Với bề dày lịch sử phát triển trong việc cung cấp dịch vụ cho các khách hàng trên thị trường quốc tế và cũng là một trong những công ty đi tiên phong trong làng kiểm toán Việt Nam, KPMG
Trang 1QUI TRÌNH ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU, RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN CHU TRÌNH BÁN HÀNG – THU TIỀN DO CÔNG TY TNHH KPMG
VIỆT NAM ĐANG THỰC HIỆN
2.1 Tổng quan về Công ty TNHH KPMG Việt Nam với qui trình đánh giá trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền
2.1.1 Lịch sử phát triển của Công ty với qui trình đánh giá trọng yếu, rủi ro trong kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền
Công ty TNHH KPMG là một trong những “đại gia” đầy tên tuổi được biết đến trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ như kiểm toán, tư vấn thuế, tư vấn tài chính, các thành viên của Công ty ở khắp nơi trên thế giới đã cung cấp các dịch vụ với chất lượng cao cho các tổ chức không chỉ trong nước, khu vực mà cả các tổ chức đa quốc gia Nguyên tắc hàng đầu của Công ty là đóng góp vào sự lành mạnh của thị trường tài chính bằng việc cung cấp các báo cáo tài chính minh bạch, chính xác
Là một tập đoàn của Thụy Sĩ, KPMG được hợp thành bởi các thành viên độc lập của Công ty ở khắp các nơi trên thế giới Lịch sử phát triển của Công ty đã trải qua gần
3 thế kỉ KPMG được hình thành đầu tiên vào năm 1987 bởi sự sáp nhập của Peat Marwick International và Klynveld Main Goerdeler, tên gọi của Công ty “KPMG” là được hình thành bởi sự ghép tên của bốn thành viên sáng lập : Klynveld (Netherland), Peat (USA), Marwick (UK), Goerdeler (Deutsch) Hiện nay, KPMG đang là một trong bốn công ty dẫn đầu về cung cấp các dịch vụ bảo đảm và tư vấn tài chính trên thế giới.KPMG có khoảng 760 văn phòng đại diện với hơn 123 000 nhân viên tại 145 quốc gia trên khắp thế giới Tại Việt Nam, KPMG đã mở văn phòng đại diện vào năm 1992 khi mà nước ta bắt đầu mở rộng cánh cửa đón nhận sự đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài và đến ngày 17 tháng 5 năm 1994, Công ty TNHH KPMG Việt Nam đã chính thức ra đời và đi vào hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo Giấy phép đầu tư số 863/CP do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Trong khoảng thời gian từ năm 1994 đến tháng 7 năm 2007, Công ty đặt trụ sở tại tầng 16 toà nhà Vietcombank, 198 Trần Quang Khải, Hà Nội Hiện nay, trụ sở của Công ty đã được chuyển về tầng 16 toà nhà Pacific, 83B Lý Thường Kiệt Đồng thời, Công ty cũng mở văn phòng đại diện tại tầng 10, toà nhà Sun Wah, 115 Nguyễn Huệ, Quận 1 thành phố
Trang 2Hồ Chí Minh
Với bề dày lịch sử phát triển trong việc cung cấp dịch vụ cho các khách hàng trên thị trường quốc tế và cũng là một trong những công ty đi tiên phong trong làng kiểm toán Việt Nam, KPMG luôn tự hào với đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm, không ngừng trau dồi học hỏi, chính vì vậy mà qui trình kiểm toán được Công ty xây dựng khá chặt chẽ, đặc biệt là bước công việc khởi đầu cho cuộc kiểm toán: đánh giá trọng yếu, rủi ro cũng được lên kế hoạch và thực hiện khá tốt, việc áp dụng trọng yếu luôn được các KTV theo sát trong cuộc kiểm toán nhất là với kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền, một chu trình quan trọng trong cuộc kiểm toán đối với bất kỳ một doanh nghiệp hoạt động vì mục đích lợi nhuận nào Gắn liền với lịch sử phát triển của Công ty, qui trình đánh giá trọng yếu, rủi ro cũng từng bước được hoàn thiện
Để thực hiện kiểm toán, Công ty không chỉ có phương pháp kiểm toán được xây dựng kỹ lưỡng, cẩn thận cho qui trình đánh giá trọng yếu, rủi ro mà trong thực tế kiểm toán, việc đánh giá luôn được thực hiện bởi những KTV cao cấp, giàu kinh nghiệm trong suốt quá trình kiểm toán để đảm bảo sự phán xét của KTV về mặt định tính và mức trọng yếu, rủi ro được đưa ra tương đối chính xác, đảm bảo độ tin cậy cao Kinh nghiệm lâu năm cùng với kiến thức sâu rộng đã tạo nên danh tiếng của Công ty trong làng kiểm toán, không phải dễ dàng mà Công ty TNHH KPMG đã trở thành một trong bốn công ty kiểm toán hàng đầu trên thế giới
Xứng đáng với những nỗ lực của công ty trong suốt thời gian qua, năm 2003 KPMG đã được Bộ trưởng Bộ Tài chính tặng bằng khen ghi nhận những đóng góp của công ty vào ngành kiểm toán, kế toán và tài chính Việt Nam và được nhận Cúp Vàng
“Vì sự phát triển của cộng đồng”năm 2004 Cùng với đó, trong 4 năm liên tiếp
2003-2006, Công ty còn được Thời báo kinh tế Việt Nam trao tặng giải thưởng Rồng Vàng cho nhà cung cấp dịch vụ tài chính tốt nhất, cho đến năm 2006 KPMG là công ty kiểm toán quốc tế duy nhất nhận được giải thưởng này Và mới đây vào tháng 1 năm 2008, một lần nữa KPMG lại được nhận giải thưởng danh giá này
2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty với qui trình đánh giá trọng yếu,
rủi ro trong kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền
Không chỉ đóng góp quan trọng cho hiệu quả của khu vực mang lại lợi nhuận cho nền kinh tế, KPMG còn quan tâm đến và đã xâm nhập vào khu vực phi lợi nhuận, KPMG đã cung cấp các dịch vụ nhằm hỗ trợ lộ trình phát triển ở Việt Nam
Trang 3Các dịch vụ của KPMG Việt Nam cung cấp bao gồm:
Thứ nhất: Dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính
Với 50 năm kinh nghiệm với tư cách là một trong những công ty cung cấp dịch vụ kiểm toán hàng đầu thế giới, KPMG đã cung cấp các dịch vụ kiểm toán tài chính cho các doanh nghiệp sản xuất, các ngân hàng Công ty có các khách hàng là các doanh nghiệp, tập đoàn trong nước và nước ngoài hàng đầu tại Việt Nam như Công ty cổ phần phát triển đầu tư công nghệ FPT, Honda Vietnam, Toyota… cùng các ngân hàng nước ngoài hàng đầu như ngân hàng Thượng Hải Hồng Kông-HSBC, City Bank, Mitsubisi, ANZ… Trong nhiều năm, KPMG đã phát triển một phương pháp luận kiểm toán được công nhận rộng rãi theo phương thức tiếp cận dựa trên cơ sở đánh giá rủi ro nhằm xác định các qui trình và rủi ro có liên quan tới các dự án phát triển hay dự án phi lợi nhuận Đồng thời, Công ty cũng đưa ra các kiến nghị để hỗ trợ khách hàng nhằm cải thiện hệ thống tài chính, nâng cao hiệu quả của việc trình bày các thông tin tài chính và tuân thủ các yêu cầu của nhà tài trợ
Dịch vụ kiểm toán là dịch vụ mang lại phần lớn doanh thu cho Công ty, trong đó đối tượng khách hàng chính là các doanh nghiệp sản xuất Nhờ kinh nghiệm lâu năm có được trong lĩnh vực kiểm toán cùng với sự trợ giúp của rất nhiều chuyên gia, quy trình đánh giá trọng yếu, rủi ro của Công ty được thực hiện với trình tự rõ ràng nên khi áp dụng trong chu trình bán hàng – thu tiền đã phát huy được hiệu quả, hỗ trợ cho kiểm toán viên thực hiện công việc thuận lợi hơn
Thứ hai: Dịch vụ kiểm toán nội bộ
Dịch vụ này giúp các tổ chức quản lý rủi ro chiến lược và xác định các thông lệ hàng đầu, giảm chi phí và tăng thêm cơ hội thông qua việc cung cấp hay bổ sung chức năng kiểm toán nội bộ cho tổ chức Kiểm toán nội bộ đang ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong các tổ chức liên quan tới phát triển nhằm chứng minh cho các nhà quản
lý và các bên có lợi ích liên quan biết rằng: các rủi ro đang được kiểm soát hiệu quả, các
cơ hội đã được nhận biết và các tổn thất và gian lận tiềm tàng được ngăn ngừa chứ không phải chỉ phát hiện ra sau khi đã xảy ra tổn thất hay gian lận
Thứ ba: Dịch vụ tư vấn tài chính
Các dịch vụ tư vấn của Công ty bao gồm tư vấn cổ phần hóa, sáp nhập và giải thể doanh nghiệp, tư vấn tái cơ cấu, tư vấn pháp lý và tư vấn quản lý tài chính chiến lược nhằm
Trang 4giúp cho các nhà đầu tư giải quyết các khó khăn trong kinh doanh tại Việt Nam Mục tiêu của KPMG trong lĩnh vực này là cùng hợp tác với các nhà đầu tư nhằm cải thiện hiệu quả kinh doanh của họ bằng cách dựa trên những kinh nghiệm, am hiểu về lĩnh vực tài chính để đưa ra những kiến nghị đổi mới hoặc hoàn thiện, phát triển các qui trình và tài liệu đào tạo chuyên môn hoá nâng cao năng lực hoạt động và năng lực quản lý của các nhân viên, phù hợp với chuẩn mực chung trên thế giới, đề ra các giải pháp thực tế cho vấn đề kinh doanh
và kiểm soát
Thứ tư: Dịch vụ tư vấn thuế và luật pháp
Dịch vụ này bao gồm tư vấn thuế hợp nhất quốc tế, tư vấn thuế doanh nghiệp và
tư vấn thuế cá nhân Quản lý thuế và đảm bảo tuân thủ pháp luật là vấn đề cốt lõi ảnh hưởng tới hoạt động tài chính của các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam KPMG cung cấp các giải pháp hiệu quả về thuế để đảm bảo rằng các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp là hợp lý Đồng thời, KPMG còn tư vấn cho các nhà đầu tư tại Việt Nam tổ chức thực hiện tuân thủ theo đúng qui định của pháp luật bao gồm lập kế hoạch thuế thu nhập doanh nghiệp, tư vấn và lập kế hoạch thuế giá trị gia tăng, tư vấn mục đích đầu tư
