật
Trang 15- Phương pháp phân tích và quy nạp được sử dụng phối hợp trong phân tích diễn
ngôn với nguồn tư liệu đã lựa chọn, từ đó quy nạp thành các kết luận Chẳng hạn như phân tích một số lời hát của các vai giao tiếp nam/nữ để đưa ra kết luận về đặc điểm ngôn ngữ của mỗi giới trong xưng hô, trong thực hiện các hành động nói v.v… Phương pháp này góp phần tạo tính logic, chặt chẽ trong lập luận
- Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng trong hầu hết các công đoạn của
luận án, từ khâu phân loại, khảo sát, phân tích, miêu tả, kết luận…nhằm chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong ngôn ngữ HPV của các vai giao tiếp nam/ nữ Do vậy, đây là phương pháp quan trọng góp phần hình thành những nhận định cơ bản về đặc điểm ngôn ngữ của mỗi giới trong hoạt động giao tiếp HPV
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về ngôn ngữ HPV xét từ phương diện giới tính vai giao tiếp, tức là xem xét một vấn đề mới (ngôn ngữ giới tính) trên một đối tượng cũ (HPV), do vậy, nội dung nghiên cứu của luận án bảo đảm tính mới mẻ, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác, và dự kiến sẽ có những đóng góp sau:
6.1 Ý nghĩa lí luận
- Góp phần làm rõ một số vấn đề thuộc phương diện lí luận ngôn ngữ có liên quan tới ngữ nghĩa, ngữ dụng - văn hoá như: từ xưng hô từ góc độ giới tính, hành động nói gắn với các ngữ cảnh giao tiếp, các lớp từ gắn với đặc trưng giới tính
- Góp thêm cứ liệu trong lĩnh vực nghiên cứu về giới tính trong ngôn ngữ Cung cấp căn cứ lí luận để làm rõ thêm một số vấn đề nêu trong các công trình nghiên cứu về HPV đã được công bố như: cách phân chia các chặng hát, bước hát và thủ tục của một cuộc HPV; môi trường diễn xướng của HPV và vấn đề không gian, thời gian; giới tính vai giao tiếp và quan hệ chủ/khách trong HPV
- Khẳng định và bổ sung thêm những nhận định về đặc trưng văn hoá mang dấu
ấn giới tính của vùng đất Nghệ Tĩnh, của con người Nghệ Tĩnh
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 16- Cung cấp tư liệu cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, các nghiên cứu sinh có đề tài nghiên cứu liên quan tới yếu tố giới tính trong ngôn ngữ thơ ca dân gian cũng như nghiên cứu chung về thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh
- Bổ sung thêm tư liệu cho việc giảng dạy, học tập các thể thơ dân gian, các nội dung liên quan tới nghệ thuật sử dụng từ ngữ (các lớp từ đặc trưng, hệ thống biểu tượng nghệ thuật, các phương tiện biện pháp nghệ thuật…)
- Khẳng định đóng góp của các nghệ nhân nam / nữ phường vải trong việc tạo nên giá trị của văn hoá xứ Nghệ
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm có 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết và một số vấn đề về hát phường vải Nghệ Tĩnh
Nội dung chương đề cập tới một số vấn đề lí luận ngôn ngữ bao gồm: giao tiếp và hội thoại, hành động nói, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính, ngôn ngữ và văn hoá
Phần cuối chương giới thiệu khái quát về HPV Nghệ Tĩnh và việc xác định, phân loại tư liệu lời HPV căn cứ vào đặc điểm ngôn ngữ giới tính
Chương 2: Giới tính vai giao tiếp thể hiện qua từ xưng hô trong hát phường vải
Nội dung chương tập trung giới thiệu về vai giao tiếp, liên quan như sự tương tác
và quan hệ liên cá nhân giữa các vai giao tiếp; đồng thời phần cuối của chương tập trung giới thiệu hệ thống từ xưng hô thể hiện đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong HPV
Qua đó rút ra một số nhận xét, đánh giá về một số nét văn hoá của người Nghệ Tĩnh thông qua giao tiếp trong HPV: thông minh, dí dỏm, tự tin, bản lĩnh
Chương 3: Ngôn ngữ giới tính thể hiện qua một số hành động nói trong hát
phường vải
Nội dung chương tập trung giới thiệu một số nhóm hành động nói chính được sử dụng trong HPV: nhóm hành động biểu hiện, nhóm hành động bộc lộ, nhóm hành động điều khiển, nhóm hành động ước kết Từ việc thống kê, phân loại các hành động nói ứng với một số bước trong cuộc HPV, nội dung chương tập trung phân tích, lí giải một
Trang 17số hành động nói chính trong các bước hát chào hát mừng, hát hỏi, hát đố hát đối, hát
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
VỀ HÁT PHƯỜNG VẢI NGHỆ TĨNH
1.1 GIAO TIẾP VÀ HỘI THOẠI
1.1.1 Giao tiếp và giao tiếp bằng ngôn ngữ
1.1.1.1 Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp (communication) là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong một cộng đồng để
truyền đạt một thông tin nào đó Đối với xã hội loài người, con người có thể giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, trong đó, phương tiện ngôn ngữ (bao gồm cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết) là phương tiện quan trọng nhất
Giao tiếp bằng ngôn ngữ là đối tượng thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu với
những mối quan tâm khác nhau; và do đó, cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau
Theo Berge 1994 (Dẫn theo [6, tr 18-21], giao tiếp được hiểu theo một số cách sau: Hiểu theo cách đơn giản và chung nhất, giao tiếp là quá trình thông tin diễn ra
giữa ít nhất là hai người giao tiếp trao đổi với nhau, gắn với một ngữ cảnh và một tình huống nhất định Cách định nghĩa này phù hợp với các cuộc trao đổi bằng lời trong
cuộc sống thường nhật của con người, do đó nó liên quan tới xã hội học
Hiểu theo cách hiểu có tính chất chuyên môn, giao tiếp được định nghĩa như một
thuật ngữ chỉ loại, bao trùm tất cả các thông điệp được phát ra trong những ngữ cảnh
Trang 18và tình huống khác nhau Theo cách hiểu này, giao tiếp là cách gọi chung cho tất cả
các hành động ngôn ngữ trong xã hội
Theo một cách định nghĩa khác, khái niệm giao tiếp được giải thích thông qua tính từ "thuộc về giao tiếp" hay "có tính giao tiếp": Một tín hiệu là có tính giao tiếp nếu
nó nhằm báo cho người nhận về một cái gì đó mà cho đến lúc bấy giờ người ấy chưa biết Theo đó, giao tiếp được xem xét có sự phân biệt trong quan hệ một bên là người
phát (người nói, người viết) với những chủ định nhất định, một bên là người nhận (người nghe, người đọc) với những giá trị nhất định
Trong ngôn ngữ học, khi đặt giao tiếp trong quan hệ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa với lời nói, cách dùng , giao tiếp được nhìn nhận như là những cái vốn có trong thông
điệp ngôn ngữ: qua bình diện nội dung và bình diện biểu hiện (hình thức) của thông điệp bằng ngôn ngữ, người ta có thể hiểu tình huống, ngữ cảnh, và bản thân những người trao đổi lời với nhau tự thể hiện mình Đây là cách định nghĩa có tính trung hoà
HVP không phải là "ngôn ngữ trao đổi bằng lời trong cuộc sống thường nhật", cũng không có tính chất "đại diện chung" cho tất cả các hành động ngôn ngữ trong xã hội Mặt khác, nội dung thông tin trong giao tiếp phường vải không hoàn toàn là "một cái gì đó" mà người nhận chưa biết Do vậy, để thực hiện mục đích nghiên cứu, việc xem xét đặc điểm ngôn ngữ giới tính sẽ căn cứ vào lời nói, cách dùng bao gồm cả bình diện nội dung và hình thức biểu hiện của những thông điệp ngôn ngữ, qua đó "những người trao đổi lời với nhau tự thể hiện mình" Với công trình nghiên cứu này, định
