1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hủy bản án sơ thẩm hình sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

87 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 542,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hủy bản án sơ thẩm hình sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí MinhHủy bản án sơ thẩm hình sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí MinhHủy bản án sơ thẩm hình sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí MinhHủy bản án sơ thẩm hình sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí MinhHủy bản án sơ thẩm hình sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí MinhHủy bản án sơ thẩm hình sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí MinhHủy bản án sơ thẩm hình sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 1

Hà Nội, năm 2020

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM ANH QUÂN

HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TÒA

ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

Trang 2

Hà Nội, năm 2020

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố trongbất cứ công trình nào

Người cam đoan

Phạm Anh Quân

Trang 4

Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ HỦY BẢN

ÁN SƠ THẨM HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 322.1. Tình hình hủy bản án sơ thẩm hình sự tại Tòa án nhân dân cấp cao

2.2. Thực tiễn thi hành các quy định về căn cứ hủy bản án sơ thẩm tại Tòa

án nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh 35

Chương 3: NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG SAI SÓT, VI PHẠM

TRONG HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 533.1. Nguyên nhân của những sai sót, vi phạm trong hủy bản án sơ thẩm

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Đấu tranh phòng, chống tội phạm không chỉ dừng lại ở việc ban hành Bộluật Hình sự (BLHS) quy định hành vi nào là hành vi phạm tội, hình phạt vàtrách nhiệm hình sự (TNHS) kèm theo mà còn thể hiện ở việc đưa tội phạm raxét xử theo các thủ tục do pháp luật quy định Với tinh thần đó, các cơ quan tốtụng nói chung và Tòa án các cấp nói riêng đã không ngừng nỗ lực, phấn đấutrong công tác xét xử, qua đó đạt được những kết quả đáng ghi nhận, thể hiệnqua chất lượng của lĩnh vực điều tra, truy tố, xét xử với nhiều chuyển biếntích cực; tình trạng bắt giữ người trái pháp luật, truy tố oan, sai được hạn chếđến mức thấp nhất, công tác xét xử được thận trọng, hoạt động tranh tụngđược đề cao, tính dân chủ, công khai, khách quan của phiên tòa ngày càngđược phát huy

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được hoạt động xét xử các vụ ánhình sự vẫn chưa đạt được yêu cầu, mục tiêu đề ra vì trong thực tế nhiều bản

án của tòa án cấp dưới bị Tòa án cấp trên tuyên hủy, sửa theo thủ tục phúcthẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vẫn còn xảy ra Khi Tòa án cấp trên quyếtđịnh hủy bản án hay sửa bản án hình sự của Tòa án cấp dưới ít nhiều có ảnhhưởng đến quá trình giải quyết vụ án, tính chất mức độ hành vi vi phạm, cũngnhư việc xác định lỗi của người bị kết tội Chính vì vậy, hủy bản án có ý nghĩahết sức quan trọng Nếu như việc hủy bản án của Tòa án cấp dưới chính làviệc Tòa án cấp trên không thể khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong quátrình áp dụng pháp luật của Tòa án cấp dưới hoặc do có những tình tiết mớiphát sinh liên quan đến việc giải quyết vụ án mà ở giai đoạn xét xử sơ thẩmkhông có tình tiết đó thì việc hủy bản án (trừ trường hợp hủy và đình chỉ vụán) chủ yếu là nhằm tạo điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp

Trang 7

dưới khắc phục những vi phạm pháp luật nghiêm trọng để tiến hành điều tra,xét xử lại hoặc chỉ để xét xử lại vụ án một cách khách quan và đúng đắn.Nếu đánh giá sửa bản án hay hủy bản án hình sự ở góc độ liên hệ cùngvới hiệu lực thi hành của bản án thì bản án bị sửa có hiệu lực ngay cho dùquyết định sửa đúng hay sai nhưng đối với bản án bị hủy thì phải quay trở lạigiai đoạn tố tụng trước đó, có thể phải điều tra lại hoặc xét xử lại Do đó, việc

để nhiều vụ án phải xử lý lại, làm kéo dài thời hạn tố tụng không chỉ gây thiệthại lớn cho ngân sách của nhà nước, xã hội, mà còn ảnh hưởng đến quyền lợicủa người tham gia tố tụng và nhất là làm mất lòng tin của nhân dân vào công

lý Ngoài ra, mặc dù vấn đề hủy bản án hình sự là rất quan trọng nhưng quyđịnh của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 và một số văn bảnhướng dẫn thi hành Bộ luật đối với vấn đề này vẫn chưa thật sự chặt chẽ, chưađồng bộ, nhất là quy định hủy bản án trong một số trường hợp cụ thể nên đãtạo ra không ít khó khăn, lúng túng cho Tòa án cấp trên khi áp dụng và trongmột số ít trường hợp là kẽ hở gây ra nhũng nhiễu, tiêu cực

Chính vì vậy, việc tìm ra giải pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất cóthể các bản án hình sự bị hủy là yêu cầu đặt ra cấp thiết, có ý nghĩa rất quantrọng, không chỉ giúp làm sáng tỏ về mặt khoa học mà còn là cơ sở để đánhgiá tính thực tiễn của pháp luật tố tụng hình sự (TTHS), hiệu quả về mặt xãhội trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm Tất cả những vấn đề nêu

trên là lý do mà học viên chọn đề tài “Hủy bản án sơ thẩm hình sự từ thực

tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt

nghiệp thạc sĩ luật học

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong thực tế hiện nay, hủy bản án là một vấn đề được các cấp các ngànhhết sức quan tâm, cũng như những cán bộ làm công tác khoa học, trong đócũng có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như sau:

Trang 8

- Về luận văn: Huỳnh Lập Thành (2001) Giai đoạn xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn

thạc sỹ, Đại học Luật, Hà Nội; Nguyễn Đức Mai (2004), Luận án tiến sỹ Luậthọc, Phúc thẩm trong tố tụng hình sự, Trung tâm khoa học xã hội và nhân vănQuốc gia (nay là Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam); Nguyễn Văn

Huyên (2002) Thẩm quyền của Tòa án các cấp theo luật Tố tụng hình sự Việt

Nam, Luận án tiến sỹ, Đại học Luật, Hà Nội; Phan Thị Thanh Mai (2003) Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Đại học

Quốc gia Hà Nội

- Về bài báo khoa học: Đinh Văn Quế (2004) “Những trường hợp Hội

đồng giám đốc thẩm hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2003”, Tạp chí Tòa án, số 20; Đinh Văn Quế

(2004) “Những trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm”, Tạp chí Tòa án số 17; Đỗ Đại Hữu (2006) “Xác định Tòa án xét xử lại, khi Tòa án

tối cao hủy bản án, quyết định của Tòa cấp dưới”, Tạp chí Nghiên cứu lập

pháp, số 72; Phạm Thanh Hải (2007) “Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy bản án

sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án”, Tạp chí Tòa án, số 4; Vũ Gia Lâm (2012)

“Về quyền hủy bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại của Tòa

án cấp phúc thẩm”, Tạp chí Luật học, số 11; Đinh Văn Quế (2013) “Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng có tội – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Tòa án, số 8; Hoàng Thị Liên (2005)

“Xử lý thế nào trong trường hợp tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm để điều tra lại theo hướng nặng hơn đối với bị cáo”, Tạp chí dân chủ và Pháp

Trang 9

như thế nào, cũng chưa có tài liệu nào đề cập đến hủy bản án sơ thẩm hình sự

từ thực tiễn Tòa án nhân dân (TAND) cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh(TPHCM) Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài là cần thiết và phù hợp với yêu cầunâng cao chất lượng xét xử án hình sự trong cải cách tư pháp hiện nay

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hủy bản

án sơ thẩm, đánh giá việc hủy bản án sơ thẩm từ thực tiễn xét xử của Tòa ánnhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đưa ra một sốkiến nghị nhằm hạn chế những sai sót của tòa án nhân dân cấp dưới

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung vào các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về hủy bản án, mục đích, ý nghĩa của hủybản án; các nguyên tắc áp dụng đối với hủy bản án sơ thẩm hình sự

- Phân tích đánh giá từng trường hợp cụ thể về thẩm quyền hủy bản án sơthẩm hình sự Nêu kết quả và những hạn chế trong hoạt động điều tra, truy tố,xét xử của tòa án nhân dân cấp dưới thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm, giámđốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Nêu một số kiến nghị nhằm hạn chế những sai sót của TAND cấp dướidẫn đến việc TAND cấp cao hủy bản án, bảo đảm tốt hơn chất lượng xét xửcủa các tòa án cấp tỉnh và cấp huyện

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, các quy định củapháp luật hình sự, tố tụng hình sự hiện hành về hủy bản án và thực tiễn ápdụng ở Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Trang 10

Về thời gian: Từ năm 2017 đến năm 2019.

