Với kiến thức mở rộng về cơ chế bệnh sinh của nám, các phương pháp điều trị mới và hiệu quả được lựa chọn trong điều trị nám.. Do tác động tiêu cực toàn cầu của nám đến chất lượng cuộc s
Trang 1Phương pháp mới trong điều trị nám bằng đường uống và bôi tại chỗ
Tác giả: P.E Grimes, MD, S Ijaz, BA, MPH , R Nashawati, BS, MSGM , D Kwak
Vitiligo & Pigmentation Institute of Southern California, Los Angeles, California
Division of Dermatology, David Geffen School of Medicine, University of California, Los Angeles, California
Biên dịch: Bs Trương Tấn Minh Vũ
TÓM TẮT
Nám là một rối loạn tăng sắc tố thường thấy ở phụ nữ và người có da thuộc type III đến VI theo phân loại da Fitzpatrick; nám là bệnh lý mãn tính phổ biến, thách thức về mặt điều trị và tình trạng tái phát phổ biến Cơ chế bệnh sinh của nám rất phức tạp và thay đổi Các yếu tố liên quan đến nguyên nhân hình thành nám bao gồm khuynh hướng di truyền, phơi nhiễm bức xạ cực tím mạnh và ảnh hưởng của nội tiết tố Các biện pháp can thiệp trị liệu cho nám thường tiếp cận đa phương thức kết hợp các chất chống nắng bảo vệ da, làm sáng
da bằng bôi và uống, và các quy trình tái tạo bề mặt Với kiến thức mở rộng về cơ chế bệnh sinh của nám, các phương pháp điều trị mới và hiệu quả được lựa chọn trong điều trị nám Bài viết này đánh giá các phương pháp mới nổi trong điều trị nám bằng đường uống và bôi tại chỗ.
Giới thiệu
Nám là một tình trạng rối loạn tăng sắc tố
mắc phải phổ biến được đặc trưng bởi các
mảng màu nâu với mức độ đậm nhạt không
đều xuất hiện trên trán, má, trên môi và vùng
cằm của khuôn mặt Tỷ lệ phổ biến từ 1% đến
50% ở những người có nguy cơ cao (Grimes,
1995, Grimes, 2009, Halder et al., 1983, Kim
et al., 2007, Moin et al., 2006, W Muffer et
al., 2007 ) Nhóm có nguy cơ cao bao gồm
những người có loại da sẫm màu hơn, phụ nữ
mang thai và những người sống ở các khu vực
có tiếp xúc với tia cực tím (UV) mạnh
Các mô hình phân bố nám bao gồm giữa
mặt, 2 bên má và vùng cằm với phân bố kiểu
giữa mặt là phổ biến nhất Trong một số
trường hợp, cổ, cánh tay và lưng trên cũng bị
ảnh hưởng Những khu vực này thường được
quan sát thấy ở phụ nữ mãn kinh Các nghiên
cứu gần đây đã ghi nhận sự gia tăng ban đỏ và
giãn mạch ở các khu vực bị ảnh hưởng, điều
này cho thấy có sự tăng sinh mạch máu trong
tổn thương nám (Kim et al., 2007) Nám xuất hiện ở tất cả các chủng tộc và sắc tộc, nhưng phần lớn bệnh nhân là phụ nữ và người có da
từ type IV đến VI theo Fitzpatrick, bao gồm người Latin, Châu Á và gốc Phi (Halder et al.,
1983, Kang, 2012, Kim et al., 2007, Moin và cộng sự, 2006, Coleues và Pandya, 2015) Nam giới chỉ chiếm thiểu số bệnh nhân bị nám với dưới 20% trường hợp nám Các đặc điểm lâm sàng và mô học của nám ở nam giới tương
tự như ở phụ nữ được báo cáo trong y văn (Sarkar et al., 2018, Vachiramon et al., 2012) Một nghiên cứu đã báo cáo mức testosterone thấp ở nam giới bị nám (Sarkar et al., 2018) Rất nhiều các nghiên cứu chất lượng cuộc sống báo cáo về sự hỗn loạn cảm xúc và sự tàn phá tâm lý mà các cá nhân bị nám trải qua (Balkrishnan et al., 2003, Ikino et al., 2015, Pawaskar et al., 2007) Bệnh nhân trải qua tác động cảm xúc đáng kể và thường cảm thấy phiền lòng, thất vọng, xấu hổ và chán nản về ngoại hình da của họ (Ikino et al., 2015)
Trang 2Đặc điểm mô học của nám bao gồm sự gia
tăng hàm lượng của melanin biểu bì và lớp bì,
nhưng số lượng thay đổi theo cường độ tăng
sắc tố Ngoài ra, các nghiên cứu cho thấy
không có sự gia tăng số lượng melanocytes;
tuy nhiên, các tế bào được mở rộng với các