nghĩa giao tiếp có tính chất trung hoà là thích hợp
Theo đó, khái niệm giao tiếp dùng trong luận án được hiểu là sự trao đổi thông
tin qua lại bằng lời giữa ít nhất hai người với những thông điệp bằng ngôn ngữ trong một ngữ cảnh nhất định, hướng tới mục đích là tự thể hiện mình (về thái độ, tình cảm, suy nghĩ, cảm xúc, quan điểm ) Việc xem xét ngôn ngữ giao tiếp ở đây còn căn cứ
trên tính đặc thù của giao tiếp trong HPV so với giao tiếp thông thường Chẳng hạn như: tính nghệ thuật cao hơn, ngôn từ trau chuốt hơn, quy trình bài bản hơn…
1.1.1.2 Chức năng của ngôn ngữ trong giao tiếp
Trang 19Về phương diện lí thuyết chung, từ lâu, ngôn ngữ được coi là có chức năng giao tiếp Theo các nhà phân tích diễn ngôn, trong quá trình giao tiếp, ngôn ngữ thực hiện
hai chức năng chính là chức năng giao dịch và chức năng liên nhân
Chức năng giao dịch (hay còn được gọi là chức năng biểu hiện, quy chiếu, quan niệm, miêu tả) là chức năng của ngôn ngữ được dùng trong việc diễn đạt kinh nghiệm,
diễn đạt các "mệnh đề"
Chức năng liên nhân (hay còn được gọi là chức năng tương tác, hoặc bộc lộ, hoặc biểu cảm, hoặc bộc lộ - xã hội) là chức năng của ngôn ngữ được dùng trong việc diễn
đạt các quan hệ xã hội và các thái độ của cá nhân [7, tr 21]
Việc phân biệt hai chức năng trên của ngôn ngữ trong giao tiếp không có nghĩa một diễn ngôn (văn bản) chỉ có duy nhất chức năng này và loại trừ chức năng kia, mà chỉ có thể nói đến sự nổi trội của một trong hai chức năng đó trong một diễn ngôn cụ
thể, ứng với một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Chẳng hạn, chức năng giao dịch được thể
hiện rõ trong tục ngữ, CDDC về lao động sản xuất, hoặc trong các diễn ngôn được thực
hiện nhằm trao đổi thông tin đòi hỏi chi tiết, chính xác Còn chức năng liên nhân nổi
trội trong các trường hợp cần sử dụng ngôn ngữ để thiết lập và duy trì các quan hệ xã hội Theo đó, trong khi các nhà ngôn ngữ học, các nhà triết học - ngôn ngữ quan tâm
chức năng giao dịch thì các nhà xã hội học và xã hội học - ngôn ngữ lại thường đề cập
tới chức năng liên nhân
Với việc nghiên cứu ngôn ngữ giới tính ở HPV, chức năng liên nhân của ngôn
ngữ trong giao tiếp là cơ sở để chỉ ra quan hệ giữa các vai giao tiếp nam/nữ
1.1.1.3 Vai giao tiếp
Các nhân tố giao tiếp gồm: ngữ cảnh, ngôn ngữ, diễn ngôn, trong đó ngữ cảnh là
một hợp phần gồm: nhân vật giao tiếp và hiện thực ngoài diễn ngôn [29, tr 15 - 40] Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ để tạo ra lời nói Giữa các nhân vật giao tiếp có hai quan hệ: vai giao tiếp và quan
hệ liên nhân Nhờ đó mà các diễn ngôn trong hoạt động giao tiếp tác động đến nhau, tạo thành chuỗi trao - đáp cho một cuộc thoại Trong hoạt động giao tiếp, các nhân vật giao tiếp luôn đảm nhận các vai giao tiếp khác nhau Vai giao tiếp có thể là ngôi thứ
Trang 20nhất (vai trao lời) tác động đến vai nhận là ngôi thứ hai (vai đáp lời) Khi vai nhận đáp lời, đến lượt mình, vai nhận lại trở thành vai trao còn vai trao lại trở thành vai nhận Cứ thế, trong suốt cuộc thoại, các cá nhân trong giao tiếp là các cặp chủ thể - đối tượng luôn đổi chỗ cho nhau, làm thành các cặp trao - đáp luân phiên nhau (còn gọi là luân phiên lượt lời) Mức độ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các chủ thể giao tiếp và hiệu quả giao tiếp phụ thuộc rất nhiều vào các đặc điểm cá nhân của chủ thể như vị trí xã hội, vai trò
xã hội, uy tín, giới tính, tuổi tác cũng như các mối quan hệ và tương quan giữa họ Tuy nhiên, không phải hai người thay nhau nói là thành một cuộc thoại Trong quá trình giao tiếp, cả hai bên cùng phải có ý thức, trách nhiệm khởi động và duy trì cuộc thoại, tức là duy trì sự tương tác qua lại lẫn nhau thông qua hành động ngôn ngữ tương tác, có sự thống nhất và mâu thuẫn, có sự vận động để điều hành cuộc thoại diễn tiến theo một chiều hướng nhất định Giữa các bên tham gia giao tiếp ban đầu thường
có một khoảng cách nhất định về mối quan hệ thân sơ Nếu cả hai nhân vật giao tiếp cùng có sự thống nhất trong các hành động ngôn ngữ thì cuộc thoại diễn ra theo chiều hướng thuận Ngược lại, nếu hai nhân vật giao tiếp có sự bất đồng về nhận thức cũng như hành động ngôn ngữ thì cuộc thoại diễn tiến theo chiều hướng không thuận Hoặc nếu một người nói ra một phát ngôn để gợi chuyện (hoạt động trao lời) mà người nghe không hưởng ứng (không thực hiện hoạt động đáp lời, đáp lời một cách miễn cưỡng, rời rạc…) thì cuộc thoại cũng không thể tiến triển [108, tr 200-204] Như vậy, để cuộc thoại phát triển theo hướng mong muốn, các vai giao tiếp phải có sự phối hợp chặt chẽ
về từ ngữ, cấu trúc, cách nói, tạo thành hệ thống lượt lời với các cặp thoại hô ứng về nội dung và hình thức Nhiều khi, trong một lời thoại, nhân vật giao tiếp cùng lúc vào
cả hai vai: vai trao và vai đáp Một vấn đề nữa là trong thực tế hoạt động giao tiếp, số người tham gia cuộc thoại có khi lớn hơn hai Sự tương tác hội thoại cũng không hoàn toàn theo tỉ lệ 1-1 trong lời trao - lời đáp, thậm chí vai đáp lời có thể sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ (thái độ, cử chỉ, ánh mắt ) để thay cho lời đáp
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu đã xác định, luận án chỉ xem xét vai giao tiếp trong hoạt động hội thoại bằng lời thông qua mối quan hệ tương tác lời trao - đáp
1.1.2 Vận động hội thoại và sự tương tác
Trang 211.1.2.1 Hội thoại
Được coi là hoạt động cơ bản thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ, hôi thoại là giao tiếp bằng ngôn ngữ giữa hai hay hơn hai người nhằm những mục
đích nhất định Có thể gọi hội thoại là hình thức “giao tiếp hai chiều”, “bên này nói,
bên kia nghe và phản hồi lại, lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe” [39, tr 76] Hội thoại tồn tại ở hai môi
trường: môi trường sinh hoạt hàng ngày và môi trường được nhà văn tái tạo, thể hiện trong tác phẩm văn học Trong hội thoại, ngoài yếu tố ngôn ngữ lời nói còn có yếu tố ngôn ngữ cử chỉ như ánh mắt, điệu bộ, cử chỉ, hoàn cảnh giao tiếp; trong văn bản viết thường được thể hiện qua lời của người viết Về cấu tạo, hội thoại tồn tại ở các dạng: đơn thoại, song thoại và đa thoại
Đơn vị hội thoại bao gồm nhiều cấp độ, cụ thể là:
a) Đơn vị cơ sở: gồm hành động ở lời (ngôn ngữ) và tham thoại
- Hành động ở lời: Là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp hội thoại Các ứng xử bằng lời đều căn cứ vào hành vi ngôn ngữ (hành động ở lời) Hành động ở lời là những lời thoại tổ chức nên tham thoại, cặp thoại
- Tham thoại: Là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định Tham thoại do hành động ở lời tạo nên