Các dịch vụ kiểm toán nội bộ, tư vấn tài chính, tư vấn thuế và pháp luật đã hỗ trợ cho dịch vụ kiểm toán khá nhiều trong việc hoàn thiện qui trình đánh giá trọng yếu, rủi ro Với dịch vụ kiểm toán nội bộ, Công ty am hiểu về hệ thống KSNB, đánh giá được thế nào là một hệ thống kiểm soát có hiệu quả, với hệ thống KSNB hiện tại thì có điểm mạnh, điểm yếu gì, rủi ro nào có thể xảy ra và giải pháp để khắc phục Nhờ những kiến thức và kinh nghiệm có được nên khâu tìm hiểu hệ thống KSNB của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát được thực hiện khá tốt Các dịch vụ tư vấn yêu cầu Công ty phải luôn cập nhật theo dõi sự thay đổi của các vấn đề về luật pháp, môi trường hoạt động kinh doanh, điều kiện kinh tế xã hội… , điều này cũng hỗ trợ KTV rất nhiều trong quá trình kiểm toán
Trong suốt những năm qua, để chất lượng các hoạt động cung cấp cho khách hàng ngày càng tốt hơn, KPMG luôn đề cao phương châm hoạt động, coi đây là nền tảng, kim chỉ nam dẫn đường cho quá trình hoạt động của mình Những phương châm này bao gồm:
Thứ nhất là, hoạt động đa dạng trong việc cung cấp các dịch vụ, KPMG tha
Trang 5thiết được hợp tác với khách hàng để tạo ra những giá trị kinh tế đặc biệt
Với kinh nghiệm của một tổ chức quốc tế, Công ty có thể nhìn thấy trước những khó khăn thách thức mà khách hàng có thể gặp phải cũng như các cơ hội họ có thể được tiếp nhận Với chiến lược hoạt động đa dạng trên nhiều lĩnh vực, Công ty có thể cung cấp dịch vụ cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau bao gồm cả các tập đoàn đa quốc gia luôn có những đòi hỏi rất khắt khe Để đáp ứng được điều đó, Công ty luôn đòi hỏi nhân viên có trình độ cao trong khâu tuyển dụng, đồng thời cũng không ngừng tạo điều kiện để nhân viên được tham gia các lớp đào tạo, các kì học đạt được chứng chỉ hành nghề quốc tế như ACCA, CIA
Thứ hai là, luôn là nhà tuyển dụng sáng suốt
Công ty luôn tin rằng sự phát triển là bền vững khi nó phải được xây dựng dựa trên nền tảng chất lượng và những cam kết để thu hút nhân tài Thách thức lớn nhất với Công ty là tạo ra một môi trường làm việc hấp dẫn, ở đó qui tụ những nhân viên giỏi cùng với khách hàng đặt niềm tin vào Công ty để tạo ra sự hợp tác hai bên cùng có lợi, thúc đẩy nhau cùng phát triển
Mục tiêu của Công ty là trở thành 1 trong 3 công ty cung cấp dịch vụ hàng đầu trên những thị thường chính của công ty vào năm 2010 Để đạt được điều đó, Công ty luôn cố gắng đào tạo, thăng tiến những người có khả năng lãnh đạo tốt, tạo ra các cơ hội, phần thưởng xứng đáng cho những người có công, thu hút nhân tài và mở rộng cộng đồng KPMG, củng cố danh tiếng về sự chuyên nghiệp của Công ty
Thứ ba là, không ngừng trang bị những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ để phục vụ khách hàng tốt nhất
Nếu có được sự hiểu biết bao quát về ngành nghề lĩnh vực hoạt động của khách hàng thì Công ty sẽ chủ động hơn, có vị trí vững chắc trong việc góp phần gia tăng giá trị cho khách hàng, giúp cho khách hàng thấy được viễn cảnh của những vấn đề họ đang phải đối mặt Việc thực hiện phương châm này trong thực tế yêu cầu nhân viên Công ty phải xây dựng được những mối quan hệ lành mạnh, độc lập với khách hàng và thực sự tìm hiểu để nắm bắt được nhu cầu của khách hàng
Thứ tư là, thống nhất phương châm và chiến lược hoạt động của KPMG trên toàn thế giới
Điều này giữ một vị trí hết sức quan trọng, bởi muốn xây dựng một hình ảnh KPMG đẹp thì cần phải đẹp ở tất cả mọi nơi Khi đã có được sự thống nhất trong phong
Trang 6cách làm việc, cách thức làm việc trong toàn bộ mạng lưới KPMG thì khách hàng quyết định cộng tác với KPMG dù là ở đâu họ cũng biết những gì nên mong đợi và những gì sẽ đạt được từ sự cộng tác đó Điều đó giúp cho Công ty dễ dàng xây dựng và duy trì các mối quan hệ với khách hàng.
Chính bởi phương châm đã được đặt ra rất rõ ràng, thống nhất và được từng nhân viên nắm rõ nên khách hàng có thể tin tưởng vào qui trình đánh giá trọng yếu, rủi ro của Công ty Qui trình này có một nền tảng tốt: thứ nhất là, có phương pháp hướng dẫn thống nhất trong cả mạng lưới KPMG được xây dựng bởi chuyên gia giàu kinh nghiệm; thứ hai là, được thực hiện bởi các KTV cao cấp, am hiểu kiến thức chuyên ngành và
cả các kiến thức trong lĩnh vực hoạt động của khách hàng; thứ ba là, qui trình này được các KTV tuân theo chặt chẽ, lấy đó làm cơ sở trong suốt quá trình kiểm toán nói chung và với kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền nói riêng
Với phương châm hoạt động như trên, Công ty cam kết cho khách hàng các dịch
vụ công khai, minh bạch, khách quan với chất lượng cao Đây chính là những yếu tố quyết định sống còn tới hoạt động của khách hàng khi mà BCTC được công bố rộng rãi cho tất cả các đối tượng quan tâm KPMG xây dựng văn hóa của mình dựa trên khả năng lãnh đạo, quản lý công việc, khả năng làm việc nhóm và sự công khai trong làm việc Chính bởi những cam kết đã đưa ra với khách hàng mà Công ty luôn chú trọng đến qui trình công việc của mình, luôn cố gắng hoàn thiện các bước công việc để đảm bảo cuộc kiểm toán đạt chất lượng tốt nhất Với qui trình đánh giá trọng yếu, rủi ro, tầm quan trọng của nó đương nhiên các nhà quản lý và mọi KTV đều nhận thấy nên để góp phần cho việc đảm bảo thực hiện được cam kết với khách hàng, từng khâu công việc đều được xem xét, lập kế hoạch và thực hiện rất cẩn thận Để đưa ra được những thông tin minh bạch, chính xác các KTV luôn tìm hiểu về bản chất nghiệp vụ của khách hàng rất kỹ lưỡng, đặc biệt với chu trình bán hàng – thu tiền Đây là chu trình mà các nghiệp vụ tương đối phức tạp lại dễ xảy ra các gian lận, sai sót nên việc đánh giá rủi ro sai phạm trọng yếu có thể xảy ra với doanh thu và khoản phải thu luôn được thực hiện bởi KTV nhiều kinh nghiệm Trước khi chấp nhận khách hàng, việc tìm hiểu rủi ro của khách hàng và do đó là rủi ro mà KTV phải đối mặt luôn được quan tâm Trong quá trình thực hiện kiểm toán, KTV luôn cởi mở đưa ra cho khách hàng những tư vấn hữu ích, giúp cho khách hàng hạch toán chính xác, KTV tìm hiểu bản chất của nghiệp vụ để phục vụ cho kiểm toán đồng thời giải thích cho kế toán của khách hàng cách thức hạch toán chính xác
Trang 72.1.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý, nhân sự của Công ty với qui trình giá trọng yếu,
rủi ro trong kiểm toán
Nhân sự trong bất kỳ doanh nghiệp hay tổ chức nào bao giờ cũng là vấn đề quan tâm hàng đầu khi quyết định thành lập doanh nghiệp, tổ chức đó Đây là nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của doanh nghiệp Tổng số nhân viên của KPMG tại văn phòng Hà Nội có khoảng 210 người, tùy theo từng cấp độ, nhân sự của Công ty được xếp theo thứ bậc khác nhau
Thực hiện điều hành Công ty là Ban giám đốc gồm những chuyên gia dày dạn kinh nghiệm, am hiểu thị trường Việt Nam đến từ nhiều nước trên thế giới như Anh, Malaysia, Canada, Philipin Trong đó người đứng đầu là Tổng giám đốc Chức năng cụ thể của Ban giám đốc được qui định như sau:
Thứ nhất: Tổng giám đốc là người điều hành và quản lý cao nhất mọi hoạt động
của Công ty tại Việt Nam, điều hành trực tiếp công việc tại văn phòng ở thành phố Hồ Chí Minh và điều hành gián tiếp hoạt động của văn phòng tại Hà Nội thông qua Phó Tổng giám đốc Tổng giám đốc phụ trách việc xây dựng và ra các quyết định cuối cùng cho chiến lược kinh doanh dài hạn, ngắn hạn cũng như việc đa dạng hóa các loại hình dịch
vụ trong toàn Công ty Tổng giám đốc cũng là người thông qua các quyết định về nhân
sự như thăng chức bất thường, yêu cầu việc sử dụng nhân sự hợp lý Trong Công ty, phần lớn các giao dịch giữa các thành viên đều được thực hiện thông qua thư điện tử bằng mạng nội bộ của Công ty nên việc quản lý điều hành khá thuận tiện
Thứ hai: Phó Tổng giám đốc là người chịu trách nhiệm và điều hành trực tiếp các
hoạt động tại văn phòng Hà Nội Phó Tổng giám đốc tham gia vào việc xây dựng chiến lược kinh doanh chung của toàn Công ty, triển khai thực hiện chiến lược đó và báo cáo tình hình hoạt động của văn phòng Hà Nội lên Tổng giám đốc Thêm vào đó, Phó Tổng giám đốc cũng trực tiếp phụ trách một số hợp đồng kiểm toán, xem xét lại giấy tờ làm việc của đội kiểm toán để ra quyết định về báo cáo kiểm toán
Thứ ba: Thành viên Ban Giám đốc đồng thời là các thành viên tham gia góp vốn
sáng lập Công ty (partner - chủ phần hùn)
Về chuyên môn, họ là người trực tiếp kí các hợp đồng kiểm toán với khách hàng, tiến hành đánh giá rủi ro kiểm toán và thực hiện rà soát cuối cùng đối với mọi hồ sơ kiểm toán Thành viên Ban giám đốc cũng là người đại điện của Công ty trong việc ký
và phát hành Báo cáo kiểm toán và thư quản lý cho khách hàng
Trang 8Dưới Ban giám đốc có các nhà quản lý cao cấp (senior manager) là người trực tiếp chịu trách chịu về các hợp đồng được kí kết với khách hàng, cùng một lúc có thể đảm nhiệm nhiều hợp đồng Các nhà quản lý thực hiện lập kế hoạch về thời gian các bước công việc thực hiện, lựa chọn nhân sự phục vụ cho việc thực hiện hợp đồng, hướng dẫn cho các nhân viên nếu có phát sinh trong khi thực hiện công việc và xem xét lại công việc, giấy tờ làm việc (GTLV) của nhân viên trước khi chuyển lên cho chủ phần hùn rà soát lần cuối Các nhà quản lý cấp cao đều có chứng chỉ hành nghề theo lĩnh vực của mình.