sợi nhánh nổi bật và kéo dài với nhiều
melanosome hơn Các vấn đề khác của da liên
quan bao gồm giảm đàn hồi da do ánh sáng
mặt trời, tăng tế bào mast, mạch máu trong lớp
bì và biểu hiện yếu tố tăng trưởng nội mô
mạch máu (Grimes et al., 2005, Kang et al.,
2002)
Cơ chế bệnh sinh của nám rất phức tạp
Nhiều con đường liên quan đến việc gây ra
tăng sắc tố Các yếu tố nguyên nhân bao gồm
khuynh hướng di truyền, tiếp xúc với tia UV
và ảnh hưởng của nội tiết tố Tăng biểu hiện
của yếu tố tế bào gốc, c-Kit và hormone kích
thích tế bào melanocyte đã được báo cáo ở
vùng da bị tổn thương (Kang et al., 2006, Lee
và cộng sự, 2017) Các nghiên cứu gần đây ở
bệnh nhân bị nám với biểu hiện rõ rệt có sự
gia tăng oxy hóa (Seçkin et al., 2014) Sự thay
đổi trong con đường Wnt và chức năng rào
cản bất thường cũng đã được ghi nhận (Lee,
2015) Các quan sát về chứng giảm đàn hồi da
do ánh sáng, tăng tế bào mast, khiếm khuyết
mạch máu, rối loạn chức năng rào cản và các
bất thường về axit béo cho thấy nám có thể
đại diện cho một kiểu hình của tổn thương do
ánh sáng (Passeron và Picardo, 2018)
Từ góc độ lịch sử, các thành phần thường
được sử dụng để điều trị nám bao gồm
hydroquinone, axit azelaic, axit kojic, axit
glycolic, axit salicylic và tretinoin Trong số
các phương pháp điều trị này, hydroquinone
vẫn là tiêu chuẩn vàng Nhiều nghiên cứu cho
thấy các công thức kết hợp mang lại kết quả
tốt nhất (Halder và cộng sự, 1983, Kim và
cộng sự, 2007, Moin và cộng sự, 2006, W
Muffer et al., 2007) Những công thức kết hợp
ba loại này thường chứa hydroquinone, một
retinoid và một corticosteroid ở nồng độ khác
nhau Các liệu pháp thường được sử dụng nói
trên thường liên quan đến vấn đề tái phát Các
phương pháp điều trị thứ hai, như lột da bằng
hóa chất và laser, có hiệu quả ở một số bệnh
nhân, nhưng các phương pháp này có thể liên quan đến các biến chứng cấp tính và lâu dài, đặc biệt ở những người có loại da sẫm màu
Do tác động tiêu cực toàn cầu của nám đến chất lượng cuộc sống, một nỗ lực tìm kiếm các phương pháp điều trị hiệu quả hơn mang lại sự thuyên giảm lâu dài cho những bệnh nhân mắc chứng rối loạn sắc tố khó chịu và đầy thách thức này đang diễn ra
Can thiệp điều trị
Việc điều trị nám nên bao gồm một phương pháp đa phương thức kết hợp các tác nhân bảo vệ da khỏi ánh sáng, chống oxy hóa, làm sáng da, tẩy da chết và tái tạo bề mặt khi cần thiết Các nghiên cứu dựa trên bằng chứng cho thấy rằng các liệu pháp đầu tiên cho trị nám bao gồm bảo vệ da khỏi ánh sáng mạnh
và các chất làm sáng tại chỗ (Jutley et al.,
2014, Rivas và Pandya, 2013; Sarkar et al., 2013; Sarma et al., 2017) Ngoài ra, nhiều nghiên cứu đã đề cập đến sự an toàn và hiệu quả của lột da hóa chất và laser / ánh sáng để giảm sắc tố trong nám Các thủ tục như vậy thường được coi là phương pháp trị liệu thứ hai và thứ ba
Laser nên được sử dụng cẩn thận và thận trọng với tỷ lệ tái phát nám cao Ngoài ra, can thiệp bằng laser thường phức tạp do tăng sắc
tố sau viêm ở những người có loại da sẫm màu
Đánh giá này đề cập đến các thuốc uống và thuốc bôi mới và mới nổi để điều trị nám
Chống nắng
Chống nắng hàng ngày là chìa khóa trong việc quản lý rối loạn sắc tố lặp đi lặp lại đầy thách thức và phổ biến này Việc sử dụng kem chống nắng phổ rộng là rất cần thiết Các trường hợp nám thường được báo cáo có sự tái phát nhanh và thường xuyên sau khi tiếp xúc với tia cực tím Lakhdar et al (2007) đã đánh giá vai trò của kem chống nắng phổ rộng trong phòng ngừa và điều trị nám ở phụ nữ mang thai trong một thử nghiệm lâm sàng kéo dài 12 tháng Trong số 185 bệnh nhân hoàn
Trang 3thành nghiên cứu, chỉ có năm trường hợp
nhiễm nám mới được ghi nhận, tỷ lệ xuất hiện
là 2,7% và thấp hơn nhiều so với 53% được
quan sát trước đây trong thai kỳ
Ngoài tác động xấu của tia cực tím như là
yếu tố kích hoạt và gây tái phát, các nghiên
cứu gần đây đã cho thấy vai trò của ánh sáng
khả kiến (Duteil et al., 2014, Duteil et al.,
2017, Mahmoud et al., 2010) Ánh sáng xanh
được tìm thấy kích thích opsin-3, kích hoạt
yếu tố phiên mã liên quan đến tạo thành sắc tố
và các enzyme trong tạo thành melanin khác
như tyrosinase và dopachrom tautomersae
(Regazzetti et al., 2018) Tyrosinase và
dopachrom tạo thành một phức hợp protein
chủ yếu được tạo ra trong các tế bào
melanocytes của những người da sẫm màu
Do đó, ảnh hưởng trên thời gian dài của ánh
sáng xanh trên những người có loại da sẫm
màu được cho là gây ra sự tăng sắc tố kéo dài
ở những người có da loại III trở lên
(Regazzetti et al., 2018) Do đó, kem chống
nắng chống được ánh sáng khả kiến như loại
có oxit sắt, là cần thiết Có rất ít kem chống
nắng thêm oxit sắt có sẵn trên thị trường, các
kem chống nắng với công thức như vậy ngăn
chặn tối ưu tia cực tím và ánh sáng khả kiến
Castanedo-Cazares et al (2014) đã so sánh
tác dụng của kem chống nắng phổ rộng
(chống ánh sáng khả kiến và tia UV) với kem
chống nắng chỉ chống tia UV, cả hai đều có
yếu tố chống nắng 50 Sáu mươi tám bệnh
nhân được đưa vào nghiên cứu kéo dài trong
8 tuần (Castanedo-Cazares et al., 2014) Kem
chống nắng chỉ chống tia UV có chứa
mexoryl SX, titan dioxide, octocrylene,
Tinasorb- S và avobenzone Kem chống nắng
phổ rộng có cùng công thức thêm oxit sắt Cả
hai nhóm nhận được hydroquinone 4% mỗi
ngày Cải thiện đáng kể hơn đã được quan sát
thấy trong nhóm sử dụng kem chống nắng phổ
rộng
Trong một nghiên cứu kéo dài 6 tháng với
40 bệnh nhân, Boukari et al (2015) đã đánh
giá hiệu quả của kem chống nắng phổ rộng có
chứa oxit sắt Nhóm chứng đã sử dụng cùng
loại kem chống nắng có khả năng chống tia UVB và UVA mà không có oxit sắt Kết quả giảm đáng kể hơn về chỉ số MASI ở những bệnh nhân được điều trị bằng kem chống nắng phổ rộng Cả hai nghiên cứu đều ghi nhận tác dụng có lợi của việc bảo vệ da với ánh sáng khả kiến ở bệnh nhân bị nám
Polypodium leucotomos
Gần đây đã có nhiều quan tâm trong việc
sử dụng Polypodium leucotomos (PL) như là một thành phần chống nắng hỗ trợ trong trị nám Polypodium là một loài dương xỉ thuộc
họ Polypodiaceae, chỉ có ở Trung và Nam
Mỹ Các cơ chế hoạt động của PL bao gồm thúc đẩy hoạt động của gen ức chế p53, điều tiết các cytokine gây viêm, điều hòa hệ thống chống oxy hóa nội sinh và ức chế hoạt động của men cyclooxygenase-2 do bức xạ UV (Nestor et al., 2014, Siscovick et al., 2008) Một số nghiên cứu gần đây đã ghi nhận hiệu quả ở những bệnh nhân bị nám (Goh et al., 2018, Martin et al., 2013) Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên, có đối chứng giả dược trên 40 bệnh nhân, Martin et al (2013) đánh giá hiệu quả của PL 240 mg hai lần mỗi ngày
so với giả dược Các tác giả đã báo cáo hiệu quả có ý nghĩa thống kê của PL so với giả dược Trong một thử nghiệm mù đôi, đối chứng giả dược gần đây, Goh et al (2018) đã báo cáo hiệu quả của PL trong trị nám Bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên để uống PL 240
mg hai lần mỗi ngày hoặc giả dược trong 12 tuần Các nhóm can thiệp và giả dược cũng được điều trị bằng kem chống nắng phổ rộng
và hydroquinone 4% mỗi ngày Nhóm được điều trị bằng PL đã đạt được sự giảm đáng kể
về điểm số MASI sau 56 và 84 ngày điều trị (Goh et al., 2018)
Thuốc bôi thường dùng
Nhiều loại thuốc tại chỗ đã được sử dụng
để trị nám Trong lịch sử, hydroquinone là
tiêu chuẩn vàng Các thành phần khác bao
Trang 4gồm axit azelaic, axit kojic, retinoid,
niacinamide, corticosteroid, axit salicylic và
glycolic, arbutin, resveratrol và resorcinol
Các thành phần này và các cơ chế của chúng
được trích dẫn trong Bảng 1 (Al-Niaimi và
Chiang, 2017, Birk, 1985, Bissett, 2002, De
Caprio, 1999, Deo et al., 2013, Glowka et al.,
2018, Grimes, 1995, Grimes, 2009, Hashim et
al., 2018; Huh et al., 2010; Kang, 2005;
Keeling et al., 2008; Lajis et al., 2012,
Menter, 2004, Monteiro et al., 2013,
Navarittle-Solís et al., 2011, Niwano et al.,
2018, Nordlund và cộng sự, 2006, Olejnik và
cộng sự, 2018, Paine và cộng sự, 2001) Các
nghiên cứu dựa trên bằng chứng đã cho thấy
rằng các sản phẩm kết hợp có chứa
hydroquinone 4%, tretinoin và một steroid
cho kết quả tốt nhất (Jutley et al., 2014; Rivas
and Pandya, 2013; Sarkar, 2013; Sarma et al.,
2017) (Xem Bảng 2)
Hydroquinone được sử dụng trên toàn cầu
để trị nám (De Caprio, 1999, Grimes, 2009,
Nordlund và cộng sự, 2006, Tse, 2010), và
mặc dù được sử dụng trong hơn 60 năm, nó
vẫn là thành phần bôi tại chỗ có hiệu quả nhất
Hydroquinone ức chế tyrosinase, enzyme liên
quan việc sản xuất sắc tố, và được dung nạp
tốt ở hầu hết bệnh nhân Tác dụng phụ phổ
biến nhất là viêm da tiếp xúc
Phần lớn các thử nghiệm lâm sàng đánh giá
hiệu quả và độ an toàn của hydroquinone
không kéo dài quá 6 tháng Tuy nhiên, các bác
sĩ có quan điểm khác nhau trong việc kê đơn
hydroquinone, vì vậy không có tiêu chuẩn
điều trị chung Theo kinh nghiệm của tác giả,
hydroquinone có thể được sử dụng an toàn và
hiệu quả sau 6 tháng Tuy nhiên, kết quả tối
ưu thường đạt được tốt nhất bằng cách sử
dụng xoay vòng mỗi 6 tháng, dùng và ngưng
hydroquinone Các chất làm trắng khác
thường rất cần thiết để duy trì kết quả đạt được
khi sử dụng hydroquinone Hydroquinone
không nên được sử dụng ở phụ nữ mang thai
hoặc cho con bú
Hydroquinone đã bị cấm ở một số quốc gia
do lo ngại về biến chứng ochronosis (mảng
tăng sắc tố xám đen) và các trường hợp có thể
bị mất sắc tố Ochronosis được đặc trưng bởi lichen tăng sắc tố, đó là những sẩn giống như trứng cá xuất hiện ở vùng da được điều trị bằng hydroquinone Ochronosis được báo cáo lần đầu tiên ở Châu Phi và thường được gây
ra bởi việc sử dụng lâu dài hydroquinone nồng
độ cao với chống nắng không phù hợp (Bhattar et al., 2015, Grimes, 2009) Trái ngược với các báo cáo trường hợp phổ biến từ Châu Phi, tình trạng này không phổ biến ở Hoa Kỳ, hầu hết các trường hợp là thứ phát sau khi sử dụng lâu dài các mỹ phẩm không cần kê đơn, nồng độ thấp với 2% hydroquinone Các trường hợp mất sắc tố do hydroquinone là rất hiếm
Các mối quan tâm khác liên quan đến sự
an toàn của hydroquinone dựa trên các nghiên cứu cho thấy rằng benzen, một tác nhân gây bệnh liên quan bạch cầu được biết đến, được chuyển hóa thành hydroquinone như một sản phẩm phụ chính (Norlund et al., 2006) Các chất chuyển hóa của benzen, bao gồm hydroquinone, phenol hoặc benzoquinone, không biểu hiện khả năng và mức độ tác dụng
ức chế tuỷ xương của benzen Ngoài ra, các
cá nhân tiếp xúc với hydroquinone trong thời gian dài đã không chứng minh được có sự thay đổi hoạt động của tủy xương (De Caprio,
1999, Tse, 2010) Hydroquinone hiện đã được
sử dụng và sản xuất trong hơn 60 năm, và một nghiên cứu tài liệu cho thấy không có trường hợp ung thư da, khối u ác tính hoặc tổn thương gan liên quan đến ứng dụng hydroquinone tại chỗ để làm sáng da