Tham thoại và lượt lời không đồng nhất với nhau Một lượt lời có thể gồm nhiều tham thoại Một tham thoại có thể gồm nhiều lượt lời
b) Cặp thoại
Cặp thoại được cấu thành từ các tham thoại Đây là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại Có thể căn cứ vào số lượng các tham thoại để phân loại các cặp thoại: cặp thoại 1 tham thoại, cặp thoại 2 tham thoại, cặp thoại 3 tham thoại Nội dung cơ bản của một cặp thoại thường gồm 2 tham thoại chính: dẫn nhập, hồi đáp Tuy nhiên có những cặp thoại mà tham thoại thứ 3 có tính chất đóng lại cặp thoại đó
c) Đoạn thoại
Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp thoại trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng Về ngữ nghĩa, đó là sự liên kết chủ đề Về
Trang 22ngữ dụng, đó là tính duy nhất về đích Một đoạn thoại thường có một nội dung đích nhất định Một cuộc thoại có thể gồm nhiều đoạn thoại, vì có thể nói về nhiều chủ đề Người ta phân đoạn thoại thành các đoạn cơ bản: đoạn mở thoại, đoạn thân thoại (có thể gồm nhiều đoạn), đoạn thoại kết thúc Đoạn mở thoại và đoạn kết thúc trong một cuộc thoại thường chỉ là những đoạn có tính chất nghi thức
d) Cuộc thoại
Cuộc thoại là đơn vị hội thoại bao trùm lớn nhất Một cuộc thoại có thể dài, ngắn tuỳ tính chất của cuộc thoại Để xác định một cuộc thoại, có thể dựa vào các tiêu chí sau đây :
- Nhân vật hội thoại: Nói chung một cuộc thoại được xác định bởi sự góp mặt, trao đổi giữa ít nhất 2 người hội thoại
- Tính thống nhất về thời gian và địa điểm: Một cuộc thoại thường xảy ra trong một thời gian và một không gian nhất định
- Tính thống nhất về đề tài và diễn ngôn: Một cuộc thoại thường phải có hướng nhất định từ đầu đến khi kết thúc
Thuật ngữ hội thoại được sử dụng trong luận án chủ yếu được hiểu là song thoại,
có sự tham gia của các vai giao tiếp trong một cuộc hát (phường nam, phường nữ) và được thực hiện theo quy trình luân phiên đổi vai Tuy nhiên, ngữ liệu được xem xét ở đây là lời HPV được sưu tầm, tập hợp theo từng nhóm lời ứng với các bước, các chặng nên sự luân phiên đổi vai chỉ phần nào thể hiện được trong từng cặp thoại trao - đáp, khó xác định ở lời hát đơn Mặt khác, do lời hát tách khỏi môi trường diễn xướng nên việc nghiên cứu cũng không có điều kiện xét đến các yếu tố ngôn ngữ cử chỉ như ánh mắt, động tác, điệu bộ của người hát; ở đây chỉ tập trung xem xét về mặt ngôn từ
Hệ thống ngữ liệu được khảo sát trong luận án gồm tổng hợp 1745 lời hát, mỗi lời hát tương đương một tham thoại, chủ yếu xuất hiện ở dạng lời đơn (cặp thoại một tham thoại) hoặc cặp lời trao - đáp (cặp thoại 2 tham thoại) Chỉ có 6 trường hợp xuất hiện ở dạng 3 tham thoại, 2 trường hợp ở dạng 4 tham thoại, 1 trường hợp ở dạng 7 tham thoại Do ngữ liệu được tập hợp thành nhóm lời theo từng chặng, từng bước của cuộc hát, luận án không có điều kiện xem xét đơn vị hội thoại là đoạn thoại và cuộc thoại
Trang 231.1.2.2 Vận động hội thoại
Yule (1997) đã dùng cách nhìn của nền kinh tế thị trường để gọi quyền được nói
(floor) là một "thứ hàng hoá quý hiếm" trong hội thoại, và khẳng định: "có thể định
nghĩa đó là cái quyền được nói ra"… "Nắm được quyền chủ động đối với thứ hàng hoá
hiếm hoi này lần nào thì lần ấy được gọi là một lượt lời (turn)” [170, tr 136] Đề cập
tới việc thực hiện cái quyền này của người dự thoại, có thể hình dung một cách đầy đủ
tính logic của vấn đề như sau: "Quyền được nói (floor) là quyền cơ sở để người dự
thoại có thể có lượt lời (turn at talk), còn gọi là bước thoại (move) Muốn thực hiện lượt lời thì phải có cơ hội nhận lượt lời (turn-taking) Cơ hội nhận lượt lời chịu sự chi phối của (hay lệ thuộc vào) hệ thống điều hành cục bộ (local management system), một
hệ thống mang tính xã hội" [7, tr 69] Quá trình phân phối cơ hội nhận lượt lời theo hệ thống điều hành cục bộ giữa những người dự thoại chính là quá trình vận động hội thoại
Trong bất cứ cuộc hội thoại nào, vận động hội thoại giữa các nhân vật cũng thường bao gồm ba nhân tố: sự trao lời, sự trao đáp và sự tương tác
a) Sự trao lời (allocution)
Chuỗi đơn vị ngôn ngữ được nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lượt lời Đỗ Hữu Châu đã dùng kí hiệu Sp để chỉ người tham gia vào hội thoại, Sp1 là vai nói, Sp2 là vai nghe Sp1, Sp2 và Spn là các đối tác hội thoại [29, tr 205]
Theo đó, sự trao lời là vận động mà Sp1 nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía Sp2 Sự trao lời có thể được thực hiện bằng các yếu tố bằng lời hoặc kèm theo các yếu tố phi lời (bao gồm cử chỉ, điệu bộ ) Trong một cuộc song thoại, khi chỉ gồm một người nói và một người nghe, vấn đề xác định Sp2 không đặt ra Còn trong một cuộc đa thoại thì vận động trao lời có thể hướng tới toàn thể người nghe, cũng có thể chỉ nhằm vào một (hoặc một số) người nghe trong số đó, tức là Sp1 phải sử dụng những dấu hiệu để định hướng rõ ai là người nghe đích thực của lượt lời đó b) Sự trao đáp (exchange)
Trang 24Sự trao đáp (hay còn gọi là sự đáp lời) là lượt lời được Sp2 thực hiện để đáp lại lượt lời của Sp1 Có sự trao đáp này thì cuộc thoại mới chính thức được hình thành Cũng như sự trao lời, sự đáp lời có thể thực hiện bằng các yếu tố bằng lời hoặc các yếu
tố phi lời hoặc kết hợp cả hai
c) Sự tương tác (interaction)
Sự tương tác hội thoại là quá trình các nhân vật hội thoại ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại với nhau, làm cho nhau biến đổi Một chuỗi các tương tác nối tiếp nhau gọi là liên tương tác Liên tương tác trong hội thoại trước hết là liên tương tác giữa các lượt lời của Sp1 và Sp2, còn gọi là sự liên hoà phối các lượt lời Sự hoà phối này hoàn hảo thì cuộc hội thoại ở cực điều hoà, nhịp nhàng; các lượt lời của Sp1 và Sp2 được sắp xếp theo một trình tự trao/đáp luân phiên giữa những người dự thoại Ngược lại, nếu thiếu sự hoà phối nhịp nhàng thì cuộc thoại trở nên hỗn độn với sự xuất hiện của các hiện tượng trùng lời, dẫm đạp lên lượt lời của nhau, cướp lời nhau Do vậy, trong giao tiếp, mỗi nhân vật rất cần thực hiện sự tự hoà phối, tức là tự điều chỉnh hành động, thái độ, lượt lời của mình để có được sự tương tác tích cực cho cuộc thoại
1.1.2.3 Hàm ý hội thoại và nguyên tắc cộng tác
Trong giao tiếp, người nói và người nghe cùng tham dự vào cuộc thoại thường có cộng tác với nhau Sự cộng tác ấy giúp cho người nghe tiếp nhận những tiền giả định của người nói, từ đó luận giải được những điều mà người nói cố ý thông báo nhiều hơn cái được nói ra Đó là "thứ ý nghĩa phụ thêm" được chuyển tải ngoài những gì mà
nghĩa của các từ cung cấp, được gọi là hàm ý (implicature)
Theo đó, hàm ý hội thoại (conversational implicatures) được hiểu là phần ý nghĩa
được truyền đạt nhiều hơn những gì mà nghĩa từ ngữ cung cấp; đặc tính của hàm ý hội
thoại là giải đoán được, cản ngăn được, huỷ bỏ được, tăng cường được Các hàm ý hội thoại thường gặp được chia ra thành hai lớp lớn là hàm ý hội thoại thông dụng
