Kiến thức Sinh viên nắm và hiểu được những kiến thức cơ bản và hệ thống về diện mạo văn học Việt Nam trung đại nói chung, giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX nói riêng: sự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
GIÁO TRÌNH
VĂN HỌC VIỆT NAM
TỪ THẾ KỈ XVIII ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX
TS PHẠM THANH HÙNG
AN GIANG, 7- 2015
Trang 2Giáo trình Văn học Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX do TS
Phạm Thanh Hùng, công tác tại Khoa Sư phạm thực hiện Tác giả đã báo cáo nội dung
và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày 19/06/2015
Tác giả biên soạn
Trang 3LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là giáo trình của riêng tôi Nội dung giáo trình có xuất xứ
rõ ràng
An giang, ngày 09 tháng 01 năm 2015
Người biên soạn
TS PHẠM THANH HÙNG
Trang 4iii
MỤC LỤC
GIỚI THIỆU
Chương 1: KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ XVIII ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX 1.1 Những đặc trưng cơ bản………
1.1.1 Sự khủng hoảng, bế tắc trong lòng chế độ phong kiến bùng nổ thành những cuộc đấu tranh xã hội quyết liệt………
1.1.2 Sự khám phá và khẳng định những giá trị chân chính của con người………
1.2 Diện mạo của văn học………
1.2.1 Lực lượng sáng tác, công chúng văn học
1.2.2 Hai bộ phận văn học………
1.2.3 Văn học sân khấu………
1.2.4 Tình hình sáng tác và cơ cấu của nền văn học………
1.3 Sự ra đời của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa………
1.3.1 Phê phán những thế lực phong kiến………
1.3.2 Giải phóng tình cảm con người………
1.4 Khái quát hóa nghệ thuật………
1.4.1 Đề cao nhận thức và phản ánh cuộc sống………
1.4.2 Tính cao nhã, qui phạm, công thức; tính ước lệ, tượng trưng…
Chương 2: CHINH PHỤ NGÂM 2.1 Tác giả, dịch giả, đề tài, hoàn cảnh sáng tác ………
2.1.1 Tác giả, dịch giả………
2.1.2 Đề tài………
2.1.3 Hoàn cảnh sáng tác………
2.2 Chinh phụ ngâm với vấn đề chiến tranh và hạnh phúc
2.2.1 Chiến tranh và hình ảnh người chinh phu………
Trang vii
1
1
4
6
6
7
10
11
12
13
18
23
23
25
29
29
30
30
31
31
44
Trang 52.2.2 Chiến tranh và tâm trạng người chinh phụ……… …
2.2.3 Thực chất cuộc chiến tranh trong Chinh phụ ngâm…………
2.3 Nghệ thuật của Chinh phụ ngâm………
2.3.1 Thành công của bản dịch hiện hành………
2.3.2 Tính chất ước lệ, tượng trưng………
2.3.3 Nghệ thuật biểu hiện tâm trạng………
Chương 3: CUNG OÁN NGÂM KHÚC 3.1 Tác giả, đề tài, hoàn cảnh sáng tác………
3.1.1 Tác giả………
3.1.2 Đề tài………
3.1.3 Hoàn cảnh sáng tác………
3.2 Nội dung của Cung oán ngâm khúc………
3.2.1 Quan niệm nhân sinh của Nguyễn Gia Thiều………
3.2.2 Cuộc sống khổ đau của người cung nữ………
3.3 Nghệ thuật của Cung oán ngâm khúc………
Chương 4: HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ 4.1 Tác giả, tác phẩm, đề tài, hoàn cảnh sáng tác………
4.1.1 Tác giả, tác phẩm………
4.1.2 Đề tài………
4.1.3 Hoàn cảnh sáng tác………
4.2 Nội dung của Hoàng Lê nhất thống chí………
4.2.1 Sự khủng hoảng, sụp đổ của chế độ phong kiến Lê – Trịnh……
4.2.2 Sức mạnh, ánh hào quang của phong trào Tây Sơn………
4.3 Nghệ thuật của Hoàng Lê nhất thống chí………
4.3.1 Thể loại………
4.3.2 Bút pháp………
4.3.3 Hình tượng nhân vật………
Chương 5: HỒ XUÂN HƯƠNG (? - ?) 5.1 Cuộc đời, sự nghiệp thơ ca………
5.2 Nội dung thơ ca………
5.2.1 Tập Lưu hương kí………
33
36
37
37
39
41
44
44
45
45
46
46
49
52
56
56
57
58
58
58
63
64
64
66
66
70
72
72
Trang 65.2.2 Xuân Hương thi tập………
5.3 Phong cách thơ Nôm Hồ Xuân Hương………
Chương 6: NGUYỄN DU (1766 – 1820) VÀ TRUYỆN KIỀU 6.1 Cuộc đời, sự nghiệp thơ văn………
6.1.1 Cuộc đời………
6.1.2 Sự nghiệp thơ văn………
6.2 Thơ chữ Hán Nguyễn Du………
6.3 Truyện Kiều, tập đại thành của văn học Việt Nam trung đại………
6.3.1 Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện
6.3.2 Cảm hứng chủ đạo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều………
6.3.3 Khái quát hóa nghệ thuật trong Truyện Kiều………
6.3.4 Ngôn ngữ trong Truyện Kiều………
Chương 7: TRUYỆN NÔM 7.1 Truyện Nôm: một thể loại nghệ thuật đặc biệt ………
7.1.1 Nguồn gốc……….………
7.1.2 Phân loại………
7.2 Nội dung xã hội của truyện Nôm………
7.3 Đặc trưng thi pháp của truyện Nôm………
Chương 8: NGUYỄN CÔNG TRỨ (1778 – 1858) 8.1 Cuộc đời, sự nghiệp thơ văn………
8.1.1 Cuộc đời………
8.1.2 Sự nghiệp thơ văn………
8.2 Nội dung thơ văn………
8.2.1 Chí nam nhi………
8.2.2 Tính chất hiện thực………
8.2.3 Tư tưởng vui nhàn, thưởng lạc………
8.3 Nghệ thuật thơ văn………
Chương 9: CAO BÁ QUÁT (1808 – 1855) 9.1 Cuộc đời, sự nghiệp thơ văn………
9.1.1 Cuộc đời………
9.1.2 Sự nghiệp thơ văn………
9.2 Nội dung thơ văn………
9.2.1 Một nhân cách cứng cỏi, bản lĩnh………
75
81
86
86
89
89
97
97
99
109
114
119
119
120
121
126
130
130
133
134
134
136
139
141
145
145
149
149
149
Trang 79.2.2 Một tấm lòng yêu mến, cảm thông ………
9.2.3 Một thái độ bất mãn, bi phẫn………
9.3 Nghệ thuật thơ văn………
Chương 10: TUỒNG 10.1 Khái quát về tuồng………
10.1.1 Nguồn gốc………
10.1.2 Lịch sử phát triển………
10.2 Nội dung của tuồng
10.2.1 Hiện thực xã hội trong tuồng………
10.2.2 Truyền thống dựng nước, giữ nước và vai trò của con người… 10.3 Nghệ thuật của tuồng………
10.3.1 Nghệ thuật biểu hiện………
10.3.2 Lời hát, làn điệu và nhạc đệm………
10.3.3 Tình huống và hành động kịch, cái bi hùng và cái hài………
10.3.4 Các biện pháp tượng trưng, ước lệ
TÀI LIỆU THAM KHẢO………
152
154
158
162
162
163
164
164
166
169
169
169
170
171
175
Trang 8GIỚI THIỆU
1 VỀ GIÁO TRÌNH
Văn học Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX là một trong hai giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của lịch sử văn học dân tộc tính đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 Giáo trình này được biên soạn nhằm phục vụ cho việc học tập của sinh viên
đại học chuyên ngành Ngữ văn Bạn đọc ngoài ngành cũng có thể đọc để tìm hiểu thêm
về một giai đoạn văn học Việt Nam thời kì trung đại
Nội dung gồm mười chương:
Chương 1: Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX Chương 2: Chinh phụ ngâm
Chương 3: Cung oán ngâm khúc
Chương 4: Hoàng Lê nhất thống chí
Chương 5: Hồ Xuân Hương (? - ?)
