1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu giảng dạy bệnh dinh dưỡng động vật

208 104 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 4,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Sự thiếu đói Starvation Sự thiếu đói xảy ra khi vật nuôi không thể nhận đủ thức ăn trong một thời gian kéo dài hoặc thức ăn không hữu dụng hay không đủ năng lượng ăn vào làm cho con v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

TÀI LIỆU GIẢNG DẠY BỆNH DINH DƯỠNG ĐỘNG VẬT

Tác giả biên soạn: Hồ Thị Phương Thảo

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

TÀI LIỆU GIẢNG DẠY BỆNH DINH DƯỠNG ĐỘNG VẬT

BAN GIÁM HIỆU LÃNH ĐẠO ĐƠN VỊ TÁC GIẢ BIÊN SOẠN

Hồ Thị Phương Thảo

An Giang, 2014

Trang 3

, ả ởng trực ti n sự

triể ất cả trong ơ ể V ả ể ấ ể bấ ờ ở

ả ấ ể ấ ờ

Quả ý ỡ t trong nh ng y u t t ấ C í th í ả ổ í ể

ả í ờ ả

ể ể ấ ả ấ ỡ

ấ ấ ỡ í í

ấ ả ự V ả

ể ể

ỡ ở ỡ ở

M í ấ C –

ơ ỡ ý ả ý

C ự ẽ ể ỡ ự

ấ ỡ ở ự ấ

ơ í ấ ỡ

ổ ơ ở ý ấ ấ ự ổ

ấ ý

ấ ả ể

ơ

n o

Trang 4

dung Trang ờ i

ii

ả ể v

vi

viii

n : 1

1.1 K m 1

1 V ỡ 2

1 C ấ ể 3

1 .1 ý 3

1 C ấ í 4

1 C ơ 5

1 C ỡng 6

n 2: Bệnh do mất cân ố năn l ợng 8

1 8

10

2.2.1 B ở 10

2.2.2 ỡ ở ả 12

n 3: Bệnh do mất cân ối protein 16

1 16

19

3.2.1 Thi u protein 19

3.2.2 Thi u acid amin 20

n 4: Bệnh do mất cân ối chất k oán 24

1 ấ 24

1.1 24

1 ổ ở 25

ấ 39

1 39

ổ ở 39

ể ự 47

1 ơ 47

ơ ự 47

n 5: Bệnh do mất cân ối vitamin 49

Trang 5

5.1 Vitamin A 49

5.2 Vitamin D 52

5.3 Vitamin E 54

5.4 Vitamin K 56

5.5 Vitamin C 57

5.6 Vitamin B1 59

5.7 Vitamin B2 60

5.8 Vitamin B3 61

5.9 Vitamin B5 62

5.10 Vitamin B6 63

5.11 Vitamin B12 64

5.12 Biotin 65

5.13 Acid folic 66

n 6 Bện p n 68

1 68

6.2 biotin 69

C 70

ấ ỡ 73

75

76

77

6.8 78

n 7 Bện n n o 80

1 ở heo con 80

ờ ở 82

83

84

85

7.6 E 87

n 8 Bện p n t n l 88

1 ể 88

8.2 ể 90

8.3 C ơ 92

8.4 ấ 93

ể ở 94

95

8.7 Abscesses gan 96

8.8 ả ở ỡ ả ý 98

Trang 6

8.9 99

1 ẽ ự ả 101

8.11 ả 102

1 ơ 103

n 9 c các ợp c ất k án n n t c t 106

1 C ấ ỡ ở ực v t 106

9.1.1 106

1 111

C 116

1 ự lkaloid 116

ự glycoside 116

ự 117

ự 117

9.3 ả 129

ơ 130

n 0 Bện o c tố nấm mốc 131

10.1 ơ nấm m c 131

1 1.1 131

10.1.2 M t s ểm sinh h c c a nấm m c 131

1 1 c a nấm m c 132

1 í ấm m c 132

1 1 c t nấm m c (Mycotoxin) 132

10.2.2 B c t nấm m c (Mycotoxicosis) 133

1 C ấ ờ 133

1 1 C ấ ờ 133

1 i c c t nấm m c 133

1 ả ấ 145

1 1 145

1 146

1 C ơ 149

ơ 151

152

ý 154

158

Trang 7

B B

n n B Trang Bả 1 ng mỡ ở t ơ ng v t kh e m nh 5

Bả ng mỡ ở t ơ ng v ỡng 6

Biể 1 Ả ởng nhi ờ n sự sản sinh nhi ở 9

Bảng 3 Ả ởng c a nhi th

ể ng nhu c ng ở a 9

Bảng 4 Khả ể ổ ở ng v t 21

Bả C í t trong chi ng b nh s t s a ở 29

ả ả 38

ả C ấ ể ở 42

ả ự ở ơ ể ờ 80

ể T ởng c a heo, c u, , ngựa ơ 81

ả ấ ấ 84

ả 1 β-hydroxybutyr 91

Bảng 11 ý a mycotoxins 132

Bả 1 ổi theo ở í V t Nam 134 Bảng 13 Li t LD50 c a aflatoxin B1 ở ng v t 135

Bảng 14 K t quả thực nghi t v khả a aflatoxin 135 Bảng 15 i c ản ph ng v t nhi ng v t 136

Bảng 16 Ả ởng c l n c a gan, tuy n Fabricius, tuy n I ng mi n d ch b nh Newcastle c 138

Bảng 17 Tỷ l ấp nở ng ISA-Brown b nhi m aflatoxin 138

Bảng 18 Li u LD50 c a Ochratoxin A ở ng v t 142

Trang 8

n n Trang 1 C ể ể 12

C ể ể 14

ả ả í 17

ỡ ơ 18

K ơ ở í 18

K ơ C ở 30

7 ơ C 31

8 ổ ổ 35

9 43

10 44

11 ơ ổ 2 ở ự 53

12 ơ ổ 3 ở 53

13 ơ ổ C ở 58

14 60

15 ấ ở 61

16 ở 68

17 ở 70

18 Ả ởng c a stress nhi n co gi t do h C ở 71

19 ất huy C 71

20 Bu ng tr ng xung huy t, xuất huy t 72

21 Tr ng non trong bu ng tr ng b d p 72

22 ấ 74

23 ơ 75

24 ơ ẽ ở 76

5 ổ í vitamin E 77

26 Tiể ất huy t do thi u vitamin E 78

7 í 79

8 í 85

9 Cơ 86

30 V í 92

31 97

32 ự ả ở ổi 101

33 Cơ ơ 103

34 Cơ 104

35 C 118

Trang 9

6 C í 118

7 C 119

8 C 119

H 39 C 120

40 C 120

41 C 121

42 C 121

43 C 122

44 C 122

5 C 123

6 C 123

7 C 124

8 C 124

9 C 125

50 C 125

51 C ấ 126

52 C 126

53 C ả ờ 127

54 C K 127

5 C Setaria 128

C 128

C ả 129

ờ -2 toxin 140

9 ự 143

60 ấ í 145

Trang 10

V t t t t n t n n t n t n ệt

BCS Body condition score ể ể

BSE Bovine spongiform

encephalopathy

ể ở /

DCAD Dietary cation - anion difference anion-cation kh u ph n

NEFA Non-estrified fatty acid

PCR Polymerase Chain Reaction ơ C

PTH Parathormone Parathormone

Trang 11

- Suy dinh dưỡng (Malnutrition)

Suy dinh dưỡng là tình trạng bệnh do con vật ăn khẩu phần mất cân đối dẫn đến thiếu hụt hay quá dư thừa các chất dinh dưỡng nào đó đối v i nhu cầu của cơ thể (Brenda Nelson, 2010)

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng ở động vật Vật nuôi có thể bị suy dinh dưỡng do khẩu phần ăn thiếu các chất dinh cần thiết cho cơ thể Bệnh cũng có thể xảy ra khi vật nuôi được cung cấp một lượng l n thức ăn nhưng không thể ăn vào, tiêu hoá, hấp thu và sử dụng chúng do mắc các bệnh rối loạn chuyển hóa và trao đổi chất (Wilhelm, 1998; Nguyễn Nhật Xuân Dung, 2005; Radostits và ctv, 2007; Brenda Nelson, 2010) Ngoài ra, suy dinh dưỡng cũng có thể do con vật bị thương, hư răng, nhiễm ký sinh trùng, khối u, ngộ độc hoặc do mắc các bệnh truyền nhiễm khác nên làm ảnh hưởng xấu đến việc tiêu hóa và hấp thu thức ăn (Hungerford, 1990)

Suy dinh dưỡng thường ảnh hưởng nhiều ở các động vật chăn thả hay nuôi ở nông hộ, nhất là những thú non, thú già hay thú bệnh Thịt của thú bị suy dinh dưỡng có thể dùng làm thức ăn cho con người nếu không bị nhiễm trùng, nhưng chất lượng thịt kém (Nguyễn Nhựt Xuân Dung, 2005)

Suy dinh dưỡng thường xảy ra trư c khi con vật bị thiếu đói Các bệnh do suy dinh dưỡng có thể có biểu hiện triệu chứng lâm sàng r ràng nhưng đôi khi chúng ch được phát hiện thông qua các kiểm tra các phản ứng sinh hóa, sinh lý mà thôi

- Sự thiếu đói (Starvation)

Sự thiếu đói xảy ra khi vật nuôi không thể nhận đủ thức ăn trong một thời gian kéo dài hoặc thức ăn không hữu dụng hay không đủ năng lượng ăn vào làm cho con vật gầy yếu và suy kiệt, dạ dày của thú thường có rất ít hoặc không có thức ăn (Stedman's, 1995; McCue, 2010) Động vật thiếu đói vẫn có thể sống khi cơ thể mất gần hết mỡ, giảm 50% protein và 40% trọng lượng cơ thể (Lee, 2009)

Suy dinh dưỡng và tình trạng thiếu đói thường hay gặp trong điều kiện tự nhiên ở thú hoang dã Tuy nhiên, suy dinh dưỡng và thiếu đói vẫn có thể xảy ra đối v i thú nuôi nếu điều kiện quản lý quá yếu kém (Carla, 2006) Động vật bị thiếu đói kéo dài và thường xuyên sẽ làm cho hệ miễn dịch suy yếu; tạo điều kiện cho virus, vi khuẩn và

ký sinh trùng tấn công và gây bệnh (Matarese và ctv, 2008; UCDAVIS, 2013)

- nh dinh dưỡng (Nutritional disease)

Bệnh dinh dưỡng là một thuật ngữ dùng chung cho tất cả các bệnh có liên quan trực

Trang 12

tiếp hoặc gián tiếp đến khẩu phần ăn của động vật Các bệnh dinh dưỡng thường gặp

là do hấp thu kém, mất cân đối các chất dinh dưỡng, ngộ độc các hợp chất độc hại có

s n trong thức ăn, hoặc do rối loạn trao đổi và tổng hợp các chất nội sinh trong cơ thể

1.2 V i tr inh ƣỡn tron ph n hốn ệnh

Tất cả động vật đều cần năng lượng, acid amin, acid béo, vitamin, khoáng vi lượng và

đa lượng để cơ thể khỏe mạnh, sinh trưởng và sinh sản tốt Khi thiếu bất kỳ các dưỡng chất nào kể trên, triệu chứng thiếu hụt được thể hiện nhanh nhất ở mô dư i dạng tăng cường hoạt động sinh tổng hợp và chuyển hóa protein Hệ thống miễn dịch đặc biệt nhạy cảm v i sự thiếu hụt dinh dưỡng, vì bất kỳ sự đáp ứng miễn dịch nào cũng đòi hỏi quá trình sinh tổng hợp protein nhanh chóng để tạo thành các tế bào miễn dịch và sản phẩm miễn dịch Đa số sự thiếu hụt dinh dưỡng do thiếu các vitamin

và các khoáng vi lượng đều có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến quá trình sinh tổng hợp protein Các chất dinh dưỡng như các acid béo, vitamin A, D và C,… đóng một vai trò rất quan trọng trong việc điều ch nh đáp ứng miễn dịch, hoặc hoạt động như chất kháng độc tố nhằm bảo vệ các tế bào miễn dịch và các tế bào khác trong cơ thể tránh khỏi các tác nhân gây hại có s n trong thức ăn, nư c uống và môi trường xung quanh (Koutsos, 2002; Percival, 2011)