(generalized conversational implicature, còn dịch là dùng chung hay tổng quát hoá)
bao gồm cả hàm ý thang độ (scalar implicature) và hàm ý hội thoại đặc dụng
(particularized conversational implicature, còn dịch là dùng riêng, hay cá thể hoá)
Việc giải đoán hàm ý hội thoại thông dụng không cần vận dụng đến ngữ cảnh riêng
Trang 25biệt, còn hàm ý hội thoại đặc dụng chỉ có thể nhận biết, giải đoán được trên cơ sở vận
dụng kiến thức riêng về tình huống cụ thể trong đó nó được sử dụng [7, tr 130-134] Như vậy, hàm ý hội thoại là thứ hàm ý suy ra được trong quá trình hội thoại, gắn
với cách thức thực hiện nguyên tắc cộng tác trong hội thoại, cụ thể hơn là gắn với các phương châm hội thoại Điều kiện để có được một cuộc thoại là những người dự thoại phải hợp tác với nhau trên cơ sở đổi vai trao - đáp trong suốt diễn biến cuộc thoại Việc thực hiện cuộc tương tác phải theo những nguyên tắc nhất định Các nguyên tắc có mặt
trong cuộc tương tác phổ biến đến mức Grice (1975) đã nâng lên thành nguyên tắc
cộng tác (co-operative principle) của hội thoại và chi tiết hoá thành bốn nguyên tắc bậc
dưới, gọi là các phương châm (maxims) hội thoại bao gồm: phương châm về lượng yêu
cầu phần đóng góp chứa số lượng tin đòi hỏi theo tiêu chuẩn cần và đủ xét theo mục
đích của cuộc thoại đó, không chứa nhiều tin hơn; phương châm về chất yêu cầu phần
đóng góp là chân thực, không nói những điều mà người nói không tin là đúng hoặc
không có bằng chứng xác thực; phương châm về quan hệ yêu cầu phần đóng góp
những gì có quan hệ với đề tài một cách cần thiết (trọng yếu), người đưa tin cần nói đúng vào đề tài giao tiếp, tránh nói lạc đề, người nhận tin cần hiểu nghĩa thực ở phát
ngôn của người phát tin, không ra ngoài đề, ngoài mục đích; phương châm về cách
thức yêu cầu cần phải nói ngắn, gọn, rõ, có trật tự, không nói tối nghĩa, gây mơ hồ cho
người nghe Các nguyên tắc cộng tác này được nhiều nhà ngôn ngữ học tán thành, sử dụng, phát triển, mở rộng [7, tr 126-127], [29, tr 229 - 231]
Tuy nhiên, trong thực tế giao tiếp, có những lí do chính đáng khiến các phương châm hội thoại trên có thể bị vi phạm Sử dụng hàm ý là một trong những biểu hiện vi phạm ấy Khi người nói cố ý vi phạm một phương châm hội thoại nào đó, thì cũng tức
là người nói thông báo một ý nghĩa nào đó bằng hàm ý, và bằng suy luận thông qua tiền giả định, người nghe có thể hiểu được hàm ý này
Để sử dụng hàm ý, đòi hỏi phải có sự cộng tác giữa các bên giao tiếp Cụ thể là người nói dùng hàm ý phải tính đến năng lực giải đoán hàm ý ở người nghe, còn người nghe thì ý thức được rằng người nói đang cùng cộng tác và có chủ định thông báo một điều gì đó Nếu người nói không quan tâm đến năng lực giải đoán hàm ý của người
Trang 26nghe thì hàm ý sẽ không được nhận biết; ngược lại, nếu người nghe không ý thức về việc người nói đang cộng tác với mình thì sẽ không cố gắng giải đoán hàm ý, và hệ quả của cả hai giả thiết trên là việc dùng hàm ý thất bại
Do vậy, trong Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản (2009), khi nói về hàm
ý hội thoại, tác giả Diệp Quang Ban cho rằng: "Muốn dùng hàm ý thành công, trước hết người dự thoại phải cộng tác với nhau, trong đó người nói phải tính đến khả năng giải đoán hàm ý của người nghe và người nghe phải nắm được rằng người nói muốn thông báo một điều gì đó (nằm trong hàm ý) và cố gắng hiểu điều đó (cố gắng giải đoán đúng)" [7, tr 137]
Giao tiếp trong HPV là giao tiếp mang tính nghệ thuật, do vậy hầu hết các lời HPV đều chứa hàm ý hội thoại Trong quá trình tham gia hoạt động trao đáp, người hát thường mượn lời hát để gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình, và người nghe có thể luận giải được hàm ý ấy trên cơ sở vận dụng/hoặc không cần vận dụng đến ngữ cảnh riêng biệt Theo đó, những vấn đề liên quan tới ngôn ngữ các vai giao tiếp trong HPV được luận án xem xét trên cơ sở hàm ý hội thoại
1.2 HÀNH ĐỘNG NÓI
1.2.1 Khái niệm
Trong đời sống xã hội, muốn tồn tại, con người phải hoạt động, tức là phải thực hiện những hành động với các phương tiện cụ thể, các thao tác cụ thể Nói năng là một dạng hành động đặc biệt của con người - hành động thông qua ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ làm công cụ để thực hiện các giao tiếp xã hội nhất định Như vậy, giao tiếp bằng ngôn ngữ là một dạng hành động xã hội của con người
Nói là làm (How to do things with words - Quand dire, c‟est faire) là nhan đề một
cuốn sách nổi tiếng của nhà triết học người Anh J.L.Austin, người khởi xướng ra lí thuyết hành động ngôn ngữ (actes de langage), một lí thuyết làm xương sống cho ngữ dụng học Thuật ngữ này sau đó được một nhà triết học khác là J Searle phát triển Hai ông xác nhận rằng khi sử dụng ngôn ngữ, chúng ta không chỉ tạo ra những phát ngôn
có chứa mệnh đề về những đối tượng, những thực thể, sự kiện mà còn thực hiện những
Trang 27chức năng như yêu cầu, phủ nhận, xin lỗi v.v…, tức là thực hiện các hành động bằng các phát ngôn đó Điều đó cũng có nghĩa là khi nói năng, người ta thực hiện những hành động như người ta thực hiện những hành động vật lí khác Vì vậy, chỉ có thể nhận dạng hành động nói (HĐN) do một phát ngôn thực hiện khi biết được ngữ cảnh mà phát ngôn diễn ra HĐN chính là ý định về mặt chức năng của mỗi phát ngôn Theo đó, không chỉ các phát ngôn ngôn hành mà tất cả các phát ngôn đều được sử dụng để thực hiện các HĐN nhờ hiệu lực riêng của chúng [30, tr 94-95], [67, tr 42], [108, tr 68-69]
Như vậy, hành động nói (còn gọi là hành động ngôn ngữ, hành vi ngôn ngữ) là những hành động được thực hiện bằng các phát ngôn (xin lỗi, than phiền, chỉ dẫn, tán thành, cảnh báo…) [170, tr.96]
1.2.2 Điều kiện sử dụng hành động nói
HĐN cũng như mọi hành động vật lí, sinh lí, khi thực hiện cần phải có điều kiện
thích hợp Đó là “những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn
ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó” [27, tr 111]
Có nhiều cách xác định các điều kiện sử dụng HĐN như cách xác định của J.L.Austin, của J.R.Searle… Austin xem điều kiện chung nhất của việc sử dụng các hành động ngôn trung (illocutionary acts) là điều kiện "may mắn" (fecility conditions) nếu chúng được bảo đảm thì hành động mới thành công Còn theo J.R Searle (1975),
để thực hiện HĐN cần có 4 điều kiện tiên quyết: điều kiện nội dung mệnh đề; điều kiện chuẩn bị; điều kiện chân thành; điều kiện căn bản Để minh họa cho quan điểm của mình, ông đã đưa ra một số HĐN cùng những điều kiện thoả mãn của chúng bao gồm:
thỉnh cầu, cảm ơn, xác tín, trần thuật, khẳng định, khuyến cáo, hỏi, cảnh cáo, chào, khen ngợi… Hệ thống điều kiện sử dụng HĐN của Searle được nhiều nhà ngôn ngữ
học chấp nhận [29], [108], [170]
1.2.3 Phân loại hành động nói
Theo Austin, trong một trường hợp bất kì, việc hành động được thực hiện bằng
cách tạo ra một phát ngôn cũng đều gồm có ba hành động liên quan nhau: hành động