Chương 6: Nguyễn Du (1766 – 1820) và Truyện Kiều
Chương 7: Truyện Nôm
Chương 8: Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858)
Chương 9: Cao Bá Quát (1808 – 1855)
Chương 10: Tuồng
Cuối mỗi chương có Câu hỏi ôn tập, đề tài thảo luận, thực hành và Tài liệu
tham khảo chính sinh viên cần đọc thêm để mở rộng kiến thức
Sau cùng là Tài liệu tham khảo chung của giáo trình
Từ lâu, văn học giai đoạn này đã có giáo trình của một số trường đại học được lưu hành Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã cố gắng cập nhật kiến thức mới từ những công trình nghiên cứu gần đây; đồng thời phân tích, đánh giá sự kiện, hiện tượng văn học trên quan điểm khoa học, có tiếp thu thành tựu lí luận tiên tiến phù hợp với khuynh hướng nghiên cứu hiện nay đối với di sản văn học của tiền nhân
Mười chương của giáo trình tương ứng với các thể loại, tác giả, tác phẩm tiêu biểu nhất của giai đoạn văn học này
2 MỤC TIÊU CỦA HỌC PHẦN
2.1 Kiến thức
Sinh viên nắm và hiểu được những kiến thức cơ bản và hệ thống về diện mạo văn học Việt Nam trung đại nói chung, giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX nói riêng: sự ra đời, những đặc trưng cơ bản của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa gắn liền
với những tác phẩm và tác giả nổi tiếng như Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), Cung
oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái),
Truyện Kiều (Nguyễn Du), thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát,…
Trang 93 VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
Phương pháp tự học tập của sinh viên là yêu cầu được đặt lên hàng đầu nhằm tiếp nhận kiến thức học phần một cách tích cực, chủ động và sáng tạo
Muốn vậy, sinh viên cần:
- Đọc kĩ giáo trình; trang bị kiến thức về lí luận, tác giả, tác phẩm văn học; nắm vững nội dung chủ yếu của các chương, hiểu được sự tiếp biến và giao thoa của các học thuyết, tư tưởng Nho, Phật, Đạo giáo trong hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam thời kì trung đại; đặc biệt là việc vận dụng lí luận và phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành nhằm đi sâu khám phá, phân tích giá trị sự nghiệp sáng tác của các tác giả
và tác phẩm về hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật
- Tìm đọc nhiều tài liệu tham khảo là những tác phẩm, bài viết, bài nghiên cứu, phê bình, đánh giá về những hiện tượng, sự kiện văn học trong giai đoạn văn học này
- Chuẩn bị tốt bài thuyết trình, bài soạn giảng, các câu hỏi ôn tập, đề tài thảo luận, thực hành theo yêu cầu của học phần thể hiện qua Đề cương chi tiết và nội dung câu hỏi cuối mỗi chương; phát huy phương pháp thảo luận nhóm trong học tập và nghiên cứu nhằm đạt kết quả cao nhất mục tiêu của học phần
Tóm lại, văn học Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX là một mắc xích quan trọng trong tiến trình văn học dân tộc Học tập, nghiên cứu nền văn học thuộc phạm trù ý thức hệ phong kiến, sinh viên sẽ có điều kiện góp phần kế thừa, phát huy di sản tinh thần của ông cha ta Cũng như bất kì một hiện tượng văn học nào, việc phân tích, lí giải có thể khác nhau chỗ này, chỗ khác giữa những người viết bởi sự đa nghĩa của văn bản là một thực tế có tính qui luật trong nghiên cứu, tiếp nhận văn học Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình của tất cả bạn đọc
An Giang, ngày 09 tháng 01 năm 2015
TÁC GIẢ
Trang 10CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM
TỪ THẾ KỈ XVIII ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX
MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
Sinh viên cần:
- Nắm được một cách khái quát những đặc trưng cơ bản có tính lịch sử chi phối sự phát triển văn học, diện mạo của văn học, sự ra đời của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa và vấn đề khái quát hóa nghệ thuật trong văn học giai đoạn này
- Rèn luyện năng lực khái quát một giai đoạn văn học trên cơ sở chỉ ra những đặc trưng cơ bản về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật; kĩ năng vận dụng những đặc trưng đó để phân tích, nhận xét, đánh giá tác giả, tác phẩm văn học
- Trân trọng kế thừa và phát huy di sản tinh thần của các thế hệ cha ông thể hiện qua sự nỗ lực tự học tập và rèn luyện
NỘI DUNG CHƯƠNG
Văn học Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của văn học trung đại, còn được gọi là giai đoạn văn học cổ điển Nhiều tác giả, tác phẩm đã góp phần làm nên niềm tự hào cho đất nước ta, dân tộc
ta chủ yếu tập trung trong giai đoạn này Đó là Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Phạm Thái, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Huy Tự, Lê Hữu Trác, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, với
những tác phẩm tiêu biểu như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc,
Hoàng Lê nhất thống chí, Sơ kính tân trang, Hoa tiên, Thượng kinh kí sự,…
Văn học Việt Nam giai đoạn này ra đời trong hoàn cảnh chế độ phong kiến
đi vào con đường khủng hoảng, bế tắc Sự không tương ứng giữa văn học và xã hội thoạt nhìn có vẻ mâu thuẫn, nhưng kì thực không có gì mâu thuẫn Đi sâu vào cơ cấu xã hội để nghiên cứu, nếu một mặt người ta thấy sự phát triển không tương ứng giữa văn học với cơ sở kinh tế xã hội, thì mặt khác, văn học lại phát triển rất tương ứng với tình hình cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt, mà ưu thế nổi bật thuộc về lực lượng tiến bộ, lực lượng của quần chúng nông dân
1.1 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN
Trong quá trình nghiên cứu sự phát triển của văn học, việc phát hiện một cách đúng đắn những đặc trưng cơ bản có tính lịch sử trong từng giai đoạn là biểu hiện của nhận thức có tính biện chứng và duy vật về lịch sử, giúp người nghiên cứu
có được phương hướng đúng đắn khi lí giải, đánh giá những hiện tượng phức tạp, nhiều khi mâu thuẫn của đời sống văn học
1.1.1 Sự khủng hoảng, bế tắc trong lòng chế độ phong kiến bùng nổ thành những cuộc đấu tranh xã hội quyết liệt
Trước hết, nền kinh tế Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX suy sụp một cách toàn diện Nông nghiệp đình đốn Ruộng đất phần lớn tập trung vào tay bọn địa chủ Tô thuế nặng nề, mất mùa, đói kém liên tiếp xảy ra Nói về chính sách thuế khóa thời Trịnh Cương cầm quyền từ 1709 đến 1729, Đào Duy
Trang 11Anh cho biết: “Ruộng tư thì trước vốn không đánh thuế, đến năm 1719, Trịnh
Cương sai các quan đạc điền để đánh thuế ruộng công và ruộng tư như nhau Tuy nhiên các quan viên vẫn có một phần ruộng tư trốn thuế Năm 1720, Cương lại sửa lại phép thuế bắt chước chế độ nhà Đường mà dùng phép tô dung điệu, đại khái nặng hơn các ngạch thuế cũ Phép tô dung điệu được sửa lại nhiều lần, chúa Trịnh muốn đi đến chỗ “không có đất bỏ trống”, tức không có đất nào là không nộp tô,
“không có dân du đãng”, tức không có dân nào là không nộp phú dịch” (Đào Duy
Anh, 2013, tr 366) Công thương nghiệp càng không phát triển, vì chính quyền phong kiến hướng các ngành này vào mục đích phục vụ nhu cầu của giai cấp thống
trị “Trịnh Giang thường cho bọn tôi tớ hầu cận bắt ép nhân dân phải nộp vật này
vật nọ cho chúa, ức hiếp quá chừng đến nỗi dân công thương vì thế mà nhiều người phải bỏ nghiệp” (Đào Duy Anh, 2013, tr 367) Nghề khai thác mỏ ít nhiều được
chú trọng do nhu cầu lấy đồng để đúc tiền, đúc súng, đóng tàu hay đổi lấy vũ khí với lái buôn phương Tây Các mỏ phần lớn thuộc quyền quản lí của nhà nước, số rất ít còn lại do thương nhân Hoa kiều và người Việt khai thác Nhưng đời sống của người làm công hết sức cực khổ, tiền công được trả theo chế độ lao dịch Thương nghiệp bị đình trệ Chúa Trịnh ra sức bóp nghẹt ngoại thương và ngăn cản việc buôn bán của thương nhân
Thời Quang Trung, tình hình có thay đổi ít nhiều Ngay sau khi chiến thắng quân Thanh 1789, Nguyễn Huệ hạ chiếu cho các trấn sửa lại sổ điền để đánh
thuế cho công bằng, ruộng công và ruộng tư Nhà vua ban Chiếu khuyến nông lệnh
lấy ruộng của bọn phản động và ruộng quá điền giao cho làng xã quản lí, sửa đổi chính sách quân điền, đảm bảo cho nông dân có ruộng cày, dân lưu tán buộc trở về
quê cũ làm ăn, “những người kiều ngụ tha phương trốn tránh sai dịch, hoặc có thê
hương mẫu quán mà đến ở, hoặc vì buôn bán mà ngụ cư, hễ đã vào làng sở tại từ 3 năm trở lên thì cho ở, còn ngoài ra bắt phải về bản quán để làm ăn Phàm ruộng công tư bỏ hoang, những người ấy được nhận lấy mà cày cấy” (Đào Duy Anh,
2013, tr 442) Vua còn bãi bỏ chính sách thuế khóa nặng nề đánh vào công thương nghiệp, tìm biện pháp làm cho hàng hóa thông thương Theo các giáo sĩ phương Tây, Quang Trung không dùng chính sách bế quan tỏa cảng một cách ráo riết, nên việc đi lại của các lái buôn Tây phương tương đối dễ dàng Vua lại điều đình với nhà Thanh cho mở trường mậu dịch quốc tế ở ải Bình Thủy (Cao Bằng), ải Du Thôn (Lạng Sơn) và miễn đánh thuế quan, lập cửa hiệu buôn bán ở phủ Nam Ninh (Quảng Tây) nhằm mục đích để người Việt sang đó buôn bán, đồng thời dò xét tình hình Trung Hoa