Theo Butcher và Miles (2011), hệ thống miễn dịch cần được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng để:

- Phát triển và hoàn thiện các cơ quan tạo miễn dịch

- Tạo chất nhầy

- Tạo nên các kháng thể đặc hiệu

- Sinh sản của tế bào miễn dịch

- Hoạt động và di chuyển của tế bào miễn dịch

- Tiêu diệt mầm bệnh

- Điều hòa quá trình miễn dịch

Tuy nhiên, sự dinh dưỡng quá mức và béo phì cũng làm suy giảm chức năng của hệ miễn dịch Khẩu phần thừa kẽm lâu ngày ở thú mẹ làm giảm trọng lượng sơ sinh thú non và các tế bào miễn dịch cũng bị tổn hại dẫn đến giảm sức đề kháng của cơ thể thú

sơ sinh Đối v i thú trưởng thành, thừa quá mức một số chất dinh dưỡng cũng sẽ gây ngộ độc, tổn hại hệ tiêu hóa, tiết niệu và suy giảm chức năng của hệ miễn dịch (Chandra, 1984; Karlsson và Beck, 2010)

Ngoài ra, stress cũng làm gia tăng nhu cầu các chất dinh dưỡng thiết yếu cho hoạt động của hệ thống miễn dịch So v i các hệ thống khác của cơ thể, hệ miễn dịch có nhu cầu các chất chống oxy hóa rất cao, nhất là khi cơ thể động vật bị stress Do đó, dinh dưỡng có ảnh hưởng rất l n đến tỷ lệ mắc bệnh cũng như tỷ lệ tử vong của thú bệnh (Moberg và Mench, 2000)

Trang 13

Bởi vậy, có thể nói dinh dưỡng có ảnh hưởng rất l n đến sự miễn dịch của cơ thể động vật Nếu nắm vững bí quyết dinh dưỡng thì nhà chăn nuôi có thể giúp vật nuôi giảm stress, khỏe mạnh, ít bệnh tật và cải tiến tăng trọng và làm tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi

1.3 Cá ấu hiệu nhận i t v h n oán

Đối v i các bệnh truyền nhiễm thường được chẩn đoán chính xác nhờ vào các phương pháp PCR, mô, miễn dịch học Nhưng đối v i bệnh dinh dưỡng thường rất khó chẩn đoán do có rất nhiều bệnh có những biểu hiện bệnh rất giống nhau như biếng ăn, giảm tăng trọng, gầy còm,…chứ không có biểu hiện bệnh lý đặc trưng Hơn nữa, các rối loạn dinh dưỡng có thể mất vài tuần hoặc vài tháng m i có biểu hiện triệu chứng lâm sàng Do khi thức ăn thiếu hụt dinh dưỡng thì con vật tiếp tục sử dụng ngu n dinh dưỡng dự trữ của cơ thể Khi nào ngu n dự trữ của cơ thể cạn kiệt thì chúng ta m i thấy biểu hiện của các triệu chứng lâm sàng Vì vậy, cần phải có thời gian để kiểm tra lịch sử bệnh một cách đầy đủ m i có thể chẩn đoán đúng bệnh Đối

v i các bệnh do thiếu vitamin và một số khoáng vi lượng thì cần phải có điều kiện phân tích hiện đại, bởi vì một số chất này ch hiện diện ở mô cơ thể cũng như trong các loại thức ăn của vật nuôi v i hàm lượng rất thấp (Swecker và Thatcher, 1988) Chẩn đoán bệnh dinh dưỡng lệ thuộc vào những dấu hiệu lâm sàng và mổ khám tử thi trên động vật mắc bệnh Bư c tiếp theo là lấy mẫu ở các mẫu mô cơ thể hoặc dịch bệnh phẩm để làm xét nghiệm trong phòng thí nghiệm Nhưng thường những xét nghiệm này ch hỗ trợ cho việc chẩn đoán Những trường hợp khiếm dưỡng lâu ngày

do thiếu năng lượng và protein thì việc mổ khám cũng không tìm ra được các bệnh tích đặc hiệu, làm cho người chăn nuôi dễ nhầm lẫn v i ngộ độc thức ăn, vì vậy công tác chẩn đoán sẽ gặp rất nhiều khó khăn (Cromwell, 2011)

Ngoài ra, biện pháp quan sát và nhận diện cây thức ăn gia súc cũng giúp cho việc chẩn đoán bệnh trên đàn vật nuôi tốt hơn Bởi vì, thực vật cũng có các biểu hiện bệnh thiếu và thừa các chất dinh dưỡng như ở động vật khi trong đất tr ng cây thức ăn thiếu hay thừa một loại dưỡng chất nào đó Hơn nữa, một số cây tr ng còn có khuynh

hư ng tích lũy nhiều các khoáng vi lượng như Se, Mo,…và vật nuôi có thể bị ngộ độc khi ăn phải các loại cây này

Vì vậy, đối v i các bệnh do rối loạn dinh dưỡng, người bác s thú y cần phải quan sát các biểu hiện lâm sàng, thức ăn, điều kiện môi trường và phân tích các yếu tố có liên quan đến dinh dưỡng m i có thể chẩn đoán nhanh, chính xác và khắc phục vấn đề

1.3.1 B nh lý học

Sự khiếm dưỡng thường biểu hiện dư i dạng thiếu năng lượng kèm theo thiếu protein, gây chết từ từ trong đàn hoặc gia tăng sự mẫn cảm v i bệnh mãn tính khác Nếu động vật không nhận đủ năng lượng từ thức ăn sẽ dẫn đến sự thay đổi của nhiều chức năng sinh lý và làm ảnh hưởng đến các hoạt động sống, khả năng sinh trưởng và

Trang 14

sinh sản Bình thường năng lượng được dự trữ trong cơ thể động vật dư i dạng glycogen, mỡ và protein Glycogen là ngu n năng lượng được sử dụng đầu tiên khi

cơ thể không nhận đủ năng lượng từ thức ăn Tổng lượng glycogen dự trữ trong gan

và cơ rất ít, ch đủ để cơ thể hoạt động trong vài giờ Khi hết glycogen, con vật sẽ sử dụng mỡ dự trữ và khi dùng hết mỡ dự trữ con vật vẫn tiếp tục sử dụng protein để cung cấp năng lượng cho đến trư c khi chết Cuối cùng, hậu quả nghiêm trọng của sự khiếm dưỡng là thiếu glucose để cung cấp năng lượng cho não bộ hoạt động, gây shock và dẫn đến chết ở động vật (MDNR, 2009)

Đối v i thú nhai lại, sự khiếm dưỡng làm giảm nhanh hệ vi sinh vật và n ng độ các acid béo bay hơi trong dạ cỏ Các acid béo bay hơi này cung cấp khoảng 70% nhu cầu năng lượng của thú nhai lại, do đó nếu giảm lượng acid béo bay hơi sẽ ảnh hưởng

l n đến hoạt động sống của con vật Khi thiếu acid béo bay hơi thì pH dạ cỏ sẽ trở nên kiềm, không thuận lợi cho sự phát triển của hệ vi sinh vật dạ cỏ Khi hệ vi sinh vật dạ cỏ giảm sẽ làm giảm khả năng tiêu hoá chất xơ của con vật, gia súc sẽ có biểu hiện thiếu hụt năng lượng nghiêm trọng (MDNR, 2009)

Do điều kiện sống kham khổ nên thú hoang dã có khả năng thích nghi v i khẩu phần thiếu dinh dưỡng dưỡng và nhận năng lượng từ ngu n thức ăn kém chất lượng tốt hơn

so v i thú nuôi Thú trưởng thành có nhiều mỡ dự trữ hơn thú non, nên khả năng chịu đói cũng tốt hơn Nên thường trong giai đoạn đầu m i thiếu thức ăn, thú trưởng thành

sử dụng nhiều mỡ hơn so v i protein Thú non có hàm lượng mỡ tích lũy trong cơ thể thấp hơn thú trưởng thành do phần l n năng lượng được ưu tiên cho nhu cầu tăng trưởng Nên khi thiếu thức ăn thú non có ít mỡ dự trữ, tầm vóc nhỏ, vị trí trong đàn lại kém hơn, chúng sẽ sử dụng nhiều protein dự trữ hơn mỡ trong điều kiện đói kém (MDNR, 2009)

1.3.2 Các dấu hi u lâm sàng và b nh tích

Về phương diện lâm sàng, động vật có vú bị suy dinh dưỡng hoặc thiếu đói thường hay ủ rũ, kém linh hoạt, đi đứng loạng choạng, không sợ con người Con vật thẩn thờ, gầy yếu, da nhăn, lông thô dựng đứng, hay rụng thành từng mảng Lưng có thể l i hoặc v ng xuống, sưng mặt, mắt trũng và có rất ít thức ăn trong bụng Các bắp cơ giảm kích thư c nên càng làm gia tăng mức độ l i của các xương vai, xương sườn, xương sống và xương chậu (MDNR, 2009)

Bệnh lý lâm sàng của động vật bị thiếu đói rất nhiều và cũng có nhiều cấp độ khác nhau Nhưng nổi bậc nhất là có rất ít mỡ dư i da và xung quanh nội tạng, con vật gầy còm, l i nhiều xương, các bắp thịt teo nhỏ lại Khi bị thiếu đói trầm trọng thì các mô

mỡ xuất hiện dịch nhầy màu hơi đỏ, các cơ quan của cơ thể cũng giảm kích thư c và khối lượng Ống tiêu hóa bị teo nhỏ do không có thức ăn và có màu xanh đen của dịch mật Dạ dày của thú nhai lại thường có một ít thức ăn thô và kém chất lượng Dạ

cỏ có thể xuất hiện các vết loét do bị ăn mòn, các vi nhung mao cũng bị teo lại Tủy

Trang 15

xương mềm và lỏng do thiếu sự hiện diện của chất béo, và có màu đỏ hoặc vàng, trong suốt Ngược lại, tủy của con vật khỏe mạnh luôn rắn chắc, có màu trắng giống như sáp (Ralston, 2011a)

Ở gia cầm, khi bị suy dinh dưỡng và thiếu đói sẽ có biểu hiện ủ rũ, đi đứng loạng choạng, lông vũ xơ xác, lộ r phần xương ức, con vật mất cảm giác hoặc sợ hãi khi con người đến gần Gia cầm bị suy dinh dưỡng và thiếu đói thường bị giảm cân trầm trọng (>50%) Biểu hiện r nhất là sự vắng mặt của các mô mỡ bao quanh nội tạng, teo cơ ức và đùi Trong ống tiêu hóa không có thức ăn, túi mật tăng kích thư c từ 2 –

3 lần so v i bình thường do mật tích tụ lại lâu ngày Đặc biệt ở gia cầm, suy dinh dưỡng có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nội - ngoại ký sinh trùng, ngộ độc thức

ăn, dễ bị nhiễm nấm và các bệnh mãn tính khác (MDNR, 2009)

1.3.3 Các phương pháp chẩn đoán

Có thể chẩn đoán bệnh do khiếm dưỡng bằng các quan sát ngoài đ ng hay phân tích trong phòng thí nghiệm Bởi vì, khi ngu n năng lượng thừa sẽ được chuyển thành mỡ

và tích tụ đầu tiên trong tủy xương, tiếp theo là ở xung quanh các cơ quan nội tạng,

và cuối cùng ở dư i da Khi bị thiếu đói, thú sẽ ưu tiên sử dụng chất béo ở dư i da, tiếp theo là mạc treo ruột, thận, tim và cuối cùng là mỡ ở tủy xương (Ransom, 1965; Bear, 1971; Lamoureux và ctv, 2011)