tạo ngôn (locutionary act) là việc sản xuất ra một biểu thức ngôn ngữ có đủ nghĩa;
Trang 28hành động ngôn trung (illocutionary act) được thực hiện bằng một lực thông báo của
một phát ngôn, còn gọi là lực ngôn trung (illocutionary force); hành động dụng ngôn
(perlocutionary act) là sự chủ định làm cho phát ngôn có một hiệu quả Từ đó ông đưa
ra kết luận:“Thuật ngữ „hành động nói‟nhìn chung được giải thích rất hẹp, chỉ có
nghĩa là lực ngôn trung của một phát ngôn” Và “phương tiện chỉ ra lực ngôn trung thường là một biểu thức, trong đó có một ô dành cho một động từ gọi tên một cách hiển ngôn cái hành động ngôn trung đang được thực hiện”, được gọi là“động từ ngôn hành” (performative verb) [170, tr 97-99]
Có nhiều cách phân loại HĐN khác nhau như cách phân loại của J.L Austin, của J.S.Searle, của D.Wunderlich, F.Recanati, của K.Bach và R.M.Harnish [29, tr.20-38] Trong đó cách phân loại của Searle được nhiều người chấp nhận [6, tr 236-237, 633], [29, tr 123-126], [67, tr 4-51], [108, tr 88], [170, tr 106-109]
J.R Searle cho rằng có ít nhất 12 tham tố để xác định HĐN, trong số đó một số tham tố được coi là cơ bản gồm: (i) đích ngôn trung; (ii) hướng khớp ghép của lời nói
và hiện thực được nói đến; (iii) trạng thái tâm lí được diễn đạt của người nói và (iv) nội dung mệnh đề [4, tr 236, 633], [108, tr 88]
Trên cơ sở các tham tố đã được phát hiện, Searle đã đề xuất 5 lớp HĐN gắn với 5 chức năng tổng quát:
Bảng 1.1 Tổng quát năm lớp hành động nói của Searle 1979 (theo Yule 1996)
Loại hành động nói Hướng khớp ghép S= người nói
Trang 29X= tình huống Tuyên bố Từ làm thay đổi thế giới S gây ra X
Biểu hiện Làm cho từ khớp với thế giới S tin X
Bộc lộ Làm cho từ khớp với thế giới S cảm nhận X
Điều khiển Làm cho thế giới khớp vào từ S muốn X
Ước kết Làm cho thế giới khớp vào từ S chủ định X
Các HĐN đề cập trong luận án dựa trên hệ thống phân loại này
1.2.4 Hành động nói trực tiếp và hành động nói gián tiếp
Câu với tư cách là lời trao đổi có quan hệ trực tiếp với việc thực hiện các HĐN Xung quanh quan hệ với cấu trúc thức của câu, tiếng Việt có 4 kiểu câu: Câu trình bày (declarative - còn dịch là câu tường thuật), câu nghi vấn (interrogative), câu cầu khiến, hay câu mệnh lệnh (imperative), câu cảm thán (exclamative) Số lượng kiểu câu có cấu trúc thức trong các ngôn ngữ là rất hạn chế, còn số lượng các HĐN thì khá nhiều và khá phức tạp Trong thực tế, một kiểu câu có thể thực hiện nhiều HĐN cụ thể khác nhau, đồng thời một HĐN cũng có thể được diễn đạt bằng những kiểu câu khác nhau
Để thực hiện ý định của mình, người nói thực hiện HĐN chủ yếu theo một trong hai cách sau: Sử dụng HĐN trực tiếp và sử dụng HĐN gián tiếp Do vậy, muốn nhận biết cách sử dụng HĐN trực tiếp và HĐN gián tiếp, cần biết các thái độ (mục đích, đích ngôn trung) của người nói nếu được diễn đạt ra bằng từ ngữ thì có hình thức như thế nào Cụ thể các thái độ của người nói có thể được diễn đạt thành lời như sau:
“Người nói tin chắc rằng…” trong hành động trình bày
“Người nói muốn biết…” trong hành động hỏi
“Người nói muốn người nghe làm…” trong hành động điều khiển
“Người nói lấy làm ngạc nhiên rằng…” trong hành động bộc lộ cảm xúc
Các mục đích nói này là cơ sở xác định các chức năng tương ứng của câu trong sử dụng: chúng giúp nhận biết một câu cụ thể được dùng theo lối trực tiếp hay gián tiếp
1.2.4.1 Hành động nói trực tiếp
Trang 30HĐN trực tiếp là “hành động có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên bề
mặt với hiệu lực của nó gây nên”[108, tr 88] Có nghĩa là “chừng nào có mối dây liên
hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng thì ta có một HĐN trực tiếp” HĐN
trực tiếp được thực hiện bằng những đơn vị tương đối trọn vẹn có thể lớn hơn một câu, chúng được phân biệt thành hai trường hợp cụ thể: Trường hợp sử dụng câu ngôn hành tường minh và trường hợp sử dụng câu ngôn hành hàm ẩn [170, tr 109-111]
1.2.4.2 Hành động nói gián tiếp
HĐN gián tiếp là hành động “không có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn
trên bề mặt với hiệu lực của nó gây nên” [108, tr 88], và mối quan hệ giữa một cấu
trúc và một chức năng là mối quan hệ gián tiếp Đó là những câu có đặc điểm về thức
có thể được sử dụng không đúng với chức năng (mục đích nói) vốn có của nó, như dùng câu nghi vấn để nhận định một sự việc nào đó hoặc để nêu yêu cầu, đề nghị; dùng câu trình bày để hỏi, để đề nghị; dùng câu nghi vấn để nêu yêu cầu
1.3 VỀ NGÔN NGỮ VÀ GIỚI TÍNH
1.3.1 Giới và giới tính
Giới tính (sex) và giới (gender) là hai khái niệm tuy có liên quan nhưng lại có
những nội hàm khác nhau cần phải phân biệt Theo các nhà khoa học, nữ giới và nam
giới khác nhau ở hai khía cạnh: thể chất (sinh lí học) và xã hội Giới tính (hoặc“giống”) chỉ sự khác biệt về mặt thể chất giữa nam và nữ Sự khác biệt này chủ
yếu liên quan đến chức năng tái sản xuất giống nòi và do các yếu tố di truyền tự nhiên
quy định Nói đến giống là nhấn mạnh đến tính ổn định, bất biến về một số đặc điểm về
chức năng sinh lí của nam/nữ Đây là những chức năng tự nhiên, hầu như không bao giờ thay đổi
Khái niệm giới chỉ mối quan hệ xã hội, mối tương quan giữa địa vị xã hội của nam và nữ trong bối cảnh xã hội cụ thể Nói đến giới là nói đến điều kiện và yếu tố xã
hội quy định vị trí, vai trò, hành vi xã hội của mỗi giới trong hoàn cảnh cụ thể; vị trí, vai trò, hành vi xã hội của mỗi giới không phải là bất biến mà thay đổi khi các điều kiện quy định chúng thay đổi
1.3.2 Quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính
Trang 31Một trong những mối quan tâm của ngôn ngữ học xã hội là vấn đề giới tính trong
ngôn ngữ Từ hai hướng tiếp cận chính là ngôn ngữ của mỗi giới và ngôn ngữ nói về
mỗi giới, các công trình nghiên cứu và khảo nghiệm đã xác định rõ mối quan hệ giữa
ngôn ngữ và giới tính thể hiện trên nhiều bình diện khác nhau, nhưng kết luận chung nhất là đều chỉ ra sự khác biệt về ngôn ngữ giữa nam giới và nữ giới
Về ngôn ngữ của giới, sự khác biệt thể hiện trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa
nam và nữ trên các phương diện: đặc điểm sinh lí cấu âm; đặc trưng âm vị, từ vựng, cú pháp; phong cách ngôn ngữ Trong công trình nghiên cứu về một số đặc trưng âm vị tiếng Anh của người da trắng ở Mỹ, Labov (1966) đã đưa ra chứng cứ về mặt số lượng cho thấy nữ giới có xu hướng dùng các âm vị chuẩn mực nhiều hơn nam giới, và ở phong cách thận trọng phụ nữ ít dùng biến thể phi chuẩn hơn nam, mẫn cảm với mô hình uy tín hơn nam [100, tr 187] Còn nhà ngôn ngữ học người Mĩ R Lakoff (1975) trên cơ sở tiến hành khảo sát cách sử dụng tiếng Anh của giới nữ trung lưu ở Mĩ trong môi trường sống và làm việc của họ đã rút ra một số kết luận về khuynh hướng ngôn ngữ của giới nữ trung lưu: nữ giới có khuynh hướng lên giọng ở cuối câu, sử dụng những biến thể ngữ âm uy tín, hay dùng cách nói rào đón, nghiêng về tính lịch sự nhưng lại thiếu óc hài hước hơn so với nam giới… (Dẫn theo [89, tr 14-15])