Thế nhưng, công cuộc xây dựng nhà nước phong kiến dưới triều đại Tây Sơn không tồn tại được lâu Gia Long lên ngôi tình hình trở lại như cũ Dưới ách thống trị của vương triều Nguyễn, chính sách kinh tế đã kìm hãm lực lượng sản xuất về nông nghiệp cũng như về công thương nghiệp, mà trước đó tương đối được cởi mở ở thời Tây Sơn, khiến đời sống nhân dân vô cùng cực khổ Nhà nước lại bất lực trong việc bảo vệ đê điều và làm các công trình thủy lợi nên đê điều bị vỡ luôn Công cuộc khai hoang chẳng đem lại bao nhiêu kết quả vì chính sách bóc lột khiến nông dân không sống nổi phải bỏ đi nơi khác Việc buôn bán bị hạn chế Với ngoại thương, ngoài việc khám xét rất kĩ các tàu ngoại quốc chở hàng đến nước ta nhằm đánh thuế và đặt giá, lựa chọn những thức vua và nhà nước cần dùng để mua, trước khi cho chủ tàu bán ra cho các nhà buôn, triều đình gần như khước từ mọi quan hệ với thương nhân phương Tây, thi hành đặc biệt nghiêm ngặt chính sách truyền thống là “bế quan tỏa cảng”
Trang 12Về chính trị, bộ máy chính quyền phong kiến giai đoạn này vừa chuyên chế, vừa sâu mọt thối nát Thời Lê mạt, ở trung ương, vua Lê chỉ ngồi làm vì, mọi quyền hành tập trung vào phủ chúa chuyên quyền và độc đoán Tệ tham nhũng,
mua quan bán tước đã trở thành quốc nạn “Từ đời Trịnh Cương, hễ ai nộp được
nhiều tiền hay lúa thì được thăng lên hay được bổ vào những chức quan có thể hối
lộ được nhiều Thế là cái tệ quan lại tham ô đã được đề thành một chế độ Bọn quan liêu được chúa Trịnh tin dùng và nêu gương tham bạo, tất mặc sức hoành hành để bóc lột đục khoét nhân dân Từ khi Trịnh Giang tin dùng bọn hoạn quan thì những kẻ tay chân và phe phái của chúng càng ỷ thế mà hoành hành không kiêng sợ gì cả” (Đào Duy Anh, 2013, tr 367) Các chúa Trịnh thường nghĩ ra nhiều
việc ăn chơi và xây dựng chùa chiền hơn là lo trị nước Trong Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ) và Tang thương ngẫu lục (Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án) có ghi
lại một vài cảnh chơi bời của chúa Trịnh Sâm khi thường ngự ở các ly cung trên Hồ Tây, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy hay ở Bắc Cung trong dịp Tết Trung Thu,…
Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái) mở đầu bằng cảnh Trịnh Sâm mê
Đặng Thị Huệ, một cung nhân được tôn làm vương phi, rồi bỏ con trưởng lập con thứ, gây ra bè đảng tranh giành nhau trong phủ chúa… Đến chế độ chuyên chế nhà Nguyễn thì mọi thiết chế xã hội đều rập khuôn triều đại nhà Thanh, Trung Quốc Nhà nước có hẳn một đội quân thường trực rất lớn để đàn áp mọi phong trào chống đối Các ông vua triều Nguyễn không xây chùa nhưng lại xây nhiều lăng tẩm Đặc biệt, thói ăn chơi xa hoa không kém gì vua chúa các triều đại trước
Tình hình kinh tế, chính trị như thế tất yếu dẫn đến sự phẫn nộ của quần
chúng và sự bùng nổ của phong trào nông dân khởi nghĩa Việt sử thông giám
cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn có viết: “chính sự trái ngược, thuế khóa nặng nề, lòng người mong mỏi cho chóng loạn lạc” Năm 1737, nhà sư Nguyễn
Dương Hưng khởi nghĩa ở Tam Đảo mở màn cho phong trào nông dân khởi nghĩa thế kỉ XVIII ở Đàng Ngoài Tiếp theo là những cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Vũ Trác Oánh ở Hải Dương; Hoàng Công Chất, Vũ Đình Dung, Đoàn Danh Chấn ở Sơn Nam; Lê Duy Mật ở Thanh Hóa, Nghệ An Chưa kể đến nhiều cuộc khởi nghĩa của đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi Có những cuộc khởi nghĩa lớn như khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu kéo dài trong mười năm (1741 - 1751) hoạt động trên một địa bàn rộng lớn của đồng bằng Bắc Bộ, uy hiếp
cả kinh thành Thăng Long; khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương hơn mười năm (1740 -1751) hoạt động ở các tỉnh Sơn Tây, Thái Nguyên, Tuyên Quang; khởi nghĩa của Hoàng Công Chất (1736 - 1769) trong suốt hơn ba mươi năm ở nhiều nơi thuộc Sơn Nam, Hưng Yên, Sơn La, Hòa Bình, Điện Biên;… Tất cả khí thế, sức mạnh của cao trào nông dân khởi nghĩa ấy kết tinh vào cuộc khởi nghĩa vĩ đại của anh em Tây Sơn bùng nổ năm 1771, đánh dấu vẻ vang bằng những chiến thắng của lãnh tụ áo vải Nguyễn Huệ, mở đầu cho triều đại Tây Sơn
Trong thời gian thống trị của triều Nguyễn, các phong trào nông dân khởi nghĩa cũng xảy ra liên tục, mặc dù không có qui mô lớn như thời Lê mạt Triều đình nhà Nguyễn đã dùng mọi biện pháp để đàn áp, nhưng không vì thế mà phong trào giảm sút Kể từ khi Gia Long lên ngôi cho đến lúc thực dân Pháp xâm lược, xã hội chẳng mấy khi yên ổn Phong trào không bó hẹp ở một vài địa phương mà lan
ra toàn quốc Đặc biệt cuộc khởi nghĩa Tây Sơn không những tiêu diệt tập đoàn phong kiến chúa Nguyễn trong Nam, lật nhào triều đình Lê - Trịnh ngoài Bắc, mà còn đánh tan tác năm vạn quân Xiêm xâm lược và hai mươi vạn quân xâm lược
Trang 13Mãn Thanh, bảo vệ độc lập cho dân tộc, đồng thời thực hiện được sự thống nhất đất nước
Các phong trào nông dân khởi nghĩa từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX không những làm cho giai cấp phong kiến thống trị kinh hồn khiếp vía, mà còn làm khủng hoảng và sụp đổ ý thức hệ cùng với nền văn hóa phục vụ cho giai cấp này Những cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt ấy đã làm cho nhà nước phong kiến không còn có khả năng tạo ra sự thống nhất trong nội bộ của nó và giữa nó với quần chúng bị áp bức; trái lại, quần chúng bị áp bức ngày càng đối lập sâu sắc với nhà nước phong kiến, tất yếu dẫn đến sự bùng nổ liên tiếp những cuộc khởi nghĩa
từ những cuộc đấu tranh xã hội quyết liệt đó
1.1.2 Sự khám phá và khẳng định những giá trị chân chính của con người
Văn học phát triển trong điều kiện như thế, đặc trưng cơ bản có tính lịch
sử của nó là sự khám phá và khẳng định những giá trị chân chính của con người
Cần hiểu rằng sự phát triển của văn học là một quá trình liên tục, có trước
có sau, có nguyên nhân và kết quả, có kế thừa và phát huy, không tự nhiên mất đi cũng không tự nhiên chuyển hóa thành Đối với văn học từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, khi đề cập đến đặc trưng cơ bản nêu trên, không có nghĩa là văn học giai đoạn trước chưa đặt ra vấn đề con người Vấn đề ở đây là khi nói đến văn học giai đoạn này, thì con người với tất cả sự phong phú của nó mới trở thành đối tượng chủ yếu, hàng đầu trong sự nhận thức của văn học Chính điều này đã làm nên sự đổi mới về nhiều mặt, tạo ra một bước ngoặt lớn cho văn học dân tộc, đó là
sự ra đời của một trào lưu nhân đạo chủ nghĩa, sẽ được đề cập trong phần sau Ở
đây, chúng tôi muốn điểm qua những chuyển biến mới của văn học khi có sự tác động của tinh thần khẳng định con người
Khảo sát văn học giai đoạn này, chúng ta có thể gặp lại những đề tài phổ biến của giai đoạn trước như đề tài vịnh sử và vịnh thiên nhiên Nhưng vịnh sử và vịnh thiên nhiên trong giai đoạn văn học này đã khác về nguyên tắc Lịch sử và thiên nhiên không còn là hình thức ngụ ý của những bài học về đạo đức, mà qua đó, nhà thơ thường nói lên xúc cảm và bộc lộ nhận thức của mình về những vấn đề đặt
ra trong cuộc sống trước mắt Nhân vật lịch sử cũng không như ở giai đoạn trước hầu hết là những nhân vật cổ xưa của Trung Quốc, chỉ một ít là của Việt Nam Ở giai đoạn này, bên cạnh những bài thơ viết về những nhân vật như thế, nhà thơ còn
có nhiều bài viết về những nhân vật lịch sử ngay thời vua Lê, chúa Trịnh, nghĩa là thời nhà thơ đang sống, như thơ của Phạm Nguyễn Du chẳng hạn Thiên nhiên trong văn học giai đoạn này cũng không có tính chất rập khuôn, công thức như giai đoạn trước Mỗi nhà thơ đều có một cách khai thác khác nhau Dù chưa có tính cụ thể - lịch sử đậm nét, nhưng mỗi người đều góp phần đem đến cho thơ về thiên nhiên một cách nhìn, một cách cảm Thiên nhiên còn được nhận thức như là môi trường sống, là người bạn, đem đến cho con người niềm vui và khoái cảm thẩm mĩ
Tuy vậy, đề tài cơ bản trong văn học Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX không phải là lịch sử và thiên nhiên mà là những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống trước mắt của con người Đó là chiến tranh phong kiến cùng những tai họa của nó, sự thối nát của giai cấp phong kiến thống trị, cuộc sống vô cùng khổ cực của nhân dân, thân phận chìm nổi của người phụ nữ, tình yêu cùng những ràng buộc khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến, Có thể thấy, lí tưởng thẩm mĩ của văn học giai đoạn này, về cơ bản có khác trước Nó không đồng nhất với lí tưởng đạo
Trang 14đức, mà tách ra khỏi lí tưởng đạo đức Quan niệm về cái đẹp không phải ở cái đạo đức được gọi tên theo một cách khác, mà chính là cuộc sống
Cùng với sự xuất hiện những đề tài mới, lí tưởng thẩm mĩ mới, văn học giai đoạn này còn gắn liền với sự ra đời của những nhân vật với tư cách là những cá thể
xã hội Trong các giai đoạn trước, văn học nhìn chung, chưa có nhân vật Các nhà thơ trong giai đoạn từ thế kỉ thứ X đến hết thế kỉ XIV trong khi khẳng định dân tộc, đồng thời cũng khẳng định vai trò của con người:
Hoành sóc giang san cáp kỉ thu, Tam quân tì hổ khí thôn ngưu
(Thuật hoài - Phạm Ngũ Lão)
(Múa giáo non sông trải mấy thâu,
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu) Sức mạnh con người ở đây được nhận thức như là sức mạnh của dân tộc, chứ chưa phải là sức mạnh của cá nhân Văn học giai đoạn từ thế kỉ XV đến hết thế
kỉ XVII tiếp tục nội dung yêu nước mang âm hưởng ngợi ca, khẳng định chế độ phong kiến đến nội dung phản ánh, phê phán hiện thực xã hội cũng chưa thể xây dựng được nhân vật có cá tính riêng, bởi Nho giáo thừa nhận cái chung mà không thừa nhận cái riêng, đề cao nghĩa vụ, bổn phận mà chưa quan tâm đến tình cảm, tâm hồn của con người, thấy đạo đức mà không thấy cuộc sống:
“Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập; đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm”…
(Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi)
(Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới; Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào) Khác với trước đó, văn học từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX đã xây dựng được rất nhiều nhân vật Người ta không chỉ biết đến tài năng nghệ thuật của những tác giả như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát,… mà còn không thể quên được những nhân vật chính diện cũng như phản diện được xây dựng thành công như Thúy Kiều, Kim Trọng, Phạm Kim, Trương Quỳnh Thư, Lương Phương Chân, Dương Dao Tiên, Phan Tất Chánh, Trần Kiều Liên, những Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến, Trang Vương, viên Đô đốc,… cùng rất nhiều nhân vật xuất hiện dưới hình thức cái tôi trữ tình của tác giả Đó cũng chính là chỗ khác với tiếng nói tâm sự của các nhà thơ ở giai đoạn trước trong những bài tự thuật, cảm hoài, tức sự, ngôn hoài, ngôn chí, mạn thành, ngẫu hứng, chỉ nói lên tâm sự theo một cái nhìn chung, cho nên có tâm sự mà không có tâm trạng, không có cái tôi như một nhân vật trữ tình Ngược lại, ở một số tác giả tiêu biểu của văn học giai đoạn này, cái tôi trữ tình đã xuất hiện Mỗi người một phong cách riêng, không thể lẫn lộn Đó là cái tôi tràn đầy sức sống, lạc quan, tinh nghịch, nhưng cũng thật thổn thức của Hồ Xuân Hương; cái tôi ngông nghênh, kiêu bạc, có tính chất hư vô chủ nghĩa của Phạm Thái; cái tôi trầm ngâm, sâu lắng, đầy tâm trạng của Nguyễn Du; cái tôi bay bổng, ngang tàng, bất đắc chí của Cao Bá Quát;…
Trang 15Tất cả những nội dung trên đây thực chất cũng là những biểu hiện của một trào lưu nhân đạo chủ nghĩa và là đặc điểm cơ bản của văn học giai đoạn này sẽ được trình bày sau, trước khi tìm hiểu diện mạo của văn học
1.2 DIỆN MẠO CỦA VĂN HỌC
1.2.1 Lực lƣợng sáng tác, công chúng văn học
Trước kia, lịch sử văn học nước ta chưa từng chứng kiến một giai đoạn văn học nào lại phát triển phong phú về số lượng và chất lượng như giai đoạn văn học này Điều này có nguyên nhân từ lực lượng sáng tác, công chúng văn học, kể cả điều kiện in ấn, xuất bản,… lúc bấy giờ
Về lực lượng sáng tác, không như từ thế kỉ X đến thế kỉ XIII, Phật giáo đang thịnh, lực lượng sáng tác chủ yếu là các nhà sư có quan hệ mật thiết với triều đình Hoặc từ cuối đời Trần đến đời Lê, Nho giáo phát triển, việc học việc thi nói chung có qui củ, nghiêm ngặt, sáng tác văn học hầu hết là của lực lượng nho sĩ ở triều đình, nho sĩ quan liêu Bước sang thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến suy tàn,
việc học việc thi không được chú trọng “Đến thời chúa Trịnh, thì sĩ tử chỉ cần học
thuộc lòng một ít khuyên sáo cũ (bài cũ) và khéo lắp đi ghép lại, lộn ngược đảo xuôi, là đủ năng lực để làm văn, mà khảo quan thì chỉ xem người nào đặt câu văn thông và khéo “ăn cắp sách cũ” thì lấy đậu” Thậm chí, bọn thống trị lúc cần tiền
sẵn sàng biến thi cử thành chuyện mua bán “Vì túng tiền, chúa Trịnh đặt lệ bán
chức phẩm, lại đặt lệ nộp tiền thì được miễn hạch” Mặc dù vậy cũng phải thấy
rằng, do buông lỏng việc học việc thi mà nhiều người có điều kiện đi học đi thi
“Từ đó những người xưa nay chỉ chuyên làm ruộng đi buôn, những anh lái lợn lái
trâu cũng đua nhau nộp 3 quan để vào thi” (Đào Duy Anh, 2013, tr 368) Chính
điều này đã hình thành nên một tầng lớp nho sĩ bình dân, tăng cường cho đội ngũ sáng tác Vốn sống của tầng lớp nho sĩ bình dân phong phú đã đành, ngay cả những nhà văn thuộc tầng lớp trên khi đứng trước những biến động lớn lao của lịch sử giai đoạn này, cũng không thể ở yên nơi lầu son gác tía mà phải lăn lộn giữa cuộc sống, nếm trải những cảnh đời nghèo khổ, long đong của quần chúng, nên vốn sống của
họ cũng rất phong phú Nguyễn Du là một trong nhiều trường hợp như thế
Việc học, việc thi mở rộng đã tăng cường đội ngũ nho sĩ bình dân vào lực lượng sáng tác, đồng thời làm thay đổi công chúng văn học Độc giả giờ đây gồm nhiều người có học, không những thuộc tầng lớp trên, mà cả tầng lớp trung và dưới Thông qua tầng lớp trung và dưới này, công chúng văn học - chủ yếu là công chúng của bộ phận văn học chữ Nôm - mở rộng đến đông đảo quần chúng Nhiều tác
phẩm văn học nổi tiếng đương thời như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán
ngâm khúc và nhiều truyện Nôm bình dân khác, không phải chỉ nho sĩ mới thưởng
thức mà quần chúng đông đảo cũng thưởng thức được Có nhiều người không biết
chữ Nôm, nhưng nhờ thuộc Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, mà về sau học chữ
được dễ dàng
Ngoài hai mặt nêu trên, sự tiến bộ chút ít của nghệ thuật in sách và bán sách trong chừng mực có tác dụng kích thích đối với sáng tác văn học Nghề in từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX vẫn là in khắc gỗ Nghệ thuật in công phu, tốn kém và mất rất nhiều thời gian, nên nhiều tác phẩm lưu hành trong thời gian này vẫn chọn cách chép tay Dù vậy, so với giai đoạn trước phải nhận là có tiến bộ Trước kia, sách in thường mua từ Trung Quốc, hay sách của vua chúa, của nhà nước tổ chức biên soạn mới được in, thì ở giai đoạn này sách tư nhân cũng có thể
Trang 16khắc in Tại kinh đô Thăng Long đã có một số cơ sở kinh doanh bằng nghề in sách
và bán sách ra đời như Tích Thiện đường, Lạc Thiện đường,…
Những yếu tố trên đây đã tác động trực tiếp đến sự phát triển của văn học giai đoạn này
Lí giải tình hình này không thể không kể đến những phẩm chất mới của lực lượng sáng tác, trong đó có sự tăng cường những tác giả thuộc tầng lớp bình dân, đồng thời, còn là sự tăng cường ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học thành văn
Về phương diện thể loại, đến giai đoạn này, những thể loại của văn học chữ Nôm mới phát triển hoàn chỉnh Văn học chữ Nôm từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX chưa có văn xuôi nghệ thuật, thơ vẫn là chủ yếu Thơ trữ tình phổ biến được viết bằng thể Đường luật, song thất lục bát và hát nói, còn thơ tự sự được viết bằng thể lục bát
Thơ Nôm Đường luật có những thành tựu đáng kể gắn với tên tuổi của Hồ
Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan Dưới ngòi bút Hồ Xuân Hương, thơ Đường luật đã được vận dụng theo hướng dân tộc hóa triệt để trong khuôn khổ thể tài cho phép Bà đã đưa được vào thể thơ vốn đài các, trang trọng một nội dung thông tục, hằng ngày và diễn đạt nội dung ấy bằng thứ ngôn ngữ thông tục, hằng ngày Thơ Đường luật của Bà Huyện Thanh Quan có khác hơn Nó xuất hiện dưới dạng cổ điển với niêm luật chặt chẽ, nội dung trang nhã, âm hưởng dồi dào, hấp dẫn
Thể hát nói cũng là một thể thơ trữ tình ngắn, nhưng có dung lượng lớn hơn và cách luật cũng thoải mái hơn Như tên gọi của nó, hát nói “đánh dấu xu
hướng mở rộng lĩnh vực của thơ sang địa hạt giọng điệu nói, không đóng khung trong địa hạt ý, hình và nhạc bằng trắc trừu tượng” (Trần Đình Sử, 2005, tr 166)
Nó xuất hiện từ thế kỉ XVI với Lê Đức Mao (1462-1529), nhưng sau đó không thấy dùng Đầu thế kỉ XIX, hát nói được sử dụng lại bởi các nhà thơ Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Hàm Ninh Trong nửa đầu thế kỉ XIX, hát nói phát triển theo hai hướng: một mặt đề cập đến cuộc sống hưởng lạc, ăn chơi, mặt khác, nói về chí nam nhi, lí tưởng hành động của con người, của kẻ sĩ Hát nói của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát đã đạt đến trình độ mẫu mực Những nhà thơ sau này như Nguyễn Khuyến, Dương Lâm, Dương Khuê, Trần Tế Xương hay Trần Cao Vân, Nguyễn Thượng Hiền, Tản Đà, cũng chỉ là tiếp tục chứ không phải phát triển Ở Cao Bá Quát, bên cạnh những bài hát nói bằng chữ Nôm, còn có rất nhiều bài thơ viết bằng chữ Hán Với Nguyễn Công Trứ thì hát nói không chỉ là chất lượng nghệ thuật mà còn ở số lượng bài Nguyễn Công Trứ xứng đáng là nhà thơ đạt đến đỉnh cao nhất về thành tựu ở thể tài này
Thơ trữ tình trong văn học giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX chủ yếu được viết bằng thể song thất lục bát với nhiều thành tựu, bắt đầu với
Trang 17bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, rồi Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân, Văn triệu linh của Phạm Thái, Văn
chiêu hồn của Nguyễn Du, bản dịch Chinh phụ ngâm của Phan Huy Ích, Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ, bản dịch Tì bà hành của Phan Huy Thực, bản dịch Chức cẩm hồi văn của Hoàng Quang, đều được nâng lên thành thể trường ca trữ tình, thường
gọi là thể ngâm hay ngâm khúc, phát huy truyền thống của Chinh phụ ngâm và
Cung oán ngâm khúc
Ngâm khúc là một trong những thể loại tiêu biểu của văn học giai đoạn
này đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Việc ra đời thể ngâm khúc đánh dấu nhu cầu về một nội dung biểu đạt mới, đồng thời là một bước phát triển của thể loại trữ tình trong văn học Việt Nam Ảnh hưởng của nó rất lớn, không chỉ đương thời mà
cả tương lai Ngâm khúc thường gặp dùng để diễn tả tâm trạng, đặc biệt là tâm
trạng buồn Chẳng hạn, Đinh Nhật Thận viết Thu dạ lữ hoài ngâm bằng chữ Hán
diễn tả tâm trạng buồn của một người lữ thứ, đã tìm đến thể thơ song thất lục bát;
hoặc Phạm Thái khi viết truyện thơ Sơ kính tân trang, ở những đoạn diễn tả tâm
trạng buồn, ông cũng thường chuyển sang song thất lục bát
Cuộc sống đầy biến động, con người ngày càng phải đối mặt trước những vấn đề lớn lao liên quan đến vận mệnh của xã hội và bản thân mình đòi hỏi phải lí giải, phải miêu tả Những thể tài văn học nhỏ trước đó tỏ ra không đáp ứng nổi yêu cầu phản ánh một cách đa dạng, bao quát hiện thực xã hội và thời đại Văn xuôi chữ Nôm chưa ra đời, truyện thơ đã đảm nhận công việc ấy Văn học giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX không có truyện thơ Đường luật Sự xuất hiện của