Vì vậy, người ta có thể chẩn đoán sơ khởi bằng cách quan sát toàn bộ điều kiện vật lý của con vật như kiểm tra mô mỡ dư i da và các vị trí phủ tạng Lấy mẫu bất kỳ xương dài như xương c ng chân, xương đùi hoặc xương hàm dư i để kiểm tra hàm lượng mỡ trong tủy xương Nhìn bằng mắt thường, tuỷ xương của con vật khoẻ mạnh luôn luôn rắn chắc, màu trắng và giống như sáp Thú suy dinh dưỡng, tủy xương mà

đỏ, rắn và rất ít mỡ Thú bị thiếu đói, tủy xương có màu đỏ hay vàng, sền sệt, và ư t khi chạm tay vào do hàm lượng nư c cao (Ransom, 1965)

83,21 – 101,22 65,23 – 98,48 83,35 – 95,52 72,35 – 91,52 62,06 – 99,33

u n: Wilson và ctv, 2007

Trang 16

Bảng 2 H m lượng mỡ ở t y xươn ộng vật suy inh ưỡng

0,47 – 67,11 7,89 1,52 – 40,12 0,21 – 2,86 37,91 – 64,44

u n: Wilson và ctv, 2007

Xương dùng để kiểm tra hàm lượng mỡ tủy phải được lấy từ thú chết không quá 48 giờ (DCPAH, 2013) Động vật khỏe mạnh, hàm lượng mỡ ở tủy xương thường trên 80% Trong trường hợp con vật bị suy dinh dưỡng thì hàm lượng mỡ ở tủy xương thường dư i 20%, nếu suy dinh dưỡng nặng thì hàm lượng mỡ của tủy xương có thể

dư i 1% (Meyerholtz và ctv, 2011)

Khi mổ khám trong trường hợp thiếu năng lượng và protein thấy không có mặt của

mỡ hoặc mô mỡ bị teo nghiêm trọng, mô cơ nhợt nhạt Mức năng lượng thấp làm gia tăng pH của thực hoàn và dịch dạ cỏ Bệnh do thiếu năng lượng và protein trong đàn

sẽ có những dấu hiệu bệnh ở răng, những bệnh viêm nhiễm trùng cục bộ kinh niên làm cho con vật chết, còn suy dinh dưỡng ch là vấn đề thứ cấp Khiếm dưỡng làm suy giảm hệ thống miễn dịch, gia tăng mức độ nhiễm nội hay ngoại ký sinh trùng (Ralston, 2011a)

Đôi khi thú chết vì bị khiếm dưỡng một đơn chất dinh dưỡng như Ca hoặc Mg cũng rất khó chẩn đoán phân biệt là thú bị khiếm dưỡng hay ngộ độc cấp tính Ví dụ, bò chết do hạ Mg hay Ca thường xuất hiện trong giai đoạn đầu bộc phát bệnh, khi đó các dấu hiệu mổ khám cho thấy con vật còn đang trong tình trạng dinh dưỡng tốt (Nguyễn Nhựt Xuân Dung, 2005) Để phát hiện ra nguyên nhân gây bệnh, người ta nuôi con gia súc thí nghiệm trong điều kiện nhất định ăn khẩu phần không chứa chất

đó Con vật sẽ thể hiện các triệu chứng bệnh tích và sẽ h i phục khi cung cấp chất đó vào khẩu phần Trong thực tế nuôi dưỡng có rất nhiều yếu tố phức tạp tác động và rất khó phát hiện đâu là nguyên nhân chính Khi con vật từ chối ăn một loại thức ăn nào

đó vì bất cứ lý do gì sẽ thể hiện một số triệu chứng bệnh, tìm hiểu nguyên nhân nào làm cho con vật từ chối thức ăn là rất quan trọng Điều này, giúp người chăn nuôi biết cách phát hiện s m và khắc phục các triệu chứng của bệnh khiếm dưỡng hoặc do ngộ độc (Nguyễn Nhựt Xuân Dung, 2005)

1.4 Cá iện pháp ph n hốn ệnh inh ưỡng

Quản lý dinh dưỡng tốt chính là chìa khóa dẫn t i thành công và hạn chế tối thiểu bệnh tật cho vật nuôi Để đạt quản lý tốt dinh dưỡng và phòng chống bệnh tật cho đàn vật nuôi thì cần phải:

Trang 17

- Cho bú sữa đầu ngay sau khi sinh ra để tăng cường hệ miễn dịch cho thú sơ sinh Do

hệ miễn dịch của động vật sơ sinh chưa phát triển hoàn ch nh Thú sơ sinh phải nhờ vào sự bảo vệ của các yếu tố miễn dịch có trong sữa đầu của thú mẹ Các yếu tố miễn dịch trong sữa đầu bao g m các kháng thể, tế bào miễn dịch và các phân tử điều hòa miễn dịch Ngoài ra, sữa đầu còn là ngu n cung cấp nhanh năng lượng để tích lũy và duy trì nhiệt độ cơ thể Tất cả các yếu tố này giúp bảo vệ thú sơ sinh chống lại mầm bệnh một cách hiệu quả (Mellencamp, 2012)

- Cung cấp nư c sạch cho vật nuôi uống tự do Nếu không đủ nư c uống sạch, thú sẽ tìm uống các ngu n nư c bẩn, nư c chứa nhiều khoáng chất sẽ gây hại cho sức khỏe vật nuôi và giảm năng suất chăn nuôi Định kỳ kiểm tra và xét nghiệm nư c uống để loại bỏ kịp thời ngu n nư c có hại cho động vật nuôi (Allen, 2007)

- Cung cấp đầy đủ thức ăn có chất lượng tốt và đa dạng để cân đối các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn hằng ngày Nếu cần thiết có thể bổ sung thêm các vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là các chất chống oxy hóa như vitamin A, vitamin E, selen,…Khi phối hợp khẩu phần phải chú ý đến nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi theo tuổi, gi i tính, giống, tình trạng sản xuất mang thai, cho sữa, cày kéo,…(Mellencamp, 2012)

- Quản lý tốt đ ng cỏ, cây thức ăn bằng cách sử dụng hợp lý phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chu kỳ thu cắt, thời gian chăn thả,… Việc quản lý tốt cây thức ăn không những cung cấp ngu n thức ăn đầy đủ chất dinh dưỡng mà còn làm giảm nguy cơ vật nuôi bị ngộ độc phân bón (nitrate) hay các loại thuốc bảo vệ thực vật (Allen, 2007)

C u hỏi n tập

Câu 1 Suy dinh dưỡng là gì?

Câu 2 Thế nào là sự thiếu đói?

Câu 3 Định nghĩa bệnh dinh dưỡng là gì?

Câu 4 Các dấu hiệu để nhận biết và chẩn đoán bệnh suy dinh dưỡng?

Câu 5 Các biện pháp dùng để chẩn đoán bệnh dinh dưỡng ở động vật?

Câu 6 Các biện pháp phòng chống bệnh dinh dưỡng ở vật nuôi?

Trang 18

CHƯƠNG 2 BỆNH DO MẤT CÂN ỐI NĂNG LƯỢNG

Nói chung, năng lượng là chất dinh dưỡng gi i hạn đầu tiên ở tất cả các loài vật nuôi, nhất là đối v i các loài thú nuôi chăn thả như trâu bò, dê, cừu,… Nhu cầu năng lượng của thú rất khác nhau tùy thuộc giống loài, độ tuổi, gi i tính, tình trạng sản suất, mức

độ hoạt động, Trong những trường hợp thú có tốc độ tăng trưởng nhanh hoặc để đáp năng suất sữa tối đa, thì cần phải được bổ sung thêm các loại thức ăn tốt, chứa nhiều năng lượng Chế độ ăn thiếu năng lượng có thể dẫn đến tăng trưởng kém, điểm thể trạng thấp, giảm chức năng miễn dịch, và tăng khả năng nhiễm bệnh ký sinh trùng

và các bệnh lý khác Tuy nhiên, thừa quá nhiều năng lượng thì sẽ gây béo phì và dễ mắc các bệnh rối loạn trao đổi khác Cho nên, cần phải cung cấp khẩu phần cân đối dinh dưỡng để vật nuôi khỏe mạnh, cho năng suất tối ưu và ít bệnh tật

2.1 Thi u n n lượn

Động vật cần năng lượng để sinh trưởng và duy trì các chức năng khác của cơ thể Trong thực tế, thiếu năng lượng là vấn đề thường gặp phải ở động vật, nhất là đối v i thú chăn thả Tình trạng thiếu thức ăn có thể xảy ra do chăn thả quá mức, khô hạn, tuyết bao phủ, hoặc giá thức ăn của vật nuôi quá đắt Khi thức ăn có chất lượng quá kém, con vật không nhận đủ năng lượng cần thiết cho nhu cầu của cơ thể Cũng có thể con vật không nhận đủ năng lượng ăn vào do cỏ non chứa nhiều nư c (Oetzel và Berger, 1985; Nguyễn Nhựt Xuân Dung, 2005)

Sự thiếu hụt năng lượng còn tùy thuộc vào độ tuổi vật nuôi, tình trạng sinh lý (mang thai, nuôi con bú,…), mức độ thiếu hụt năng lượng kết hợp v i các dưỡng chất khác trong khẩu phần và ảnh hưởng của môi trường Nói chung, trong giai đoạn thiếu năng lượng, những gia súc béo mập có được thuận lợi là giảm b t sự tích lu mỡ thừa Thông thường, người chăn nuôi thường ít chú ý đến các dấu hiệu ban đầu của thiếu năng lượng như giảm nhẹ tăng trọng và năng suất sữa Tuy nhiên, nếu thiếu năng lượng kéo dài thì con vật sẽ có những tổn thất r rệt là giảm cân, giảm sản lượng sữa, giảm mỡ dự trữ, chậm hoặc ngừng tăng trưởng, chậm thành thục tính dục, kém thụ thai, chậm động dục lại sau khi sinh, giảm trọng lượng của thú sơ sinh và cai sữa do thiếu sữa, tăng tỷ lệ chết ở thú non, tử cung chậm phục h i sau khi sinh, chậm động dục lại Thiếu năng lượng ở thú non sẽ làm chậm tăng trưởng và chậm thành thục tính dục và tăng tỷ lệ chết (Goode và ctv, 1965; Nguyễn Nhựt Xuân Dung, 2005; Kreplin

và Yaremcio, 2009; Campanile và ctv, 2010) Sau khi đẻ, thú cần nhiều năng lượng

để sản suất sữa, nếu thiếu năng lượng sẽ làm sản lượng sữa, giảm số lượng và chất lượng của tế bào trứng, dẫn đến sinh sản kém ở lứa tiếp theo (Lunn, 2004; Santos, 2010) Động vật ăn thiếu carbohydrate lâu ngày có thể dẫn đến tình trạng thiếu đói và

có thể chết (Kreplin và Yaremcio, 2009)

Trang 19

Năng lượng ăn vào thấp sẽ làm gia tăng mức độ ngộ độc thức ăn thực vật và làm giảm sức đề kháng bệnh Khi thú bị đói lâu ngày, cơ thể đang thiếu năng lượng mà gặp phải ngu n thức ăn có chất gây hại cho cơ thể (James và ctv, 1988; NRC, 2000) Động vật phản ứng v i stress lạnh bằng cách tăng tốc độ trao đổi chất để duy trì thân nhiệt của cơ thể Nếu có đủ thức ăn thì thú sẽ phản ứng tích cực bằng cách tăng lượng

ăn vào để duy trì thân nhiệt Nếu không đủ thức ăn thì con vật sẽ tự huy động mỡ dự trữ của cơ thể để sản sinh nhiệt dẫn đến thú bị giảm cân, suy nhược cơ thể, bệnh ketosis, nhiễm độc thai nghén và dẫn đến cái chết Vì thế, trong mùa lạnh hoặc khi môi trường có gió và ẩm độ cao, thú cần được cung cấp nhiều năng lượng hơn nhu cầu khoảng 7 - 30% để chuyển đổi thành nhiệt giữ ấm cho cơ thể Bảng nhu cầu năng lượng thường không chú ý đến yếu tố này (Fraser, 2004; Lewandowski, 2005)

Bi u ồ 1 Ảnh hưởng c a nhiệt ộ m i trườn n sự sản sinh nhiệt ở ộn vật

(%)

Nhu ầu thứ n t n thêm

Cỏ kh (k / sữ /n y)

Thứ n hạt (k / sữ /n y)

u n: Tarr, 2007

Trang 20

Ở bò, cứ giảm 1oC (# 2oF)1 dư i nhiệt độ t i hạn thấp (low critical temperature) thì cần phải tăng khoảng 2% nhu cầu năng lượng để bò duy trì thân nhiệt Vì vậy, bò cần phải tăng lượng thức ăn để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho cơ thể (Tarr, 2007; Rusche, 2012)

Ở heo nái có trọng lượng 180kg được nuôi trong chu ng xi măng thì cứ giảm 1oC

dư i nhiệt độ t i hạn mức thấp (18 – 20oC), thì cần tăng 4% nhu cầu năng lượng cho duy trì để ổn định thân nhiệt (Verstegen và ctv, 1987)

2.2 Th n n lƣợn

Mặc dù, tăng mức năng lượng ăn vào sẽ làm tăng tốc độ rụng trứng ở vật nuôi (bao

g m trâu, bò, cừu, heo và ngựa) Kết quả này đã được áp dụng vào thực tế bằng cách tăng lượng thức ăn ăn vào cho thú cái một thời gian ngắn gần thời điểm phối giống (flushing) giúp tăng số lượng phôi/thai (Cole, 1990; Downing và ctv, 1995; Han và ctv, 2000) Hiện nay, nhiều nông trại cũng đã áp dụng biện pháp này đối v i bò cái sinh sản, đặc biệt là đối v i các giống năng suất cao (Ferguson, 2005)

Tuy nhiên, khi cho ăn thừa năng lượng trong giai đoạn đầu mang thai sẽ làm tăng tỷ

lệ chết của phôi thai (Ashworth, 1991; Einarsson và Rojkittikhun, 1993) Theo Cole, (1990), khi cho heo ăn thiếu hay thừa dinh dưỡng trong giai đoạn mang thai cũng làm giảm tốc độ tăng trưởng của bào thai Những thú cái béo phì trư c thời điểm phối giống sẽ làm cho bào thai chậm phát triển và có thể gây chết thai (Pugh, 1993) Gà mái đẻ quá mập sẽ sinh sản kém do cơ thể tích lũy nhiều mỡ làm rối loạn nội tiết tố dẫn đến rối loạn hoạt động của bu ng trứng (Chen và ctv, 2006), giảm r rệt sản lượng trứng và chất lượng vỏ trứng (Wilson và Harms, 1986) Gà trống cho ăn thừa năng lượng sẽ làm giảm trọng lượng tinh hoàn, n ng độ testosterone và số lượng tinh trùng trong ống dẫn tinh (Nir và ctv, 1975) Cho ăn thừa năng lượng ở bò sữa đang mang thai giai đoạn cuối còn làm tăng nguy cơ mắc các bệnh viêm vú, ketone, sốt sữa, lệch dạ lá sách, u nang bu ng trứng, và khó thụ thai ở chu kỳ tiếp theo, Hơn nữa, bò sữa mập rất chậm thích nghi v i việc giảm lượng thức ăn ăn vào, do vậy cũng

là ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của thú mẹ và bào thai (Rice và Stock, 1991; Ferguson, 2005)

Béo phì là bệnh có ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình trạng sức khỏe của thú nuôi Chó, mèo mắc bệnh béo phì có tuổi thọ giảm; dễ mắc các bệnh mãn tính, viêm phổi

1 o

C = (oF – 32):1,8

Trang 21

và tim mạch; đẻ khó, giảm khả năng thụ thai, khả năng chịu nhiệt kém, viêm kh p, suy yếu chức năng hệ miễn dịch, viêm tụy, đái tháo đường và gan nhiễm mỡ, tăng tỷ

lệ rủi ro và tử vong trong và sau khi gây mê (Edge-Hughes, 2008)

Nguyên nhân

Nguyên nhân gây nên bệnh béo phì ở động vật cũng tương tự như ở con người Một

số bệnh có thể làm cho thú béo phì, nhưng chủ yếu vẫn là khẩu phần ăn của chúng Nếu như thú ít vận động và ăn quá nhiều carbohydrate thì chắc chắc sẽ mắc bệnh béo

phì Theo Edge-Hughes (2008), các yếu tố nguy cơ gây ra bệnh béo phì g m:

- Ăn quá mức so v i nhu cầu

- Ít vận động: Nếu con vật thích hoạt động sẽ tiêu thụ nhiều năng lượng hơn những thú lười vận động Hơn nữa, trạng thái tinh thần của thú linh hoạt và thích vận động có thể khiến nó ăn ít hơn so v i khi nó bu n chán hoặc căng th ng

- Giống: chó săn Labrador, chó ch n Dachshund, chó chăn cừu Sheltie,…

- Thú già: Chó có khuynh hư ng thừa cân khi chúng từ 2 đến 12 năm tuổi, đặc biệt

là từ 6 năm tuổi trở lên Do thú già không còn tăng trưởng các cơ quan trong cơ thể, giảm tích lũy nạc, tăng tích lũy mỡ Theo thống kê, có khoảng 24 – 44% chó

và 25 – 30% mèo mắc bệnh béo phì, thừa cân; đối v i chó từ 5 – 10 năm tuổi có khoảng 50% mắc bệnh béo phì hoặc thừa cân

- Gi i tính: Thường thú cái dễ mắc bệnh hơn so v i thú đực

- Thiến và cắt bu ng trứng: Những con chó bị thiến và bị cắt bu ng trứng sẽ giảm mức tiêu tốn năng lượng, do đó, chúng cần ít năng lượng hơn những con không bị thiến Hơn nữa, ở những con chó bình thường rất hăng tính dục và thích đi lang thang giúp tiêu hao năng lượng Những con đã bị thiến sẽ mất đi những sở thích

và hoạt động này, nên chúng cần năng lượng ít hơn Nếu chúng ta cho chúng ăn khẩu phần dành cho những con không bị thiến thì chúng sẽ tăng cân và béo phì

- Rối loạn nội tiết: Bệnh suy giáp làm tuyến giáp hoạt động kém - tiết ít hormon thyroxine làm giảm tốc độ trao đổi chất và cần ít năng lượng hơn Bệnh cường thượng thận làm tăng hoạt động tuyến thượng thận - tiết ra nhiều hormone glucocorticoids làm thay đổi sự trao đổi chất, tăng sự thèm ăn và tích lũy nhiều

mỡ Bệnh u đảo tụy - kích thích tiết nhiều insulin nên thú thèm ăn và tích lũy nhiều mỡ

- Dùng các thuốc Corticosteroid (Prednisone, Dexamethasone) và Phenobarbital (điều trị động kinh) kích thích tăng tính thèm ăn ở động vật

Tri u chứng

- Trọng lượng cơ thể vượt so v i trọng lượng chuẩn

- Cơ thể tích lũy nhiều mỡ

- Lười vận động

- Điểm thể trạng vượt cao hơn điểm thể trạng lý tưởng của giống loài

Trang 22

Chẩn đoán

Chó, mèo được xem là béo phì khi trọng lượng cơ thể vượt 20% trọng lượng chuẩn của giống, tuổi, gi i tính Đối v i chó mèo, khi trọng lượng vượt từ 10 – 20% trọng lượng chuẩn được xem là thừa cân (Huddar, 2012)

Béo phì cũng có thể được chẩn đoán thông qua đánh giá điểm thể trạng của cơ thể, nếu điểm thể trạng trên 4 thì được xem là thừa cân, béo phì (Mawby và ctv, 2004)

Hình 1 Cá h ánh iá i m th trạn h v m o (Huston, 2010)

Điều trị béo phì

Trong điều trị bệnh béo phì cần đạt được hai mục tiêu – ngắn hạn và dài hạn:

(1) Mục tiêu ngắn hạn là giảm trọng lượng cơ thể về trọng lượng lý tưởng

(2) Mục tiêu dài hạn là duy trì trọng lượng lý tưởng cho thú sau khi khỏi bệnh

Cả hai mục tiêu này đều phải được thực hiện thay đổi tùy theo tập tính thú nuôi và hiệu quả của liệu trình điều trị Phương pháp biện pháp tốt nhất là nên thay đổi các hoạt động sống và khẩu phần của thú thông qua chủ nuôi

Chương trình giảm cân hiệu quả nhất phải có sự kết hợp giữa giảm năng lượng ăn vào

và năng vận động Việc đầu tiên là tìm cách giảm năng lượng của khẩu phần ăn hằng ngày Khẩu phần giảm cân phải giàu protein, xơ nhưng ít béo Khi thực hiện chế độ giảm năng lượng cần phải chú ý sự thiếu hụt của một số dưỡng chất cần thiết, nhất là acid amin thiết yếu và vitamin Ch nên giảm 10% năng lượng ăn vào để tránh tình trạng mất cân bằng dưỡng chất Nên điều khiển khẩu phần sao cho thú giảm cân khoảng 1% (0,5 – 2%) trọng lượng trên tuần là lý tưởng nhất (Hand và ctv, 2000; Sanderson, 2011)

Bên cạnh việc giảm năng lượng khẩu phần cũng cần phải có chế độ để thú luyện tập thường xuyên để giảm cân hiệu quả và phục h i các bệnh xương kh p Chó cần phải được vận động trung bình từ 30 – 60 phút trong ngày bằng cách cho chúng đi bộ, chơi ném và nhặt bóng,… (Hand và ctv, 2000; Sanderson, 2011) Sau khi đã giảm cân về

Trang 23

trọng lượng lý tưởng, hằng tháng chủ nuôi nên kiểm tra trọng lượng và đánh giá điểm thể trạng, để đảm bảo thú không bị tăng cân trở lại

2.2.2 Hội hứn éo phì/ n nhi m mỡ ở ái sinh sản

(Fat cow syndrome / hepatic lipidosis)

Nguyên nhân chính dẫn đến hội chứng béo phì là do quản lý và cho ăn không hợp lý

Ví dụ: cho ăn đơn độc một loại thức ăn, quá nhiều thức ăn hỗn hợp, ít thức ăn thô khô, ít vận động,…(Smith và ctv, 2007) Bệnh thường gặp ở những bò được cho ăn thừa năng lượng trong giai đoạn cạn sữa, đặc biệt là ở những bò có năng suất sữa thấp, thời gian cạn sữa kéo dài

Ở những bò béo phì, thường có khuynh hư ng giảm ăn sau khi đẻ Điều này gây thiếu hụt năng lượng cho sản xuất sữa Và cơ thể bò phải huy động và thuỷ phân mỡ quá mức (chủ yếu là mỡ lưng) để cung cấp năng lượng cho quá trình tạo sữa Triglyceride trong mô mỡ chuyển thành glycerol và các acid béo chưa ester hóa (NEFA: non-estrified fatty acid) Khi đến gan NEFA có thể bị oxy hóa hoặc ester hóa tạo thành các triglycerid Một phần nhỏ chất béo này có thể tham gia vào tổng hợp lipoprotein dùng để cung cấp năng lượng cho tế bào, phần l n còn lại tạo thành mỡ và được tích lũy trong gan Quá trình oxy hóa NEFA sẽ tạo ra CO2 và cetone (chủ yếu là acetoacetate và β-hydroxybutyrate) Sự hình thành các thể cetone sẽ gia tăng khi lượng đường trong máu thấp Khi thú bị thiếu hụt năng lượng, gan nhiễm mỡ phát triển nhanh do trigyceride tăng rất nhanh từ 5% lên đến hơn 25% trong vòng 48 giờ

dư i điều kiện mỡ bị huy động cao Khi gan tích trên 20% mỡ thì chức năng gan sẽ bị hỏng và ảnh hưởng đến các chức năng đ ng hóa, dị hóa, miễn dịch của cơ thể (Hoard’s Dairyman, 1993; Gruenberg, 2011a)