Kết quả của hướng nghiên cứu quan niệm giới tính trong ngôn ngữ lại cho thấy
những dấu hiệu thể hiện sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính trong ngôn ngữ, trong
đó, sự bất bình đẳng nghiêng về giới nữ Sự phân biệt đối xử này thể hiện rõ nhất là ở bình diện cấu tạo từ Ở những ngôn ngữ có phạm trù giống (tiếng Nga, tiếng Đức), các
từ gọi tên nghề nghiệp và các danh từ gọi tên sự vật, hiện tượng thường ở dạng thức giống đực nhiều hơn giống cái; các danh từ giống đực có thể bao hàm chỉ chung cả hai giới (hiện tượng này không xảy ra đối với các danh từ giống cái) Chẳng hạn như, hàng
loạt từ tiếng Anh được cấu tạo có yếu tố man phản ánh về vị thế xã hội của nam quyền, theo đó, một loạt từ trong tiếng Anh cũng phải có yếu tố man như: "phụ nữ" (woman),
"loài người, nhân loại" (hu man, mankind) Sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính
còn thể hiện trong cấu tạo từ qua hiện tượng đặt từ "phụ nữ" trước một số từ chỉ chức danh nghề nghiệp xuất hiện ở một số ngôn ngữ như tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Anh:
Trang 32nữ kĩ sư, nữ bác sĩ, nữ phóng viên, nữ giám đốc (Dẫn theo [93, tr.151]) Hiện tượng này cho thấy trong quan niệm của xã hội, dường như có sự quy ước những chức danh, nghề nghiệp này dành cho nam giới là đương nhiên, còn đối với nữ giới, phải bổ sung yếu tố giới tính "nữ" vào trước danh từ mới rõ ý nghĩa định danh
Trong một bài viết có tên gọi "Ngôn ngữ của chúng ta phải chăng là việc của nam giới", Michael Steindl (2002) khi nghiên cứu phạm trù giống trong các từ gọi tên các nghề và các danh từ gọi tên một hành động xảy ra trong tiếng Đức, đã nhận thấy người
ta sử dụng các từ có dạng thức giống đực Cụ thể như: Theo một cách đọc thì những từ
khách hàng, thính giả, chủ toạ cuộc họp, thư kí v.v chỉ thuộc về giới nam; còn theo
cách đọc khác thì họ có thể thuộc về nhóm bao gồm cả hai giới Chỉ có một cách đọc
không thể nào chấp nhận được, đó là tất cả những khách hàng, những thính giả, những
người chủ toạ cuộc họp đều là giới nữ Từ đó, tác giả đặt ra vấn đề: Phải chăng đây là
vấn đề về quyền bình đẳng giữa nam giới và nữ giới thể hiện trong cách dùng ngôn ngữ, cái gọi là quan niệm về giới tính trong ngôn ngữ? Hay tình hình trên "chỉ là tính kinh tế trong ngôn ngữ mà thôi" [144, tr 1-2]
Kết quả các công trình nghiên cứu đã có về quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính cho thấy ba vấn đề:
Thứ nhất, sự khác biệt về sinh lí cấu âm của mỗi giới dẫn đến sự khác biệt âm thanh ngôn ngữ giữa nam giới và nữ giới như: âm thanh ngôn ngữ của nữ giới thường
trong và cao, âm thanh ngôn ngữ của nam giới thường trầm và đục
Thứ hai, sự khác nhau về ngôn ngữ giữa giới nam/giới nữ còn thể hiện ở ngôn ngữ nói về mỗi giới Đây là sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở giới tính thể hiện trong ngôn ngữ như: sự định kiến về giống, tính vô hình của nữ giới trong ngôn ngữ, kết cấu của những diễn ngôn có nội dung phân biệt đối xử về giới Hầu như ngôn ngữ của các quốc gia, dân tộc đều có những phương tiện, yếu tố chỉ dùng cho giới này mà không thể dùng cho giới khác
Thứ ba, sự khác nhau về ngôn ngữ giữa giới nam/giới nữ thể hiện qua ngôn ngữ
mà mỗi giới sử dụng như cách diễn đạt, cách sử dụng ngôn ngữ để biểu thị cùng một vấn đề Đây là sự khác nhau trên bình diện phong cách ngôn ngữ mang yếu tố giới tính
Trang 33Thực tế cho thấy, những kinh nghiệm khác nhau về xã hội của nam giới và nữ giới cũng như sự phân bố quyền lực khác nhau trong xã hội nhiều khi là nguyên nhân dẫn tới cách sử dụng và cách hiểu ngôn ngữ của hai giới không giống nhau Chẳng hạn như
nữ giới quan tâm nhiều hơn tới việc tạo dựng các mối quan hệ, do vậy thường chọn ngôn ngữ giao tiếp hướng vào sự hợp tác (sự mềm mại về thanh điệu, uyển chuyển về cách lập luận, ); trong khi đó, nam giới thường có tính độc lập cao hơn, do đó, hành động tương tác của họ chủ yếu mang tính cạnh tranh và hướng tới sự điều khiển (dùng
âm lượng mạnh hơn, ít từ ngữ đưa đẩy rào đón hơn )
Với phạm vi nghiên cứu đã xác định, luận án chủ yếu tập trung xem xét vấn đề ngôn ngữ giới tính qua các vai giao tiếp Ngoài ra, có đề cập tới một vài bình diện liên
quan ngôn ngữ nói về mỗi giới như: các lớp từ đặc trưng, các biểu tượng nói về giới,
tuy nhiên những vấn đề này cũng được xem xét trên cơ sở gắn với lời của vai giao tiếp
1.3.3 Cơ sở của sự khác biệt trong ngôn ngữ giữa nam giới và nữ giới
Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội, sự khác nhau về ngôn ngữ giữa nam và nữ xuất phát từ những nguyên nhân nhất định Để lí giải hiện tượng này, hiện đang có một số hướng tiếp cận sau:
Hướng thứ nhất cho rằng sự khác biệt là do đặc điểm về sinh học bẩm sinh của mỗi giới tác động đến tinh thần và tâm tính, tạo ra sự khác biệt về ngôn ngữ của giới Chẳng hạn, nữ giới thường cố gắng vươn tới sự phụ thuộc lẫn nhau giữa mọi người, do vậy, quan tâm đến việc tạo dựng các mối quan hệ, còn nam giới lại có xu hướng khẳng định tính độc lập trên các thứ bậc quan hệ Một số nhà nghiên cứu cho rằng sự khác biệt về ngôn ngữ giữa nam và nữ còn xuất hiện ở vùng não bộ, dẫn tới sự khác biệt trong sử dụng, tiếp nhận ngôn ngữ ở nam giới, nữ giới (Dẫn theo [44, tr 50-52])
Hướng thứ hai nhấn mạnh sự ảnh hưởng của xã hội cũng như địa vị xã hội của mỗi giới dẫn đến hiện tượng khác biệt về ngôn ngữ giữa nam và nữ Những định kiến
xã hội cùng những kinh nghiệm khác nhau về xã hội của nam và nữ đã dẫn đến những cách thức sử dụng và hiểu ngôn ngữ khác nhau Với quan niệm "nam tôn nữ ti", nữ giới
ở vào địa vị phụ thuộc, bị hạn chế phát huy khả năng của bản thân cả ngoài xã hội và trong gia đình, do vậy, so với nam giới, họ hạn chế về vốn ngôn ngữ, thường chọn cách
Trang 34nói nhẹ nhàng, vòng vo, thích thể hiện sự tuân thủ và thích làm hài lòng người khác Trong một công trình nghiên cứu trên cơ sở kết quả điều tra phương ngữ đô thị ở thành phố Norwich, xuất phát từ góc độ giới tính, Peter Trudgill (1972) đã đưa ra nhận xét:
"Các nữ nghiệm viên" đã "sử dụng các dạng thức có liên quan đến chuẩn uy tín ở mức thường xuyên hơn các nam nghiệm viên"; và nhìn chung phụ nữ "ý thức về vị thế ở mức cao hơn nam giới", vì thế "có ý thức hơn nam giới về ý nghĩa xã hội của các biến ngôn ngữ" Để giải thích điều này, tác giả nêu ra 2 lí do chính: (1) Do vị trí xã hội của phụ nữ "ít đảm bảo hơn nam giới", và "thường thấp hơn vị trí của nam giới", có thể vì thế mà phụ nữ thấy cần phải "ghi nhận vị trí xã hội của mình bằng các phương tiện ngôn ngữ"; (2) Do "ngôn từ của tầng lớp lao động, cũng như các khía cạnh văn hoá khác của tầng lớp này, dường như là có các hàm ý về nam tính"; chẳng hạn như coi
"tính thô lỗ và cứng rắn" là "đặc điểm nam tính được ưa thích", còn sự "lịch lãm" và