truyện thơ lục bát cùng những thành tựu xuất sắc của nó, thực sự là đỉnh cao của bộ
phận văn học chữ Nôm giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX
So với song thất lục bát, lục bát là một dạng thức linh hoạt hơn của thơ trữ tình kết hợp được nhiều mặt, nhiều chức năng, có thể diễn tả nhiều sắc thái thẩm
mĩ khác nhau, đủ sức phản ánh cuộc sống có tính chất sử thi Sự ra đời của hàng trăm truyện thơ hữu danh và khuyết danh, bình dân và bác học trong giai đoạn này
đã cho thấy khả năng bao quát sâu rộng hiện thực cuộc sống và thành tựu to lớn của thể thơ này
Văn học Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX cũng xuất
hiện loại kí sự lục bát Không như truyện thơ thường viết dựa theo câu chuyện từ
trong các tác phẩm văn học nước ngoài, hoặc diễn ca truyện cổ tích, kí sự ghi chép những sự việc tác giả đã trải qua Có kí sự đầy tính chất hư cấu thơ mộng, không
khác gì một truyện thơ như Mai đình mộng kí của Nguyễn Huy Hổ Có kí sự mà một nửa là tự truyện như Bất phong lưu truyện của Lí Văn Phức Ngoài ra, thể lục bát còn được dùng để diễn ca lịch sử như ở Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô
Các và Phạm Đình Toái
1.2.2.2 Văn học chữ Hán
Dù không phát triển rực rỡ bằng văn học chữ Nôm, nhưng khối lượng văn học chữ Hán lại rất nhiều và có được những thành tựu đáng kể So với các giai đoạn trước, văn học chữ Hán giai đoạn này vẫn là một bước tiến cao hơn Khác với văn học chữ Nôm, ngay từ đầu văn học chữ Hán đã bao gồm cả văn xuôi và thơ Thơ, kể cả phú, gắn liền với thể loại trữ tình, trong khi văn xuôi gắn với thể loại tự
sự, chính luận
Trang 18Khối lượng thơ chữ Hán giai đoạn này rất phong phú, không thể kể hết
các thi tập Có thi tập chứa đựng hàng trăm bài, cũng có thi tập đến hàng nghìn bài
Về thể loại, phổ biến vẫn là thơ Đường luật, ngoài ra còn có các thể khác như cổ phong, trường thiên,… Nhu cầu cải tiến về phương diện hình thức chưa có Về nội dung, có thể thấy được tác động của đời sống vào trong tác phẩm Ở những nhà thơ lớn, việc vay mượn thể loại và cả ngôn ngữ nước ngoài này đã không ngăn cản họ sáng tạo nên những tác phẩm xuất sắc có nội dung phong phú và có giá trị nghệ
thuật cao như Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, thơ chữ Hán của Nguyễn Du,
Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu,…
Phú, một thể loại gần với thơ, tiếp nhận từ truyền thống văn học Trung
Quốc và được phát triển, Việt hóa suốt thời kì văn học trung đại Việt Nam Ở giai đoạn này, so với sự phát triển của thơ, phú có vẻ thụt lùi, mặc dù số lượng các bài phú chữ Hán không đến nỗi quá ít Nội dung của phú thường thiên về miêu tả thiên nhiên, không mấy bài có nội dung xã hội sâu sắc Trong các giai đoạn trước, thiên nhiên làm đề tài cho phú thường là những di tích lịch sử, những chiến công hiển hách của dân tộc được phản ánh với một cảm hứng đầy tự hào Giai đoạn này, thiên nhiên trong các bài phú là những cảnh đẹp, có non có nước, có gió mát trăng thanh, được nhà thơ diễn tả với một cảm giác thường là thỏa mãn Không có mấy bài được
như Đăng Ải Vân phú của Ngô Thì Chí ít nhiều gắn với việc ca ngợi nhà Tây
Sơn
Thật ra, những bài phú có giá trị nhất của giai đoạn văn học này lại viết
bằng chữ Nôm chứ không phải bằng chữ Hán như Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng, Hàn nho phong vị phú của Nguyễn Công Trứ, Tài tử đa cùng phú của
Cao Bá Quát, nhưng cũng không nhiều bài được như vậy
So với thơ, văn xuôi chữ Hán giai đoạn này có ý nghĩa hơn và có một
bước phát triển khá rõ Văn xuôi chữ Hán gồm văn xuôi chính luận và văn xuôi tự
sự Văn xuôi chính luận gồm văn biện luận triết học, tiêu biểu là những tác phẩm triết học của Lê Quý Đôn và văn chính luận có tính chất ngoại giao như những thư
từ giao dịch với nhà Thanh dưới triều đại Tây Sơn
Nói đến văn xuôi chữ Hán thì tiêu biểu hơn cả là loại văn xuôi tự sự, chủ
yếu là văn kí sự Ở các giai đoạn trước, kí sự chữ Hán chưa phát triển và thành tựu nổi bật về văn xuôi tự sự chữ Hán là loại truyện chí quái, truyền kì có nhiều yếu tố hoang đường, quái đản của truyện dân gian như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích
quái, Thánh Tông di thảo,… đến đỉnh cao là Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ
(Dư?) Loại truyện này đi dần đến chỗ ngày càng ít tính chất hoang đường hơn, từ chỗ ghi chép nhằm mục đích cúng tế có tính chất phi văn học đến hướng sáng tác văn học trên cơ sở hư cấu nghệ thuật của nhà văn Sang giai đoạn văn học từ thế kỉ
XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, loại truyện truyền kì còn được tiếp tục với Truyền kì
tân phả của Đoàn Thị Điểm (còn có tên là Tục truyền kì) Tuy không đuổi kịp Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ về phương diện nghệ thuật, nhưng về phương
diện nội dung, Truyền kì tân phả có phần gắn với cuộc sống, với con người hơn
Truyền kì mạn lục
Văn kí sự ghi nhận những thành tựu rực rỡ như Vũ trung tùy bút của
Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, Công dư
tiệp kí của Vũ Phương Đề, Thoái thực kí văn của Trương Quốc Dụng với nhiều bài
kí về sinh hoạt và phong tục Nhà y học nổi tiếng Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác trong chuyến ra Kinh chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm đã
Trang 19ghi lại những điều mắt thấy tai nghe trên hành trình từ Hương Sơn và Thăng Long
cùng tâm trạng của mình trong tập kí đặc sắc Thượng kinh kí sự, hoàn thành năm
1783 và được xếp ở cuối bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh như một quyển phụ lục Ngoài ra, trong giai đoạn này còn có Thượng kinh phong vật chí tương truyền của
Lê Quí Đôn (?), nhiều bài du kí ngắn, những bài kí viết cho các đền, chùa xuất hiện
rải rác trong nhiều văn tập,… Đỉnh cao của văn kí sự là kí sự lịch sử mà tiêu biểu là
Hoàng Lê nhất thống chí (còn có tên là An Nam nhất thống chí) của Ngô gia văn
phái Tác phẩm đã tiếp thụ truyền thống biên niên sử với lối viết tiểu thuyết chương
hồi của Trung Quốc kiểu Tam quốc diễn nghĩa, kết hợp tương đối hài hòa chân lí
lịch sử với chân lí nghệ thuật, tạo nên bước phát triển vượt bậc của văn xuôi chữ
Hán trong văn học giai đoạn này Vì vậy, có nhà nghiên cứu xem Hoàng Lê nhất
thống chí là quyển tiểu thuyết lịch sử, hơn nữa là lịch sử đương thời
Nhìn tổng thể, văn học chữ Hán từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX
có sự phát triển mạnh về văn xuôi Trong văn xuôi chữ Hán, thể loại có qui mô lớn
và thành công nhất là kí sự lịch sử/tiểu thuyết lịch sử Cả thơ và văn xuôi chữ Hán
đều tăng cường nội dung hiện thực cuộc sống, đồng thời cố gắng vươn lên mức độ hoàn thiện về phương diện nghệ thuật
1.2.3 Văn học sân khấu
Ở hai bộ phận văn học chữ Hán và chữ Nôm của giai đoạn này, cả hai loại hình cơ bản là tự sự và trữ tình đều có những bước phát triển lớn với những
thành tựu hết sức đáng kể Loại hình kịch, đúng hơn là văn học sân khấu gồm tuồng (hát bội/hát bộ) và chèo, cũng có những thành tựu nhất định, dù không bằng hai
loại hình trên Chèo thuộc phạm vi nghệ thuật sân khấu và văn học dân gian Tuồng chủ yếu thuộc phạm vi nghệ thuật và văn học bác học Tuồng ra đời khi nào còn là vấn đề nghiên cứu (có thể từ thời Lí – Trần), nhưng với sự phát triển liên tục qua các giai đoạn khác nhau trong thời kì phong kiến tự chủ, đến thế kỉ XVIII nó đã khá
hoàn chỉnh và có ảnh hưởng đối với xã hội và văn học Truyện Lục súc tranh công
chẳng hạn, được viết bằng thể văn của tuồng Từ đầu thế kỉ XIX trở đi, dưới sự bảo trợ của triều đình nhà Nguyễn, tuồng phát triển mạnh ở miền Trung với sự đóng góp đáng kể của Đào Duy Từ và Đào Tấn Nhiều vở tuồng lớn còn đến ngày nay đã
được sáng tác trong thời kì này như Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Sự phát triển của
tuồng có những hoàn cảnh đặc biệt hơn thơ và truyện
Trong xã hội phong kiến, thơ được đề cao Truyện không có được địa vị như thế Truyền thống đề cao thơ có từ thời Khổng Tử Kế thừa khổng Tử, những người theo học thuyết Nho giáo ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam đều đề cao thơ Thơ đã từng là môn thi trong các kì thi hương, thi hội của nhà nước phong kiến Ngược lại, quan niệm phong kiến chính thống nói chung xem thường truyện, xem truyện là “ngoại thư”, thậm chí có truyện còn liệt vào loại “dâm thư” Dù vậy, trên thực tế, truyện lại gắn liền với tên tuổi của nhiều tác giả mà về thành phần xuất thân và cương vị xã hội, theo quan điểm phong kiến, đều không thể coi thường Vì thế, nó vẫn có một chỗ đứng hợp pháp nhất định Tuồng thì số phận bi đát hơn nhiều “Xướng ca vô loài” là cái nhìn của xã hội phong kiến với tất cả những con người hoạt động sân khấu nói chung, trong đó có tuồng, chèo Đó là lí do chủ yếu làm cho nghệ thuật tuồng và chèo mặc dù xuất hiện sớm vẫn không thể phát triển Cho đến trước khi có chèo cải cách ra đời sau những năm Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, chèo vẫn tồn tại dưới hình thức chèo sân đình, kịch bản chủ yếu tồn tại dưới hình thức những “miếng trò” được truyền miệng trong dân gian, chưa có kịch
