1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đưa một số làn điệu dân ca nam bộ vào chương trình đào tạo ngành sư phạm âm nhạc tại trường đại học an giang

133 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 4,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

việc giáo dục âm nhạc truyền thống của những làn điệu dân ca Nam Bộ như: hò, lý, hát ru… Tìm hiểu chương trình đào tạo cử nhân ngành SPÂN của Trường Đại học An Giang cho thấy, có rất ít

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có điều gì trái với lời cam đoan, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả luận văn

Huỳnh Công Luận

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN 1

MỤC LỤC 2

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 4

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ DÂN CA NAM BỘ 12

1.1 Khái niệm về dân ca, nguồn gốc của dân ca Nam Bộ 12

1.1.1 Khái niệm về dân ca 12

1.1.2 Vài nét về nguồn gốc của dân ca Nam Bộ 13

1.2 Giá trị của dân ca Nam Bộ 16

1.2.1 Giá trị nội dung 16

1.2.2 Giá trị nghệ thuật 19

1.3 Một số làn điệu đặc trưng của dân ca Nam Bộ 23

1.3.1 Hò 23

1.3.2 Lý 25

1.3.3 Hát ru 27

1.3.4 Đồng dao 29

1.4 Sử dụng làn điệu dân ca Nam Bộ trong chương trình dạy học môn âm nhạc ở trường phổ thông 30

1.4.1 Chương trình dạy học môn âm nhạc trong trường phổ thông 30

1.4.2 Nhận xét việc sử dụng làn điệu dân ca Nam Bộ trong chương trình âm nhạc ở bậc Tiểu học và THCS 34

* Tiểu kết chương 1 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH

SƯ PHẠM ÂM NHẠC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG 37

2.1 Vài nét về Trường Đại học An Giang 37

Trang 3

2.2 Thực tế việc triển khai chương trình giảng dạy cho sinh viên ngành Sư

phạm Âm nhạc 39

2.2.1 Đặc điểm khả năng âm nhạc của sinh viên ngành Sư phạm Âm nhạc Trường Đại học An Giang 43

2.2.2 Chương trình đào tạo hệ ĐHSP Âm nhạc của khoa Văn hóa Nghệ thuật, Trường Đại học An Giang 45

2.2.3 Tình hình dạy – học môn âm nhạc của chương trình đào tạo cử nhân Sư phạm Âm nhạc 47

* Tiểu kết chương 2 52

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VỀ VIỆC ĐƯA MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA NAM BỘ VÀO CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH SPÂN 53

3.1 Tầm quan trọng của việc đưa một số làn điệu dân ca Nam Bộ vào chương trình đào tạo ngành Sư phạm Âm nhạc trình độ đại học 53

3.2 Đề xuất một số giải pháp cụ thể và kiến nghị 56

3.2.1 Về thời lượng cho học phần hát dân ca 56

3.2.2 Xây dựng chương trình chi tiết học phần hát dân ca và tiêu chí lựa chọn một số làn điệu dân ca Nam Bộ vào chương trình giảng dạy 56 3.2.3 Kế hoạch thực hiện 59

3.2.4 Giáo án và phương pháp giảng dạy 69

3.2.5 Các hoạt động ngoại khóa âm nhạc 74

3.2.6 Thực nghiệm Sư phạm 79

3.2.7 Kiến nghị 82

* Tiểu kết chương 3 85

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một nước có nhiều dân tộc, với bề dày lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, có nền văn hóa, nghệ thuật dân tộc cổ truyền rất phong phú về thể loại, nội dung và hình thức Dân ca là một trong những loại hình nghệ thuật đã đi vào đời sống tinh thần, đã tham gia vào sinh hoạt, lao động hàng ngày của nhân dân, trở thành suy nghĩ và sự rung động của tâm hồn từ thế hệ này qua thế hệ khác Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế đất

nước trong xu thế toàn cầu hóa, vấn đề xây dựng một nền văn hóa “tiên tiến,

đậm đà bản sắc dân tộc” mà Nghị quyết Trung ương V (Khóa VIII) đã chỉ ra

ngày càng trở nên cấp thiết

Như chúng ta đã biết, di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc là tài sản

vô cùng quý giá của đất nước, vì thế thời gian qua, Nhà nước và nhân dân ta

đã và đang tiến hành nhiều hoạt động để bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trong cộng đồng các dân tộc nước nhà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói

“Cái gốc của nền văn hóa mới là dân tộc” trích trong tác phẩm “Có một nền

văn hóa Việt Nam” (do Hội Văn hóa cứu quốc xuất bản, trang 25) Trong di

sản văn hóa mà ông cha ta để lại không thể không nhắc đến sản phẩm tinh thần, đó chính là những khúc dân ca những lời ru, câu hò, điệu lý… đã gắn bó với đời sống, lao động và chiến đấu bảo vệ đất nước ngàn đời của dân tộc Việt Nam ta Dân ca không những là tài sản quý giá mà còn là nguồn cảm hứng của các nhạc sĩ sáng tác, sử dụng trong tác phẩm âm nhạc của mình Như vậy, dân ca các dân tộc Việt Nam đang phát huy và góp phần vào việc xây dựng một nền âm nhạc Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Có thể nói, giáo dục nghệ thuật âm nhạc dân tộc cổ truyền là một trong những hướng đi hoàn toàn đúng đắn mà các Bộ, ngành đang hết sức chú trọng trong thời gian gần đây Do vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu, bảo tồn và lưu

Trang 6

truyền dân ca cho thế hệ trẻ, trước hết là đối với thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên là điều rất cấp thiết Tại hội thảo khoa học công tác bảo tồn và phát huy dân ca Nam Bộ do Nhà hát Ca múa nhạc dân tộc Bông Sen và Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng

10/2011, Giáo sư Trần Văn Khê đã từng đề xuất: “Nhà nước nên đưa dân ca

vào trường học, cần làm cho học sinh, sinh viên Việt Nam hiểu dân ca nước

ta là gì và dân ca của ta hay như thế nào”

Nam Bộ mảnh đất trù phú, màu mỡ, có truyền thống văn hóa lâu đời đã sản sinh ra những làn điệu dân ca rất phong phú về thể loại như: hò, lý, hát ru, hát đưa em, hát huê tình, hát đối đáp, hát sắc bùa, hát vui chơi trẻ em (đồng dao), nói thơ, nói vè… Mỗi loại đều có những hình thức cùng giá trị nghệ thuật độc đáo, đặc sắc và có những thủ tục, lề lối diễn xướng khác nhau

An Giang là một tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, là vùng đất đầu nguồn sông Cửu Long, một phần nằm trong tứ giác Long Xuyên; có biên giới ở phía Tây Bắc Việt Nam – Campuchia, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông Nam giáp tỉnh Cần Thơ và phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp, cách Thành phố Hồ Chí Minh gần 200km Là một trong bốn tỉnh vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long, nơi tập hợp 4 dân tộc anh em sinh sống: Kinh, Chăm, Hoa, Khmer… trong đó số người dân tộc Kinh chiếm đông nhất

Trường Đại học An Giang là trường đại học đa ngành, trong đó có khoa Văn hóa Nghệ thuật, đào tạo ngành Sư phạm Âm nhạc trình độ đại học, những người có nhiệm vụ khi ra trường là giáo viên dạy tại các trường phổ thông Đào tạo sinh viên cử nhân ngành Sư phạm Âm nhạc (SPÂN) đòi hỏi phải trang bị cho các em có những kiến thức hiểu biết và trình độ âm nhạc phổ thông nhất định Trong thực tế chương trình đào tạo của bộ môn âm nhạc cho sinh viên Trường Đại học An Giang còn nhiều bất cập, đặc biệt là thiếu

Trang 7

việc giáo dục âm nhạc truyền thống của những làn điệu dân ca Nam Bộ như:

hò, lý, hát ru…

Tìm hiểu chương trình đào tạo cử nhân ngành SPÂN của Trường Đại học

An Giang cho thấy, có rất ít những làn điệu dân ca Nam Bộ trong chương trình dạy học Vì vậy, dẫn đến tình trạng nhiều sinh viên không hiểu biết được nguồn gốc của một số làn điệu dân ca Nam Bộ Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc nhận thức và hiểu biết về giá trị nghệ thuật vô cùng to lớn của dân ca Nam Bộ cũng như việc bảo tồn và phát huy dân ca Nam Bộ vốn đã có

từ xa xưa mà ông cha ta đã để lại

Với những lý do và những bất cập trong thực tiễn kể trên tôi đã chọn đề

tài: “Đưa một số làn điệu dân ca Nam Bộ vào chương trình đào tạo ngành

Sư phạm Âm nhạc tại Trường Đại học An Giang” làm luận văn tốt nghiệp

thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học âm nhạc

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Dân ca Việt Nam nói chung và dân ca Nam Bộ nói riêng đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Từ những chuyến đi tiếp cận, khai thác, sống cùng với bà con ở cơ sở, tiếp xúc và học hỏi từ các nghệ nhân, những tác giả đã cho ra đời các công trình nghiên cứu như: GS Lưu Hữu Phước với bài viết về việc đưa âm nhạc dân tộc vào Mẫu giáo và cấp I (1976) Năm 2003, tại Hội thảo khoa học do Viện Âm nhạc tổ chức, PGS.TS Nguyễn Thụy Loan đã nêu ra những biện pháp đưa âm nhạc cổ truyền vào học đường với cả hai khối Âm nhạc chuyên nghiệp và khối trường phổ thông trong bài

viết “Đưa âm nhạc cổ truyền vào học đường” Qua bài viết này, tác giả muốn

gửi thông điệp đến thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước cần phải hiểu biết và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Cũng trong hội thảo nói trên GS Trần Văn Khê đã nêu lên vai trò, tầm quan trọng của việc giáo dục âm nhạc truyền thống cho học sinh phổ thông, thông qua tham

Trang 8

luận “Thử bàn về việc đưa âm nhạc truyền thống vào học đường” Trong bản tham luận này, ông nhấn mạnh rằng học sinh phổ thông cần phải hiểu về nền

âm nhạc truyền thống của đất nước giống như trẻ con cần nói được tiếng mẹ

đẻ trước khi đi học ngoại ngữ

Trong bài báo có tựa đề “Góp phần xây dựng chương trình giới thiệu âm

nhạc cổ truyền trong chương trình đào tạo môn Âm nhạc ở hệ Trung học phổ thông” trên tạp chí VHNT số 8 (năm 2006), nhà nghiên cứu Nguyễn Đình

Lâm cũng đã nêu ra tầm quan trọng của việc giáo dục âm nhạc cổ truyền cho

hệ Trung học phổ thông nước nhà trong việc giáo dục văn hóa truyền thống cho thế hệ kế tiếp đồng thời nêu ra các phương hướng, biện pháp để góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng chương trình giới thiệu âm nhạc cổ truyền trong chương trình đào tạo môn Âm nhạc ở trường Trung học phổ thông

Ngoài ra, còn một số đề án và luận văn đề cập đến vấn đề đưa âm nhạc dân gian vào chương trình đào tạo ở các trường như: Tài liệu hướng dẫn hỗ

trợ đưa dân ca vào trường THCS (Đề án hỗ trợ đưa dân ca vào trường THCS) của Trường ĐHSP Nghệ thuật TW – nhiều tác giả (2009), “Đưa dân ca vào

chương trình dạy nhạc cho sinh viên khoa Tiểu học (Trường ĐHSP Hà Nội)”

luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Bình Qua những tìm hiểu, thử nghiệm, tác giả đã khẳng định: “Đưa dân ca vào chương trình giảng dạy cho sinh viên khoa Tiểu học, mang lại cho các em một hành trang văn hóa, nhằm đẩy lùi những thị hiếu âm nhạc không lành mạnh, góp phần vào mục tiêu đào tạo con người mới, phát triển hài hòa…” Tại hội thảo khoa học công tác bảo tồn và phát huy dân ca Nam bộ do Nhà hát Ca múa nhạc dân tộc Bông Sen,

Sở Văn hóa – Thể thao & Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào ngày 25/10/2011 nghệ sĩ Hải Phượng cho rằng về bảo tồn nguyên trạng thì các bảo tàng có lợi thế, có thể tổ chức phục hồi các trò chơi dân gian, có hát đồng dao, dân ca nguyên gốc Đồng thời nên có thư viện mở, lưu trữ các tài liệu về

Trang 9

dân ca và âm nhạc truyền thống Việt Nam để những ai quan tâm đều có thể tự

do đến tìm hiểu

Những bài viết, công trình nghiên cứu kể trên là nguồn tư liệu quý giá để chúng tôi tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Thông qua công trình nghiên cứu của việc đưa một số làn

điệu dân ca Nam Bộ vào công tác đào tạo cử nhân hệ ĐHSP Âm nhạc ở Trường Đại học An Giang góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng của công việc này Đồng thời, giáo dục tư tưởng, tình cảm thẩm mỹ lành mạnh đúng đắn cho sinh viên Bên cạnh, đó cũng là việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa của dân ca Nam Bộ thông qua việc đào tạo các lớp sinh viên sẽ là những thầy cô giáo dạy nhạc trong tương lai

- Nhiệm vụ: Tìm hiểu thực tế dạy và học ngành SPÂN tại Trường Đại

học An Giang từ đó nghiên cứu và đổi mới nội dung chương trình đào tạo

+ Nghiên cứu nguồn gốc và những đặc trưng của một số làn điệu dân

ca Nam Bộ

+ Ứng dụng đưa một số làn điệu dân ca Nam Bộ vào chương trình đào tạo cử nhân ngành Sư phạm Âm nhạc ở Trường Đại học An Giang

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Trong luận văn này, đối tượng nghiên cứu là

một số làn điệu dân ca Nam Bộ, chương trình đào tạo ngành Sư phạm Âm nhạc trình độ đại học Bên cạnh đó, luận văn còn đề cập đến thực trạng việc giảng dạy môn âm nhạc đặc biệt là học phần hát dân ca Nam Bộ và các nguồn tài liệu liên quan

- Phạm vi nghiên cứu: Chủ yếu là một số làn điệu dân ca Nam Bộ như:

hò, lý, hát ru và đồng dao Vì các thể loại này phù hợp với ngành Sư phạm và

Trang 10

phù hợp với tâm lý lứa tuổi của học sinh phổ thông - nơi mà các sinh viên khi

ra trường giảng dạy và công tác tại cơ sở ở địa phương

Nghiên cứu chương trình đào tạo cử nhân hệ ĐHSP Âm nhạc chính quy khoa Văn hóa Nghệ thuật, Trường Đại học An Giang, nhằm đổi mới nội dung, nâng cao hiệu quả và chất lượng giảng dạy

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Cho đến nay, việc nghiên cứu đưa làn điệu dân ca Nam

Bộ vào chương trình dạy học ngành SPÂN của các trường còn gặp nhiều khó khăn Do chưa xây dựng được hệ thống lý thuyết và sự nhìn nhận, đánh giá của các nhà nghiên cứu còn có phần chưa thống nhất Như vậy, vị trí và vai trò của việc đưa một số làn điệu dân ca Nam Bộ vào chương trình dạy học không chỉ trong sự hình thành và phát triển nền dân ca Nam Bộ đã có từ xa xưa, mà còn có giá trị bảo tồn và phát huy làm sao để đưa dân ca vào trường học và làm sao để cho học sinh, sinh viên Việt Nam hiểu dân ca nước ta là gì

và dân ca của ta hay như thế nào Tuy nhiên, những công trình đã nêu ở trên mục 2 giúp chúng tôi nghiên cứu để làm cơ sở lý luận cho đề tài này

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp thu thập tư liệu, văn bản

+ Phương pháp phân tích tổng hợp, hệ thống

+ Phương pháp khảo sát, điều tra, quan sát, thực nghiệm

+ Phương pháp nghiên cứu liên ngành: giáo dục học, văn hóa học, âm nhạc và mỹ học âm nhạc

6 Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn đưa ra cách nhìn tổng quát, có hệ thống và tương đối toàn diện

về việc đưa một số làn điệu dân ca Nam Bộ vào chương trình giảng dạy và đào tạo tại một trường đại học hàng đầu về đào tạo giáo viên âm nhạc của

Trang 11

đồng bằng sông Cửu Long nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng Bên cạnh đó, cũng đưa ra một số suy nghĩ, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng trong mảng đề tài giáo dục âm nhạc dân ca Nam Bộ trong nhà trường Thành công của luận văn sẽ góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị

âm nhạc của dân ca Nam Bộ thông qua một số làn điệu như: hò, lý, hát ru và đồng dao; đồng thời, mở ra một chiều hướng tốt đẹp cho việc xây dựng

chương trình giáo dục âm nhạc dân ca hoàn chỉnh, bài bản trong chương trình đào tạo ngành Sư phạm Âm nhạc trình độ đại học ở Trường Đại học An Giang, góp phần đưa dân ca Nam Bộ đến với thế hệ trẻ một cách nhanh chóng

và hiệu quả nhất

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Khái quát về dân ca Nam Bộ

Chương 2: Thực trạng việc đào tạo cử nhân ngành Sư phạm Âm nhạc tại

Trường Đại học An Giang

Chương 3: Giải pháp về việc đưa một số làn điệu dân ca Nam Bộ vào

chương trình đào tạo cử nhân ngành Sư phạm Âm nhạc

Trang 12

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ DÂN CA NAM BỘ 1.1 Khái niệm về dân ca, nguồn gốc của dân ca Nam Bộ

1.1.1 Khái niệm về dân ca

Thật khó khi muốn tìm một định nghĩa thỏa đáng về dân ca, ngay cả trong các tài liệu của Việt Nam về dân ca hay công trình nghiên cứu trên 500

trang: “Tiếp cận kho tàng folklore Việt Nam” của GS Vũ Ngọc Khánh cũng

không hề thấy một khái niệm cụ thể hay một định nghĩa về dân ca như các định nghĩa về những phạm trù khác

Dân ca có những đặc trưng riêng như: âm điệu, nhịp điệu, tiết tấu, cấu trúc, phân câu, phân đoạn, cách diễn xướng… đồng thời nó lại có lời ca mà phần nhiều nội dung lấy từ những câu ca dao, thơ và được sắp xếp lại hoặc thêm bớt những tiếng phụ, đệm, láy… để cho phù hợp với nội dung âm nhạc

và những đặc trưng của nghệ thuật bài hát dân gian

Dân ca được hình thành và phát triển trong quá trình lao động và sáng tạo của cha ông từ rất sớm Nó đã đi vào cuộc sống và sinh hoạt văn hóa xã hội hàng ngày của người dân Việt Nam Từ khi nước Văn Lang được hình thành dưới thời các vua Hùng thì ca hát giữ vị trí quan trọng trong đời sống của nhân dân ta thời đó Trong kho tàng văn học truyền miệng rất phong phú của

ta, hiện còn thấy nhiều truyện thần thoại, cổ tích đã nói đến cảnh sinh hoạt

ca hát của nhiều dân tộc sống trên dải đất Văn Lang hồi đó, nhiều truyện còn lưu lại một cách sinh động sự hình thành một số loại hình dân ca, hoặc phản ánh tác dụng của tiếng hát đối với con người và cảnh vật thiên nhiên của quê hương, đất nước

Để tiện cho việc nghiên cứu, ta có thể hiểu khái niệm về dân ca tạm

thời như sau: Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác được

lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác

Trang 13

1.1.2 Vài nét về nguồn gốc của dân ca Nam Bộ

Như ta đã biết, lịch sử hình thành đất Nam Bộ là lịch sử khẩn hoang lập nghiệp của các đợt di dân từ Châu Bố Chánh (Quảng Bình) trở vào dưới thời

nhà Nguyễn khoảng thế kỷ XVII – XVIII Trong Đại Nam Nhất Thống Chí có

chép rằng: “Năm Mậu dần (1698) đời Hiển Tông sai chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính lấy xứ Lộc Dã (tức Đồng Nai, người Thanh gọi là Nông Nại) đặt làm huyện Phúc Long, đặt dinh Trấn Biên, chiêu mộ dân sơ tán từ Quảng Bình trở

vào cho đến ở, chia đặt thôn ấp” Sách Phủ Biên Tạp Lục cũng nói rõ: “Ở phủ

Gia Định đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng rậm hàng nghìn dặm, họ Nguyễn lấy được đất ấy rồi chiêu mộ những dân có vật lực ở các phủ Điện Bàn, xứ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn đến chặt cây, khai phá lập vườn trồng cau, làm nhà ở…”

Đến năm 1759, có thể gọi là thời kỳ hoàn tất cuộc di dân Nam tiến của người Việt, Ông cha ta đã tới bình nguyên bao la bát ngát nằm trên khu vực bốn con sông lớn: sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Tiền và sông Hậu

Tổ tiên ông bà của người Nam Bộ là những người phiêu bạt từ phương Bắc vào phương Nam, dừng chân tại đất Thuận Quảng rồi vào tận Đồng bằng sông Cửu Long ở cực Nam của đất nước Ông cha ta ra sức khai khẩn đất hoang, lập thành xóm ấp, doanh điền, tập hợp và đùm bọc nhau trong mối quan hệ như anh em một nhà và phải chiến đấu với thú dữ, bệnh tật cùng thiên nhiên hoang dại với câu ca dao:

Chèo ghe sợ sấu cắn chưn, Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma

Dải đất cuối cùng của đất nước từ Đồng Nai đến tận mũi Cà Mau càng ngày càng được mở mang sung túc

Sau Cách mạng tháng Tám và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp

và chống Mỹ, ta gọi là Nam Bộ Thành đồng Tổ quốc với miền Đông, miền

Trang 14

Trung và miền Tây Mỗi miền đều có những đặc điểm địa lý, kinh tế, sinh hoạt, cách làm ăn sinh sống có phần khác nhau, nhưng đều có những truyền thống đấu tranh và những chiến công lừng lẫy trong sự nghiệp giải phóng đất nước

Miền Trung Nam Bộ là Miệt vườn nổi tiếng, là miền đất trồng lý tưởng

với câu tục ngữ:“sông sâu nước chảy, mưa thuận gió hòa”, phù sa màu mỡ

với các nhánh sông Cửu Long mở rộng những cánh đồng bát ngát, hình thành những cù lao, cồn đất và vườn trái sum xuê Sông nước ở đây với những kênh rạch chằng chịt giăng giăng vừa tiện lợi cho việc di chuyển làm ăn, buôn bán, vừa là nơi sinh sống của các loại cá tôm Người ta hay nói đến “đám lá tối trời” của nghĩa quân Trương Công Định, đến nơi an nghỉ cuối đời của nhà thơ lớn Nguyễn Đình Chiểu, đến Đồng Tháp Mười - căn cứ địa nổi tiếng của đốc binh Kiều, của hai lần kháng chiến cùng với câu ca dao bất hủ:

Tháp Mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

Từ trận Rạch Gầm của Nguyễn Huệ đến cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, chiến công của Tiểu đoàn 307, phong trào Đồng khởi Bến Tre, trận Ấp Bắc

và lộ Bốn lừng danh Miền Trung Nam Bộ không chỉ là nơi sản sinh ra nhiều làn điệu dân ca mà còn là nơi phát sinh phong trào ca nhạc tài tử và cải lương sau này

Miền Tây Nam Bộ gồm các tỉnh: An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Minh Hải, Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang…

An Giang xưa là một trong những Nam Kỳ Lục Tỉnh, cũng là vùng được khai phá lâu đời do dân Miệt ở hai huyện Phúc Long (Đồng Nai) và Tân Bình (Gia Định) xuống lập nghiệp và dân ở Ngũ Quảng – miền Trung Bộ theo chân quan chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào án giữ biên giới rồi sau đó khẩn hoang lập đất, dựng làng Danh lam thắng cảnh ở Tây Nam Bộ phải kể đến khu vực Bảy Núi ở Châu Đốc và Thạch Động ở Hà Tiên

Trang 15

Trong thời kỳ chống Mỹ, ai đã từng hành quân từ căn cứ Tây Ninh xuống miền Tây đều nhắc đến kênh Vĩnh Tế hẳn đã sống những ngày gian nan dưới rừng tràm trùng điệp ngập nước của U Minh Thượng và có dịp nếm mật ong ngọt lịm bông tràm Rừng U Minh chạy từ Kiên Giang đến Minh Hải

là chiến khu cách mạng trong 9 năm kháng chiến chống Pháp và những năm chống Mỹ; chen lẫn với rừng tràm còn có bãi sậy rậm rạp, chim bầy làm tổ, cá

đẻ từng đàn, rùa rắn lúc nhúc, muỗi kêu như sáo thổi Tận Mũi Cà Mau là xứ

sở của rừng đước, rừng mắm, rừng vẹt… ngày tháng cùng với bãi bùn lấn dần

ra biển Ở đây là nguồn cung cấp tôm cua, ba khía, cá bóng kèo, gỗ than đước

vô tận Đảo Phú Quốc ngày xưa là căn cứ địa của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực, đây cũng là nơi sản xuất hồ tiêu và nước mắm

Miền Tây Nam Bộ là vựa lúa lớn trong cả nước, nơi thu hoạch hải sản nhiều nhất ở Nam Bộ Huyện Ô Môn (Hậu Giang) là quê quán của đồng chí Châu Văn Liêm, một trong những người sáng lập Đảng Cộng Sản Việt Nam Hòn Khoai ở Mũi Cà Mau vẫn còn sáng mãi gương hy sinh của người chiến sĩ cộng sản Phan Ngọc Hiển trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ Hậu Giang còn vang mãi bài hát Tầm Vu, Minh Hải vẫn vang lừng chiến công Đầm Dơi, Cái Nước, Năm Căn… Kiên Giang với những ngày bám trụ ở Ba Hòn An Giang

là quê hương của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, với mảnh đất Thất Sơn hùng vĩ và

đã từng lập bao chiến công hiển hách trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp

và chống Mỹ

Miền Tây còn là quê hương của bài Dạ Cổ Hoài Lang (tác giả Cao Văn

Lầu – Bạc Liêu), của vọng cổ Bạc Liêu (sáng tạo của ông Lư Hòa Nghĩa tức Năm Nghĩa), của nghệ nhân đờn Rạch Giá, của hát đối Cần Thơ, của giọng hò sông Hậu, của nói thơ Bạc Liêu…

Chính mảnh đất Nam Bộ rất trù phú, màu mỡ, có truyền thống văn hóa lâu đời cùng với những chiến công hiển hách trên một hình thái địa lý vô cùng

Trang 16

đặc biệt mà chúng tôi mới điểm sơ lược qua Nên người dân đã sáng tạo ra các làn điệu dân ca để làm phong phú hơn đời sống văn hóa tinh thần và lao động sản xuất hàng ngày

1.2 Giá trị của dân ca Nam Bộ

Cũng như các loại dân ca Việt Nam, dân ca Nam Bộ của người Việt mang những đặc điểm như tính hiện thực, tính nhân đạo, tính trữ tình, tính chiến đấu, tính trào lộng… Nhưng do điều kiện lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội, cá tính con người, âm sắc phát âm, mối giao lưu văn hóa… nên giá trị nội dung và nghệ thuật của dân ca Nam Bộ, ngoài những nét chung của truyền thống dân tộc, còn thể hiện những tính đặc thù

1.2.1 Giá trị nội dung

Hai câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ phản ánh nỗi nhớ quê hương day dứt của ông cha ta: Từ thuở mang gươm đi mở cõi,

Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long

Với đức tính cần cù trong lao động, với lòng quả cảm chiến đấu chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, mối đe dọa của thú dữ… tổ tiên ta đã ra sức khai hoang, vỡ đất, tạo lập xóm làng, dựng nên sự nghiệp, từ đất Đồng Nai – Gia Định tiếp tục cuộc hành trình xuống tận mũi Cà Mau Chúng ta khó hình dung cái thuở hoang sơ ban đầu với câu tục ngữ:

Cà Mau khỉ khọt trên bưng Dưới sông sấu lội, trong rừng cọp um

Bấy giờ con gái miệt vườn bên sông Tiền, sông Hậu khi phải lấy chồng vẫn sợ làm dâu ở miệt dưới: Má ơi đừng gả con xa,

Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu

(Trích ca dao) Vùng đất mới đã trở thành ruộng thuộc, vườn trái cây sum xuê, xóm làng đông đúc, là nơi chôn rau, cắt rốn của thế hệ nối tiếp Cuộc đời của họ

Trang 17

gắn bó với tên làng, tên đất, tên sông Tình yêu quê hương thể hiện qua nét độc đáo của từng địa phương:

Biên Hòa có bưởi Thanh Trà Thủ Đức nem nướng, điện Bà Tây Ninh

(Trích ca dao) Dân ca Nam Bộ nảy sinh từ môi trường lao động để rồi sau đó phục vụ lại con người, giúp họ vơi đi nỗi nhọc nhằn và thúc đẩy công việc sản xuất phát triển Về phương diện này, hình thức nói vè du nhập trong hát sắc bùa thể hiện rõ chức năng đó Các bài vè chúc nghề làm ruộng, chúc nghề thợ mộc, chúc nghề thợ đươn, chúc nghề thợ hồ… là những khúc hát mộc mạc tự hào của thợ thủ công Bên cạnh đó cũng phản ánh hiện thực cuộc sống lao động hồn nhiên, nhưng không kém phần độc đáo:

Anh đi đánh bẫy trên bưng, Thấy con cúm núm trong lùm bay ra

Anh đi đánh bẫy ngọn tre, Chim quyên không đậu, chích chòe lại leo

(Trích bài Lý con cúm núm) Dọc theo sông Tiền, sông Hậu có những vùng đất cao ráo rất thuận lợi cho việc trồng lúa, hoa màu Dù suốt ngày ướt đẫm mồ hôi, cuốc đất ngoài trời, nhưng hễ có cô nào đi qua là dịp may cho các chàng trai tỏ tình:

Trên đất giồng mình trồng khoai lang Trên đất giồng mình trồng dưa gang

Hỡi cô gánh nước đường xa, Còn bao gánh nước để qua gánh dùm?

(Tang tính tình là tình tính tang) Tuổi thân con khỉ ở lùm, Cuốc không lo cuốc lo dùm người ta

Trang 18

(Tang tính tình là tình tính tang)

(Trích bài Lý đất giồng) Dân ca Nam Bộ còn là bản tình ca đặc sắc, mang nội dung trữ tình của trai gái yêu nhau, thể hiện trên các thể loại: hò, hát, lý… Con gái miệt vườn nết na đôn hậu, lại khéo làm việc nữ công, thường hay mơ ước mình có thể xứng đôi với chàng trai Gia Định, cho nên cứ mỏi mắt trông hoài:

Ghe ai đỏ mũi xanh lườn Phải ghe Gia Định xuống vườn thăm em?

(Ca dao) Trong dân ca Nam Bộ nói “thương” không có nghĩa là “thương hại” mà bao hàm những nghĩa: cảm thương, dễ thương, trìu mến, vừa yêu thương, vừa muốn che chở cho người mình yêu Trong quan họ Bắc Ninh thì:

Yêu nhau cởi áo cho nhau

Về nhà dối rằng cha dối mẹ Qua cầu gió bay

Còn câu ca dao Nam Bộ thì:

Anh thương em đưa nón đội đầu,

Về nhà ba má hỏi, đi qua cầu gió bay

Hàng trăm câu hò câu hát trong dân ca Nam Bộ lên tiếng phản kháng đạo đức phong kiến luôn đề cao quan niệm “gái chính chuyên chỉ thờ một chồng” còn “trai quân tử thì năm thê bảy thiếp” Tệ nạn đa thê được coi là chuyện hiển nhiên, được luật lệ đương thời bảo vệ, chà đạp lên thân phận người phụ nữ Vợ lớn, vợ bé cực nhọc đau khổ và bị hắt hủi như nhau Hai câu ca dao sau đây hát lồng vào điệu ru con nghe thê thảm, quạnh hiu và đầy oán trách:

Gió đưa bụi chuối sau hè, Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ

Trang 19

Dân ca Nam Bộ không những miêu tả quê hương, đất nước, phản ánh sinh hoạt, lao động, bộc lộ tình cảm trong quan hệ trai gái, quan hệ hôn nhân

và gia đình mà còn biểu lộ tư tưởng chống phong kiến, chống đế quốc, nêu lên những nhận định về con người, về việc đời và đề cao cách đối nhân xử thế Tính chất trào lộng trong nội dung dân ca Nam Bộ mang nét đặc biệt phù hợp với cá tính con người địa phương và tiếng cười đem lại thể lực cho con người, khiến tinh thần thêm sảng khoái và yêu đời Tiếng cười trong âm nhạc truyền miệng là khúc ca hài hước của người lao động có tác dụng hữu ích và tác dụng xã hội, mang nhiều sắc thái khác nhau

Tuy nhiên, những ảnh hưởng tư tưởng phong kiến và đế quốc thống trị không thể làm phai mờ, đánh mất đi các giá trị cơ bản và hiển nhiên trong nội dung dân ca Nam Bộ Dù phải sống cuộc đời cơ cực, chịu nhiều ách áp bức bóc lột và bị ràng buộc trong đạo lý khắc nghiệt, nhân dân vẫn phản ánh qua các làn điệu dân ca của mình cảnh sinh hoạt lao động gắn bó với quê hương

xứ sở, bày tỏ nguyện vọng và ước mơ lành mạnh, trong sáng thể hiện tính chất nhân đạo, tính chiến đấu gián tiếp hoặc trực tiếp, bộc lộ tình yêu tha thiết đối với đất nước, con người Tất cả các giá trị đó thuộc về truyền thống tốt đẹp của ông cha ta được chắt lọc và phát huy trong suốt quá trình lịch sử lâu dài mà dân ca thừa hưởng được

1.2.2 Giá trị nghệ thuật

Hầu hết lời hát của dân ca đều xuất xứ từ văn học dân gian, chủ yếu là những câu ca dao gồm nhiều thể thơ khác nhau: ba chữ, bốn chữ, năm chữ, sáu tám hoặc bảy bảy sáu tám ở nguyên thể, biến thể hay hỗn hợp Nói như vậy nghĩa là xác nhận một điều: dân ca là những tác phẩm phổ nhạc dựa vào lời ca (ca dao) có sẵn và trong quá trình phát triển dân ca, người ta phổ lời vào một số làn điệu có sẵn đang lưu truyền trong dân gian

Trang 20

Lời ca và âm điệu trong dân ca có mối quan hệ nhuần nhuyễn, chúng tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau nhằm đạt một tiêu chuẩn thẩm mỹ nhất định Bài dân ca là kết quả của quá trình mài dũa, chắt lọc bằng phương thức truyền miệng từ thế hệ này đến thế hệ khác

Cách phát âm của ngôn ngữ Việt Nam nói chung có 6 thanh điệu tương ứng với các dấu giọng: ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng Nhưng cách phát âm của người Nam Bộ thì gần như chỉ còn 5 thanh điệu vì giữa dấu hỏi

và dấu ngã không phân biệt rõ và được luyến láy với những nốt nhạc như nhau Dấu nặng bao giờ cũng được luyến láy trượt lên, dấu huyền nghe trầm

và nặng Các sắc thái ngôn ngữ mang đặc điểm địa phương là một trong những yếu tố cấu thành đường nét giai điệu dân ca Nam Bộ

Với bốn câu ca dao sau đây chứa các dấu hỏi, ngã, nặng:

Thò tay vô giỏ cá trê, Anh ở bọt nước anh về xứ xa

Đêm khuya trăng lặn dầu hao, Anh ở chỗ nào nói lợi anh hay

Có ba tiếng dấu nặng (bọt, lặn, lợi), 3 tiếng dấu hỏi (giỏ, ở, ở) và một

tiếng dấu ngã (chỗ), được nghe hết sức “tròn vành rõ chữ” qua bài Lý con trê

rất Nam Bộ:

Ví dụ 1:

Trang 21

Với nét nhạc bài lý trên hết sức mộc mạc, chân chất và vững chãi, nhuần nhuyễn với nội dung lời ca dao; những tiếng có thanh điệu khác nhau được phân bố trên những âm khu xác đáng; dấu nặng được nắn nót lướt từ nốt

đô 1 lên nốt xon 1; dấu hỏi và ngã trượt từ nốt đô 1 lên nốt Si 1 giáng trong quãng 7 thứ

Nói chung các làn điệu dân ca Nam Bộ bị chi phối bởi các đặc điểm trong phong cách phát âm như đã nêu trên Tuy nhiên, trong một số điệu lý gần như không tuân thủ theo các thanh điệu của ca dao Đây là một đặc điểm của thể loại lý mang tính chất tương đối phổ biến trong phong cách thể hiện giữa lời ca và âm điệu

* Vài nét về thang âm điệu thức trong dân ca Nam Bộ

Theo các nhà nghiên cứu về dân ca Nam Bộ như: Ngô Huỳnh (1977),

Dân ca Nam Bộ, một kho tàng âm điệu dân gian phong phú, Tạp chí Nghiên

cứu Nghệ thuật; Trần Kiết Tường (1974), Dân ca Nam Bộ, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật; Lư Nhất Vũ – Lê Giang (1983), Tìm hiểu dân ca Nam Bộ, Nxb

Thành phố Hồ Chí Minh,… đã nhận xét âm nhạc truyền thống của dân ca Nam Bộ sử dụng chủ yếu các dạng thang âm điệu thức: Điệu Bắc, Điệu Nam

Ai, Điệu Nam Xuân và Điệu Oán

Điệu Bắc: (Đô – Rê – Pha – Sol – La) với sắc thái khỏe khoắn, sáng

sủa vui tươi… cấu tạo bởi hai phần giống nhau (quãng 2 trưởng, quãng 3 thứ) gọi là hệ thống ba âm, nối liền nhau bằng quãng 2 trưởng Ví dụ 2:

Điệu Nam Ai: (Đô – Mi giáng – Pha – Sol – Si giáng) thể hiện tình

cảm dịu dàng, mang nỗi buồn man mác xa xăm, lại đượm nét lạc quan thầm

Trang 22

kín Về cơ cấu gồm hai hệ thống ba âm giống nhau (3 thứ, 2 trưởng) nối liền bằng quãng 2 trưởng, thứ tự quãng trong hai hệ thống âm được bố trí ngược chiều so với điệu Bắc Ví dụ 3:

Điệu Nam Xuân: (Đô – Rê – Pha – Sol – Si giáng) biểu lộ trạng thái

tươi mát ngọt ngào như mùa xuân, cũng gồm hai hệ thống ba âm nhưng thứ tự các quãng lại cấu tạo đối xứng như vế liền (2 trưởng – 3 thứ và 3 thứ – 2 trưởng)

Ví dụ 4:

Điệu Oán: là hệ quả của mối giao lưu văn hóa giữa nhạc Việt và

Chàm trong tiến trình lịch sử lâu dài, trở thành sắc thái điệu thức đặc thù của

âm nhạc tài tử và cải lương sau này Cơ cấu hình thái điệu thức Oán nảy sinh

từ nhóm ba âm dưới của điệu thức Nam Ai cộng với nhóm ba âm trên của điệu thức Bắc Có 2 điệu oán: Oán 1 và oán 2 Ví dụ 5:

Trang 23

1.3 Một số làn điệu đặc trưng của dân ca Nam Bộ

1.3.1 Hò: Là loại hình nghệ thuật ca hát dân gian rất được mọi người

yêu thích Hò ở Nam Bộ có thể chia làm hai hệ thống: hò trên sông nước và

hò trên cạn

1.3.1.1 Hò trên sông nước: gồm những điệu mang tên gọi khác nhau

Hò chèo ghe (còn gọi là hò chèo thuyền), hò mái đoản (tức hò mái cụt), hò mái trường (tức hò mái dài), hò mái một, hò mái nhì, hò mái ba… là những

giọng hò hình thành và phát triển trên một hình thái địa lý vô cùng đặc biệt

Đó là những hệ thống sông ngòi, kênh rạch giăng giăng chằng chịt rất thuận lợi cho ghe xuồng, tàu bè đi lại làm ăn buôn bán, nghề sông nước ở Nam Bộ tương đối phát triển Từ trên những chiếc ghe bầu, ghe chài, ghe tam bản, qua những chuyến đi ngắn hạn hay dài ngày thả trôi theo các con nước ròng nước lớn người ta cất tiếng hò ngân vang, bay bướm, dịu dàng hòa lẫn với tiếng nước chảy thao thao, tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền cùng tiếng rì rào của những rặng dừa bát ngát ven bờ… rồi lan rộng ra, tan biến dần trên những cánh đồng cò bay thẳng cánh

Nổi tiếng cả nước là Hò chèo ghe Đồng Tháp với tốc độ chậm rãi,

buông lơi, nhịp điệu lúc nhặt, lúc khoan, giai điệu lúc trầm, lúc bổng Toàn

bộ hiệu quả toát lên nỗi buồn man mác mênh mông, ngân vang triền miên trên cánh đồng rộng, nghe như pha trộn giữa mùi vị bùn lầy với hương sen ngào ngạt

Hò mái ba Gò Công nghe thánh thót, sâu lắng, chia làm ba lớp do

ba người giữ ba mái chèo (chèo lái, chèo lườn và chèo mũi) nối tiếp nhau

hò Là một trong những giọng hò chỉ có Cái Kể (lớp mái) mà không có Con

Xô (lớp trống)

Hò chèo ghe vùng Thạnh Phú tỉnh Bến Tre có đặc thù riêng với tốc

độ hơi nhanh, nhịp điệu gần như dồn dập, phần cái kể thì nhiều chữ lời, làn

Trang 24

điệu phảng phất nỗi buồn dằng dặc, còn lời con xô thì mô phỏng tiếng đệm nhạc cụ gõ của hát bội Ví dụ 6:

Hò mái trường (hoặc hò mái dài) là một bước phát triển mở rộng trên

cơ sở hò mái đoản về nội dung và hình thức nghệ thuật âm nhạc cùng lề lối

diễn xướng, rất được những tay hò nổi tiếng nâng niu yêu thích, coi như con cưng và thường được phô diễn trong các dịp hò cuộc thử sức thi tài

1.3.1.2 Hò trên cạn: chủ yếu nảy sinh trong môi trường lao động sản

xuất Tiêu biểu là những giọng hò gắn bó với việc cấy lúa trên đồng ruộng

như Hò cấy, Hò mái ố, Hò ố ả, Hò í a hò khoan, Hò giọng đồng… Đến vụ gặt hái, bên sân nhà nổi lên Hò xay lúa (còn gọi là hò giằng) Một số giọng hò chỉ nhằm trong sinh hoạt vui chơi giải trí như Hò bản đờn, Hò cống chùa…

Hò cấy phát sinh và được diễn xướng từ những vạn cấy Ngày xưa,

những nông dân không có ruộng hoặc những người cấy xong phần ruộng của mình, họ tập hợp nhau lại thành một vạn cấy đi cấy mướn ở vùng khác Mỗi vạn cấy gồm khoảng 20 đến 30 người, đứng đầu có anh làm trung gian nhận khoán giữa chủ ruộng và thợ cấy Các công cấy thường thâu nạp những người

hò tài giỏi nhằm gây không khí hào hứng, kích thích năng suất lao động, giảm nhẹ sự vất vả trên đồng ruộng

Đến mùa cấy (khoảng tháng 6,7,8 âm lịch) tiếng hò trên đồng ruộng xôn xao, sôi động Các nhóm hò tha hồ cất giọng trổ tài cao thấp, bà con có thể hò từ sớm tinh mơ đến gần tối Vì mải mê thi hò mà quên hết mệt nhọc và

Trang 25

giờ giấc, dù cấy quá diện tích khoán hàng ngày thợ cấy cũng không nhận được thêm tiền công Tuy vậy, có một vài người vừa cấy giỏi, vừa hò hay, tiền công có thể tăng gấp đôi Sinh hoạt hò cấy có sức hấp dẫn và quyến rũ lạ thường Nhiều cặp trai gái vì mê nhau giọng hò mà thành vợ, thành chồng cho đến ngày đầu bạc Vì vậy, ông bà ta thường nói:

Hò chơi cho trọn buổi chiều Keo sơn quấn chặt, sợi chỉ điều xe săn!

Ở Nam Bộ, dù hò trên sông nước hay hò trên cạn đều nghe thanh nhàn, thong dong hơn so với một số điệu hò miền Trung và miền Bắc Có lẽ bởi khung cảnh thiên nhiên như sông rạch hiền hòa, cánh đồng bao la trải rộng và cách làm ăn, sinh sống tương đối dễ Hò ở Nam Bộ có thể không nhằm huy động sức người theo mỗi chu kỳ tiết tấu nhất định để khiêng, để nâng, để đẩy, để kéo… một vật nặng nào đó Vì vậy, nội dung của chúng có phần nào nhẹ về thơ ca dân gian lao động, mà nặng về thơ ca dân gian trữ tình Môi trường lao động như chèo ghe trên sông, cấy lúa trên đồng… dần đã trở thành bối cảnh chỉ để cho hò phát sinh và tồn tại Tình yêu lứa đôi là chủ

đề bao trùm của hò Ví dụ 7:

1.3.2 Lý: Ngoài hò, lý là những khúc hát bình dân chiếm vị trí quan

trọng trong sinh hoạt đời sống tinh thần của nhân dân Nam Bộ Tuy nhiên, lý được sinh sôi, nảy nở nhiều nhất vẫn là địa bàn từ Quảng Trị - Thừa Thiên Huế vào Nam Trung Bộ rồi đến khu vực Nam Bộ

Trang 26

Lý thể hiện sâu sắc đề tài và nội dung của mọi khía cạnh, mọi hiện tượng trong cuộc sống, mọi trạng thái tình cảm và ước mơ của quần chúng qua nhiều thế hệ nối tiếp Bên cạnh đó, các bài Lý gần như là thể ca khúc ngắn gọn, súc tích, câu cú mạch lạc, tiết điệu khúc chiết, giai điệu phong phú

và gợi hình gợi cảm

Thể tài của Lý rất đa dạng và hết sức bình dị Các loại cây trái vốn quen thuộc đều có thể trở thành tên gọi của những làn điệu uyển chuyển duyên dáng Từ cây ổi, cây bưởi, cây khế, cây chanh, cây ớt, cây chuối, cây dừa, cây mít, cây đu đủ đến các loại bông hoa như: bông sen, bông súng, bông lựu, bông lý, bông trang đến những thức ăn bình dân như: bánh ít, bánh bò, bánh canh, dưa giá, bắp rang… Lý cũng không quên nói đến các vật dụng và nông cụ hàng ngày gắn bó với con người: cái áo, cái nón, cái bình vôi, trống chầu, trống cơm, chiếc ghe, cầu dừa, cầu tràm… Lý cũng đề cập đến những nhân vật: tiều phu, ông thôn, ông địa, chú cai, nàng dâu, lý ba cô… Lý còn phản ánh phong tục lễ nghi, hội hè, chùa chiền như: lý cống chùa, lý bản đờn,

lý chèo đưa cá ông, lý sắc bùa, lý mừng xuân…

Khác với hát ru, hát huê tình, hò chèo ghe,… Lý không có môi trường diễn xướng đặc hữu, không có lề lối thủ tục quy định Bà con ta không tổ chức hát lý nhằm thi thố tài năng như các cuộc hò thi Người ta thường “lý với nhau” trong lao động sản xuất hoặc trong những dịp nghỉ ngơi, giải trí hay những ngày Tết, mừng tân gia, đám cưới, đám giỗ Lý được hát trong những trạng thái tình cảm và hoàn cảnh sinh hoạt khác nhau như: buồn, vui, nhàn rỗi, bận bịu làm cho tâm hồn con người bay bổng, sảng khoái thăng hoa Ví dụ 8:

Trang 27

1.3.3 Hát ru: Là một thể loại đặc biệt trong kho tàng âm nhạc dân gian

Việt Nam, vì hầu như 54 dân tộc trên đất nước ta thì dân tộc nào cũng có điệu hát ru của dân tộc mình

Phương tiện hát ru là cánh võng, tao nôi, cánh tay, lồng ngực… Môi trường diễn xướng hát ru hết sức rộng rãi: có thể ôm bé nằm đong đưa trên võng ngoài mái hiên, có thể ôm trẻ áp sát trong lồng ngực vừa ru, vừa nựng nịu, vừa đi lững thững trong nhà Sắc thái âm nhạc của tiếng ru thường hay thâm trầm, miên man, êm đềm, ngân nga, đằm thắm, thiết tha… Thính giả duy nhất là đứa trẻ, nhưng thính giả tí hon này chưa thể tiếp thu lời ru một cách có ý thức mà chỉ có thể bị tác động chừng mực bởi tiếng ru được diễn đạt bằng âm nhạc

Hát ru vốn thịnh hành lâu đời trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, từ Đông Bắc và Tây Bắc Bộ, chạy dài theo dải Trường Sơn, tích tụ trên các buôn làng Tây Nguyên, thẳng tới núi rừng miền Đông Nam Bộ và trong các phum sóc Khmer…

Hát ru thực thụ thường hay dạo đầu bằng những nét nhạc tương đối ổn định Nét nhạc này có thể tái hiện ở giữa bài hoặc cuối bài có thể bắt gặp ở đầu mỗi câu hát ru ứng với những cặp thơ sáu tám (hoặc song thất lục bát) thuộc dạng nguyên thể hay biến thể Đây là những nét nhạc đặc trưng gồm

Trang 28

một hoặc hai môtíp bằng những tiếng láy đưa hơi, những tiếng đệm lấy đà nhằm biểu hiện những tình cảm trìu mến thiết tha, những cử chỉ nựng nịu, vỗ

về, những nhịp điệu đung đưa theo cánh võng, tao nôi… Nét nhạc cố định

thường ứng với những tiếng: À ơ, à ơi, ù ơ, Ầu ơ, Hà ơi, Hời hơ, Hơ hơ, Ru

hời ru hỡi, v.v…

Hát ru ở Nam Bộ còn gọi là hát đưa em, hát ru con hoặc hát ầu ơ, vì

đầu bài ru bao giờ cũng có tiếng đệm “ầu ơ” là một loại hát ru phổ biến rộng rãi từ thành thị đến nông thôn Ví dụ 9:

Từ thuở lọt lòng, tâm hồn của đứa trẻ thấm dần giọng hát ầu ơ dịu dàng, vỗ về trìu mến của ông bà, cha mẹ, anh chị giữa trưa hè oi bức hoặc giữa đêm dài yên ả Điệu hát ru hòa cùng tiếng võng kẽo kẹt cứ triền miên ngân nga, dìu dặt hết câu này, sang câu khác Tuy nhiên, tùy đối tượng hát, tùy trạng thái sinh lý, tùy không gian và thời gian, mỗi nơi, mỗi lúc đều có những dị bản, khiến cho sắc thái điệu “hát đưa em” ở Nam Bộ càng thêm muôn màu muôn vẻ Nội dung của “hát đưa em” thường mang tâm sự của người vợ đối với người chồng, của người con đối với ông bà, cha mẹ, ít khi bày tỏ tình cảm trực tiếp với đứa trẻ đang ôm ru trong lòng Đồng thời lời ru cũng hay than thân trách phận hoặc giãi bày nỗi niềm chua xót với tình duyên

Trang 29

lận đận lao đao do lễ giáo phong kiến áp đặt Lời lẽ hát ru còn để tự nói với

mình về lòng chung thủy, về mối tình nghèo, về lòng hiếu thảo, về tính nhân

ái, về cách dạy con, về cách đối nhân xử thế và về những bài học rút ra từ

cuộc sống…

1.3.4 Đồng dao: Là loại ca hát của trẻ em trong lúc vui chơi, giải trí,

đùa giỡn Các bài đồng dao thường ngắn gọn, súc tích, câu cú mạch lạc, mang

tính tiết tấu rõ ràng để các em nhỏ dễ hát và dễ nhớ Hát đồng dao ở Nam Bộ

gồm các điệu Cùm nụm cùm niệu, Bắc kim thang, Tập tầm vông, Con chim

manh manh, v.v… Độ ba bốn em nhỏ ngồi xung quanh chiếc gậy cắm thẳng

Mỗi em thay nhau nắm tay vòng chiếc gậy, tay này tay nọ chồng lên nhau cho

đến đầu gậy rồi làm ngược lại, vừa hát bài Cùm nụm cùm niệu Bài hát này rất

phổ biến ở Nam Bộ, nét nhạc bình dị và gợi cho chúng ta những ký ức của

thời thơ ấu

Cho đến nay, đồng dao chưa được các nhà nghiên cứu chú ý nhiều

Công trình sưu tầm, tập hợp các sáng tác, nghiên cứu về đồng dao đầy đủ

nhất, đến cuối thế kỉ XX, là Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt của

Nguyễn Thụy Loan, Đặng Diệu Trang, Nguyễn Huy Hồng, Trần Hoàng

(1997)… Ví dụ 10:

Đồng dao là một thể loại do nhân dân sáng tạo ra, để đáp ứng nhu cầu

vui chơi của trẻ em Người lớn cũng góp phần cùng trẻ trong việc sáng tạo

đồng dao, nhất là bộ phận đồng dao lứa tuổi nhi đồng Việc góp phần ấy có

Trang 30

thể nằm trong quá trình tập hát cho trẻ, cũng có thể tách biệt Nhưng chắc chắn mỗi khi bài đồng dao được tập thể trẻ diễn xướng nhiều lần và lưu truyền cho thế hệ kế tiếp, thì đồng thời chúng cũng được “nhuận sắc” lại cho phù hợp với tâm sinh lí của trẻ

Đồng dao còn có tác dụng giáo dục, nhận thức, thẩm mĩ (như văn học

nói chung) Vũ Ngọc Phan (1971) viết: “Nhiều bài hát chỉ có ý nghĩa dạy cho

con trẻ biết về các thứ cây, các giống vật, các nghề… nói tóm lại, nó giống như những bài học thường thức” Vũ Ngọc Khánh (1974) viết: “Đồng dao có tác dụng chủ yếu là thỏa mãn nhu cầu vui chơi và tập cho trẻ có một số tri thức để bước vào đời Chức năng chủ yếu của nó là thẩm mĩ và giáo dục Những ý nghĩa hiện thực giá trị xã hội, cũng sẽ từ những chức năng ấy mà ra cả” Phan Đăng Nhật (1992) viết: “Chúng ta có thể kết luận, lời đồng dao có những đóng góp quan trọng để thực hiện chức năng giáo dục và chức năng vui chơi, với những nhiệm vụ rất đa dạng: luyện phát âm, cung cấp từ ngữ, giáo dục nhận thức, bồi dưỡng tình cảm, giữ nhịp cho thao tác chơi, thay cho hiệu lệnh kết thúc và hiệu lệnh xuất phát, chọn người đóng vai chính”

1.4 Sử dụng làn điệu dân ca Nam Bộ trong chương trình dạy học môn âm nhạc ở trường phổ thông

1.4.1 Chương trình dạy học môn âm nhạc trong trường phổ thông

Với những nét đặc trưng của một môn nghệ thuật, âm nhạc đã và đang tham gia tích cực vào quá trình giáo dục thẩm mỹ, giáo dục toàn diện cho học sinh phổ thông Theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo “nhằm giáo dục văn hóa âm nhạc” cho học sinh phổ thông, chương trình môn âm nhạc cho học sinh Tiểu học và THCS đã có nhiều đổi mới về nội dung, tăng số lượng bài hát và chú trọng đến việc phát triển khả năng âm nhạc của học sinh Về phương pháp giáo dục phổ thông, điều 28 luật giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng

Trang 31

tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” (Luật giáo dục 2005)

1.4.1.1 Thực trạng dạy học môn âm nhạc ở trường phổ thông trong tỉnh An Giang hiện nay

Trong những năm gần đây, giáo dục nghệ thuật trong nhà trường phổ thông đã trở thành một môn học không thể thiếu trong sự nghiệp giáo dục con người mới Việt Nam phát triển toàn diện Cùng với các môn học khác, môn học Âm nhạc trong chương trình phổ thông nhằm mục đích giáo dục thẩm

mỹ, nâng cao đời sống tinh thần cho các em nên đã thu hút được sự chú ý của nhà trường, của học sinh Sau nhiều năm thay sách giáo khoa, chương trình

Âm nhạc ở bậc TH và THCS đã được triển khai đồng bộ từ lớp 1 đến hết học

kỳ I lớp 9 đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của nhà trường phổ thông và của xã hội Mặc dù cũng còn có một vài ý kiến trái ngược nhau, nhưng nhìn chung, nội dung của chương trình thay sách giáo khoa đã thể hiện được những tiêu chí giáo dục thẩm mỹ hết sức cụ thể, có tính khoa học và liên ngành cao Môn Âm nhạc trong nhà trường phổ thông không nhằm đào tạo những người làm nghề Âm nhạc, những diễn viên, những nhạc sĩ, ca sĩ mà chính là qua môn học để tác động vào đời sống tinh thần của các em góp phần cùng với môn học khác thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường phổ thông cũng như mục tiêu của bậc học Muốn thực hiện tốt vấn đề này trước tiên phải nhận thức đúng vai trò của bộ môn âm nhạc trong trường phổ thông và có kế hoạch

cụ thể từ Sở đến Phòng Giáo dục – Đào tạo, các trường phổ thông cũng như đến từng giáo viên

Trang 32

Để thực hiện chất lượng đào tạo sinh viên ngành Sư phạm Âm nhạc của Trường Đại học An Giang hiện nay, chúng tôi đã sử dụng phương pháp điều tra, quan sát 10 trường Tiểu học và THCS trong huyện Châu Thành và Thị xã Tân Châu trên địa bàn tỉnh An Giang Qua quan sát dự giờ môn Âm nhạc của một số trường chúng tôi nhận thấy:

- Hầu hết các giáo viên thực hiện đầy đủ nội dung hát – tập đọc nhạc – phát triển khả năng nghe nhạc và âm nhạc thường thức Nhìn chung họ có giọng hát tương đối tốt, truyền cảm, có khả năng hát kết hợp với các điệu bộ động tác, đặc biệt là các động tác múa đơn giản Nhiều giáo viên có khả năng đọc nhạc, biết sử dụng một số nhạc cụ như: đàn Organ, ghita Trong quá trình dạy học, họ có thể đệm được những bài hát từ đơn giản đến phức tạp

- Bên cạnh những ưu điểm trên, các giáo viên cũng còn có một số hạn chế nhất định Có một số giáo viên chưa nhận thức được vai trò, vị trí của âm nhạc dân gian Việt Nam nói chung và dân ca Nam Bộ nói riêng Chẳng hạn, nhiều giáo viên không nắm được dân ca 3 miền của đất nước có những thể loại gì? (quan họ, chèo…), hay có một số làn điệu gì của dân ca Nam Bộ? (hò, lý, hát ru, đồng dao…) Có giáo viên khi dạy dân ca còn lúng túng, thậm chí không biết bài dân ca đó thuộc vùng miền nào Chẳng hạn khi dạy bài hát

“Hái hoa bên rừng” dân ca Gia Rai, mà giáo viên đó không biết Gia Rai ở vùng nào trong nước, phong tục tập quán, sinh hoạt của họ ra sao Ngoài ra, cũng có một số giáo viên khi dạy về dân ca Nam Bộ họ thực sự chưa am hiểu

về một số làn điệu đặc trưng của quê hương mình và các bài hát dân ca địa phương đối với họ còn rất mới mẻ Bởi thế, chất lượng dạy – học môn Âm nhạc ở trường phổ thông còn nhiều hạn chế, giáo viên âm nhạc còn lúng túng trong khi dạy hát và trong tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho học sinh

Từ thực trạng dạy học Âm nhạc nói chung, dạy hát dân ca Nam Bộ nói riêng ở các trường phổ thông trong tỉnh An Giang đã nêu trên, chúng tôi

Trang 33

nhận thấy cần có những bổ sung và điều chỉnh cho sinh viên ngành SPÂN, cụ thể là đưa một số làn điệu dân ca Nam Bộ vào trong chương trình đào tạo để góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

1.4.1.2 Mục tiêu và chương trình dạy học môn âm nhạc ở bậc Tiểu học

Nhằm “giáo dục văn hóa âm nhạc” cho học sinh, chương trình môn

âm nhạc ở nhà trường tiểu học được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất (dành cho học sinh lớp 1, 2, 3) có mục đích cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về âm nhạc, ban đầu hình thành những kỹ năng cần thiết để các

em hoàn thành các bài tập theo chương trình Từ đó, góp phần giáo dục thẩm

mỹ, giúp học sinh hiểu, cảm nhận, vận dụng cái hay, cái đẹp của nghệ thuật

âm nhạc vào học tập và sinh hoạt Mục tiêu của giai đoạn tiếp theo (đối với học sinh lớp 4, 5) là để hình thành một trình độ âm nhạc cơ bản cho học sinh nhằm tiếp tục phát huy, nâng cao các kỹ năng đã được hình thành từ các lớp dưới, giúp học sinh ca hát và tập hát đúng nhằm tạo thêm hứng thú cho các

em Qua môn học, giáo dục năng lực cảm thụ âm nhạc và kích thích tiềm năng nghệ thuật, làm cho đời sống tinh thần của các em thêm phong phú

Từ mục tiêu đã đề ra, cấu trúc chương trình cũng được chia làm hai giai đoạn phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học: giai đoạn I dành cho học sinh lớp 1 đến lớp 3, giai đoạn II là cho học sinh 2 năm cuối cấp Sách có tên gọi là sách Nghệ thuật với 3 môn: Âm nhạc, Mỹ thuật, Thủ công Số tiết âm nhạc dành cho mỗi tuần là 1 tiết x 35 tuần = 35 tiết/năm Trong đó có hai phần: tập hát và phát triển khả năng âm nhạc (xem Phụ lục I)

1.4.1.3 Mục tiêu và chương trình dạy học môn Âm nhạc ở bậc Trung học cơ sở

Chương trình âm nhạc dành cho bậc THCS là hình thành và phát triển năng lực cảm thụ âm nhạc của học sinh, rèn luyện một số kỹ năng đơn giản về

ca hát và tập đọc nhạc, biết hát diễn cảm Bên cạnh đó, thông qua môn học khích lệ học sinh hăng hái tham gia các hoạt động âm nhạc, tạo điều kiện để

Trang 34

các em bộc lộ và phát triển năng khiếu Căn cứ vào đặc trưng của âm nhạc, vào mục tiêu và thời lượng môn học cũng như đặc điểm tiếp thu của học sinh lứa tuổi THCS, chương trình môn âm nhạc ở trường THCS được cấu trúc dựa trên những nguyên tắc như sau: lấy học hát làm trọng tâm, học Nhạc lí – Tập đọc nhạc để nâng cao, coi trọng nghe nhạc và những kiến thức âm nhạc sơ giản nhằm xây dựng và phát triển năng lực cảm thụ để hình thành một trình

độ âm nhạc phổ thông (xem Phụ lục I)

1.4.2 Nhận xét việc sử dụng làn điệu dân ca Nam Bộ trong chương trình âm nhạc ở bậc Tiểu học và THCS

Qua việc tìm hiểu chương trình môn Âm nhạc cho học sinh bậc Tiểu học và THCS (được dẫn ở Phần phụ lục I), chúng ta dễ dàng nhận thấy khối lượng của làn điệu dân ca Nam Bộ trong chương trình môn Âm nhạc ở bậc Tiểu học và THCS nhìn chung là rất ít

* Với hệ Tiểu học: Các em chủ yếu được học hát và phát triển khả

năng âm nhạc thông qua các hoạt động gắn liền với bài hát được học Trong khi, các bài dân ca chỉ chiếm 15% đến 20% thời lượng học hát Số lượng 2 bài dân ca trong tổng số 12 bài hát thuộc 3 thể loại (ca khúc thiếu nhi, dân ca Việt Nam, bài hát nước ngoài) của mỗi lớp ở giai đoạn một và 2 bài dân ca trong tổng số 10 bài của mỗi lớp ở giai đoạn 2 là quá ít so với sự đồ sộ về bài bản, phong phú về nội dung của các làn điệu dân ca Việt Nam nói chung và dân ca Nam Bộ nói riêng

* Với hệ THCS: Trong suốt 4 năm, tuy lượng kiến thức, kỹ năng, kỹ

xảo các em được cung cấp trong môn âm nhạc nhiều hơn so với bậc Tiểu học nhưng các làn điệu dân ca Việt Nam nói chung và dân ca Nam Bộ nói riêng vẫn là rất khiêm tốn trong chương trình dạy học Cũng vì thời lượng hạn chế nên dù được đề cập tới nhiều hơn, lượng kiến thức học sinh THCS thu được cũng không đáng kể Điều quan trọng hơn là khi xem xét tổng thể và chi tiết

Trang 35

chương trình học của các em, chúng tôi nhận thấy lượng kiến thức về các làn điệu dân ca Nam Bộ của các em không chỉ quá sơ giản mà còn không có một

hệ thống nhất định Những hiểu biết của học sinh qua chương trình học chỉ dừng ở mức độ chắp nhặt, lẻ tẻ Các em không được giới thiệu dù sơ lược nhất ngay từ ban đầu về sự hình thành, nguồn gốc lịch sử hay sự phát triển của dân ca Nam Bộ chứ chưa nói đến nét đẹp, giá trị nội dung hay giá trị nghệ thuật của thể loại này Một số bài dân ca được học hay một vài câu chuyện kể, bài học thêm là quá khiêm tốn để có thể hiểu được và cảm nhận vẻ đẹp của các làn điệu dân ca Việt Nam nói chung và dân ca Nam Bộ nói riêng Một điều hết sức cần thiết cho học sinh phổ thông trong việc nâng cao vốn hiểu biết về âm nhạc bởi lẽ đối với một người bình thường có học vấn, sẽ là khuyết thiếu to lớn nếu không có kiến thức về nghệ thuật âm nhạc đặc biệt là âm nhạc của chính mảnh đất nơi mình sinh ra và lớn lên

Trang 36

* Tiểu kết chương 1

Dân ca Nam Bộ - một bộ phận trong kho tàng âm nhạc dân gian phong phú và quí báu của đất nước ta Một vùng đất màu mỡ có phong cảnh thiên nhiên xinh đẹp hữu tình, có tài nguyên giàu có, trù phú Không thể quên được con người Nam Bộ với tính tình cởi mở, hào hiệp, nặng nghĩa nhiều tình… phản ánh những cung bậc tình cảm và đời sống của họ qua bao thăng trầm lịch sử mà đất nước đã dành riêng cho mảnh đất phương Nam này!

Trong chương I của luận văn, chúng tôi đã đưa ra một cái nhìn tổng thể nhằm cung cấp những hiểu biết cơ bản nhất về dân ca Nam Bộ, khái niệm, nguồn gốc, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật, một số làn điệu đặc trưng Bên cạnh đó, chúng tôi còn chỉ ra thực trạng, mục tiêu, nội dung về chương trình môn Âm nhạc cho hai bậc Tiểu học, THCS và những nhận xét về thời lượng môn Dân ca trong chương trình Đó cũng chính là tiền đề cơ bản, là điều kiện tiên quyết trước khi tìm hiểu việc thực hiện “Đưa một số làn điệu dân ca Nam Bộ” vào việc đào tạo giáo viên âm nhạc ở Trường Đại học An Giang vì những hiểu biết dù là khái quát nhất về dân ca Nam Bộ hay chương trình học môn

âm nhạc cho học sinh phổ thông sẽ là nền tảng, định hướng cho phép việc tìm hiểu, nhận định, đánh giá việc đưa một số làn điệu dân ca Nam Bộ vào chương trình đào tạo ngành Sư phạm Âm nhạc tại Trường Đại học An Giang một cách cụ thể và xác đáng nhất

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGÀNH SƯ PHẠM ÂM NHẠC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG 2.1 Vài nét về Trường Đại học An Giang

Trường Đại học An Giang được thành lập theo Quyết định số TTg, ngày 30 tháng 12 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ và khai giảng năm học đầu tiên ngày 09 tháng 9 năm 2000 Xây dựng trên cơ sở Trường Cao đẳng Sư phạm An Giang, Trường Đại học An Giang là cơ sở đào tạo công lập trong hệ thống các trường đại học Việt Nam, chịu sự quản lý chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời chịu sự quản lý trực tiếp của Ủy ban Nhân dân tỉnh

241/1999/QĐ-An Giang Trường có nhiệm vụ đào tạo trình độ đại học, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang và khu vực đồng bằng sông Cửu Long Ngoài ra Trường còn có nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong vùng

Trường Đại học An Giang ra đời trong giai đoạn thế giới sắp chuyển sang thế

kỷ 21 Thế kỷ có những chuyển biến to lớn, đó là lấy “Học thường xuyên, học suốt đời” làm nền tảng, dựa trên tiêu chí chung là “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống với nhau và học để làm người” Là một trường có tuổi đời còn khá trẻ,

đó cũng là thuận lợi để sớm bắt nhịp với yêu cầu của thời đại và lựa chọn ngành nghề mũi nhọn để đào tạo như Công nghệ sinh học, Phát triển nông thôn, Kinh tế đối ngoại, Quản trị kinh doanh, Công nghệ thực phẩm, Công nghệ thông tin, tiếng Anh, Tháng 8 năm 2004, Trường đã có sinh viên đại học tốt nghiệp, đến nay được

9 khóa tốt nghiệp với trên 8.800 sinh viên Hiện nay, sinh viên do Trường đào tạo

đã có mặt khắp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ở Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành khác trên mọi miền đất nước, mỗi người một vị trí công tác khác nhau, nhiều người đã hoàn thành chương trình sau đại học và đang tiếp tục phát huy chuyên môn, nghiệp vụ của mình

Trang 38

Năm học 2009 - 2010 đánh dấu một bước phát triển mới của Trường Đại học

An Giang sau 10 năm thành lập Đây là năm học đầu tiên chuyển đổi toàn bộ

hệ đào tạo chính quy từ niên chế sang học chế tín chỉ; đồng thời triển khai thực hiện kiểm định chất lượng, tổ chức lấy ý kiến phản hồi của người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên; Trường Phổ thông Thực hành Sư phạm khai giảng năm học đầu tiên; khu trường mới (40 ha) đã đưa vào sử dụng với trang thiết bị tương đối đồng bộ Năm học 2011 – 2012 triển khai đào tạo sau đại học, bước đầu thực hiện liên kết với các trường đại học trong nước, bước tiếp theo tự mở ngành đào tạo

Nghiên cứu khoa học là một trong hai nhiệm vụ quan trọng được nhà trường quan tâm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Ngay từ khi thành lập, nhà trường đã áp dụng hàng loạt chế độ chính sách ưu đãi cho cán bộ, giảng viên và sinh viên để khuyến khích nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ Đến nay, nhà trường thực hiện được 345 đề tài nghiên cứu khoa học (293 đề tài cấp trường), tham gia thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo đề nghị của một số huyện trong và ngoài tỉnh Từ năm 2004 đến nay, mỗi năm có trên 300 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên đại học chủ yếu ở loại hình khóa luận tốt nghiệp Hiện tại, nhà trường đang tập trung củng cố tổ chức bộ máy, sắp xếp nhân sự sau khi chi tách cơ sở 2 Châu Phú để thành lập Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật

An Giang; xúc tiến thực hiện đề án thành lập khoa Y

Hòa nhập với xu thế phát triển chung của các trường đại học trên phạm vi quốc gia, nhà trường không ngừng tăng cường và mở rộng quan hệ hợp tác trong nước, ngoài nước, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học chuyển giao công nghệ Trường Đại học An Giang sẽ là địa chỉ tin cậy trong công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh và khu vực

Trang 39

2.2 Thực tế việc triển khai chương trình giảng dạy cho sinh viên ngành Sư phạm Âm nhạc

Khoa Văn hóa Nghệ thuật gồm 4 bộ môn: Du lịch, Lý luận Văn hóa, Mỹ thuật và Âm nhạc Khoa được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực quản lý, sự nghiệp thuộc các ngành văn hóa, du lịch, báo chí, phát thanh truyền hình cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Ngoài ra, bộ môn

Âm nhạc đào tạo chuyên ngành SPÂN cho các sinh viên và khi tốt nghiệp ra trường sẽ trở thành những giáo viên dạy cho các em học sinh ở trường phổ thông trên địa bàn tỉnh An Giang thông qua các hình thức đào tạo chính qui, vừa học vừa làm, liên kết đào tạo Chương trình giảng dạy bộ môn Âm nhạc cho sinh viên được xây dựng và phát triển trên cơ sở chương trình Âm nhạc của Trường Đại học Sài Gòn liên kết trước kia

Đội ngũ giảng viên của bộ môn Âm nhạc, khoa Văn hóa Nghệ thuật gồm

10 người, đảm nhiệm việc giảng dạy các học phần thuộc khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp gồm: 76 tín chỉ (bắt buộc: 52; tự chọn: 24):

* Bảng 1: TÊN VÀ KHỐI LƯỢNG CÁC HỌC PHẦN KIẾN THỨC

GIÁO DỤC CHUYÊN NGHIỆP

Số giờ Tín chỉ

Khối kiến thức cơ sở ngành

Trang 40

Khối kiến thức ngành chuyên sâu

19 FMU 515 Hòa âm ứng dụng và

Ngày đăng: 08/03/2021, 14:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng (1996), Đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1996
2. Nguyễn Thị Thanh Bình (2007), Đưa dân ca vào chương trình dạy nhạc cho sinh viên khoa Tiểu học – ĐHSP, Luận văn thạc sĩ Văn hóa học, Viện Nghiên cứu Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa dân ca vào chương trình dạy nhạc cho sinh viên khoa Tiểu học – ĐHSP
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Bình
Năm: 2007
3. Đào Ngọc Dung (2001), Dân ca Việt Nam, Nxb Âm nhạc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Việt Nam
Tác giả: Đào Ngọc Dung
Nhà XB: Nxb Âm nhạc
Năm: 2001
4. Nguyễn Văn Hầu (1962), Hò miền Nam, Tạp chí Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hò miền Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hầu
Năm: 1962
5. Ngô Đông Hải (1965), Điệu thức trong dân ca Nam Bộ, những vấn đề Âm nhạc và Múa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điệu thức trong dân ca Nam Bộ
Tác giả: Ngô Đông Hải
Năm: 1965
6. Ngô Đông Hải (1990), Một cách nghe, một cách hiểu bài dân ca Nam Bộ: Lý ngựa ô. Văn hóa dân gian Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một cách nghe, một cách hiểu bài dân ca Nam Bộ: "Lý ngựa ô
Tác giả: Ngô Đông Hải
Năm: 1990
7. Ngô Huỳnh (1977), Dân ca Nam Bộ, một kho tàng âm điệu dân gian phong phú. Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Nam Bộ, một kho tàng âm điệu dân gian phong phú
Tác giả: Ngô Huỳnh
Năm: 1977
8. Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (2009), Tìm hiểu về đồng dao người Việt, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về đồng dao người Việt
Tác giả: Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2009
9. Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (2010), Lý trong dân ca người Việt, Nxb Văn học Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý trong dân ca người Việt
Tác giả: Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn học Dân tộc
Năm: 2010
10. Trần Văn Khê (1998), Âm nhạc Đông Nam Á, Viện Âm nhạc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm nhạc Đông Nam Á
Tác giả: Trần Văn Khê
Năm: 1998
11. Nguyễn Đình Lâm (2006),“Góp phần xây dựng chương trình giới thiệu Âm nhạc cổ truyền trong chương trình đào tạo môn Âm nhạc ở hệ THPT”, tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Góp phần xây dựng chương trình giới thiệu Âm nhạc cổ truyền trong chương trình đào tạo môn Âm nhạc ở hệ THPT”
Tác giả: Nguyễn Đình Lâm
Năm: 2006
12. Thụy Loan (2006), Âm nhạc cổ truyền Việt Nam, Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm nhạc cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Thụy Loan
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2006
13. Phạm Phúc Minh (1994), Tìm hiểu dân ca Việt Nam, Nxb Âm nhạc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu dân ca Việt Nam
Tác giả: Phạm Phúc Minh
Nhà XB: Nxb Âm nhạc
Năm: 1994
14. Tú Ngọc (1979), Tìm hiểu giai điệu dân ca Việt Nam, tạp chí Âm nhạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu giai điệu dân ca Việt Nam
Tác giả: Tú Ngọc
Năm: 1979
15. Tú Ngọc (1997), “Dân ca và nhạc cổ truyền trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI”, tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dân ca và nhạc cổ truyền trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI”
Tác giả: Tú Ngọc
Năm: 1997
16. Nhiều tác giả (2001), Bản sắc dân tộc trong văn hóa văn nghệ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc trong văn hóa văn nghệ
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
17. Nhiều tác giả (2001), Dân ca Việt Nam, Nxb Âm nhạc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Âm nhạc
Năm: 2001
18. Nhiều tác giả (2009), Bảo tồn và phát huy dân ca trong giáo dục Âm nhạc ở trường phổ thông, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy dân ca trong giáo dục Âm nhạc ở trường phổ thông
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 2009
19. Nhiều tác giả (2009), Giới thiệu dân ca Việt Nam (Đề án hỗ trợ đưa dân ca vào trường THCS), Trường ĐHSP Nghệ thuật TW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu dân ca Việt Nam (Đề án hỗ trợ đưa dân ca vào trường THCS)
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 2009
20. Nhiều tác giả (2010), Giáo dục nghệ thuật và cuộc sống, Kỷ yếu khoa học Trường ĐHSP Nghệ thuật TW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục nghệ thuật và cuộc sống
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w