"tế nhị" là những đặc trưng ưa thích hơn ở phụ nữ [162, tr 211-212]
Hướng giải thích thứ ba quy cho sự khác nhau cơ bản của giới trong hành động ứng xử ngôn ngữ là sự phân bố quyền lực khác nhau trong xã hội Vận dụng lí thuyết giao tiếp (mục đích và chiến lược giao tiếp), một số nhà nghiên cứu đã tiến hành phân tích đặc trưng phong cách ngôn ngữ nữ giới nhằm làm rõ mối quan hệ nội tại giữa trạng thái tâm lí với hiệu ứng của người giao tiếp, từ đó cho rằng nữ giới là những thành viên không có thế lực, thuộc nhóm dưới quyền nên thường lịch sự hơn so với nam giới Phân tích một cách cụ thể vấn đề này, Brown và Levinson (1987) đã nhấn mạnh tình thân hữu như là đặc trưng của nhóm người dưới quyền, do vậy, nhóm người dưới quyền thường hướng tới sự nhấn mạnh về lợi ích Khi khảo sát yếu tố lịch sự trong giao tiếp dưới tác động của các tham tố trong tình huống giao tiếp (như quyền thế, khoảng cách, thể diện), P Brown đã cho rằng, nếu phong cách nói năng của nữ giới lịch sự hơn của nam giới thì có thể là do khách thể giao tiếp của nữ giới đã làm cho nữ giới phải tạo ra được phong cách nói năng nữ tính (Dẫn theo [44, tr 52], [93, tr.166])
Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu còn xuất phát từ vai xã hội với "thiên chức" của người phụ nữ để khẳng định rằng cách nói năng của phụ nữ mang cả sứ mệnh "dẫn
Trang 35dắt", từ đó đặt ra giả thiết "phải chăng đây cũng là lí do để cách nói năng của nữ giới mang phong cách nữ tính?"[93, tr 165] Theo hướng phân tích này, với vai trò là người
vợ, người mẹ trong gia đình, việc đảm nhận trách nhiệm chính trong nuôi con và dạy con "học ăn, học nói" đã khiến cho phụ nữ ý thức về tính tất yếu phải sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực, ngôn ngữ lịch sự (hơn đàn ông) Ngoài xã hội, một số công việc (nghề nghiệp) phù hợp với nữ giới như văn phòng, thư kí, bảo mẫu, giáo dục, chữa bệnh v.v đòi hỏi họ, dù muốn hay không, phải tuân thủ các quy tắc giao tiếp (về lịch sự, hội thoại) mới có thể thành công trong công việc
Có thể nói, khác biệt giới tính là sự tồn tại có thực trong giao tiếp ngôn ngữ, được hình thành bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Về nguyên nhân tự nhiên, đó là do cấu tạo cơ thể người (bao gồm vị trí của phần "chứa" ngôn ngữ ở trong não bộ và đặc điểm
về sinh lí cấu âm riêng của mỗi giới) tạo nên sự khác biệt trong sử dụng và tiếp nhận ngôn ngữ cũng như về âm lượng, âm sắc lời nói Về nguyên nhân xã hội, sự khác biệt trong ngôn ngữ giới tính do nhiều nhân tố, bao gồm yếu tố văn hoá, sự phân bố quyền lực và địa vị xã hội cũng như sự phân công lao động và kinh nghiệm về xã hội của mỗi giới Nếu đặc điểm ngôn ngữ giới tính hình thành do nguyên nhân tự nhiên hầu như là
"bất biến" thì những đặc điểm hình thành do nguyên nhân xã hội thường có khuynh hướng điều chỉnh, thay đổi để phát triển và thích nghi như có nhà nghiên cứu đã nhận xét: Tuỳ thuộc vào vai xã hội - gia đình cũng như bối cảnh giao tiếp cụ thể,"mỗi cá nhân nữ giới sử dụng ngôn ngữ mang phong cách nữ tính hay mang phong cách trung tính thậm chí có thể thiên về phong cách nam tính"; do đó"ngày nay có nhiều nữ giới
sử dụng phong cách nói năng gần với phong cách nói năng của nam giới" [93, tr 162]
1 4 VỀ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ
1.4.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
Trong khoa học xã hội, văn hoá là một trong những thuật ngữ có nhiều cách định
nghĩa Theo Phan Ngọc, "cho đến nay đã có ngót bốn trăm định nghĩa khác nhau"; và"vì dân tộc nào cũng có văn hoá, vì bất kì cái gì ta hình dung cũng có mặt văn hoá”,
“cho nên không thể tìm một định nghĩa thao tác luận cho văn hoá nếu dựa vào xã hội học, kinh tế, chính trị v.v " [120, tr 114]
Trang 36Gần đây, UNESCO xác định: "Văn hoá hôm nay có thể coi là một tổng thể những
nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản,
có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩ mới mẻ và tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân" (dẫn theo
[12, tr 48])
Giữa văn hoá và ngôn ngữ có mối quan hệ chặt chẽ Là hệ thống kí hiệu với chức năng quan trọng là phương tiện giao tiếp, ngôn ngữ chính là chiếc cầu bắc qua giữa các dân tộc có nền văn hoá khác nhau, mở rộng giao lưu, trao đổi văn hoá giữa các cộng đồng người Dù diễn đạt bằng cách nào, ngôn ngữ cũng là thành tố của văn hoá, là tiền
đề cho văn hoá phát triển Nói cách khác, văn hoá bao hàm ngôn ngữ nhưng ngôn ngữ lại là một phương diện tác động tích cực đối với quá trình hình thành và phát triển của một nền văn hoá Chính ngôn ngữ cùng với lao động là những tiền đề giúp con người cải tạo thế giới và cải tạo bản thân mình Ngôn ngữ là phương tiện để con người nhận thức và mô hình hoá thế giới khách quan, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn và sáng tạo những mô hình, phương thức tồn tại mới
Trong Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, F.d Saussure đã coi cả văn hoá và ngôn ngữ đều là "thiết chế xã hội", hoạt động ngôn ngữ cũng như hoạt động văn hoá đều thuộc loại hoạt động tinh thần Ông khẳng định:“Phong tục của một dân tộc tác
động đến ngôn ngữ, và mặt khác, trong một chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc” [141, tr 17]
Còn Sapir khẳng định ngôn ngữ và văn hoá quan hệ khăng khít với nhau Quan hệ
đó chặt chẽ tới mức sẽ không thể hiểu và đánh giá đúng được cái này nếu không có
kiến thức về cái kia: “Văn hoá có thể định nghĩa là cái mà một xã hội làm và suy nghĩ
Trang 37Còn ngôn ngữ là một phương tiện đặc biệt để tư duy Trong ý nghĩa là từ vựng của một ngôn ngữ phản ánh ít nhiều trung thành với cái nền văn hoá mà ngôn ngữ đó phục
vụ, thì một điều hoàn toàn đúng là lịch sử của ngôn ngữ và lịch sử của văn hoá chuyển động theo những đường song song" [140, tr 270]
Đối với thơ ca dân gian, mối quan hệ giữa văn hoá và ngôn ngữ càng thể hiện rõ Hình thành và phát triển từ trong lao động, thơ ca dân gian phản ánh tâm tư, tình cảm
và đời sống tinh thần vốn vô cùng phong phú, phức tạp của con người Theo đó, các đặc trưng văn hoá cộng đồng là nền tảng để hình thành văn học dân gian nói chung và thơ ca dân gian nói riêng Ở chiều tác động trở lại, văn học dân gian nói chung, thơ ca dân gian nói riêng lại có ý nghĩa phản ánh và lưu giữ quá trình hình thành, phát triển của văn hoá cộng đồng
Thực sự, việc xác định nội dung cụ thể của nội hàm thuật ngữ văn hoá cũng như mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá là vô cùng phức tạp, trừu tượng Trong điều kiện hạn chế, luận án chỉ đề cập tới yếu tố văn hoá từ một góc độ cụ thể: xem xét một
số yếu tố văn hoá trong mối quan hệ với giới tính thể hiện qua ngôn ngữ HPV Nghệ Tĩnh
1.4.2 Sơ lược về đặc trưng văn hoá giao tiếp của người Việt
Nằm trong khu vực Đông Nam Á, một khu vực có một chỉnh thể riêng biệt về văn