Trang 20bản thành văn Sự phát triển của tuồng có những mặt giống chèo và khác chèo Tuồng gắn liền với văn học bác học hơn văn học dân gian Tác giả của kịch bản tuồng là những nhà nho yêu nghệ thuật Tuồng cũng sử dụng những “miếng trò” như chèo, nhưng nói chung, kịch bản tuồng định hình khá sớm Cũng như chèo, tuồng là loại hình nghệ thuật biểu diễn cũng bị xã hội phong kiến coi thường, nên kịch bản trong giai đoạn này chưa được chú trọng đúng mức Văn tuồng pha trộn cả Nôm lẫn Hán với một tỉ lệ hơn kém không nhiều Trước thời nhà Nguyễn, yếu tố Nôm trong những vở sáng tác có phần nhiều hơn Đến thời nhà Nguyễn, tuồng bị
phân hóa Bộ phận chính thống gọi là tuồng thầy, tuồng pho được đưa vào cung
đình và được chuyên môn hóa cao thành một thứ nghệ thuật cung đình, ngôn ngữ chịu ảnh hưởng quan niệm đề cao chữ Hán của nhà nước Bộ phận không chính thống tồn tại trong dân gian, chủ yếu ở phía Nam (Bình Định, Quảng Ngãi,…), gọi
là tuồng đồ, tiêu biểu là vở Nghêu Sò Ốc Hến Nhiệm vụ của nó cũng giống như
chèo ở ngoài Bắc, thiên về châm biếm, đả kích Ngôn ngữ của tuồng đồ chịu ảnh hưởng lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân Có thể xem tuồng đồ là một thứ hài kịch dân gian
Nhìn chung, nghệ thuật tuồng dưới triều đại nhà Nguyễn có được coi trọng hơn trước, nhưng bản chất cung đình lại chính là trở ngại làm hạn chế sự phát triển của nó
1.2.4 Tình hình sáng tác và cơ cấu của nền văn học
Sáng tác văn học trong giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, như đã trình bày, đã hình thành nên ba loại hình cơ bản là tự sự, trữ tình và kịch Trữ tình và tự sự đã đạt được những thành tựu hết sức có ý nghĩa Trong khi kịch chưa có được thành tựu lớn như hai loại hình này
Về cơ cấu của nền văn học, ngoài bộ phận chính là sáng tác, công việc
sưu tầm, nghiên cứu, lí luận và phê bình văn học đều có những bước tiến nhất định,
dù thành tựu của nó còn hạn chế hơn nhiều so với sáng tác Sự chênh lệch giữa sáng tác với nghiên cứu, lí luận, phê bình văn học cũng là một thực trạng của nhiều giai đoạn văn học xưa nay, đặc biệt là trong xã hội phong kiến
Về thành tựu sưu tầm và nghiên cứu văn học, đáng kể hơn cả là các bộ hợp tuyển văn học, các công trình về thư mục học, trong đó chủ yếu là thư mục về sáng tác văn học Những bộ hợp tuyển văn học của giai đoạn này đáng chú ý có
Toàn Việt thi lục của Lê Quí Đôn, Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích Hoàn
thành năm 1788, Hoàng Việt thi tuyển được xây dựng trên cơ sở tuyển chọn những tác phẩm của các tác giả từ thời Lí, Trần đến cuối thời Lê lấy trong Toàn Việt thi
lục ra đời trước đó, đồng thời bổ sung những tác phẩm từ đời Cảnh Thống trở đi
Còn Toàn Việt thi lục của Lê Quí Đôn thì đã từng được Phan Huy Chú nhận xét là
“thu nhặt rất đầy đủ”, không phân biệt thành phần xã hội Rất tiếc là ông chỉ chọn thơ chữ Hán mà không chú ý đến thơ chữ Nôm Bùi Huy Bích là học trò của Lê Quí Đôn nên cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc cách tuyển chọn tác phẩm của thầy Đây cũng là thiếu sót chung của các bộ hợp tuyển văn học trong thời kì phong kiến
Ngoài ra, giai đoạn này cũng còn một số hợp tuyển khác như Đại Nam
lịch khoa hội phú tuyển của Lí Trần Quán, Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích, Minh đô thi của Bùi Nhữ Tín, Việt thi tục biên của Nguyễn Thu,…
Trang 21Về thư tịch cổ, có thể nói hầu hết sách vở của nước ta ở đủ các phương diện từ cổ đến lúc bấy giờ đều được giới thiệu trong các thư tịch của Lê Quí Đôn và Phan Huy Chú
So với thành tựu về nghiên cứu, sưu tầm thì thành tựu về lí luận, phê bình văn học còn hạn chế Chưa có một tác phẩm lí luận văn học nào ra đời Đây đó cũng chỉ dừng lại ở việc sưu tầm ý kiến của những nhà triết học, nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học Trung Quốc, rồi bàn thêm, tán thành, phản đối hay bổ sung
(mục Văn nghệ trong Vân đài loại ngữ, mục Thiên chương trong Kiến văn tiểu lục
đều của Lê Quí Đôn), hoặc nói lên sự thưởng thức văn học của mình dưới dạng một
bài tùy bút (tập Thương Sơn thi thoại của Miên Thẩm) Tuy nhiên, trong một số bài
Tựa, bài Bạt, bài Bình hay trong một số thư từ trao đổi, các nhà văn trong giai đoạn này ít nhiều cũng thể hiện quan điểm văn học và cách phê bình của mình (như các
bài Tựa của Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Án, Mộng Liên Đường chủ nhân, Phong Tuyết chủ nhân, Cao Bá Quát,… nhiều bài Tựa, bài Bạt khác của Ngô Thì Sĩ, Ngô
Thì Chí, Nguyễn Hành, Lê Hữu Kiều, Phạm Qúi Thích,… những bức thư của Nguyễn Văn Siêu,…) Nói chung, lí luận, phê bình văn học trong chừng mực còn
có tính chất rập khuôn và thoát li thực tiễn sáng tác của văn học dân tộc
1.3 SỰ RA ĐỜI CỦA TRÀO LƯU NHÂN ĐẠO CHỦ NGHĨA
Trong lịch sử phát triển của văn học, việc phát hiện ra con người, đưa con người lên hàng đầu trong nhận thức của nhà văn là một bước ngoặt lớn lao, đem đến sự ra đời của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa
Ở phương Tây, trào lưu có tính chất nhân đạo chủ nghĩa (còn gọi là nhân văn chủ nghĩa) trong văn học, nghệ thuật và nhiều ngành văn hóa, khoa học khác ra đời cùng với sự trưởng thành của giai cấp tư sản và ý thức hệ tư sản trong cuộc đấu tranh chống lại ý thức hệ phong kiến đang thống trị
Dù vậy, chúng ta không thể dựa vào quan điểm phương Tây để nhìn nhận thực tiễn văn học Việt Nam Ra đời trong hoàn cảnh xã hội phong kiến khủng hoảng trầm trọng, ý thức hệ phong kiến suy tàn, nhưng ý thức hệ tư sản chưa nẩy
nở, trong khi đó tư tưởng thị dân yếu ớt, còn nông dân lại không có được một ý thức hệ độc lập, thực tiễn phát triển của văn học Việt Nam với sự ra đời một trào lưu nhân đạo chủ nghĩa phải được nhìn nhận trên một quan điểm khác Không phải xem trong xã hội đã xuất hiện ý thức hệ tư sản chưa, rồi mới đề cập đến trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học Ngược lại, phải xuất phát từ thực tiễn văn học trước, từ sự ra đời của một trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học, rồi mới tìm hiểu, nghiên cứu xem cơ sở ý thức hệ của nó là gì
Thực tiễn văn học phương Tây đã cho thấy sự ra đời của ý thức hệ tư sản trong giai đoạn đấu tranh chống phong kiến đã kéo theo nó một trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong nhiều lĩnh vực khác nhau Nhưng từ thực tiễn đó mà khái quát lên thành một cái gì như nguyên lí là chủ nghĩa nhân đạo luôn gắn liền với ý thức hệ tư sản, thì sự khái quát ấy sẽ phiến diện, không chính xác, vì lẽ đã xem ý thức hệ tư sản gắn liền với sự độc quyền về chủ nghĩa nhân đạo V I Lenin từng nhận xét
rằng: “Trong mỗi nền văn hóa dân tộc đều có những yếu tố văn hóa dân chủ và xã
hội chủ nghĩa – dù rằng những yếu tố ấy ít phát triển đến đâu đi chăng nữa” Vì
sao như vậy? Người giải thích tiếp: “bởi vì trong mỗi dân tộc đều có quần chúng
lao động và bị bóc lột mà những điều kiện sinh hoạt tất nhiên phải làm phát sinh ra một hệ tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa” (Lenin, 1960, tr 171) Những “yếu
tố văn hóa dân chủ và xã hội chủ nghĩa” Lenin nói ở đây thực chất chính là nội
Trang 22dung cơ bản của chủ nghĩa nhân đạo Và như vậy, chủ nghĩa nhân đạo ra đời không phải gắn liền với ý thức hệ tư sản, mà là với “quần chúng lao động và bị bóc lột mà những điều kiện sinh hoạt tất nhiên phải làm phát sinh ra một hệ tư tưởng dân chủ
và xã hội chủ nghĩa” Ở đây, Lenin chỉ mới nói đến “yếu tố” chứ chưa phải trào lưu, từ yếu tố đến trào lưu là một quá trình thay đổi về chất lượng, chứ không phải
là số lượng Từ ý kiến trên, chúng ta có thể suy rộng ra, sự phát sinh của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trước hết gắn liền với cuộc đấu tranh của quần chúng lao động
bị áp bức, chứ không phải với ý thức hệ tư sản
Khẳng định chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX xuất hiện không phải như một yếu tố hay tính chất mà như một trào lưu là căn cứ vào thành tựu sáng tác, chủ yếu là những sáng tác của bộ phận văn học chữ Nôm Có thể nói hầu như tất cả những tác phẩm tiêu biểu của văn học chữ Nôm giai đoạn này đều tập trung vào vấn đề con người, nhận thức con người, đề cao con người, đồng thời đấu tranh chống lại những thế lực đen tối, phản động của xã hội phong kiến để khẳng định những giá trị chân chính của con người
1.3.1 Phê phán những thế lực phong kiến
Xét về một phương diện, có thể nói văn học Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX là văn học phê phán, tố cáo xã hội
Trước hết, trong những tác phẩm viết bằng chữ Hán theo thể kí, bộ mặt của
xã hội phong kiến, của giai cấp thống trị được dựng lên khá đậm nét Hơn bất kì tác
phẩm nào khác, Hoàng Lê nhất thống chí là bức tranh sinh động về sự thối nát của
triều đình phong kiến lúc bấy giờ Dưới ngòi bút phê phán hiện thực sắc bén, các tác giả Ngô gia văn phái đã vẽ nên thật sinh động hình ảnh vua Lê chỉ ngồi làm vì; quyền hành thâu tóm vào tay chúa Trịnh hôn mê, mù quáng, gây ra cảnh bè đảng trong phủ chúa; quan lại thì rặt một phường dung tục, bất tài, bất lương, chỉ luôn rình rập cơ hội để tranh giành quyền lực, danh lợi, không chút nhân phẩm, đạo nghĩa Cuối cùng, cái triều đình mục nát ấy đã bị quân đội Tây Sơn tiêu diệt cùng với hai mươi vạn quân xâm lược Mãn Thanh
Không có cái quy mô rộng lớn như Hoàng Lê nhất thống chí, nhưng
Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác (1724 - 1791) cũng đã góp phần tố cáo gay gắt
