Những người giàu do họ có điều kiện kinh tế tốt hơn nên khả năng chống chịu của họ với chiến tranh cao hơn, trong khi những người nghèo có thể bị chiến tranh cướp đi cơ hội việc làm cũng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Tài liệu giảng dạy
HÓA GIÀU NGHÈO
ThS PHẠM HUỲNH THANH VÂN
AN GIANG, THÁNG 01 NĂM 2016
Trang 2Các khái niệm
Phân hóa giàu nghèo: là một hiện tượng xã hội phản ánh quá trình phân chia xã hội
thành các nhóm xã hội có điều kiện kinh tế và chất lượng sống khác biệt nhau; là sự phân tầng xã hội chủ yếu về mặt kinh tế, thể hiện sự chênh lệch giữa các nhóm này về tài sản, thu nhập, mức sống
Xóa đói giảm nghèo: là quá trình tìm cách giảm mức độ nghèo đói trong một cộng đồng,
giữa một nhóm người hay một quốc gia Chương trình giảm nghèo có thể vì mục tiêu kinh tế hay phi kinh tế và một số phương pháp phổ biến được sử dụng là giáo dục, phát triển kinh tế và tái phân phối thu nhập Các nỗ lực giảm nghèo cũng có thể nhằm mục đích loại bỏ các rào cản xã hội và pháp lý để tăng thu nhập cho người nghèo
ỷ lệ hộ nghèo: là phần trăm hộ dân cư có mức thu nhập thực tế bình quân đầu người
thấp hơn chuẩn nghèo trong năm xác định trong tổng số hộ dân cư
ộ thoát nghèo: là hộ nghèo nhưng do được hỗ trợ các chính sách, dự án giảm nghèo
nhưng qua rà soát có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo được UBND cấp xã xét ra khỏi danh sách hộ nghèo và được cấp xã công nhận
ộ tái nghèo: là hộ nghèo đã được công nhận là thoát nghèo nhưng do những tác động
khách quan, chủ quan nên thu nhập có khả năng giảm xuống thấp hơn chuẩn nghèo
ộ nghèo mới: là những hộ không thuộc danh sách hộ nghèo, hộ mới tách, hộ mới di
chuyển từ nơi khác đến qua quá trình rà soát có thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo và được thôn/bản xét đưa vào danh sách hộ nghèo và được UBND cấp xã công nhận ( Bộ LĐTB -
XH, 2007)
An sinh xã hội: là hệ thống các chương trình, chính sách mà nhà Nước, cộng đồng và xã
hội tiến hành để giúp đỡ người dân thoát nghèo và giảm thiểu những rủi ro về kinh tế
ệ số GINI: Hệ số Gini dùng để biểu thị độ
bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Nó có
giá trị từ 0 đến 1 và bằng tỷ số giữa phần diện
tích nằm giữa đường cong Lorenz và đường
bình đẳng tuyệt đối với phần diện tích nằm
dưới đường bình đẳng tuyệt đối
Hệ số này được phát triển bởi nhà thống kê
học người Ý Corrado Gini và được chính thức
công bố trong bài viết năm 1912 Hệ số Gini
thường được sử dụng để biểu thị mức độ bất
bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các
tầng lớp cư dân Số 0 tượng trưng cho sự bình
đẳng thu nhập tuyệt đối (mọi người đều có
cùng một mức thu nhập), số 1 tượng trưng cho sự bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối (một người có toàn bộ thu nhập, trong khi tất cả mọi người khác không có thu nhập)
Trang 3Chương 1: NGUỒN GỐC, NGUYÊN N ÂN VÀ ÌN ÌN
ÂN ÓA GIÀU NG ÈO IỆN NAY
1.1 Phân hóa giàu nghèo (PHGN) là gì?
Sự phân hóa xã hội xuất hiện khi có sự tồn tại của các nhóm cư dân khác nhau về địa vị
xã hội và tài sản trong quá trình tan rã của xã hội nguyên thuỷ Sự phân hóa xã hội thường đi đôi với phân hóa giàu nghèo Khi một số người có nhiều của cải, họ có điều kiện để vươn lên địa vị cao trong xã hội, và một khi đã có địa vị cao trong xã hội thì lại
có điều kiện để tích luỹ của cải, nhiều hơn nữa
Như vậy, phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng xã hội phản ánh quá trình phân chia xã hội thành các nhóm xã hội có điều kiện kinh tế và chất lượng sống khác biệt nhau, là sự phân tầng xã hội thể hiện sự chênh lệch giữa các nhóm giàu và nhóm nghèo về tài sản, thu nhập, mức sống
Trong quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế kém phát triển sang nền kinh tế thị trường,
xu hướng biến động của cơ cấu xã hội ở nước ta hiện nay, ngày càng trở nên rõ nét.Từ thực trạng đó, đã có một số luận điểm có quan hệ đến quan niệm sự phân hoá giàu nghèo + PHGN gắn liền với bất bình đẳng xã hội và phân công lao động
+ PHGN giàu nghèo là sự phân cực về kinh tế
+ PHGN là kết quả tất yếu của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế và đến lượt mình sự phân hoá đó lại trở thành nguyên nhân kìm hãm sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
+ PHGN là một hiện tượng xã hội phản ánh quá trình phân chia xã hội thành các nhóm xã hội có điều kiện kinh tế khác biệt nhau PHGN là phân tầng xã hội về mặt kinh tế, thể hiện trong xã hội có nhóm giàu tầng đỉnh, nhóm nghèo tầng đáy Giữa nhóm giàu và nhóm nghèo là khoảng cách về thu nhập và mức sống
1.2 Nguồn gốc của sự phân hóa giàu nghèo
Trong giai đoạn tan rã của xã hội nguyên thuỷ còn thịnh hành tập tục phân phối bình quân, nên một phần của cải thừa được dùng làm quà tặng và ăn uống Điều này làm cho người có của cải thừa có uy tín trong xã hội Cơ sở kinh tế của sự PHGN là sự xuất hiện đều đặn lúc đầu là của cải thừa, sau là sản phẩm thặng dư Điều này cho phép những người cầm đầu trong xã hội (tù trưởng bộ lạc, thủ lĩnh quân sự, người cầm đầu tôn giáo), tích luỹ của cải riêng để trở thành tầng lớp trên của xã hội
Về tổ chức xã hội, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, sự phân công lao động xã hội giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, sự trao đổi sản phẩm và các nguyên liệu giữa các địa phương ngày càng mở rộng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng thêm nguồn của cải xã hội Sản phẩm thừa xuất hiện ngày càng nhiều hơn, đã tạo nên cơ sở cho sự phân hoá xã hội Những của cải chung của xã hội (do lao động công ích, do thu nhập từ ruộng đất công cộng) dần dần bị một số người tìm cách chiếm đoạt biến thành của riêng Chế độ
tư hữu tài sản ra đời và ngày càng phát triển theo sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời cũng dẫn đến một chuyển biến xã hội quan trọng là xã hội phân hóa thành kẻ giàu, người nghèo
Tóm lại, PHGN là một hiện tượng kinh tế- xã hội xuất hiện trong quá trình tan rã của các công xã nguyên thủy Trong điều kiện kinh tế tự cung tự cấp PHGN diễn ra trong phạm
Trang 4vi từng cộng đồng với mức độ hạn chế, sự cách biệt chưa lớn Trên phạm vi toàn xã hội, PHGN thường gắn liền với bạo lực và quyền uy Trong nền sản xuất hàng hóa, sản xuất
và đời sống của mỗi cá nhân và hộ gia đình trong xã hội là khác nhau Điều đó do có sự khác biệt về thể chất, năng lực, điều kiện sản xuất… Dưới tác động của các quy luật kinh
tế, con người tham gia vào quá trình phân công lao động xã hội khác nhau nên có mức thu nhập khác nhau, mức độ giàu nghèo cũng khác nhau Từ đó, quá trình PHGN đã diễn
ra
3 Nguyên nhân gây phân hóa giàu nghèo
PHGN thường được gây ra bởi các nguyên nhân chính trị, kinh tế, xã hội, tùy mỗi điều kiện mà các nguyên nhân này có mức độ ảnh hưởng khác nhau
+ Cơ cấu chính trị (thí dụ như chế độ độc tài, các quy định thương mại quốc tế không
công bằng: bảo hộ, cạnh tranh không lành mạnh…)
+ Cơ cấu kinh tế (phân bố thu nhập không cân bằng, tham nhũng, nợ quá nhiều, nền kinh
tế không có hiệu quả, thiếu những nguồn lực có thể trả tiền được) Thêm vào đó, vấn đề thất nghiệp và thiếu việc làm: yếu tố nguy hiểm chính cho sự phân hóa giàu nghèo là trong khi chi phí sinh hoạt ngày càng đắt đỏ và cơ hội việc làm của người giàu lại cao hơn người nghèo
+ Các nguyên nhân xã hội: Các quốc gia tụt hậu về công nghệ, tụt hậu về giáo dục,
thiên tai, dịch bệnh, dân số phát triển quá nhanh và không có bình đẳng nam nữ (nữ giới không được đi học, không được đối xử bình đẳng trong công việc và thường phải làm những việc có thu nhập thấp )
Ngoài ra còn do ảnh hưởng của chiến tranh: ở những nước nghèo, nước có điều kiện phát triển kinh tế khó khăn nên khi có chiến tranh xảy ra thì cơ hội phát triển kinh tế lại càng
bị thu hẹp do phải tốn chi phí cho chiến tranh Những người giàu do họ có điều kiện kinh
tế tốt hơn nên khả năng chống chịu của họ với chiến tranh cao hơn, trong khi những người nghèo có thể bị chiến tranh cướp đi cơ hội việc làm cũng như tác động lớn đến đời sống của họ do phải tốn chi phí cho sinh hoạt hàng ngày trong khi không tìm được việc làm Do vậy, có thể nói chiến tranh làm cho tình trạng phân hóa giàu nghèo diễn ra gay
- Nguyên nhân thứ hai là do ảnh hưởng từ quá trình chuyển đổi sở hữu nhà nước sang tập thể dưới hình thức cổ phần hóa, mà thực chất là tư nhân hóa, đã dẫn đến tình trạng quyền lợi kinh tế thường rơi vào tay những người có chức quyền nhưng lại thiếu trách nhiệm với xã hội Họ là những người nắm thông tin, lợi dụng quá trình chuyển hóa từ công hữu sang tư hữu ấy để nắm giữ nhiều cổ phần, cổ phiếu trong các doanh nghiệp, thu vén những nguồn tài nguyên sẵn có, và từ đó họ càng có điều kiện để tích lũy, làm giàu
Trang 5- Nguyên nhân thứ ba là do ảnh hưởng của cơ chế thị trường, mà về lý thuyết là mang lại
cơ hội cho tất cả mọi người, nhưng trong thực tế chỉ một số ít người có khả năng nắm lấy được thời cơ Người khôn ngoan, hiểu biết về kinh doanh, nhìn thấy và nắm bắt cơ hội rồi làm giàu nhờ cơ chế thị trường Đó là những người được xã hội tôn trọng vì làm giàu chính đáng và tạo điều kiện cho nhiều người lao động có thu nhập khá để thoát nghèo
- Nguyên nhân nữa là tình trạng tham nhũng đã tạo ra một lớp người giàu có nhờ lạm dụng chức quyền Và khi có tiền họ lại có nhiều ưu thế cũng như biết cách làm sinh lợi từ
độ tăng trưởng nhanh nhất lại là những nước có sự phân hóa giàu nghèo mạnh nhất
Hình 1: Gia tăng bất bình đẳng trên thế giới
Châu Á
Châu Á được xem là nơi tăng trưởng nhanh nhất trong 25 năm qua nhưng vẫn còn một
nửa dân số có mức sống chỉ bằng hoặc dưới 2 USD mỗi ngày Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), 2/3 số người nghèo nhất thế giới đang sinh sống tại Châu Á, tương đương 700 triệu người, với thu nhập chưa đến 1 USD/ngày Theo Ngân hàng Thế giới (WB), tổng số người nghèo ở châu Á hiện khoảng 1,9 tỉ người, trong khi số những người giàu có tài sản trên 1 triệu USD (không tính đến dinh thự chính của họ) đã tăng 8,3% trong năm 2006, đạt 9,5 triệu người Theo bản báo cáo về sự giàu có trên thế giới, số người có tài sản ít nhất là 1 triệu USD ở Ấn Độ đã tăng 20,5% trong năm 2006, lên tới
100.015 người (Lê Tây Sơn, 2010)
Tại Trung Quốc, nền kinh tế vừa vươn lên vị trí thứ hai thế giới, nhưng Trung Quốc có thể coi là một trong những quốc gia có khoảng cách giàu nghèo lớn Khoảng cách giàu nghèo ở Trung Quốc được cho là cao hơn cả Mỹ, với chỉ số bất bình đẳng ở mức 0,47 (chỉ số Gini với mức 0 là hoàn toàn bình đẳng, và mức 1 là cực kỳ bất bình đẳng) Thu nhập bình quân của cư dân thành thị đã tăng 55 lần và thu nhập bình quân đầu người của
cư dân nông thôn tăng gần 43 lần Tuy nhiên, cùng với những tín hiệu đáng mừng này, khoảng cách giữa nhóm có thu nhập cao nhất và thu nhập thấp nhất lại ngày càng giãn ra Khoảng 50,3% dân số Trung Quốc (khoảng 674 triệu người) sống ở khu vực nông thôn,
Trang 6có thu nhập trung bình trong năm 2010 ở mức 898 đô la/người, chưa bằng một phần ba mức thu nhập trung bình của người sống ở khu vực thành thị (2.900 đô la/người)
Ấn Độ, một đầu tàu tăng trưởng khác của châu Á, cũng không tránh khỏi tình trạng khoảng cách giàu nghèo ngày càng giãn ra Trong khi nền kinh tế luôn tăng trưởng trên dưới 9%, Ấn Độ vẫn còn hơn 700 triệu người sống dưới chuẩn nghèo 2USD/ngày, và 420 triệu người ở mức cực kỳ nghèo
Châu Âu và Châu Mỹ
Sự phân hóa giàu nghèo, thể hiện qua mất cân đối trong phân phối thu nhập cũng gia tăng tại các nền kinh tế Nam Mỹ Theo báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Chilê và Mêxicô là hai nước có khoảng cách thu nhập lớn nhất, với thu nhập của người giàu tăng 25 lần so với thu nhập của người nghèo Số người nghèo ở khu vực Nam Mỹ cũng tăng lên mức kỷ lục trong năm 2010 là 19,1 triệu người, chiếm 16,9% dân
số toàn khu vực
Các nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới như Mỹ và châu Âu cũng đau đầu giải bài toán thu hẹp khoảng cách giàu nghèo Báo cáo của OECD mới đây cũng cho biết, khoảng cách giàu nghèo đang ngày càng rõ nét và đang ở ngưỡng cao nhất trong vòng 30 năm qua
Nguyên nhân chủ yếu là do tình hình suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính thời gian qua đã đẩy hàng triệu người vào cảnh khốn cùng Chỉ riêng ở Mỹ, nền kinh tế lớn nhất thế giới, số liệu thống kê cho thấy năm 2010 là năm thứ ba liên tiếp tỷ lệ người nghèo tăng Năm 2010, 46,2 triệu người Mỹ sống dưới ngưỡng đói nghèo, có nghĩa là cứ 6,5 người dân Mỹ thì có một người nghèo, mức cao nhất kể từ năm 1959 trở lại đây Số gia đình thuộc diện nghèo cũng tăng lên mức 9,2 triệu hộ năm 2010 Thống kê cho thấy 1% dân số là người giàu ở Mỹ đã chiếm tới 25% GDP (GDP năm 2010 vào khoảng 14,5 nghìn tỷ đô la), và chỉ 0,01% số nhà giàu cũng đã chiếm tới 5% GDP
1.4.2 Tình hình phân hóa giàu nghèo ở nước ta
Tỷ lệ hộ nghèo
Tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước năm 2010 là 10,7% giảm so với năm 2008 là 13,4% nhưng tính theo chuẩn nghèo mới thì tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước năm 2010 là 14,2%, Sự gia tăng của tỷ lệ hộ nghèo đã làm khoảng cách giàu nghèo ở nước ta ngày càng tăng và không chỉ giữa đô thị và nông thôn, mà ngay trong các vùng quê, chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn Kết quả điều tra hộ gia đình nông thôn năm 2010 tại 12 tỉnh trên cả nước của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, vừa công bố cũng cho thấy ngay trong những gia đình nông thôn, giãn cách giàu nghèo ngày càng rộng
Trang 7(*): Tính theo chuẩn nghèo mới
(Nguồn: Niên giám thống kê 2009, Nxb Thống kê, 2010)
Hình 2: ỷ lệ hộ nghèo chia theo vùng
Ở ĐBSCL tỷ số hộ nghèo năm 2010 (*) là 12,6% Trong các tỉnh ở ĐBSCL thì Trà Vinh
là tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất 23,2% vì nơi đây có nhiều đồng bào dân tộc Khmer sinh sống và tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất là ở Cần Thơ 7,2% Tại tỉnh An Giang tỷ lệ này vào năm 2010(*) là 9,2%
(*): Tính theo chuẩn nghèo mới
Trang 8Hình 3: ỷ lệ hộ nghèo chia theo vùng ở ĐBSCL
Khoảng cách giàu nghèo
Khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam có chiều hướng gia tăng so với tất cả các vùng trong cả nước Năm 2010 với chỉ số bất bình đẳng ở mức trung bình cho cả nước là 0,433, tại các vùng thành thị là 0,402 và vùng nông thôn là 0,395 Chỉ số này ở vùng ĐBSCL là 0.398 cao hơn so với năm 2008 là 0.395
(Nguồn: Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, 2010)
Hình 4: ệ số Ghini phân theo vùng ở Việtnam
Công cuộc đổi mới của Việt Nam đã trực tiếp cải thiện đời sống của nhân dân ở cả thành thị và nông thôn Điều này thể hiện rõ ràng qua mức thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng trên phạm vi cả nước Mức thu nhập bình quân đầu người Việt Nam tăng từ 356,1 nghìn đồng.tháng-1 vào năm 2002 lên 1387,2 nghìn đồng.tháng-1 năm 2010 Trong cùng thời kỳ này mức thu nhập bình quân đầu người ở thành thị tăng từ 622,1 nghìn đồng lên 2129,7 nghìn đồng và ở nông thôn tăng từ 275,1 nghìn lên 1070,5 nghìn đồng (Hình 5)
Theo kết quả cuộc khảo sát mức sống hộ dân cư của tổng cục thống kê năm 2010, cho thấy chênh lệch giàu nghèo tại Việt Nam lên tới 9,2 lần khoảng cách này đã giãn ra so với mức 8,9 lần giữa nhóm giàu nhất và nghèo nhất được khảo sát hồi năm 2008 Về chi tiêu, nhóm hộ giàu nhất có mức chi tiêu hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ngoài ăn uống lớn gấp 7,5 lần so với nhóm hộ nghèo nhất Trong đó, chi về nhà ở, điện nước, vệ sinh gấp 11,7 lần; chi thiết bị vệ sinh và đồ dùng gia đình gấp 5,8 lần, đặc biệt chi cho văn hóa thể thao giải trí gấp 131 lần.(Nhật Anh, 2011)
Hình 5 cho thấy trong khi thu nhập bình quân của người Việt Nam đạt 1,387 triệu đồng.người.tháng-2, trong đó nhóm nghèo nhất mỗi tháng một người chỉ thu nhập 369.000 đồng, còn thu nhập trung bình của nhóm giàu nhất lên tới trên 3,4 triệu đồng Khoảng cách này đang giãn ra ngày càng rộng Và theo số liệu mới nhất do Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng công bố, năm 2011 xuất khẩu của Việt Nam đạt 96 tỉ USD, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã vượt mức 200 tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người 1.300 USD.năm-1 (2.253 triệu đồng/tháng tăng 866 nghìn đồng so với năm 2010)
Trang 9(Nguồn: Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, 2010)
Hình 5: hu nhập bình quân nhân khẩu phân chia theo tháng và theo vùng
Mặc dù mức sống của người dân đều được cải thiện nhưng chênh lệch giàu nghèo vẫn xảy ra và, hộ gia đình nghèo và các cụm dân cư nghèo ở cả thành thị và nông thôn Chi tiêu của một người ở vùng thành thị năm 2010 là 1,019 triệu đồng/ tháng và vùng nông thôn là 596 nghìn đồng/tháng, một con số chênh lệch rất lớn giữa mức chi tiêu của người dân thành thị và người dân ở nông thôn (Niên giám thống kê, 2010)
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường, chênh lệch giàu nghèo là tất yếu PHGN đã góp phần khơi dậy tính năng động trong con người ở nhiều nhóm xã hội, kích thích họ tìm kiếm và khai thác cơ may, vận hội để phát triển vượt lên Kích thích sự sáng tạo của con người, nhằm tạo môi trường cạnh tranh quyết liệt, qua đó sàng lọc và tuyển chọn những thành viên vượt trội, tạo động lực cho sự phát triển của mỗi ngành nghề, mỗi lĩnh vực hay mỗi địa phương
Nhưng sự chênh lệch giàu nghèo phản ánh sự bất bình đẳng trong xã hội ngày càng tăng
Đó là sự cách biệt giữa người giàu và người nghèo ngày càng rộng Những người giàu ngày càng có cơ hội phát triển do có những điều kiện về vốn và kỹ thuật còn người nghèo phải làm thuê và bị bóc lột Họ rất ít có cơ hội tiếp cận và được đảm bảo những điều kiện sống cơ bản, tối thiểu Một mặt vì họ quá nghèo không đủ tài chính trang bị vốn, tri thức, kĩ thuật mặt khác trong cơ chế thị trường hoạt động dịch vụ cơ bản có xu hướng phục vụ người giàu là chính Ở góc độ nào đó, đây là nguyên nhân đào sâu mâu thuẫn giữa các giai tầng trong xã hội Cần phải đưa ra các giải pháp chiến lược như nâng cao năng lực cho người lao động để họ có thể cạnh tranh thắng lợi, giúp người lao động không bị thua thiệt trong quá trình toàn cầu hoá Đề ra các biện pháp kiểm soát tốt hơn
Trang 10các rủi ro, bảo đảm môi trường bền vững cũng như bảo đảm sự tham gia rộng rãi hơn của dân chúng trong quá trình lập kế hoạch và ra quyết định
1.5 Sự phân tầng xã hội
1.5.1 Xu hướng bất bình đẳng
“Bất bình đẳng xã hội là sự không bình đẳng, sự không bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội” Bất bình đẳng xã hội không phải là một hiện tượng tồn tại một cách ngẫu nhiên giữa các
cá nhân trong xã hội
Xã hội có bất bình đẳng khi một số nhóm xã hội kiểm soát và khai thác các nhóm xã hội khác, qua những xã hội khác nhau đã tồn tại những hệ thống bất bình đẳng xã hội khác nhau
Ở những xã hội khác nhau, bất bình đẳng cũng có những nét khác biệt Trong xã hội có quy mô lớn và hoàn thiện hơn thì bất bình đẳng xã hội gay gắt hơn so với trong các xã hội giản đơn Bất bình bình đẳng thường xuyên tồn tại với những nguyên nhân và kết quả
cụ thể liên quan đến giai cấp xã hội, giới tính, chủng tộc, tôn giáo, lãnh thổ…
Những nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng xã hội
- Thứ nhất, do sự khác nhau về những cơ hội trong cuộc sống: Bao gồm tất cả những thuận lợi vật chất có thể cải thiện chất lượng cuộc sống Nó không chỉ bao gồm những thuận lợi về vật chất, của cải, tài sản và thu nhập mà cả những điều kiện như lợi ích bảo
vệ sức khỏe hay an ninh xã hội
- Thứ hai, do sự khác nhau về địa vị xã hội: Những yếu tố tạo nên địa vị xã hội có thể khác nhau, đó là cái mà một nhóm xã hội tạo ra và cho là ưu việt và được các nhóm xã hội khác thừa nhận, địa vị xã hội chỉ có thể được giữ vững bởi những nhóm xã hội nắm giữ địa vị đó và các nhóm xã hội khác tự thừa nhận tính ưu việt của những nhóm đó
- Thứ ba, do sự khác nhau về ảnh hưởng chính trị: Bất bình đẳng do ảnh hưởng chính trị được biểu hiện trong thực tế như là mối quan hệ giữa vị thế chính trị với ưu thế vật chất
- Sự phân tầng xã hội là sự phân hoá xã hội theo chiều dọc tạo nên cấu trúc xã hội tầng lớp trong đó tầng đỉnh chiếm vị thế và vai trò quyết định đối với sự vận động, biến đổi của các tầng lớp khác và cả hệ thống xã hội Phân tầng xã hội tạo ra các tầng lớp trên dưới, cao thấp khác nhau về kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội và nhiều đặc điểm, tính chất khác
Đặc điểm
- Phân tầng xã hội diễn ra ở nhiều khía cạnh như chính trị, kinh tế, địa vị xã hội, học vấn
- Phân tầng xã hội có phạm vi tòan cầu
- Nó tồn tại theo lịch sử, theo các thể chế chính trị khác nhau
- Nó tồn tại trong các nhóm dân cư, giai cấp, tầng lớp xã hội
Trang 11Nguyên nhân dẫn đến sự phân tầng xã hội
Có thể tổng hợp thành 2 nguyên nhân chính sau:
- Chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, từ đó hình thành giai cấp và xung đột giai cấp xuất hiện và đẩy nhanh quá trình phân tầng xã hội
- Quá trình phân công lao động đã dẫn đến sự phân tầng một cách tự nhiên Còn bản thân phân công lao động không phải là bất bình đẳng xã hội mà nó là cơ sở tạo nên các dạng họat động xã hội không được coi trọng như nhau
1.6 Giải pháp hạn chế sự phân hóa giàu nghèo
1.6.1 Giải pháp cơ bản, lâu dài nhằm hạn chế sự GN
Giải pháp kinh tế - xã hội
Những giải pháp kinh tế - xã hội cần phải bảo đảm: Một mặt thúc đẩy tăng truởng kinh
tế, tạo cơ sở vật chất thực hiện các chính sách hội nói chung, mặt khác giải quyết hài hoà lợi ích giữa các giai tầng, tầng lớp trong xã hội sao cho xây dựng đất nước vững mạnh Vậy những giải pháp đó là:
Chính sách thị trường lao động
Chủ yếu là hỗ trợ người lao động bị mất việc làm hoặc thất nghiệp thông qua các chính sách thị trường lao động chủ động hoặc thụ động để ổn định cuộc sống ở mức tối thiểu và giúp họ sớm trở lại thị trường lao động (có việc làm)
Bảo hiểm xã hội (bắt buộc và tự nguyện), bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các
hình thức bảo hiểm khác Đây là một trong những tầng trụ cột quan trọng nhất của hệ thống an sinh xã hội (ASXH) nhằm khắc phục những rủi ro cho mọi người dân, trước hết
là người lao động, trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, mất khả năng lao động khi về già và chết
Chính sách ưu đãi xã hội
Nhằm thực hiện mục tiêu cao cả là đền ơn, đáp nghĩa đối với sự hy sinh, công lao đặc biệt và cống hiến to lớn của những người có công với cách mạng, với đất nước; là trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội chăm lo, đảm bảo cho người có công có cuộc sống ổn định và ngày càng được cải thiện
Trợ giúp xã hội (cứu trợ đột xuất và trợ cấp xã hội thường xuyên) Cần đảm bảo ít nhất ở
mức sống tối thiểu cho các đối tượng thuộc nhóm xã hội yếu thế cần trợ giúp xã hội có cuộc sống ổn định và có điều kiện hoà nhập tốt hơn vào cộng đồng
-Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH nhằm đảm bảo sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế quốc dân và là cơ sở quyết định nhất để giải quyết sự PHGN nói chung, xoá đói giảm nghèo nói riêng
+ Phát triển và chuyển dịch có cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH
Trang 12+ Lựa chọn công nghệ hợp lý đối với nông nghiệp – nông thôn
+ Điều chỉnh các chính sách ruộng đất
+ Tăng cường đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn bằng mọi nguồn vốn
+ Giải quyết "đầu ra" cho nông sản hang hoá để đẩy mạnh sản xuất hang hoá nói chung, sản xuất hang hoá nông phẩm nói riêng
- Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội của Nhà Nước trước xu hướng PHGN ở nước ta hiện nay
+ Tạo môi trường kinh tế - xã hội và khuôn khổ pháp lý ổn định, an toàn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện giúp đỡ các thành phần kinh tế
+ Phát huy tích cực của KTTT bằng cách duy trì và phát triển quan hệ thị trường, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực cuốn hút mọi người vào phát triển kinh tế xã hội
+ Điều tiết lợi ích giữa các thành phần kinh tế, thực hiện công bằng xã hội
+ Tiến hành cải cách ruộng đất, tạo điều kiện cho người nghèo được vay lãi theo lãi suất
ưu đãi, đánh thuế luỹ tiến vào người có thu nhập cao, nhằm hạn chế sự phân biệt giàu nghèo và thực hiện xoá đói giảm nghèo
Giải pháp văn hoá
Thu hẹp khoảng cách đời sống văn hoá giữa thành thị và nông thôn Do tình trạng đời sống vật chất khó khăn, thiếu thốn làm cho một số người ở nông thôn chán nản, bế tắc muốn rời làng quê ra thành thị kiếm sống Vì vậy cần phải phát triển đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn để thu hẹp khoảng cách văn hoá giữa nông thôn và thành thị
Nâng cao trình độ dân trí của nhân dân ở nước ta, phát triển giáo dục nâng cao dân trí trước hết phải xoá mù, tái mù, thực hiện phổ cập giáo dục, đưa lại cho người nghèo quyền "sở hữu trí tuệ"
Bên cạnh đó cũng phải đầu tư một bộ phận có chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước, tạo ưu thế vượt trội, tạo động lực thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội Tăng cường giáo dục văn hoá pháp luật và văn hoá dân chủ cho người dân để mọi người có ý thức hơn trong thời đại Việt Nam hòa nhập với cộng đồng quốc tế
1.6.2 Giải pháp cấp bách nhằm hạn chế sự GN
Điều tiết tăng thu nhập cho tầng lớp nghèo:
Nhà nước dùng tiền ngân sách để hỗ trợ cho người nghèo, những người gặp rủi ro, khuyết tật thông qua các chương trình kinh tế - xã hội, các quỹ trợ cấp quốc gia, trợ cấp, tín dụng, ưu đãi Ngoài ra còn các cuộc vận động đóng góp vào quỹ xoá đói giảm nghèo, giúp đỡ vùng thiên tai Nhà nước còn tăng cường các dịch vụ công như dự án y tế công cộng, bệnh viện miễn phí cho người nghèo, chương trình nước sạch, chăm sóc người già
cô đơn, trẻ em mồ côi Hộ đói nghèo được miễn giảm các khoản đóng góp xã hội do địa phương qui định để xây dựng cơ sở sản xuất, dịch vụ được miễn giảm các khoản thuế như thuế nông nghiệp, thuế doanh thu
Chính sách lao động việc làm
Vấn đề việc làm luôn là vấn đề bức xúc trong mọi thời đại Hiện nay nước ta có khoảng hơn 8 triệu người cần phải giải quyết việc làm nhất là trong tình trạng giá thị trường ngày càng có nhiều biến động và tăng cao như hiện nay Theo Bộ Lao Động – Thương Binh và
Xã hội các giải pháp để giải quyết việc làm trong thời gian tới:
- Phát triển kinh tế
Trang 13- Đẩy mạnh xuất khẩu lao động
- Thực hiện các hoạt động hỗ trợ việc làm
- Chương trình trợ giá vốn và công nghệ Phát triển các trung tâm dịch vụ giới thiệu việc làm, tổ chức điều tra, thu nhập thông tin về thị trường lao động
- Giải quyết lao động dôi dư
Chính sách đối với người có công với cách mạng
- Đối với dân tộc thiểu số: Do nhiều nguyên nhân khác nhau đòng bào dân tộc nhất là vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa đang gặp rất nhiều kho khăn Nhà nước đã và đang tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp để phát triển kinh tế xã hội miền núi như các chương trình chiến lược phát triển kinh tế miền núi, các chương trình xoá đói giảm nghèo v.v
- Điều tiết giá cả, quan hệ cung cầu trên thị trường nhằm bảo đảm ổn định sản xuất và mức sống của những người có thu nhập thấp
- Với chính sách cho vay ưu đãi: Chúng ta phải có chính sách trợ giúp tín dụng cho vay vốn với điều kiện ưu đãi từng nguồn tín dụng của Ngân Hàng phục vụ người nghèo, quĩ xoá đói giảm nghèo, các chương trình xoá đói giảm nghèo
1.5 Câu hỏi ôn tập
1 Phân hóa giàu nghèo là gì? Nguyên nhân gây nên tình hình phân hóa giàu nghèo?
2 Hãy nêu những nét chính về tình hình phân hóa giàu nghèo trên thế giới và Việt nam ? (có ví dụ minh chứng)
3 Tại địa phương nơi Anh/Chị đang sinh sống có xảy ra hiện tượng PHGN không? Nếu có, đâu là các nguyên nhân chủ yếu và hãy phân tích các nguyên nhân này?
4 Khái niệm, đặc điểm và nguyên nhân dẫn đến sự phân tầng xã hội?
5 Hãy trình bày sơ lược những giải pháp cơ bản hạn chế PHGN? Trong hoàn cảnh thực tế tại địa phương (nơi sinh sống hoặc công tác), Anh/Chị hãy cho biết giải pháp nào đóng vai trò quan trọng nhất? Cho ví dụ chứng minh?
6 Những giải pháp cấp bách để hạn chế sự PHGN? Trong các giải pháp này, hãy chọn một và phân tích giải pháp mà Anh/Chị cho là sẽ có vai trò quan trọng (phân tích có chứng minh?)
1.6 ài liệu tham khảo
Hiệu Minh , 2011, Bắt bệnh nước Mỹ từ 'Chiếm phố Wall', trực tuyến [Tiền Phong online], đọc từ:
http://www.tienphong.vn/Quoc-Te/555494/Bat-benh-nuoc-My-tu-Chiem-pho-Wall-tpp.html ,đọc ngày: 08/02/2012 Hoài An, 2008, Phân hóa giàu - nghèo khắp nơi trên thế giới, trực tuyến [Tuổi trẻ online], đọc từ:
http://tuoitre.vn/The-gioi/Ho-so/254712/Phan-hoa-giau -ngheo-khap-noi-tren-the-gioi.html , đọc ngày: 07/02/2012 Hoàng Gia Bảo, 2009, Thành quả “đổi mới” của CSVN: Kẻ giàu tột bậc – Người nghèo kiết xác! , trực tuyến [Việt Nam], đọc từ: http://www.vietnamdaily.com/index.php?c=article&p=50062 , đọc ngày: 08/02/2012
Hồng Nhung, 2011, Phân hóa giàu nghèo tăng mạnh tại các nước OECD, trực tuyến [VOV online], đọc từ:
http://vov.vn/Home/Phan-hoa-giau-ngheo-tang-manh-tai-cac-nuoc-OECD/201112/193582.vov , đọc ngày:
08/02/2012
JACOB GOLDSTEIN, 2011, The Gap Between Rich And Poor Is Increasing In Lots Of Countries Why?, đọc từ [planet money], đọc từ: http://www.npr.org/blogs/money/2011/05/04/135984006/the-gap-between-rich-and-poor-is- increasing-everywhere-why, đọc ngày: 25/02/2012
Lê Tây Sơn, 2009, Phân hóa giàu nghèo trên thế giới - Không nên tách biệt không gian sống giàu nghèo, trực tuyến [Đất Mũi online] , đọc từ,
http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/html/news_detail.php?nid=9922 , đọc ngày: 08/02/2012
Trang 14Nguyễn Thùy, 2011, Giải pháp thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, trực tuyến [VMC], đọc từ: http://vietminhcuong.com/index.php?option=com_content&view=article&id=50:gii-phap-thu-hp-khong-cach- giau-ngheo-thanh-th-nong-thon&catid=61:k-nng-kinh-doanh, đọc ngày: 01/02/2012
Nhật Anh, 2011, Chênh lệch giàu, nghèo tại Việt Nam lên tới 9,2 lần, trực tuyến [Tiền Phong online], đọc từ: http://www.tienphong.vn/Thoi-Su/544352/Chenh-lech-giau-ngheo-tai-Viet-Nam-len-toi-92-lan-tp.html, đọc ngày: 01/02/2012
Phương Hà, 2011, Gia tăng phân hóa giàu nghèo, trực tuyến [Báo mới.com], đọc từ: tang-phan-hoa-giau-ngheo/45/7553282.epi, đọc ngày: 08/02/2012
http://www.baomoi.com/Gia-Thanh Bình, 2010, Chênh lệch giàu nghèo ở London lên đến 273 lần, trực tuyến [VN Express], đọc từ:
Vĩnh Bảo, 2011, Giàu nghèo trong cơn bão lạm phát, trực tuyến [cafebiz], đọc từ:
http://biz.cafef.vn/201177155840977CA47/giau-ngheo-trong-con-bao-lam-phat.chn , đọc ngày: 01/02/2012
Trang 15Chương 2 : ĐỊN NG ĨA VÀ ÂN LOẠI GIÀU NG ÈO
2.1 Khái niệm giàu nghèo
Trong hội nghị chống nghèo đói khu vực châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP (United Nations Economic and Social Commission for Asia and the Pacific) tổ chức tại Băng
Cốc, Thái Lan (tháng 9/1993) đã đưa ra định nghĩa: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân
cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa định nghĩa về nghèo: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đôla/ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại."
Nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình "Xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam -1995" đã đưa ra định nghĩa:"Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế."