hoá, lịch sử, cư dân "ra đời và phát triển trên nền tảng kinh tế nông nghiệp, kinh tế lúa nước", Việt Nam cũng là đất nước có nền "văn hoá lúa nước", cho nên từ suy nghĩ, cách làm, giao tiếp, lễ hội, kiến trúc đã "pha đậm màu sắc đó" Quan hệ xã hội của người Việt Nam chủ yếu là quan hệ dòng tộc, láng giềng, làng xóm Theo đó, với người Việt Nam, làng không chỉ là đơn vị hành chính mà còn là nơi lưu truyền ngôn
ngữ và văn hoá dân gian, nền tảng của ngôn ngữ và văn hoá dân tộc; biểu tượng“cây
đa, bến nước, sân đình” là nét văn hoá đặc trưng của làng quê Việt Nam
Bên cạnh đó, trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, đó là ý thức tôn trọng và ước vọng sống hoà bình với thiên nhiên; trong lối sống ứng xử với môi trường xã hội,
đó là thái độ dung hợp trong tiếp nhận, mềm dẻo, hiếu hoà trong đối ngoại Về mặt tổ
Trang 38chức cộng đồng, đó là nguyên tắc trọng tình và thái độ trọng đức, trọng tài, trọng phụ
nữ Đây cũng là những nét đặc trưng cụ thể của loại văn hoá gốc nông nghiệp điển hình
[12, tr 57-88], [155, tr 22-25] (xem Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Các đặc trưng của loại hình văn hoá gốc nông nghiệp
Tiêu chí Văn hoá gốc nông nghiệp Đặc trưng gốc Khí hậu
Nghề chính
Nắng nóng lắm, mưa ẩm nhiều
Trồng trọt Ứng xử với môi trường tự nhiên Sống định cư, thái độ tôn trọng, ước mong sống
hoà hợp với thiên nhiên
Lối nhận thức, tư duy Thiên về tổng hợp và biện chứng (trong quan
hệ); chủ quan, cảm tính và kinh nghiệm
Nguồn: Trần Ngọc Thêm (1977) [154]
Đặc điểm kinh tế chủ yếu của Việt Nam là nghề nông vốn phụ thuộc vào thiên
nhiên, do đó, đặc trưng nổi bật của văn hoá Việt Nam là tính cộng đồng, tổ chức nông thôn Việt Nam được liên kết rất chặt chẽ theo các yếu tố chính: theo huyết thống nông thôn được tổ chức thành gia đình và gia tộc; theo địa bàn cư trú nông thôn được tổ chức thành xóm và làng; theo đơn vị hành chính nông thôn được tổ chức thành thôn và
xóm; theo nghề nghiệp và sở thích nông thôn được tổ chức thành phường và hội; theo
truyền thống nam giới được tổ chức theo giáp…Trong một làng, phần lớn người dân
đều làm nông nghiệp Ngoài ra, còn có những bộ phận cư dân sinh sống bằng nghề khác Họ liên kết chặt chẽ với nhau, khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm nguyên tắc
tổ chức theo nghề nghiệp, tạo thành đơn vị gọi là phường Ở nông thôn có thể gặp hàng
loạt phường như phường gốm, phường nề, phường chài, phường vải, phường nón, phường giấy, phường mộc [155]
1.5 PHƯƠNG NGỮ XÃ HỘI
1.5.1 Phương ngữ
Mặc dù mỗi quốc gia đều có một ngôn ngữ thống nhất chung nhưng giữa các vùng, miền địa lí khác nhau thường xuất hiện những biến dạng ngôn ngữ trong cách sử dụng của người dân địa phương Hiện tượng này trong tiếng Anh được gọi bằng thuật
Trang 39ngữ dialect, trong tiếng Pháp được gọi bằng hai từ: dialecte, patois Trong đó, thuật ngữ dialect trong tiếng Anh dùng để chỉ cả phương ngữ có chữ viết lẫn phương ngữ
không có chữ viết, cả biến thể địa lí lẫn biến thể xã hội của ngôn ngữ; đồng thời dưới con mắt của người Anh, phương ngữ là biến thể ngôn ngữ không chính thức, chỉ dùng
trong các tầng lớp thấp hoặc ở nông thôn Còn trong tiếng Pháp, dialect là khái niệm
chỉ các biến thể địa lí của một ngôn ngữ có mối liên hệ với truyền thống văn học,
patois chỉ là biến thể mang tính khẩu ngữ và dường như có cái gì đó kém hơn (bởi
thiếu yếu tố văn học) [93, tr 108]
Ở tiếng Việt, hiện tượng này được diễn tả bằng nhiều tên gọi khác nhau: phương
ngữ, phương ngôn, tiếng địa phương Theo tác giả Hoàng Thị Châu: "Phương ngữ là
một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay một phương ngữ khác" [31] Những khác biệt ấy xuất phát từ các nguyên nhân: nguyên
nhân về địa lí, về đặc điểm lịch sử, nguyên nhân về xã hội, theo đó, phương ngữ được xem xét trên hai bình diện: phương ngữ địa lí và phương ngữ xã hội
Trong thực tế giao tiếp, việc xác định đường ranh giới trong phương ngữ địa lí có phần dễ dàng nhờ những căn cứ tương đối khách quan như: những vật định mốc tự nhiên phân chia các vùng địa lí như núi đồi, sông suối hoặc cũng có thể là các mốc lịch
sử về việc tách hoặc hợp nhất giữa các vùng v.v Còn việc xác định đường ranh giới trong phương ngữ xã hội không phải lúc nào cũng có những điều kiện thuận lợi như vậy bởi vì tiêu chí nhận diện phương ngữ xã hội phụ thuộc vào các thông số xã hội, mà các thông số này thường có sự biến đổi
Xuất phát từ nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu, luận án chủ yếu vận dụng những vấn đề lí thuyết của phương ngữ xã hội để xem xét, khảo sát lời HPV
Trang 40Ngoài ra, đó còn là tiếng lóng, biệt ngữ, ẩn ngữ của một nhóm người nhất định [153, tr 14]
Giữa phương ngữ địa lí và phương ngữ xã hội có mối quan hệ khá chặt chẽ Cụ thể là sự vận dụng phương ngữ trong những người có cùng địa bàn cư trú nhưng lại có
sự khác nhau tuỳ thuộc vào nghề nghiệp, vị trí xã hội, hoàn cảnh xuất thân Khi có sự chi phối của hoàn cảnh xã hội vào phương ngữ thì phương ngữ không đơn thuần giới hạn về mặt địa lí nữa mà nó trở thành phương ngữ xã hội Nói cách khác, sự hình thành phương ngữ xã hội có liên quan chặt chẽ đến thuộc tính xã hội của người giao tiếp được hình thành trên cơ sở của hàng loạt các tiêu chí như giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, thành phần xuất thân, trình độ văn hoá,v.v… Như vậy cũng có hiểu rằng sự sắp xếp xã hội như đã đề cập trên là những yếu tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ, tạo nên đặc điểm về phương ngữ trong cách sử dụng Gắn liền với sự phát triển xã hội nên phương ngữ xã hội cũng thay đổi tuỳ theo các điều kiện xã hội khác nhau Do vậy, sự
đa dạng trong cách sử dụng ngôn ngữ địa phương cũng như việc ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện xã hội lên nó đã làm cho phương ngữ ngày càng có tính chất xã hội hoá cao
Mặt khác, phương ngữ xã hội có liên hệ mật thiết với "chuẩn" và sự biến đổi ngôn ngữ Mỗi ngôn ngữ đều tồn tại những "chuẩn" nhất định gồm các quy tắc được hình thành từ "uy tín" về ngôn ngữ hoặc từ "truyền thống" vốn có từ trước Và người nói đã vận dụng những "chuẩn" này để hiện thực hoá quyền tự do biểu đạt ý tưởng của mình
mà giao tiếp trong hoàn cảnh, điều kiện thích hợp Đây cũng là quá trình mà mỗi người, mỗi cộng đồng xã hội có thể góp thêm cái mới để sự giao tiếp đạt được kết quả cao hơn Cứ thế, khi cái mới nào được cộng đồng chấp nhận thì cũng có nghĩa là đang hình thành những "chuẩn" mới cho phương ngữ đó [153, tr 23]
Như vậy, mối quan hệ chặt chẽ và không thể tách rời giữa ngôn ngữ và xã hội đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ sớm thừa nhận và khẳng định Thông qua sự phát triển của ngôn ngữ, có thể hình dung được sự phát triển của xã hội và ngược lại, đời sống xã hội cũng đã được phản ánh một cách trung thực trong ngôn ngữ Một trong những chức năng quan trọng của ngôn ngữ là giao tiếp, đồng thời khi giao tiếp, ngôn