những điều xấu xa của cái xã hội ấy Trong tác phẩm, tác giả đã ghi lại tâm trạng cực kì bất mãn của mình đối với xã hội đương thời, cảm thấy mình “chẳng khác gì một người tù” Người đọc như được chứng kiến tận mắt hình ảnh phủ chúa Trịnh hiện lên kín đáo mà rõ nét với những cung điện kiêu sa, cầu kì, với những con người từ chúa Trịnh Sâm (1767 - 1782), ông quan đầu triều Hoàng Đình Bảo, đến đám quan lại dưới trướng, tất cả đều có cái gì như vô nghĩa, bệnh tật Chẳng thấy một người nào làm việc, chỉ thấy họ đi lại, nói năng kiểu cách, biết qua loa chút ít
về thuốc không đủ để chữa bệnh, nhưng không tin người chữa bệnh giỏi, thích xướng họa thơ văn nhưng chẳng có bài thơ bài văn nào viết cho ra hồn Phủ chúa bao trùm một không khí ảm đạm, buồn tẻ Cuối tác phẩm, chúa cha chết vì ăn chơi
trác táng đến nỗi “tinh huyết hao kiệt, khô khan, mặt không nhuận sắc, bụng lớn
gân xanh, tay chân khẳng khiu”; chúa con cũng chết vì mắc phải một trong tứ
chứng nan y Không khí phủ chúa vẫn cứ âm u, bằng lặng Người đọc có cảm giác nặng nề, khó chịu, đến nỗi muốn thét lên cho nó vỡ tan đi Tác phẩm kết thúc sau
khi báo tin “quan Chính đường (tức Quận Huy - người viết) bị hại, toàn gia bị giết” cùng với kết luận của tác giả như muốn đi đến tổng kết lịch sử: “Giàu sang khác chi
mây nổi, ca nhạc lâu đài một sớm thành hoang phế vậy”, và mừng thầm: “Tuy ở
Trang 23chốn danh lợi mà chẳng để danh lợi mê hoặc, bẽ bàng mà đến, nghêng ngang mà
đi, lại gặp non xưa, tựa vào đá, ngủ trước hoa, mơ màng trong mộng, nghe có lời văng vẳng bỗng sực tỉnh, thầm nghĩ: “Ta chẳng bị người chê cười, chẳng qua lòng không tham mà thôi” (Hải Thượng Lãn Ông, 1993, tr 241)
Trong Vũ trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục, Phạm Đình Hổ (1768 -
1840) và Nguyễn Án (1770 – 1815) cũng đã ghi lại một số mẫu chuyện về cảnh sinh hoạt ăn chơi trong phủ chúa Phạm Đình Hổ kể lại việc mỗi tháng ba bốn lần Trịnh Sâm ngự chơi cực kì xa hoa ở cung Thụy Liên trên bờ Hồ Tây Những lần
chúa ngự chơi như thế, “bao nhiêu những loài trân cầm, dị thú, cổ mộc, quái thạch
và chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, chúa đều hết sức thu lấy, không thiếu một thứ gì Có khi lấy cả cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua sông đem về”
Nguyễn Án thì kể những khoản xa xỉ của Trịnh Sâm vào các dịp tết Trung Thu
hằng năm, “từ trước mấy tháng, chúa phát gấm trong cung ra để làm hàng trăm,
hàng nghìn cái đèn lồng, cái nào cũng tinh xảo tuyệt vời, mỗi cái giá mấy chục lạng vàng” Hoàng Lê nhất thống chí còn ghi lại hành động vua Lê cam tâm rước
quân xâm lược nhà Thanh về giày xéo đất nước Chúa Trịnh dung túng cho những tên lưu manh như Đặng Mậu Lân, em Đặng Thị Huệ, một con quái vật hiện hình người tha hồ tác yêu tác quái Những “ưu binh” được kén chọn từ đất “thang mộc”, những quân lính “nanh vuốt” của triều đình cũng đã biến thành một lũ “kiêu binh” ngang ngược, quay lại uy hiếp triều đình, quấy nhiễu dân chúng, tùy ý phá nhà giết người, thả sức hoành hành, là hậu quả của chính sách phân biệt đối xử của chúa Trịnh… Xã hội nơi nào cũng nghe những chuyện cướp bóc, lừa đảo, hãm hiếp, thác oan
Trong những tác phẩm nêu trên, tuy nhà văn chưa miêu tả nhiều về đời sống quần chúng, nhưng qua các chi tiết điểm xuyết cho các sự kiện lịch sử, người đọc ít
nhiều cũng thấy được tình hình đời sống của nhân dân lúc bấy giờ Hoàng Lê nhất
thống chí miêu tả cuộc sống của quần chúng nơi kinh thành cũng như ở các địa
phương thường xuyên bị náo động vì những cảnh bắt bớ, chém giết của những thế
lực phong kiến và của đội quân xâm lược nước ngoài Tang thương ngẫu lục ghi lại
hình ảnh những năm giữa thế kỉ XVIII, chiến tranh xảy ra liên miên, nhân dân không cày cấy được, ruộng đất thành rừng rậm, những người dân sống sót ở đây phải bóc vỏ cây, bắt chuột ngoài đồng mà ăn, có hàng cơm nấu canh thịt người để bán,…
Ở thơ chữ Hán, việc miêu tả đời sống nhân dân có phần đậm nét hơn Các tác giả như Phạm Nguyễn Du, Ngô Thế Lân, Bùi Huy Bích, Nguyễn Thiếp, Nguyễn
Du, Lý Văn Phức, Doãn Uẩn, Nguyễn Văn Siêu,… đã có nhiều bài thơ ghi lại sinh
động cuộc sống đói khổ của quần chúng Trong Nam hành kí đắc tập (Tập thơ văn
ghi những điều sở đắc trên đường đi Nam) viết khi làm quan ở Thuận Hóa, Phạm Nguyễn Du (1740 - 1786) đã có nhiều bài thơ ghi lại cuộc sống đói khổ, loạn lạc
của nhân dân Đàng Trong mang giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc như Điếu ngã tử (Điếu những người chết đói), Cảm dân cư tán lạc (Cảm xúc thấy dân cư bị tán lạc),
Điếu hành khất (Điếu những người đi ăn xin), Văn cùng dân mẫu tử tương thực hữu cảm (Cảm xúc khi nghe nói dân đói mẹ con ăn thịt lẫn nhau), Mẫn học giả lưu tán (Thương những học giả lưu tán), Kiến bị hình (Thấy người bị hình phạt),… Bên
cạnh đó, cảnh ăn chơi của các chúa Nguyễn cũng được nhà thơ khắc hoạ khá rõ nét,
và được xem là nguyên nhân của những nỗi thống khổ ấy Trong bài Nguyễn thị di
cung phú, có đoạn Phạm Nguyễn Du viết :
Trang 24Kim bích huỳnh hoàng hề, nhĩ dân tắc không
Ngân thù xán lạn hề, nhĩ dân tắc cùng
Dân không dân cùng hề, nhĩ gia nhĩ ốc,
Dĩ vi sướng nhĩ tâm hề, khoái nhĩ mục…
(Vách vàng huy hoàng chừ, dân mày tay không
Bạc nén rực rỡ chừ, dân mày khốn cùng
Dân không dân cùng chừ, mày yên trong phủ, Vừa lòng mày chừ, khoái con mắt mày…) Bùi Huy Bích (1744 – 1818) cũng có nhiều bài thơ phản ánh nỗi khổ của nhân dân vùng Nghệ Tĩnh, Thừa Thiên và Quảng Bình khá hiện thực Thơ ông có cảm xúc hơn thơ Phạm Nguyễn Du Thời gian làm Đốc đồng ở Nghệ An, đi thanh tra vùng Thuận Hóa, ông đã từng miêu tả cảnh những người đói húp từng lưng cháo được chẩn cấp; xót xa khi nghĩ đến những người phải chết ở đầu đường xó chợ không mảnh chiếu để chôn Tuy nhiên, nhà thơ cắt nghĩa những nỗi khổ ấy bằng thiên tai, đại hạn, mất mùa mà chưa thấy được nguyên nhân xã hội của những cảnh tượng ấy Cuối cùng, ông cũng chỉ trông chờ vào “ngọn đuốc của nhà vua soi xét
đến dân tình trôi dạt” Trong Nghệ An thi tập (Tập thơ làm ở Nghệ An), sự quan
tâm của ông đến đời sống nhân dân nhiều lúc xuất phát từ trách nhiệm của ông quan đối với dân, cũng có nhiều lúc xuất phát từ sự thông cảm, từ tình thương vượt
ra ngoài ý thức trách nhiệm Qua những bài thơ như Viễn phương nhất chuyết hoạn (Một ông quan vụng về ở phương xa), Hỷ vũ (Mừng có mưa), Phụng mệnh chẩn
cấp cơ dân (Vâng mệnh đi phát chẩn cho dân đói),… người đọc đã xúc cảm trước
tấm lòng của nhà thơ đối với những người lao khổ
Bỉ thương hà nhẫn giáng cơ hoang
(Phụng mệnh chẩn cấp cho dân)
(Trời xanh kia nỡ lòng nào sinh ra nạn đói) Các nhà thơ khác như Nguyễn Thiếp, Phạm Quý Thích, Lí Văn Phức, Doãn Uẩn, Nguyễn Văn Siêu , Cao Bá Quát,… đều có những tác phẩm nói về cuộc sống của quần chúng, xuất phát từ sự quan tâm sâu sắc đối với con người Nguyễn Thiếp (1723 – 1804) viết nhiều về cuộc sống của nhân dân Hoan Châu (Nghệ Tĩnh) Phạm Quí Thích, Doãn Uẩn, Nguyễn Văn Siêu, Lí Văn Phức, Cao Bá Quát, nói nhiều
về cuộc sống của nhân dân miền Bắc Ở đâu cũng gặp cảnh đói khổ do chiến tranh tàn phá, do hạn hán mất mùa, do bọn cường hào áp bức, đè nén, sống trên mồ hôi nước mắt của nông dân…
Ngoài ra, vai trò của đồng tiền trong xã hội cũng được đề cập đến với một
thái độ tố cáo sâu sắc Lí Văn Phức trong bài Tiền đã có viết:
Thân tài tất cánh nhất thù khinh,
Vô hĩnh năng chu vạn lý hành
Hà oán hà cừu thường tỵ ngã, Phi thân phi cố cộng xưng huynh
Dương Châu tiên cảnh năng di bộ,
Trang 25Sứ tướng nhân gian vị giác vinh, Khước tiếu văn chương đồ lão đại, Toán lai giá trị tổng thâu khanh
(Thân hình chẳng qua chỉ nhẹ bằng một ly, Không có chân mà có thể đi khắp muôn dặm
Oán gì ta, thù gì ta mà cứ tránh ta?
Không phải thân thuộc, không phải cố cựu mà cũng gọi bằng anh, Dương Châu là cõi tiên cũng có thể bước đến được,
Chức sứ tướng trên đời cũng chẳng thấy vinh bằng
Đáng cười thay văn chương chỉ già cỗi suông, Suy đi tính lại giá trị đều thua ngươi cả)
(Nhiều tác giả, 1963, tr 444) Trong văn học chữ Nôm, thơ Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ từng phê phán gay gắt đồng tiền Nhưng trong thơ chữ Hán có thể nói không có bài thơ nào phê phán đồng tiền một cách sâu sắc, có giá trị khái quát cao như bài thơ trên của Lí Văn Phức
Tiếp tục đứng trên lập trường nhân sinh, chứ không phải trên lập trường đạo đức, để tố cáo tất cả những gì là phản nhân sinh, phản tiến hóa, đề tài văn học được
mở rộng và nội dung tố cáo cũng sâu sắc hơn Nhiều sáng tác của các tác giả như Ngô Thế Lân, Nguyễn Du, Cao Bá Quát đã cho chúng ta thấy rõ điều đó
Ngô Thế Lân (1726? - ?) là một nhà thơ có hoài bão lớn, ý chí lớn Ông ý thức rất rõ về giá trị của mình, nhưng cuối cùng đành bất lực, không làm được việc
gì cho xã hội Qua Phong trúc tập (Tập thơ gió lùa trong trúc) của ông, người đọc
không chỉ thấy những hiện tượng xấu xa, mà còn thấy được bản chất xấu xa của xã hội phong kiến trong giai đoạn suy tàn Nhà thơ thường hay nói đến ruồi, muỗi, hổ lang, kình ngạc,… chung qui cũng là nói đến giống “thích ăn thịt người” Có lẽ do nhu cầu khái quát cao nên thơ Ngô Thế Lân có nhiều bài viết dưới hình thức ngụ
ngôn, ám dụ Trong bài Trư điểu đề (Tiếng chim lợn kêu), mượn tiếng kêu hãi hùng
của con chim lợn vào ban đêm mà người ta thường cho là báo điềm xấu, nhà thơ đã dựng lên cái không khí ngột ngạt, đầy hăm dọa của một xã hội bất công, tàn bạo:
Ô hô, kỳ tai, trư điểu đề!
Ngũ canh minh phệ phong thê thê
Thái Sơn khuynh đồi bạch nhật ám, Bình địa ba khởi hắc văn mê
Hồng nhạn bi minh tán lâm tẩu, Sài lang hoành hành đương lộ khê
Triều dã thốn thanh bất cảm thuyết
Ô hô, kỳ tai, trư điểu đề!…
(Than ôi, kỳ thay tiếng chim lợn kêu!