Ngân hàng phát triển Châu Á đã đưa ra hai khái niệm về nghèo là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối như sau:
+ Nghèo tuyệt đối: là việc không thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để nhằm duy trì cuộc
sống của con người
+ Nghèo tương đối: là tình trạng không đạt tới mức sống tối thiểu tại một thời điểm nào
đó: Khái niệm nghèo tuyệt đối có xu hướng đề cập đến những người đang bị thiếu ăn (nghèo đói) Khái niệm nghèo tương đối đề cập đến những người nghèo nhất về phân phối thu nhập ở một nước nhất định
Theo SDI (Tiêu chí phát triển bền vững): Nghèo là thiếu phương tiện, vật chất cung cấp
cho cá thể để cung cấp nhu cầu vật chất của họ hoặc tiện nghi, chênh lệch về địa lý hoặc
phân bố xã hội về giàu, về thu nhập hoặc thực phẩm
Theo UNDP (Chương trình phát triển của Liên hợp quốc), tiêu chí hộ nghèo – giàu mô tả
ở Việt Nam như sau:
+ Hộ khá
- Có nhà vững chắc, bền và thường sử dụng trên 15 năm
- Có phương tiện như Honda, xe đạp, tivi
- Có thể cho con đến trường
- Có đủ tiền sau mùa thu hoạch, có thực phẩm để ăn và bán
- Có tiền để dành
- Có vườn đất và cây trái sử dụng
+ Hộ trung bình
- Có nhà ổn định và có thể ở được khoảng 10 năm
- Có phương tiện tivi, radio
Trang 16- Có đủ thức ăn quanh năm
- Cho trẻ đến trường
- Sử dụng nước sạch (như nước giếng)
+ Hộ nghèo
- Sống có nhà không ổn định, nhà tranh vách đất
- Thiếu phương tiện như không có tivi, radio
- Không có tiền để dành, thiếu tiền quanh năm
- Trẻ không được đi học hoặc rời trường sớm
- Đủ thức ăn cho tới mùa thu hoạch hoặc thiếu một vài tháng trong năm
- Sử dụng nguồn nước tự nhiên, môi trướng sống chưa được vệ sinh
+ Rất nghèo
- Cuộc sống không ổn định, nhà ở tạm bợ trong một đến hai năm
- Không tiếp cận được nước sạch
- Những yếu tố khác giống như người nghèo
Theo Ngân hàng thế giới, định nghĩa nghèo như sau:
- Nghèo là đói, thiếu nhà, bệnh không được đến Bác Sĩ, không được đến trường, không biết đọc, biết viết
- Nghèo thì không có việc làm, lo sợ cho cuộc sống tương lai, nghèo thì mất con do bệnh hoạn, cuộc sống dơ bẩn, nghèo thì bất lực, ít được bảo vệ quyền lợi và tự do
- Nghèo có nhiều mặt thay đổi từ nơi này đến nơi khác qua thời gian và có nhiều cách để
mô tả Thông thường nghèo là một hiện trạng muốn trốn thoát Vì vậy, nghèo có thể gọi
là một hành động (để cho nghèo và giàu như nhau) thì cách gọi để thay đổi một thế giới
có thể đáp ứng đủ yêu cầu ăn, ở, tiếp cận với giáo dục và sức khỏe điều này cần được bảo
vệ bởi cộng đồng
2.2 Chuẩn nghèo (ngưỡng nghèo) và tiêu chí phân loại nghèo
Chuẩn nghèo: là một yếu tố chính để qui định thành phần nghèo của một quốc gia, là số
tiền đảm bảo mức tiêu dùng thiết yếu (bao gồm cả lương thực thực phẩm và phi lương thực thực phẩm) cho người/tháng
iêu chí phân loại: hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới có rất nhiều tiêu chí để
phân loại hộ nghèo Tùy thuộc vào các mục tiêu, hoạt động khác nhau của mỗi quốc gia hay tổ chức mà có những tiêu chí để đánh giá hộ nghèo Một số tiêu chí thường được áp dụng để đánh giá hộ nghèo như: dựa vào thu nhập bình quân đầu người trên tháng hoặc trên năm; dựa vào tổng chi tiêu bình quân đầu người trên tháng hoặc trên năm; dựa vào các loại tài sản sở hữu của người nghèo; dựa vào điều kiện chăm sóc sức khỏe hay điều
kiện học vấn…
+Thu nhập của hộ gia đình: là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên
của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, bao gồm: (1) Thu từ tiền công, tiền lương; (2) Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (3) Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (đã trừ chi phí sản
Trang 17xuất và thuế sản xuất); (4) Thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần tuý, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)
+ Chi tiêu hộ gia đình: là tổng số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ
đã chi cho tiêu dùng trong một thời gian nhất định, bao gồm cả tự sản, tự tiêu về lương thực, thực phẩm, phi lương thực, thực phẩm và các khoản chi tiêu khác (biếu, đóng góp ) Các khoản chi tiêu của hộ không bao gồm chi phí sản xuất, thuế sản xuất, gửi tiết kiệm, cho vay, trả nợ và các khoản chi tương tự
Tuy nhiên đa số các quốc gia thường sử dụng tiêu chí thu nhập bình quân đầu người trên năm hoặc trên tháng để xác định hộ nghèo Vì tiêu chí này dễ đánh giá, cụ thể có sức thuyết phục, mang giá trị định lượng Tình hình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới khác nhau nên tiêu chí và chỉ số phân loại nghèo cũng khác nhau Tuy nhiên, các quốc gia trên thế giới phân loại nghèo dựa vào một số tiêu chí như: thu nhập, chi tiêu, đường tiêu thụ calo bình quân…Nhìn chung các quốc gia chủ yếu dùng thu nhập để xác định chuẩn nghèo Dưới đây là chuẩn nghèo của một số quốc gia:
Bảng 2: Chuẩn nghèo của một số nước dựa vào tiêu chí thu nhập
Quốc gia Năm Chuẩn nghèo Đơn vị tính
Trung Quốc 2011 2.300 Nhân dân tệ/năm
iêu chí phân loại nghèo ở Việt Nam
Ở Việt Nam đã đưa ra nhiều tiêu chí để đánh giá giàu nghèo như: Tiêu chí định lượng (là tiêu chí về kinh tế được thể hiện qua thu nhập từ các việc làm chính, phụ và nhóm tiêu chí về mức sống bao gồm các loại chi tiêu trong đời sống hằng ngày) và Tiêu chí định tính (thể hiện ở một vài khía cạnh như nhà ở, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, việc làm (khả năng nắm bắt và chuyển đổi), vốn xă hội (quan hệ, thông tin…)
Tại Việt nam ngưỡng nghèo được đánh giá thông qua chuẩn nghèo, dựa trên các tính toán của các cơ quan chức năng như Tổng cục Thống kê hay Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (MOLISA) Chuẩn nghèo theo Tổng cục Thống kê được xác định dựa trên cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (WB), gồm hai mức:
+ Nghèo lương thực thực phẩm: tổng chi dùng chỉ tính riêng cho phần lương thực thực
phẩm, làm sao để đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu cho một người là 2100 kcal/ngày đêm;
+ Nghèo chung: tổng chi dùng cho cả giỏ hàng tiêu dùng tối thiểu, được xác định bằng
cách ước lượng tỷ lệ: 70% chi dùng dành cho lương thực thực phẩm, 30% cho các khoản còn lại
Chuẩn nghèo của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội được xác định một cách tương đối bằng cách làm tròn số và áp dụng cho từng khu vực và vùng miền khác nhau (nông thôn miền núi, hải đảo, nông thôn đồng bằng, thành thị)
Trang 18Tiêu chí để phân loại nghèo chủ yếu dựa vào mức thu nhập bình quân đầu người trên tháng hoặc trên năm và chuẩn nghèo ở Việt Nam có sự thay đổi qua các giai đoạn phát triển của đất nước để phù hợp với từng giai đoạn cụ thể
Bảng 1: Chuẩn nghèo Việt Nam qua các thời kỳ
Giai đoạn Quyết định hân Loại iêu chuẩn
(đồng/người
/tháng) 2001-2005 Quyết định số
Tóm lại: Tùy theo tình hình phát triển kinh tế xã hội của nước ta cũng như của thế giới để Việt Nam đưa ra các tiêu chí khác nhau và các chuẩn mực khác nhau qua từng giai đoạn
mà có sự phân loại hộ nghèo khác nhau phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Lý do chuẩn nghèo tăng theo hàng năm là do tình hình lạm phát, và tình hình kinh
tế xã hội ngày càng phát triễn nê chuẩn nghèo cần phải tăng để phù hợp với tình hình Nhìn chung, vấn đề phân loại nghèo đã nghèo đói tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn: đa số người nghèo sống trong các vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như vùng núi, vùng sâu, vùng xa hoặc ở các vùng Đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung, do sự biến động của thời tiết (bão, lụt, hạn hán) khiến cho các điều kiện sinh sống Đặc biệt, sự kém phát triển về cơ sở hạ tầng của các vùng nghèo đã làm cho các vùng này càng bị tách biệt với các vùng khác Bên cạnh đó, do điều kiện thiên nhiên không thuận lơi, hàng năm số hộ tái nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi nghèo vẫn còn rất lớn
2.3 Câu hỏi ôn tập
1 Chuẩn nghèo là gì? Các tiêu chí để xây dựng chuẩn nghèo?
2 Chuẩn nghèo giai đoạn 2011- 2015 ra sao, hãy trình bày những thuận lợi và khó khăn trong quá trình xác định hộ nghèo ở địa phương bạn đang sinh sống và đề xuất giải pháp
Tài liệu tham khảo:
Lê Văn Thành.2008 Chuẩn nghèo và bản chất nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh
Trang 19Nguyễn Văn Phẩm Vụ Hợp tác quốc tê Chuẩn nghèo và thước đo nghèo ở một số nước ( trực tuyến ) [ Đọc ngày 04:02:2012 ]
Trang 20Bài đọc thêm Các mốc thời gian thay đổi chuẩn đói nghèo giai đoạn 1993 -1999 Lần 1: Năm 1993, chuẩn mực đói nghèo quy định cho các vùng như sau:
- Hộ đói: Bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 13Kg đối với khu vực
thành thi, dưới 8 kg khu vực nông thôn
- Hộ nghèo: Bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 20 kg đối vơi khu
vực thành thị, dưới 15kg đối với khu vực nông thôn
Lần 2: Năm 1995, chuẩn đói nghèo được điều chỉnh:
- Hộ đói:là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tính cho mọi vùng
- Hộ nghèo là hộ có thu nhập tuỳ theo vùng ở các mức tương ứng như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo dưới 15kg/ người/tháng
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng
+ Vùng thành thị: dưới 25kg/ người/ tháng
Lần 3: năm 1997, chuẩn đói nghèo được bổ sung:
- Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13 kg, tương đương 45.000đồng ( tính cho mọi vùng)
- Hộ nghèo: là hộ có thu nhập tuỳ theo vùng ở các mức tương ứng như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo dưới 15kg/ người/tháng (55.000đ)
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng (70.000đ)
+ Vùng thành thị: dưới 25kg/ người/ tháng (90.000đ)
Trang 21iêu chí xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo
Để cho các địa phương có cơ sở xét công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo được thuận lợi, ngày 05/9/2012 Bộ Lao động-Thương binh và xã hội ban hành Thông tư số 21/2012/TT-BLĐTBXH hướng dẫn quy trình điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo
Theo quy định của thông tư thì tiêu chí để điều tra, rà soát là thực hiện theo Quyết định
số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 Việc điều tra, rà soát hộ nghèo,
hộ cận nghèo phải đảm bảo tính chính xác, dân chủ, công khai, công bằng, có sự tham gia của người dân Để tiến hành điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo Ban chỉ đạo cấp xã
tổ chức họp với các chi hội đoàn thể, trưởng ấp, khóm, tổ dân cư, căn cứ tình hình kinh tế
xã hội trong năm để phát hiện những hộ kinh tế suy giảm hoặc gặp biến cố có khả năng rơi xuống hộ nghèo, cận nghèo, hộ mới di chuyển đến trong năm để đưa vào diện điều tra, khảo sát, sử dụng công cụ nhận dạng nhanh về tình trạng tài sản như: sản xuất và sinh hoạt của hộ gia đình để xác định hộ chắc chắn không nghèo, cận nghèo, xác định và lập danh sách sơ bộ các hộ có khả năng rơi xuống nghèo, cận nghèo, xác định các hộ có khả năng thoát nghèo, cận nghèo
Tiêu chí xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo: Chỉ tính thu nhập của hộ gia đình trong vòng
12 tháng qua, không tính khoản trợ cấp an sinh xã hội từ ngân sách Nhà nước vào thu nhập của hộ gia đình Phải niêm yết công khai danh sách hộ có khả năng rơi xuống nghèo, cận nghèo; hộ có khả năng thoát nghèo, cận nghèo theo tiêu chí hiện hành tại trụ
sở Ủy ban nhân dân cấp xã, nhà sinh hoạt cộng đồng thôn, bản, ấp và trên các phương tiện thông tin đại chúng trong vòng 5 ngày Trường hợp gia đình khiếu nại do không được điều tra, rà soát thu thập, Ban chỉ đạo cấp xã cần tiến hành điều tra, rà soát bổ sung
Tổ chức bình xét Chủ trì Hội nghị bình xét là Trưởng thôn, ấp, khóm; tham dự hội nghị gồm đại diện Đảng ủy, Ủy ban nhân dân cấp xã, cán bộ giảm nghèo, Bí thư chi bộ, chi hội trưởng các chi hội đoàn thể, của thôn, ấp, khóm; các hộ có tên trong danh sách đưa ra bình xét; đại diện các hộ gia đình trong thôn, ấp, khóm, hội nghị phải có trên 50% đại diện hộ gia đình tham dự Việc bình xét phải dân chủ, công khai, khách quan và phải lấy
ý kiến biểu quyết đối với từng hộ; kết quả biểu quyết phải có trên 50% số người tham dự đồng ý mới đưa vào danh sách đề nghị: Hộ thoát nghèo, cận nghèo; hộ nghèo, hộ cận nghèo mới Kết quả bình xét phải ghi vào biên bản; biên bản và danh sách hộ nghèo, cận nghèo qua bình xét được lập thành 2 bản, có chử ký của người chủ trì, thư ký cuộc họp:
01 bản lưu tại thôn, ấp, khóm, 01 bản gửi về Ban chỉ đạo cấp xã
Trách nhiệm của cấp xã: Ban chỉ đạo giảm nghèo cấp xã trực tiếp chỉ đạo điều tra, rà soát
hộ nghèo, cân nghèo trên địa bàn và đề nghị Chủ tịch UBND cấp huyện phê duyệt kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, cận nghèo rồi trình Chủ tịch UBND cấp xã công nhận hộ nghèo, cân nghèo mới Việc điều tra, rà soát hộ nghèo, cận nghèo phải được thực hiện vào thời điểm ngày 01 tháng 10 hàng năm Chậm nhất ngày 15 tháng 12 hàng năm, Chủ tịch UBND cấp tỉnh phải báo cáo kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo về Bộ Lao động-Thương binh và xã hội để tổng hợp
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 11 năm 2012./
Nguồn: Phúc Vinh, 2012 Tiêu chí xác định hộ nghèo, hộ cận Nghèo Sở Tư Pháp Bạc Liệu Trang web: http://stp.baclieu.gov.vn/vbqln/Lists/Posts/Post.aspx?List=fd982b12-3d27-4958-a4e9-8abaa0c461ee&ID=48 ; đọc ngày 13/12/2012
Trang 22Chương 3: CÁC VẤN ĐỀ C ĐỘNG ĐẾN HIỆN TRẠNG
PHÂN HÓA GIÀU NGHÈO
Vấn đề chênh lệch về thu nhập, mức sống ngày càng diễn ra rõ nét giữa hai giai cấp xã hội đó là người giàu và người nghèo, đặc biệt là ở vùng nông thôn tỷ lệ hộ nghèo càng cao do thu nhập của người dân chủ yếu đều mang tính chất mùa vụ nên thời gian cũng nhiều, họ không có đủ điều kiện, trình độ để có thể khai thác, tận dụng hết các yếu tố xung quanh họ mà nó có thể giúp họ làm giàu, cho nên người nghèo đang từng bước phấn đấu vươn lên để có được cuộc sống đầy đủ, ấm no hơn Nhưng trên con đường phấn đấu đó họ luôn gặp khó khăn, hạn chế về khả năng tiếp cận các nguồn lực sinh kế, do đó rất cần sự hổ trợ của xã hội, nhà nước giúp họ nâng cao khả năng trong việc tiếp cận và
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (vốn sinh kế) cho phát triển kinh tế, để xóa đói giảm nghèo cho bản thân gia đình và xã hội, góp phần phát triển cộng đồng bền vững
Các yếu tố tác động đến hiện trạng phân hóa giàu nghèo:
3.1 Đất
Nước ta là một nước nông nghiệp Đất là yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp quyết định đến các hộ nông dân làm giàu ở vùng nông thôn Theo Tổng cục Địa chính, đến năm 1998, Việt Nam mới sử dụng khoảng 67.57% diện tích đất tự nhiên, bình quân đầu người là khoảng 2790 m2
Diện tích đất bình quân trên người ở vùng nông thôn cao hơn ở vùng thành thị Tuy phương thức canh tác, sử dụng đất ở nông thôn không hợp lý, nhưng hiện nay nhà nước
đã có các biện pháp cải tạo đất đã góp phần tăng thêm hiệu quả sử dụng đất ở vùng nông thôn, bên cạnh đó có một số người biết tận dụng diện tích đất vốn có của mình sử dụng trong việc trồng trọt chăn nuôi với phương thức canh tác hợp lý, tạo vòng quay cho đất cũng đã mang lại hiệu quả kinh tế, thu nhập cao cho gia đình.Ví dụ: Với một mảnh đất vườn ở nông thôn người dân có thể xây dựng mô hình vườn ao chuồng, vừa tận dụng được đất, phế phẩm trong chăn nuôi vừa tạo điều kiện cho cây trồng phát triển tốt, góp phần tăng thu nhập cho gia đình
3.1.1.Nhận dạng nông dân nghèo không có đất, ít đất
Theo nghiên cứu AusAID (2004) - dự án phân tích hiện trạng nghèo đói tại ĐBSCL, trọng tâm của nghiên cứu này là các nông hộ nghèo không có đất, ít đất nên cần xác định thế nào là nông hộ “nghèo” và “không có đất” Đây là một quan niệm tương đối, do
có nhiều cách đánh giá khác nhau về mức độ ít đất của nông dân Nông dân xem đất đai
là tài sản quan trọng và là nguồn thu nhập chính của mình, vì họ sống chủ yếu nhờ vào nông nghiệp Đối với người dân, ít đất có nghĩa là thu nhập mang lại từ đất không
đủ cung cấp lượng lương thực, thực phẩm cần thiết để đảm bảo mức sống tối thiểu cho gia đình Mặc dù còn mơ hồ, nhưng quan niệm này vẫn tương đối phù hợp đối với thực
tế mỗi địa phương Điều tra thêm các nông hộ, nhóm nghiên cứu đã xác định thêm một
số tiêu chuẩn, và nhận định một nông hộ ít đất nếu:
(1) Ở vùng đất vườn, có dưới 3 công đất/hộ (huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, huyện Cái
Bè và huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang)
(2) Ở vùng đất mới khai khẩn, có dưới 10 công/hộ (vùng Đồng Tháp Mười)
Trang 23Theo Lương Văn Duyên (2007), nhằm tìm hiểu những khó khăn và thách thức, là những nhân tố góp phần ảnh hưởng đến việc nâng cao đời sống của đồng bào Khmer tại xã Ô Lâm Nên đề tài “Một số Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Việc Nâng Cao Đời Sống Cộng Đồng Người Khmer Tại Xã Ô Lâm Huyện Tri Tôn Tỉnh An Giang” Kết quả nghiên cứu cho thấy, Cả 3 nhóm hộ gần như 100 % đều sở hữu đất thổ cư, chỉ có 6,67 % nhóm hộ nghèo không có do chia cho con hết, vì vậy họ phải ở nhờ nhà người thân Diện tích trung bình đất thổ cư của nhóm hộ nghèo là 205,50 m2, nhóm hộ thoát nghèo và khá/giàu thì tương đối cao hơn (371,37 m2 và 336,23 m2), như vậy cho thấy có sự chênh lệch nhiều về diện tích nhà ở của 3 nhóm hộ
Đối với nguồn lực về đất canh tác của cả 3 nhóm hộ không nhiều lắm, có thể nguyên nhân là do điều kiện đặc trưng của vùng nên diện tích đất canh tác ít Diện tích đất canh tác bình quân của nhóm hộ khá/giàu là 21.884,00 m2/hộ Trong khi đó nhóm hộ thoát nghèo có diện tích bình quân là 3.444,60 m2 và nhóm hộ nghèo chỉ có 2.000,00 m2 như vậy, cho thấy sự chênh lệch về diện tích đất của 3 nhóm hộ là khá lớn, không đồng đều giữa 3 nhóm hộ Đối với nhóm hộ khá/giàu do có diện tích đất nhiều hơn so với 2 nhóm
hộ nghèo và thoát nghèo, vì vậy nhóm hộ giàu sẽ có điều kiện đầu tư nhiều vào việc sản xuất, tiếp cận được các khoa học công nghệ và tất cả những thành viên trong gia đình sẽ cùng tham gia lao động, giảm bớt lao động nhàn rỗi từ đó sẽ góp phần làm tăng thu nhập cho gia đình
Bảng 1: Nguồn lực đất đai của 3 nhóm hộ
Nhóm hộ
Loại đất
Tỷ lệ (%) Diện tích TB
(m2)
Tỷ lệ (%) Diện tích TB
(m2)
Tỷ lệ (%) Diện tích TB
(m2) Đất thổ cư 100,00 336,23 100,00 371,37 93,33 205,50
Đất ruộng 93,33 21.884,00 93,33 3.444,60 36,70 2.000,00 Đất vườn 6,67 1.475,00 3,33 2.000,00 0,00 0,00
3.1.2 Nguyên nhân mất đất
Theo nghiên cứu AusAID (2004), có các nguyên nhân dẫn đến tình trạng người dân ít đất, không có đất cần lưu ý rằng mối quan hệ nhân quả giữa không đất, ít đất và nghèo đói phức tạp hơn những gì đã được nghĩ Để hiểu đầy đủ mối quan hệ này, cần nghiên cứu các hộ gia đình ý thức thế nào về tình trạng sở hữu đất của họ và cách thức họ giải quyết quyền sử dụng đất Nhìn chung, các nông hộ sử dụng đất canh tác để tạo thu nhập Đất đai cũng là một tài sản mà họ có thể dùng cầm cố, hoặc bán quyền sử dụng đất cho
hộ khác Vì thế, việc không có đất hoặc ít đất dẫn đến hệ quả nghèo đói khi quyền sử dụng đất được chuyển nhượng theo nguyện vọng và có sự cân nhắc của chủ đất Nói khác
đi, các nông hộ sau khi cầm cố, bán đất sẽ có khoản thu nhiều hơn, sử dụng lâu hơn; và vì vậy, việc không có đất, ít đất không là một vấn đề, ít nhất trong một thời gian ngắn Tuy nhiên, điều đáng ngại nhất là bản thân việc không có đất, ít đất dẫn đến hậu quả, chứ không là nguyên nhân đói nghèo của vùng ĐBSCL Một khi nông dân không còn sở hữu đất, họ dễ rơi vào cảnh nghèo khó
Trang 24Kết quả điều tra được thực hiện với các nông hộ và cán bộ quản lý ở các địa phương cho thấy hầu hết các nông hộ nghèo có đất, bán đất do gặp rủi ro, trắc trở trong thu hoạch, trong kinh doanh và trong cuộc sống hàng ngày Những rủi ro, thất bát này dẫn đến việc thu nhập của gia đình kém đi, chi phí cuộc sống tăng lên; vì vậy khiến họ dễ bị lâm nợ, buộc họ phải dùng đất đai như cứu cánh cuối cùng để thanh toán nợ nần và tiếp tục sống
Đối với các hộ nghèo, rủi ro lâm nợ rất cao Nông dân ở phía đông huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, vay tiền nuôi vịt đàn, vịt bị dịch chết nên bán đất Nông dân xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau gặp cảnh ngộ tương tự khi làm tôm thất bát
Thiên tai và các biến động không thuận lợi trên thị trường cũng là những nguyên nhân khiến chi phí sản xuất tăng, thu nhập giảm, cùng với các nguyên nhân khác khiến nông
hộ nghèo phải cầm cố, hoặc bán đất Thực tế là người nghèo luôn bị thiệt thòi khi giao dịch trên thị trường Họ thường phải “mua vật tư với giá cao, bán non sản phẩm”, hoặc mua chịu vật tư, dẫn đến rủi ro, bất trắc Nông dân thường thiếu phương tiện cất trữ nông sản, ngoài ra khí hậu nóng, ẩm của ĐBSCL không có lợi cho việc cất trữ lâu dài hạt giống Hậu quả là hầu hết nông dân phải bán các sản phẩm của mình ngay sau khi thu hoạch, làm tăng cung trên thị trường, dẫn đến giá sản phẩm bị giảm Thất bại của các nông hộ trong sản xuất, kinh doanh phần lớn do họ thiếu kiến thức, kỹ thuật canh tác, áp dụng kỹ thuật không phù hợp với đất đai, cây trồng, vật nuôi Kết quả điều tra tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp cho thấy cứ 10 người bán đất để di dời lên vùng Đồng Tháp Mười mua đất thì có tới 8 người thất bại phải quay về do không có kinh nghiệm canh tác trên vùng đất mới Một nhóm nông dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang vay vốn chuyển đất lúa sang trồng màu do không biết rõ giống, kỹ thuật canh tác nên nợ nần, thất bại
Các kết quả điều tra cũng cho thấy những cú sốc kinh tế là nguyên nhân dẫn đến tình trạng không đất Một số nông hộ gặp sự cố như có người bệnh tật, ốm đau, không nơi nương tựa phải cầm cố đất, bán đất Đặc biệt các hộ gia đình đông con dễ bị tác động Nếu có người bệnh thì thu nhập của gia đình sẽ bị giảm, họ phải vay mượn với lãi suất cao để trang trải chi phí hàng ngày, khó hoàn nợ được và vì thế lâm cảnh nợ nần
Một câu hỏi chính đặt ra trong nghiên cứu này là tại sao vấn đề không có đất xảy ra chỉ đối với một số nông hộ nghèo nào đó trong bối cảnh xã hội đều đối mặt với những cú sốc kinh tế và mùa màng thất bát? Có những nguyên nhân chủ quan và khách quan Các cán
bộ lãnh đạo địa phương nhận xét rằng nhiều hộ nghèo thiếu ý chí, năng lực để khắc phục các rủi ro, bất trắc trong sản xuất và đời sống Họ có xu hướng chọn giải pháp trước mắt
là cầm đất hoặc bán đất Nhận xét này được củng cố hơn qua thực tế là nhiều hộ gia đình được hỗ trợ để chuộc lại đất, nhưng họ bán đất trở lại trong một thời gian ngắn sau đó Một nguyên nhân khác là các hộ nghèo ít có khả năng tiếp cận thông tin về thị trường, kỹ thuật, và các quỹ tín dụng
3.1.3 ình trạng việc làm của những người ít đất/không có đất
Theo nghiên cứu AusAID (2004), khi không có đất để mưu sinh, các hộ nghèo phải chuyển sang các công việc khác để kiếm sống Việc tìm hiểu các hộ không có đất làm gì
để mưu sinh rất quan trọng nhằm hiểu rõ hoàn cảnh sống của họ Kết quả điều tra cho
Trang 25thấy các hộ không đất thường i) làm thuê cho các nông hộ khác, ii) tham gia các hoạt động phi nông nghiệp, hoặc làm thuê cho những hộ phi nông nghiệp, hoặc iii) nuôi gia cầm, hoặc trồng trọt đơn giản Thu nhập từ những việc làm này phụ thuộc vào đặc điểm sinh thái, tình trạng định cư, mức độ đô thị hóa, xu hướng phát triển của vùng, cũng
như khả năng tận dụng cơ hội việc làm của những hộ không có đất
Làm thuê cho các nông hộ khác: Do trình độ học vấn thấp, các nông dân không có đất
thường được thuê làm những việc đơn giản cho các nông hộ khác Đa phần người nghèo thường không muốn thay đổi thói quen cũ, chỉ muốn làm những công việc giống cha
mẹ vẫn làm, hoặc làm theo những người trong xóm ấp Tuy nhiên, với điều kiện kinh tế hiện nay, nhu cầu thuê lao động đang giảm, vì vậy tiền công cho những lao động làm thuê cũng giảm Theo nhóm nam nghèo ở huyện Lai Vung cho biết: “Lên làm thuê ở Đồng Tháp Mười cũng phải cạnh tranh dữ lắm, phải giảm giá ngày làm xuống từ 3-5 ngàn đồng so với người ở tại chỗ và cũng phải quen biết mới có việc làm” Mỗi vụ đi làm
xa như vậy họ thường làm được khoảng 30 ngày Theo họ, vụ hè thu do phải gặt chạy lũ
nên các chủ đất thường trả khá hơn so với vụ đông xuân
Các hoạt động phi nông nghiệp và làm thuê phi nông nghiệp: Nghiên cứu cũng xem
xét đến tình trạng các lao động không có đất, ít đất, thực hiện những việc phi nông nghiệp Tương tự tình trạng làm thuê trong nông nghiệp, các cơ hội việc làm phi nông nghiệp phụ thuộc các điều kiện cụ thể trong vùng Có nhiều cơ sở kinh doanh nhỏ ở những vùng đất nhiễm mặn, nên cơ hội tìm việc nhiều hơn ở các vùng đất phèn, vùng ngập lụt, hoặc vùng nước mặn thuộc tỉnh Đồng Tháp, hay một số vùng thuộc tỉnh Cà Mau Tuy nhiên, các công tác này được hình thành một cách tự phát và chưa được tổ chức tốt do thiếu sự hỗ trợ cũng như sự tham gia của chính quyền địa phương và quần chúng Để tạo thêm cơ hội làm việc phi nông nghiệp cho các nông dân nghèo không có đất, cần giúp đỡ họ có thêm kỹ năng, tay nghề để làm việc trong các lĩnh
vực phi nông nghiệp
Hoạt động trồng trọt và chăn nuôi: Đa phần nông dân nghèo ở địa bàn khảo sát sử dụng
diện tích đất nhỏ bé còn lại của mình vào các hoạt động chăn nuôi qui mô nhỏ Tuy nhiên, do thiếu vốn và các kỹ thuật nuôi kém, nên họ dễ thất bại do chi phí mua con giống, thức ăn gia súc cao, và bệnh gia cầm Chẳng hạn, ở huyện Tam Nông, một số hộ vay tiền nuôi vịt đàn sau các vụ lúa Nhưng họ dễ bị thất bại do nguồn nước ô nhiễm, vịt
dễ bệnh, chết hàng loạt dẫn đến nợ nần Khi được hỏi về kỹ thuật nuôi, phần lớn đều nói rằng họ nuôi theo kinh nghiệm có sẵn của cha ông
Trang 26Bảng 2: Nghề nghiệp của 3 nhóm hộ
Đơn vị: % Nhóm hộ
Nguồn: Lương Văn Duyên (2007),
Theo Lương Văn Duyên (2007), về cơ cấu nghề nghiệp của các nhóm nông hộ, cho thấy tương đối phù hợp với các ngành nghề ở địa bàn nông thôn nói chung Các ngành nghề
chủ yếu: trồng trọt, chăn nuôi, làm thuê
Bảng 2 cho thấy các nghề chính của nhóm hộ khá/giàu là trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán
và cán bộ công nhân viên chức, đây là những nghề có thu nhập ổn định so với các nhóm
hộ khác Nghề nghiệp của nhóm hộ thoát nghèo chủ yếu là : trồng trọt, chăn nuôi và làm thuê nhưng với thu nhập thấp hơn so với nhóm hộ khá/giàu do tư liệu sản xuất và trình độ của nhóm hộ này thấp hơn so với nhóm hộ khá/giàu Trong khi đó tỷ lệ nhóm hộ nghèo
có thu nhập từ nghề làm thuê rất cao (52,27 %), số người trồng trọt chiếm tỷ lệ rất thấp (5,68 %) do nhóm hộ này có diện tích đất sản xuất rất ít Đặc biệt, đối với nghề làm thuê của nhóm hộ nghèo chủ yếu là các công việc nặng nhọc, đòi hỏi người lao động phải có nhiều sức khỏe nhưng thu thập không được bao nhiêu Làm thuên gồm các nghề như: đi gặt lúa mướn, đào đất, đi bốc đá, gánh đá…và một số công việc làm thuê với mức độ tương đối nhẹ phù hợp với lao động nữ nông thôn (bỏ đậu, nhổ đậu…) đây là những công việc có tính chất theo mùa, không ổn định Buôn bán của nhóm hộ nghèo với hình thức
là đi kiếm sắt và kiếm củi đem đi bán với thu nhập rất thấp và không ổn định, đặc biệt với nhóm hộ thoát nghèo và khá/giàu là bán với hình thức là tiệm tạp hóa, bán phân, quán nước…thu nhập tương đối cao và ổn định Mặt khác, nhóm hộ nghèo lại là nhóm có tỷ lệ người làm nội trợ cao hơn so với nhóm hộ thoát nghèo và khá/giàu Đìều này cho thấy tỷ
lệ người không làm của nhóm hộ nghèo rất cao, làm cho thu nhập của lao động chính không đủ trang trải cuộc sống cho gia đình, gây khó khăn trong cuộc sống
Một nghiên cứu khác, theo Võ Duy Thanh (2010), trong nghiên cứu về sự phân tầng xã hội của các nhóm hộ trong vùng đê bao triệt để huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Nghiên cứu này nhấn mạnh vào tiến trình tạo ra sự phân hoá giữa các nhóm hộ trong vùng bao đê triệt để thông qua việc phân tích tác động của hệ thống bao đê đến sinh kế người nghèo
Dễ nhận thấy rằng sản xuất nông nghiệp đã được tăng cường sau khi hoàn chỉnh hệ thống
đê bao, rất nhiều nông dân được hưởng lợi, tuy nhiên sự phân phối lợi ích của nó đến các nhóm nông hộ khác nhau là không đồng đều nhau Trái với những hộ khá-giàu, những hộ nghèo có rất ít điều kiện thuận lợi để tiếp cận về quy mô đất đai, vốn tài chính, trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật, cũng như khả năng tiếp cận các tư liệu sản xuất khác, sẽ rất
Trang 27khó thích nghi và hưởng được lợi ích từ hệ thống đê bao nói riêng và từ sự phát triển của
hệ thống sản xuất nông nghiệp thâm nói chung
Trong nghiên cứu này việc phân nhóm các hộ phỏng vấn được thực hiện dựa trên hai tiêu chí là thu nhập và quy mô đất đai: tác giả đã dựa vào tiêu chí việc sở hữu đất đai để phân chia nhóm hộ; nhóm hộ khá-giàu (trên 1.0 ha), nhóm hộ trung bình (0.5-1.0 ha), nhóm hộ nghèo ít đất đất (dưới 0.5 ha) và nhóm hộ gia đình nghèo không có đất sản xuất Việc sở hữu diện tích đất đai khác nhau dẫn đến thu nhập khác nhau trong các nhóm hộ
Bảng 3: hu nhập từ hoạt động Nông nghiệp của 4 nhóm hộ (ĐVT: Triệu
3.2.1 iện trạng nguồn lực lao động
Nguồn nhân lực của ĐBSCL, hiểu theo nghĩa là sự tổng hợp của kiến thức, kĩ năng, khả năng và năng lực của dân số, vẫn còn tương đối thấp, mặc dù khu vực này đã có những phát triển lớn trong sản xuất nông nghiệp và sản xuất hàng hóa cũng như một thị trường lao động mạnh (chủ yếu bao gồm lao động chân tay và lao động phổ thông) Thêm vào đó, nhiều gia đình không chú trọng đầu tư cho việc giáo dục và đào tạo của con em mình, một phần là do hệ thống giáo dục hiện hành không đáp ứng được nhu cầu của họ về nội dung kiến thức cũng như phương pháp giảng dạy, phần khác là do chi phí
cơ hội cho trẻ em đến trường cao
Theo nghiên cứu của Võ Tòng Xuân và ctv (2004), trình độ học vấn của lực lượng lao động ở ĐBSCL, nếu tính theo bằng cấp, là rất thấp Hơn 83% lực lượng lao động chỉ có trình độ sơ cấp và không có bằng cấp Con số này ở người nghèo lên đến 96% Trong khi thị trường lao động thuận lợi cho công nhân có tay nghề kĩ thuật thì chỉ có 0.7% lực lượng lao động được đào tạo kĩ thuật, và con số này ở người nghèo là 0.2%
Trang 28Bảng 4: rình độ học vấn của người nghèo và không nghèo tại ĐBSCL
Về kĩ năng lao động, nhóm nghiên cứu đã phỏng vấn các chủ doanh nghiệp ở ba tỉnh trong phạm vi dự án Hai phần ba doanh nghiệp được khảo sát cho rằng những tiến
bộ trong trình độ năng lực của người lao động vẫn chưa kịp đáp ứng cho nhu cầu phát triển của doanh nghiệp Giới lãnh đạo được phỏng vấn cho biết mặc dù họ có thể đảm trách nhiệm vụ của mình, họ vẫn còn thiếu kiến thức và kĩ năng để giúp họ hoàn thành tốt công tác Phần lớn các chủ doanh nghiệp tham gia trong cuộc điều tra cho biết
họ chưa qua khóa đào tạo chính qui nào về kĩ năng quản lý, mà chỉ phát triển những kĩ năng cần thiết qua kinh nghiệm thực tiễn Cán bộ quản lý của các doanh nghiệp nhà nước thường được đào tạo chính qui nhiều hơn là các đối tượng tương đương từ doanh nghiệp tư nhân
Mối quan hệ giữa đào tạo và việc làm: Các cuộc điều tra cho thấy các doanh nghiệp
dùng các tiêu chí sau cho việc lựa chọn nhân viên để được đào tạo (viết theo thứ tự
thông tin):
- Tuổi tác
- Tính chất công việc
- Tính siêng năng và ham học hỏi của nhân viên
- Bằng cấp, chức vụ và ý thức muốn đóng góp cho doanh nghiệp (cả ba đều quan trọng bằng
nhau)
- Khả năng tiếp thu thông tin
Theo Nguyễn Tri Khiêm (2010), nghiên cứu về khả năng đáp ứng công việc hiện tại của sinh viên ngành Phát triển nông thôn, Cựu sinh viên cho biết kiến thức được học đã được ứng dụng nhiều trong công việc hiện tại, tỉ lệ ứng dụng chiếm tỉ lệ cao trong khoảng 25 - 75% (Bảng 5) Vì mục tiêu đào tạo của ngành là đào tạo kỹ sư ngành PTNT có kiến thức tổng hợp về nhiều lĩnh vực liên quan đến phát triển nông thôn, có khả năng tự học để tiếp
Trang 29tục nâng cao trình độ, mở rộng kiến thức nhằm thích nghi tốt với nhu cầu đổi mới của đất nước
Bảng 5: Khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tế công việc của sinh viên ngành PTNT
Nguồn: Nguyễn Tri Khiêm (2010)
3.2.4 Mong muốn bổ sung kiến thức
Vì kiến thức được trang bị rất tổng hợp, vì vậy để đáp ứng tốt công việc hiện tại cựu sinh viên phải trang bị thêm kiến thức Cựu sinh viên ngành PTNT làm việc trong rất nhiều lĩnh vực vì vậy nguyện vọng nâng cao kiến thức cũng rất đa dạng (Hình 1) Kiến thức về kinh tế (điều hành, quảng bá sản phẩm …) và những kỹ năng giao tiếp trong công việc là những lĩnh vực quan trọng mà cựu sinh viên ngành PTNT mong muốn được học thêm
năng về truy cập Internet và tin học
Trang 303.2.2 Nguyên nhân của trình độ học vấn thấp kém ở ĐBSCL
ĐBSCL không phải là khu vực nghèo nhất Việt Nam và cơ sở hạ tầng phục vụ giáo dục của vùng cũng tương đối tốt, thế nhưng tỉ lệ đi học của vùng lại thuộc loại thấp nhất nước Trong năm 1998, chỉ 87,8% trẻ em trong độ tuổi 6-10 đến trường, gần như là tỉ lệ thấp nhất trong 7 khu vực (chỉ cao hơn rất it so với Tây Bắc Bộ, khu vực nghèo nhất nước) Nói một cách cụ thể, ĐBSCL là một trong những vùng có tỉ lệ phổ cập tiểu học thấp nhất nước (chỉ 76,1%, trong khi tỉ lệ cao nhất là ở Đồng bằng sông Hồng với 96,5%) Tỉ lệ trẻ em trong độ tuổi 6-14 chưa bao giờ đến trường của ĐBSCL cao thứ ba trong cả nước (Theo GSO Việt Nam và Ủy Ban Chăm sóc và Bảo vệ Trẻ em Việt Nam, 2000)
Bảng 6: Chi tiêu cho giáo dục và y tế tại các vùng (đơn vị %)
Kỹ năng truyền thông
Quản tri kinh doanh nông nghiệp
Kỹ thuật nông nghiệp (kỹ thuật nuôi, trồng, chọn tạo giống)
Bảo vệ thực vật Hình 1: Nguyện vọng bổ sung kiến thức của cựu SV PTNT
Trang 31Đầu tư của hộ gia đình vào giáo dục ở ĐBSCL thấp hơn nhiều so với các vùng khác và không tương đương với mức thu nhập bình quân của vùng Số liệu từ cuộc VHSLL cho thấy chi tiêu liên quan đến giáo dục của các hộ không nghèo ở ĐBSCL chỉ chiếm 3,3% của tổng chi phí chi tiêu Đây là con số thấp nhất cả nước Đối với người nghèo, con số này là 2,5% tổng chi phí chi tiêu, thấp thứ nhì cả nước, chỉ sau vùng Tây Bắc Bộ và vùng núi phía Bắc nơi có tỉ lệ 2,2% Điều này cho thấy ở ĐBSCL, giáo dục không được người dân ưu tiên đầu tư bằng ở các vùng khác Hiện trạng này không phải chỉ xảy ra đối với hộ nghèo, mà với cả các hộ trung bình và khá
Qua số liệu bảng 7 cho thấy nhóm hộ nghèo chi tiêu cho sinh hoạt gia đình rất cao so với nhóm hộ thoát nghèo và khá/giàu Nhìn chung, vấn đề đầu tư cho giáo dục của 3 nhóm hộ vẫn còn thấp thấp Qua bảng 7 còn cho thấy tỷ lệ chi cho lễ hội, đám tiệc chiếm tương đối cao (hộ khá/giàu: 7,57%, hộ thoát nghèo: 7,26 và hộ nghèo là 6,76), trong khi đó tỷ lệ đầu tư cho y tế lại rất thấp (hộ khá/giàu: 0,85%, hộ thoát nghèo: 1,49 và hộ nghèo là 1,39) Qua đó cho thấy nhận thức của đồng bào dân tộc Khmer tại đây về vấn đề đầu cho giáo dục và y tế còn rất thấp Họ chỉ quan tâm nhiều đến việc vui chơi phục vụ cho đời sống tinh thần thông qua các lễ hội, đám tiệc, trong khi đó vấn đề sức khoẻ và việc nâng cao nhận thức về giáo dục lại không được chú trọng Đó cũng là một trong những nhân
tố chính ảnh hưởng đến việc nâng cao cuộc sống của cộng đồng người dân tộc Khmer (Lương Văn Duyên, 2007)
Bảng 7: Nguồn chi tiêu/năm của 3 nhóm hộ (Đơn vị: 1000đ)
Nguồn: Lương Văn Duyên (2007) Theo nghiên cứu của Võ Tòng Xuân và ctv (2004), các nguyên nhân sau đây làm chất lượng nguồn nhân lực thấp:
+ Nguyên nhân kinh tế: Phỏng vấn trực tiếp học sinh của ba tỉnh khảo sát cho thấy
khó khăn về kinh tế là nguyên nhân thường được lí giải nhiều nhất cho câu hỏi tại sao các học sinh phải bỏ học 92% học sinh ở Long An cho biết khó khăn về kinh tế gia đình
đã dẫn đến việc bỏ học Các giáo viên và cán bộ địa phương cũng trả lời tương tự Chi
Nhóm hộ
Nguồn chi
Sinh hoạt gia đình 14.896,3
Trang 32phí khá cao cho con em đi học từ phổ thông cơ sở trở lên Đây đặc biệt là một gánh nặng cho các gia đình đông con
Lương giáo viên thấp, vì vậy họ phải làm thêm ngoài giờ để đủ sống 71% giáo viên bậc tiểu học và 53% giáo viên các cấp khác được phỏng vấn cho biết họ có làm thêm ngoài công tác dạy học Những tỉ lệ này không biến đổi nhiều giữa các trường khảo sát trong ba tỉnh Làm một lúc hai, ba công việc rất có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy vì giáo viên ít có thời gian phát triển chuyên môn, hoặc áp dụng các phương pháp sư phạm mới đòi hỏi nhiều thời gian ngoài lớp học hơn
+ ọc vấn chính qui có tỉ suất sinh lợi thấp: Điều kiện kinh tế của vùng ĐBSCL tốt
hơn so với nhiều vùng khác trong nước Điều này dẫn nhóm nghiên cứu đến nhận định rằng mặc dù kinh tế là nguyên nhân chính dẫn đến trẻ bỏ học ở ĐBSCL, còn có những vấn đề phức tạp khác ảnh hưởng đến trình độ giáo dục chung Quan niệm cho rằng học vấn ít có ích lợi là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc gia đình đầu
tư thấp cho con em đi học Cuộc phỏng vấn người dân năm 2002 cho thấy, ngoại trừ công nhân kĩ thuật là nhóm lao động có nhu cầu cao trong thị trường ĐBSCL, còn lại bằng cấp của người lao động không ảnh hưởng mấy đến mức lương của họ (theo GSO, 2002) Lương một người có bằng cao đẳng hoặc đại học có thể chỉ cao hơn 20% so với lương một người chỉ có trình độ tiểu học biết đọc biết viết Thị trường lao động không phân biệt trình độ tiểu học, trung học cơ sở hay trung học phổ thông, và có những trường hợp người có bằng trung học lại có mức lương thấp hơn người có trình độ tiểu học khoảng 13% Mức lương ít phụ thuộc vào bằng cấp mà phụ thuộc vào các yếu tố khác (sức khoẻ tốt để lao động nặng, kinh nghệm, kĩ năng, vv)
Tương tự như trên, thống kê cũng cho thấy ở ĐBSCL bằng cấp của chủ hộ gia đình cũng không có tác động gì đối với hiệu năng kinh tế của họ Thậm chí, kết quả sản xuất kinh doanh của các gia đình có chủ hộ không có bằng cấp hoặc chỉ có trình độ lớp 1 lại cao hơn so với những gia đình có chủ hộ đã học xong phổ thông hoặc có bằng đại học
+ Giáo dục và đào tạo thiếu tính thiết thực: Những phát hiện trên không có nghĩa
giáo dục là không cần thiết Nhưng nó có nghĩa là những kiến thức và kĩ năng mà hệ
Trang 33thống giáo dục hiện nay trang bị cho học sinh lại xa rời so với nhu cầu kinh doanh sản xuất Mặt khác, nghiên cứu này nhấn mạnh những kiến thức và kĩ năng cho kinh doanh sản xuất được học hỏi và tích lũy qua cách học riêng chứ không qua trường lớp Nhiều người dân, nhất là các hộ nông nghiệp, nhận định rằng học vấn không trực tiếp hỗ trợ nghề nghiệp trong tương lai của con em mình Quan niệm này được phản ánh qua câu trả lời của các hộ gia đình là “Làm nông không cần bằng cấp cao” Thật ra thông điệp của các hộ dân là “bằng cấp không hữu dụng trong sản xuất nông nghiệp” Các hộ gia đình thường đưa ra khó khăn về kinh tế để lý giải cho việc không cho con em tới trường, nhưng thật ra vấn đề nằm ở hệ thống giáo dục vì phương pháp giảng dạy kém và nội dung không liên quan đến nhu cầu của người dân trong vùng Điều này có nghĩa là cha
mẹ thường khó thấy đủ lý do để đầu tư cho con em mình đi học, mặc dù kiến thức và giáo dục đang rất thiếu và là tối cần thiết đối với sự phát triển vùng
+ Chi phí cơ hội: Đối với gia đình ở ĐBSCL, nơi có một thị trường tiêu thụ lao động
phổ thông lớn, chi phí cơ hội cho trẻ em đến trường vì thế cao hơn so với các khu vực khác bởi vì trẻ em độ tuổi 10-14 có thể cung cấp lao động đáng kể Đây là một trong những lý do kinh tế quan trọng dẫn đến việc gia đình không khuyến khích con em đi học
+ Nguyên nhân xã hội: Hộ gia đình, học sinh và giáo viên cũng nêu ra những nguyên
nhân xã hội dẫn đến bỏ học như sau:- Thái độ cho rằng sản xuất nông nghiệp không cần nhiều học vấn Cách suy nghĩ này khá phổ biến trong nhiều tầng lớp dân cư, nhất là người nghèo và không có trình độ học vấn Những yếu kém mang tính hệ thống trong giáo dục và đào tạo càng củng cố thành kiến này – (1) Trình độ văn hóa thấp của thế
hệ trước ảnh hưởng tiêu cực đến giáo dục của thế hệ sau Nhiều học sinh cho biết sau khi tốt nghiệp lớp 12, các em sẽ không học lên tiếp vì các em không biết ai học trên lớp 12 cả Cha mẹ các em cũng không giải thích được cho con em mình giáo dục sau phổ thông là gì – (2) Cha mẹ có trình độ học vấn thấp hoặc bận rộn với công việc nên không có khả năng hoặc thời gian để tạo ra một môi trường học tập tốt cho con cái Trẻ
em trong những gia đình như thế bị ảnh hưởng bởi cách suy nghĩ của cha mẹ và thích đi làm kiếm tiền hơn là đi học (3) - Đối với trẻ em gái, hôn nhân sớm và tư tưởng trọng nam khinh nữ, chẳng hạn quan niệm phụ nữ không nên học cao hơn chồng, ảnh hưởng lớn đến thái độ học tập của các em gái Nhiều phụ huynh và các em gái xem hôn nhân là sự nghiệp chính của phụ nữ và phụ nữ không nên học nhiều vì điều này có thể cản trở hôn nhân (4)- Học sinh người Khmer có khuynh hướng bỏ học sớm hơn học sinh người Kinh và Hoa
3.2.3 Cơ hội và trở ngại đối với người nghèo để phát triển nguồn nhân lực
3.2.2.1 Cơ hội việc làm
Theo nghiên cứu của Võ Tòng Xuân và ctv (2004), Nhiều ý kiến cho rằng hoạt động phi nông nghiệp có thể giúp người nghèo thoát nghèo Ở tỉnh Bạc Liêu, việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp đã được xác định là một phương tiện giúp giảm tỉ lệ nghèo xuống còn 7% vào năm 2005 Theo cán bộ tỉnh và huyện, hai ngành chính để giúp người nghèo thoát nghèo sẽ là chăn nuôi thủy sản và sản xuất mỹ nghệ công nghiệp Điển hình là trong năm 2002, tỉnh Bạc Liêu đã có 18 ngàn việc làm cho hộ gia đình nghèo trong hai
ngành này
Trang 34Trở ngại trong tìm việc làm Khi người nghèo được hỏi về những trở ngại trong tìm việc làm, 86% người được khảo sát ở Bạc Liêu cho biết điều kiện gia đình khó khăn là trở ngại chính, tiếp theo là trình độ học vấn thấp (71%), và tinh thần và nỗ lực cá nhân (57%) Có ít trung tâm giới thiệu việc làm và những trung tâm này hoạt động không hiệu quả Khoảng 92% dân địa phương tìm việc làm thông qua gia đình và bạn bè, và chỉ có 31% tìm việc làm thông qua trung tâm giới thiệu việc làm Khảo sát cho thấy thanh niên nông thôn linh động hơn trong tìm việc làm, nhưng loại việc họ tìm được thường chỉ là lao động phổ thông Cán bộ địa phương ước tính rằng số người lao động của địa phương mình tìm được việc làm ở thành phố lớn (Thành phố Hồ Chí Minh hay Cần Thơ) hoặc ở các khu chế xuất là không cao, mặc dù không có con số chính xác Những lao động này không có ý định về quê lại sau khi họ đã học được kĩ năng và kiến thức Tuy nhiên, những lao động này gửi tiền về cho gia đình ở quê và số tiền này giúp
cho nhiều hộ nghèo trang trải cuộc sống hoặc mở rộng sản xuất nông nghiệp
Đánh giá của các hộ dân về ích lợi của các hoạt động hổ trợ của chính quyền cho thấy đầu tư vào cơ sở hạ tầng và y tế được đánh giá cao nhất, tiếp theo là tín dụng Giới thiệu việc làm thường được xếp hạng thấp nhất
Sau đây là những khuyến nghị nhằm phát triển nguồn nhân lực của ĐBSCL:
- Tăng cường đào tạo dạy nghề
- Hỗ trợ các khóa dạy nghề chuyên sâu nhằm đào tạo các kĩ năng cần thiết cho các doanh nghiệp địa phương cả trong khu vực kinh tế nhà nước lẫn tư nhân, nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế vùng
- Ưu tiên đào tạo và nâng cao kĩ năng kinh doanh và quản lý cho các doanh nghiệp ở ĐBSCL
- Tổ chức các khóa dạy nghề đặc biệt cho người nghèo và cung cấp dịch vụ giới thiệu việc làm thích hợp sau khóa học
- Thêm đào tạo nghề vào chương trình giáo dục phổ thông Nhằm tạo điều kiện thực hiện khuyến nghị này, cần phải có một chiến lược đầu tư đào tạo chuyên viên dạy nghề cho ĐBSCL Nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường Hỗ trợ cải tiến trong phương pháp đào tạo, khuyến khích suy nghĩ độc lập hơn là học thuộc lòng; sẵn sàng học hỏi từ kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục phát triển hơn; phổ cập giáo dục cho tất cả mọi người; xây dựng một nền giáo dục với trọng tâm về chất lượng chứ không phải chỉ nhằm vào chỉ tiêu và bằng cấp
- Định hướng lại đầu tư vào giáo dục, chú trọng vào thư viện, phòng thí nghiệm, vườn sinh vật, chuyên gia hướng dẫn thực hành, các bộ môn thiết thực và gần gũi với môi trường sống và làm việc trong khu vực, công nghệ thông tin và internet
- Xây dựng kế hoạch dài hạn để đào tạo giáo viên giảng dạy các bộ môn thực tế đối với khu vực ĐBSCL
Trang 353.2.3 Cơ hội nâng cao nguồn nhân lực nông hộ thông qua đầu tư cho giáo dục
Theo nghiên cứu của Võ Duy Thanh (2010) thực hiện tại An Giang cho thấy hiện nay, mối quan tâm nhất của chính quyền địa phương là làm thế nào để cải thiện sinh kế người dân trong vùng đê bao triệt để thông qua việc cung cấp tín dụng cho nông dân nhằm thúc đẩy quá trình thâm canh tăng vụ Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng bản thân các chương trình tín dụng sẽ không thể thành công mà không có sự hỗ trợ nâng cao nguồn nhân lực, nhất là đối với những hộ sử dụng vốn vay trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp Như đã được đề cập ở phần trên, nhóm hộ nghèo có rất ít cơ hội để nâng cao năng lực sản xuất, cập nhật những kỹ thuật canh tác mới, do nhiều yếu tố cản trở họ tiếp cận vốn xã hội trong cộng đồng Tuy nhiên, tình trạng nghèo của họ sẽ còn tiếp tục nếu thế hệ con cái của họ không được đầu tư đầy đủ để có thể nâng cao trinh độ giáo dục, giúp nông hộ có thể thoát khỏi hoàn cảnh nghèo trong tương lai
Theo phỏng vấn sâu các cán bộ địa phương thì hầu hết trẻ em đều đến trường khi đến độ tuổi Tuy nhiên, thách thức hiện nay chính là ngày càng tăng số lượng học sinh bỏ học, phần lớn nằm trong nhóm hộ nghèo gặp nhiều điều khó khăn về kinh tế gia đình Theo báo cáo chính thức của xã thì tỷ lệ học sinh bỏ học các cấp học là rất thấp, chiếm khoảng 5.5% Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát nông hộ thì có khoảng 12% trẻ em bỏ học khi chưa học hết cấp II Hầu hết số học sinh phải nghĩ học sớm thuộc trong nhóm hộ nghèo
có đất và không đất Dựa trên một số cuộc phỏng vấn sâu, có nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh nguyên nhân tại sao các em trong các hộ nghèo phải nghĩ học sớm
Quan điểm của chính quyền địa phương cho rằng, do thiếu thông tin nên nhiều phụ huynh chưa nhận thức đầy đủ về các chính sách của Nhà nước về hỗ trợ giáo dục cho người nghèo Hộ nghèo luôn nghĩ rằng học phí và các khoản đóng góp khác là một gánh nặng cho con cái của họ đến trường Các gia đình nghèo có xu hướng cho con cái của họ học
đủ để biết đọc, biết viết chứ chưa chú trọng đến việc nâng cao trình độ để con cái của họ
có một nghề nghiệp tốt hơn Chính quyền địa phương cũng có đi vận động học sinh nghĩ học đến trường, nhưng do nhận thức của phụ huynh còn yếu nên con cái của họ đều không trở lại trường lớp
Tuy nhiên, các hộ gia đình nghèo đều cho rằng kinh tế gia đình mới là yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định của họ là có nên tiếp tục cho con đi hoặc hay không Mặc dù có những chính sách miễn giảm học phí cho học sinh nghèo, nhưng các khoản chi tiêu cho sách vở, quần áo, bảo hiểm, các nguồn quỹ đóng góp cho trường, tiền ăn uống hàng ngày,…là mối quan tâm lớn của của các hộ nghèo Trong các gia đình nhiều anh em thì một số em phải nghĩ học sớm để lao động kiếm tiền hỗ trợ những anh em còn lại tiếp tục đến trường Đối với những hộ nghèo chuyên sống bằng nghề làm thuê thì nhiều trẻ em phải đi cùng với cha mẹ từ nơi này đến nơi khác, nhất là trong thời kỳ thu hoạch lúa Kết quả là các em không thể đến lớp học thường xuyên được, dần dần dẫn đến bỏ học giữa chừng
Theo nhiều cuộc phỏng vấn sâu thì việc đầu tư cho con đi học đến nới đến chốn không phải là một lựa chọn dễ dàng đối với hộ nghèo Trong nhiều trường hợp, các em tự nhận thức được gánh nặng kinh tế đối với cha mẹ nên quyết định nghĩ học để tham gia vào lực lượng lao động của gia đình, tìm kiếm thu nhập phụ tiếp cha mẹ Các bậc cha mẹ trong các hộ nghèo thường bận rộn với kiếm sống hàng ngày nên không có đủ thời gian để quan tâm, hỗ trợ việc học của con cái Trẻ em phải làm việc nên không có nhiều thời gian
để tập trung vào bài học, điều này trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả học tập Một nông dân
Trang 36là phụ huynh của 3 học sinh thuộc nhóm hộ nghèo đề cập đến những khó khăn khi cho con đến trường:
“Tôi có 3 đứa con và tất cả chúng đều đến trường Đầu năm học gia đình tôi phải tốn rất nhiều chi phí cho chúng đến trường như học phí, phí xây dựng trường học, mua quần áo, xe đạp, sách giáo khoa, Các khoản chi phí này chiếm quá nhiều trong thu nhập của gia đình tôi Tôi mong muốn các con được tiếp tục đi học, nhưng trong hoàn cảnh kinh tế gia đình ngày càng khó khăn thế này thì tôi không biết năm tới chúng có tiếp tục đến trường được hay không”
(Phỏng vấn anh Nguyễn Văn Thắng, 39 tuổi, ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ An)
Không giống như nhóm hộ nghèo, một số hộ trung bình có quan điểm khác về đầu tư cho
giáo dục, một nông dân chia sẻ:
“Tôi quyết tâm cho con tôi đi học để sau này chúng có việc làm ổn định Cha
mẹ tôi nghèo nên không có khả năng lo cho anh em tôi học đến nơi đến chốn Làm ruộng cực khổ quá nên tôi không muốn các con tôi làm nghề nông nữa Nếu không đủ tiền, tôi sẳn sàng bán đất để chan trải cho con tôi đi học”
(Phỏng vấn ông Trần Thanh Hồng, 61 tuổi, ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ An) Một nông dân khá-giàu, diện tích đất là 3 ha, quản lí một trạm bơm và sở hữu một máy cày và một máy suốt chia sẻ về việc phân công lao động trong gia đình và chiến lược đầu
tư cho con đi học:
“Đầu tư cho con đi học là một chiến lược dài hơi đòi hỏi cha mẹ phải quyết tâm Tôi có 4 đứa con thì đã có 3 đứa đi học, hai đứa đang học đại học và một đứa đang học cấp II Đứa còn lại ở nhà phụ tiếp tôi quản lý trạm bơm và công việc đồng áng Gia đình tôi có 3 ha đất lúa, tuy nhiên tôi không lo lắng nhiều
về việc thiếu lao động gia đình vì hiện tại tôi có một máy cày và một máy suốt Vào chính vụ tôi thường xuyên thuê thêm 2 lao động nữa để chạy máy cày, máy suốt và phu trách việc bơm tưới của trạm bơm”
(Phỏng vấn nông dân Phạm Văn Nghị, 52 tuổi, ấp Mỹ Thạnh, xã Mỹ An)
Từ những kết quả khảo sát trên cho thấy điều kiện kinh tế khó khăn là một trong những nguyên nhân chính khiến học sinh trong những gia đình nghèo không thể đến trường Giải pháp thông thường của cha mẹ thường cho con nghĩ học để giảm gánh nặng về kinh
tế hoặc để bổ sung thêm thành viên lao động để có thể tạo ra thu nhập cho gia đình Do
đó trẻ em trong các gia đình nghèo có ít cơ hội hơn để nâng cao trình độ, để có thể tiếp cận được những cơ hội việc làm tốt hơn trong tương lai
Tóm lại, khoảng cách giàu-nghèo giữa các nhóm hộ trong vùng đê bao có xu hướng ngày càng tăng thể hiện ở sự khác biệt về cơ cấu các nguồn thu nhập, quy mô đất đai, tiếp cận vốn xã hội và đầu tư giáo dục cho thế hệ tiếp theo Trước khi xây dựng để bao, vẫn có sự phân hoá về thu nhập giữa các nhóm hộ, tuy nhiên khoảng cách không nhiều do phần lớn nông dân sản xuất lúa Hầu hết hộ nghèo đều có thể tạo thêm thu nhập trong mùa lũ từ nghề đánh bắt cá; một số hộ thậm chí có thể thoát nghèo Kể từ khi xây dựng đê bao, hoạt động sản xuất nông nghiệp trở nên sôi động hơn trong vùng đê bao, nông dân thâm canh
Trang 37tăng vụ liên tục Tuy nhiên, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp của nhóm hộ nghèo không được cải thiện do đất đai ngày càng suy kiệt, chi phí sản xuất gia tăng liên tục, trong khi nguồn thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp có chiều hướng giảm Sản xuất nông nghiệp thâm canh dường như đã mang đến nhiều rủi ro hơn những nông hộ sản xuất nhỏ
lẻ
Nhóm hộ nghèo mất đi nguồn sinh kế chính từ nghề câu lưới, trong khi thu nhập từ làm thuê trong nông nghiệp có xu hướng giảm Sự gia tăng cơ giới hoá trong những năm gần đây, đặc biệt là sự xuất hiện ngày càng nhiều máy gặt đập liên hợp đã làm cho đời sống
hộ nghèo ngày càng khó khăn hơn Bên cạnh đó, do phần lớn nông hộ trong vùng đê bao sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ với 4-5 công đất/hộ nên họ có xu hướng tận dụng lao động gia đình hơn là thuê mướn từ bên ngoài Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sinh kế của nhóm hộ nghèo không đất chuyên sống bằng nghề làm thuê mướn Kết quả khảo sát cũng
đã thể hiện phần lớn lao động thuộc nhóm hộ nghèo không có đất đều di cư làm công nhân hoặc đi làm thuê mướn ở nơi khác chứ ít khi có công việc thường xuyên tại địa phương Điều này đã làm thay đổi lớn trong cơ cấu lao động tại địa phương Trong khi lĩnh vực nông nghiệp ngày giải quyết ít lao động nông thôn hơn thì sức ép lao động di cư đến các khi vực đô thị ngày càng lớn Thậm chí một số hộ trung bình có ít đất phải rút bớt lao động trong nông nghiệp để đi làm công nhân nếu muố đảm bảo được đời sống của gia đình Xu hướng lao động trẻ rời khỏi nông thôn ngày càng gia tăng
Ngược lại với những trở ngại mà nhóm hộ nghèo gặp phải, nhóm hộ khá-giàu có nhiều điều kiện thuận lợi để gia tăng thu nhập sau khi hệ thống đê bao hoàn thành Điển hình là
sự mở rộng quy mô của các dịch vụ đầu vào nông nghiệp Thâm canh tăng vụ, đa dạng hoá cây trồng-vật nuôi đồng nghĩa với việc gia tăng sử dụng phân thuốc BVTV, giống cây trồng và các dịch vụ bơm tưới đã tạo cơ hội cho nhóm hộ khá-giàu có thể mở rộng kinh doanh các dịch vụ nông nghiệp Với quy mô đất đai lớn, chủ động trong các yếu tố đầu vào sản xuất như giống, phân thuốc BVTV, cùng với việc sở hữu máy nông nghiệp, nhóm hộ khá-giàu có đủ điều kiện để nâng cao hiểu quả sản xuất của họ, cả trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp
Xây dựng đê bao để tăng gia sản xuất nhằm mục tiêu nâng cao thu nhập của người dân, góp phần xoá đói giảm nghèo Tuy nhiên kết quả thực tế đã mang đến nhiều rủi ro hơn cho các nhóm yếu thế, càng làm gia tăng tăng sự phân hoá giữa các nhóm hộ trong cộng đồng Người nghèo bị hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn lực nên không thể tận dụng lợi thế của quá trình thâm canh nông nghiệp Một trong những nguyên nhân là do chính quyền địa phương đã bị áp lực để đáp ứng mục tiêu sản xuất, sức ép phải gia tăng sản lượng chứ chưa tập trung vào mục tiêu giảm nghèo Những tổn thất về tài nguyên do hệ thống đê bao mang lại đã làm cho cuộc sống của người nghèo đã thực sự trở nên khó khăn hơn
3.3 ư liệu sản xuất
Đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản và không thể thay thế của nông nghiệp Tuy cơ sở hạ tầng, trang thiết bị không bằng thành thị dẫn theo đời sống vật chất và tinh thần cũng thiếu thốn, nhưng với sự quan tâm của nhà nước góp phần xây dựng các công trình, đầu
tư cơ sở vật chất ngày càng khang trang cho vùng nông thôn từ đó đời sống của người dân ngày càng tiến bộ hơn Với đường giao thông được tráng nhựa, các công trình cung cấp nước sạch cho người dân và đa số vùng nông thôn điều có điện đã tạo điều kiện cho người dân thuận tiện trong sản xuất, buôn bán, sinh hoạt góp phần tạo diện mạo mới cho vùng nông thôn
Trang 38Ví dụ: Nếu như trước đây khi đường giao thông còn chưa tráng nhựa, khi tới mùa mưa việc đi lại mua bán, học hành của người dân bị ảnh hưởng thì khi đường được tráng nhựa việc học hành của con em nông dân thuận tiện hơn, háng hóa được mua bán dễ dàng hơn, việc làm ăn của người dân cũng tốt hơn góp phàn làm giàu cho gia đình và xã hội
- ạ tầng nông thôn
Hơn một thập niên qua, các tỉnh vùng ĐBSCL đã có những tiến bộ to lớn trong việc phát triển hạ tầng nước sạch và vệ sinh môi trường Gần một nửa dân nông thôn có nước sạch, gồm cả “nước đi mua”, nhưng không tính nước lấy từ các giếng đào thủ công Nghiên cứu cho thấy mùa mưa phát sinh một vấn đề đặc biệt trong vùng vì nguồn nước
dễ nhiễm bẩn khi có lũ (WB, 2003) Nhà vệ sinh phù hợp cũng là một vấn đề lớn ở ĐBSCL vì hầu hết là người nghèo và cả người không nghèo đều sử dụng nhà vệ sinh đơn
sơ xây dựng rẻ tiền, nhưng gây ra các vấn đề về sức khỏe và môi trường Nước sạch và
vệ sinh môi trường gắn liền với sức khỏe và cuộc sống vùng ĐBSCL Sức khỏe có quan hệ mật thiết với nghèo đói Khi trong nhà mất đi một người lớn vì bệnh tật hoặc mất sức, mức thu nhập giảm và gia đình đó có nguy cơ tái nghèo rất cao (CIE, 2002) Bệnh tật dài ngày được mô tả là đặc trưng của đa số gia đình nghèo (WB, 2003) Các tiện ích vệ sinh môi trường phù hợp rất quan trọng để ngăn ngừa bệnh tật, dịch tả và cả suy dinh dưỡng
Các tỉnh trong vùng cũng đã đầu tư nhiều vào việc phát triển hạ tầng giao thông và xây dựng các trung tâm giáo dục, y tế Mạng lưới trường học ở tất cả các cấp tại ĐBSCL rộng hơn nhiều so với nhiều vùng khác trong cả nước và 99,1% xã có trung tâm y
tế riêng (GSO, 2001, Điều tra Nông thôn và Nông, Lâm, Ngư nghiệp) Hệ thống đường xá vẫn thông suốt và nối liền các trung tâm huyện, thị trấn và các giao lộ trung tâm xã Hệ thống thủy lộ là kênh giao thông quan trọng Một quan ngại đưa ra trong các cuộc khảo sát trong khuôn khổ báo cáo này là cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ như trường học và các trung tâm y tế phân bố không đều và có ít cơ sở còn hoạt động
ở các vùng xa vì thiếu giáo viên, bác sĩ và y tá Hệ thống điện và viễn thông nông thôn phát triển nhanh Cán bộ nhà nước xác nhận rằng hệ thống này có tác động tích cực đến kinh tế của vùng, tạo các điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình nghèo tiếp cận các thông tin khoa học kỹ thuật, cũng như các thông tin về thị trường và tiêu thụ sản phẩm (Dự án MDPA, Báo cáo giai đoạn 1, 2003) Phát triển mạng lưới điện đã khuyến khích tạo việc làm tại vùng nông thôn, cũng như việc thành lập các doanh nghiệp thương mại và dịch
vụ Thực vậy, dường như có sự tương quan giữa nghèo và thiếu điện ở các tỉnh ĐBSCL (xem Bảng 3)
Nhu cầu phát triển thêm cơ sở hạ tầng
Những trở ngại lớn đối việc phát triển hạ tầng vẫn còn Lượng xe lưu thông vượt xa mức cải tạo nâng cấp đường hiện hữu Lưu lượng xe tăng quá nhanh đến nỗi nhiều tuyến đường chính liên tỉnh cần sớm mở rộng tăng từ hai làn xe lên bốn làn xe Lưu thông của các loại phương tiện vận tải nặng cùng với các loại xe gắn máy đòi hỏi phải xây dựng dải phân cách để tách luồng giao thông Giao thông tại ĐBSCL là một hỗn hợp giữa vận tải đường biển cho các tuyến ngắn, đường thủy; vận tải hàng không và đường bộ Đường thủy liên tỉnh chiếm phần chủ yếu, nhưng vẫn cần cải thiện các đường