Về không gian: Vấn đề hủy bản án sơ thẩm từ thực tiễn Tòa án nhân dâncấp cao tại TPHCM trên địa bàn 23 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ươngthuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác-Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp quyền Các kiến nghị luận vănđưa ra được nghiên cứu dựa trên các quan điểm định hướng chỉ đạo của Đảng

và nhà nước ta về cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giaiđoạn hiện nay

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình

sự như: phân tích, đối chiếu, tổng hợp Luận văn tiến hành thu thập số liệuthống kê về thực tiễn xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của TANDcấp cao TPHCM trong các năm 2017, 2018, 2019

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Trang 11

nhân để xảy ra tình trạng hủy bản án sơ thẩm hình sự và đưa ra kiến nghị nhằm khắc phục tình trạng này trong thực tiễn.

7. Kết cấu của luận văn

Nội dung chính của luận văn được sắp xếp gồm các chương như sau:

Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về hủy bản án sơ thẩm

hình sự

Chương 2 Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về hủy bản án sơ

thẩm hình sự của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 Nguyên nhân của những sai sót, vi phạm trong hủy bản án sơ

thẩm và các giải pháp khắc phục

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỦY BẢN ÁN SƠ

THẨM HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của hủy bản án sơ thẩm hình sự

1.1.1. Khái niệm hủy bản án sơ thẩm hình sự

Trong từ điển Tiếng Việt có nêu khái niệm về “hủy” đó là làm cho khôngcòn tồn tại hoặc không còn có giá trị nữa Tuy nhiên, với cách tiếp cận nàycòn rất chung chung, chưa xác định được các căn cứ để thực hiện việc hủybản án, chưa quy định rõ phạm vi áp dụng cũng như chủ thể nào sẽ trực tiếpđược giao quyền hủy bản án?

Vì vậy, theo pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành “Hủy bản án” là việcToà án cấp trên có thẩm quyển ra quyết định bằng văn bản nhằm chấm dứthiệu lực thi hành đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án cấpdưới khi phát hiện bản án, quyết định đó có sai sót Qua đó, có thể đưa ra khái

niệm hủy bản án trong TTHS như sau: “Hủy bản án là một trong những

quyền của Tòa án cấp trên đối với bản án quyết định của Tòa án cấp dưới khi

có kháng cáo, kháng nghị Tòa án cấp trên xét thấy có căn cứ theo quy định của pháp luật nhằm hủy bỏ một phần hay toàn bộ nội dung trong quyết định của Tòa án cấp dưới để tiến hành điều tra, xét xử lại những nội dung trong vụ

án đó hoặc quyết định đình chỉ vụ án”.

Từ khái niệm trên, có thể đưa ra một số đặc điểm của hủy bản án trongTTHS như sau:

Thứ nhất, Tòa án cấp trên có quyền hủy bản án của Tòa án cấp dưới để

xét xử lại khi bản án đó bị kháng cáo, kháng nghị

Thủ tục phúc thẩm được xây dựng trên cơ sở nguyên tắc hai cấp xét xử,nội dung của nguyên tắc này là bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị phải

Trang 13

được xét xử lại ở cấp phúc thẩm, còn nếu không bị kháng cáo, kháng nghịtrong thời hạn pháp luật quy định thì có hiệu lực thi hành.

Thứ hai, quyền hủy bản án được thực hiện khi có các căn cứ theo luật

định, tức là phải tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc pháp chế trong tố tụng

Như vậy, trong trường hợp vụ án đó có đầy đủ các căn cứ theo luật quyđịnh thì cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện quyền hủy bản án, tức phảituân thủ các quy định mà pháp luật tố tụng hình sự đã đặt ra, không được làmsai hoặc cố tình vi phạm những quy định đó khi áp dụng

1.1.2. Mục đích

Thứ nhất, việc hủy bản án trong TTHS nhằm mục đích giúp cho các cơ

quan tiến hành tố tụng cấp dưới trong quá trình giải quyết vụ án phát hiện ranhững sai phạm, thiếu sót của mình qua đó có cách thức khắc phục, tạo điềukiện để đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật Đây được xem

là yếu tố quan trọng giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định được nhữngbản án có vi phạm, tính chất mức độ như thế nào, làm ảnh hưởng nghiêmtrọng đến các quyền lợi cơ bản của công dân ra sao để quyết định có tiếp tụcthi hành bản án hay hoãn thi hành bản án

Thứ hai, Đối với trường hợp bị cáo, bị hại, đại diện pháp luật hay Viện

Kiểm sát (VKS) có kháng cáo, kháng nghị yêu cầu hủy bản án, sửa bản ánhay giữ nguyên bản án Trong trường hợp này thì tòa án mới quyết định thủtục xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm để đảm bảo các quyền, lợiích hợp pháp của bị cáo, bị hại, đại diện pháp luật … cũng như nhằm xác địnhcác tình tiết còn chưa đầy đủ trong vụ án, đảm bảo quá trình giải quyết vụ ánđược đầy đủ, đúng đắn, khách quan và công bằng

Thứ ba, Tòa án là cơ quan nhân danh Nhà nước để thực thi pháp luật, vì

vậy đây được xem là chủ thể quan trọng góp phần làm sáng tỏ vụ án, chứngminh được các tình tiết trong vụ án đó, ai là người có hành vi vi phạm, tính

Trang 14

chất, mức độ thiệt hại cũng như hậu quả xảy ra từ những hành vi đó như thếnào và tất nhiên hình phạt đưa ra phải tương xứng với hành vi vi phạm đó màpháp luật quy định Như vậy rõ ràng Tòa án phải xác định được những khángcáo, kháng nghị đó có căn cứ và hợp pháp hay không để đưa ra quyết định cóhủy bản án theo đúng thẩm quyền nhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ án,đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội danh, đúng quy định của pháp luật.Đồng thời, qua đó đảm bảo tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung trong xãhội; tạo uy tín lòng tin của người dân vào các cơ quan thi hành pháp luật, nhất

là tòa án

Như vậy, mục đích của hủy bản án chính là để bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của công dân, tổ chức; đồng thời phát hiện, xử lý kịp thời các viphạm không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, để bảo vệ chế độ

xã hội chủ nghĩa, các lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân, của tổ chức

1.1.3. Ý nghĩa

Hủy bản án, quyết định của Tòa án là một biện pháp quan trọng gópphần hạn chế tình trạng oan, sai đối với các bản án, quyết định của Tòa án;nhằm đảm bảo tính đúng đắn trong thực tiễn áp dụng pháp luật, phù hợp vớiđịnh hướng cải cách tư pháp ở nước ta và xu thế phát triển chung của thời đạitrong giai đoạn hiện nay Vì vậy, hủy bản án có ý nghĩa hết sức quan trọngtrên các mặt sau:

- Về mặt xã hội: Nếu như trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử của vụ

án có những sai sót thì việc hủy bản án sẽ góp phần khẳng định tính kháchquan, dân chủ của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như quyền lợi củangười tham gia tố tụng, trong việc chứng minh tính công bằng được xã hộithừa nhận Đồng thời qua đó góp phần làm sáng tỏ những vấn đề còn bất cập,những tình tiết chưa rõ ràng của vụ án, đảm bảo sự tin tưởng của người dân

Trang 15

nói chung và những người đang trong quá trình áp dụng các biện pháp nhằmphục vụ quá trình điều tra xử lý án nói riêng an tâm vào chính sách đúng đắncủa Đảng, Nhà nước và đảm bảo tính công bằng về mặt xã hội được nêu cao.Việc hủy bản án cũng góp phần khẳng định vai trò và đảm bảo uy tín của các

cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tòa án nói riêng, tránh để xảy ra tìnhtrạng oan sai hay bỏ lọt tội phạm

- Về mặt pháp lý: Việc hủy bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là căn cứ, cơ

sở pháp lý quan trọng để ghi nhận cũng như đảm bảo thực hiện một số nguyêntắc cơ bản của luật TTHS, là cơ sở để hình thành nguyên tắc “Thực hiện chế

độ hai cấp xét xử”

- Về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức: Việc bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức luôn luôn được Đảng và Nhànước ta quan tâm Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay đây được xem là mộttrong những mục tiêu quan trọng của Nhà nước ta nhằm xây dựng một xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh Vì vậy, việc tôn trọng và bảo đảm quyền conngười, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức là một trong nhữngnhiệm vụ của pháp luật nói chung cũng như pháp luật TTHS nói riêng TạiĐiều 8 BLTTHS năm 2015 [15, tr.4] quy định cụ thể và chi tiết trách nhiệmcủa những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tôn trọng và bảo

vệ các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Nhưvậy, hủy bản án sẽ là căn cứ, điều kiện để các cơ quan thực thi pháp luật xemxét, đánh giá lại tính chất vụ án, mức độ hành vi của bị can, khung hìnhphạt… đã đúng, khách quan và chính xác chưa, qua đó nhằm bảo đảm cácquyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tăng cường dân chủtrong TTHS Đồng thời, nguyên tắc này cũng góp phần bảo đảm pháp chế xãhội chủ nghĩa và bảo đảm việc xác định sự thật vụ án được khách quan, toàndiện, chính xác và đầy đủ

Trang 16

1.2. Các căn cứ hủy bản án sơ thẩm hình sự

Khoa học luật tố tụng hình sự phân chia các căn cứ hủy bản án sơ thẩmthành hai nhóm: Các căn cứ của luật hình thức (do BLTTHS quy định) và cáccăn cứ luật nội dung (do BLHS quy định)

1.2.1. Các căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự

Thủ tục tố tụng thể hiện tính chặt chẽ của quá trình điều tra, truy tố, xét

xử, tính dân chủ của hoạt động tư pháp Vì vậy việc vi phạm thủ tục tố tụng ởmức độ nghiêm trọng là căn cứ để hủy bản án

Thứ nhất, người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyếtđịnh đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật: Quyết định đình chỉ vụ án là quyếtđịnh tố tụng do VKS đưa ra trong giai đoạn truy tố và do Tòa án quyết địnhtrong giai đoạn xét xử làm chấm dứt hoạt động tố tụng giải quyết vụ án.Chính vì vậy, đối với những vụ án đã có quyết định đình chỉ vụ án của Tòa ánthì nghiễm nhiên quyết định đó đã có hiệu lực pháp luật và trong trường hợpnày các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được khởi tố, điềutra, truy tố hay xét xử đối với họ Khi đã xác định được người mà hành viphạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực phápluật, thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được khởi tố vụ ánhình sự (VAHS), trừ trường hợp họ thực hiện một hành vi khác mà luật hình

sự coi là tội phạm

Thứ hai, tội phạm mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêucầu khởi tố: Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại là một trong những quyđịnh của pháp luật TTHS nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại Tuy nhiên,trong thực tiễn có những trường hợp việc khởi tố VAHS để truy cứu tráchnhiệm người thực hiện hành vi phạm tội có thể gây thêm những tổn thất kháccho bị hại so với việc không khởi tố VAHS như gây thêm những tổn thất vềtinh thần, làm lộ bí mật đời tư của bị hại, phá vỡ sự tha thứ, hòa giải và thỏa

Trang 17

thuận bồi thường giữa các bên Chính vì vậy, pháp luật TTHS quy định đốivới một số trường hợp tội phạm xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự củacon người hoặc xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, không phải là tội rất nghiêmtrọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xãhội không phải là rất lớn hoặc đặc biệt lớn, không có tình tiết định khung tăngnặng thì việc khởi tố vụ án chỉ có thể được thực hiện khi có yêu cầu khởi tố

của bị hại hoặc người đại diện của họ.

BLTTHS năm 2015 quy định có 10 tội phạm thuộc trường hợp chỉ đượckhởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại, gồm khoản 1 các Điều 134, 135, 136,

138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của BLHS

So với BLTTHS năm 2003, quy định về khởi tố vụ án theo yêu cầu của

bị hại trong BLTTHS năm 2015 có nhiều điểm mới như: BLTTHS năm 2015

mở rộng phạm vi chủ thể có tư cách bị hại, đồng nghĩa với phạm vi chủ thể cóquyền yêu cầu khởi tố VAHS cũng được mở rộng Ngoài ra, tại khoản 3 Điều

155 BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định “Bị hại hoặc người đại diện của bị

hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức” [15, tr.69] Quy định của BLTTHS năm

2015 là hợp lý vì cả bị hại và người đại diện của họ đều là chủ thể của quyềnrút yêu cầu khởi tố, việc quy định cả hai chủ thể trên đều không được yêu cầukhởi tố lại là phù hợp về kỹ thuật lập pháp

Thứ ba, cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm: Có nhiều dạng bỏ lọt tội phạm khácnhau, chẳng hạn VKS truy tố bị cáo ba tội nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xét

xử bị cáo hai tội; các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can(bị cáo) đã thực hiện cấu thành một tội hoặc nhiều tội khác nhưng VKS khôngtruy tố và Tòa án cấp sơ thẩm không thể xét xử các hành vi mà VKS khôngtruy tố… Đối với trường hợp bỏ lọt người phạm tội (có người đồng phạmkhác hoặc có người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi

Trang 18

tố bị can hoặc đã khởi tố bị can nhưng được đình chỉ điều tra…) việc giảiquyết của Tòa án cấp phúc thẩm cũng tương tự như đối với trường hợp bỏ lọttội phạm.

Như vậy có thể thấy, trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra (CQĐT)

đã điều tra không đầy đủ (vi phạm trong việc lập biên bản hiện trường, thugiữ vật chứng, nhận định tội danh…), bỏ lọt tội phạm, quá trình kiểm sát điềutra, Kiểm sát viên (KSV) thụ lý vụ án không phát hiện ra những sai sót, viphạm trên để khắc phục, Toà án cấp sơ thẩm trước và trong khi xét xử cũngkhông phát hiện, làm rõ Những sai sót trong quá trình điều tra, truy tố vụ án,dẫn tới khi bản án bị kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm phát hiện thấynhững vi phạm trên của bản án sơ thẩm; Quan điểm xử lý vụ án và mức hìnhphạt đối với các bị cáo giữa hai ngành Kiểm sát và Toà án trong một số tìnhtiết của vụ án vẫn chưa thống nhất

Thứ tư, việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩmkhông thể bổ sung được: Tại điểm b, khoản 1, Điều 358 BLTTHS năm 2015

quy định về hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại như sau: “việc

điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được” [15, tr.141], điều đó cho thấy, người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố

không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội thì Tòa án cấpphúc thẩm có quyền hủy bản án sơ thẩm hình sự để Tòa án cấp sơ thẩm xemxét lại theo trình tự sơ thẩm kết án người đó phạm tội Do đó, nếu VKS đãtruy tố một người về một tội quy định tại BLHS năm 2015 nhưng Tòa án cấp

sơ thẩm tuyên bố người đó không phạm tội, thì VKS mới có quyền khángnghị và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại

Tuy nhiên, nếu một người đã bị khởi tố nhưng trong quá trình điều tra,truy tố CQĐT hoặc VKS đã đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với người đó

mà khi xét xử sơ thẩm Tòa án cấp sơ thẩm cũng thấy có căn cứ xác định

Trang 19

người đó phạm tội thì VKS không được kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.Nếu tại phiên tòa sơ thẩm, qua xét hỏi và tranh luận, VKS thấy việc đình chỉđiều tra hoặc đình chỉ vụ án đối với một người rõ ràng là không đúng phápluật và Tòa án cấp sơ thẩm không có kiến nghị phục hồi điều tra thì sau khibản án có hiệu lực pháp luật VKS sẽ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

để hủy bản án sơ thẩm hoặc quyết định phục hồi điều tra để truy tố người màCQĐT hoặc VKS đã đình chỉ (nếu việc điều tra không ảnh hưởng đến các bịcáo khác trong cùng vụ án)

Thứ năm, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử để xảy ra vi phạmnghiêm trọng thủ tục tố tụng: Ở đây các cơ quan tiến hành tố tụng đã khôngthực hiện đúng hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu của các bước trong quátrình giải quyết vụ án, cũng có thể vì thiếu các tài liệu chứng cứ mà đánh giásai các tình tiết vụ án dẫn đến việc xác định sai sự thật vụ án cũng như tínhkhách quan và toàn diện của vụ án đó

Theo Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05-11-2004 của Hội đồngThẩm phán TAND tối cao hướng dẫn về xét xử sơ thẩm VAHS thì vi phạmnghiêm trọng thủ tục tố tụng là:

- Có hành vi không thực hiện những quy định bắt buộc trong BLTTHS khitiến hành tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng;

- Có hành vi thực hiện nhưng thực hiện không đúng theo trình tự, thủ tục

đã quy định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng;

- Các hành vi trên phải xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can,

bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự…;

- Bỏ qua hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ thủ tục làm cho việcgiải quyết vụ án thiếu khách quan toàn diện (như đối với các vụ án mà bị cáo

là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chấthoặc bị truy tố ở khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì trong quá

Trang 20

trình điều tra, truy tố, xét xử bắt buộc phải chỉ định Luật sư, nhưng bỏ quakhông thực hiện là xâm phạm nghiêm trọng đến quyền bào chữa của bị can, bịcáo đã được pháp luật quy định).

Những vi phạm thuộc các trường hợp trên đều coi là vi phạm nghiêmtrọng thủ tục tố tụng và phải được điều tra, truy tố lại hoặc xét xử lại nên Tòaphúc thẩm phải hủy án sơ thẩm; còn những vi phạm ngoài phạm vi khái niệmnày thì được coi là những vi phạm tố tụng không nghiêm trọng và chỉ thựchiện việc kiến nghị sửa chữa, khắc phục như vi phạm về thời hạn điều tra,thời hạn xét xử … cũng là vi phạm tố tụng nhưng không thuộc trường hợp viphạm nghiêm trọng

1.2.2. Các căn cứ theo quy định của Bộ luật Hình sự

Thứ nhất, không có sự việc phạm tội: Không có sự việc phạm tội tức có

thể thông tin về tội phạm là không chính xác, hoàn toàn không có sự việc xảy

ra như thông tin mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhậnhoặc có sự việc xảy ra nhưng sự việc đó không có dấu hiệu của tội phạm Ví

dụ như một người không thực hiện hành vi phạm tội, mà Tòa án cấp sơ thẩm

có sai lầm trong việc kết án người đó phạm tội, sai lầm này có thể do CQĐThoặc VKS trong quá trình điều tra, cũng có thể do Tòa án Việc VKS truy tốkhông đúng người, đúng tội, nhưng quá trình xét xử Hội đồng xét xử khôngcăn cứ vào kết quả thẩm vấn công khai tại phiên tòa để làm căn cứ kết án dẫnđến làm oan người vô tội

Thứ hai, hành vi không cấu thành tội phạm: Cấu thành tội phạm là tổng

hợp các dấu hiệu pháp lý đặc trưng cho một tội phạm cụ thể được quy địnhtrong BLHS Hành vi không cấu thành tội phạm là hành vi của người hoặcpháp nhân nào đó không thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của một cấu thành tộiphạm cụ thể được quy định trong BLHS Ví dụ như người thực hiện hành vigây thiệt hại, không có năng lực trách nhiệm hình sự, không có lỗi; người

Trang 21

thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do sự kiện bất ngờ, hành vi thực hiện

là hành vi phòng vệ chính đáng, là hành vi thực hiện trong tình thế cấp thiết…Hành vi không cấu thành tội phạm là trường hợp người bị kết án có thựchiện hành vi đã gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho xã hội, nhưngtheo quy định của pháp luật, thì hành vi của họ không bị xử lý bằng biện pháphình sự như: gây thiệt hại trong trường hợp không có năng lực chịu TNHS;chuẩn bị phạm tội ít nghiêm trọng; sự kiện bất ngờ; phòng vệ chính đáng; tìnhthế cấp thiết; cố ý gây thương tích nhưng tỷ lệ thương tật dưới 11%; vô ý gâythiệt hại chưa nghiêm trọng đến tài sản; vô ý gây thương tích nhẹ và một sốloại tội đòi hỏi người có hành vi phạm tội phải là người đã bị xử lý vi phạmhành chính, xử lý kỷ luật hoặc đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích màcòn vi phạm hoặc một số hành vi phải gây ra thiệt hại đáng kể (hậu quảnghiêm trọng, thiệt hại nghiêm trọng) mới bị coi là tội phạm và một số trườnghợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại

Thứ ba, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi

chịu trách nhiệm hình sự: Đối với tuổi chịu TNHS được quy định cụ thể tạiĐiều 12 BLHS năm 2015 [17, tr.5]

Thứ tư, hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: Thời hiệu truy cứu

TNHS là thời hạn do BLHS quy định cho phép cơ quan có thẩm quyền đượctiến hành các hoạt động truy cứu TNHS đối với người phạm tội, khi hết thờihạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu TNHS được quy định tại Điều 27BLHS [17, tr.10] Việc xác định được đã hết thời hiệu truy cứu TNHS là căn

cứ không khởi tố VAHS

Thứ năm, tội phạm đã được đại xá: Đại xá là một biện pháp khoan hồng

đặc biệt của Nhà nước, do Quốc hội quyết định mà nội dung của nó là thahoàn toàn đối với hàng loạt người phạm tội đã phạm một hoặc một số loại tộiphạm nhất định Văn bản đại xá thường được ban hành khi có sự kiện chính

Trang 22

trị đặc biệt quan trọng của đất nước và có hiệu lực đối với những tội phạmxảy ra trước và khi văn bản đại xá đó được ban hành Tội phạm đã được đại

xá là căn cứ để không khởi tố VAHS

Thứ sáu, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ

trường hợp cần tái thẩm đối với người khác: Mục đích của việc áp dụngTNHS và hình phạt đối với người phạm tội là nhằm giáo dục họ ý thức tuântheo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới Dovậy, trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

mà xác định được người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết thì

cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải ra quyết định không khởi tốVAHS, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác

1.2.3. Khi có vi phạm nghiêm trọng quy định của các ngành luật khác

BLTTHS năm 2015 bổ sung một trường hợp hủy bản án sơ thẩm để xét

xử lại là do “bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng phápluật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bảnán…”, hay sửa đổi căn cứ hủy bản án để điều tra, xét xử lại là “Có sai lầmnghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự” thành “Có sai lầm nghiêmtrọng trong việc áp dụng pháp luật” Việc bổ sung vấn đề vi phạm pháp luậtnói chung hoặc thay thế từ “Bộ luật Hình sự” bằng từ “pháp luật” cho thấyquan điểm của nhà làm luật là những sai lầm nghiêm trọng không chỉ đối vớiBLTTHS hay BLHS mà còn đối với các quy định của pháp luật nói chunggồm cả luật dân sự, luật hành chính, luật doanh nghiệp, luật giao thông đườngbộ… Vì vậy, khi xét xử VAHS thì Tòa án cấp trên vừa phải căn cứ vào quyđịnh của BLHS, BLTTHS vừa phải căn cứ vào các ngành luật khác có liênquan đến vụ án để xem xét đánh giá tính có căn cứ trong bản án của Tòa áncấp dưới, nếu phát hiện có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật

Trang 23

hoặc có những tình tiết mới phát sinh thì buộc phải tuyên hủy bản án của Tòa

- Nguyên tắc suy đoán vô tội

Hiến pháp là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, là những quy phạmpháp luật cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống pháp luật quốc gia Chính vìvậy suy đoán vô tội có ý nghĩa hết sức quan trọng và được quy định tại Điều

31 trong Hiến pháp năm 2013 [14] Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, tại Điều

13 BLTTHS năm 2015 được xây dựng và thực hiện theo 27 nguyên tắc cơ bản(từ Điều 7 đến Điều 33), bổ sung và quy định nguyên tắc suy đoán vô tội:

“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minhtheo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án

đã có hiệu lực pháp luật…” [15, tr.5]

Nguyên tắc suy đoán vô tội cũng mang ý nghĩa định hướng cho việc xâydựng và thực hiện pháp luật TTHS, tạo ra một hành lang pháp lý trong việcđiều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể tố tụng, duy trì trật tự và tạo điều kiệncho việc phát huy, bảo đảm các quyền cá nhân, sự công bằng, khách quan.Nguyên tắc suy đoán vô tội bảo vệ chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự

và lợi ích chính đáng của người bị truy cứu TNHS, đặt ra yêu cầu cao hơn chonhững người tiến hành tố tụng trong việc chứng minh tội phạm: cơ quan tưpháp, điều tra có trách nhiệm phải tìm được bằng chứng chứng minh vô tội

Trang 24

song song với việc tìm bằng chứng chứng minh có tội Đề cao trách nhiệmcủa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trước số phậnchính trị, danh dự, nhân phẩm và quyền lợi của công dân, nguyên tắc suyđoán vô tội là “lá chắn thép” bảo vệ quyền của người bị tình nghi, bị can, bịcáo, phòng chống oan sai, được xem là yếu tố căn bản, thể hiện rõ nhất việctôn trọng và bảo vệ các giá trị cao quý của con người.

- Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm

Điều 27 BLTTHS năm 2015 quy định về nguyên tắc chế độ xét xử sơthẩm, phúc thẩm được bảo đảm trong TTHS [15, tr.7] Xét xử hai cấp là mộtnguyên tắc tiến bộ được áp dụng phổ biến trên thế giới và nhiều quốc gia.Theo đó, bản án, quyết định sơ thẩm (xét xử lần thứ nhất) nếu có kháng cáo,kháng nghị trong thời hạn luật định thì được chuyển lên Tòa án cấp trên trựctiếp xét xử lại (xét xử lần thứ hai - phúc thẩm)

Thứ nhất, xét xử sơ thẩm là quá trình xét xử vụ án đó về nội dung, là thủtục bắt buộc, theo đó Tòa án tổ chức phiên tòa, xem xét đánh giá chứng cứ,kết quả tranh tụng tại phiên tòa và đưa ra bản án, quyết định Trong thời giantheo pháp luật quy định mà bản án đó không bị kháng cáo, kháng nghị thì cóhiệu lực thi hành và dĩ nhiên Tòa án sẽ không xét xử lại vụ án đó nữa (trừtrường hợp xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nếu có căn cứ vàtheo thủ tục đặc biệt)

Thứ hai, nếu bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị trongthời hạn luật định thì trong trường hợp này bản án, quyết định đó chưa có hiệulực thi hành Việc xét xử ở cấp tiếp theo là bắt buộc, đây được gọi là xét xử ởcấp phúc thẩm

Thứ ba, xét xử phúc thẩm có ý nghĩa đảm bảo cho bản án, quyết định củaTòa án được phán quyết thận trọng, khách quan, chính xác, có căn cứ, đúngpháp luật; đảm bảo cho Tòa án cấp trên giám sát hoạt động xét xử của Tòa án

Trang 25

cấp dưới, khắc phục sai lầm của Tòa án cấp dưới bảo đảm các quyền, lợi íchhợp pháp của Nhà nước, tổ chức, của cá nhân.

- Nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong xét xử

Nguyên tắc này thay thế cho nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trướctoà án được quy định tại BLTTHS năm 2015 với những nội dung mới bảođảm tranh tụng trong xét xử, thực hiện yêu cầu của cải cách tư pháp

Trên cơ sở bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, BLTTHS năm

2015 có các nội dung sửa đổi, bổ sung để cụ thể hóa nguyên tắc này, bảo đảmnguyên tắc tranh tụng đầy đủ sẽ bảo vệ các quyền của người bị buộc tội, nhất

là quyền tự bào chữa, quyền nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa Cụ

thể: “Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát

viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án” [Điều 16, tr.7] Các quy định này có ý nghĩa rất quan trọng

nhằm bảo đảm quyền tự bào chữa, bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ,tranh tụng tại phiên tòa của bị can, bị cáo Bên cạnh đó, tại Điều 75 BLTTHSnăm 2015 quy định cụ thể về quyền lựa chọn người bào chữa, tạo thuận lợi vềthủ tục cho người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được tiếp cận vớingười bào chữa, đồng thời còn bổ sung quy định người thân thích của người

bị buộc tội có quyền lựa chọn người bào chữa [15, tr.36]

Để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, BLTTHS năm 2015 đã

bổ sung nhiều quy định, cụ thể: Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho KSV,

bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủquyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án; Quyđịnh trách nhiệm của Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu, đề nghị của KSV,người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; sự có mặt của

Trang 26

người bào chữa; người giám định, người định giá, người dịch thuật; Điều traviên (ĐTV) và những người khác (quy định tại các Điều 279, 291, 292, 293,

294, 295, 296)

Như vậy, có thể thấy rằng bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử có

ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở, điềukiện bình đẳng giống nhau trong việc thu thập, củng cố đầy đủ các chứng cứ,tài liệu, tạo cơ sở, căn cứ vững chắc cho việc truy tố, buộc tội và đưa ra các ýkiến tranh tụng nhằm bảo vệ quyền lợi cho cá nhân, tổ chức, cũng như qua đógiúp chứng minh các tình tiết đúng đắn, khách quan của vụ án Đồng thời,thông qua đó cũng cho thấy rằng ngoài các cơ quan tiến hành tố tụng thìngười tham gia tố tụng cũng có quyền tranh luận giữ ý kiến của mình vềnhững vấn đề đưa ra trong vụ án tại phiên tòa

- Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa

Ở nước ta, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong TTHS được ghinhận tại tất cả các bản Hiến pháp Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm

2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, BLTTHSnăm 2015 đã có các sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm bảo đảm quyền bàochữa trong TTHS Cụ thể: BLTTHS năm 2015 đã dành một chương (chươngV) với 11 Điều, từ Điều 72 đến Điều 82 để quy định các vấn đề liên quan đếnbảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội nhằm bảo đảm quyền nàyđược thực hiện tốt, khả thi trong thực tế Việc sắp xếp các quy định liên quanđến bào chữa thành một chương riêng tạo sự thống nhất, khoa học của cácquy định; đồng thời giúp cho việc áp dụng quy định thuận lợi hơn, khẳngđịnh vị trí quan trọng của bào chữa Với các điều chỉnh quan trọng trên,BLTTHS năm 2015 đã tạo cơ chế, điều kiện để người có quyền bào chữa,người bào chữa thực hiện tốt quyền của mình; các bên chủ thể trong tố tụngbình đẳng với nhau trong việc thu thập, kiểm tra chứng cứ, bình đẳng trong

Trang 27

việc bày tỏ quan điểm, đưa ra các yêu cầu và tranh luận trước các cơ quan tiếnhành tố tụng; đồng thời ràng buộc, đề cao trách nhiệm của các cơ quan tiếnhành tố tụng trong việc bảo đảm thực hiện quyền bào chữa cho người bị buộctội, bảo đảm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử VAHS khách quan, toàn diện

và đúng pháp luật, tránh làm oan người vô tội

- Nguyên tắc độc lập xét xử của thẩm phán, hội thẩm

Đây là nguyên tắc hiến định bảo đảm cho việc xét xử đúng người, đúngtội, đúng pháp luật và được tiếp tục ghi nhận trong BLTTHS với tư cách làmột trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng nhất của TTHS

Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập Nội dung này bảo đảm tínhkhách quan, công bằng của các quyết định do Tòa án đưa ra, đề cao tráchnhiệm và tính tự chủ của Thẩm phán và Hội thẩm, bảo đảm chất lượng củahoạt động xét xử Tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm thể hiện trongmối quan hệ của họ và Tòa án với các cơ quan, với những người khác, trongquan hệ với các cấp xét xử

Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử có nghĩa là khi tiến hành xét

xử họ không bị lệ thuộc vào những ý kiến của những cơ quan, tổ chức, người

có chức vụ quyền hạn hay một người nào đó, không phụ thuộc vào ý kiến củanhững cơ quan, những người tiến hành và tham gia tố tụng Không một ai,không một cơ quan, tổ chức nào có quyền can thiệp vào hoạt động xét xử củaThẩm phán và Hội thẩm; không ai, không một tổ chức nào có thể dùng áp lực

và tác động đối với họ trong quá trình giải quyết vụ án Khi xét xử, Thẩmphán và Hội thẩm độc lập với nhau Thẩm phán và Hội thẩm là thành viên củaHội đồng xét xử độc lập với nhau trong việc nghiên cứu hồ sơ, xem xét đánhgiá chứng cứ và đưa ra các kết luận về sự việc phạm tội và người thực hiện tộiphạm, không lệ thuộc vào quan điểm, chính kiến của thành viên khác trongHội đồng xét xử Để bảo đảm sự độc lập của Hội thẩm trong khi xét xử

Trang 28

BLTTHS quy định Thẩm phán phải là người biểu quyết sau cùng để khôngảnh hưởng đến tính độc lập của Hội thẩm, các vấn đề của vụ án đều phải đượcgiải quyết bằng cách biểu quyết và quyết định theo đa số Sự độc lập củaThẩm phán và Hội thẩm khi xét xử được bảo đảm bằng một loạt các yếu tố,trong đó có các chế độ bổ nhiệm Thẩm phán và chế độ bầu Hội thẩm nhândân, tính tự chủ của họ.

Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử còn được thể hiệntrong quan hệ giữa các cấp xét xử Tòa án cấp trên không được quyết địnhhoặc gợi ý cho Tòa án cấp dưới trước khi xét xử một vụ án cụ thể Đồng thời,khi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, Thẩm phán cũng không bị lệ thuộc bởicác nhận định, những phán quyết của Tòa án cấp dưới

Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật Điều này cónghĩa rằng khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải tuân thủ, phảidựa vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án, chứ không được tùytiện, chủ quan trong việc áp dụng pháp luật Khi thực hiện hoạt động xét xử,hoạt động gắn liền với việc củng cố pháp chế và trật tự pháp luật, Thẩm phán

và Hội thẩm càng phải nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật

- Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số

Tòa án xét xử tập thể có nghĩa là một bản án hay quyết định của Tòa ánkhông do cá nhân một Thẩm phán hay Hội thẩm nhân dân quyết định mà phải

do một tập thể hội đồng (ít nhất là ba thành viên) quyết định và được tiếnhành theo đúng thủ tục tố tụng đã được pháp luật quy định Việc xét xử củatòa án liên quan đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm và tàisản của công dân, tài sản của nhà nước, của tập thể, an ninh quốc gia, trận tự

an toàn xã hội, trật tự pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa Vì vậy cần phảiđược tiến hành một cách thận trọng Do đó, hiến pháp và pháp luật quy địnhtòa án phải xét xử tập thể và quyết định theo đa số

Trang 29

Ngoài ra, để đảm bảo cho việc xử lí vụ án được thận trọng, khách quantại Điều 10 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 [16] và tại Điều 24BLTTHS năm 2015 cũng quy định Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa

số: "Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử

theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy định" [15, tr.7] Kết quả của hoạt động

xét xử là kết quả hoạt động chung của Hội đồng xét xử

Như vậy, nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số gópphần bảo đảm cho quá trình tiến hành tố tụng thực hiện một cách thống nhất,

là cơ sở quan trọng cho việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân,quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong TTHS; góp phần độngviên, tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức và mọi người tham gia vào việcđấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, tăng cường dân chủ trong TTHS;góp phần định hướng xây dựng pháp luật TTHS

1.3.2. Quy định về hủy bản án trong giai đoạn phúc thẩm

Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm được nêu

rõ tại Khoản 1 Điều 355 BLTTHS năm 2015 Trong đó, thẩm quyền “khôngchấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm” và “đình chỉviệc xét xử phúc thẩm” là kết quả thể hiện sự nhất quán trong đường lối xét

xử giữa hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm Điều cần chú ý ở đây đó là thẩm quyền

“hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại; hủybản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án” ở những nội dung này có thể hiểu rằng, khiTòa án cấp phúc thẩm phát hiện bản án của Tòa án cấp sơ thẩm có những sailầm, vi phạm trong việc đánh giá chứng cứ, áp dụng điều luật hay có vi phạm

tố tụng ở mức độ đáng kể, đồng thời những vi phạm này Tòa cấp phúc thẩmkhông thể giải quyết, khắc phục được thì được quyền hủy bỏ bản án sơ thẩmnày Tùy theo tính chất vi phạm của bản án sơ thẩm mà Tòa án cấp phúc thẩmquyết định hủy án để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án

Trang 30

Quyết định hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại được quy định tại khoản 1Điều 358 BLTTHS năm 2015 Trong trường hợp này Tòa án cấp phúc thẩmnhận thấy quá trình điều tra tại cấp sơ thẩm có những căn cứ chưa được làmsáng tỏ như: có sự việc phạm tội xảy ra hay không? ai là người đã thực hiệnhành vi phạm tội đó? Hành vi đó do lỗi cố ý hay vô ý? Có tình tiết tăng nặnghay giảm nhẹ mức hình phạt không? Quá trình điều tra được tiến hành chưađầy đủ, chưa khách quan, còn nhiều tình tiết nghi vấn trong vụ án chưa đượclàm sáng tỏ, dẫn đến việc xác định sự thật của vụ án không được khách quan

và toàn diện Như vậy, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ hủy án sơ thẩm để tiến hànhđiều tra lại khi xác định rằng việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ, chưachính xác mà những thông tin, tài liệu thu thập chưa đầy đủ đó sẽ ảnh hưởngđến quá trình xác định sự thật vụ án, không đảm bảo tính khách quan của hoạtđộng xét xử, còn nếu Tòa án cấp phúc thẩm xác định không ảnh hưởng đến sựthật khách quan của vụ án thì không được hủy bản án sơ thẩm Ngoài căn cứcho rằng Tòa án sơ thẩm còn có nhiều tình tiết chưa điều tra, chứng minhchính xác, khách quan, cụ thể thì việc hủy bản án sơ thẩm còn phải bảo đảmđiều kiện là Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung được, còn nếu Tòa áncấp phúc thẩm có khả năng bổ sung các căn cứ, tài liệu, chứng cứ mới thì bản

án sơ thẩm không bị hủy mà Tòa án cấp phúc thẩm phải bổ sung Ví dụ: nếutrong giai đoạn xét xử sơ thẩm bị cáo không có biểu hiện mắc bệnh tâm thần,nhưng trong quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo lại có biểu hiện tâm thần.Trong trường hợp này Tòa cấp phúc thẩm phải trưng cầu giám định để xácđịnh năng lực trách nhiệm hình sự của bị cáo, chứ không lấy lý do này để hủy

án sơ thẩm

Quyết định hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại từ cấp sơ thẩm của Tòa áncấp phúc thẩm được quy định tại khoản 2 Điều 358 BLTTHS năm 2015, theoquy định tại khoản 2 Điều 358 cho thấy trong trường hợp Hội đồng xét xử sơ

Trang 31

thẩm không đúng thành phần tham gia thì Tòa án cấp phúc thẩm có quyền yêucầu hủy bản án đó, bởi vì theo quy định tại Điều 254 BLTTHS năm 2015 thì:

“Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm Trường hợp

vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm Đối với vụ án có bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm” [15,

tr.108] Qua đó có thể thấy khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản

2 Điều 358 BLTTHS năm 2015 thì Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm có quyềnhủy bản án sơ thẩm để xét xử lại tại cấp sơ thẩm

Ngoài quyền hạn hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại, Tòa án cấp phúcthẩm còn có quyền hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án được quy định tạiĐiều 359 BLTTHS năm 2015 [15, tr.142]

Như vậy, khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2

Điều 157 của BLTTHS năm 2015: “Không có sự việc phạm tội hay hành vi

không cấu thành tội phạm” thì Tòa án cấp phúc thẩm phải tuyên bị cáo không

có tội để đảm bảo khôi phục danh dự, cũng như quyền lợi cho bị cáo và đìnhchỉ vụ án Trường hợp hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là khi Tòa án cấpphúc thẩm xác định có một trong các căn cứ như bị cáo chưa đến tuổi chịutrách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hayquyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; hết thời hiệu truy cứu tráchnhiệm hình sự; bị cáo chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm….Các căn cứtrên cũng chính là các căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự và cũng lànhững sai lầm, vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS và BLTTHS.Những căn cứ này có thể xuất hiện trước khi khởi tố vụ án mà các cơ quantiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không phát hiện được nên vẫn kết án bị cáonhưng cũng có thể xuất hiện sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử

Trang 32

Qua đó có thể thấy thủ tục hủy bản án theo cấp phúc thẩm có ý nghĩahết sức quan trọng, là quá trình Tòa án cấp phúc thẩm đưa ra phán quyết bằngbản án nhằm chấm dứt việc thi hành đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩmchưa có hiệu lực để giải quyết một phần hoặc toàn bộ vụ án khi phát hiện vụ

án đó có những tình tiết, những căn cứ chưa đầy đủ, chưa chính xác hay đưa

ra bản án, quyết định có sai sót

1.3.3. Quy định về hủy bản án trong giai đoạn xét xử giám đốc thẩm

Để đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử, những quan điểm nhận thức chưachính xác về xét xử, cấp xét xử thể hiện trong quy định pháp luật TTHS trướcđây về cơ bản đã được BLTTHS năm 2015 khắc phục Các quy định củaBLTTHS về giám đốc thẩm đã tương đối hoàn thiện và cụ thể giúp cho việc

áp dụng dễ dàng trên thực tế Mặc dù vậy, khi nghiên cứu các quy định củaBLTTHS về giám đốc thẩm cũng như tham khảo thực tiễn áp dụng các quyđịnh về giám đốc thẩm vẫn còn tồn tại không ít vướng mắc cần khắc phục.Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện các hoạt động TTHS thủ tục giámđốc thẩm có thể tiến hành theo các bước như sau:

Thứ nhất, việc bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưngphát hiện có vi phạm trong việc xử lý vụ án được quy định tại Điều 372BLTTHS năm 2015 [15, tr.148] Như vậy, khi phát hiện có dấu hiệu vi phạmtrong bản án thì báo cho những người có thẩm quyền để xem xét việc khángnghị Ở đây Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án quân sựtrung ương, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sátnhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện trưởngViện kiểm sát nhân dân tối cao là các chủ thể được quyền xem xét bản ánhoặc quyết định bị đề nghị, nếu có căn cứ cho rằng bản án đó có vi phạm phápluật thì chủ thể có thẩm quyền sẽ trực tiếp ban hành văn bản kháng nghị, đây

là căn cứ làm phát sinh thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự

Trang 33

Thứ hai, trong giai đoạn giám đốc thẩm, phần lớn các phiên tòa khôngđược tiến hành công khai do tính chất đặc biệt của thủ tục này, chính vì vậytrong các buổi làm việc của phiên tòa giám đốc thẩm cũng có thể vắng mặtnhững người tham gia tố tụng, bị cáo, người bị hại, luật sư… mà chỉ có cácThẩm phán trong Hội đồng xét xử và đại diện Viện kiểm sát Như vậy, saukhi phiên tòa được tiến hành thì kết luận cuối cùng do Hội đồng giám đốcthẩm ban hành theo quy định của BLTTHS nhằm xác định tính hợp pháp haykhông hợp pháp của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị khángnghị Hội đồng giám đốc thẩm có thể đưa ra các quyết định được quy định tạiĐiều 388 BLTTHS năm 2015 [15, tr.153].

Qua đó có thể thấy rằng hủy bản án trong giai đoạn giám đốc thẩm làviệc Hội đồng giám đốc thẩm ra phán quyết bằng văn bản nhằm chấm dứtviệc thi hành đối với bản án đã có hiệu lực pháp luật ở giai đoạn xét xử trước

đó để giải quyết lại một phần hoặc toàn bộ vụ án khi phát hiện một phần hoặctoàn bộ bản án đó có sai sót

1.3.4. Quy định về hủy bản án trong giai đoạn xét xử tái thẩm

Tái thẩm là một thủ tục đặc biệt trong TTHS, theo đó bản án hoặc quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật được xem xét lại trên cơ sở kháng nghị củangười có thẩm quyền khi phát hiện có những tình tiết mới có thể làm thay đổi

cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định của Tòa án mà Tòa án không biếtđược khi ra bản án, quyết định đó Chính vì vậy khi có một trong những căn

cứ quy định tại Điều 398 BLTTHS năm 2015 thì Viện trưởng VKS có quyềnkháng nghị theo thủ tục tái thẩm: “Có căn cứ chứng minh lời khai của ngườilàm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của ngườiphiên dịch, bản dịch thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật; Cótình tiết mà Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm do không biếtđược mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có

Trang 34

hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án; Vật chứng, biênbản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động tố tụng kháchoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo hoặc khôngđúng sự thật; Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án” [15, tr.155].Cũng giống như phiên tòa giám đốc thẩm, đa phần các phiên tòa tái thẩm tiếnhành mà không có mặt những người tham gia tố tụng, bị cáo, bị hại, luật sư…

mà chỉ có các Thẩm phán trong Hội đồng xét xử và đại diện của Viện kiểmsát Tính công khai của phiên tòa tái thẩm cũng bị hạn chế

Mục đích cuối cùng của quyết định tái thẩm do Hội đồng tái thẩm thànhlập nhằm xác định tính hợp pháp hay không hợp pháp của bản án hoặc quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Vì vậy theoquy định tại Điều 402 BLTTHS năm 2015, Hội đồng tái thẩm có những

quyền sau: “Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định

đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; Hủy bản án, quyết định của Tòa án

đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại; Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án; Đình chỉ việc xét

xử tái thẩm” [15, tr.156].

BLTTHS năm 2015 không quy định cụ thể căn cứ để hủy bản án đã cóhiệu lực pháp luật để điều tra hoặc xét xử lại theo thủ tục tái thẩm và cũngkhông quy định xét xử lại từ cấp sơ thẩm hay phúc thẩm Do vậy có thể đánhgiá, phân loại các trường hợp hủy bản án theo thủ tục tái thẩm dựa trên cơ sởcủa thủ tục giám đốc thẩm như sau:

- Trường hợp tình tiết mới được phát hiện làm thay đổi kết quả điều tra,ảnh hưởng đến toàn bộ bản án, nếu không điều tra lại thì không thể khắc phụcđược sai lầm, chẳng hạn như: nhân chứng khai man, kết luận của giám địnhviên không đúng sự thật, Điều tra viên, Kiểm sát viên cố tình làm sai lệch hồ

Trang 35

sơ…thì Hội đồng tái thẩm hủy bản án đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại

từ đầu

- Trường hợp vụ án được xét xử ở hai cấp và tình tiết mới liên quan đếnviệc xác định sự kiện thực tế trong quá trình xét xử từ giai đoạn sơ thẩm vàkhông được phát hiện ở cấp phúc thẩm thì Hội đồng tái thẩm tuyên hủy cả haibản án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử lại từ cấp sơ thẩm Ngoài ra, Hội đồngtái thẩm cũng có thể tuyên hủy bản án phúc thẩm để xét xử lại từ cấp phúcthẩm trong trường hợp tình tiết mới làm thay đổi nội dung bản án phúc thẩm.Việc hủy bản án của Tòa không có nghĩa là trong mọi trường hợp toàn bộnội dung trong bản án bị kháng nghị đều bị hủy bỏ Việc hủy một phần haytoàn bộ bản án phụ thuộc chủ yếu vào tình tiết mới được VKS xác minh làmcăn cứ kháng nghị tái thẩm có ý nghĩa như thế nào đối với phán quyết mà Tòa

án đã tuyên

Như vậy, Hội đồng tái thẩm quyết định hủy một phần hay toàn bộ bản án

để điều tra, xét xử lại từ cấp nào tùy thuộc vào tình tiết mới được phát hiện,xuất hiện ở thời điểm nào của quá trình tố tụng và có ảnh hưởng như thế nàođến bản án đang xem xét

- Trường hợp hủy bản án đã có hiệu lực pháp luật, đình chỉ vụ án thìBLTTHS năm 2015 không quy định căn cứ để Hội đồng tái thẩm hủy bản án.Tuy nhiên từ quy định về căn cứ đình chỉ vụ án được quy định khi giải quyết

vụ án ở các giai đoạn tố tụng như điều tra, truy tố, xét xử ở cấp sơ thẩm, phúcthẩm, giám đốc thẩm cũng như từ thực tiễn áp dụng có thể thấy rằng các căn

cứ không khởi tố vụ án cũng là căn cứ để Hội đồng tái thẩm tuyên bố hủy bản

án và đình chỉ vụ án

Tóm lại, hủy bản án trong giai đoạn tái thẩm là việc Hội đồng tái thẩm raphán quyết bằng văn bản nhằm chấm dứt việc thi hành đối với bản án đã có

Trang 36

hiệu lực pháp luật để giải quyết lại một phần hoặc toàn bộ vụ án khi phát hiệnmột phần hoặc toàn bộ bản án đó có sai sót.

Tiểu kết chương 1

Trong quá trình tiến hành tố tụng việc một bản án bị hủy được xem là cơ

sở, điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng xemxét, thu thập, đánh giá lại những tài liệu, chứng cứ đang có Qua đó xác địnhđược những vấn đề còn thiếu sót, tồn đọng, dẫn đến việc vụ án đó bị Tòa ántuyên hủy để điều tra lại, xét xử lại hay đình chỉ vụ án Đối tượng bị hủy cóthể là bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đã có hiệu lực pháp luật và hậuquả pháp lý là chấm dứt hiệu lực thi hành để giải quyết lại một phần hoặc toàn

bộ nội dung trong quyết định của bản án do Tòa án cấp dưới tuyên

Vì vậy, việc làm rõ khái niệm về hủy bản án, thẩm quyền hủy bản án củaTòa án cấp trên sẽ là cơ sở để áp dụng các quy định pháp luật trong thực tiễnTTHS của Tòa án các cấp, đồng thời xác định việc hủy bản án đối với Tòa áncấp dưới có đúng trình tự, thủ tục và chức năng do pháp luật TTHS quy địnhhay không và ảnh hưởng của quyết định đó như thế nào đến quá trình giảiquyết vụ án cũng như để đảm bảo quyền lợi của người bị buộc tội trong vụ án.Đồng thời, quyết định hủy bản án cũng là cơ sở và tiền đề cùng với các hoạtđộng tố tụng khác góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc cải cách tư pháp

mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra, tạo nền tảng xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện quản lý và điều chỉnh đất nước bằng phápluật

Trang 37

Chương 2 THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỦY BẢN

ÁN SƠ THẨM HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI

- Tổng số bản án bị hủy để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án trong giai đoạn phúc thẩm từ năm 2017 đến năm 2019 là 239 vụ, trong đó:

+ Năm 2018 tổng số vụ án phúc thẩm đã thụ lý là 1039 vụ, trong đó đãxét xử 884 vụ, đạt tỷ lệ 85,1% số vụ Còn lại 155 vụ chưa xét xử, chiếm tỷ lệ14,9% Kết quả xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự: Y án sơ thẩm là 635 vụ.Sửa án sơ thẩm là 210 vụ Hủy án sơ thẩm là 39 vụ, trong đó hủy để cấp sơthẩm điều tra lại 37 vụ (3,7% trong tổng số án bị hủy), hủy để xét xử lại là 02

vụ (0,%), đình chỉ vụ án 0 vụ (0%)

+ Năm 2019 tổng số vụ án phúc thẩm đã thụ lý là 1162 vụ, trong đó đãxét xử được 728 vụ; đạt tỷ lệ 62,7% số vụ Còn lại 434 vụ, chiếm tỷ lệ 37,3%.Kết quả xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự: Y án sơ thẩm là 386 vụ Sửa án

sơ thẩm là 204 vụ Hủy án sơ thẩm là 138 vụ, trong đó hủy để cấp sơ thẩm

Trang 38

điều tra lại 135 vụ (97,9% trong tổng số án bị hủy), hủy để xét xử lại là 03 vụ

(2,1%), đình chỉ vụ án 0 vụ (0%) [Xem bảng 2.1]

Bảng 2.1: Số bản án bị hủy để điều tra lại, xét xử lại và đình chỉ vụ án

trong giai đoạn phúc thẩm từ năm 2017-2019

án thụ lý

Kết quả

Đã xét xử

Chưa xét xử

Y án sơ thẩm

Sửa

án sơ thẩm

Hủy án sơ thẩm Hủy

điều tra lại

Tỷ lệ (%)

Hủy xét xử lại

Tỷ lệ (%)

Đình chỉ vụ án

Tỷ lệ (%)

- Tổng số bản án bị hủy để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án

trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm từ năm 2017 đến năm 2019 là 239

vụ, trong đó:

Năm 2017 tổng số vụ án giám đốc thẩm, tái thẩm đã thụ lý là 105 vụ

trong đó đã xét xử được 70 vụ; đạt tỷ lệ 66,7% số vụ Còn lại 35 vụ, chiếm tỷ

lệ 33,3% Hủy án là 56 vụ, trong đó hủy để điều tra lại 54 vụ (71,4%), hủy để

xét xử lại là 01 vụ (7,14%), đình chỉ vụ án 01 vụ (0%)

Năm 2018 tổng số vụ án giám đốc thẩm, tái thẩm đã thụ lý là 89 vụ trong

đó đã xét xử được 72 vụ; đạt tỷ lệ 80,9% số vụ Còn lại 17 vụ, chiếm tỷ lệ

19,1% Hủy án là 58 vụ, trong đó hủy để điều tra lại 56 vụ (66,6 %), hủy để

xét xử lại là 02 vụ (11,1%), đình chỉ vụ án 0 vụ (0%)

Trang 39

Năm 2019 tổng số vụ án giám đốc thẩm, tái thẩm đã thụ lý là 149 vụtrong đó đã xét xử được 138 vụ; đạt tỷ lệ 92,6 % số vụ Còn lại 11 vụ, chiếm

tỷ lệ 7,4 % Hủy án là 125 vụ, trong đó hủy để điều tra lại 125 vụ (76,8%),hủy để xét xử lại là 0 vụ (10,9%), đình chỉ vụ án 0 vụ (0%)

Bảng 2.2: Số bản án bị hủy để điều tra lại, xét xử lại và đình chỉ vụ án trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm từ năm 2017-2019

Năm

Tổng số vụ án thụ lý

Kết quả

Đã xét xử

Chưa xét xử

Hủy án sơ thẩm Hủy

điều tra lại

Tỷ lệ (%)

Hủy xét xử lại

Tỷ lệ (%)

Đình chỉ VA

Tỷ lệ (%)

-Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, so với tổng số vụ án thụ lý, số vụ ánđược Tòa tuyên y án sơ thẩm trong 03 năm với tổng 1495 vụ chiếm 65,1%, số

vụ án sửa án sơ thẩm là 561 vụ chiếm 24,5%, số vụ án bị tuyên hủy là 239 vụchiếm 10,4% Như vậy rõ ràng có thể thấy các vụ án được tuyên y án sơ thẩm,sửa án sơ thẩm chiếm tỷ lệ cao, chứng tỏ rằng kết quả xét xử phúc thẩm các

vụ án hình sự bảo đảm kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; tuyệt đốikhông có trường hợp nào xét xử oan người vô tội

Trang 40

-Số vụ án bị hủy để điều tra lại, xét xử lại và đình chỉ vụ án có xu hướngngày càng tăng Tỷ lệ bản án bị hủy chiếm 10,4 % trong tổng số vụ án đưa raxét xử phúc thẩm, trong đó, hủy bản án để điều tra lại chiếm tỷ lệ cao nhất(10,1%), nguyên nhân là do giai đoạn điều tra, truy tố vẫn còn để xảy ra tìnhtrạng vi phạm.

Khác với hủy bản án trong giai đoạn phúc thẩm, hủy bản án trong giaiđoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, có tỷ lệ hủy bản án trên tổng số vụ án được đưa

ra xét xử cao hơn (85,3%), điều này cho thấy hầu hết kháng nghị giám đốcthẩm, tái thẩm đều được chấp nhận, mà phần lớn các kháng nghị giám đốcthẩm đều đề nghị hủy bản án để điều tra hoặc xét xử lại

Trong các giai đoạn phúc thẩm và giám đốc thẩm, tái thẩm thì trườnghợp hủy bản án để đình chỉ vụ án vẫn còn tồn tại, tuy nhiên trong nhữngtrường hợp này trước khi tiến hành giai đoạn xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm

vì lý do bị cáo đã chết cho nên không tiến hành xét xử theo quy định mà Tòa

án buộc phải đình chỉ vụ án Vì vậy về cơ bản có thể thấy rằng Tòa án đã xét

xử đúng quy định và không để xảy ra tình trạng oan sai trong tất cả các giaiđoạn xét xử

2.2. Thực tiễn thi hành các quy định về căn cứ hủy bản án sơ thẩm tại Tòa án nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh

2.2.1. Thực tiễn hủy bản án theo các căn cứ của Bộ luật Tố tụng hình sự

Qua nghiên cứu các bản án mà Tòa án cấp cao tại TPHCM tuyên hủycho thấy do có những vi phạm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử buộcTòa án cấp trên phải hủy bản án của Tòa án cấp dưới để điều tra lại hoặc xét

xử lại Một trong những vi phạm đó thể hiện trong các vấn đề sau:

2.2.1.1. Vi phạm khi chưa làm rõ các căn cứ hoặc căn cứ chưa đầy đủ

Ngày đăng: 08/03/2021, 16:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2002) Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, ban hành ngày 02/01/2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số nhiệm vụtrọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
2. Bộ Chính trị (2005) Nghị quyết 49-NQ/TW khóa IX về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, ban hành ngày 02/06/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW khóa IX về chiến lược cảicách tư pháp đến năm 2020
3. Phạm Thanh Hải (2007) “Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án”, Tạp chí Tòa án, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy bản án sơthẩm, đình chỉ giải quyết vụ án”
4. Đỗ Đại Hữu (2006) “Xác định Tòa án xét xử lại, khi Tòa án tối cao hủy bản án, quyết định của Tòa cấp dưới”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xác định Tòa án xét xử lại, khi Tòa án tối caohủy bản án, quyết định của Tòa cấp dưới”
5. Nguyễn Văn Huyên (2002) Thẩm quyền của Tòa án các cấp theo luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Đại học Luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền của Tòa án các cấp theo luậtTố tụng hình sự Việt Nam
6. Vũ Gia Lâm (2012) “Về quyền hủy bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại của Tòa án cấp phúc thẩm”, Tạp chí Luật học, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về quyền hủy bản án hình sự sơ thẩm để điềutra lại hoặc xét xử lại của Tòa án cấp phúc thẩm”
7. Hoàng Thị Liên (2005) “Xử lý thế nào trong trường hợp tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm để điều tra lại theo hướng nặng hơn đối với bị cáo”, Tạp chí dân chủ và Pháp luật, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xử lý thế nào trong trường hợp tòa án cấpphúc thẩm hủy án sơ thẩm để điều tra lại theo hướng nặng hơn đối với bịcáo”
9. Phan Thị Thanh Mai (2003) Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự ViệtNam
10. Đinh Văn Quế (2004) “Những trường hợp Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003”, Tạp chí Tòa án, số 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trường hợp Hội đồng giám đốc thẩmhủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo Bộ luật tố tụng hìnhsự 2003”
11. Đinh Văn Quế (2004) “Những trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm”, Tạp chí Tòa án số 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủybản án sơ thẩm”
12. Đinh Văn Quế (2013) “Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng có tội – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Tòa án, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm đểxét xử lại theo hướng có tội – những vấn đề lý luận và thực tiễn”
18. Quốc hội (2015) Nghị quyết số 110/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự, ban hành ngày 27/11/2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 110/2015/QH13 về việc thi hành Bộluật Tố tụng hình sự
19. Quốc hội (2015) Nghị quyết số 96/2015/QH13 “Về tăng cường các biện pháp phòng, chống oan, sai và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, ban hành ngày 26/06/2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 96/2015/QH13 “Về tăng cường cácbiện pháp phòng, chống oan, sai và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hạitrong hoạt động tố tụng hình sự
21. Huỳnh Lập Thành (2001) Giai đoạn xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ, Đại học Luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai đoạn xét xử phúc thẩm trong tố tụnghình sự Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn
22. Thông tư liên tịch (2011) Số 01/2011/TTLT-VKSNDTC-TANDTC- BCA-BTP-BLĐTBXH về hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên , ban hành ngày 12/07/2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số 01/2011/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH về hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tốtụng hình sự đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên
23. Thông tư liên tịch (2018) Số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC- BCA-BTP-BLĐTBXH về phối hợp thực hiện một số quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, ban hành ngày 21/12/2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH về phối hợp thực hiện một số quy định của BLTTHS vềthủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi
24. Thông tư liên tịch (2017) Số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC- BCA-BQP của Viện kiểm sát tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung, ban hành ngày 22/12/2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP của Viện kiểm sát tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an,Bộ Quốc phòng quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụngtrong thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ đểđiều tra bổ sung
25. Thông tư liên tịch (2018) Số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP về mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, ban hành ngày 19/10/2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP vềmối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thựchiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
26. Tòa án nhân dân tối cao (2004) Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “xét xử sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, ban hành ngày 5/11/2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTPhướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “xét xử sơ thẩm” củaBộ luật tố tụng hình sự năm 2003
27. Tòa án nhân dân tối cao (2005) Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ tư “xét xử phúc thẩm”của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, ban hành ngày 8/12/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTPhướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ tư “xét xử phúc thẩm”"của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w