Trang 5Phương pháp điều trị mới bằng đường
uống và bôi tại chỗ
Tranexamic acid
Tranexamic acid (TA), một dẫn xuất tổng
hợp của lysine, là một tác nhân tiêu sợi huyết
ngăn chặn sự chuyển đổi plasminogen thành
plasmin và do đó cản trở sự liên kết của
plasminogen với keratinocytes (Hình 1) Tác
dụng dây chuyền bao gồm giảm giải phóng
axit arachidonic và giảm tổng hợp
prostaglandin và yếu tố tăng trưởng nguyên
bào sợi Prostaglandin và yếu tố tăng trưởng
nguyên bào sợi đều kích thích tổng hợp
melanin TA cũng làm giảm tế bào mast và sự
hình thành mạch (Kim et al., 2015) Nijo
Sadako lần đầu tiên báo cáo hiệu quả của TA
vào năm 1979 ở một bệnh nhân bị nám được
điều trị bệnh mề đay mãn tính
TA hiện đang được sử dụng bằng nhiều
đường bao gồm uống, bôi tại chỗ, tiêm trong
da và lăn kim (Taraz et al., 2017) Liều uống
hiện tại thấp hơn đáng kể so với liều dùng để
điều trị bệnh máu khó đông, chảy máu kinh
nguyệt nặng hoặc các tình trạng xuất huyết
khác Trung bình, liều dùng để trị nám là trung
bình 250 mg hai lần mỗi ngày so với 3900 mg
mỗi ngày đối với một số bệnh lý chảy máu
(Taraz et al., 2017) Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận hiệu quả của TA ở bệnh nhân bị nám (Banihashemi et al., 2015, Del Rosario et al.,
2018, Ebrahimi và Naeini, 2014; Kim et al., 2017; Lee et al., 2016, Na et al., 2013, Perper
và cộng sự, 2017, Wu và cộng sự, 2012)
TA đã được sử dụng chủ yếu ở bệnh nhân châu Á và gần đây đã được đánh giá trong một nhóm bệnh nhân ở Hoa Kỳ Del Rosario và cộng sự (2018) đánh giá hiệu quả của TA 250
mg hai lần mỗi ngày so với giả dược trong nghiên cứu 3 tháng, sau đó chỉ là 3 tháng dùng kem chống nắng Ba mươi chín bệnh nhân đã hoàn thành thử nghiệm Sau 3 tháng, đã giảm 49% điểm số MASI so với 18% đối với nhóm kiểm soát giả dược Không có tác dụng phụ nghiêm trọng nào được báo cáo (Del Rosario
et al., 2018)
Nghiên cứu hồi cứu lớn nhất về dùng TA trong điều trị được thực hiện tại Singapore Các tác giả đã xem xét dữ liệu từ 561 bệnh nhân bị nám được điều trị bằng TA và sự cải thiện được ghi nhận ở 90% bệnh nhân Các tác dụng phụ đã được báo cáo ở 40 bệnh nhân (7,1%) và hầu hết các tác dụng phụ đều nhẹ Tuy nhiên, một bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch sâu và sau đó được phát hiện bị thiếu protein S di truyền Một người có tiền sử sẩy
Trang 6thai tự phát và hai chị em có tiền sử về các vấn
đề huyết khối di truyền (Lee et al., 2016)
Những lo ngại chung kéo dài liên quan đến
sự an toàn được đưa ra do TA có xu hướng
gây ra hiện tượng huyết khối Do đó, TA
chống chỉ định ở những bệnh nhân bị rối loạn
đông máu hoặc có tiền sử huyết khối tắc mạch
(Kim et al., 2017) Tác dụng phụ chính trong
các thử nghiệm lâm sàng trị nám hiếm khi
được báo cáo Các tác dụng phụ khác liên
quan đến sử dụng TA bao gồm khó chịu
đường tiêu hóa nhẹ, giảm máu trong kinh
nguyệt, phát ban da dị ứng, rụng tóc và tăng
nhẹ nồng độ transaminase alanine TA đường
uống phải được kê toa cẩn thận và thận trọng
Một tiền sử chi tiết nên được kiểm tra cho mỗi
bệnh nhân để loại trừ các cá nhân có nguy cơ
biến chứng không lường trước được
Một số nghiên cứu đã đề cập đến hiệu quả
và sự an toàn của TA bôi tại chỗ
(Banihashemi et al., 2015, Ebrahimi và
Naeini, 2014, Kim et al., 2016) Trong một
thử nghiệm kéo dài 12 tuần, chia đôi mặt,
Banihashemi et al (2015) đã so sánh hiệu quả
của sản phẩm TA 5% với hydroquinone 4%
Cả hai phương pháp điều trị đều cho thấy sự
cải thiện lâm sàng đáng kể mà không có sự
khác biệt đáng kể giữa hai nhóm, điều này cho
thấy hiệu quả tương đương
Trong một nghiên cứu chia đôi mặt, TA
3% được áp dụng cho một bên mặt và hỗn hợp
gồm hydroquinone 2%, dexamethasone
0,01% và vitamin C ở phía đối diện Cả hai
công thức đều cho thấy sự cải thiện đáng kể,
điều này cho thấy hiệu quả tại chỗ tương tự
đối với các công thức dựa trên hydroquinone
(Ebrahimi và Naeini, 2014) Các tác dụng phụ
tại chỗ bao gồm ban đỏ, vảy, kích ứng và khô
(Banihashemi et al., 2015, Ebrahimi và
Naeini, 2014, Kim et al., 2016)
Melatonin
Hormone melatonin, được tiết ra bởi tuyến
tùng, là một chất chống oxy hóa và thu gom
các gốc tự do mạnh, kích thích một số enzyme
chống oxy hóa, bao gồm superoxide effutase,
glutathione reductase và glutathione
peroxidase Melatonin cũng ức chế các thụ thể
hormone kích thích α-melanocyte Melatonin uống và bôi tại chỗ được đánh giá trong 36 bệnh nhân bị nám và 10 người khỏe mạnh làm nhóm chứng Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành một số nhóm, bao gồm chỉ bôi melatonin tại chỗ, bôi melatonin kết hợp chống nắng, phối hợp bôi tại chỗ và uống melatonin kết hợp hydroquinone 4% trong 90 ngày Sau 90 ngày, tất cả các bệnh nhân bị nám đã chứng minh giảm đáng kể điểm số MASI Ngoài ra, malondialdehyd giảm, là thước đo của stress oxy hóa, và nồng độ glutathione (GSH) tăng và cho thấy sự cải thiện đáng kể trong stress oxy hóa Những kết quả này cũng cho thấy cần thêm các nghiên cứu bổ sung để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của melatonin ở bệnh nhân bị nám được đảm bảo (Hamadi et al., 2009l Ryoo et al.,
2001)
Glutathione
GSH là một trong những chất chống oxy hóa nội sinh mạnh nhất được sản xuất bởi các
tế bào trong cơ thể con người và là một tripeptide của glutamate, cysteine và glycine Các cơ chế gây ra làm sáng da bao gồm ức chế tyrosinase và chuyển đổi sản xuất eumelanin thành pheomelanin Gần đây đã có rất nhiều công bố liên quan đến việc sử dụng GSH tiêm tĩnh mạch để làm sáng da (Sonthalia et al., 2016) Nhiều bài báo đã được công bố trên báo chí về việc sử dụng GSH cho nhiều loại bệnh bao gồm nám Sử dụng GSH tiêm tĩnh mạch có liên quan đến các phản ứng đe dọa tính mạng nghiêm trọng bao gồm hội chứng Stevens-Johnson và sốc phản vệ
Một số nghiên cứu đã đánh giá GSH đường uống và bôi tại chỗ để làm sáng da Trong một nghiên cứu kéo dài 8 tuần, Handog et al (2016) đã điều trị cho 30 phụ nữ Philippines khỏe mạnh với viên uống glutathione 500mg Chỉ số melanin cho thấy sự giảm đáng kể và các đánh giá cho thấy kết quả làm sáng da mức độ trung bình ở 90% đối tượng (Handog
et al., 2016) Một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, chia nửa mặt, dùng glutathione 2% bôi tại chỗ được đánh giá trong 10 tuần, trong đó GSH được áp dụng cho một bên và giả dược
Trang 7ở phía đối diện Chỉ số melanin đã giảm đáng
kể ở bên được điều trị bằng GSH (Watanabe
và cộng sự, 2014) GSH uống và bôi tại chỗ
được dung nạp tốt không có tác dụng phụ
nghiêm trọng Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu thêm về GSH đường uống và bôi tại chỗ trong điều trị nám
Các thành phần bôi tại chỗ mới
Cysteamine
Cysteamine hydrochloride (ß,
mercaptoethylanine hydrochloride) được sản
xuất tự nhiên trong cơ thể người và là sản
phẩm thoái hóa của axit amin L-cysteine
Cysteamine cũng là một chất bảo vệ bức xạ
bảo vệ các tế bào khỏi đột biến gen và chết tế
bào của bức xạ ion hóa thông qua việc thu dọn
các gốc hdroxyl (Besouw et al., 2013)
Gần đây, một số nghiên cứu đã ghi nhận
hiệu quả của cysteamine ở bệnh nhân bị nám
Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi ở
40 bệnh nhân, sự cải thiện đáng kể các tổn
thương nám đã được quan sát so với những
bệnh nhân được điều trị bằng giả dược
Mansouri et al (2015) đánh giá hiệu quả của
5% cysteamine ở 50 bệnh nhân bị nám
Cysteamine gây ra sự giảm đáng kể về điểm
số MASI sau 16 tuần so với giả dược
Serum ức chế sắc tố
Serum ức chế sắc tố gần đây đã được điều chỉnh để can thiệp vào nhiều cơ chế liên quan đến việc gây ra tăng sắc tố Những cơ chế này bao gồm kích hoạt melanocyte, phát triển melanosome, tổng hợp melanin, chuyển melanosome, biệt hóa và bong tróc tế bào keratinocyte Serum điều chỉnh sắc tố có chứa
TA, tetrapeptide, chiết xuất sinh vật phù du, niacinamide, phenylethyl resorcinol và undecylenol phenylalanine Trong một thử nghiệm so sánh ngẫu nhiên, mù đôi ở 43 bệnh nhân, serum điều chỉnh sắc tố được so sánh với hydroquinone 4% và cho thấy hiệu quả tương đương với hydroquinone ở những bệnh nhân bị nám và tăng sắc tố sau viêm (Makino
et al., 2016)
Trang 9Methimazole
Methimazole là một loại thuốc kháng giáp
đường uống được sử dụng để điều trị cho bệnh
nhân cường giáp và đã được chứng minh là
gây ra sự mất sắc tố khi áp dụng tại chỗ
Methimazole đã được sử dụng ở những bệnh
nhân bị nám và tăng sắc tố sau viêm và làm
sáng da đáng kể Methimazole là một chất ức
chế peroxidase mạnh ngăn chặn sự tổng hợp
melanin Các nghiên cứu về hấp thu
methimazole 5% bôi tại chỗ cho thấy nồng độ
huyết thanh được phát hiện tối thiểu và không
có bất thường trong xét nghiệm chức năng
tuyến giáp (Kasraee et al., 2005, Kasraee et
al., 2008) Methimazole 5% được áp dụng
hàng ngày ở 20 bệnh nhân bị nám biểu bì và
không gây ra bất kỳ thay đổi đáng kể nào của
hormone tuyến giáp trong huyết thanh,
thyroxine tự do và nồng độ triiodothyronine
tự do Methimazole được dung nạp tốt với tác
dụng phụ tối thiểu ở da Tuy nhiên, Kasraee
et al (2008) khuyến cáo rằng methimazole chỉ
được áp dụng cho các khu vực bị ảnh hưởng
bởi nám và không nên được sử dụng như một
chất làm sáng da trong thẩm mỹ nói chung
Flutamide
Một bài báo gần đây đã đánh giá hiệu quả
của flutamide tại chỗ ở bệnh nhân bị nám
Flutamide là một loại đối kháng androgen
không steroid ngăn chặn hoạt động của
testosterone nội sinh và ngoại sinh bằng cách
liên kết với thụ thể androgen Bảy mươi bốn
phụ nữ đã được tham gia vào một thử nghiệm
16 tuần, ngẫu nhiên, so sánh flutamide 1% với
hydroquinone 4% bôi một lần mỗi ngày Vấn
đề tăng sắc tố da được cải thiện, kết quả của
điểm số MASI và thang màu cho thấy hiệu
quả tương tự đối với flutamide và
hydroquinone 4% Tuy nhiên, điểm hài lòng
của bệnh nhân cao hơn đáng kể trong nhóm
flutamide (Adalatkhah và Sadeghi-Bazargani,
2015)
Kết luận
Nám vẫn là một bệnh lý mãn tính, đầy
thách thức về mặt điều trị và tình trạng tái phát
phổ biến Rối loạn sắc tố gây ảnh hưởng nặng
về tâm lý này nên được điều trị bằng phương pháp đa phương thức kết hợp các biện pháp chống nắng bảo vệ da, chống oxy hóa, làm sáng da, tẩy da chết và tái tạo bề mặt da trong trường hợp nặng Có rất nhiều các biện pháp điều trị mới bằng đường uống, bôi tại chỗ và kết hợp cho nám đã được phổ biến để mở rộng danh mục điều trị và đồng thời có các thử nghiệm bổ sung để chứng minh tính hiệu quả
và an toàn của chúng
Tài liệu tham khảo
Adalatkhah H., Pourfarzi F., Sadeghi-Bazargani H Flutamide versus a cyproterone acetate-ethinyl estradiol combination in moderate acne: a pilot randomized clinical trial Clin Cosmet Investig Dermatol 2011;4:117.[PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]
Adalatkhah H., Sadeghi-Bazargani H The first clinical experience on efficacy of topical flutamide on melasma compared with topical hydroquinone: A randomized clinical trial Drug design, development and therapy Drug Des Devel
Ther 2015;9:4219–4225 [PMC free article][PubMed] [Google Scholar]
Al-Niaimi F., Chiang N.Y.Z Topical vitamin C and the skin: Mechanisms of action and clinical applications J Clin Aesthet Dermatol 2017;10(7):14–
17 [PMC free article][PubMed] [Google Scholar]
Balkrishnan R., McMichael A.J., Camacho F.T., Saltzberg F., Housman T.S., Grummer S Development and validation
of a health-related quality of life instrument for women with melasma Br
J Dermatol 2003;149(3):572–
577.[PubMed] [Google Scholar]
Trang 10Besouw M., Masereeuw R., van den Heuvel
L., Levtchenko E Cysteamine: An old
drug with new potential Drug Discov
Today 2013;18(15-16):785–
792 [PubMed] [Google Scholar]
Bhattar P.A., Zawar V.P., Godse K.V., Patil
S.P., Nadkarni N.J., Gautam M.M
Exogenous ochronosis Indian J
Dermatol 2015;60(6):537–543 [PMC
free article][PubMed] [Google Scholar]
Birk Y The Bowman-Birk inhibitor
Trypsin- and chymotrypsin-inhibitor
from soybeans Int J Pept Protein
Res 1985;25(2):113–
131 [PubMed] [Google Scholar]
Bissett D Topical niacinamide and barrier
enhancement Cutis 2002;70:8–
12 [PubMed] [Google Scholar]
Boukari F., Jourdan E., Fontas E., Montaudié
H., Castela E., Lacour J.P Prevention of
melasma relapses with sunscreen
combining protection against UV and
short wavelengths of visible light: A
prospective randomized comparative
trial J Am Acad
Dermatol 2015;72(1):189–190 e1
[PubMed] [Google Scholar]
Castanedo-Cazares J.P., Hernandez-Blanco
D., Carlos-Ortega B., Fuentes-Ahumada
C., Torres-Álvarez B Visible-light
photoprotection in
melasma Photodermatol Photoimmunol
Photomed 2014;30(1):35–
42 [PubMed] [Google Scholar]
De Caprio A.P The toxicology of
hydroquinone-relevance to occupational
and environmental exposure Crit Rev
Toxicol 1999;29:283–
330 [PubMed] [Google Scholar]
Del Rosario E., Florez-Pollack S., Zapata L., Jr., Hernandez K., Tovar-Garza A., Rodrigues M Randomized, placebo-controlled, double-blind study of oral tranexamic acid in the treatment of moderate to severe melasma J Am Acad Dermatol 2018;78(2):363–
369 [PubMed] [Google Scholar]
Deo K.S., Dash K.N., Sharma Y.K., Virmani N.C., Oberai C Kojic acid vis-a-vis its combinations with hydroquinone and betamethasone valerate in melasma: A randomized, single blind, comparative study of efficacy and safety Indian J Dermatol 2013;58(4):281–285 [PMC free article][PubMed] [Google Scholar] Ebrahimi B., Naeini F.F Topical tranexamic acid as a promising treatment for
melasma J Res Med Sci 2014;19(8):753–757 [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]
Duteil L., Cardot-Leccia N., Queille-Roussel C., Maubert Y., Harmelin Y., Boukari
F Differences in visible light-induced pigmentation according to wavelengths:
A clinical and histological study in comparison with UVB
exposure Pigment Cell Melanoma Res 2014;27(5):822–
826.[PubMed] [Google Scholar]
Duteil L., Esdaile J., Maubert Y., Cathelineau A.C., Bouloc A., Queille-Roussel C A method to assess the protective efficacy of sunscreens against visible light-induced
pigmentation Photodermatol Photoimmunol
Photomed 2017;33(5):260–
266 [PubMed] [Google Scholar]
George A Tranexamic acid: An emerging depigmenting agent Pigment
Int 2016;3(2):66–71 [Google Scholar]