Trang 26Năm canh kêu sủa, gió vu vu buồn
Thái Sơn xiêu đổ, ban ngày tối mò, Đất bằng sóng cuộn, mây đen tờ mờ
Đàn hồng nhạn kêu thương bay tản trong bụi rừng,
Lũ sài lang nghênh ngang trên các nẻo đường lối hẻm, Trong triều ngoài nội không ai dám nói,
Than ôi, kỳ thay tiếng chim lợn kêu!) Nhận thức về xã hội và con người trong thơ Nguyễn Du (1766 – 1820), Cao
Bá Quát (1808 – 1855) cũng nằm trong chiều hướng chung với thơ của Ngô Thế Lân Các nhà thơ đã thấy được nhiều vấn đề cơ bản của xã hội và không có những
ảo tưởng đối với giai cấp thống trị đương thời Bài Phản chiêu hồn (Bác lại chiêu hồn) của Nguyễn Du cũng có cảm xúc về thời đại như bài Trư điểu đề vừa dẫn của Ngô Thế Lân Nhà thơ khuyên hồn: “Đừng trở lại, kẻo miệng cười thế gian/Ai ai
giờ cũng Thượng Quan/Khắp nơi sông suối đã toàn Mịch La/Chẳng thuồng luồng hùm sói tha/Hồn ơi, hồn hỡi, biết là làm sao?” Trong những sáng tác bằng chữ
Hán của Nguyễn Du, người ta thường thấy những bức tranh đối lập giữa một bên là cảnh sống đói khổ của nhân dân, với một bên là cuộc sống xa hoa của giai cấp thống trị phong kiến Ở Cao Bá Quát, khi viết về đời sống của những con người cùng khổ trong xã hội, thơ ông không chỉ phơi bày những chi tiết sinh động của hiện thực, mà còn nói lên được bản chất của đời sống Bằng cách này hay cách khác, nhà thơ luôn bày tỏ sự căm ghét đối với giai cấp thống trị, kẻ đã gây ra bao thảm cảnh; ngược lại, ông công khai nói lên lòng thương xót, mến thương đặc biệt của mình trước tình cảnh khổ đau của người dân, trước những điều bất công, ngang
trái trong xã hội, và ông muốn hành động để thay đổi nó Bài Vấn hà mô (Hỏi ễnh
ương), có cái gì đó như là lời tự nói với mình về một cuộc khởi nghĩa đã được chờ đợi từ lâu:
Hà mô vi dân hồ?
Nhất thanh khởi thâm mãng, Nhĩ minh hà trì trì;
Tạc dạ vọng kỳ vũ
(Ễnh ương có biết vì dân không?
Kêu vang nơi bụi rậm Ễnh ương, sao mi kêu quá chậm, Trông mưa, đêm qua bao nhiêu người hồi hộp chờ mong.) Trong bộ phận văn học chữ Nôm, những bài thơ tố cáo hiện thực xã hội không nhiều và cũng không cụ thể bằng bộ phận văn học chữ Hán, nhưng lại có bài
rất có giá trị về phương diện này như Văn chiêu hồn (còn gọi là Văn tế thập loại
chúng sinh) của Nguyễn Du Trước cái chết, nhà thơ thấy tất cả mọi người đều đáng
thương như nhau, không cần phân biệt, khác với lúc sống ông thấy rất rõ những kẻ thống trị và tầng lớp nhân dân lao động bị thống trị Tình cảm của ông chỉ dành cho những con người bất hạnh, từ em bé mồ côi không nơi nương tựa, cô gái làm nghề mại dâm, đến những người lao động tần tảo, người đi lính, người “mắc oan tù rạc”
Trang 27và nhiều người làm các nghề lao động khác Rất nhiều cái chết được miêu tả rất thảm thương:
Kìa những kẻ chìm sông lạc suối, Cũng có người sẩy cối sa cây,
Có người leo giếng đứt dây, Người trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành, Người thì mắc sơn tinh thủy quái, Người thì sa nanh khái, ngà voi…
Ngoài ra, cũng còn có một số bài văn có tính chất kêu gọi, hiệu triệu các phong trào nông dân khởi nghĩa, qua đó chúng ta có thể gặp được ít nhiều hình ảnh
chân thực của đời sống quần chúng như Hịch Tây Sơn, Hịch Lê Duy Mật, Tố uất
khúc (Khuyết danh), Phản thúc ước (Nguyễn Hàm Ninh),…
1.3.2 Giải phóng tình cảm con người
Trong xã hội phong kiến ở những giai đoạn trước, lúc nhà nước phong kiến đang lên, chừng mực nào đó giai cấp thống trị còn quan tâm đến quyền lợi của quần
chúng Nhưng khi nhà nước phong kiến suy tàn, khi “đời suy thói tệ”, “thế đạo
ngày một sút kém”, “danh phận lung tung”, “không ai còn biết đâu mà phân biệt thuận với nghịch nữa” (Phạm Đình Hổ, 2001), thì giai cấp thống trị phong kiến
luôn xây dựng một chế độ chuyên chế rất tàn bạo để thống trị nhân dân không chỉ
về phương diện vật chất, mà cả phương diện tư tưởng, tình cảm, nhằm đi đến thủ tiêu những gì là hồn nhiên, tốt đẹp nhất của con người Chúa Trịnh từng nhiều lần
Sống trong lòng một xã hội như thế, bên cạnh sự vùng dậy đấu tranh để giành cơm áo, quần chúng luôn có nhu cầu giải phóng về mặt tinh thần, tình cảm
Đó không chỉ là nhu cầu của quần chúng bị áp bức, mà còn là nhu cầu chung có tính chất toàn xã hội, trong đó bao gồm cả nhu cầu của một bộ phận đáng kể tầng lớp trí thức trong hàng ngũ giai cấp thống trị Ở những con người này, sự suy tàn của chế độ phong kiến chưa phải ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế của họ, mà bức xúc hơn, là ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, tình cảm, nhất là khi hàng ngày tiếp xúc với đời sống thị dân, với nền kinh tế hàng hóa, thì nhu cầu giải phóng tình cảm ở họ càng trở nên bức thiết, khi luân lí lễ giáo phong kiến đã trở thành một sự trói buộc
1.3.2.1 Đấu tranh cho tự do yêu đương và hôn nhân
Ở xã hội phong kiến, đối với quan hệ nam nữ, pháp luật và lễ giáo hoàn toàn không thừa nhận quyền tự do yêu đương, quyền tự do kết hôn Hôn nhân con cái
Trang 28thuộc quyền cha mẹ Vì thế, trong đấu tranh giải phóng tình cảm của con người, vấn đề hàng đầu là đấu tranh cho quyền tự do yêu đương Tình yêu trở thành một đề tài hấp dẫn của văn học từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX và là đề tài của nhiều tác phẩm truyện Nôm nổi tiếng Nhiều khúc ngâm cũng qua nội dung tình yêu mà tố cáo xã hội Có tác giả như Phạm Thái, sự nghiệp sáng tác hầu như xoay quanh chủ đề tình yêu, gắn chặt với cuộc sống tình cảm của bản thân nhà thơ Ở Hồ Xuân Hương, phần quan trọng trong những sáng tác của nữ sĩ là viết về tình yêu
không toại nguyện Phạm Nguyễn Du viết Đoạn trường lục, Ngô Thì Sĩ viết Khuê
ai lục đều là những tập thơ khóc vợ, đề cập đến tình cảm riêng tư vợ chồng một
cách tỉ mỉ Nhìn chung, thơ viết về đề tài tình yêu trong giai đoạn này thường thể hiện ước mơ của con người về một tình yêu tự do, muốn thoát khỏi ràng buộc của luân lý, lễ giáo phong kiến Tất nhiên, chưa thể đòi hỏi như trào lưu văn học lãng mạn 1932 – 1945 sau này khi các nhà văn Tự lực văn đoàn đặt vấn đề đấu tranh trực diện với lễ giáo phong kiến để xây dựng tình yêu tự do, nhiều tác giả văn học giai đoạn này chỉ muốn bằng con đường khẳng định tình yêu tự do để phủ nhận lễ giáo phong kiến Trong các truyện Nôm bác học, đó là tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng, của Phạm Kim và Trương Quỳnh Thư, của Lương Phương Chân và Dương Dao Tiên, của Phan Tất Chánh và Trần Kiều Liên,… Ở những nam nữ yêu nhau này, tình yêu của họ thật hồn nhiên, trong sáng, thật đẹp đẽ biết bao!
Phản ánh nhu cầu giải phóng đời sống tình cảm của quần chúng bị áp bức, chủ đề tình yêu tự do trong những truyện Nôm bình dân được đặt ra thật táo bạo Nếu trong thực tế xã hội phong kiến người phụ nữ thường là nạn nhân của chế độ hôn nhân mua bán, thì ở đây họ lại là những người chủ động quyết định tình yêu,
mà những thế lực đại diện cho lễ giáo phong kiến phải chấp nhận Và trong trường hợp những thế lực phong kiến ra sức ngăn cản, họ quyết tâm đấu tranh đến cùng để bảo vệ tình yêu và thực hiện cho kì được nguyện vọng của họ
Thái độ của tác giả đối với tình yêu tự do là khẳng định Họ say sưa theo dõi
và dành những trang viết vào loại hay nhất, đẹp nhất của văn chương để miêu tả một cách đầy hứng thú quá trình đi đến tình yêu ở các nhân vật mình xây dựng
Nguyễn Du đã dành một phần tám Truyện Kiều để viết về mối tình tuyệt đẹp Kim
Trọng – Thúy Kiều nảy nở trong hai tháng Phạm Thái và Trương Quỳnh Như đã làm mười hai bài thơ tình để diễn tả nỗi nhớ người yêu trong mười hai giờ của một
ngày Trong Hoa tiên, Nguyễn Huy Tự đã diễn tả một mối tình thi vị trong khung
cảnh thiên nhiên đầy ánh trăng mơ mộng và huyền ảo Mối tình của Phan Sinh và
Trần Kiều Liên trong truyện Phan Trần hết sức lãng mạn, được nhà thơ thể hiện
trên tinh thần dân chủ có tính chất chống phong kiến về thực chất
Chế độ hôn nhân trong xã hội phong kiến không lấy tình yêu làm cơ sở, mà xây dựng trên tiền tài và địa vị xã hội, biểu hiện bằng quan niệm “môn đăng hộ đối” Một người bình dân không thể lấy một người thuộc tầng lớp quí tộc, cũng như một người không có vai vế trong xã hội không thể lấy con gái một ông quan
Trường hợp Thúc Sinh lấy con gái quan Thượng thư bộ Lại trong Truyện Kiều
không phải là một hiện tượng phổ biến và Nguyễn Du cũng đã cho thấy được cái thế chênh lệch của quan hệ hôn nhân ấy Thế nhưng, trong rất nhiều truyện Nôm bình dân, các nhà thơ đã phủ nhận quan điểm hôn nhân môn đăng hộ đối phong kiến ấy và xây dựng nên những mối tình rất đẹp của những người có địa vị giai cấp hết sức chênh lệch nhau Hầu hết các cô gái trong truyện Nôm bình dân thường là những người thuộc giai cấp quí tộc Họ được giới thiệu là con vua, con quan tướng quốc, nhưng họ đã yêu và lấy những anh hàn sĩ lỡ thời, thậm chí đi ăn xin để có tiền
Trang 29đi học Và để tránh một sự đối lập quá đáng mà xã hội không thể chấp nhận được, hoặc do quan điểm hạn chế của tác giả, những anh hàn sĩ cũng được khoát cho một nguồn gốc xuất thân “cao qúi” hay tương lai rồi sẽ đỗ đạt, làm quan to… