trong giai đoạn hiện nay nước ta đang đứng trước những thách thức, những biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực đòi hỏi Đảng phải luôn kiên định xây dựng và thực hiện các c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
TẠ THỊ THÚY KIỀU
ĐẢNG BỘ HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
KHÓA HỌC: 2008 - 2012
An Giang, 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
Giảng viên hướng dẫn
Th.s Nguyễn Văn Trang
An Giang, 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự
hỗ trợ và giúp đỡ của:
- Ban Giám hiệu trường Đại học An Giang Đặc biệt là thầy cô trong
khoa lí luận chính trị đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em nghiên cứu khóa luận này
- Thầy Nguyễn Văn Trang đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong
suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp
- Đồng thời, em cũng xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban ngành
của huyện Tịnh Biên, của tỉnh An Giang đã nhiệt tình cung cấp những tài liệu thiết thực và bổ ích, góp phần thuận lợi cho em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn!
Long xuyên, ngày 20 tháng 4 năm 2012
Sinh viên
Tạ Thị Thúy Kiều
Trang 4Phần mở đầu……… 1 Phần nội dung………5 Chương 1: Đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam và đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng bộ tỉnh An Giang
từ năm 2001 đến 2010……… 5 1.1 Đường lối phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 – 2010 của Đảng Cộng sản Việt Nam……….5 1.2 Đường lối phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang giai đoạn 2001 – 2010……….8
1.2.1 Đường lối phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang giai đoạn 2001
– 2005……… 9
1.2.2 Đường lối phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang giai đoạn 2006
– 2010………13
1.2.3 Những thành tựu đạt được, những hạn chế yếu kém và những
nguyên nhân thuộc về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ An Giang trong mười năm lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội An
Giang……….17
Chương 2: Đảng bộ huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2001 đến năm 2010
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên và tiềm năng phát triển kinh tế -
xã hội của huyện Tịnh Biên………21 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên – xã hội……… 21
2.1.2 Những tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội……… 23
2.2 Đảng bộ huyện Tịnh Biên lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2001 đến năm 2010……… 25 2.2.1 Đảng bộ huyện Tịnh Biên lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội
từ năm 2001 đến năm 2005……….25
2.2.1.1 Đường lối phát triển kinh tế - xã hội huyện Tịnh Biên từ năm
2001 đến năm 2005……… 25 2.2.1.2 Thành tựu và hạn chế………27 2.2.2 Đảng bộ huyện Tịnh Biên lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội
từ năm 2006 đến năm 2010……….32
2.2.2.1 Đường lối phát triển kinh tế - xã hội huyện Tịnh Biên từ năm
2006 đến năm 2010……… 32
2.2.2.2 Thành tựu và hạn chế………37
2.3 Đánh giá tổng quát, những kinh nghiệm và các giải pháp để tiếp
tục nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới
Trang 52.3.3 Một số giải pháp để tiếp tục nâng cao hiệu quả phát triển kinh
tế - xã hội trong thời gian tới……….45
Phần kết luận……… 48 Danh mục tài liệu tham khảo……….50
Trang 6- xã hội trải qua để có thể rút ra những bài học kinh nghiệm Mặt khác, quá trình đó cũng giúp chúng ta định hướng tốt hơn cho sự phát triển trong tương lai
Ngay sau khi thống nhất đất nước với việc thực hiện cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trên phạm vi cả nước đã đem lại nhiều khó khăn cho nền kinh tế - xã hội vốn đã ốm yếu của Việt Nam, làm suy kiệt nguồn lực của đất nước Tình trạng làm không đủ ăn, thu chi ngân sách phải dựa vào vay và viện trợ nước ngoài diễn ra thường xuyên đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế -
xã hội
Đứng trước bối cảnh đó, con đường duy nhất là phải đổi mới đất nước, đổi mới nền kinh tế Để đưa đất nước thoát dần ra khỏi cuộc khủng hoảng đã kéo dài hàng chục năm, tháng 12-1986, Đại hội VI của Đảng quyết định thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, mở ra thời kỳ mới của phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam Trong quá trình tổ chức thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội
VI đề ra, nhiều Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và
đặc biệt các Đại hội Đảng - Đại hội VII (6-1991) với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội VIII (6-1996), Đại hội
IX (4-2001), Đại hội X (4-2006) và Đại hội XI (1-2011) đã không ngừng bổ sung, phát triển và hoàn thiện dần đường lối đổi mới, làm rõ hơn nhiều vấn đề
lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới về phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đi qua chặng đường hơn 25 năm và thu được nhiều kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử Kinh
tế Việt Nam có bước phát triển vượt bậc và đời sống của người dân không ngừng được nâng cao, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng được tăng cường mạnh mẽ Có thể nói sự lãnh đạo của Đảng đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu trong việc đưa ra những đường lối đổi mới đúng đắn, phù hợp quy luật khách quan và đáp ứng được lòng mong muốn của nhân dân Đặc biệt
Trang 7
trong giai đoạn hiện nay nước ta đang đứng trước những thách thức, những biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực đòi hỏi Đảng phải luôn kiên định xây dựng và thực hiện các chủ trương chính sách đổi mới đúng đắn trên nhiều lĩnh vực chỉ đạo hoạch định các chính sách nhằm xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội vững mạnh để Việt Nam vươn mình trở thành một nước công nghiệp phát triển
Bước vào thế kỉ XXI, làn sóng toàn cầu hoá (Globalisation), khu vực hoá ngày càng lan rộng và sâu sắc hơn Thế giới đang tiến gần đến một nền kinh tế không biên giới, các nước trên thế giới đều tập trung cho phát triển kinh tế, hội nhập vào trào lưu phát triển chung, vấn đề phát triển kinh tế - xã hội là một vấn đề cần thiết và tất yếu đối với mọi quốc gia Tình hình thế giới diễn biến ngày càng phức tạp, cơ hội và thách thức, thuận lợi và khó khăn đan xen Bối cảnh quốc tế đang từng ngày, từng giờ tác động đến nhịp độ phát triển của đất nước, chúng ta sẽ phải lựa chọn hội nhập chủ động và toàn cầu hóa hay
bị động theo xu hướng chung của thế giới
Chính vì thế phát triển kinh tế được xác định là nhiệm vụ trọng tâm và quan trọng hàng đầu ở nước ta nên cần có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, trình bày một cách có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn
Phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, vùng miền núi, huyện Tịnh Biên là một trong những chủ trương lớn của Đảng bộ tỉnh An Giang Trong những năm qua, Đảng và Nhà Nước đã đề ra nhiều chính sách và tích cực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội huyện Tịnh Biên Chính nhờ sự quan tâm đầu tư đã tạo nên nhiều chuyển biến tích cực, nền kinh tế - xã hội đã “thay da đổi thịt” và đời sống của người dân tăng lên rõ rệt Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của các nhân tố về vốn đầu tư, điều kiện khí hậu - địa hình, phong tục tập quán, những bất cập trong quản lý……huyện Tịnh Biên vẫn chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế của vùng Vì vậy, mặc dù kinh tế - xã hội của huyện
đã có nhiều khởi sắc, nhưng tình trạng nghèo đói vẫn chưa thể xóa bỏ
Bản thân tôi sinh ra và lớn lên ở huyện Tịnh Biên trong một vùng quê còn nhiều khó khăn, thiếu thốn về vất chất Cuộc sống của gia đình tôi nói riêng và những người dân nơi đây nói chung còn vất vã Chính vì thế tôi mong muốn đóng góp những kiến thức mà mình đã học để phục vụ cho quê hương nên tôi đã tìm hiểu, đánh giá một số nét cơ bản trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội ở huyện Qua đó rút ra những phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tịnh Biên trong thời gian tới
Trang 8
Trên cơ sở nguồn số liệu thu thập được, xuất phát từ tình hình thực tế
và những yêu cầu cấp bách trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Tịnh
Biên trong giai đoạn hiện nay, tôi chọn đề tài ‘Đảng bộ huyện Tịnh Biên,
tỉnh An Giang lãnh đạo phát triển kinh tế xã hội từ năm 2001 đến năm 2010” làm khóa luận tốt nghiệp
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những chủ trương, chính sách, giải pháp của Đảng bộ huyện Tịnh Biên trong phát triển kinh tế xã hội
- Nghiên cứu những thành tựu và hạn chế trong sự phát triển kinh tế -
xã hội từ năm 2001 đến năm 2010
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Là một khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành đường lối Cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam, khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện Tịnh Biên trong sự phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2001 đến năm 2010
4 Phương pháp nghiên cứu
- Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu
- Khóa luận còn sử dụng một số phương pháp phổ biến và đặc thù chuyên nghành như: phương pháp logic – lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp đồng đại
5 Đóng góp của khóa luận
- Làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Tịnh Biên trong phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2001 đến năm 2010
- Đề xuất một số các giải pháp để phát huy hơn nửa vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện Tịnh Biên phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới
- Khóa luận có thể là tài liệu tham khảo cho sinh viên, những người quan tâm nghiên cứu và các cấp Đảng bộ huyện trong lãnh đạo phát triển kinh
tế - xã hội
Trang 9
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và danh mục tài liệu
tham khảo, phần nội dung khóa luận gồm 2 chương
CHƯƠNG I : ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ ĐƯỜNG LỐI PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH AN GIANG TỪ
CHƯƠNG II: ĐẢNG BỘ HUYỆN TỊNH BIÊN - TỈNH AN
GIANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỪ NĂM
2001 ĐẾN NĂM 2010
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên và những tiềm năng phát triển kinh tế -
xã hội ở huyện Tịnh Biên
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên – xã hội
2.1.2 Những tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội 2.2 Đảng bộ huyện Tịnh Biên lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội từ năm
2.3 Đánh giá tổng quát, những kinh nghiệm và các giải pháp để tiếp tục
nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới
Trang 10
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I : ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH AN GIANG
TỪ NĂM 2001 ĐẾN 2010
1.1 ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2001 –
2010 CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đường lối phát triển kinh tế - xã hội đất nước giai đoạn 2001 – 2010 được đề ra trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng năm 2001 Nội dung được thể hiện tập trung trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước giai đoạn 2001 – 2010
Mục tiêu tổng quát của chiến lược là đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản;
vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao.[5,tr.48]
Về quan điểm phát triển, Đảng coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ nền tảng cho một nước công nghiệp là yêu cầu cấp thiết; phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ mội trường; đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải phóng và phát huy mọi nguồn lực; gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng – an ninh.[5,tr.49]
Trên cơ sở vận dụng các quan điểm của chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội năm 2001 – 2010 Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IX cũng
cụ thể hóa chỉ ra định hướng phát triển các ngành kinh tế và các vùng Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng; chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm thu hút nhiều lao động ở nông thôn Tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn Xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp Điều chỉnh quy hoạch sản xuất lương thực phù hợp với nhu cầu
và khả năng tiêu thụ, tăng năng suất đi đôi với nâng cấp chất lượng Phát triển
Trang 11
và nâng cao chất lượng, hiệu quả chăn nuôi gia súc, gia cầm; mở rộng phương pháp nuôi công nghiệp gắn với chế biến sản phẩm; tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp
Phát triển nhanh các ngành công nghiệp có khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu Phát triển mạnh các ngành công nghiệp công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử, tự động hoá Quy hoạch phân bố hợp lý công nghiệp trên
cả nước Phát triển có hiệu quả các khu công nghiệp, khu chế xuất, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụm công nghiệp lớn và khu kinh tế
mở Phát triển ngành xây dựng đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, đáp ứng nhu cầu xây dựng trong nước và có năng lực đấu thầu công trình xây dựng ở nước ngoài Phát triển năng lượng đi trước một bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an toàn năng lượng quốc gia Phát triển mạng lưới thông tin hiện đại và đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
Phát triển mạnh thương mại, nâng cao năng lực và chất lượng hoạt động để mở rộng thị trường trong nước và hội nhập quốc tế có hiệu quả Hình thành các trung tâm thương mại lớn, các chợ nông thôn, nhất là ở miền núi, bảo đảm cung cấp một số sản phẩm thiết yếu cho vùng sâu, vùng xa và hải đảo; tạo thuận lợi cho việc tiêu thụ nông sản Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên
cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực
Về định hướng phát triển vùng, các vùng, khu vực đều phát huy lợi thế
để phát triển, tạo nên thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước Nhà nước tiếp tục thúc đẩy các vùng kinh tế trọng điểm phát huy vai trò đầu tàu tăng trưởng nhanh, đồng thời tạo điều kiện và đầu tư thích đáng hơn cho vùng nhiều khó khăn Thống nhất quy hoạch phát triển trong cả nước, giữa các vùng, tỉnh, thành phố, tạo sự liên kết trực tiếp về sản xuất, thương mại, đầu tư, giúp đỡ kỹ thuật và nguồn nhân lực Nâng cao trình độ dân trí và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng và khu vực Gắn chặt phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ, cải thiện môi trường và quốc phòng, an ninh, coi trọng chiến lược phát triển các vùng biên giới
Trong định hướng phát triển kinh tế vùng; bên cạnh các vùng, khu vực
trọng yếu phát triển kinh tế - xã hội, đồng bằng sông Cửu Long chiếm 12,6%
Trang 12
diện tích tự nhiên và 20,8% dân số của cả nước Đây là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm, hàng thủy sản của cả nước (sản xuất ra trên 50% sản lượng lúa và trên 90% sản lượng gạo xuất khẩu, chiếm 43% sản lượng hải sản đánh bắt biển và 68% sản lượng thủy sản nuôi trồng của cả nước) Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng kinh tế, kết cấu hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, mặt bằng y tế, giáo dục còn thấp kém hơn các vùng khác, đời sống một bộ phận dân cư còn khó khăn, nhất là đồng bào dân tộc Khmer Nhằm thúc đẩy vùng Đồng bằng sông Cửu Long phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân, Đảng và Nhà Nước ta đã có chủ trương chính sách quan tâm phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long như Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 20/01/2003 và Nghị quyết 45-NQ/TW ngày 17/02/2005 của Bộ Chính trị, chỉ thị số 14/2003/CT-TTg ngày 05/6/2003 và Quyết định số 173/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ Đây là những chủ trương chính sách ưu tiên đầu tư và cũng là thuận lợi lớn để vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó huyện Tịnh Biên có điều kiện phát triển nhanh hơn thông qua các chương trình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, các chương trình
hỗ trợ vùng xa, hỗ trợ đồng bào dân tộc [11,tr.54]
Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hoá, nhà kinh doanh, nhà quản lý Chính sách sử dụng lao động và nhân tài phải tận dụng mọi năng lực, phát huy mọi tiềm năng của các tập thể và cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
Tăng cường tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển đất nước Phát triển và hiện đại hoá mạng lưới thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng các sản phẩm, dịch vụ phát thanh, truyền hình, báo chí, xuất bản Đẩy mạnh hoạt động thể dục, thể thao, nâng cao thể trạng và tầm vóc của người Việt Nam
Tiếp tục giảm tốc độ tăng dân số, sớm ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý (khoảng 88 - 89 triệu người vào năm 2010); giải quyết đồng bộ, từng bước và có trọng điểm chất lượng dân số, cơ cấu dân số và phân bố dân cư Để
Trang 13Bằng nguồn lực của Nhà nước và của toàn xã hội, tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cho vay vốn, trợ giúp đào tạo nghề, cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ, giúp đỡ tiêu thụ sản phẩm… đối với những vùng nghèo, xã nghèo và các nhóm dân cư nghèo Chủ động di dời một bộ phận nhân dân không có đất canh tác và điều kiện sản xuất đến lập nghiệp ở những vùng còn tiềm năng Nhà nước tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích mọi người dân vươn lên làm giàu chính đáng và giúp đỡ người nghèo Thực hiện trợ cấp xã hội đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt không thể tự lao động, không có người bảo trợ, nuôi dưỡng Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo Thường xuyên củng cố thành quả xóa đói, giảm nghèo
Nâng cao tính công bằng và hiệu quả trong tiếp cận và sử dụng các dịch
vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Tiếp tục thực hiện các chương trình mục tiêu về y tế quốc gia Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ở tất cả các tuyến Đặc biệt coi trọng tăng cường dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe cho trẻ
em, người bị di chứng chiến tranh, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng, vùng sâu, vùng xa Hoàn chỉnh quy hoạch, củng cố và nâng cấp mạng lưới y tế cơ sở, có bác sỹ làm việc ở tất cả các trạm y tế xã đồng bằng và trung du, phần lớn xã miền núi Nâng cấp bệnh viện huyện, tỉnh; phát triển các bệnh viện đa khoa khu vực (liên huyện) ở các địa bàn xa trung tâm tỉnh
Kết hợp phát triển kinh tế, xã hội với củng cố quốc phòng và an ninh là nhiệm vụ rất quan trọng trong bối cảnh phát triển, cạnh tranh và hội nhập kinh
tế khu vực và thế giới trong thập kỷ tới
1.2 Đường lối phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang giai đoạn 2001 –
2010
An Giang là tỉnh ở miền Tây Nam bộ, thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, diện tích tự nhiên 353.551 ha, trong đó có 281.862 ha đất sản xuất nông nghiệp Toàn tỉnh có 09 huyện, 01 thị xã, 01 thành phố và 154 xã, phường, thị trấn, dân số 2 triệu 194 người, là tỉnh nông nghiệp nằm ở đầu
Trang 14
nguồn sông Cửu Long, vừa có đồng bằng, vừa có đồi núi, có đường biên giới giáp với Vương quốc Campuchia dài gần 100 km; có 2 cửa khẩu quốc tế đường bộ và đường sông, hàng năm mùa nước nổi kéo dài gần 5 tháng, từ 6 đến tháng 11 dương lịch
Tỉnh có 4 dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, Hoa cùng chung sống lâu đời,
có nền văn hóa phong phú, đa dạng: có tiếng nói, chữ viết riêng Trong các thời kỳ lịch sử, người Kinh, Khmer, Chăm, Hoa luôn có mối quan hệ gần gủi, tương trợ nhau trong cuộc sống
An Giang đóng góp khoảng 8,5% tổng GDP của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đóng góp 15% sản lượng thủy sản và 17% kim nghạch xuất khẩu của cả vùng An Giang có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long Với nội lực vững mạnh và kết cấu hạ tầng được đầu tư, An Giang trở thành một cực phát triển của tứ giác phát triển Cà Mau – Cần Thơ – An Giang – Kiên Giang Để tranh thủ nguồn lực bên ngoài và phát huy tốt hơn nội lực, tạo thành sức mạnh tổng hợp Đảng
bộ tỉnh An Giang đã đề ra đường lối phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 – 2010
1.2.1 Đường lối phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang giai đoạn 2001 – 2005
Quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng, xuất phát từ tình hình thực
tế của địa phương, bối cảnh đất nước và thế giới những năm cuối thế kỹ XX, Đại hội lần thứ VIIĐảng bộ tỉnh An Giang đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội nhằm tiếp tục đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu và toàn diện
Về nông nghiệp, ổn định sản lượng lương thực 2,4 triệu tấn trong đó có
100 ngàn ha lúa có chất lượng cao xuất khẩu, giải quyết tốt cơ giới các khâu: gieo sạ, thu hoạch, bảo quản, kể cả bơm dầu sang bơm điện Quy hoạch đầu tư vùng chuyên canh màu, rau quả làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến: khoai mì, bắp thu trái non, đậu nành, rau…, Phát triển nhanh đàn bò trên cơ sở nhập, lai tạo giống, tổ chức trồng cỏ, tận dụng phụ phẩm rau, bắp, bả mì để phát triển chăn nuôi bò thịt lẫn bò sữa
Nhà nước hỗ trợ vốn và kỹ thuật phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống là thế mạnh độc đáo của mỗi địa phương, nhằm tạo việc làm ổn định giải quyết lao động trong nông thôn và tăng thu nhập cho người nghèo Khuyến khích phát triển sản xuất các sản phẩm phục vụ du lịch như: các mặt hàng gốm mỹ nghệ, đá mỹ nghệ, hàng dệt thổ cẩm…, mặt hàng đặc
Trang 15mở thêm các loại hình dịch vụ mới, tạo thêm việc làm và nâng cao hiệu quả trong nghành sản xuất nông nghiệp Phát triển thị trường, mở rộng thị trường trong và ngoài nước là tạo đầu ra thông thương cho sản xuất phát triển, góp phần thúc đẩy tiến trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xây dựng các chợ trung tâm, chợ đầu mối biên giới, đặc biệt là xây dựng nhanh các cụm cửa khẩu biên giới, vận dụng chính sách kinh tế mở để mời gọi đầu tư và tạo điều kiện cho hàng hóa thông thương dễ dàng qua biên giới Khai thác có hiệu quả kinh tế biên giới bằng việc nâng cấp các chợ đầu mối ở khu vực cửa khẩu, đặc biệt là chợ Xuân Tô, Vĩnh Xương, Khánh Bình Du lịch là một ngành đầy triển vọng và khả năng đóng góp GDP rất lớn cho nền kinh tế tỉnh nhà, đứng sau lĩnh vực thương mại của khu vực 3 Tập trung đầu tư nhiều khu giải trí, khu nghỉ dưỡng, khu văn hóa ẩm thực, nâng cao chất lượng phục vụ của hệ thống nhà hàng khách sản ở các điểm du lịch đã được xây dựng các năm qua Đồng thời giữ gìn môi trường văn hóa du lịch, thể hiện văn minh lịch sự và đảm bảo trật tự an toàn Tổ chức tốt các tour tuyến du lịch Kể cả du lịch sang Campuchia và ngược lại
Tiếp tục đưa nghị quyết Trung Ương 5 (khóa VII) thấm sâu vào đời sống xã hội, đáp ứng được yêu cầu xây dựng con người mới; xây dựng gia
đình văn hóa gắn với văn hóa cộng đồng Thực hiện các biện pháp tổng hợp
tuyên truyền và vận động toàn xã hội thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình, hạ dần tỉ lệ dân số tự nhiên xuống còn 1,3% Dự báo đến năm 2005 là 1,56 triệu lao động, tăng 15% Áp lực lao động trong độ tuổi tăng thêm cộng với lao động thất nghiệp và thiếu việc làm hàng năm, do đó việc đẩy mạnh phát triển ngành nghề công nghiệp – dịch vụ đa dạng thông qua các chương trình kinh tế lớn của tỉnh là cần thiết, để rút bớt lao động trong sản xuất nông nghiệp hằng năm ít nhất bình quân 20.000 lao động Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
và tham gia thị trường xuất khẩu lao động, đòi hỏi đội ngũ lao động phải có tay nghề kỹ thuật thành thạo như: chế biến thực phẩm, cơ khí, xây dựng, dịch vụ… Tỉnh tổ chức hệ thống đào tạo chính quy các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 12% lên 20% năm
2005, chuyển đổi cơ cấu đào tạo cho hợp lý đạt 1 Đại học – 4 Trung cấp – 8
công nhân kỹ thuật [3,tr.100]
Trang 16
Phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo ở An Giang đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, đảm bảo nguồn lực cho giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Có chính sách ưu đãi để xã hội hóa nhanh sự nghiệp giáo dục – đào tạo Ngoài các trường đào tạo nghề chính qui của nhà nước, khuyến khích
xã hội phát triển các trung tâm, các lớp dạy nghề phổ thông ngắn hạn như: thêu may, cơ điện, điện tử… song song với hệ thống công lập và bán công khuyến khích nhân dân phát triển các trường dân lập tư thục bậc trung học Đầu tư mở rộng nâng cao chất lượng đào tạo của trường đại học An Giang trở thành trung tâm về nghiên cứu khoa học và đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài của tỉnh Tăng cường trang thiết bị cho công tác giảng dạy, cải tiến phương pháp đào tạo và giáo dục toàn diện, nâng cao nhân cách Bảo đảm số lượng và chuẩn hóa trình độ giáo viên trung học và giảng viên đại học
Thực hiện tốt nhiệm vụ, mục tiêu các chương trình y tế quốc gia về chăm sóc sức khỏe ban đầu, nâng cao chất lượng khám và điều trị bệnh Đầu
tư cơ sở vật chất tuyến tỉnh và huyện, hình thành các trung tâm điều trị có chất lượng cao Tăng cường công tác phòng chống và chữa trị thanh toán dần các bệnh xã hội và bệnh dịch nguy hiểm như: lao, viêm não, tim mạch, tâm thần, AIDS, tả, thương hàng
Đẩy mạnh phòng trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa gắn với phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phấn đấu đến năm
2005 có 70% gia đình văn hóa Tiếp tục nâng chất lượng phong trào thể dục thể thao quần chúng, mở rộng địa bàn và qui mô rộng khắp trong tỉnh Hoàn thiện hệ thống đào tạo cán bộ thể dục thể thao và vận động viên tài năng, xây dựng lực lượng thép kín ở các tuyến
Tạo việc làm và ổn định việc làm là một mục tiêu vừa cấp bách, vừa cơ bản cần phải đạt được trong 5 năm tới Tiếp tục thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo, phấn đấu đến năm 2005, tỉ lệ hộ nghèo 4,3% Cơ bản không
có nhà ở cây lá tạm bợ Phấn đấu đưa tỉ lệ thất nghiệp thành thị xuống dưới 5% và nâng tỉ lệ sử dụng ngày công lao động ở nông thôn trên 80% Phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác [9,tr.104] Đây là chương trình thực hiện vì sự phát triển lành mạnh của thế hệ trẻ, sự ổn định và phát triển của tỉnh nhà Tuyên truyền giáo dục nhân dân, thanh thiếu niên, sinh viên học sinh cảnh giác và ý thức tác hại của ma túy, tích cực truy quyét bọn mua bán tàng trữ chất ma túy, tổ chức cai nghiện và có kế hoạch giải quyết tốt các vấn đề sau cai nghiện Kiểm tra quản lý các tổ chức dịch vụ trá hình hoạt động mại dâm ở thành phố, thị xã và các khu du lịch, triệt phá các tụ điểm có
tổ chức và các đường dây đưa phụ nữ - trẻ em ra nước ngoài làm mại dâm
Trang 17
Bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững ổn định xã hội là tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế phát triển nhanh, chủ động ngăn ngừa, làm thất bại âm mưu diễn biến hòa bình Tăng cường công tác tuyên truyền luật pháp, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn và trang thiết bị hiện đại giúp cho công tác phòng chống kịp thời có hiệu quả Ngăn chặn đập tan các âm mưu phá hoại lợi dụng chính sách tôn giáo, dân tộc Khống chế các loại tội phạm và tệ nạn xã hội Mở rộng quan hệ ngoại giao với các tỉnh bạn của Vương quốc Campuchia
để hợp tác bảo vệ an ninh biên giới giữa 2 quốc gia
Tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trên mạng lưới kênh mương và thuê bao đã đầu tư khép kín, xây dựng hoàn chỉnh hệ thống cống bửng, đập điều tiết nước vào mùa khô, gắn với trạm bơm điện để chủ động tưới tiêu, chống lũ Tiếp tục đầu tư xây dựng các hồ chứa nước trạm bơm ở Tri Tôn và Tịnh Biên, khai thông các luồng lạch chỉnh vòng chảy các sông, tăng cường công tác nghiên cứu dự báo xóa lở và có kế hoạch ứng phó chống sạt lở, bảo vệ các khu đô thị nằm ven bờ sông Tiền sông Hậu Nâng cấp các trục đường giao thông nằm trong các vùng kinh tế trọng điểm: tuyến Quốc lộ 91 Long Xuyên – Châu Đốc – kinh tế cửa khẩu Tịnh Biên Tăng cường năng lực vận tải đường sông lên gấp 2 lần hiện nay, phát triển hệ thống xe buýt Long Xuyên – Châu Đốc – Tịnh Biên [9,tr.108] Tăng tốc chỉnh trang và mở rộng các đô thị hiện hữu, phát triển nhanh một số đô thị mới ở các khu kinh tế cửa khẩu biên giới Thực hiện chương trình phát triển nhà ở cho nhân dân đến năm
2005 tăng nhà kiên cố - bán kiên cố và cấp IV đạt 70%; giảm số nhà đơn sơ tạm bợ còn 30% Ngoài nguồn vốn tích lũy tiết kiệm trong dân, Nhà nước nên
có chương trình đặc biệt hỗ trợ cho vay từ nguồn tín dụng với lãi suất thấp, các doanh nghiệp có kế hoạch đầu tư nhà ở và chung cư cho thuê hoặc bán trả góp nhiều năm Chú trọng nghiên cứu ứng dụng, áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ, sản xuất kinh doanh, dịch vụ, quản lý, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới Thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường, chú trọng nghiên cứu khoa học nhân văn có tính bức thiết Khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ tạo sản phẩm có sức cạnh tranh cao
Để thực hiện được kế hoạch 5 năm 2001 – 2005, tiếp tục thực hiện các
chương trình quốc gia trên địa bàn, đồng thời ngay từ đầu năm 2001 Ủy ban Nhân dân tỉnh quyết định chủ nhiệm chương trình và các sở ngành có liên quan xây dựng từng chương trình cụ thể, đưa ra các mục tiêu ngắn hạn, dài hạn, giải pháp và dự án trọng điểm, như sau:
Trang 18
Quy hoạch và đầu tư vùng chuyên canh lúa chất lượng cao xuất khẩu, quy hoạch và đầu tư vùng chuyên canh màu, rau quả làm nguyên liệu cho chế biến lương thực, thực phẩm
Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các trang trại nuôi bò tập trung để có sản phẩm thịt bò đạt chất lượng tốt, đáp ứng với thị hiếu của thị trường trong và ngoài nước.[3, tr.119]
Chương trình khai thác kinh tế biên giới tạo điều kiện thu hút vốn đầu
tư phát triển sản xuất, thương mại biên giới, dịch vụ, du lịch và chuẩn bị cho việc hội nhập, giao lưu kinh tế trong khối ASEAN với dự án đầu tư trọng điểm: đầu tư phát triển khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, … [3, tr.120]
Tập trung đầu tư đưa ngành du lịch trở thành kinh tế quan trọng thông qua thực hiện các dự án đầu tư: khu du lịch văn hóa núi Sam Châu Đốc, khu
du lịch đồi Thiên Tuế núi Cấm Tịnh Biên …….[3, tr.122]
Chương trình phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Chương trình phát triển nguồn nhân lực
Chương trình công nghệ phần mềm tin học, chường trình công nghệ sinh học ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản, chế biến xuất khẩu Khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, như hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới, trang trại, các dịch vụ trong nông nghiệp.[3, tr.129]
1.2.2 Đường lối phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang giai đoạn 2006 – 2010
Trên cơ sở những thành công bước đầu thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2001 -2005), Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ VIII đã khẳng định trọng tâm của kế hoạch là tăng tốc phát triển kinh tế - xã
hội để vươn lên bắt kịp nhịp độ phát triển chung của đất nước Đại hội đề ra
đường lối phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006 – 2010) với những định hướng lớn về phát triển địa phương, các ngành và các lĩnh vực
Phát triển các ngành kinh tế đến năm 2010 tạo ra bước đột phá về chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng: dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp Đảm bảo cơ cấu vùng, cơ cấu sản xuất trong từng ngành, từng lĩnh vực, gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ các sản phẩm làm ra; nâng cao rõ rệt chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các sản phẩm, các doanh nghiệp và toàn nền kinh tế
Phát triển mạnh các khu thương mại, khu kinh tế biên giới, cửa khẩu, bảo đảm hàng hóa thông suốt trong thị trường nội địa và giao lưu buôn bán với nước ngoài, hướng mạnh về xuất khẩu Tập trung xây dựng thành phố Long
Trang 19
Xuyên và thị xã Châu Đốc trở thành những trung tâm thương mại, dịch vụ, đóng vai trò đô thị đầu mối, là nơi tiếp nhận cũng như tái phân phối các luồng hàng, luồng người từ các nơi (thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ,…)
đi đến khu kinh tế biên giới, khu du lịch và ngược lại Phát triển du lịch An Giang trở thành một nghành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế và điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa lịch sử Phát triển mạnh các sản phẩm du lịch và nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ du lịch, tăng cường hoạt động lữ hành để tăng giá trị cho ngành du lịch [4, tr.89] Tiếp tục đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ tiên tiến và tiến tới hiện đại hóa từng phần các ngành sản xuất công nghiệp; tập trung phát triển các ngành công nghiệp thế mạnh của tỉnh và có nguồn nguyên liệu như công nghiệp chế biến nông – thủy sản, thức ăn cho chăn nuôi, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, may mặc, da giày, tiểu thủ công nghiệp phục vụ du lịch và phát triển nông nghiệp – kinh tế nông thôn Đầu tư hoàn chỉnh các khu công nghiệp Bình Long, Bình Hòa, cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Phú Hòa; các khu kinh tế cửa khẩu Tịnh Biên, Vĩnh Xương… Tiếp tục đẩy mạnh chương trình khuyến công Tạo điều kiện thuận lợi phát triển mạnh các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chú trọng khu vực nông thôn
Phát triển mạnh kinh tế nông nghiệp (chủ lực vẫn con cá + cây lúa + rau đậu) theo quy hoạch và phải đặc biệt chú trọng chiều sâu, chất lượng, hướng về xuất khẩu đồng thời phát triển thị trường nội địa Phấn đấu nông nghiệp phát triển như Thái Lan Thực hiện liên kết công – nông nghiệp ngày càng chặt chẽ để nâng cao giá trị nông sản xuất khẩu Phát triển đa dạng các ngành nghề ở nông thôn, nhất là những ngành nghề có giá trị gia tăng và giá trị xuất khẩu cao để nâng cao mức sống dân cư Tiếp tục thực hiện chủ trương hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội ở nông thôn; đầu
tư xóa đói, giảm nghèo, trước hết đối với những vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, vùng thường xuyên ngập lũ Thực hiện 3 nhiệm vụ then chốt của Chiến lược phát triển nông thôn An Giang là trí thức hóa nông dân, hợp tác hóa sản xuất và công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn [4, tr.92] Làm tốt công tác nghiên cứu dự báo thông tin thị trường cho nông dân và doanh nghiệp Tổ chức hoạt động tiếp thị có hiệu quả, lập các chợ bán buôn, bán lẻ, các cụm kho phù hợp ở các vùng, nhất là vùng
có nông sản hàng hóa lớn Tiếp tục thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, tăng cường hỗ trợ phát huy hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã, tạo điều kiện phát triển nền kinh tế trang trại, huy động mọi nguồn lực phát triển sản xuất gắn với tổ chức lại sản xuất nông nghiệp
Trang 20
Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là đào tạo cho đối tượng lao động xuất khẩu có khả năng, trình độ vào các thị trường có chất lượng và thu nhập cao ngày càng nhiều Chú trọng đào tạo dạy nghề phục vụ vào lĩnh vực dịch vụ nhất là cho các nhu cầu xã hội hóa, các khu công nghiệp
và tri thức hóa nông dân Hoàn thành chương trình kiên cố trường lớp học và thực hiện đạt mức chất lượng tối thiểu các trường tiểu học vào năm 2008; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị đảm bảo triển khai tốt và đổi mới nội dung chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính trong nghành giáo dục, thực hiện phân cấp quản lý giáo dục Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đồng bộ cả các khâu: đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, luân chuyển và sàng lọc đội ngũ; đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Bảo đảm các yêu cầu về chuẩn đào tạo, tỷ lệ giáo viên trên/lớp Tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục
Đánh giá tổng kết các chương trình khoa học công nghệ trọng điểm của tỉnh, lựa chọn đưa vào ứng dụng trong sản xuất các kết quả nghiên cứu đã được đánh giá nghiệm thu Đẩy mạnh hoạt động đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của các ngành sản xuất và dịch vụ trong đó chú trọng các ngành sản xuất sản phẩm thực hiện cam kết AFTA nhằm nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng sức canh tranh của nền kinh tế
Giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc; nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân Trong 5 năm 2006 – 2010 dự báo sẽ thu hút và tạo thêm việc làm cho trên 150.000 lao động, bình quân mỗi năm trên 30.000 người Phải thực hiện các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, tạo việc làm mới, trong đó chú ý phát triển các ngành công nghiệp chế biến, may mặc, thủ công mỹ nghệ là những nghành sử dụng nhiều lao động Tiếp tục tháo gỡ những vướng mắc về mặt bằng sản xuất kinh doanh vừa và nhỏ Quỹ cho vay giải quyết việc làm tập trung cho vay các dự án thu hút nhiều lao động, như các khu công nghiệp, làng nghề, thực sự tạo ra nhiều chỗ làm việc mới, nâng cao thu nhập của người dân Phát triển mạng lưới dạy nghề cho người lao động và lao động xuất khẩu Đánh giá từ cơ sở, xác định số hộ nghèo hiện nay theo tiêu chuẩn quốc tế áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010, chú ý hộ dân tộc nghèo Thực hiện tốt các chính sách xã hội như chăm sóc con người có công, gia đình thương binh – liệt sỹ; bảo trợ xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội Đồng thời, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động này thông qua các chương trình xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”; quỹ “vì người nghèo”; chăm sóc các đối tượng yếu thế trong cộng đồng; xây dựng xã phường vững mạnh,
Trang 21Thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam 2001 -2010, đến năm 2010 tỷ
lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh 1,19%, xây dựng gia đình chỉ có 1 – 2 con Tăng cường giáo dục nhận thức về mối quan hệ giữa dân số và phát triển Đẩy mạnh lồng ghép kế hoạch hóa gia đình với các nội dung sức khỏe sinh sản, đặc biệt là các vùng khó khăn như vùng sâu, vùng xa Khuyến khích thanh niên tham gia các phong trào tình nguyện đi xây dựng kinh tế nơi khó khăn, tham gia phòng chống các tệ nạn xã hội, động viên thanh niên trí thức về công tác địa bàn nông thôn, miền núi Mở rộng công tác dạy nghề cho thanh niên, hỗ trợ thanh niên tìm việc làm thông qua nhiều hình thức đa dạng Phát triển các Hội doanh nghiệp, câu lạc bộ doanh nghiệp trẻ
Thực hiện nghị quết số 21/2004/NQ.HĐND7, ngày 09/12/2004 của Hội đồng Nhân dân tỉnh An Giang về tăng cường công tác phòng chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm và các loại tệ nạn xã hội khác trên địa bàn tỉnh
An Giang (giai đoạn 2005 – 2010) như sau: “Tăng cường các biện pháp phòng chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội như: số đề, các loại
cờ bạc trá hình, trộm cắp vặt, uống rượu say sưa càn quất, tụ tập băng đảng hành động côn đồ.” [4, tr.99]
Thực hiện tốt việc giáo dục thể chất trong nhà trường, lực lượng vũ trang Xây dựng và phát triển gia đình thể thao, câu lạc bộ thể dục thể thao Xây dựng hệ thống thi đấu thể dục thể thao cơ sở Huy động mọi nguồn vốn
để xây dựng cho các hoạt động thi đấu thể thao cấp tỉnh và cấp quốc gia Hoàn thiện các quy hoạch phát triển ngành văn hóa, thông tin; ưu tiên đầu tư cho các thiết chế văn hóa phục vụ cộng đồng như: bảo tàng, thư viện, công viên, khu vui chơi, giải trí Nâng mức hưởng thụ văn hóa cho nhân dân vùng sâu, vùng xa Triển khai rộng khắp phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư phát triển các hoạt động văn hóa – thông tin Xác định rõ hoạt động nào có thể huy động nguồn lực từ
Trang 22biệt vùng núi, vùng dân tộc
Hoàn thiện hệ thống công trình quốc phòng, công trình chiến đấu của
bộ đội biên phòng tuyến biên giới, bảo đảm an ninh biên giới và xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị hợp tác Giữ vững an ninh chính trị - trật tự
an toàn xã hội Đấu tranh có hiệu quả các hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch
Căn cứ vào đường lối kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Đảng bộ tỉnh An Giang, các khối, các ngành và các địa phương xây dựng kế hoạch cụ thể và phân công tổ chức thực hiện để hoàn thành những nhiệm vụ đã đề ra
1.2.3 Những thành tựu đạt được, những hạn chế, yếu kém và những nguyên nhân thuộc về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ An Giang trong mười năm lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội An Giang
1.2.3.1 Thành tựu
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, giá trị thương mại – dịch vụ chiếm 50,3%, công nghiệp – xây dựng chiếm 12,1%, nông nghiệp còn 37,6% Thành tựu nổi bật về kinh tế, trước hết là tổ chức thực hiện thành công chương trình xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường; triển khai có hiệu quả chương trình khuyến công; phát triển mạnh doanh nghiệp vừa và nhỏ Đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp phát triển theo chiều sâu Cây lúa, con cá nước ngọt trở thành mặt hàng chủ lực của tỉnh, có giá trị và sản lượng đứng đầu cả nước; nhiều mô hình sản xuất hiệu quả được nhân rộng; xã hội hóa công tác nhân giống; khai thác lợi thế mùa nước nổi; việc ứng dụng khoa học kỹ thuật,
cơ giới hóa trong sản xuất ngày càng mạnh mẽ; giá trị trên đơn vị diện tích tăng liên tục, trình độ sản xuất của nông dân ngày càng tiến bộ Cơ sở hạ tầng
ở nông thôn được đầu tư nâng cấp, bộ mặt nông thôn không ngừng đổi mới và tiến bộ Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hoàn chỉnh, hệ thống đô thị
và chợ được xây dựng, nâng cấp mở rộng Hệ thống kênh mương, đê bao chống và thoát lũ ngày càng phát huy hiệu quả tốt, hạn chế những thiệt hại và khai thác có hiệu quả lợi thế mùa nước nổi Các thành phần kinh tế phát triển mạnh, nhất là kinh tế tư nhân Doanh nghiệp Nhà nước được sắp xếp, kiện toàn theo chủ trương đổi mới, các công ty cổ phần hoạt động có hiệu quả
Trang 23
Kinh tế hợp tác được củng cố Kinh tế trang trại phát triển, nhất là trên lĩnh vực chăn nuôi
Chất lượng giáo dục, năng lực đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý có
sự chuyển biến tích cực Cơ sở vật chất, trang thiết bị thường xuyên được bổ sung Phổ cập giáo dục tiểu học được giữ vững, phổ cập THCS và phổ cập tiểu học đúng độ tuổi đạt kết quả khá Các trường trung học chuyên nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy nghề tiếp tục được đầu tư, mở rộng qui mô, từng bước nâng cao hiệu quả đào tạo, nhiều trung tâm học tập cộng đồng được thành lập ở cấp xã Hoạt động khoa học công nghệ được đổi mới theo hướng tập trung cho nghiên cứu ứng dụng Một số đề tài về phát triển các giống cây, con đạt hiệu quả Xuất hiện nhiều điển hình, sáng kiến hay Có chính sách hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đăng ký xuất xứ nhãn hiệu hàng hóa và kiểu dáng công nghiệp, từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập Đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, xuất khẩu lao động có bước tiến đáng kể; các tệ nạn xã hội phần lớn được kiềm chế, ngăn chặn Công tác phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo vệ bà mẹ trẻ em đạt kết quả tốt Lĩnh vực văn hóa, văn nghệ ngày càng đi vào chiều sâu Hoạt động báo đài có nhiều tiến bộ Phong trào thể dục – thể thao phát triển mạnh, ý thức rèn luyện sức khỏe được đề cao Phong trào“ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đạt nhiều kết quả, giúp củng cố mối quan hệ cộng đồng, phát huy dân chủ góp phần làm cho đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng khởi sắc Quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới Luôn giữ mối quan hệ hữu nghị hợp tác tốt đẹp với chính quyền và nhân dân các tỉnh Campuchia giáp biên giới, tạo điều kiện giữ vững ổn định chính trị - xã hội khu vực biên giới, cùng nhau phát triển
1.2.3.2 Hạn chế, yếu kém
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, do lĩnh vực công nghiệp phát triển chưa mạnh, tỉ trọng trong cơ cấu chung thay đổi không đáng kể Thương mại dịch vụ và nhất là du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh; sản xuất nông nghiệp còn chi phối lớn, lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao Kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật còn yếu kém, đặc biệt là các công trình phục vụ cho phát triển công nghiệp và thương mại dịch vụ còn thiếu và yếu, làm hạn chế lớn đến việc thu hút đầu tư để phát triển Nguồn lao động nhiều, nhưng tỷ lệ qua đào tạo ít, chất lượng kém, tình trạng thiếu việc làm và
tỷ lệ thất nghiệp còn lớn, cơ cấu lao động chuyển dịch chậm, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển Khả năng thu hút, tiếp cận các nguồn vốn ngoài tỉnh và
Trang 24
ngoài nước còn hạn chế Việc chuyển khai các chương trình mục tiêu, đề án trọng điểm thường kéo dài, chậm mang hiệu quả
Văn hóa – xã hội phát triển chưa tương xứng với phát triển kinh tế Cơ
sở vật chất,đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực này còn nhiều hạn chế Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh nhưng nguy cơ tái nghèo cao, nhất là trong vùng đồng bào Khmer.Tuy có nhiều biện pháp phòng chống tệ nạn xã hội, nhưng kết quả chưa vững chắc, một số còn diễn biến phức tạp Số vụ tai nạn, số người chết
và bị thương trong giao thông tuy giảm mạnh, nhưng vẫn còn ở mức cao Ý thức trách nhiệm, tính kỷ luật, kỷ cương ở một số đơn vị và bộ phận cán bộ còn yếu Một số nơi chưa thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở Giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân tuy có cố gắng nhưng vẫn còn tồn đọng nhiều,
có những vụ khiếu kiện đông người, vượt cấp, ảnh hưởng đến trật tự xã hội và
uy tín chính quyền địa phương, làm chậm tiến độ triển khai các dự án, các công trình trọng điểm của tỉnh
1.2.3.3 Nguyên nhân của mặt hạn chế, yếu kém
An Giang cách xa các trung tâm kinh tế, bị chia cắt bởi nhiều sông rạch,
cơ sở hạ tầng yếu kém; là vùng lũ ngập sâu, chí phí đầu tư các công trình tốn kém nhiều Do điều kiện đất hẹp người đông (dân số đứng thứ 6 trong cả nước) nên gặp nhiều khó khăn trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Tiềm năng về nông nghiệp với lực lượng nông dân đông đảo không còn là thế mạnh trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa vì “nông nghiệp chỉ là cái sân để cất cánh chứ không phải là động lực để bay cao” Sự đầu tư của Trương ương về cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội cho đồng bằng sông Cửu Long nói chúng và cho An Giang nói riêng, chưa đủ sức để vực dậy tiềm năng, đồng thời chưa tạo được sức hấp dẫn các nhà đầu tư của vùng này và của tỉnh Tuy nhận thức được những yếu kém của mình nhưng do bị chi phối bởi mục tiêu trước mắt nên trong thời gian dài những vấn đề trọng yếu, bức xúc về kinh tế, văn hóa, xã hội làm cơ sở cho sự phát triển bền vững chưa được quan tâm và triển khai một cách bài bản và nghiêm túc Đầu tư phát triển còn biểu hiện nôn nóng, dàn trải trong khi lực còn hạn chế nên các công trình thường kéo dài, chậm phát huy hiệu quả, chưa tạo được những đột biến trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bên cạnh việc chậm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc
và những bất hợp lý trong cơ chế quản lý, thì về nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bắt kịp với yêu cầu của thực tiễn đổi mới và trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, dẫn đến kém nhạy bén, thụ động, sợ trách nhiệm Đồng thời, sự nhiệt tình, tự giác, ý thức trách nhiệm của không ít cán bộ, đảng viên chưa cao, lại thiếu sự kiểm tra,
Trang 25
giám sát của cấp có thẩm quyền đã tạo “sức ỳ” trong cách nghĩ, cách làm Chất lượng, hiệu quả của công tác cải cách hành chính trên nhiều lĩnh vực chưa đáp ứng yêu cầu Năng lực và hiệu lực quản lý xã hội của bộ máy nhà nước các cấp còn thấp, hiệu quả kém, kỷ cương chưa nghiêm Công tác kiểm tra, tổng kết kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình tốt chưa được các cấp ủy Đảng quan tâm đúng mức Còn thiếu những nghị quyết chuyên đề để thúc đẩy những lĩnh vực có tác động quan trọng đến phát triển
Trang 26
CHƯƠNG II: ĐẢNG BỘ HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên và tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tịnh Biên
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên – xã hội
Huyện Tịnh Biên là một huyện miền núi, dân tộc và biên giới, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh An Giang, diện tích 35.520,2 ha Địa hình bán sơn địa, gần 2/3 diện tích tự nhiên không bị ảnh hưởng lũ, vừa có đồng bằng, vừa có nhiều đồi núi, được phân bổ thành 3 vùng rỏ rệt, vùng đồi núi 6.330 ha chiếm 17,81% diện tích, vùng này có nhiều tiềm năng khoáng sản, vật liệu xây dựng, phù hợp cho việc phát triển du lịch sinh thái, nghĩ dưỡng với nhiều đồi núi và danh thắng đẹp Vùng ven chân núi 8.953 ha chiếm khoảng 25,19% diện tích, vùng này có khả năng trồng cây ăn trái, trồng lúa đặc sản và phát triển chăn nuôi đàn gia súc Vùng đồng bằng 20.260 ha chiếm tỷ lệ 57% diện tích, vùng này thuận lợi trồng lúa, nuôi trồng thủy sản và rừng ngập nước (trồng tràm) và với nhiều danh thắng, địa danh nổi tiếng cả vùng đồng bằng sông Cửa Long Toàn huyện có 11 xã và 03 thị trấn dân số có 28.262 hộ nhân khẩu, gồm 03 dân tộc sinh sống: Kinh, Khmer và Hoa, trong đó đồng bào Khmer chiếm khoảng 30% với 7.420 hộ bằng 37.106 nhân khẩu Đất đai tự nhiên đã tạo ra nhiều sản vật phong phú, nhiều món ẩm thực thiên nhiên, trong lành, cây trái,
hoa quả quanh năm tạo thêm nhiều sắc thái để thu hút du khách
Tịnh Biên có một vị trí chiến lược rất quan trọng về mặt thương mại,
quốc phòng và an ninh ở phía Tây Nam của tổ quốc Tịnh Biên có phía Bắc
tiếp giáp thị xã Châu Đốc (cách thị xã 17 km); phía Đông giáp huyện Châu phú; phía Nam giáp huyện Tri Tôn (cách trung tâm 34,29 km); phía Tây Nam tiếp giáp Vương Quốc Campuchia với chiều dài biên giới gần 20 km Tịnh Biên cách thủ đô Phnôm-Pênh 128 km (qua quốc lộ 2), cách Hà Tiên 60 km (cả đường thủy và bộ) và cách thành phố Long Xuyên 71 km (theo quốc lộ 91) [21, tr.3] Với điều kiện tự nhiên và vị trí địa lí của mình, Tịnh Biên có nhiều thuận lợi về giao thương quốc tế Từ lâu, nơi đây đã trở thành một trung tâm trung chuyển hàng hóa giữa Việt Nam với các quốc gia thuộc tiểu vùng sông Mêkông, đặc biệt là với Vương quốc Campuchia qua cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, đồng thời, Tịnh Biên cũng là nơi hội đủ những điều kiện thuận lợi trong phát triển một nền kinh tế đa dạng, cả về sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và đặc biệt là thương mại – dịch vụ và du lịch
Trang 27
Tịnh Biên là một vùng đất có bề dầy lịch sử khai phá; nhân dân giàu lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng đã không ngừng đứng lên chống giặc ngoại xâm trong suốt quá trình hàng ngàn năm mở đất và giữ đất
Tịnh Biên nổi tiếng với cây lúa đặc sản vùng Bảy Núi có tên gọi là Neàng Nhen, chỉ có thể trồng được ở vùng Bảy Núi, không thể sinh trưởng được ở đồng bằng châu thổ Lúa đặc sản Bảy núi có hương vị đậm đà rất riêng, giá bao giờ cũng cao hơn lúa và gạo cao sản, ngắn ngày Đây là loại lúa thơm dài ngày, năng suất từ 3,5 đến 4 tấn/ha, dễ chăm sóc và ít tốn chi phí Tuy nhiên nó đòi hỏi thời vụ khắt khe, từ khâu gieo mạ (mưa đầu mùa) đến giai đoạn trổ bông và làm đòng (khoảng tháng 10 âm lịch) bởi có nước thì mới chắc hạt và đạt năng suất Do vậy, năm nào vào mùa mưa nhiều, trữ lượng nước dồi dào, cây lúa thơm Bảy Núi trúng mùa, ngược lại sẽ bị sụt giảm năng suất và mất trắng Những năm gần đây thời tiết không thuận lợi, khô hạn có chiều hướng gia tăng, nhiều nông dân phải chuyển sang trồng các giống lúa cao sản, ngắn ngày Lúa đặc sản vùng Bảy Núi có nguy cơ biến mất
Năm 2005, thành lập thị trấn Tịnh Biên trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Xuân Tô theo Nghị định 52/2005/NĐ-CP Thị trấn Tịnh Biên có 1.938 ha diện tích tự nhiên và 12.850 nhân khẩu Địa giới hành chính thị trấn Tịnh Biên: Đông giáp xã An Phú; Tây giáp Vương quốc campuchia; Nam giáp các xã An Nông, An Cư; Bắc giáp xã An Phú và Vương quốc Campuchia
Hiện nay, huyện Tịnh Biên có 798 cán bộ công chức hoạt động trong nghành giáo dục, trong đó 488 giáo viên đứng lớp giảng dạy Theo đó, số giáo viên đạt trình độ đại học, cao đẳng là 234 người, trình độ 12+2 là 125 người Toàn huyện có 33 trường tiểu học, phòng học, trang thiết bị đủ đáp ứng nhu cầu giảng dạy Trong năm 2008, huyện đã đầu tư xây mới 04 phòng học cho Trường tiểu học “C” An Hảo Thực hiện dự án (PEDC) giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn bằng kinh phí của Trung ương, huyện đã xây dựng và đưa vào sử dụng 44 phòng ở 09 điểm trường, trang bị 329 bảng chống lóa cho tất cả các lớp học, với số tiền là 600 triệu đồng; xã hội giáo dục được
20 phòng học, với kinh phí 1,2 tỷ đồng
Ngày 09-12-2008, Bảo hiểm xã hội huyện Tịnh Biên đã tiến hành ký hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế năm 2009 với phòng khám Đa Khoa Quân dân Y thuộc bệnh xá Quân Y sư đoàn 330 Cuối năm 2008, huyện Tịnh Biên đã đầu tư xây dựng và hoàn thành giải phóng mặt bằng cho 19 dự án với tổng kinh phí trên 60 tỷ đồng
Trang 28
Mặt khác là huyện đầu nguồn nên thường bị lũ lụt gây thiệt hại không nhỏ đến sản xuất, cơ sở hạ tầng, đời sống nhân dân Song với sự nổ lực của các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân nên thời gian qua kinh tế tăng trưởng ổn định, văn hóa, xã hội bước đầu có tiến bộ đáng kể, an ninh quốc phòng được củng cố và giữ vững, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện
2.1.2 Những tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội
Tịnh Biên hiện là một trong những huyện có nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội
Nguồn nước trên địa bàn rất phong phú, Tịnh Biên có công trình Kênh Vĩnh Tế cùng với hệ thống tưới đã cung cấp một lượng lớn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện Ngoài ra kênh Vĩnh Tế còn có giá trị lớn lao về mặt trị thủy, giao thông, thương mại, biên phòng
Rừng tự nhiên ở Tịnh Biên thuộc rừng ẩm nhiệt đới với nhiều loại cây quý hiếm có giá trị rất lớn trong việc bảo vệ môi trường sinh thái cải tạo khí hậu, điều tiết nguồn nước, nâng cao nâng suất cây trồng và vật nuôi của nhân dân trong vùng Rừng không chỉ có giá trị lâm sản mà còn có giá trị du lịch Song do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau đã làm cho diện tích rừng ngày càng thu hẹp Từ việc đánh giá đầy đủ về lợi ích to lớn của rừng, chính quyền các cấp ở huyện Tịnh Biên đã có chủ trương khôi phục lại diện tích rừng thông qua các chương trình trồng rừng phủ xanh đồi trọc, hiện nay rừng tràm Trà Sư và Núi Cấm đã dần được khôi phục lại, động vật trên núi ngày càng phong phú về số lượng và chủng loại Hiện nay, diện tích rừng còn khoảng 5.639 ha, chiếm 15,88% diện tích tự nhiên toàn huyện, 38,84% diện tích rừng toàn tỉnh An Giang [20, tr.4]
Tịnh Biên được xác định là trọng điểm về phát triển du lịch của tỉnh An Giang, các điểm như Núi Cấm, rừng tràm Trà Sư, núi Két, núi Trà Sư… Năm
2010 có khoảng 1,9 triệu lượt khách du lịch và 2011 đạt khoảng 2,1 triệu lượt khách, huyện Tịnh Biên nằm trong tổng thể của tỉnh An Giang, là tỉnh đồng bằng đặc biệt có núi sông với phong cảnh tự nhiên hấp dẫn với nhiều di tích lịch sử văn hóa, địa điểm du lịch phong phú đa dạng Hạ tầng kỹ thuật được đầu tư khá, kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người tăng, nhu cầu vui chơi giải trí phát sinh tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triển Du lịch sinh thái hấp dẫn thu hút du khách quốc tế ngày càng đông Tịnh Biên còn là huyện có tiềm năng phát triển
du lịch sinh thái và du lịch mua sắm, được xác định là một trong 7 địa bàn du lịch trọng điểm của tỉnh An Giang với lợi thế đặc thù, tính đa dân tộc… thế mạnh về du lịch của Tịnh Biên cũng đã được khẳng định với nhiều điểm thu