Đối với dịch vụ kiểm toán, trong mỗi đội kiểm toán sẽ có kiểm toán viên cao cấp làm trưởng nhóm kiểm toán (senior in-charge) Trưởng nhóm kiểm toán là nguời cùng quản lý cấp cao trực tiếp điều hành việc thực hiện hợp đồng kiểm toán, thực hiện tiếp xúc với khách hàng, trình bày những tài liệu chính cần thiết yêu cầu khách hàng cung cấp phục vụ cho việc kiểm toán, phân chia công việc cho các thành viên trong đội kiểm toán và lựa chọn KTV giỏi để đảm nhiệm những chu trình quan trọng như kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền
Trong kiểm toán tài chính, việc đánh giá trọng yếu, rủi ro giữ vai trò hết sức quan trọng, công việc này được thực hiện bởi nhà quản lý cấp cao và trưởng nhóm kiểm toán Trên cơ sở những tìm hiểu, đánh giá về hoạt động khách hàng, hệ thống KSNB của khách hàng, hai người cùng đánh giá mức rủi ro kiểm toán có thể gặp phải từ đó xác định phương thức tiếp cận kiểm toán Cùng với đó, mức trọng yếu cho từng mục đích
cụ thể cũng được xác lập Đội ngũ nhân viên quản lý cấp cao và các trưởng nhóm kiểm toán của KPMG đều có kinh nghiệm lâu năm, am hiểu khách hàng, kiến thức chuyên môn nắm chắc, phần lớn đều có chứng chỉ hành nghề quốc tế ACCA nên qui trình này được thực hiện khá cẩn trọng và đảm bảo cho chất lượng cuộc kiểm toán
Bên dưới là các nhân viên được sắp xếp theo các cấp độ khác nhau, đối với bộ phận kiểm toán thường là các trợ lý kiểm toán, ở độ tuổi còn trẻ, tâm huyết với nghề Các nhân viên của Công ty đều được tạo điều kiện để tham gia đào tạo khóa học sâu hơn về chuyên ngành Đối với kiểm toán, thường sau 1 năm làm nhân viên chính thức sẽ được Công ty tạo điều kiện cho đi học lấy chứng chỉ ACCA, chính vì vậy, đội ngũ nhân viên của Công ty có trình độ tương đối cao
2.1.4 Hệ thống quản lý chất lượng tại Công ty kiểm toán KPMG Việt Nam
Công việc kiểm soát chất lượng là công việc không thể thiếu trong bất kỳ công ty nào, kiểm soát chất lượng bao gồm chất lượng hoạt động của cả Công ty nói chung và
Trang 9chất lượng của dịch vụ kiểm toán mà Công ty cung cấp nói riêng Đối với kiểm toán BCTC, hệ thống KSCL của KPMG được thiết kế để cung cấp sự đảm bảo rằng các đơn
vị thành viên trong mạng lưới KPMG và từng nhân viên của Công ty tuân thủ theo đúng các chuẩn mực hành nghề, các qui định thích hợp, qui tắc pháp lý và các báo cáo được phát hành phải phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể Theo đó, hệ thống KSCL bao gồm các chính sách được thiết kế nhằm đạt được mục tiêu trên và các thủ tục nhằm giám sát việc thực hiện tuân theo đúng các chính sách đã đề ra
Hệ thống kiểm soát chất lượng tại KPMG được xây dựng dựa trên Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 ban hành trong Quyết định số 28/2003/QĐ-BTC ngày 14 tháng 3 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ tài chính Hệ thống này được xây dựng cho hoạt động chung của toàn Công ty và cho chất lượng của cuộc kiểm toán nói riêng Nội dung chính của các thủ tục và chính sách này bao gồm: trách nhiệm của nhà lãnh đạo đối với việc kiểm soát chất lượng của đơn vị thành viên, các yêu cầu về đạo đức hành nghề của KTV bao gồm cả tính độc lập, chấp nhận thư mời kiểm toán đối với khách hàng mới và tiếp tục kiểm toán cho khách hàng hiện tại, quản trị nguồn nhân lực bao gồm việc phân công đội hình kiểm toán, thực hành kiểm toán và cơ chế giám sát việc thực hiện kiểm toán
Để kiểm soát chất lượng có hiệu quả thì điều đầu tiên mà Công ty quan tâm là quản lý con người bởi suy cho cùng thì mọi thủ tục hay qui trình đều do con người đặt
ra và thực hiện Ngay từ khi bước chân vào Công ty, các nhân viên đã được trải qua khóa đào tạo về nghiệp vụ, qui trình quản lý chất lượng và đảm bảo sự bảo mật thông tin do các lãnh đạo trong Công ty thực hiện Công ty đã cụ thể hóa rất nhiều qui định của KPMG quốc tế để đưa ra các qui định, chính sách phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam Trong cơ chế đảm bảo chất lượng cho cuộc kiểm toán thì việc quản lý rủi ro cũng đóng góp vai trò quan trọng, bởi khi rủi ro đã được kiểm soát thì mọi hoạt động có thể diễn ra theo đúng trình tự, tránh được những biến cố ngoài ý muốn, không ảnh hưởng tới chất lượng của công việc Với vấn đề này, trong cả hệ thống KPMG toàn cầu
đã đề ra chính sách quản lý rủi ro (Risk Managerment Manual- Global 502) được chỉnh sửa cập nhật gần đây nhất vào tháng 10 năm 2007 Chính sách này xác định các rủi ro
mà KTV có thể gặp phải, cách thức tránh và có thể kiểm soát được rủi ro Để kiểm soát rủi ro nghề nghiệp thì KPMG đã đưa ra các nội dung cụ thể về đạo đức nghề nghiệp, tính độc lập của KTV, đảm bảo sự bảo mật của thông tin, thận trọng nghề nghiệp, liên
Trang 10hệ với kiểm toán viên tiền nhiệm, xây dựng các điều khoản của cuộc kiểm toán: hợp đồng kiểm toán, nội dung kiểm toán, phí kiểm toán, chữ kí của các bên, giải quyết tranh chấp… Một điểm quan trọng nữa được đưa ra là quản lý giấy tờ làm việc của KTV từ khâu chuẩn bị cho đến việc xem xét lại do các nhà quản lý và chủ phần hùn thực hiện, chỉnh sửa, hoàn thiện giấy tờ, hạn chế tiếp cận và cuối cùng là đưa vào lưu trữ làm bằng chứng cho cuộc kiểm toán đã thực hiện theo đúng chuẩn mực và là dữ liệu cho cuộc kiểm toán năm sau Đối với các thực tập viên, ngay từ khi mới vào Công ty cũng đã có buổi đào tạo cách thức hoạt động, hạn chế rủi ro xảy ra khi sử dụng mạng thông tin của KPMG, được tham gia buổi đào tạo về quản lý rủi ro, đạo đức hành nghề và tính độc lập của KTV trong thực hiện kiểm toán
Để kiểm soát việc thực hiện kiểm toán, KPMG đã đưa ra nguyên tắc: thực hiện giám sát trong mọi giai đoạn của cuộc kiểm toán và cấp trên phải tổ chức, phân công, quản lý, và rà soát lại công việc của cấp dưới
Chủ phần hùn chấp nhận thư mời kiểm toán là người phải chịu trách nhiệm đầu tiên trong kiểm soát chất lượng cuộc kiểm toán nói chung Chủ phần phải đảm bảo rằng khách hàng đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn cần thiết để được chấp nhận kí hợp đồng kiểm toán Chủ phần hùn cũng có trách nhiệm phải lựa chọn những nhân viên có sự hiểu biết, năng lực và kinh nghiệm cần thiết để tham gia kiểm toán Trong kiểm toán, khâu kiểm soát đầu tiên đó là lập kế hoạch và chương trình kiểm toán do nhà quản lý cấp cao thực hiện Bước công việc này vừa mang tính chất hướng dẫn lại vừa là công cụ giám sát hữu hiệu quá trình thực hiện công việc của nhóm kiểm toán Không chỉ ở giai đoạn đầu tiên mà trong suốt quá trình thực hiện, công việc của nhóm kiểm toán luôn chịu sự giám sát của trưởng nhóm kiểm toán và chủ nhiệm kiểm toán, sau đó lại được
rà soát một lần nữa bởi các chủ phần hùn chịu trách nhiệm trực tiếp về cuộc kiểm toán Khi xây dựng chương trình kiểm toán để thực hiện kiểm toán, trưởng nhóm kiểm toán luôn có sự cân nhắc rất kỹ càng về trình độ năng lực của từng người và căn cứ vào đó
để phân công trách nhiệm cho từng thành viên trong đội, ví dụ như KTV đã có kinh nghiệm lâu năm thì đảm nhiệm các chu trình phức tạp như bán hàng – thu tiền, với các trợ lý kiểm toán mới vào thì làm phần đơn giản như tiền và hỗ trợ các KTV khác trong việc kiểm tra chứng từ Mỗi thành viên phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về phần công việc của mình, kết quả làm việc của từng người sẽ được đánh giá làm cơ sở cho việc thăng tiến của mỗi người Sau khi cuộc kiểm toán được thực hiện, chủ phần hùn có trách nhiệm đảm bảo cuộc kiểm toán đã được thực hiện theo đúng chuẩn mực và BCTC đã được kiểm
Trang 11toán cùng báo cáo của KTV chỉ được phát hành khi đã đảm bảo các tiêu chuẩn đặt ra Chính vì vậy mà báo cáo kiểm toán được phát hành với mức độ rủi ro thấp có thể kiểm soát được.
2.2 Qui trình đánh giá trọng yếu, rủi ro trong kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền do Công ty TNHH KPMG Việt Nam thực hiện tại khách hàng
Qui trình đánh giá trọng yếu, rủi ro gồm hai bước công việc là đánh giá trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán, trong mỗi bước này lại bao gồm nhiều bước nhỏ đan xen nhau, ảnh hưởng lẫn nhau
2.2.1 Khái quát qui trình đánh giá rủi ro trong kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền do Công ty TNHH KPMG thực hiện tại khách hàng
Công việc đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán chu trình bán hàng bao gồm các bước công việc và các thủ tục thực hiện trong mỗi bước được khái quát qua sơ đồ dưới đây:
- Tìm hiểu đặc điểm môi trường kinh doanh, ngành nghề kinh doanh của khách hàng, các yếu tố ảnh hưởng đến việc trình bày các khoản mục trong chu trình,
- Đánh giá qua số dư của các khoản mục trong chu trình
Đánh giá rủi ro tiềm tàng của chu trình bán hàng – thu tiền trong giai đoạn lập kế hoạch
kế hoạch kiểm toán
Đánh giá rủi ro kiểm soát của chu trình
bán hàng – thu tiền
- Đánh giá mức rủi ro kiểm toán sau khi kết hợp rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, xem xét việc điều chỉnh mức trọng yếu cần phân bổ cho các khoản mục trong chu trình, xác định rủi ro phát hiện.
- Lập chương trình kiểm toán với các thủ tục chi tiết được thực hiện trong chu trình
Đánh giá rủi ro tồn tại sai phạm trọng yếu trong chu trình bán hàng – thu tiền và xác định rủi ro phát hiện
- Tìm hiểu KSNB của khách hàng được thiết kế cho chu trình bán hàng – thu tiền,
- Nhận biết các rủi ro có thể xảy ra liên quan đến mục tiêu kiểm toán và thủ tục kiểm soát tương ứng, đánh giá qua rủi ro kiểm soát,
- Nhận biết điểm kiểm soát chính và thực hiện thử nghiệm kiểm soát
Sơ đồ 2.1: Các bước đánh giá rủi ro kiểm toán và thủ tục thực hiện tương ứng trong kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền do Công ty KPMG thực hiện
2.2.1.1 Đánh giá rủi ro tiềm tàng của chu trình bán hàng – thu tiền trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Trang 12Cũng giống qui trình đánh giá rủi ro của BCTC nói chung, qui trình đánh giá rủi
ro được thực hiện đối với chu trình này được bắt đầu bằng việc đánh giá rủi ro tiềm tàng Vì chu trình bán hàng – thu tiền là kết quả của quá trình kinh doanh của một doanh nghiệp nên chịu ảnh hưởng của tất cả các yếu tố có liên quan đến quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, từ các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh bên ngoài đến các yếu tố trong doanh nghiệp như: tính liêm chính của ban giám đốc, các nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên xảy ra
Ngay trong giai đoạn chấp nhận thư mời kiểm toán của khách hàng thì KTV cũng
đã thực hiện các thủ tục để tìm hiểu về khách hàng, đánh giá gian lận, rủi ro kiểm toán
có thể xảy với các khoản mục trên BCTC nói chung Với chu trình bán hàng – thu tiền, KTV sẽ tìm hiểu về đặc điểm ngành nghề kinh doanh, môi trường kinh doanh, đối thủ cạnh tranh các điều kiện kinh tế-xã hội ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng Tại các thời điểm, các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh khác nhau có đặc điểm phát triển khác nhau
Ví dụ như: trong thời gian từ Tết trở lại đây, thị trường chứng khoán của Việt Nam giảm sút, chỉ số chứng khoán liên tục giảm trên sàn giao dịch của cả Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh, khi kiểm toán các khách hàng có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán, KTV sẽ tìm hiểu biến động giá cổ phiếu của khách hàng KTV xem xét liệu giá cổ phiếu có ảnh hưởng đến quá trình bán hàng – thu tiền của khách hàng hay không, ban giám đốc của khách hàng liệu có chịu áp lực nào đối với việc tạo ra gian lận trong kết quả của chu trình bán hàng – thu tiền nhằm cải thiện giá cổ phiếu hay không Hay trong giai đoạn lạm phát cao và tăng nhanh như hiện nay thì ảnh hưởng ra sao đến kết quả tiêu thụ của khách hàng
Với các khách hàng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực khác nhau thì quá trình bán hàng – thu tiền cũng mang các đặc điểm khác nhau Khách hàng là doanh nghiệp sản xuất đồ chơi hay kinh doanh thời trang thì sẽ có mức rủi ro tiềm tàng của chu trình bán hàng – thu tiền cao hơn so với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bàn ghế học sinh Với lĩnh vực đồ chơi trẻ em hay thời trang thì việc tiêu thụ
sẽ phụ thuộc rất nhiều vào mùa, vào thị hiếu của người tiêu dùng, hơn nữa cạnh tranh trên thị trường này là rất lớn Đối với hãng kinh doanh bàn ghế học sinh, sự cạnh tranh không lớn bằng, hơn nữa mẫu mã hay kiểu dáng cũng đơn giản không có nhiều, lại thường sản xuất theo đơn đặt hàng nên rủi ro về tiêu thụ không lớn bằng hãng kinh doanh trong lĩnh vực thời trang Hay các khách hàng có đầu vào là nguyên liệu nhập
Trang 13khẩu, giá cả hay biến động dẫn đến sản phẩm đầu ra cũng biến động theo sẽ có rủi ro trong bán hàng cao hơn so với doanh nghiệp có nguồn vật liệu trong nước ổn định
Vì vậy, trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV bao giờ cũng tìm hiểu về khách hàng tương đối kỹ lưỡng và trình bày lại hiểu biết về khách hàng Với các khách hàng thường niên thì KTV sẽ xem lại hồ sơ lưu trữ về khách hàng, cập nhật những thông tin mới về môi trường kinh doanh, hay các luật điều chỉnh Đối với các khách hàng kiểm toán năm đầu tiên thì cần tìm hiểu kỹ dựa trên các tiêu chí như hoạt động kinh doanh được điều chỉnh bởi bởi những luật, hay qui định nào Ví dụ như đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài…, mỗi doanh nghiệp sẽ có những luật điều chỉnh riêng, tình hình kinh doanh trong những năm gần đây, sự thay đổi về nhân sự đối với các vị trí quản lý, môi trường kinh
tế - xã hội
Như đã trình bày trong Phần I, bán hàng là một quá trình có mục đích thống nhất song phương thức thực hiện rất đa dạng Phương thức giao hàng và thu tiền có nhiều kiểu khác nhau, mỗi kiểu lại tiềm ẩn mức rủi ro tiềm tàng khác nhau nên tùy vào phương thức khách hàng sử dụng KTV sẽ đánh giá rủi ro có thể xảy ra Ví dụ, khi giao hàng theo phương thức giao đến tận tay khách hàng thì có thể xảy ra rủi ro, sự cố trong quá trình vận chuyển, đặc biệt khi khách hàng ở xa Hay thu tiền mặt trực tiếp sẽ
có độ rủi ro tiềm tàng cao hơn thu tiền qua ngân hàng
Nghiệp vụ bán hàng có thể phát sinh các khoản làm giảm trừ doanh thu bao gồm: chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại Để đánh giá các khoản này, trước hết KTV xác định uy tín, thương hiệu của các sản phẩm trên thị trường, chính sách bán hàng của công ty
KTV cũng đánh giá qua số dư của các tài khoản trong chu trình, với chu trình này thì số dư của khoản mục doanh thu bao giờ cũng lớn rủi ro tiềm tàng cao, khoản mục phải thu thì tùy thuộc vào điều kiện kinh doanh của khách hàng, thói quen về thanh toán Các khoản mục khác như: chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, dự phòng phải thu khó đòi số dư thường không lớn, bản thân khách thể kiểm toán không thể làm ăn trong tình trạng mà nghiệp vụ hàng bán bị trả lại thường xuyên xảy ra hay liên tục phải trích lập dự phòng vì người mua không có khả năng trả
nợ Hơn nữa, Công ty cũng đã có sự lựa chọn khách hàng trong giai đoạn xem xét có chấp nhận thư mời kiểm toán hay không, Công ty rất quan tâm đến uy tín của khách hàng trên thị trường và phải xem xét qua bản chất, qui mô của các khoản mục trên BCTC Do đó, những khoản mục này được đánh giá là có rủi ro tiềm tàng thấp Rủi ro
Trang 14tiềm tàng của cả chu trình bán hàng – thu tiền thường được đánh giá ở mức trung bình.
Để thực hiện đánh giá rủi ro tiềm tàng, Công ty thường sử dụng các thủ tục: phỏng vấn ban quản lý của khách hàng, thủ tục quan sát và điều tra
2.2.1.2 Đánh giá rủi ro kiểm soát của chu trình bán hàng – thu tiền
Sau khi đánh giá rủi ro tiềm tàng, KTV sẽ thực hiện đánh giá rủi ro kiểm soát của chu trình Để đánh giá rủi ro kiểm soát của chu trình, kế hoạch kiểm toán của Công ty gồm hai bước công việc cần thực hiện là: tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng rồi dựa trên thiết kế của hệ thống đó tiến hành các thử nghiệm kiểm soát kiểm tra tính hữu hiệu của hệ thống KSNB và đưa ra kết luận về rủi ro kiểm soát
Thứ nhất: Tìm hiểu hệ thống KSNB của khách hàng đối với chu trình bán hàng – thu tiền.