Bò cái sinh sản béo phì thường hay mắc các rối loạn trao đổi chất do gan bị nhiễm

mỡ Tuy nhiên, gan nhiễm mỡ cũng có thể gặp ở những bò không thừa cân Bò được đánh giá là thừa cân béo phì khi điểm thể trạng trên 4 Những bò này có điểm đặc trưng là giảm sự thèm ăn trư c và sau khi đẻ Kết quả là lượng ăn vào thấp (cân bằng âm) và gây rối loạn trao đổi chất sau khi sinh Đối v i những bò béo phì phải có chiến lược giảm lượng ăn vào để bò giảm cân vào cuối giai đoạn cho sữa Mục đích cuối cùng là giúp cho bò đạt điểm thể trạng khoảng 3,5 vào thời điểm cạn sữa và duy trì ở mức này để bò ít nhạy cảm hơn v i bệnh này sau khi đẻ (Smith và ctv, 2007)

Trang 24

Hình 2 Cá h ánh iá i m th trạn sữ (D v 2011)

Tri u chứng

Dấu hiệu lâm sàng của bệnh là con vật bu n bã, biếng ăn, suy giảm hệ miễn dịch, ketone niệu, năng suất sữa giảm mạnh, cơ thể suy kiệt, táo bón, có dấu hiệu thần kinh, nằm nghiêng một bên, thở gấp, chảy nhiều nư c mũi, tim đập nhanh và yếu Ngoài ra,

bò bị bệnh này còn dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn khác làm cho thân nhiệt tăng cao (Morrow, 1976; Radostits và ctv, 2006)

Thể cấp tính: Bò giảm ăn, tiết ít sữa hoặc không có sữa, niêm mạc xanh tím, vàng da, sốt (39,5 – 40oC), dáng đi cứng đờ, mắt mờ, phản xạ yếu t Giai đoạn cuối, bò tiêu chảy phân vàng, mùi hôi thối, không đáp ứng v i thuốc điều trị tiêu chảy Bệnh có thể kéo dài 2 – 3 ngày và có thể gây chết

Thể bán cấp tính: Bệnh kéo dài trên 3 ngày, v i biểu hiện ketosis, giảm ăn, năng suất sữa giảm đột ngột, phân nhỏ và khô, ketone niệu Nếu không được điều trị, bò sẽ yếu dần, chuyển sang nằm nghiêng và chết trong vòng 7 – 10 ngày Bệnh này được gọi là hội chứng béo phì do nó thường kết hợp v i nhiều bệnh khác như sốt sữa, lệch dạ múi khế, viêm vú, sót nhau, phục h i tử cung chậm, sản dịch ra nhiều có màu nâu và hôi thối (Hoard’s Dairyman, 1993; Goff và Horst, 1997a)

Điều trị

Hội chứng béo phì ở bò sinh sản thường có thể điều trị khỏi nếu được phát hiện s m Nhưng nếu phát hiện muộn thì việc điều trị không hiệu quả, đặc biệt là khi bò đã chuyển sang nằm nghiêng Mục tiêu chính của điều trị là loại bỏ cân bằng năng lượng

âm, bằng cách tiêm truyền glucose và insulin 2 lần/ngày Khi điều trị, cần phải cân đối lại khẩu phần, cho ăn thức ăn ngon miệng Điều trị các triệu chứng kết hợp v i hộ

lý chăm sóc thật chu đáo Nếu bò bị sốt sữa thì phải truyền tĩnh mạch bằng Ca Gluconate Nếu bò mắc ketosis thì cho uống propylene glycol, dextrose và dung dịch

Trang 25

điện giải…để thúc đẩy việc tổng hợp glucose và insulin (Morrow, 1976; Hoard’s Dairyman, 1993; Nguyễn Nhựt Xuân Dung, 2005; Veepro Holland, 2010)

Để phòng ngừa hội chứng này, người chăn nuôi phải có chiến lược để ngăn được sự tăng trọng quá cao trong giai đoạn cạn sữa Thường xuyên đánh giá thể trạng để đảm bảo bò đạt thể trạng lý tưởng từ 2,5 – 3,5 Điểm tối ưu có thể phụ thuộc vào đặc tính của từng cá thể bò, loại thức ăn s n có, mùa trong năm và nhiệt độ môi trường (Veepro Holland, 2010)

C u hỏi n tập

Câu 1 Thiếu năng lượng kéo dài sẽ làm tổn hại gì đến cơ thể động vật?

Câu 2 Hãy liệt kê các bệnh do thừa năng lượng ở vật nuôi?

Câu 3 Cách điều trị và phòng ngừa bệnh béo phì ở thú cưng như thế nào?

Câu 4 Các điều trị và phòng ngừa hội chứng béo phì ở bò cái sinh sản?

Trang 26

CHƯƠNG 3 BỆNH DO MẤT CÂN ỐI PROTEIN

Protein giữ rất nhiều vai trò quan trọng khác nhau trong cơ thể Đơn vị cấu trúc cơ bản của protein là các amino acid Một số amino acid có thể được cơ thể tổng hợp, đây là những amino acid không thiết yếu và một số amino acid cơ thể không tổng hợp được mà phải được cung cấp từ khẩu phần ăn được gọi là những amino acid thiết yếu

Vì vậy, nếu thiếu protein hay các acid amin thiết yếu sẽ làm cho vật nuôi chậm tăng trưởng, giảm khả năng sinh sản, suy giảm miễn dịch, thiếu máu, kém tiêu hóa và hấp thu thức ăn, phù thủng và có thể dẫn đến cái chết Nhu cầu protein và các acid amin thiết yếu ở thú nhai lại ít quan trọng hơn so v i thú dạ dày đơn do chúng có hệ vi sinh vật đường ruột là ngu n cung cấp các acid amin thiết yếu tương đối lý tưởng cho cơ thể vật chủ

3.1 Th prot in

Sự thừa protein so v i nhu cầu cơ thể của động vật sẽ gây lãng phí Bởi vì, các acid amin dư thừa trong máu không thể dự trữ hoặc ch được dự trữ v i lượng rất ít Các acid amin thừa sẽ được dị hoá khử amin thành amoniac, urê và năng lượng, phần năng lượng này sẽ được dự trữ ở dạng mỡ thông qua quá trình chuyển hoá trong cơ thể Như vậy, sự dư thừa protein không phải hoàn toàn lãng phí Tuy nhiên, protein rất đắt tiền trong khi thức ăn khác như ngũ cốc, phụ phẩm và các loại thức ăn giàu carbohydrate khác là ngu n thức ăn giàu năng lượng và rẽ tiền hơn (Nguyễn Nhựt Xuân Dung, 2005)

Theo Butler (2005), sự dư thừa protein trong khẩu phần cũng ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh sản của động vật do:

- Làm gia tăng n ng độ urê máu, dẫn đến ngộ độc tinh trùng và tế bào trứng

- Biến đổi cân bằng hormon (giảm hàm lượng progesterone khi n ng độ urê máu tăng cao)

- Khẩu phần nhiều protein ở thời kỳ đầu sau khi sinh có thể gây mất cân bằng năng lượng và làm trì hoãn hoạt động trở lại của bu ng trứng

Ngoài ra, khẩu phần thừa nhiều protein cũng không có lợi cho bản thân động vật và môi trường xung quanh Heo có thể chịu đựng được khẩu phần nhiều protein mà ít có biểu hiện bệnh tật đáng kể, đôi khi có thể bị tiêu chảy nhẹ Tuy nhiên, khi cho ăn lượng protein cao (vượt quá 25% protein cho heo đang tăng trưởng vỗ béo) là gây lãng phí, giảm tăng trọng, giảm hiệu quả chuyển hóa thức ăn và gây ô nhiễm môi trường (NRC, 1998; Nguyễn Nhựt Xuân Dung, 2005; Cromwell, 2011) Sự dư thừa protein sẽ gia tăng khối lượng công việc chuyển hóa và loại thải nitrogen cho gan và thận Chính vì thế, mà thừa quá nhiều protein sẽ gây viêm gan và thận do tích lũy nhiều muối urate Thức ăn của chó trưởng thành, không nên quá 30% protein Đối v i

Trang 27

mèo trưởng thành, cũng không nên cho ăn khẩu phần vượt quá 40% protein (Merrill, 2012)

3.1.1 Bệnh t n acid uri máu ở i ầm

Nguyên nhân

Acid uric là sản phẩm trao đổi nitrogen cuối cùng ở gia cầm và các loài chim Do đó, nếu có bất thường trong quá trình trao đổi chất và loại thải acid uric sẽ dẫn đến tích tụ urate trong thận, nội tạng và các kh p xương Bệnh thường xảy ra ở các đàn gà giống hoặc gà đẻ trứng thương phẩm

Có rất nhiều nguyên nhân từ khẩu phần gây nên bệnh tăng acid uric trong máu ở gia cầm như: thừa nhiều protein (> 30%), thừa Ca (>3% ở giai đoạn không đẻ trứng), thừa muối, thiếu nư c, thiếu vitamin A

Tri u chứng

Thận tích tụ urate: Biểu hiện đặc trưng là teo một hoặc cả hai thận v i niệu quản phình to và có chứa nhiều muối urate màu trắng bên trong

Hình 3 Một quả thận ị t o niệu quản t h ầy urate (Randall, 1985)

Nội tạng tích tụ urate: Các tinh thể urate lắng đọng trong thận và trên bề mặt của tim, gan, túi khí, phúc mạc (Hình 30.27) Trong trường hợp nghiêm trọng, urate còn có thể tích tụ bên trong cơ, tim, gan, lách, dây chằn và một số cơ quan khác Các tinh thể urate tích tụ này tạo thành một l p phấn màu trắng bao quanh các cơ quan nội tạng trong cơ thể Lắng đọng urate nội tạng thường xảy ra sau khi thận đã bị tổn thương nên không bài thải được urate

Trang 28

Hình 4 Urate n trên m t n mỡ ụn v xươn ứ (Randall, 1985)

Kh p tích tụ urate: Gia cầm có biểu hiện què chân do các kh p bị phình to, cứng, không có khả năng uốn cong các kh p chân Xung quanh các kh p ở chân bị tích tụ các hạt urate, đặc biệt là các kh p ở bàn chân

Hình 5 Kh p xươn h n ở ị phình to o t h tụ ur t (Randall, 1985)

Trang 29

Điều trị và ph ng ng

Thường nên loại thải gia cầm bệnh, do việc loại bỏ các khối urate tích tụ rất khó khăn

và gây mất rất nhiều máu Không nên cho ăn khẩu phần thừa nhiều protein và Ca lâu dài Bổ sung đầy đủ vitamin A và cho gà uống nư c sạch tự do

3.2 Thi u prot in v i min

3.2.1 Thi u prot in

Trong chăn nuôi động vật, sự thiếu hụt protein có thể xảy ra do các yếu tố sau:

- Thức ăn có chất lượng kém (rơm khô, cỏ già,…) chứa ít protein so v i nhu cầu của cơ thể

- Chất lượng protein kém, khó tiêu hóa (protein bị hư hỏng bởi nhiệt, chất ức chế tiêu hóa protein,…)

- Khẩu phần thiếu năng lượng so v i nhu cầu, con vật phải sử dụng protein để cung cấp năng lượng cho các hoạt động cơ bản của cơ thể Vì vậy, cần phải đảm bảo khẩu phần ăn cung cấp đủ năng lượng trư c khi cố gắng đáp ứng nhu cầu protein

Nhu cầu protein của vật nuôi có biên độ rộng và ít liên quan đến tuổi hoặc hệ thống sản xuất Gia súc gia cầm cần protein để sinh trưởng và phát triển, hình thành lông, móng và tổng hợp các protein m i thay thế cho protein trong cơ thể đã bị mất đi hằng ngày Vì thế, nhu cầu protein sẽ gia tăng trong giai đoạn tăng trưởng, mang thai, tiết sữa và đẻ trứng (Oetzel và Berger, 1985; Oetzel và Berger, 1986; Nguyễn Nhựt Xuân Dung, 2005)

Triệu chứng đầu tiên gây ra do thiếu protein trong khẩu phần là làm giảm tính ngon miệng của vật nuôi Thú ăn ít và dẫn t i thiếu năng lượng ăn vào Vì vậy, biểu hiện của bệnh thiếu protein thường đi kèm v i thiếu hụt năng lượng Tuy nhiên, sự thiếu hụt protein trong giai đoạn đầu ít có tác hại nghiêm trọng như thiếu hụt năng lượng Ở thú non Thiếu protein ăn vào sẽ làm sự thèm ăn, giảm mức ăn vào, tốc độ tăng trọng kém, cơ kém phát triển và chậm thành thục tính dục Ở thú trưởng thành, thiếu protein làm giảm trọng lượng cơ thể, giảm năng suất trứng, giảm sản lượng sữa, rối loạn hoặc chậm lên giống Nếu thiếu protein kéo dài, thú có biểu hiện phù do hàm lượng protein trong máu thấp Kiểm tra máu cho thấy giảm n ng độ hemoglobin, protein và albumin trong huyết thanh ở cả thú non và thú trưởng thành (Oetzel và Berger, 1985; Oetzel và Berger, 1986; Nguyễn Nhựt Xuân Dung, 2005)

Ở heo đang tăng trưởng và vỗ béo, thiếu protein dẫn đến thiếu hụt một hay nhiều acid amin thiết yếu, từ đó làm giảm tăng trọng, chuyển hóa thức ăn kém và thân thịt chứa nhiều mỡ Đối v i heo nái nuôi con sẽ bị giảm sản lượng sữa, sụt cân nhiều và chậm lên giống lại sau sinh Ở heo đực giống, thiếu protein sẽ làm giảm khả năng sinh sản

do giảm tính dục, giảm lượng tinh trùng trong mỗi lần xuất tinh và giảm thể tích tinh dịch (Louis và ctv, 1994) Để sử dụng tối ưu protein từ thức ăn thì tất cả các acid

Trang 30

amin thiết yếu phải được giải phóng và hấp thu vào máu tương ứng v i nhu cầu của

cơ thể Bởi vậy, cần phải đa dạng ngu n thức ăn trong khẩu phần để tránh thiếu hụt các acid amin thiết yếu Nếu ngu n thực liệu sử dụng không đáp ứng đầy đủ và cân đối các acid amin thiết yếu thì phải bổ sung thêm các acid amin công nghiệp (Cromwell, 2011)

Ở gà, thiếu protein sẽ làm giảm sản lượng trứng, kích thư c trứng nhỏ, giảm tỷ lệ trứng thụ tinh, tỷ lệ ấp nở thấp Gà con chậm l n, lông xù xì, hay cắn mổ ăn lông lẫn nhau, thay lông s m nhưng chậm mọc lông trở lại (H Văn Giá, 2005)

Vì thế, đối v i thú không nhai lại không những cần phải có đủ protein hữu dụng, mà protein còn phải cân bằng các acid amin thiết yếu trong khẩu phần Khi thiếu một hay nhiều acid amin thiết yếu, các acid amin khác hấp thu được có thể không được sử dụng hiệu quả và sẽ chuyển hoá thành năng lượng chứ không tổng hợp thành protein của cơ thể Ngược lại, đối v i thú nhai lại ngu n protein chủ yếu cung cấp cho cơ thể chính là xác của các vi sinh vật Đây là ngu n cung cấp các acid amin rất tốt cho cơ thể vật chủ Nên chất lượng protein (hoặc cân bằng acid amin) trong khẩu phần thường ít quan trọng hơn (Nguyễn Nhựt Xuân Dung, 2005)

3.2.2 Thi u acid amin

- Thiếu Lysine (Lys)

Lysine là một acid amin gi i hạn thứ nhất, rất dễ bị thiếu trong khẩu phần của thú dạ dày đơn như heo, gà, vịt,… Bắp và các loại ngũ cốc thường chứa hàm lượng lysine rất thấp so v i nhu cầu của động vật Riêng bắp vàng rất giàu lysine, nếu sử dụng bắp này trong khẩu phần có thể giảm lượng lysine bổ sung

Heo bị thiếu lysine thể hiện triệu chứng biếng ăn, chậm hoặc ngừng tăng trưởng, chuyển hóa thức ăn kém, lông thô và bạc màu, cơ thể gầy yếu (Mertz và ctv, 1949) Tương tự như ở heo, gà ăn khẩu phần thiếu lysine sẽ còi cọc, chậm tăng trưởng

(Robel, 1977; Tesseraud và ctv, 1996), giảm số lượng hemoglobin và thể tích huyết

cầu (Braham và ctv, 1961)

- Thiếu Threonine (Thr)

Threonine là acid amin gi i hạn thứ hai trong khẩu phần của heo và thứ ba trong khẩu phần của gà Bên cạnh việc tham gia vào cấu trúc protein, Threonine còn tham gia vào sự phát triển của ruột và hệ thống miễn dịch Con vật bị thiếu Threonine sẽ giảm tăng trọng, giảm chuyển hóa thức ăn và giảm khả năng chống lại mầm bệnh (Primot

và ctv, 2008)

- Thiếu Tryptophan (Tryp)

Nhu cầu Tryptophan biến động l n giữa các loài Tuy nhiên, triệu chứng thiếu Tryptophan xảy ra khi lượng ăn vào  25% so v i nhu cầu Thiếu Tryptophan dẫn đến giảm tốc độ tăng trưởng của cơ, xương và thay đổi tập tính Thú trưởng thành ít

Trang 31

mẫn cảm v i thiếu Tryptophan hơn so v i thú non; thú cái cũng ít bị ảnh hưởng hơn

so v i thú đực (Moehn và ctv, 2012)

Tryptophan có thể chuyển hóa thành Niacin nhưng không có phản ứng ngược lại Thừa Tryptophan có thể thay thế hoàn toàn nhu cầu Niacin Tuy nhiên, hiệu quả chuyển đổi Tryptophan thành Niacin thấp và biến động tùy theo loài Khi nghiên cứu nhu cầu Tryptophan của các đối tượng vật nuôi phải chú ý bổ sung đủ Niacin vào khẩu phần để có được kết quả chính xác và tránh lãng phí Tryptophan

Bảng 4 Khả n n huy n ổi tryptoph n th nh ni in ở ộng vật

Tryptophan là acid amin cần thiết cho sự phát triển của gia cầm con, duy trì sức sống cho gia cầm trưởng thành Ngoài ra, nó còn có tác dụng điều hòa chức năng nội tiết, tham gia tổng hợp hemoglobin của h ng cầu, là thành phần cấu tạo của phôi và tinh trùng, Thiếu Tryptophan ở gà trưởng thành sẽ làm giảm trọng lượng cơ thể, tỷ lệ thụ tinh kém, giảm tỷ lệ ấp nở,…(Bùi Thanh Hà, 2005)

- Thiếu Methionine (Met)

Đây là acid amin thứ ba dễ bị thiếu trong khẩu phần của heo Thiếu Methionine gây giảm thể trọng và sử dụng thức ăn Methionine có thể chuyển hóa thành Cystine, nhưng không có phản ứng ngược lại Methionine có thể đáp ứng 100% nhu cầu Met+Cys, nhưng Cystine ch có thể đáp ứng khoảng 50 – 70 % tổng số nhu cầu Met+Cys Ngoài ra, Methionine có chứa nhóm methyl, nên nó rất cần thiết cho sự tổng hợp cholin Nếu khẩu phần đầy đủ cholin thì Met không được dùng cho mục đích tổng hợp cholin

Trang 32

Methionine là một acid amin gi i hạn thứ nhất hoặc thứ hai trong khẩu phần của chó Nếu loại bỏ Methionine trong khẩu phần, chó sẽ giảm ăn ngay lập tức và dẫn đến sụt cân Chó con thiếu Methionin sẽ mắc bệnh viêm da (NRC, 2006)

Methionine cũng là acid amin gi i hạn thứ nhất hoặc thứ hai trong khẩu phần của gia súc nhai lại (Storm và Orskov, 1984; Buttery và D'Mello, 1994; Boisen và ctv, 2000) Nhu cầu Methionine tăng cao trong giai đoạn đang tăng trưởng hoặc sản xuất nhiều sữa (Rulquin và Delaby, 1997; Izumi và ctv, 2000) Gia súc nhai lại ăn khẩu phần thiếu Methionine sẽ giảm tăng trưởng cũng như năng suất sữa (Richardson và Hatfield, 1978; Schwab và ctv, 1992) Bổ sung Methionine sẽ giúp cải thiện tăng trọng, hiệu quả sử dụng thức ăn cho gia súc nhai lại đang tăng trưởng (Wright và Loerch, 1988) và gia tăng năng suất sữa (Rulquin và Delaby, 1997; Wu và ctv, 1997) Tuy nhiên bổ sung thừa Methionine sẽ làm giảm lượng ăn vào do mất cân đối các acid amin (Satter và ctv, 1975)

- Thiếu Isoleucine (Ileu)

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, Isoleucine luôn hiện diện đủ trong thức ăn của heo Tuy nhiên Isoleucine có thể là acid amin gi i hạn thứ 6 ở heo khi bị cho ăn gi i hạn trong điều kiện thí nghiệm (Parr và ctv, 2003; Figueroa và ctv, 2003) Thiếu Isoleucine gây biếng ăn, làm giảm tăng trọng, giảm hiệu quả chuyển hóa thức ăn và khả năng tích lũy nitrogen trong cơ thể (Becker và ctv, 1957)

- Thiếu Valine (Val), Histidine (His)

Valine là một trong những acid amin gi i hạn thứ 5 và Histidine là acid amin gi i hạn thứ 6 trong khẩu phần của heo Thiếu Valine, Histidine làm giảm tăng trọng, giảm hiệu quả chuyển hóa thức ăn và giảm khả năng tích lũy nitrogen của cơ thể Khi bổ sung Histidin vào khẩu phần của heo thì các triệu chứng trên sẽ mất ngay (Figueroa

- Thiếu Phenylalanine (Phe)

Phenylalanine luôn đủ trong khẩu phần của heo Thiếu Phenylalanine làm giảm tăng trưởng và chuyển hóa thức ăn Phenylalanine có thể đáp ứng được tổng nhu cầu Phe Tyr, vì Phenylalanine có thể chuyển hóa thành Tyrosin nhưng không thể xảy ra phản ứng ngược lại Hầu như tất cả Phenylalanine dư thừa trong cơ thể đều được chuyển hóa thành Tyrosin Cho nên, nếu khẩu phần đầy đủ Tyrosin thì sẽ tiết kiệm được Phenylalanine (Robbins và Baker, 1977) Ở gia cầm, lượng Tyrosin chiếm 46% tổng nhu cầu của Phe Tyr (Dương Thanh Liêm và ctv, 2002)

Trang 33

- Thiếu Arginine (Arg)

Arginine là một acid amin thiết yếu đối v i heo sơ sinh, bởi vì chức năng tổng Arginine chưa phát triển hoàn ch nh Bình thường heo đang tăng trưởng có thể tự tổng hợp được khoảng 60% Arginine từ Glutamin cho nhu cầu tăng trưởng của cơ thể Cho nên, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, để heo đạt mức tăng trưởng tối đa thì phải cung cấp thêm Arginine từ khẩu phần ăn hằng ngày (Wu và ctv, 2004)

Ở heo đã trưởng thành và heo nái thì có thể tự tổng hợp Arginine đủ cho nhu cầu mà không cần thiết phải cung cấp từ thức ăn Tuy nhiên, heo nái cũng có thể bị thiếu Arginine cho nhu cầu sản xuất sữa nuôi con (Easter và ctv, 1974; Easter và Baker, 1976)

Gia cầm ăn thiếu Arginine sẽ có biểu hiện giảm tăng trưởng, lông bị mất sắc tố (xám)

và xoăn lại, tỷ lệ chết phôi tăng cao (Bùi Thanh Hà, 2005; Robel, 1977)

Mèo nuôi bằng khẩu phần có chứa Arginine sang khẩu phần không chứa Arginine, mèo sẽ nhanh chóng giảm cân (100g/ngày) so v i thiếu các acid amin thiếu yếu khác (15g/ngày) Con vật bị nôn ói, bỏ ăn hoàn toàn 2 giờ sau khi ăn, con vật thể hiện triệu chứng ói mữa, hôn mê, sau đó con vật rên r , sùi bọt mép, mất khả năng điều hòa, móng vuốt duỗi ra, tím tái và ngừng thở (Morris và Rogers, 1978a) N ng độ amoniac trong huyết tương gia tăng so v i con vật có bổ sung Arginine trong khẩu phần Nguyên nhân là do mèo không tự tổng hợp được Arginine như các loài thú khác Khi thiếu Arginin thì mèo không cũng tổng hợp Ornithine tham gia vào chu trình urê để loại thải amoniac từ quá trình dị hóa các acid amin trong cơ thể (Morris

và Rogers, 1978b; Morris, 1985) Chính vì vậy mà Arginine không những là một acid amin thiết yếu để tổng hợp protein mà nó còn có tác dụng ngăn ngừa ngộ độc ammoniac cho mèo Về phương diện này mèo khác v i chó trưởng thành, chó có thể cân bằng nitơ trong khẩu phần không có Arginine, tuy nhiên thiếu Arginine chó con

sẽ có biểu hiện sùi bọt mép, nôn mửa, cơ rung giật nhưng không dẫn đến co giật và hôn mê như ở mèo (Ha và ctv, 1978)

C u hỏi n tập

Câu 1 Thừa protein có ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe của vật nuôi?

Câu 2 Những biểu hiện thiếu protein ở gia súc gia cầm?

Câu 3 Trình bày những biểu hiện thiếu Arginine ở mèo?

Câu 4 Hãy kể tên các acid amin thiết yếu đối v i cơ thể động vật?

Trang 34

CHƯƠNG 4 BỆNH DO MẤT CÂN ỐI CHẤT KHOÁNG

Khoáng là một hợp chất vô cơ không cung cấp năng lượng nhưng rất cần thiết cho

t n tại và phát triển của động vật Bởi vì, chúng không ch là thành phần cấu tạo mà còn tham gia vào các quá trình sinh lý, xúc tác và điều hòa hoạt động của các cơ quan trong cơ thể Nhu cầu khoáng ở cơ thể động vật khác nhau tùy theo đặc điểm cấu tạo

và sinh lý của từng loài Ví dụ, con người và một số vật nuôi khác cần một lượng l n

Ca để tham gia cấu tạo bộ xương cũng như các hoạt động của cơ và hệ thần kinh P là một thành phần quan trọng của xương, răng, adenosine triphosphate (ATP), acid nucleic và các chức năng cân bằng acid base,… H ng cầu sẽ không thể vận chuyển

O2 và CO2 nếu như không có nguyên tố sắt nằm trong nhân của hemoglobin Magie,

đ ng, kẽm, sắt, mangan, selen và molybđen là thành phần của các enzym giúp tham gia các quá trình sinh hóa của cơ thể sống (Malhotra, 1998; Eruvbetine, 2003; Soetan, 2010)

Theo Suttle (2010), cơ thể động vật cần khoảng 25 chất khoáng thiết yếu Trong đó

g m có 7 khoáng đa lượng là canxi, phospho, kali, natri, clo, magiê, và lưu huỳnh; 18 chất khoáng vi lượng như sắt, iốt, kẽm, đ ng, mangan, coban, molypđen, selen, crom, thiết, vanađi, flo, silic, niken, asen, nhôm, chì, rubiđi Nhu cầu khoáng của cơ thể động vật biến động từ dư i 1 – 2.500mg/ngày tùy theo từng loại khoáng Thiếu hay thừa một chất khoáng nào đó đều gây mất cân bằng nội môi và gây hại cho cơ thể Bởi vậy, vật nuôi cần được cung cấp đầy đủ và cân đối các chất khoáng trong khẩu phần ăn để cơ thể khỏe mạnh và cho năng suất tối ưu Nếu thiếu hay thừa đều không

có lợi cho cơ thể, thậm chí gây nên bệnh tật và dẫn đến cái chết nếu như không được điều ch nh kịp thời (Reis và ctv, 2010; Soetan, 2010)

4.1 Thi u hất khoán

4.1.1 Phát hiện v h n oán

Ở gia súc, khi thiếu một số chất khoáng sẽ có những biểu hiện rất đặc trưng, ví dụ: Thiếu Ca gây sốt sữa, thiếu Se hoặc vitamin E gây ra bệnh cơ trắng, thiếu Iod gây bệnh bư u cổ nên việc chẩn đoán tương đối dễ dàng Tuy nhiên, đa số các trường hợp thiếu khoáng đều có những biểu hiện không đặc trưng rất giống nhau như giảm ăn, giảm tăng trưởng, giảm năng suất,…nên công tác chẩn đoán gặp rất nhiều khó khăn Bởi vậy, khi chẩn đoán bệnh thiếu khoáng ở vật nuôi cần phải dựa vào các dấu hiệu lâm sàng kết hợp v i kiểm tra mẫu bệnh phẩm, ngu n thức ăn, nư c uống cũng như điều kiện khí hậu, đất đai và công tác quản lý (Clark và Towers, 1984) Nếu sau khi kiểm tra hết các yếu tố trên và thấy đã đảm bảo nhu cầu mà thú vẫn có biểu hiện thiếu thì phải kiểm tra thêm sự tương tác giữa các chất khoáng khác trong khẩu phần Ví dụ: khẩu phần chứa nhiều lưu huỳnh hoặc sắt có thể gây thiếu đ ng và selen, mặc dù

Trang 35

n ng độ đ ng và selen trong khẩu phần đã đủ so v i nhu cầu (Masters và White 1996; Hall, 2006)

4.1.2 Một số ệnh thi u khoán phổ i n ở vật nu i

 Bệnh o thi u P (Pi )

Nguyên nhân

Nguyên nhân chính của bệnh là do thiếu P hữu dụng trong thức ăn Bệnh thường gặp

ở các loài ăn cỏ, đặc biệt là ở các loài gia súc chăn thả ở gần vùng biển và các cao nguyên (Cohen, 1972; Alcock, 2007; Anon, 2008; Johnson và Watt, 2011)

ấp nở Các loài thú cưng như chó và mèo hiếm khi có biểu hiện thiếu P Tuy nhiên, nếu chó con thiếu P sẽ có biểu biện còi xương và chậm tăng trưởng Mèo ăn khẩu phần nhiều thịt có thể dẫn đến mất cân đối Ca/P vì thịt rất nhiều P (Perry và Cecava, 1995; IPNI, 1999)

Chẩn đoán

Bình thường lượng P trong xương sườn khoảng 140 – 150mg/cm3 xương ở trạng thái tươi Nếu hàm lượng P trong xương sườn dư i 120mg/cm3 là có biểu hiện triệu chứng của bệnh thiếu P (Little, 1972) Khi hàm lượng P trong xương sườn dư i 100mg/cm3 là biểu hiện của thiếu P trầm trọng (Read và ctv, 1986a)

Hàm lượng P trong huyết tương của động vật thường trên 40mg/lít (45 – 60mg/lít ở thú trưởng thành, 60 – 80mg/lít ở thú non) Khi hàm lượng P huyết tương dư i 20mg/lít được xác định là thiếu P Vật nuôi ăn khẩu phần thiếu P lâu ngày thì hàm lượng P huyết tương ch còn khoảng 20 – 30mg/lít, thậm chí có thể xuống thấp ở mức

10 – 20mg/lít trong những tường hợp bệnh nặng Tuy nhiên, lượng P trong máu thường dùng để đánh giá lượng P trong khẩu phần ăn hơn là để chẩn đoán bệnh thiếu

P (Read và ctv, 1986b; Karn, 2001; McDowell, 2003)

Điều trị

Cho uống dung dịch chứa phosphor hoặc bổ sung P vào khẩu phần con vật

h ng b nh

Khi phối hợp khẩu phần ăn cho gia súc, nhà chăn nuôi cần quan tâm đến 3 yếu tố ảnh

hưởng đến sự hấp thu và chuyển hóa Ca, P là:

- Cung cấp đủ Ca và P dạng hữu dụng: Phần l n P (60 – 80%) có trong thức ăn thực vật như hạt ngũ cốc và các loại hạt có dầu đều ở dạng phytin (Nelson, 1968; Conrad, 1999; Adeola và Sands, 2003) Phosphor phytin là dạng không hữu dụng

Trang 36

đối v i gia cầm (Gillis và ctv, 1948; Nelson và ctv, 1968) và các loài gia súc độc vị khác (Taylor, 1965; Peeler, 1972; Adeola và Sands, 2003) do chúng không có enzym phytase trong ống tiêu hóa Bò có thể sử dụng khoảng 70% P tổng số đối

v i thức ăn tinh, và 64% đối v i thức ăn thô xanh (NRC, 2000) Trong khi heo và gia cầm ch sử dụng được dư i 50% (18 – 44%) P tổng số của khẩu phần (Peeler, 1972; Cunha, 1977; Chiba, 2004; Applegate và Angel, 2008)

- Tỷ lệ Ca/P: Có nhiều loại thức ăn chứa rất ít P nhưng lại giàu Ca, hoặc chứa nhiều

cả hai loại Ca và P Bởi vậy, việc cân đối tỷ lệ Ca/P gặp rất nhiều khó khăn nếu như không bổ sung thêm ngu n Ca hoặc P bên ngoài Nói chung, các nhà dinh dưỡng khuyến cáo tỷ lệ Ca/P thích hợp là 1:1 đến 2:1 cho gia súc không nhai lại và 1:1 đến 7:1 cho gia súc nhai lại là đủ đáp ứng nhu cầu cơ thể Tuy nhiên, tỷ lệ Ca/P tối ưu cho gia súc nhai lại vẫn từ 1:1 đến 2:1 (Wise và ctv, 1963; Johnson và ctv, 1967) Đối v i ngựa trưởng thành có thể thích nghi v i khẩu phần có tỷ lệ Ca/P từ 1:1 đến 6:1 mà không ảnh hưởng đến năng suất Nhưng đối v i ngựa con dư i một tuổi thì tỷ lệ Ca/P thích hợp trong khẩu phần là 1:1 đến 3:1 (IPNI, 1999) Tỷ lệ Ca/P dư i 1:1 là nguy hiểm cho sự phát triển của thú nuôi V i sự có mặt của vitamin D thì tỷ lệ Ca:P trở nên kém quan trọng hơn (Wise và ctv, 1963; Call và ctv, 1978; McDowell, 2003)

- Hàm lượng vitamin D trong khẩu phần: Do hàm lượng Ca và P trong máu được điều khiển bởi một phức hợp g m 3 hormon là 1,25-dihydroxycholecalciferol (hoạt chất của vitamin D), calcitonin và parathormone (PTH) bằng cách: tăng/giảm lượng Ca, P hấp thu ở ruột; tăng/giảm lượng Ca, P dự trữ trong xương; tăng/giảm lượng Ca và P hấp thu ở nư c tiểu Bởi vậy, nếu thiếu vitamin D trong khẩu phần

sẽ ảnh hưởng đến đến khả năng hấp thu, tích lũy và bài tiết Ca, P của cơ thể

 Bệnh sốt sữ (Hạ C máu)

Bệnh sốt sữa còn được gọi là bệnh bại liệt sau khi sanh, thường xảy ra trư c, trong và sau khi sinh một thời gian ngắn Do các cơ co rút làm thú không thể đứng được, đ ng thời sự co thắt các cơ trơn của ống dẫn sữa làm bầu vú căng cứng, sữa không xuống được Bệnh thường xảy ra ở những thú già, ít xảy ra ở thú m i đẻ lần đầu tiên Nếu không được điều trị kịp thời thì tỷ lệ chết có thể chiếm từ 60 – 70% (McDowell, 2003)

Bệnh thường xảy ra ở trâu, bò, dê, cừu, heo, chó, mèo, Khoảng 80% bệnh xảy ra ở ngày đầu ngay sau khi đẻ Đây là một bệnh phổ biến ở các giống có năng suất sữa cao, đặc biệt bò Jersey nhạy cảm v i bệnh gấp 2 lần so v i các giống khác (Hamilton,

2007a; Barrington, 2011; Harris, 1981)

Nguyên nhân

Do cơ thể bị thiếu Ca, Mg và Vitamin D trong thời gian mang thai hoặc do rối loạn nội tiết tố Thú cái sau khi sinh cần một lượng l n Ca, Mg để sản xuất sữa đầu, hàm

Trang 37

lượng Ca, Mg trong máu giảm đột ngột, làm hệ thần kinh cơ hưng phấn Khi hàm lượng Ca, Mg trong máu giảm thấp sẽ làm các cơ co rút mạnh, các cơ bắp làm thú co giật, liệt 4 chân, nằm một chỗ, cơ vòng ống dẫn sữa cũng bị co thắt làm sữa không xuống được gây hiện tượng sốt sữa Bò có thể bị chết sau một giờ nếu không được bổ sung Ca kịp thời Theo De Garis và ctv (2008), bệnh sốt sữa không ch có liên quan đến hàm lượng Ca trong thức ăn mà còn bị tác động của các chất khoáng khác, tuổi, giống, lượng protein của khẩu phần và một số nhân tố khác

Tri u chứng

Ở bò, bệnh sốt sữa thường xảy ra trong vòng 72 giờ đầu sau khi sinh, th nh thoảng bệnh cũng có thể xảy ra trư c lúc đẻ hoặc muộn hơn Theo Mustard (2012), biểu hiện của bệnh sốt sữa ở bò được chia ra làm 3 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 1: Triệu chứng đầu tiên là bò ăn ít, bỏ ăn, lưỡi và hầu bị liệt, chảy nư c dãi, chư ng hơi nhẹ, giảm nhu động ruột, táo bón, suy nhược, đứng không vững,

dễ bị kích động, run cơ kèm theo biểu hiện rùng mình

- Giai đoạn 2: Nằm liệt một chỗ, đầu quay sang bên hông, m m khô, tai và đuôi lạnh, suy yếu, kém linh hoạt Giai đoạn này rất khó nghe nhịp tim, do tim đập nhanh và yếu

- Giai đoạn 3: Con vật mất cảm giác, hôn mê do tê liệt thần kinh và hoại tử cơ; thân nhiệt có thể hạ thấp đến 32oC và dẫn đến chết Bệnh có thể tiến triển nhanh và gây chết đột ngột trư c khi thấy các biểu hiện lâm sàng (Kimura và ctv, 2006)

Ở heo, bệnh thường xảy ra 1 – 5 ngày sau khi đẻ v i biểu hiện b n ch n, dễ bị kích động, giảm ăn, giảm sản lượng sữa, mất phương hư ng, thở hổn hển, nằm liệt, run rẩy, co giật, hôn mê và chết (Vemedim, 2007; Fontello, 2009) Heo bệnh có thể sốt trên 40,5oC vào mùa nóng, nhưng phần l n không thấy biểu hiện sốt Vú căng cứng nhưng không vắt ra sữa (Durrell, 1942; Vemedim, 2007)

Ở chó mèo khi thiếu Ca cũng có biểu hiện b n ch n, dễ bị kích động, đi lảo đảo, run rẩy, trốn không cho con bú, thở gấp, nằm liệt một chỗ Thân nhiệt tăng cao, có thể sốt trên 40,5o

C Nếu không chữa trị kịp thời thú sẽ chết rất nhanh (Foster, 2010)

Chẩn đoán

Dựa vào dấu hiệu lâm sàng để người chăn nuôi có thể nhận biết thú bị bệnh sốt sữa là:

- Co giật, không đứng lên được, miệng khô

- Sau khi đẻ đứng dậy khó khăn, thường bị liệt hai chân sau

- Có đáp ứng tốt khi điều trị bằng calcium gluconate

Lấy mẫu bệnh phẩm để xác định hàm lượng Ca

- Đối v i dê, bệnh có thể xảy ra nhanh và chết thình lình, thường phát hiện dê bệnh chết vào buổi sáng, hàm lượng Ca trong máu giảm luôn luôn ít hơn 1,7mmol/lít2

Trang 38

(bình thường là 2,1 – 2,8 mmol/lít) Để hỗ trợ cho công tác chẩn đoán hạ Ca nên mổ khám con vật chết, lấy huyết thanh từ cục máu trong tim đem ly tâm kiểm tra hàm lượng Ca (Paula, 1998)

- Đối v i bò, bình thường hàm lượng Ca trong máu là 2,2 – 3,0 mmol/lít, khi Ca trong máu hạ xuống 2,0 – 2,2 mmol/lít bệnh ở trạng thái cận lâm sàng N ng độ Ca trong máu < 1,7 mmol/lít là bệnh chuyển sang trạng thái lâm sàng Khi Ca huyết ở mức 1,7 mmol/lít con vật bỏ ăn, run rẩy, loạng choạng Và khi Ca huyết ở mức 1,0 mmol/lít (4 mg/dl) con vật sẽ hôn mê, nếu không can thiệp kịp thời sẽ dẫn đến cái chết Trong trường hợp thú bệnh chết đột ngột, nên lấy dịch thủy tinh thể để phân tích n ng độ Ca trong vòng 48 giờ sau khi chết Khi con vật bị thiếu Ca ở trạng thái cận lâm sàng thường người nuôi không nhận ra, vì thế bệnh chuyển sang trạng thái lâm sàng dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng (Roche, 2003; Mulligan và ctv, 2006)

- Theo Saxena và ctv (1986), ở heo n ng độ Ca bình thường là 1,13 – 1,88 mmol/lít, khi mức Ca trong máu bị hạ xuống mức dư i 1,00 mmol/lít là heo có biểu hiện bệnh sốt sữa

Điều trị

Truyền tĩnh mạch chậm (10 – 20 phút) dung dịch Calcium Gluconate 23% v i liều 1

g calcium/45 kg thể trọng (tương đương khoảng 400 ml/bò) để bổ sung nhanh canxi vào máu (Fenwick, 1994; Barrington, 2011)

Thông thường, sau khi truyền Ca gluconate khoảng 10 phút là có khoảng 85% thú bệnh đứng dậy được, số còn lại sẽ phục h i sau 2 – 4 giờ Nếu sau 4 – 8 giờ mà thú không đứng dậy được thì phải kiểm tra và tiêm nhắc lại Ca Gluconate (Fenwick, 1994; Barrington, 2011)

h ng b nh

Sốt sữa làm ảnh hưởng rất l n đến sức khoẻ, sinh sản và sức sản xuất của gia súc Nên cần phải tích cực phòng ngừa để giảm thiểu sự thiệt hại về kinh tế (Horst, 1986) Bệnh sốt sữa có thể phòng ngừa được bằng cách kết hợp nhiều biện pháp sau:

- Gi i hạn lượng Ca ăn vào trong giai đoạn cạn sữa dư i 50 g/con/bò (tốt nhất là

dư i 20 g/con/bò) để tăng khả năng hấp thu Ca và kích thích huy động Ca từ xương vào máu sau khi đẻ (Horst, 1986; Thilsing-Hansen và ctv, 2002) Tuy nhiên, gần ngày đẻ phải tăng Ca của khẩu phần nhằm đảm bảo đủ Ca cho nhu cầu chuẩn bị cho việc tạo sữa Để đạt được điều này rất khó, vì thường các loại thức ăn

và cỏ để nuôi bò đều có hàm lượng Ca cao (Husband, 2005)

- Bổ sung thêm Mg ở mức 0,4%Mg/kg DM khẩu phần để tăng khả năng tái hấp thu

Ca ở thận cũng như khả năng huy động Ca từ xương vào máu (Goff, 2004; Lean

và ctv., 2006)

- Đảm bảo lượng P khẩu phần khoảng 0,24%/kg DM, vì các khẩu phần có lượng P cao sẽ làm hạn chế hấp thu Ca (Rice và Stock, 1991)

Trang 39

- Bổ sung vitamin D khoảng 20 - 30 triệu UI/bò/ngày dùng 5 ngày trư c khi đẻ và liên tục 7 ngày sau khi đẻ (Barrington, 2011)

- Loại thải b t những thú già trong đàn Nhiều nghiên cứu đã cho thấy bò trên 5 năm tuổi hoặc dê, cừu trên 4 năm tuổi dễ nhạy cảm v i bệnh hơn Vì thú già thì khả năng huy động Ca từ xương vào máu kém hơn (Barrington, 2011; MLA, 2012)

- Cho bò vận động thường xuyên để đạt điểm thể trạng (BCS) lúc gần đẻ đạt 2,5 – 3

là lý tưởng Những bò mập có BCS  3,5 rất dễ mắc bệnh sốt sữa sau khi sinh Vì những bò mập thường ăn nhiều nên thừa Ca ăn vào và chúng cũng tạo sữa nhiều hơn sau khi đẻ (Harris, 1981; Hamilton, 2007a)

- Tránh dùng các khẩu phần có nhiều cation Na+, K+,….để phòng ngừa hạ Mg máu,

vì thiếu Mg sẽ làm giảm hấp thu Ca ở ruột và giảm tiết PTH, dẫn đến Ca máu (Chandler, 1997; Goff và Horst, 1997b; Charbonneau và ctv, 2006)

- Bổ sung anion (Cl- và SO42-) cho bò trong thời kỳ cạn sữa và sau khi đẻ để điều khiển độ lệch anion và cation của khẩu phần (DCAD) Khẩu phần có DCAD dương thì bò sẽ có nguy cơ cao đối v i bệnh sốt sữa Khi DCAD càng âm thì càng tốt, khi đó ta có thể bổ sung thêm Ca vào khẩu phần (Roche, 2003; Lean và De Garis, 1010; Barrington, 2011)

- Tiêm Ca dư i da hoặc cho uống 150g gel Ca vào lúc trư c khi đẻ và 12 giờ sau khi

đẻ (Barrington, 2011)

- Tiêm hormone PTH để tăng hấp thu Ca ở ruột cũng như khả năng huy động Ca từ xương vào máu Nên tiêm bắp PTH 6 ngày trư c khi đẻ hoặc tiêm tĩnh mạch khoảng 60 giờ trư c khi đẻ (Barrington, 2011)

Bản 5 Cá tiêu h ần ạt trong chi n lƣợ ph n ệnh sốt sữa ở

Ca máu trư c lúc đẻ 24 – 48 giờ (mmol/lít) 0,8 – 1,3

Ca máu sau khi đẻ 12 – 24 giờ (mmol/lít) > 2,0

P hữu cơ trong máu sau khi đẻ 12 – 24 giờ (mmol/lít) 1,4 – 2,5

u n: ulli n và ctv, 2006

Trang 40

 Bệnh i xươn (ri k ts)

Nguyên nhân

Bệnh thường xảy ra trên thú non hoặc thú đang tăng trưởng ở tất cả các loài vật nuôi Nguyên nhân là do thiếu Ca, P, vitamin D hoặc do tỷ lệ Ca/P không thích hợp Nhưng nguyên nhân phổ biến nhất là do tỷ lệ Ca/P không thích hợp (Nguyễn Nhựt Xuân Dung, 2005; Gruenberg, 2012a) Bệnh thường xảy ra ở heo do tốc độ tăng trưởng của heo con nhanh và được cai sữa s m (Thompson, 2007)

ức l i, hư răng (Lavelle, 1988; How và ctv, 1994; Malik, 1997)

- Gia cầm: giảm ăn, sụt cân, xương mềm sau đó cong vẹo, ức l i, đi đứng khó khăn,

mỏ cong vẹo Mổ khám thấy các kh p nối giữa xương sườn và sống lưng to tròn Tuyến phó giáp trạng sưng to (Randall, 1985; Hunter và ctv, 2008)

Hình 6 Kh p xươn to tr n o thi u C ở i ầm (Randall, 1985)

Ngày đăng: 08/03/2021, 14:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm