Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa chữ Hiếu trong phật giáo Hòa Hảo đối với đời sống đạo đức gia đình của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo ở huyện Phú Tân, An Giang.. Muốn trở
Trang 1LÂM CHÍ KIÊN
CHỮ HIẾU TRONG PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH CỦA TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO HÒA HẢO Ở HUYỆN PHÚ
Trang 2LÂM CHÍ KIÊN
CHỮ HIẾU TRONG PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH CỦA TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO HÒA HẢO Ở HUYỆN PHÚ
Trang 3Trong suốt thời gian thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ tận tình của các cơ quan, đơn vị, các cá nhân Nay tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu trường Đại học An Giang, Ban chủ nhiệm, quý thầy cô, cán bộ nhân viên khoa Lý luận chính trị đã truyền đạt tri thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ủy ban nhân dân huyện Phú Tân, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo và các đồng bào tín
đồ Phật giáo Hòa Hảo ở huyện Phú Tân
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Chau Sóc Khăng đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ trong suốt thời gian thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên
Lâm Chí Kiên
Trang 41 Lí do chọn đề tài: 1
2 Mục đích nghiên cứu: 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu: 2
4 Đối tượng nghiên cứu: 2
5 Phạm vi nghiên cứu: 2
6 Phương pháp nghiên cứu: 2
7 Đóng góp của đề tài: 2
8 Kết cấu của đề tài: 3
PHẦN NỘI DUNG: Chương 1: Một số quan điểm về chữ Hiếu 1.1 Cơ sở hình thành chữ Hiếu của dân tộc Việt Nam 5
1.1.1 Giá trị truyền thống của dân tộc 5
1.1.2 Giá trị của Nho giáo 10
1.2 Các quan điểm về chữ Hiếu 13
1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về chữ Hiếu 13
1.2.2 Quan điểm của một số tôn giáo về chữ Hiếu 14
1.2.3 Quan điểm của Phật giáo Hòa Hảo về chữ Hiếu 19
Chương 2: Ảnh hưởng của chữ Hiếu đến đời sống đạo đức gia đình của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang từ năm 2000 đến nay 2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang 27
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
Trang 5gia đình của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang 30 2.2.1 Ảnh hưởng tích cực của chữ Hiếu trong Phật Giáo Hòa Hảo 30 2.2.2 Mặt hạn chế khi thực hiện chữ Hiếu trong Phật Giáo Hòa Hảo 37 2.3 Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa chữ Hiếu trong
phật giáo Hòa Hảo đối với đời sống đạo đức gia đình của tín đồ Phật Giáo Hòa
Hảo ở huyện Phú Tân, An Giang 40 2.3.1 Thực trạng đạo đức gia đình ở huyện Phú Tân 40 2.3.2 Những giải pháp cơ bản nhằm phát huy hơn nữa chữ “Hiếu” trong việc
giáo dục đạo đức gia đình của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo ở huyện Phú Tân
hiện nay 45
PHẦN KẾT LUẬN 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6ra còn có nhiều đạo khác rải rác trên khắp đất nước Việt Nam Nhìn chung các tôn giáo ở Việt Nam dù lớn hay nhỏ đều được Nhà nước đối xử bình đẳng như nhau và được tự do hoạt động trong khuôn khổ pháp luật
Riêng đối với Phật giáo Hòa Hảo với số lượng tín đồ lên đến khoảng 2 triệu người, tập chung chủ yếu ở miền Tây Nam bộ Đặc biệt, số lượng đồng bào tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đông nhất là tập trung ở tỉnh An Giang với khoảng 800 ngàn tín đồ, vì đây là nơi khai sáng ra đạo Hòa Hảo
Nhìn chung, đối với đạo Hòa Hảo, đạo thường không cầu kì về mặt lễ nghi cũng như về mặt tổ chức Họ chủ trương tu tại gia hơn đi lễ chùa và có những buổi lễ tổ chức rất đơn giản và khiêm tốn, không có ăn uống, hội hè Giáo lý Phật giáo Hòa Hảo gồm 2 phần: phần học phật và phần tu nhân Đặc biệt đối với phần “tu nhân”, trong phần này, giáo lý Hòa Hảo đề cập đến chữ hiếu trong mỗi con người Đối với tất cả tín đồ của tất cả các đạo nói chung và đạo Hòa Hỏa nói riêng, thì chữ Hiếu luôn đặt lên hàng đầu Muốn trở thành một người sống tốt, sống có ích, thì trước tiên phải báo ân, báo hiếu đối với cha mẹ, tổ tiên…
Trong thời đại ngày nay, chữ Hiếu lại còn có ý nghĩa, tầm quan trọng hơn đối với mọi người dân Việt Nam đặc biệt là với các đồng bào tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, nó giáo dục lòng hiếu thảo đối với mỗi con người không chỉ hôm nay mà còn với mai sau
Tuy nhiên, chữ Hiếu có dấu hiệu bị phai mờ đối với đồng bào tín đồ phật giáo Hòa Hảo Làm sao để tăng cường vai trò ảnh hưởng của chữ hiếu trong đời sống đạo đức gia đình hiện nay? Đó là một vấn đề bức xúc và rất đáng quan tâm hiện nay
Trang 7Trang 2
Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình là “ Chữ Hiếu trong Phật giáo Hòa Hảo và ảnh hưởng của nó đến đời sống đạo đức gia đình ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang”
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu để làm rõ về chữ Hiếu trong giáo lý Phật giáo Hòa Hảo và ảnh hưởng đối với đời sống đạo đức gia đình của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận về chữ Hiếu trong giáo lý phật giáo Hòa Hảo Tìm hiểu thực tế về ảnh hưởng của chữ Hiếu trong giáo lý Phật giáo Hòa Hảo đối với đời sống đạo đức gia đình của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang hiện nay
Đưa ra một số giải pháp nhằm giáo dục sâu rộng hơn nữa chữ Hiếu đối với mỗi con người
4 Đối tượng nghiên cứu
Chữ Hiếu trong giáo lý Phật giáo Hòa Hảo và ảnh hưởng đến đời sống đạo đức gia đình của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang hiện nay
5 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận chỉ nghiên cứu về chữ Hiếu trong giáo lý Phật giáo Hòa Hảo
và ảnh hưởng đến đời sống đạo đức gia đình của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang từ năm 2000 đến nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với một số phương pháp cụ thể như: Phân tích và tổng hợp, lịch sử và logic, hệ thống, điều tra anket, đối chiếu, so sánh, thống
kê để trình bày những vấn đề đặt ra trong đề tài
7 Đóng góp của khóa luận
Trang 8Trang 3
Khóa luận góp phần làm rõ chữ Hiếu trong giáo lý phật giáo Hòa Hảo Những ảnh hưởng của chữ Hiếu trong giáo lý Hòa Hảo đối với đời sống đời sống đạo đức gia đình Thông qua đó có thể giáo dục con người tốt hơn về mặt đạo đức và đề ra một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa chữ hiếu đối với tín
đồ phật giáo Hòa Hảo
Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể làm nguồn tư liệu tham khảo nghiên cứu, giảng dạy học tập về tôn giáo và tôn giáo phật giáo Hòa Hảo tại
An Giang
8 Kết cấu của khóa luận:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận gồm có hai chương
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Một số quan điểm về chữ Hiếu
1.1 Cơ sở hình thành chữ Hiếu của dân tộc Việt Nam
1.1.1 Giá trị truyền thống của dân tộc
1.1.2 Giá trị của Nho giáo
1.2 Các quan điểm về chữ Hiếu
1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về chữ Hiếu
1.2.2 Quan điểm của một số tôn giáo về chữ Hiếu
1.2.3 Quan điểm của Phật giáo Hòa Hảo về chữ Hiếu
Chương 2: Ảnh hưởng của chữ Hiếu đến đời sống đạo đức gia đình của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang từ năm 2000 đến nay
2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở huyện Phú Tân, An Giang
2.1.1 Vị trí địa lý
Trang 9Trang 4
2.1.2 Kinh tế, văn hóa, xã hội
2.2 Ảnh hưởng của chữ Hiếu đến đời sống đạo đức gia đình của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
2.2.1 Ảnh hưởng tích cực của chữ Hiếu trong Phật Giáo Hòa Hảo
2.2.2 Mặt hạn chế khi thực hiện chữ Hiếu
2.3 Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa chữ hiếu trong phật giáo Hòa Hảo đối với đời sống đạo đức gia đình của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo ở huyện Phú Tân, An Giang
2.3.1 Thực trạng đạo đức gia đình ở huyện Phú Tân
2.3.2 Những giải pháp cơ bản nhằm phát huy hơn nữa chữ “Hiếu” trong Phật giáo Hòa Hảo đối với việc giáo dục đạo đức gia đình của tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo ở huyện Phú Tân hiện nay
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10Trang 5
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ CHỮ HIẾU
1.1 Cơ sở hình thành chữ Hiếu của dân tộc Việt Nam
1.1.1 Giá trị truyền thống của dân tộc
Không có bộ sách sử nào ghi rõ truyền thống hiếu đạo ở Việt Nam xuất hiện từ lúc nào, trong hoàn cảnh nào Song, đứng ở cách tiếp cận liên ngành, chúng ta vẫn có thể xác định sự tồn tại của truyền thống hiếu đạo ở Việt Nam muộn nhất là từ thời Văn Lang – Âu Lạc Thời ấy, xã hội chuyển dần từ chế
độ mẫu hệ sang phụ hệ, cấu trúc gia đình hạt nhân dần hoàn thiện, các quan hệ luân lý được củng cố (có thể thấy qua mô típ hoa văn trên bề mặt trống Đông Sơn (như nhà sàn Đông Sơn với bộ ba cha - mẹ - con, ba con nai) [7, tr63] Từ lúc cư dân Việt cổ chuyển từ vùng trung du xuống khai thác đồng bằng châu thổ cũng là lúc mô hình gia đình lớn nhiều thế hệ thuộc chế độ mẫu hệ bị giải thể và “vỡ vụn ra thành các gia đình hạt nhân”
Truyền thống hiếu đạo thời kì này còn được thẩm thấu qua hàng loạt các truyền thuyết, thần thoại như sự tích Bánh chưng – bánh dày (Lang Liêu
và các hoàng tử chúc thọ Hùng vương), sự tích Quả dưa hấu (Mai An Tiêm biết mình bị vu oan song vẫn tuân mệnh vua đi đày vì đạo Hiếu), truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh (Mỵ Nương tuân theo sự sắp xếp của vua cha), Mỵ Châu – Trọng Thủy (An Dương Vương giết Mỵ Châu vì bất hiếu, bất trung) v.v Dù rằng nguồn gốc các truyền thuyết, thần thoại nói trên cần phải bàn thêm, song chúng đều phản ánh một sự hoài niệm nào đó của lịch sử - xã hội
Một minh chứng sống động nữa cho truyền thống Hiếu đạo thời kì này
là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Không ai biết nó bắt đầu từ lúc nào, song các nghiên cứu khoa học hiện đại cho thấy tục thờ này đã có ở các cộng đồng Bách Việt, trong đó có tổ tiên Lạc Việt của Việt Nam, từ thời tiền sử
Xét trên khía cạnh thực tiễn xã hội, tổ tiên người Việt Nam thời Văn Lang – Âu Lạc là các cư dân nông nghiệp lúa nước, sống theo quy mô làng nông thôn với tinh thần cộng đồng cao do phải thường xuyên đối phó với
Trang 11Trang 6
những khắc nghiệt của môi trường tự nhiên như lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh và môi trường xã hội như trộm cướp, ngoại xâm Quan hệ cộng đồng xã hội ấy có mối quan hệ gia đình hạt nhân làm nền tảng, trong đó mối quan hệ luân lý giữa các thế hệ theo thời gian vẫn là trụ cột Đạo hiếu hình thành trên cơ sở ấy và tồn tại trước khi tư tưởng Nho gia thâm nhập sâu rộng vào Việt Nam
Như vậy, đạo Hiếu bắt nguồn tự nhiên từ thực tiễn đời sống canh nông
ở Việt Nam Nó vừa mang tính tôn ti vừa mang tính dân chủ do chịu ảnh hưởng của phương thức định cư kiểu làng xã có tổ chức chặt chẽ và kiểu sản
xuất nông nghiệp lúa nước Cuốn Hán Thư (Giáp Quyên Chi Truyện) “Dân
Lạc Việt vùng Chu Nhai, cha con cùng tắm trên cùng một dòng sông ” Xét
về tính chất, đạo Hiếu thời kì này hoàn toàn mang tính dân gian, nó tồn tại trong mọi gia đình mà không có cơ sở lý luận nào Chính vì vậy, không có một
hệ thống tiêu chí nào để phân định, đánh giá đạo Hiếu mãi cho đến khi người Việt Nam tiếp nhận sâu rộng tư tưởng Nho gia từ Trung Quốc
Qua ngót ngàn năm chống Bắc thuộc, đạo Hiếu ở Việt Nam được lý luận hóa, nó gắn liền với những tiêu chí đạo đức xã hội: Tam cương – Ngũ thường Chữ Hiếu bước từ quy mô gia đình ra xã hội, chuyển từ trạng thái dân gian sang xu thế quan phương hóa, từ chưa mang tính hệ thống sang tính quy
củ v.v Dù vậy, nếu không phân tích sâu về quan niệm đạo Hiếu ở Việt Nam, người ta có thể nhầm lẫn rằng người Việt Nam tiếp nhận đạo Hiếu từ Trung Hoa Trên thực tế, sự tiếp nhận ấy chỉ là yếu tố lý luận Do đặc trưng văn hóa
và tính cách văn hóa Việt Nam khá khác biệt với phần còn lại của các nền văn hóa chữ Hán, truyền thống đạo Hiếu ở Việt Nam vẫn mang đặc trưng riêng của nó, hoàn toàn nằm trong hệ thống bản sắc văn hóa Việt Nam
Như nhận định nói trên, đạo Hiếu gắn liền với đời sống thực tiễn của các gia đình trong khuôn khổ chung là xã hội, do vậy tính chất của quan niệm chữ Hiếu cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cơ cấu, tính chất gia đình và xã hội
Xã hội Việt Nam truyền thống kể cả trước và sau khi chịu ảnh hưởng của Nho gia nhìn chung vẫn là một xã hội trong quan hệ chiều ngang (trục hoành) Lợi ích gia đình đặt trong lợi ích chung của làng xã Chính vì thế đạo Hiếu chịu sự ràng buộc của nhiều tiểu hệ thống tư tưởng xã hội khác
Trang 12Chữ Hiếu dung hòa cùng chữ Trung Nếu như ở Trung Quốc, Trung và Hiếu tồn tại ở hai cấp độ khác nhau (quốc gia, gia tộc) thì ở Việt Nam có sự hợp nhất giữa hai khái niệm này Khái niệm Đại Hiếu trong giai thoại Nguyễn Trãi đưa tiễn cha là Nguyễn Phi Khanh đi tù ở Trung Quốc là một minh chứng sống động Nguyễn Phi Khanh đã dạy con rằng hiếu với cha chỉ là Tiểu Hiếu, người có hiếu đạo thật sự phải đặt Đại Hiếu lên hàng đầu Đại Hiếu là hiếu với dân tộc, với non sông, với đất nước Con người Việt Nam là con người tổ quốc, văn hóa Việt Nam trước hết là vì tổ quốc Chữ Hiếu ở Việt Nam được lăng kính Tổ quốc luận gắn thêm vào tầng nghĩa rộng nhất, vinh quang nhất của nó là Hiếu với tổ quốc
Kết hợp cả xu hướng ấy, đạo Hiếu ở truyền thống văn hóa Việt Nam hợp nhất với Trung, Nghĩa, Đễ thành một khối, lấy lợi ích quốc gia, xã hội làm trọng, do vậy lấy chủ nghĩa yêu nước làm nền tảng chính Sự dung hợp đa nguyên này hoàn toàn có cở sở, vì nó bắt nguồn từ các đặc trưng tính cách vốn
có của người Việt Nam: tính cộng đồng, thiên hướng hài hòa – cân bằng, xu hướng thiên về âm tính-trọng tình, tính tổng hợp và tính linh hoạt Trong sự dung hòa ấy, nền tảng cơ bản của nó vẫn là yếu tố bản địa, do vậy đạo Hiếu ở Việt Nam không nặng nề tính tôn ti, không quá câu nệ về mặt hình thức và không khắc nghiệt về các tiêu chí Xét theo trục thời gian, đạo Hiếu ở Việt Nam thể hiện sự tổng hợp đa chiều Đầu tiên là sự tổng hợp của nội hàm sẵn
có ở bản địa với khung lý luận Nho gia Thứ hai, đó là sự tổng hợp giữa chất
Trang 13Trang 8
dân gian (vị chuẩn) với chất quan phương (quy chuẩn) Thứ ba là sự tổng hợp giữa hai tính chất văn hóa Nam, Bắc với tiểu tiết văn hóa phương Nam bản địa trọng chất dân chủ và văn hóa phương Bắc trọng chất tôn ti
Cũng giống như bất kỳ quốc gia nào khác ở Đông Á, Việt Nam đang chứng kiến những thay đổi sâu sắc của đời sống kinh tế - xã hội, trực tiếp tác động đến cấu trúc gia đình, kéo theo những biến động đa chiều của các mối quan hệ luân lý Người Việt Nam cần kiên định hành sự hiếu đạo, đồng thời, nếu có thể, phải xây dựng một hệ quy chiếu mang tính thời điểm để có thể gìn giữ và phát huy truyền thống hiếu đạo trong thời kì mới Nhìn sang phía bắc, người Trung Quốc cũng đã đặt ra câu hỏi tương tự sau khi họ phải gánh quá nhiều thử thách của chính sách tập trung phát triển kinh tế (quy mô không đồng đều) và chính sách mỗi gia đình chỉ sinh một con trong mấy thập niên gần đây.[1, tr 3]
Xét theo chủ thể, dọc chiều dài đất nước, đạo Hiếu ở khu vực Bắc Bộ
và Trung Bộ tương đối quy củ hơn tại Nam Bộ Do là vùng đất mới khai phá, thành phần lưu dân Nam Bộ sinh sống theo quy mô gia đình hạt nhân là chính,
tư tưởng xã hội bị xáo trộn bởi thân phận lịch sử và yếu tố chi phối của môi trường tự nhiên mới, đạo Hiếu có xu hướng đơn giản hóa, dân chủ hóa và đa dạng hóa Người Việt Nam Bộ ít đặt chữ Hiếu trong mối quan trọng với chữ Trung, Nghĩa, Đễ Đặc biệt có lẽ là xu hướng gói gọn quan niệm chữ Hiếu trong quy mô gia đình mà mỗi gia đình có quan niệm riêng về đạo Hiếu Lấy hiện tượng phụ nữ Tây Nam Bộ lấy chồng Đài Loan và Hàn Quốc làm thí dụ,
đa số các trường hợp với động cơ là chữ Hiếu, song hầu như không mấy quan tâm đến các mối quan hệ xã hội khác (trong và ngoài nước), yếu tố thể diện quốc gia, yếu tố đạo đức xã hội v.v
Trong lĩnh vực tổ chức đời sống cá nhân, chúng tôi giới hạn khảo sát ở hai lĩnh vực tiêu biểu là tín ngưỡng – tôn giáo và phong tục để làm phong phú thêm ý nghĩa các nhận định nói trên
Trong tín ngưỡng – tôn giáo, đạo Hiếu Việt Nam thể hiện tính dung hòa sâu sắc với niềm tin tâm linh vốn rất phong phú ở Việt Nam Đạo Hiếu là nền tảng của tín ngưỡng thờ tổ tiên, xa hơn là thờ tổ mẫu, quốc tổ Từng có nhận định rằng tín ngưỡng thờ tổ tiên ở Việt Nam sâu sắc hơn nhiều vùng ở Trung Hoa Với tư duy tổng hợp, đầu óc thần bí, người Việt Nam tôn thờ tổ tiên
Trang 14nó vượt qua khuôn khổ gia đình), song tính tôn ti của nó cũng được tăng cường, song lần này là tính tôn ti được kích thích từ yếu tố tâm linh chứ không phải là chất tôn ti mang tính xã hội
Trong lĩnh vực phong tục, đạo Hiếu thể hiện rõ nhất trong các phong tục vòng đời và phong tục lễ tết truyền thống Trong phong tục vòng đời, nghi thức thành thân (vái lạy cha mẹ) trong phong tục hôn nhân, lễ mừng thọ, các nghi thức phong phú đa dạng hướng đến sự siêu thoát của linh hồn người chết trong phong tục tang ma truyền thống, tục cúng giỗ hàng năm v.v đều lấy đạo Hiếu làm kim chỉ nam Trong khi đó, các phong tục lễ tết truyền thống coi thờ cúng tổ tiên là hoạt động trọng tâm mang đầy đủ các giá trị tốt đẹp của chức năng giáo dục xã hội Tục rước tổ tiên về ăn tết ngày 30 tháng chạp, tục cúng
tổ tiên hàng ngày trong dịp tết Xuân, tục tảo mộ ngày thanh minh, tục cúng tổ tiên ngày Đoan ngọ, tục đoàn viên ngày Trùng cửu v.v đều hướng đến ý nghĩa uống nước nhớ nguồn, giáo dục con cháu tiếp nối truyền thống chữ Hiếu Do được hiểu đạo Hiếu theo cung cách dân gian, người Việt Nam thể hiện ý nghĩa của nó trong các phong tục tập quán hoàn toàn theo cung cách dân gian, tức theo xu hướng của tính dân chủ Không có một kinh sách nào chuẩn hóa cho toàn quốc (mặc dù trong lịch sử từng xuất hiện nhiều kinh điển quan phương
như Thọ Mai Gia Lễ v.v.)
Tóm lại, với các đặc trưng cơ bản là tính tổng hợp, tính linh hoạt và tính dân chủ, truyền thống đạo Hiếu ở Việt Nam được nhận thức và thực hiện
Trang 15Trang 10
trên nền tảng của xã hội nông nghiệp thuần túy mang trọng tâm dàn trải theo chiều ngang, khác hẳn với các truyền thống ở các quốc gia khác
1.1.2 Giá trị truyền thống của Nho giáo
Sách Đại học của Nho giáo được mở đầu bằng một lời khẳng định minh bạch rằng mục đích của Đại học là soi sáng bản tính đạo đức của mình, gắn
bó, thương yêu người, để mình và người cùng đạt đến chỗ chí thiện Lời tuyên
bố này đã trở thành tư tưởng trọng tâm của nền học thuật Nho giáo và vì thế
nó là yếu điểm mà các nhà Nho thường nhắm tới Theo như lời dạy này, người Quân tử phải khởi đầu từ việc trau dồi phẩm hạnh cá nhân để kế đến là ổn định trật tự xã hội và cuối cùng là hoàn thiện nhân cách cao tột của mình Đối với các nhà Nho, trau dồi phẩm hạnh cá nhân là khởi điểm để từ đó mỗi người xây dựng cho mình một nhân cách mà tinh chất của nhân cách ấy là Nhân (lòng bác ái), đức đầu tiên trong ba đức (Nhân, Trí, Dũng, theo Khổng Tử), bốn đức (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, theo Mạnh Tử) hay năm đức (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, theo Hán Nho)
Khi Phàn Trì hỏi Nhân là gì, Khổng Tử (551-479 Tr CN) đáp: “là thương người” Mạnh Tử (372?-289? Tr CN) thì cho rằng người Quân tử khác với người đời là ở cái tâm của họ, tâm người Quân tử luôn có Nhân, có Lễ Người có Nhân biết thương người khác, người có Lễ biết kính người khác Theo cách lý giải của Mạnh Tử mỗi người đều vốn mang trong mình một lòng trắc ẩn, không nỡ thấy ai bị đau khổ, nên khi mình thấy một điều gì đó nguy hiểm xảy ra với người khác, mình không thể làm ngơ mà phải ra tay cứu giúp
họ Ông đưa ra một ví dụ như sau: một người tình cờ thấy một em bé sắp bị rơi xuống giếng liền khởi tâm lo lắng và vội vàng đến cứu em Người ấy khởi lên tâm thương tưởng như thế không phải vì mong cha mẹ của em bé kia sẽ trả ơn, cũng chẳng mong được bạn bè, láng giềng khen ngợi, lại cũng chẳng phải vì
sợ sẽ mang tiếng xấu bởi đã không giúp người trong cơn hoạn nạn, mà đó vốn
là một phản ứng tự nhiên của mỗi người Lòng trắc ẩn này, theo ông, chính là đầu mối của lòng Nhân Tình thương người như thế không cần học hỏi để có, không nhọc suy tư để biết, mà nó là bẩm sinh như trẻ thơ lúc nhỏ thì biết thương mến cha mẹ, lớn lên thì biết kính trọng đàn anh của mình Sự thương mến đó là Nhân, sự kính trọng đó là Nghĩa vậy Như vậy hiếu thảo hay sự thương mến cha mẹ chính là cội nguồn của Nhân Hữu Tử, một môn đồ của
Trang 16Trang 11
Khổng Tử cũng khẳng định rằng hiếu là gốc của tất cả những điều Nhân Đến đây ta có thể phần nào hiểu được vai trò của chữ Hiếu trong truyền thống Nho giáo Vì Nhân là đức tính đứng đầu trong muôn đức, là tinh chất để tạo nên nhân cách của một bậc Quân tử, mà Hiếu là cội gốc của Nhân nên hiếu được xem là nền tảng đạo đức của người Quân tử
Dù Hiếu là một đức tính bẩm sinh nhưng nếu hạt giống này của lòng Nhân không được vun xới thường xuyên thì nó sẽ bị hư hoại và có thể biến mất và nếu điều này xảy ra thì lòng Nhân sẽ bị mất đi nền tảng như cây không cội, nước không nguồn và rồi nó lại bị biến dị sang một hình thái khác Hình ảnh của những kẻ hung ác, bạo ngược trong xã hội đã phần nào chứng minh được sự thật này Họ là những người đã đánh mất đi hạt giống của hiếu hạnh, quan hệ gia đình bị rạn vỡ để rồi trở thành những tâm hồn lạc loài giữa sa mạc ngông cuồng chỉ biết bám trụ vào những ốc đảo của lòng ham muốn thấp hèn, bại hoại Do vậy hiếu và Nhân không thể tách rời nhau Người có Hiếu thì dễ dàng phát triển lòng Nhân mà một khi đã có Nhân thì hạnh hiếu càng sáng tỏ Chỉ khi nào con người biết bắt đầu từ sự hiếu thảo với cha mẹ, từ sự gắn bó với thân quyến, thì người ấy mới có thể thương yêu người khác Đó là thứ lớp thăng tiến của Nho giáo hay là lộ trình tu đạo của người Quân tử Sách Trung Dung có viết rằng: đạo Quân tử cũng giống như đi đường xa, muốn đi ắt phải khởi sự từ gần; cũng ví như lên cao, muốn lên ắt phải bắt đầu từ dưới thấp
Hiếu kinh, tác phẩm chính của Nho giáo nói về đạo hiếu được mở đầu như sau: “Hiếu là gốc của đức, là nguồn của giáo…thân thể tóc da, nhận từ cha mẹ, không dám tổn thương đó là khởi đầu của hiếu Lập thân hành đạo, dương danh với hậu thế, để làm rạng rỡ cha mẹ, đó là kết cục của hiếu Xét về hiếu, khởi đầu là lo việc song thân, kế đến là việc vua tôi, sau cùng mới đến việc lập thân.” Bản kinh này cũng dẫn lời của đức Khổng Tử về đạo hiếu rằng:
“Người con hiếu phụng dưỡng cha mẹ, ăn ở phải hết sức cung kính, cung dưỡng cha mẹ phải hết mực vui vẻ, khi cha mẹ đau ốm phải lo lắng hết lòng, khi lo việc tang lễ phải cực kỳ thương xót, khi cúng tế cha mẹ phải vô cùng trang nghiêm.” Hai đoạn này trong Hiếu kinh đã tóm thâu được ý nghĩa của chữ Hiếu trong Nho giáo Người con hiếu là người luôn giữ gìn và không làm tổn thương đến thân thể mà cha mẹ đã sanh ra, phải sống làm sao hầu để lại danh thơm tiếng tốt ở đời, làm cho cha mẹ, dòng tộc mình được rạng rỡ, lo cho chữ hiếu, chữ trung trước rồi sau mới lo cho mình Đối với cha mẹ, lòng hiếu thảo của người con phải được thể hiện trên cả hai phương diện vật chất
Trang 17Trang 12
lẫn tinh thần Về phương diện đầu, người con phải thực hiện ba điều căn bản: chăm sóc cha mẹ chu đáo, luôn ý thức rằng thân thể mình được tạo thành từ máu thịt cha mẹ nên phải biết quí trọng nó và phải lập gia đình, sanh con để nói dõi tông đường
Theo Mạnh Tử, xét về phương diện thế tục, có năm điều được xem là bất hiếu: thứ nhất cơ thể lười biếng, chẳng đoái hoài đến việc phụng dưỡng cha mẹ; thứ hai, đam mê cờ bạc rượu chè, chẳng nghĩ đến việc phụng dưỡng cha mẹ; thứ ba, chạy theo của cải, tiền tài, chỉ nghĩ đến vợ con mà chẳng lo báo ân cha mẹ; thứ tư, đắm vào dục lạc sắc thanh làm cho cha mẹ tủi nhục; thứ năm, ưa thích sự kiêu hùng, đấu tranh, tàn nhẫn làm nguy hại cho cha mẹ Nhưng đứng trên quan điểm của đạo Quân tử, Mạnh Tử lại cho rằng: “Bất hiếu có ba, không người nối dõi là lớn nhất” Tư tưởng này của Mạnh Tử về sau được Trình Di (1033-1107), một trong những nhà cách tân nổi tiếng của Nho giáo dưới thời Tống, kế thừa và cổ xúy mạnh mẽ Trình Di cho rằng việc nối dõi như thế chính là trọng tâm của đạo làm người Có lẽ chính vì điều này
mà việc hôn nhân là điều rất quan trọng trong truyền thống Nho giáo Thông thường việc hôn nhân này gồm ba khía cạnh sau: thứ nhất, đôi vợ chồng trẻ phải gắn bó, chung thủy và đối với họ việc ly dị là điều tối kỵ; thứ hai, việc cưới hỏi thường do cha mẹ hai bên đặt để Việc tìm hiểu nhau trước khi hôn nhân diễn ra của đôi vợ chồng ấy không là điều quan trọng; và thứ ba, trách nhiệm và cũng là niềm tự hào của đôi vợ chồng ấy là phải sinh con trai để tiếp nối tổ tiên Trong bối cảnh đó nếu họ không sinh được con trai thì người chồng có quyền ly dị vợ hoặc sẽ cưới thêm tỳ thiếp khác Đây là một trong những nguyên nhân phát sanh tục đa thê và là tác nhân tạo nên những đổ vỡ hạnh phúc gia đình trong xã hội ngày xưa
Về phương diện tinh thần, khi cha mẹ còn ở đời, người con hiếu phải thực hiện những hoài bảo mà cha mẹ trông mong, phải tiếp nối chí hướng của cha mẹ Khi cha mẹ qua đời người con phải tỏ lòng tiếc thương và lo việc cúng tế, thờ phụng chu đáo Sách Lễ Ký giải thích rằng sau khi một người qua đời hình phách (khí của đất) của người đó sẽ ẩn vào trong đất và hồn khí (khí của trời) sẽ về với trời và lễ tang được tổ chức để cho hai luồng khí này được dung hòa, gắn bó nhau mãi mãi Theo thời gian cách thức và nội dung của lễ nghi như thế càng ngày càng được xem trọng và đó được xem là biểu hiện của lòng hiếu thảo của người sống đối với kẻ đã khuất Khổng Tử cũng như các môn đồ của mình thường không quan tâm nhiều đến những vấn đề siêu hình
Trang 18Trang 13
chẳng hạn như Thượng đế tồn tại hay không tồn tại, có hay không một linh hồn bất tử, quan hệ giữa sống và chết ra sao… Khi Quí Lộ hỏi về việc quỉ thần, Khổng Tử đáp: “Chưa lo hết việc người, sao lại lo việc quỉ.” Quí Lộ lại hỏi tiếp về việc chết, Khổng Tử đáp: “Chưa biết việc sống, sao biết việc chết.”
Sự im lặng của Khổng Tử đối với những vấn đề như thế làm cho Tử Cống, một môn đồ của ông phải than thở rằng: “Văn chương của Thầy thì ta đã nghe nhiều, nhưng về nhân tánh và đạo trời thì ta chưa từng nghe Thầy dạy” Thái
độ tránh né những câu hỏi liên hệ đến thế giới siêu hình của Khổng Tử được các thế hệ nhà Nho sau này tiếp nối một cách trung thành và điều đó nói lên một sự thật là Nho giáo không có chủ ý đưa niềm tin tôn giáo vào học thuyết thế trị của mình Chủ trương của Nho giáo là thiết lập một thể chế xã hội mà ở
đó mỗi cá nhân có những lối hành xử khế hợp theo những khuôn mẫu chung như Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng… Một xã hội được ổn định khi mỗi gia đình có sự đoàn kết, hòa thuận Sự hòa thuận đó chỉ có thể có khi sự hiếu thảo được thực hành triệt để Như vậy Hiếu là nền tảng của đạo làm người, là nhân tố để hình thành nên đức Nhân của người Quân tử, một mẫu người lý tưởng trong Nho giáo Chung quy việc tu thân để tiến đến việc tề gia, trị quốc
và bình thiên hạ phải bắt đầu từ một đức tính căn bản trong mỗi người, đức tính đó không gì khác hơn là hiếu hạnh
1.2 Các quan điểm về chữ Hiếu
1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về chữ Hiếu
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Hồ Chí Minh là người đã kế thừa tinh hoa truyền thống tư tưởng dân tộc, trong đó có tinh hoa Nho giáo Truyền thống giữ đạo hiếu của dân tộc được kế thừa và nâng cao trong tư tưởng và nhân cách Hồ Chí Minh Trung và hiếu là hai phạm trù đạo đức được Hồ Chí Minh sử dụng cặp đôi với nhau và coi như chuẩn mực cao nhất trong hành vi của con người “Trung với nước, hiếu với dân” - trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phạm trù hiếu không còn bó hẹp trong phạm vi trọn đạo làm con với cha mẹ mình,
mà ở đây là hiếu thảo với nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ Không chỉ thương yêu cha mẹ mình mà còn phải thương yêu cha mẹ người Người khẳng định:
“Người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình chí hiếu nhất, vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những cha mẹ mình mà hàng triệu cha mẹ người khác cũng bị đế quốc, phong kiến dày vò Mình không những
Trang 19Trang 14
cứu cha mẹ mình mà còn cứu cha mẹ người khác, cha mẹ của cả nước nữa” [3, tr.60]
Ở Hồ Chí Minh, hiếu với dân là làm đày tớ của dân, là lấy dân làm gốc
Xưa Mạnh Tử nói “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh“ (Dân là quý hơn hết, kế đó là xã tắc, vua là nhẹ) Phát huy mặt tích cực của tư tưởng “Đạo
hiếu” lấy dân làm gốc trong Nho giáo xưa, Hồ Chí Minh không đặt mình ở vị
trí cao hơn dân, ở ngoài dân Không chỉ xem dân là quý, là gốc, là sức mạnh,
mà Người luôn đặt mình trong dân, là đày tớ của dân, coi lợi ích của dân là tất
cả sự nghiệp của mình, là mục tiêu của cách mạng “Trong bầu trời không có
gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [4, tr.276] Bằng cách diễn đạt khác, Người đã đặt nhân dân từ vị trí phụ thuộc vua chúa, quan lại phong kiến lên địa vị người chủ
Ở Hồ Chí Minh, tư tưởng hiếu với dân không còn dừng lại ở chỗ
thương dân với tính chất là đối tượng cần phải dạy dỗ ban ơn, mà là đối tượng phải phục vụ hết lòng Vì vậy, phải gần dân, gắn bó với dân, kính trọng và học tập dân, dựa hẳn vào dân, lấy dân làm gốc Theo Hồ Chí Minh, lãnh đạo phải
nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, lại phải thường xuyên quan tâm đến việc cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, để nhân dân hiểu được quyền và trách
nhiệm của người chủ đất nước, quyền thì hưởng, còn trách nhiệm thì phải làm tròn Có được cái đức ấy thì người cách mạng, người lãnh đạo sẽ được dân tin yêu, quý mến, kính trọng, nhất định sẽ tạo ra được sức mạnh to lớn cho cách
mạng Với ý nghĩa rộng lớn ấy, hiếu thảo vẫn gắn liền với hiếu trung Chính
bản thân Hồ Chí Minh là một tấm gương của quan niệm đó Tùy theo từng đối tượng mà Hồ Chí Minh xác định nội dung trung, hiếu cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng Hồ Chí Minh đã kế thừa rất tài tình, sáng tạo phạm trù “Hiếu” trong truyền thống và trong Nho giáo Ở Người, phạm trù “Hiếu”
đã được chuyển đổi mang tính cách mạng - hiếu với dân, trong dân có cha mẹ
1.2.2 Quan điểm của một số tôn giáo về chữ Hiếu
1.2.2.1 Quan điểm của Phật giáo về chữ Hiếu
Phật giáo thường nói đến bốn ân căn bản mà một người Phật tử thường phải ghi nhớ và đền đáp là: ân cha mẹ, ân Tam bảo, ân quốc gia và ân chúng sanh Bốn ân này được xem trọng vì theo giáo lý Nghiệp và Duyên Khởi của
Trang 20Trang 15
Phật giáo trong vô lượng kiếp trước cho đến đời hiện tại mỗi người đều đã tạo
ra vô số nhân duyên khác nhau, đã thọ ân của vô số chúng sanh và đến đời này lại thọ ân của cha mẹ đã sinh thành nuôi nấng, ân Tam bảo đã soi sáng và dẫn bước trên đường tu học và ân quốc gia đã bảo bọc, chăm lo cho cuộc sống mình được bình an, hạnh phúc Trong bốn ân nói trên, ân cha mẹ là ân căn bản
và phổ biến nhất
Trong kinh Tương Ưng II Đức Phật đã dạy công ơn cha mẹ thật vô biên
và rằng dòng sữa mà mình đã thọ nhận từ mẹ trong vô lượng kiếp còn nhiều hơn nước của đại dương Vì công ơn cha mẹ to lớn như thế nên người con khó
có thể đền đáp trọn vẹn thâm ân của cha mẹ mình (Tăng Chi I) Đức Phật cũng dạy rằng cách đền đáp đúng đắn và ý nghĩa nhất của người con đối với cha mẹ
là ngoài việc báo ân cha mẹ theo năm cách như kinh Thiện Sinh nuôi dưỡng cha mẹ, làm tròn mọi bổn phận người con, giữ gìn gia đình với truyền thống, bảo vệ tài sản thừa tự, và làm tang lễ khi cha mẹ qua đời - Trường Bộ Kinh IV thì người con phải khuyến hóa cha mẹ làm điều phước thiện, qui y Tam bảo, thọ trì giới luật, sống theo chánh kiến Không những khuyến hóa cha mẹ mà bản thân người con cũng phải thực hành những nguyên tắc này trong cuộc sống của mình Quan hệ giữa cha mẹ và con cái là một quan hệ hổ tương mật thiết nên cha mẹ cũng chính là một trợ duyên để người con giữ gìn đạo hiếu được trọn vẹn Do vậy để con mình sống đúng với đạo lý ấy bản thân cha mẹ cũng thể hiện trách nhiệm đối với con Đức Phật đã dạy về trách nhiệm đó như sau: ngăn chặn con làm điều ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con nghề nghiệp; lo việc cưới hỏi cho con thật xứng đáng; và trao tài sản thừa tự cho con đúng thời (Trường Bộ Kinh IV)
Như thế chữ Hiếu trong đạo Phật không chỉ dừng lại ở chỗ nhận thức được công ơn của cha mẹ là bao la nên người con phải đền đáp thâm ân đó theo các nguyên tắc nhân bản của xã hội mà hơn thế nữa một người con hiếu phải còn là một thiện tri thức làm trợ duyên cho cha mẹ trong việc tu tập hướng đến sự giác ngộ và giải thoát
1.2.2.2 Quan điểm của Đạo Cao Đài về chữ Hiếu
Đạo Cao Đài lấy Nhân Đạo làm bước khởi đầu, nên đạo Hiếu cũng chính là một việc đầu tiên trong chương trình tu sửa thân tâm
Trang 21Trang 16
Trong Đại Thừa Chơn Giáo Thầy dạy :
" Ai đã mang mãnh hình hài thì phải biết đội ơn hai đấng:
Một là TRỜI, vì đấng Thanh cao phú cho người một bổn tánh thiện lương - tức là Phần hồn
Hai là Cha Mẹ, vì người thọ bẩm tinh Cha huyết Mẹ mà tạo ra cái hình hài xác thị - tức là Phần xác
" Trời là đấng Cha chung Kính thờ trọn Đạo tận trung với người Linh hồn thọ lãnh của Trời
Xác hình ta lại nhờ thời Mẹ Cha
Mẹ Cha sinh sản ra ta Nên chi ta phải trọng mà hiếu thân."
Trong Kinh Sám Hối, người Cao Đài thường tụng :
Làm con phải trau dồi hiếu đạo Trước là lo trả thảo mẹ Cha Lòng thành thương tưỡng Ông bà Nước nguồn cây cội ấy là tu mi "
Còn trong Nam phái, Nữ phái giáo quy :
Phận làm Cha tề gia trọn đạo Dạy trẻ con thuân thảo vẹn toàn Phận con mộ tĩnh thần khang "
Mộ tỉnh thần khang: tức là chiều hỏi han, sớm vấn an Cha mẹ Và :
Phận làm Mẹ từ hòa mẫu giáo Dạy nữ nhi thuận thảo vẹn toàn
Trang 22Năm Đ.Đ.32, Đức Ngô giáng cơ tại Trung Hưng Bữu Tòa dạy: " con đường đi tới phải có điều kiện là : Trung-Hiếu -Nghĩa"
Đức Chí Tôn là đấng tạo thành Càn Khôn vạn loại, sự sống bởi Người Vạn vật do đó mà còn, do đó mà có, mà nên Vì vậy, Người là CHA Yêu Thương của vạn vật, nên ta phải hiếu kính Người để hướng về lẽ sống hằng còn
Người đã dựng nên Trời đất, nắm cơ mầu nhiệm nơi tay đủ quyền năng thống trị muôn loài, điều hòa vũ trụ vững an, thì Người là Chúa Tể Càn Khôn, ta phải trung kính Người để gội ơn Thánh Đức, hướng về lẽ phải là cơ mầu nhiệm
Người đã sinh ra rồi trị lấy là Cha - Chúa muôn loài mà còn sử linh được vạn vật trở nên Thánh Đức giữ lẽ công bình mà đãm nhận thêm một vài trọng yếu là Thầy muôn lòai, hằng lấy pháp đạo làm nấc thang dìu dắt con người tiến bước Những pháp môn giáo hóa tận độ quần linh, mở lối siêu sinh, ngăn đường lục đạo, nên lấy nghĩa mà thờ Người
" Đem Trung Hiếu Nghĩa mà thờ Người thì cũng chính là thờ nhân lọai, vì Người ở trong vạn vật, thì vạn vật là Người Ta kính yêu Người phải mến thương vạn vật ".( Thánh Truyền Trung Hưng ),
Như thế, theo Cao Đài con người không chỉ hiếu kính với cha mẹ thế gian mà còn Trung Hiếu với vị CHA chung Không chỉ lo báo đáp công ơn hữu hình mà còn lo trọn đạo thờ đấng Cha Trời Gia đình nhỏ bé của con người theo quan điểm Cao Đài phải hòa vào trong đại gia đình Vũ trụ Thượng
Đế
Một đoạn khác trong Đại Thừa Chơn Giáo, Thầy dạy :
" Tu không biểu mặc đồ đà
Trang 23Trang 18
Cạo râu, thí phát, bỏ nhà, lìa con ! Ông bà cha mẹ đang còn
Phải lo báo đáp cho tròn hiếu trung
Vợ chồng trọn nghĩa thủy chung Giữ như sen mọc dưới bùn không dơ Làm như dốt nát, dại khờ
Đừng cho kẻ thế, rằng ngờ mình TU "
Tu theo Cao Đài là tìm phương xuất thế ngay tại thế, vừa hành tròn Nhơn Đạo vừa tìm con đường Thiên Đạo, xuất thế gian Và đó cũng là con đường báo hiếu tối ưu nhất
Người tu trong Cao Đài không chỉ nghĩ đến sự cứu thân mình mà còn nghĩ đến Cửu Huyền Thất Tổ :
" Âm dương đôi nẽo như nhau Cửu Huyền Thất Tổ giữ câu thọ trì Chốn Tây phương đường đi thong thả Cõi Diêm cung tha quả vong căn Tiêu diêu định tánh nắm phan
Dò theo Cực Lạc, đón đàng siêu thăng "
( Văn tế Tổ Phụ quy liểu ) Trong kinh Văn tế Cha mẹ quy liểu: Người Cao Đài cầu cho cha mẹ :
" Thong dong cõi thọ nương hồn Chờ con lập đức giúp hườn ngôi xưa”
Còn trong Văn Cúng cơm ( Con cúng Cha Mẹ )
" Hiếu thân muôn kiếp bền còn
Trang 24Trang 19
Vùa hương bát nước giữ tròn chẳng sai Cầu cho vượt đẳng thiên thai
Thung dung khóai lạc lâu dài khỏe thân "
Cái đức hiếu chân thật là làm sao cha mẹ được ơn cứ rổi, tu chứng được đạo quả, trở về ngôi xưa vị cũ, vượt đảnh thiên thai trở lại nguồn đầu
1.2.3 Quan điểm của Phật giáo Hòa Hảo về chữ Hiếu
Ở đạo Phật Giáo Hòa Hảo thì Đức Huỳnh Giáo Chủ đã khẳng định là Hiếu Nghiã phải đứng đầu trong cuộc sống con người Trong quyển thứ Sáu giảng về “Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền” Đức Thầy có viết:
“Sách xưa có câu: Thiên kinh vạn điển hiếu nghiã vi tiên” (Muôn vạn quyển kinh của Phật Thánh Tiên đều dạy sự hiếu nghiã làm đầu) Hôm nay đã quy y đầu Phật tu niệm tại gia, ta hãy cố gắng vâng lời Thầy, Tổ đã dạy, lo tròn câu hiếu nghiã”
Đức Thầy còn dạy: “Muốn làm xong hiếu nghĩa có bốn điều ân còn gọi
là tứ ân mà ta cần phải hy sinh gắng gổ mới mong làm trọn:
1 Ân Tổ tiên cha mẹ
2 Ân Đất nước
3 Ân Tam bảo
4 Ân Đồng bào và Nhơn loại.”
Còn theo Phật giáo, tứ ân được coi là “Ơn cha mẹ, ơn chúng sanh, ơn quốc vương, ơn tam bảo” Các Phật tử phải lo đền đáp bốn ơn trọng ấy bằng sự cung kính, cung dưỡng và phụng sự
So sánh hai quan niệm về tứ ân trên chúng ta thấy có sự khác nhau như sau:
Đề cao tổ tiên cha mẹ, Phật giáo Hoà Hảo có nguyện vọng cao hơn cái
“ân cha mẹ” (phụ mẫu) của Phật giáo Nếu ơn cha mẹ ở Phật giáo chỉ là cái ơn sinh thành dưỡng dục thì ở Phật giáo Hoà Hảo đã đi đến tận cùng của sự sinh thành là dòng giống tổ tiên
Trang 25Tứ ân trong Phật giáo Hoà Hảo rõ ràng có nội dung khác, mang màu sắc Việt Nam, thể hiện tính chất thực tế, gần gũi với truyền thống của người dân Nam Bộ
Như vậy, Phật giáo Hoà Hảo vẫn có vai mượn một số quan điểm của đạo Phật song về tính chất là một tín ngưỡng riêng của cộng đồng người dân Nam
Bộ
Đặc biệt, như chúng ta thấy, ân Tổ tiên Cha mẹ được Ngài xếp lên hàng đầu Nói về Ân Tổ tiên Cha mẹ, Ngài giảng dạy như sau: “Ta sanh ra cõi đời được có hình hài để hoạt động từ thuở bé cho đến lúc trưởng thành, đủ trí khôn ngoan, trong khoảng bao nhiêu năm trường ấy, cha mẹ ta chịu biết bao khổ nhọc; nhưng sanh ra cha mẹ là nhờ có tổ tiên nên khi biết ơn cha mẹ, cũng có bổn phận phải biết ơn tổ tiên nữa
Muốn đền ơn cha mẹ, lúc cha mẹ còn đang sanh tiền, có dạy ta những điều hay lẽ phải ta rán chăm chỉ nghe lời, chớ nên xao lãng, làm phiền lòng cha mẹ Nếu cha mẹ có làm điều gì lầm lẫn trái với nhân đạo, ta rán hết sức tìm cách khuyên lơn ngăn cản Chẳng thế ta cần phải lo nuôi dưỡng báo đền,
lo cho cha mẹ khỏi đói rách, khỏi bệnh hoạn đau ốm, gây sự hòa hảo trong đệ huynh, tạo hạnh phúc cho gia đình, cho cha mẹ vui lòng thỏa mãn Rán cầu cho cha mẹ được hưởng điều phước thọ Lúc cha mẹ quá vãng, ta hãy tu cầu cho linh hồn được siêu thăng nơi miền Phật cảnh, thoát đọa trầm luân…”
Ngoài ra, rải rác trong Sấm giảng và Thi văn Giáo lý, Đức Thầy đã nhiều lần nhắc nhở bổn đạo của Ngài về bổn phận làm con đối với Ông bà Cha
mẹ Về việc nuôi dưỡng báo đền và lo cho cha mẹ khỏi ốm đau, đói rách, Ngài
có dạy trong Sấm Giảng, Quyển 3&4:
“Cha mẹ là kẻ trọng ân”
Dưỡng nuôi báo hiếu lúc thân yếu già.”
Trang 26Trang 21
[9, tr.90]
Hoặc:
“Nếu ai biết chữ tu trì, Cha mẹ còn sống vậy thì cho ăn.”
[9, tr.83]
Hay:
“Trọng cha mẹ, kính nể Phật Trời, Đừng nhiều tiếng nghịch ngang mang lỗi.”
“Vẹn mười ơn mới đạo làm con, Lúc sanh sống chớ nên phụ bạc”
Thêm vào đó, chúng ta còn phải tạo hòa khí trong gia đình để cha mẹ hài lòng:
“Ở cho biết nhượng biết tùy, Vui lòng cha mẹ vậy thì mới ngoan”
[9, tr.84]
Song song với tấm lòng hiếu kính Ông bà Cha mẹ mà bất cứ người tín
đồ Phật Giáo Hòa Hảo nào cũng có do sự thấm nhuần Giáo lý của Đức Thầy, chúng ta còn phải lo tu hành chơn chất, đó cũng là một trong những cách để đáp đền công ơn đấng sanh thành, dưỡng dục, như trong bài “Giải thoát Cửu huyền”:
“Rán tu đắc đạo cứu Cửu huyền, Thoát chốn mê đồ đến cảnh Tiên
Nguyện đáp ơn dày công sáng tạo, Cho ta hình vóc học cơ huyền.”
hoặc:
Trang 27Hay trong bài “Cho ông Cò tàu Hảo”:
“Ngày nào đắc được lục thông, Vớt hồn Cha mẹ, Tổ tông bảy đời
Về Cực lạc thảnh thơi an dưỡng,
Ấy là ngày ban thưởng công tu
Chúc cho đó vẹt mây mù, Vững vàng bất thối công phu vuông tròn
Đến ngày biển cạn non mòn,
TỨ ÂN đã trả chẳng còn tội căn.”
Đến khi mẹ cha quá vãng, Đức Thầy khuyên tín đồ “chẳng nên rước những ông thầy dưng bông, đốt giấy tiền vàng bạc, xá phướn lầu kho, vì đó là chuyện tốn tiền vô ích.” Trái lại, Ngài dạy chỉ dùng bông hoa, thành tâm cầu nguyện, đem sức khấn vái của anh chị em trong Đạo cầu nguyện cho vong linh người chết được siêu sanh nơi cõi thọ:
“Bớt bỏ rình rang một khi, Nếu cha mẹ chết làm y lời nầy
Là lời truyền giáo của Thầy, Bông hoa cầu Phật hiệp vầy đi chôn.” [9, tr 83]
Để báo Hiếu, Đức Thầy dạy chúng ta cần phải thành tâm cầu nguyện cho cha mẹ mỗi sớm, mỗi chiều ngay cả khi cha mẹ còn sống:
Trang 28Trang 23
“Muốn cho tội lỗi mòn tiêu, Thành tâm cầu nguyện sớm chiều mới hay.”
Thật vậy, với hai thời cúng lạy mỗi ngày trước bàn thờ Cửu huyền Thất
tổ và với bài nguyện thiêng liêng của Đức Thầy truyền dạy, người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo tin tưởng rằng mình đã làm hài lòng phần nào Ông bà Cha mẹ:
“Cúi đầu lạy tạ Tổ Tông, Báo ơn sanh dưỡng dày công nhọc nhằn
Rày con xin giữ Đạo hằng,
Tu cầu Tông Tổ siêu thăng Phật đài
Nguyện làm cho đẹp mặt mày, Thoát nơi khổ hải Liên đài được lên
Mong nhờ Đức cả bề trên,
Độ con yên ổn vững bền cội tu.”
[9, tr.217]
Và Ngài cũng chỉ cho chúng ta thấy gương của Mục-Kiền-Liên:
“Mục Liên cứu mẹ bằng nay, Nhờ người hiếu hạnh tâm rày từ bi.”
cả Trời Phật, Thánh Thần nên đến khi chết bị đọa vào địa ngục chịu những hình phạt về những tội lỗi mà Bà tạo ra lúc còn trên dương thế
Trang 29Trang 24
Vì quá thương mẹ, Mục-Liên đã đến yết kiến Đức Phật để xin cứu độ cho mẹ mình Phật dạy Ngài muốn cứu vớt mẹ nên đợi đến ngày Rằm tháng Bảy khi có đủ chư Tăng, Đại Đức tựu về mở hội Vu Lan bồn để tụng kinh, bố thí giải tội cho mẹ Theo y lời Phật dạy, đúng ngày Rằm tháng Bảy, Ngài lập trai đàn, tụng kinh và bố thí cho chúng sanh rất thành tâm kính cẩn Với lòng hiếu thảo chí thành, chí khẩn của Mục-Liên hợp với lòng từ bi của chư Tăng đạo cao đức trọng thành tâm chú nguyện và ơn lành vi diệu của chư Phật đã giúp cho vong hồn bà Thanh-Đề siêu thoát Chính vì cái gương hiếu hạnh của Ngài Mục-Liên mà ngày hội Vu Lan Bồn cũng được gọi là ngày Báo Hiếu
Mỗi năm cứ đến ngày Rằm tháng Bảy âm lịch là các chùa chiền đều tổ chức Lễ Vu Lan để Phật tử đến cúng dường, cầu nguyện cho vong linh ông bà, cha mẹ quá vãng siêu thoát và các bậc hiện tiền tăng long phước thọ Phật Giáo Hòa Hảo phát xuất từ Phật giáo nên người tín đồ cũng long trọng tổ chức ngày lễ Báo Hiếu nầy Tuy nhiên, người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo không phải đợi đến ngày nầy mới cầu nguyện cho Ông bà Cha mẹ mà họ đã hành trì mỗi ngày theo Giáo Lý của Đức Thầy trước ngôi Tam Bảo qua bài Ngũ nguyện:
Nam mô nhị nguyện cầu: Cửu Huyền Thất Tổ Tịnh độ siêu sanh
Nam mô tam nguyện cầu: Phụ mẫu tại đường tăng long phước thọ, phụ mẫu quá khứ trực vãng Tây phương [9, tr.219]
Tóm lại, theo như lời Phật dạy:“Là Phật tử, không một ai là không nghĩ đến công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ hiện thời và ông bà tổ tiên trong quá khứ để tìm cách cứu độ và chuyển hóa Nếu chỉ cung phụng dưỡng nuôi vật chất đầy đủ mà linh hồn đọa lạc thì quả là một điều thiếu sót lớn lao.”
Vì vậy, người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo phải lo tu hành, hiểu Đạo đức,
rõ thông Luật nhơn quả chúng ta mới không làm điều sái quấy tổn thương đến danh giá gia đình, làm hại linh hồn Ông bà Cha mẹ Hơn nữa, nhờ có tu hành
ta mới giúp Ông bà Cha mẹ được mau siêu thoát và như thế việc báo hiếu của
ta mới có thể lo tròn Trong Q.5, Khuyến Thiện, Đức Thầy có nhắc:
“Hiếu-trung lòng chớ vội quên, Sống lo trọn Đạo, thác lên Tiên-Đài."
[9, tr.165]
Trang 30Trang 25
Ngoài ra, trong việc báo hiếu để đền đáp công ơn biển trời của Ông bà Cha mẹ, Đức Thầy dạy ta nên nghĩ đến cái gì thiết thực, hữu ích giản dị hóa những cổ tục, bỏ những điều dị đoan, mê tín, những quan niệm sai lầm thay vì
để báo hiếu, chúng ta lại làm hại cho vong hồn người quá vãng:
“Luận xem thế-sự thấp cao, Khuyên dân hãy bớt làm màu hiếu-nhi.”
[9, tr 82]
Đồng thời, Ngài dạy chúng ta phải phụng thờ, nuôi dưỡng Ông bà, Cha
mẹ khi còn sống và khi Ông bà, Cha mẹ qua đời hãy tu cầu cho linh hồn các vị nầy được siêu thăng nơi miền Phật cảnh
Đặc biệt, trong bài “Báo Hiếu đạo nhà” sau đây, Đức Thầy còn chỉ rõ cho chúng ta về cách cúng giỗ cho những người quá vãng, sao cho đúng với Giới luật và phù hợp với hoàn cảnh của người tín đồ đang tu hành chơn chánh
Và như vậy mới thật là những việc đáng làm của một người con hiếu thảo theo Giáo lý của Ngài tức là Giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo vậy:
"Quảy đơm cúng tế lệ xưa nay, Sát vật trâu heo đứa mị bày
Kẻ mất cho ăn suy khó hiểu, Người còn bạc đãi lạ lùng thay
Cháu con báo hiếu theo nhà Phật, Cha mẹ qua đời thủ lễ chay
Trong sạch nghĩa nhân vầy mới đáng, Hồn linh siêu thoát nhẹ cao bay"
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng chữ Hiếu trong dân tộc Việt Nam được hình thành từ giá trị truyền thống của dân tộc và giá trị của Nho giáo Mặc dù chữ Hiếu của người Việt Nam bị ảnh hưởng bởi tư tưởng của Nho giáo nhưng nó vẫn mang màu sắc riêng của người Việt Và truyền thống Hiếu
Trang 31Trang 26
đạo của người Việt Nam xuất hiện từ rất sớm – từ thời Văn Lang-Âu Lạc và chữ Hiếu luôn được đề cao và được đưa vào những quyển kinh của các tôn giáo qua hàng ngàn năm để nhắc nhở mọi người luôn hiếu thuận với ông bà, cha mẹ.Trong đó chúng ta thấy quan điểm của Phật giáo Hoà Hảo là luôn đặt chữ Hiếu lên hàng đầu trong cuộc sống con người và khuyên bảo mọi người thực hiện tứ ân mới mong làm tốt chữ hiếu
Trang 32Trang 27
CHƯƠNG 2 ẢNH HƯỞNG CỦA CHỮ HIẾU TRONG PHẬT GIÁO HÒA HẢO ĐẾN ĐỜI SỐNG ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH Ở HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN
GIANG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY
Gia đình là thiết chế xã hội mang tính lịch sử một cách đặc thù các mặt của đời sống cộng đồng dân tộc, thời đại Bởi vậy, để tìm hiểu đời sống đạo đức gia đình ở huyện Phú Tân, trước hết phải phân tích ảnh hưởng của chữ
“Hiếu” trong Phật giáo Hòa Hảo đối với đời sống đạo đức gia đình và những tác động của một số điều kiện kinh tế - xã hội chủ yếu lên đời sống gia đình ở huyện Phú Tân Từ đó chỉ ra những ảnh hưởng tích cực và mặt hạn chế của chữ “Hiếu” trong Phật giáo Hòa Hảo đối với đời sống đạo đức gia đình cũng như của nhân cách con người ở huyện Phú Tân hiện nay Để có thêm tư liệu thực tế, tôi đã tiến hành điều tra xã hội học với 100 mẫu đối tượng được lựa chọn từ nhiều nhóm ngành nghề, nhiều trình độ ở hai địa phương: Đó là các thành viên gia đình thuộc thị trấn Phú Mỹ và xã Phú An huyện Phú Tân.Vì vậy, kết quả khảo sát mang tính đại diện khá cao Tuy nhiên, đề tài cũng sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhằm đảm bảo căn cứ lý luận và thực tiễn cho những kết luận được rút ra trong đề tài
2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội ở huyện Phú Tân, An Giang
2.1.1 Về điều kiện tự nhiên
Về điều kiện tự nhiên, Phú Tân là một trong ba huyện cù lao của tỉnh
An Giang rộng 314,2km2 , phía Bắc giáp thị xã Tân Châu, phía Tây giáp thị xã Châu Đốc và huyện Châu Phú, phía Đông Nam giáp huyện Chợ Mới, phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp Bốn phía của huyện Phú Tân được bao bọc bởi những con sông Sông Tiền ở phía Đông, kênh Vĩnh An (nối sông Tiền với sông Hậu) ở phía Bắc và Tây Bắc, nhánh sông Vàm Nao (nối sông Tiền với sông Hậu) ở phía Nam và Tây Nam
Phú Tân nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, có địa hình đồng bằng nên hằng năm vào mùa lũ, nước sông dân cao ngập trắng cả ruộng đồng, vì thế phù
sa cũng được mang theo bồi bắp cho vùng đất này Thổ nhưỡng huyện Phú Tân thuộc loại đất phù sa màu mỡ, rất thuận lợi cho canh tác lúa và hoa màu
Trang 33cơ sở sản xuất, thu hút khoảng 300 lao động Trong đó, các gia đình nổi tiếng
có truyền thống làm bánh như gia đình cụ Lê Minh Dơn, Ngô Thị Dờn, Trần Văn Tâm Nguyên liệu làm bánh phồng là loại nếp đặc sản được trồng tại huyện Phú Tân Bánh phồng Phú Mỹ nhỏ bằng dĩa nhưng nướng chín phồng
to hơn cái quạt nan Bánh vừa xốp, vừa mềm, có vị béo của nếp, vị ngọt của đường, mùi thơm của sữa, mè, đậu nành, đậu phộng Những năm qua, bánh phồng thị trấn Phú Mỹ được người tiêu dùng ưa chuộng nên làng nghề phát triển mạnh và sản xuất quanh năm, nhộn nhịp nhất là tháng giáp Tết Các kì hội chợ hay triển lãm tại An Giang, Cần Thơ hoặc thành phố Hồ Chí Minh, bánh phồng thị trấn Phú Mỹ đều có mặt trong gian hàng trưng bày sản phẩm đặc sản An Giang Làng nghề bánh phồng Phú Mỹ đã được Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang công nhận làng nghề truyền thống vào cuối năm 2006
Cũng như khí hậu chung của cả tỉnh An Giang – khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ quanh năm của Phú Tân từ 200 C đến 350 C Lượng mưa trung bình trong năm vào khoảng 1000mm đến 1300mm, mưa nhiều vào các tháng
07, 08, 09 Phú Tân chịu ảnh hưởng chính của hai ngọn gió là gió Nồm (gió Nam) và gió Bắc Nhìn chung khí hậu huyện Phú Tân điều hòa dễ chịu tương đối thuận lợi cho đời sống sinh hoạt và sản xuất của cư dân địa phương
Huyện Phú Tân có hệ thống sông ngòi chằng chịt, ngoài ra còn có các kênh, rạch, lạch, búng, bưng Với mạng lưới kênh rạch dày đặc, địa hình thấp nên hằng năm vào mùa mưa, Phú Tân là một trong những huyện bị ngập lụt nặng nề nhất Vào mùa nước nổi, nước trong đồng ngập sâu từ 01m -03m Hơn thế nữa, cùng với sự xuất hiện của mùa nước nổi đã mang lại cho Phú Tân nhiều loại cá, tôm Đây là nguồn lợi to lớn giúp cho người dân kiếm thêm thu nhập, cũng như cải thiện bữa ăn hằng ngày
Với điều kiện tự nhiên sẵn có như đã trình bày, phần nào cho thấy huyện Phú Tân đang có nhiều thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, cũng như tân dụng được nguồn thủy sản tự nhiên trong mùa lũ
Trang 34Trang 29
Ngày nay dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, nhân dân huyện Phú Tân luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, cần cù sáng tạo trong lao động, sản xuất Đã đạt được nhiều thành quả quan trọng trên tất cả các mặt kinh tế - văn hóa – xã hội – an ninh – quốc phòng cùng với tỉnh nhà vượt qua khó khăn thách thức, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần xây dựng đất nước, quê hương ngày càng giàu đẹp
2.1.2 Kinh tế, văn hóa, xã hội
Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính huyện Phú Tân có 31.442,3 ha diện tích tự nhiên và 221.059 nhân khẩu, có 18 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: Long Hòa, Phú Lâm, Phú Thạnh, Phú An, Phú Thọ, Tân Trung, Tân Hòa, Phú Hưng, Bình Thạnh Đông, Phú Bình, Hòa Lạc, Phú Hiệp, Phú Long, Phú Thành, Phú Xuân và Hiệp Xương và thị trấn Phú Mỹ và thị trấn Chợ Vàm Dân cư sống chủ yếu ở nông thôn, người kinh là dân tộc chiếm
đa số (98%) Là dân cư sống chủ yếu ở đây, người Kinh đã sớm hòa nhập với cộng đồng dân tộc bản địa đã sống từ trước đó, đoàn kết gắn bó cùng nhau bảo
vệ và xây dựng quê hương Phú Tân ngày càng giàu đẹp Ngoài ra còn có người Hoa, người Chăm chiếm phần nhỏ dân số của huyện Đặc biệt, Phú Tân
là huyện mang bản sắc văn hóa của tôn giáo bản địa, toàn huyện có tới trên 85% dân số theo đạo Hòa Hảo Ngoài ra, huyện có những công trình kiến trúc nổi tiếng như: chùa Giồng Thành, thánh đường Mubarak
Con người nơi đây với bản chất cần cù, hiền lành, phóng khoáng, trải qua nhiều biến cố và thăng trầm của lịch sử đã chung lưng đấu cật cùng nhau đoàn kết và gắn bó xây dựng quê hương Phú Tân
Trong những năm gần đây, mặc dù có nhiều khó khăn: ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới, dịch bệnh, vật giá tăng cao, lũ lụt đã ảnh hưởng một phần không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống người dân, tình hình kinh tế xã hội của huyện vẫn tiếp tục phát triển và ổn định Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2011 đạt 12,54% tăng 0,34% so Nghị quyết Hội đồng nhân dân Cơ cấu kinh tế khu vực I là 29,45%, khu vực II là 26,43%, khu vực III đạt 111,71% kế hoạch (tăng 28,42% so với năm 2010); phát triển mới 284 cơ sở, vốn đầu tư 54,9 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 765 lao động.[10]
Trang 35Trang 30
Đôi nét về tình hình kinh tế xã hội của huyện Phú Tân phần nào giúp chúng ta thấy được tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội huyện Phú Tân trong những năm gần đây đang dần khởi sắc, ngày càng phát huy vai trò chiến lược của một huyện cù lao đang trên đà phát triển và hội nhập Nhân dân huyện Phú Tân đã dày công khai phá và xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh với sự góp công của các dân tộc anh em như Kinh, Chăm, Hoa trong tinh thần gắn bó đoàn kết từ bao đời nay
2.2 Ảnh hưởng của chữ hiếu đến đời sống đạo đức gia đình của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
Với tính cách là tế bào xã hội, vườn ươm các nhân tài của đất nước, nơi nuôi dưỡng những công dân mới cho tương lai, gia đình có vai trò quan trọng trong việc xây dựng thành công nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sự tốt xấu của mỗi gia đình đều ảnh hưởng tới sự ổn định và phát triển của xã hội Gia đình mới mà chúng ta xây dựng là một gia đình hoà thuận dựa trên cơ sở dân chủ: vợ chồng, cha con, anh em tôn trọng nhau cùng bàn bạc và giải quyết những vấn đề lớn của gia đình; vợ chồng phải có lòng thủy chung; làm cha mẹ phải có đức nhân từ, làm con phải có đức hiếu kính, làm anh em phải có sự yêu thương nhường nhịn…
Những hạt nhân tinh tuý của chữ “Hiếu” trong Phật giáo Hòa Hảo vẫn còn ảnh hưởng đến đời sống đạo đức gia đình ở Việt Nam nói chung và huyện Phú Tân nói riêng, cả mặt tích cực lẫn tiêu cực, dù gia đình huyện Phú Tân hiện nay đã phát triển theo một diện mạo mới, bình đẳng, dân chủ hơn nhưng cũng đặt ra nhiều khó khăn
2.2.1 Ảnh hưởng tích cực của chữ “Hiếu”
Dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường tuy mạnh mẽ nhưng trong xã
hội hiện nay “những hạt nhân tinh tuý” của chữ “Hiếu” trong Phật giáo Hòa
Hảo vẫn được tỏa sáng
Thứ nhất, việc đề cao chữ hiếu của Phật giáo Hòa Hảo trong giáo dục cho
con cái thái độ biết ơn, tình cảm kính yêu và trách nhiệm phụng dưỡng đối với cha mẹ hiện nay vẫn còn là một nội dung giáo dục đạo đức quan trọng trong gia đình
Trang 36ta thấy về ý thức con cái cần phải có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ ở các gia đình cán bộ, công chức cao hơn ở các gia đình người dân:78% ở các gia đình cán bộ, công chức, 62% ở các gia đình người dân 17% số người được hỏi, cho rằng điều kiện hàng đầu để có gia đình hạnh phúc là ông bà, cha mẹ già được chăm sóc tốt So sánh tương quan giữa các địa phương, thì nhu cầu được chăm sóc ông bà, cha mẹ tốt ở các gia đình cán bộ, công chức cao hơn ở các gia đình người dân:20% ở các gia đình cán bộ, công chức, 14% ở các gia đình người dân Điều đó, cho thấy kinh tế thị trường phát triển, đời sống cũng được nâng cao thì việc giáo dục lòng hiếu thảo ngày càng trở nên cần thiết
Bởi lẽ, mỗi người đều phải nhận thức rằng “vô phụ mẫu tự kỷ sinh” tức là không có cha mẹ tự mình sinh ra sao được Cũng như dân ta vẫn lưu truyền
câu: “Một già, một trẻ giống (hoặc bằng) nhau” Có nghĩa là trẻ thơ dại yếu
đuối, cần được theo dõi chăm sóc, thì người già yếu đuối cũng phải được
chăm sóc Hoặc dân ta vẫn nói câu “trẻ cậy cha, già cậy con”,khi con cái còn nhỏ thì bố mẹ nuôi dưỡng, dạy bảo; tới khi trưởng thành, cha mẹ đã già thì con
Trang 37Trang 32
cái phải bằng tình thương, sự kính yêu và trách nhiệm phụng dưỡng lại cha
mẹ Và phải nhận thức hết nghĩa của câu “bất hiếu tất tử bất hiếu” (mình
không có hiếu với cha mẹ, tất con sẽ không hiếu với mình) Đây không phải là nhân quả duy tâm siêu hình mà là một nét văn hoá truyền thống Mình đối xử tốt với cha mẹ, là tạo nên môi trường văn hoá tốt đẹp, giáo dục con cái sau này đối xử với mình Kế thừa, phát triển theo tinh thần Hồ Chí Minh, gắn với việc xây dựng gia đình văn hoá mới, đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá xã hội và xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc
Thứ hai, vốn sống truyền thống của người dân huyện Phú Tân là sống có
tình nghĩa với mọi người, với ông bà, cha mẹ, người thân, vui mừng trước sự
ra đời và trưởng thành của thế hệ trẻ, cảm thương trước người đã chết
Bảng 2.2: Về vốn sống truyền thống của người dân huyện Phú Tân
Hiếu thảo với cha mẹ, ông bà và nuôi dạy
Trang 38Trang 33
dân cho rằng những gia đình “tam, tứ đại đồng đường” là những gia đình giàu
tình cảm
35% số người được hỏi rằng điều kiện hàng đầu để có gia đình hạnh phúc
là con cái được học hành đến nơi đến chốn So sánh tương quan giữa các địa phương chúng ta thấy nhu cầu nâng cao trình độ và tạo cho con có một nghề nghiệp ổn định ở các gia đình cán bộ, công chức cao hơn ở các gia đình người dân: 42% ở các gia đình cán bộ, công chức, 28% ở các gia đình người dân Điều đó cho thấy trình độ nhận thức và điều kiện kinh tế càng cao thì nhu cầu cho con cái học tập đến nơi đến chốn càng nhiều, đa số các gia đình hiện nay đều mong mỏi cho con cái trưởng thành, đó là điều hạnh phúc nhất của họ 52% số người được hỏi cho rằng để thể hiện chữ hiếu khi cha mẹ mất cần thành kính nhớ tới cha mẹ nhưng không làm gì nhiều So sánh tương quan giữa các địa phương chúng ta thấy nhận thức về cái “tâm”, tấm lòng của con cái đối với cha mẹ khi mất ở các gia đình cán bộ, công chức cao hơn ở các gia đình người dân: 56% ở các gia đình cán bộ, công chức, 48% ở các gia đình người dân Như vậy, việc Hiếu với cha mẹ khi đã chết, ngày nay vẫn là điều cần thiết, nó mang ý nghĩa nhân văn cao đẹp, nó thể hiện nghi thức tang lễ và thờ cúng tổ tiên đã thành một tín ngưỡng
Thứ ba, những quan niệm về chữ “Hiếu” một cách mù quáng như xưa đã
không còn, cũng không còn phép tắc “người quân tử không hay gần con” trái
ngược với yêu cầu xây dựng mối quan hệ hoà đồng, bình đẳng, dân chủ, tin cậy lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình
Bảng 2.3: Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình
Có thứ bậc, trật tự nhưng dân chủ, bình đẳng
Trách nhiệm giáo dục con cái trong gia đình 58% 48%
Trang 3955% số người được hỏi cho rằng, trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái
là không phải xa rời con mà cần gần gũi tìm hiểu con về tâm tư, nhu cầu và sở thích, cá tính của từng thành viên để có biện pháp chăm sóc, giáo dục đúng
So sánh tương quan giữa các địa phương, chúng ta thấy nhận thức về trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, giáo dục con cái ở các gia đình cán bộ, công chức cao hơn ở các gia đình người dân: 60% ở các gia đình cán bộ, công chức, 50% ở các gia đình người dân Như vậy, khi sống trong điều kiện kinh tế phát triển, điều kiện vật chất phục vụ cho cuộc sống của các thành viên trong gia đình ngày càng hiện đại thì sự hiểu biết, đồng cảm giữa cha mẹ với con cái càng nhiều, trình độ nhận thức càng cao thì sự quan tâm chăm sóc, giáo dục càng chặt chẽ hơn Điều đó cho thấy nhu cầu xây dựng mối quan hệ hoà đồng, bình đẳng, dân chủ, tin cậy giữa các thành viên trong gia đình là một nhu cầu cấp thiết trong xã hội ta hiện nay nhằm tạo ra bầu không khí tinh thần ổn định trong gia đình, làm cho các thành viên có điều kiện sống lạc quan, tích cực
Trang 40Trang 35
Thứ tư, con cái không chỉ có trách nhiệm nuôi dưỡng cha mẹ mà còn
phải biết kính trọng, không làm nhục đến cha mẹ, đồng thời cũng phải biết hoà vui cùng cha mẹ
Bảng 2.4: Thái độ của con cái đối với cha mẹ
Vui vẻ nghe lời cha mẹ đúng và buồn
Phấn đấu sống tốt theo khả năng và lo
lắng cho cha mẹ khi cần 86% 42% 64% số người được hỏi cho rằng, để thể hiện chữ Hiếu khi cha mẹ còn sống cần phấn đấu sống tốt theo khả năng và lo lắng cho cha mẹ khi cần So sánh tương quan giữa các địa phương về thái độ và hành vi cư xử của con cái đối với cha mẹ ở các gia đình cán bộ, công chức cao hơn ở các gia đình người dân: 86% ở các gia đình cán bộ, công chức, 42% ở các gia đình người dân Qua khảo sát chúng ta thấy, để thể hiện chữ Hiếu đối với cha mẹ, không phải lúc nào cũng luôn ở bên cạnh cha mẹ để chăm sóc nuôi dưỡng mà là phải đáp
lại sự mong mỏi của cha mẹ là “mong sao con khôn lớn thành người” Trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, mỗi người đòi hỏi phải có trình độ hiểu biết và phẩm chất đạo đức tốt để không làm tổn hại đến uy tín, danh dự của cha mẹ, đáp ứng yêu cầu của thời đại hiện nay Điều đó cho thấy, chữ Hiếu hiện nay đã có sự thay đổi, con cái thể hiện chữ Hiếu của mình không chỉ nuôi dưỡng, chăm sóc mà còn phải học tập thành tài để làm vinh hiển cho cha mẹ là điều cần thiết hiện nay Trong nền kinh tế thị trường, những mặt trái của nó đang hàng ngày hàng giờ làm băng hoại đến đạo đức con người, cho nên mỗi người phải làm sao cố gắng giữ gìn đạo đức phẩm chất, không bị cám dỗ trước những hiện tượng tiêu cực, sai trái, góp phần phấn đấu trở thành con người xã hội chủ nghĩa và làm cho cha mẹ không buồn lòng, tổn hại đến tình cảm của cha mẹ là việc làm cần thiết