Trước hết, KTV tìm hiểu các yếu tố thuộc về môi trường kiểm soát của khách hàng đối với như cơ cấu tổ chức cũng như các qui định, điều lệ hoạt động của khách hàng đối với các khách hàng kiểm toán lần đầu, hoặc cập nhật sự thay đổi về tổ chức đối với các khách hàng hiện tại Với chu trình bán hàng – thu tiền, thứ nhất KTV xem xét về cơ cấu
tổ chức của các bộ phận có liên quan tới chu trình như: bộ phận bán hàng, bộ phận kho,
bộ phận vận chuyển giao hàng, phòng kế toán hạch toán các nghiệp vụ phát sinh; các bộ phận có độc lập với nhau không, hoạt động của các bộ phận chịu sự quản lý, giám sát trực tiếp của ai trong ban giám đốc (BGĐ), ai là người đưa ra qui định phối hợp hoạt động giữa các bộ phận này Tiếp theo, KTV phỏng vấn cách thức tuyển dụng, đào tạo, khen thưởng đối với nhân viên ở các bộ phận này, KTV tìm hiểu kinh nghiệm của những nhân viên đang làm việc tại đó, đặc biệt là với các vị trí chủ chốt như trưởng bộ bán hàng, trưởng bộ phận vận chuyển, giám đốc tài chính… Kế hoạch về tiêu thụ do ai lập, dựa trên cơ sở nào và người phê duyệt KTV cũng tìm hiểu các qui định hiện hành của nhà nước đối với hoạt động tiêu thụ của khách hàng như mức thuế suất, hàng hóa
có thuộc loại được khuyến khích tiêu dùng hay không, hay ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp trong những năm đầu cũng là yếu tố cần quan tâm, vì đây là yếu tố có ảnh hưởng đến cơ sở dẫn liệu về tính có thật và đầy đủ của số dư khoản mục doanh thu được trình bày Cách thức phân đoạn thị trường, phân phối sản phẩm, các khách hàng thường xuyên, cách thức kiểm soát đối với từng đối tượng khách hàng cũng là điều Công ty quan tâm khi đánh giá khách hàng
Để kiểm tra căn cứ xây dựng kế hoạch cho bán hàng, KTV yêu cầu các tài liệu từ
Trang 15phía khách hàng như biên bản họp của BGĐ, chỉ tiêu về doanh thu khách hàng đã đặt trong năm tài chính, phỏng vấn BGĐ về cách thức xác định chỉ tiêu này, chiến lược kinh doanh mà họ đặt ra để đạt được chỉ tiêu đó KTV sẽ quan tâm đến việc kiểm soát các rủi ro của khách hàng bằng cách phỏng vấn xem họ có lường trước các rủi ro có thể xảy ra khiến cho mục tiêu về doanh thu của họ không thể đạt được và giải pháp đã được đặt ra để kiểm soát hay hạn chế được ảnh hưởng của rủi ro đó.
Bên cạnh đó, KTV xem xét chính sách bán hàng như: chiết khấu thương mại, hạn mức tín dụng của khách hàng KTV sẽ phỏng vấn giám đốc tài chính, trưởng phòng hay nhân viên của phòng bán hàng (phòng kinh doanh) qui định của khách hàng về các trường hợp được phép bán chịu cho khách hàng, đánh giá liệu khách hàng có quan tâm đến tình hình tài chính của khách khi bán chịu cho họ không
Thứ hai là, KTV tìm hiểu thủ tục, qui trình thực hiện chu trình bán hàng – thu tiền của khách hàng và các kiểm soát liên quan bắt đầu từ khâu tiếp nhận xử lý đơn đặt hàng cho đến thu tiền hoặc thực hiện thủ tục xóa nợ cho khách hàng, hệ thống xây dựng và tiếp cận giá cũng là một điểm kiểm soát chính Trong quá trình tìm hiểu, KTV dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản để xây dựng hệ thống KSNB: có sự tách biệt giữa các bộ phận bán hàng, kho, phòng kế toán không, nếu có thì giữa các bộ phận này có sự phân công phân nhiệm rõ ràng không, cơ chế ủy quyền ở từng bộ phận, hoạt động ở mỗi bộ phận có được phê chuẩn thích đáng không và nguyên tắc bất kiêm nhiệm có bị vi phạm không KTV sẽ tìm hiểu về qui trình thực hiện bán hàng tại khách hàng, thứ tự các bước công việc được thực hiện tại các bộ phận, các thủ tục để đối chiếu hoạt động giữa các bộ phận với nhau
Đối với nghiệp vụ thu tiền thì các KTV xem xét khách hàng sử dụng phương thức nào, các kiểm soát liên quan đến thu tiền được thiết kế Một phần các kiểm soát này đã được đánh giá và kiểm tra trong kiểm toán chu trình tiền, KTV thực hiện kiểm toán chu trình này có thể tham chiếu hoặc phối hợp với KTV kiểm toán chu trình tiền để đánh giá kiểm soát của nghiệp vụ thu tiền
Với trường hợp bán chịu, KTV tìm hiểu các thủ tục cần tiến hành và cách xử lý của khách hàng khi phát sinh nợ quá hạn, khách nợ có dấu hiệu không tốt về tài chính Thông thường, các công ty sẽ có sổ hoặc báo cáo theo dõi tuổi nợ của khách hàng, KTV yêu cầu khách hàng cung cấp sổ này và xem xét khách hàng có quan tâm theo dõi tình trạng của khách nợ sau khi bán hàng không, sau khi đã kí hợp đồng thì ai là người có trách nhiệm theo dõi khoản phải thu, định kỳ kế toán phụ trách công nợ của khách
Trang 16hàng có thực hiện xác nhận đối chiếu công nợ với người mua hay không, công ty
có qui định về việc trích lập dự phòng hay xử lý nợ xấu không Đối với phần trích lập
dự phòng sẽ được tham chiếu sang GTLV của KTV kiểm toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Ngoài ra, KTV còn tìm hiểu các điều khoản, điều kiện của hợp đồng liên qua đến điều khoản thanh toán bao gồm thời gian thanh toán và phương thức thanh toán bằng tiền mặt hay chuyển khoản, điều khoản phát sinh nghiệp giảm giá hàng bán hay hàng bán bị trả lại
Với chiết khấu thương mại, khách mua hàng với số lượng lớn sẽ được giảm trừ một phần số tiền phải trả (có thể là con số tuyệt đối hoặc tỉ lệ phần trăm) cho lượng hàng hóa mua Khách hàng sẽ phải có qui định cho hình thức chiết khấu này Với giảm giá hàng bán sẽ được qui định trong hợp đồng bán hàng Đối với hàng hóa hỏng hóc trong thời gian bảo hành, khi đó doanh nghiệp sẽ cần sử dụng chi phí bảo hành trích trước để tiến hành bảo hành cho khách, phần này sẽ được KTV thực hiện kiểm toán phần hành bán hàng và thu tiền tham chiếu sang GTLV của KTV kiểm toán chi phí bán hàng Trong trường hợp sản phẩm lỗi, khách hàng yêu cầu đổi sản phẩm khác việc kiểm toán liên qua đến chu trình hàng tồn kho, KTV sẽ tham chiếu sang kiểm toán chu trình hàng tồn kho
Thứ ba, KTV tìm hiểu cách thức hạch toán các nghiệp vụ xảy ra trong chu trình.Đối với chu trình này, cơ sở để ghi nhận doanh thu, thời điểm ghi nhận doanh thu là một điểm mấu chốt ảnh hưởng đến cơ sở dẫn liệu về tính có thật, tính đầy đủ, tính đúng kì của doanh thu – khoản mục chính của chu trình mà KTV rất chú trọng KTV sẽ yêu cầu kế toán cung cấp số liệu về doanh thu của các năm trước Trên cơ sở các số liệu được cung cấp KTV tiến hành phân tích chi tiết doanh thu, doanh thu có được từ những sản phẩm hay dịch vụ nào, doanh thu chính là từ đâu, chỉ có doanh thu nội địa hay còn có doanh thu bán cho khách hàng nước ngoài Với những nguồn gốc của doanh thu khác nhau thì khách hàng sẽ có cách thức khác nhau để kiểm soát và KTV cũng sẽ có cách thức thực hiện thử nghiệm kiểm soát khác nhau Ví dụ như với doanh thu nội địa thì phiếu xuất kho là một chứng từ quan trọng làm cơ sở cho việc hàng đã ra khỏi kho
và chuyển giao cho khách hàng, có nghĩa mọi quyền lợi và rủi ro gắn liền với hàng hóa đã được chuyển giao, đây chính là căn cứ để ghi nhận doanh thu Còn đối với doanh thu xuất khẩu thì vận đơn do nhà xuất khẩu ủy thác cung cấp mới là chứng từ quan trọng chứng minh cho việc bên nhận xuất khẩu ủy thác đã nhận hàng từ bên xuất
Trang 17khẩu và cam kết sẽ giao hàng đến cho người mua
Dựa trên thủ tục mà khách hàng đã mô tả và cung cấp, KTV sẽ đưa ra đánh giá ban đầu về việc thiết kế các thủ tục kiểm soát của khách hàng, xác định các điểm có thể xảy ra rủi ro và các thủ tục kiểm soát tương ứng, phát hiện yếu điểm Với những điểm yếu đã được phát hiện, KTV phỏng vấn khách hàng xem đã có cách để khắc phục hay chưa, trên cơ cở đó KTV đưa ra đánh giá về rủi ro có khả năng xảy ra các sai phạm trong chu trình bán hàng – thu tiền của khách hàng mà hệ thống KSNB không ngăn chặn và phát hiện kịp thời
Sau khi tìm hiểu về hệ thống KSNB của khách hàng, KTV có thể trình bày hiểu biết của mình về hệ thống này thông qua bảng câu hỏi, bảng tường thuật hay lưu đồ Bảng câu hỏi và bảng tường thuật là những công cụ thường được Công ty sử dụng
Thứ hai: Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát đánh giá rủi ro kiểm soát của chu trình bán hàng – thu tiền.
Để đảm bảo các thủ tục kiểm soát mà khách hàng đặt ra đã được áp dụng trong thực
tế thì một thử nghiệm đầu tiên mà KTV luôn thực hiện với các khách hàng là thử nghiệm kiểm tra từ đầu đến cuối Thử nghiệm này nhằm giúp cho KTV khẳng định được những hiểu biết của mình về thiết kế của thủ tục KSNB của khách hàng đối với chu trình bán hàng – thu tiền là đúng đắn, chắc chắn rằng các kiểm soát này được thực hiện trong thực tế
Để thực hiện thử nghiệm này, KTV lựa chọn một nghiệp vụ bán hàng xảy ra trong
kỳ kinh doanh của năm kiểm toán sau đó KTV sẽ kiểm tra các khâu kiểm soát của nghiệp vụ này từ khi bắt đầu cho đến khi nghiệp vụ này hoàn thành đươc đưa vào sổ Cái Việc thực hiện thử nghiệm này cần tiến hành đồng thời ở các bộ phận liên quan: phòng kế toán, bộ phận bán hàng, bộ phận vận chuyển và bộ phận kho Thông thường chu trình này được bắt đầu từ khi khách thể kiểm toán nhận được đơn đặt hàng của người mua, gửi báo giá, kí kết hợp đồng, chuyển hàng, thanh toán hoặc bán chịu KTV
sẽ đi theo kiểm soát của từng giai đoạn này Ví dụ như KTV phụ trách kiểm toán chu trình này sẽ phỏng vấn nhân viên kho việc xuất hàng khỏi kho để chuyển đến cho khách hàng căn cứ vào giấy tờ gì, hay kế toán ghi nhận doanh thu dựa trên cơ sở nào, cứ có hợp đồng là ghi nhận doanh thu hay căn cứ vào chứng từ nào khác
Với trường hợp bán chịu, KTV phỏng vấn nhân viên bán hàng xem với nghiệp vụ
đó thì anh ta đã làm gì Ví dụ như khi nhận được yêu cầu mua hàng chịu của khách, có kiểm tra không và ai có trách nhiệm kiểm tra về tình hình tài chính của khách hàng, với
Trang 18khách hàng cũ thì xem số dư nợ khoản phải thu có vượt quá hạn mức tín dụng cho phép hay không… Sau đó, các điều khoản trong hợp đồng được lập như thế nào, ai có trách nhiệm xem xét và phê duyệt Đối với nhân viên phụ trách khoản phải thu thì sẽ theo dõi khách nợ như thế nào.Nếu phát hiện thấy khách nợ có dấu hiệu không tốt về tài chính thì có tiến hành lập dự phòng không, dự phòng được tính theo qui định nào KTV kiểm tra sự hiểu biết và việc thực hiện các qui định trong công ty của nhân viên KTV cũng tiến hành yêu cầu khách hàng cung cấp số liệu để phân tích sơ bộ về khoản phải thu, tỉ
lệ khoản phải thu của năm nay so với năm trước và tỉ lệ phải thu trên tổng doanh thu để biết được chính sách tín dụng của khách hàng có đúng như khách hàng đưa ra hay không
Đồng thời, với thử nghiệm này, KTV kiểm tra việc tổ chức hệ thống chứng từ, sổ sách kế toán, sự phê duyệt của các cấp quản lý tương xứng trên bộ chứng từ đó
Thử nghiệm kiểm tra từ đầu đến cuối được thực hiện để kiểm tra xem qui trình công ty xây dựng có được áp dụng trong thực tế không, còn để biết rằng các thủ tục này
có được áp dụng hữu hiệu trong thực tế hay không thì KTV sẽ dựa vào các điểm kiểm soát chính của hệ thống KSNB để thiết kế các thử nghiệm kiểm soát khác Ví dụ như, theo hệ thống KSNB của khách hàng, bộ phận bán hàng hàng tháng đều lập báo cáo bán hàng còn bộ phận vận chuyển hàng cho khách hàng tháng đều lập báo số hàng thực tế chuyển cho khách và định kỳ hàng tháng hai bộ phận này sẽ đối chiếu báo cáo với nhau KTV có thể chọn mẫu vài tháng để kiểm tra xem hai bộ phận này có thực hiện đối chiếu không, nếu như số liệu không khớp thì có giải trình nào về vấn đề đó không, giải trình
có hợp lý không Sau khi thực hiện thử nghiệm kiểm tra tính hữu hiệu của các thủ tục kiểm soát trong thực tế thì KTV sẽ trình bày GTLV về các thủ tục đã thực hiện và kết quả của thử nghiệm Thử nghiệm kiểm tra từ đầu đến cuối và các thử nghiệm kiểm soát khác thường được thực hiện vào giai đoạn kiểm toán giữa niên độ
2.2.1.3 Đánh giá rủi ro tồn tại sai phạm trọng yếu trong chu trình bán hàng – thu tiền
và xác định rủi ro phát hiện
Sau khi đã thực hiện thử nghiệm kiểm soát và đánh giá được rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng của khách hàng, KTV đánh giá rủi ro xảy ra sai phạm trọng yếu (RoSM – Risk of significant misstatement) trong chu trình Về thực chất, đây là sự kết hợp của rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát Dựa vào đó trưởng nhóm kiểm toán hoặc nhà quản
Trang 19lý cấp cao của cuộc kiểm toán sẽ đánh giá trọng yếu của chu trình, đánh giá rủi ro kiểm toán, xác định rủi ro phát hiện và lập chương trình kiểm toán chi tiết các thử nghiệm cơ bản cần thực hiện Đánh giá về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát là một trong những
cơ sở quan trọng để KTV điều chỉnh mức trọng yếu cần phân bổ cho từng khoản mục trong chu trình Nếu hai rủi ro này là cao thì mức trọng yếu cần phân bổ có thể thấp hơn
so với trường hợp khi hai loại rủi ro này thấp hoặc trung bình Kết hợp rủi ro tiềm tàng
và rủi ro kiểm soát, KTV thực hiện kiểm toán chu trình sẽ đánh giá khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trong chu trình, nếu RoSM ở mức cao thì rủi ro kiểm toán cũng cao
và ngược lại Với mức rủi ro kiểm toán như vừa đánh giá, để đạt được mức rủi ro kiểm toán mong muốn, Công ty xác định mức rủi ro phát hiện và tiến hành thiết kế thử nghiệm cơ bản, chương trình kiểm toán chi tiết thành thủ tục phân tích sơ bộ và các thử nghiệm chi tiết về nghiệp vụ và số dư
Trong chương trình kiểm toán, thủ tục đầu tiên KTV thực hiện để có đánh giá ban đầu mức trọng yếu, rủi ro của của các khoản mục trong chu trình là thủ tục phân tích sơ
bộ (Analytical Review) Với số liệu của các khoản mục trong chu trình của các năm mà khách hàng cung cấp, KTV so sánh số liệu năm nay với năm trước, hoặc giữa các tháng trong năm, so sánh số thực hiện với số lập kế hoạch Nếu có sự khác biệt đáng kể thì KTV sẽ tìm hiểu nguyên nhân thông qua xem xét chi tiết biến động của từng tháng và phỏng vấn kế toán trưởng hay kế toán phụ trách từng khoản mục Với sự giải thích từ phía khách hàng và kiểm tra các giấy tờ có liên quan làm bằng chứng, nếu KTV thấy hợp lý và đúng đắn thì mức RoSM sẽ vẫn giữ nguyên như cũ Nếu KTV vẫn thấy nhiều điểm nghi ngờ thì KTV sẽ cân nhắc để đánh giá lại RoSM và xem xét các thủ tục cần thực hiện thêm Tất cả qui trình đánh giá rủi ro đều được trình bày trên giấy tờ làm việc của KTV
Như đã đề cập ở trên, trong chu trình bán hàng – thu tiền, kiểm toán khoản mục doanh thu đóng vai trò chủ đạo, một thủ tục rất hữu hiệu mà KTV thực hiện khi hệ thống KSNB của khách hàng hoạt động có hiệu quả đó là thử nghiệm kiểm tra tính hợp
lý của doanh thu Thử nghiệm này chỉ được thực hiện khi KTV đã đánh giá thiết kế hệ thống KSNB của khách hàng hiệu quả và thử nghiệm kiểm soát cũng cho kết quả như vậy Thử nghiệm này được thực hiện như sau: Với số lượng hàng bán có được từ một
bộ phận độc lập với phòng kế toán là bộ phận bán hàng và bộ phận vận chuyển cùng với đơn giá từ hệ thống xác định của doanh nghiệp, KTV có thể ước tính doanh thu của doanh
Trang 20nghiệp và so sánh với doanh thu kế toán đã ghi nhận Nếu sự chênh lệch là không lớn và khách hàng có thể đưa ra những giải thích hợp lý thì KTV sẽ có thể giảm được rất nhiều
số mẫu cần kiểm tra
Trong quá trình thực hiện thử nghiệm cơ bản, KTV thực hiện kiểm toán chu trình vẫn tiếp tục đánh giá rủi ro tồn tại sai phạm trọng yếu sau các phát hiện để điều chỉnh lại các thủ tục tiến hành nếu cần thiết
2.2.1.4 Đánh giá rủi ro kiểm toán trong chu trình bán hàng – thu tiền được thực hiện tại Khách hàng A và Khách hàng B
Thứ nhất: Qui trình đánh giá rủi ro trong kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền được thực hiện tại Khách hàng A.
Đối với Khách hàng A, đây là khách của Công ty từ năm kiểm toán trước đó nên trong hồ sơ kiểm toán năm đã có một phần thông tin về khách hàng Đây là khách hàng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp xe máy và các linh kiện, cung cấp các dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng, sửa chữa với chất lượng đã được chứng nhận trên thị trường và tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng tương đối ổn định Các dòng sản phẩm của Khách hàng bao gồm cả cao cấp và sản phẩm dành cho người có thu nhập bình dân nên hoạt động của Khách hàng khá tốt Nhu cầu xe trên thị trường hiện nay vẫn tiếp tục cao, đặc biệt là với các loại xe ga Sau khi tìm hiểu về hệ thống KSNB của khách hàng, kiểm toán viên trình bày lại hiểu biết trên GTLV như sau:
Bảng 2.1: Tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chu trình
bán hàng – thu tiền được thực hiện tại Khách hàng A
Trang 21Đánh giá rủi ro kiểm soát- Chu trình bán hàng – thu tiền
1 Miêu tả các hoạt động kế toán và kiểm soát
Hoạt động kiểm soát đối với:
• Ủy quyền và phê chuẩn.
• Thực hiện nghiệp vụ và hạch toán kế toán
• Việc chuẩn bị các báo cáo về các thông tin
Doanh thu dự kiến
● Doanh thu dự kiến hàng năm được phê duyệt bởi Hội đồng Giám đốc và được đánh giá lại vào thời điểm giữa năm một lần tại cuộc họp của Hội đồng giám đốc công ty.
● Công ty cung cấp xe máy đến tay người sử dụng cuối cùng thông qua các đại lý phân phối đã được ủy quyền của mình.
Quá trình tiếp nhận đơn đặt hàng.
Đối với xe máy
● Đơn đặt hàng xe máy của khách hàng được tiếp nhận thông qua Hệ thống giao dịch với khách hàng – CCS ba tháng trước khi giao hàng Đơn đặt hàng sau đó có thể bị thay đổi, tuy nhiên
mọi thứ phải được cố định ít nhất một tháng trước khi quá trình sản xuất bắt đầu
● Dựa trên việc xác nhận đơn đặt hàng hàng tháng từ hệ thống các kênh phân phối và các thông tin trên thị trường, một bản báo cáo dự đoán doanh thu tháng sẽ được chuyển đến cho phòng sản xuất để chuẩn bị cho quá trình sản xuất
● Hàng tháng, phòng bán hàng cũng dự đoán số lượng xe máy bán được cho từng đại lý Dựa trên cơ sở tính toán đó, bộ phận giao hàng sẽ chuẩn bị kế hoạch giao hàng của tháng và đội ngũ nhân viên bán hàng sẽ chuẩn bị hợp đồng bán hàng tháng Hợp đồng bán hàng sẽ được phê duyệt bởi giám đốc bán hàng.
● Tất cả các bước công việc của của quá trình đều được nhập vào hệ thống CCS Các bộ phận chức năng có liên quan bao gồm Phòng kế toán, bộ phận vận chuyển, giao hàng và các nhà phân phối sẽ được tiếp cận với các thông tin ở một mức nhất định nhằm thực hiện các thủ tục
Trang 22Qua mô tả có thể thấy, Hệ thống KSNB của Khách hàng A với chu trình bán hàng – thu tiền tương đối tốt với đầy đủ các bước và các thủ tục phê duyệt Việc thanh toán tiền mua hàng được thực hiện trước khi hàng chuyển giao và thông qua tài khoản của khách hàng tại ngân hàng nên độ an toàn cao Quá trình thực hiện thử nghiệm kiểm tra
từ đầu đến cuối cũng cho thấy bộ chứng từ bán hàng có đủ chứng từ cần thiết và được phê duyệt Hơn nữa, kinh nghiệm của KTV trong năm kiểm toán trước cũng cho thấy các KSNB của chu trình bán hàng – thu tiền vận hành khá tốt Dựa trên những hiểu biết có được về hệ thống KSNB của khách hàng, KTV đã thực hiện 3 thử nghiệm kiểm soát chính là: thử nghiệm kiểm soát về hệ thống tiếp cận giá của công ty, thử nghiệm kiểm soát về thủ tục đối chiếu giữa báo cáo bán hàng với báo cáo số lượng hàng đã vận chuyển cho khách và thử nghiệm đối chiếu giữa báo cáo bán hàng với báo cáo số tiền nhận được để đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống KSNB mô tả ở trên với chu trình
Thứ nhất là thử nghiệm kiểm tra tính bảo mật và hiệu quả của hệ thống tiếp cận giá:
Bảng 2.2: Thử nghiệm kiểm soát về hệ thống tiếp cận giá của Khách hàng A
Chu trình bán hàng – thu tiền
Thử nghiệm kiểm soát – Hệ thống tiếp cận giá
Mục tiêu : Tham chiếu tới chương trình kiểm toán
Miêu tả về hệ thống kiểm soát:
Đơn giá được kiểm soát bởi hệ thống tiếp cận giá Không một nhân viên bán hàng hay nhân viên kế toán nào được phép tiếp cận với hê thồng cơ sở dữ liệu về giá ngoại trừ một nhân viên phòng bán hàng và bộ phận phụ
trách công nghệ thông tin.
Các bước công việc đã thực hiện:
Quan sát và kiểm tra việc tiếp cận giá đơn vị trong quá trình xuất hóa đơn;
Phỏng vấn trưởng bộ phận IT về việc kiểm soát giá đơn vị được thiết lập trong hệ thống và đánh giá
trình độ của các nhân viên IT ;
Xác nhận với Giám đốc kinh doanh về qui trình thủ tục nói trên.
Thu thập danh sách đơn giá và kiểm tra giá trên hóa đơn bán hàng xem có đúng với giá đã được xác
Trang 23lập trên hệ thống giá hay không
rất quen thuộc với hệ thống này đồng thời là một chuyên gia về IT
Danh sách giá do hệ thống in ra hoàn toàn khớp với giá được Tổng Giám đốc phê chuẩn.
Xác nhận với Giám đốc kinh doanh, anh ta nói rằng danh sách giá đơn vị được Ban Giám đốc phê chuẩn
trước khi gửi đến Giám đốc tài chính để thực hiện các thủ khác
Kết luận :
Các thủ tục kiểm soát do doanh nghiệp đặt ra hoạt động hữu hiệu trong suốt kỳ được kiểm toán.
Thứ hai là kiểm tra thủ tục đối chiếu giữa báo cáo hàng bán và báo cáo số lượng hàng vận chuyển, công việc KTV thực hiện được trình bày trên GTLV như sau:
Bảng 2.3: Thử nghiệm kiểm soát kiểm tra thủ tục đối chiếu giữa bộ phận
bán hàng và bộ phận vận chuyển tại Khách hàng A
Chu trình bán hàng – thu tiền
Thử nghiệm kiểm soát – Thủ tục đối chiếu giữa Báo
cáo hàng bán và Báo cáo số hàng vận
Công việc đã thưc hiện:
Phỏng vấn nhân viên bán hàng và nhân viên kế toán về qui trình thủ tục đối chiếu.
Phỏng vấn trưởng bộ phận bán hàng và trưởng bộ phận vận chuyển để chắc rằng họ hiểu được trách nhiệm
của mình trong việc thực hiện đối chiếu.
Thu thập báo cáo doanh thu và báo cáo số hàng vận chuyển trong 2 tháng: tháng 7 và 9 và đối chiếu số chi
tiết theo từng dòng xe và đối chiếu tổng giá trị
Yêu cầu sự giải thích cho từng khoản mục đã đối chiếu nếu có sự sai khác xảy ra và theo dõi các sự kiện
xảy ra sau đó để trình bày vấn đề phát sinh.
Phát hiện của KTV:
Báo cáo số hàng vận chuyển hàng ngày được gửi tới bộ phận bán hàng để đối chiếu Trưởng bộ phận có nhiệm vụ kiểm tra lại số lượng và kiểu dáng của sản phẩm Đồng thời anh ta cũng có thể kiểm tra số liệu bằng
cách truy cập hệ thống CCS
Báo cáo của tháng 7 và tháng 9 như sau:
Số chi tiết cho Tháng 7 (tổng số chiếc) Tháng 9 (tổng số chiếc)
Trang 24Báo cáo số hàng vận chuyển 64,147 78,322
Chu trình bán hàng – thu tiền
Thử nghiệm kiểm soát – Thủ tục đối chiếu giữa
Báo cáo bán hàng và Báo cáo số tiền
Để đảm bảo rằng thủ tục đối chiếu giữa Báo cáo số tiền nhận được hàng tháng và Báo cáo hàng bán được
thực hiện có hiệu quả
Các bước công việc đã thực hiện:
• Phỏng vấn kế toán phụ trách doanh thu về quá trình chuẩn bị và đối chiếu Báo cáo số tiền nhận được
và Báo cáo hàng bán, qua đó đánh giá kỹ năng và kinh nghiệm của họ
• Phỏng vấn nhân viên bán hàng và kế toán trưởng về cách thức thực hiện thủ tục đối chiếu, qua đó
khẳng định thủ tục này thực sự được tiến hành trong thực tế và có hiệu quả.
• Lựa chọn báo cáo của tháng 7 và tháng 9
- Kiểm tra sự khớp đúng về số lượng và giá trị doanh thu trên Báo cáo về số tiền nhận được do phòng
kế toán lập với giá trị trên Báo cáo hàng bán của bộ phận bán hàng
- Khớp giá trị doanh thu trên Báo cáo về số tiền với sổ Cái ( hoặc Báo cáo kết quả kinh doanh).
- Khớp số liệu của khoản đặt trước của khách hàng trên Báo cáo với sổ Cái.
Phát hiện:
1 Phỏng vấn kế toán phụ trách doanh thu và xác nhận với kế toán trưởng về thủ tục đối
chiếu doanh thu hàng tháng:
- Kế hoạch và báo cáo vận chuyển hàng tháng, danh sách giá của các dòng sản phẩm được chuẩn
bị và cung cấp cho phòng kế toán để tính ra doanh thu của từng nhà phân phối
- Trên cơ sở hàng tháng, Báo cáo số tiền nhận được được kế toán phụ trách doanh thu chuẩn bị Báo cáo này cung cấp doanh thu chi tiết của từng nhà phân phối và cho từng dòng sản phẩm Doanh thu có được từ việc bán cho nhân viên, bán các linh kiện hay các khoản khác không được trình bày trên báo cáo này trong khi báo cáo do bộ phận kinh doanh cung cấp lại bao gồm tất cả doanh thu của công ty Kế toán đối chiếu chi tiết số lượng và tổng giá trị doanh thu trên các báo cáo, sau đó Giám đốc tài chính kiểm tra lại và kí
Trang 25duyệt
- Kế toán trưởng dựa trên số lượng hàng bán thực tế được trình bày trên báo cáo vận chuyển để ghi nhận doanh số bán thực tế vào sổ Cái Sự khác nhau giữa hai báo cáo sẽ được kiểm tra và thực hiện các
bút toán điều chỉnh cho chính xác.
2 Thông qua phỏng vấn, KTV nhận thấy kế toán phụ trách doanh thu có kỹ năng và kinh
nghiệm khá tốt trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình.
3 Khi phỏng vấn nhân viên ở bộ phận bán hàng, KTV cũng thu được sự xác nhận tương tự
về thủ tục chuẩn bị và đối chiếu giữa các báo cáo.
4 Kiểm tra chọn mẫu doanh thu bán xe máy trong tháng 7 và tháng 9 về các vấn đề được đề
cập trên báo cáo ở trên.
Giá trị doanh thu (VND’000) và số lượng (chiếc)
Khác nhau Trên BC số tiền nhận được Trên BC hàng bán
Cập nhật khi kiểm toán cuối niên độ:
Kiểm soát vẫn hoạt động có hiệu quả trong suốt kỳ kế toán
Sau khi khi đã thực hiện các thử nghiệm kiểm soát kiểm tra tính hữu hiệu của các kiểm soát nội bộ cho chu trình bán hàng – thu tiền của Khách hàng, KTV đã đánh giá
về rủi ro tồn tại các sai phạm trọng yếu trong chu trình này như sau:
Trang 26Bảng 2.5: Bảng đánh giá rủi ro xảy ra sai phạm trọng yếu trong chu trình bán
hàng – thu tiền tại Khách hàng A
Cơ sở để đánh giá rủi ro xảy ra sai phạm trọng yếu RoSM
Rủi ro tiềm
tàng
Trung bình Với hệ thống hiện tại, không thể kiểm soát được tính đúng kỳ của doanh thu từ xuất khẩu.
Thấp
Rủi ro
kiểm soát
Tất cả các thủ tục kiểm soát của công ty đều được thiết
kế và thực hiện trong thực tế một cách có hiệu quả
Tuy nhiên,trong thực tế chưa có một thủ tục kiểm soát nào để kiểm soát tính đúng kỳ của doanh thu từ xuất khẩu Vì vậy, cuộc kiểm toán sẽ thực hiện mở rộng thử nghiệm kiểm tra tính đúng kì đối với doanh thu xuất khẩu
Do đó rủi ro xảy ra sai phạm trọng yếu được đánh giá
ở mức thấp.
Đối với khoản phải thu, do phần lớn doanh thu của Khách hàng A là từ bán xe máy (chiếm tới trên 90%) và người mua phải trả hết tiền trước khi nhận hàng nên rủi ro xảy ra với khoản phải thu khách hàng của công ty là rất thấp, trong năm Khách hàng không phải lập một khoản dự phòng về thu khó đòi nào Trong năm cũng không có các nghiệp vụ phát sinh các khoản làm giảm trừ doanh thu
Thứ hai: Qui trình đánh giá rủi ro trong kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền được thực hiện tại Khách hàng B.
Khách hàng B hoạt động trong lĩnh vực sản xuất cặp đựng hồ sơ dày, cặp đựng hồ
sơ mỏng và nhãn dán Công ty được sự tài trợ của công ty mẹ ở Nhật Bản, Công ty sẽ nhập từ công ty mẹ các nguyên vật liệu sử dụng cho sản xuất, đồng thời lại xuất sang cho công ty mẹ các thành phẩm Phần lớn sản phẩm được xuất sang công ty mẹ, năm vừa rồi mới bắt đầu có một số hợp đồng với các khách hàng trong nước nên rủi ro tiềm tàng đối với hoạt động kinh doanh của Khách hàng B được đánh giá là thấp
Trang 27Khách hàng B cũng là khách hàng trong năm kiểm toán trước của Công ty Sau khi tìm hiểu về hệ thống KSNB của Khách hàng B, KTV trình bày hiểu biết về khách hàng, các điểm có khả năng xảy ra rủi ro cùng với thủ tục kiểm soát để chống rủi ro xảy ra trên GTLV như sau:
Bảng 2.6: Tìm hiểu về hệ thống KSNB đối với chu trình
bán hàng – thu tiền tại Khách hàng B
Trang 28Đánh giá rủi ro kiểm soát – Chu trình bán hàng -thu tiền
.1 Miêu tả các hoạt động kế toán và kiểm soát
Các hoạt động kiểm soát đối với
• Đánh giá ban đầu và sự phê chuẩn
• Xử lí và phản ánh số liệu
• Việc chuẩn bị các báo cáo về các thông tin
• Đây là năm sản xuất trọn vẹn đầu tiên của công ty Doanh thu chính của công ty vẫn là từ bán sản phẩm cho công ty mẹ chiếm tới gần 99% tổng doanh thu Vào thời điểm cuối năm, công ty bắt đầu bán hàng cho một số khách hàng địa phương.
• Doanh thu có được từ xuất khẩu bao gồm 3 loại sản phẩm chính: cặp đựng hồ sơ dày, cặp đựng hồ sơ mỏng và Nhãn dán Mỗi sản phẩm này được thiết kế với nhiều màu sắc và kích cỡ khác nhau.
• Công ty sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm dựa trên các đơn đặt hàng trước đó do công
ty mẹ gửi đến Mẫu các đơn đặt hàng cùng với kế hoạch sản xuất (được lập 6 tháng một lần) gửi tới công ty tại Việt Nam bằng thư điện tử trước 3 tháng Dựa trên bản kế hoạch sản xuất và mức độ hoạt động hiện tại (công suất, nguyên vật liệu, thời gian sản xuất) công ty con tại Việt Nam và công ty mẹ sẽ phối hợp để thống nhất một Bản Kế hoạch cuối cùng chi tiết về số lượng
hàng hóa sẽ sản xuất và xuất khẩu trong 6 tháng tiếp theo
• Hợp đồng bán hàng được Phòng Xuất – Nhập khẩu lập dựa trên Bản Kế hoạch sản xuất cuối cùng Bản hợp đồng này được ký kết bởi cả hai bên sau đó được chuyển tới bộ phận sản xuất để làm phiếu xuất kho hàng hóa Phiếu xuất kho được phê chuẩn bởi thủ kho, kế toán trưởng và giám đốc tại thời điểm hàng được đưa ra khỏi kho.
• Khoảng một tháng 4 lần (trung bình 1 tuần 1 lần) trưởng phòng kế toán sẽ nhập các nghiệp vụ bán hàng vào hệ thống
• Hệ thống này có khả năng cập nhật và lưu trữ chi tiết từng hóa đơn – tuy vậy trước kh i cập nhật hệ thống vào máy tính, trưởng phòng kế toán xem xét lại tất cả các hóa đơn để đảm bảo rằng từng hóa đơn đều đã có sự phê duyệt của cấp có thẩm quyền thích hợp, ở đây gồm có hợp đồng được 2 bên kí kết và các giấy tờ bắt buộc khác như: phiếu xuất kho, tờ khai
Trang 29Qua quá trình tìm hiểu về thủ tục kiểm soát được thực hiện với chu trình bán hàng – thu tiền, KTV nhận thấy các hợp đồng bán hàng của Khách hàng B kí với công ty
mẹ đều được có kế hoạch trước, được sự xem xét và phê duyệt của các bên nên rủi ro xảy
ra với các khoản mục trong chu trình này là không cao Các khoản doanh thu phần lớn là thực hiện với công ty mẹ lại dựa trên đơn đặt hàng và kế hoạch sản xuất từ trước nên không có nhân tố nào tạo áp lực với Khách hàng trong việc khai khống hay khai thiếu doanh thu Để ghi nhận doanh thu thì kế toán cần có bộ chứng từ đầy đủ gồm hợp đồng, hóa đơn, danh sách hàng được đóng gói, phiếu xuất kho, tờ khai của hải quan, vận đơn Tất
cả đều có chữ kí, được phê chuẩn và đóng dấu
Để kiểm tra việc đầy đầy đủ trong thực hiện các thủ tục đã đặt ra thì kiểm toán viên
đã chọn mẫu một nghiệp vụ bán hàng và thực hiện thử nghiệm từ đầu đến cuối Bộ chứng
từ thu thập được qua quá trình kiểm tra gồm: Hợp đồng bán hàng được kí bởi Tổng Giám đốc của Khách hàng B và Tổng Giám đốc của công ty mẹ; Tờ khai của Hải quan khi làm thủ tục xuất khẩu cũng có chữ kí của Tổng Giám đốc và có dấu hải quan xác nhận đã làm xong thủ tục; Phụ lục tờ khai hàng hóa xuất khẩu liệt kê danh mục, mã hàng hóa, xuất xứ, số lượng, đơn vị tính, giá, … ; Hóa đơn vận chuyển và Hóa đơn bán hàng Kết quả kiểm tra cho thấy, các chứng từ cần thiết đều có đầy đủ và khớp số với nhau
Để kiểm tra tính hữu hiệu của hệ thống KSNB đặt ra thì KTV đã thực hiện thử nghiệm kiểm soát với 7 điểm kiểm soát được quan tâm:
Bảng 2.7: Các điểm kiểm soát chính trong hệ thống KSNB của Khách hàng B
Các thủ tục kiểm tra KPMG đã lựa chọn 30 mẫu hóa đơn từ sổ chi tiết doanh thu và kiểm tra dựa
trên 7 điểm kiểm soát: 1: Doanh thu phải được ghi nhận trên cơ sở hợp đồng của hai bên 2&3: Tờ khai hải quan phải được ký bởi Giám đốc công ty và được đóng dấu
bởi hải quan 4: Hàng hóa được ghi nhận doanh thu phải được thể hiện đầy đủ trên vận
đơn do bên cung cấp dịch vụ vận chuyển phát hành 5&6: Hóa đơn ghi nhận doanh thu chỉ được phát hành sau khi vận đơn được
phê duyệt 7: Tất cả doanh thu ghi nhận trên hoá đơn bán hàng đều đã được bao gồm
Trang 30trong doanh thu trên thư xác nhận gửi tới công ty mẹ.
Kết quả của việc kiểm tra 30 mẫu với các kiểm soát trên được KTV trình bày trên GTLV như sau:
Bảng 2.8: Thử nghiệm kiểm soát được thực hiện tại Khách hàng B
Trang 31Chu trình bán hàng – thu tiền
Thử nghiệm kiểm soát – Kiểm tra tính hiệu quả của các thủ tục
kiểm soát đã thiết kế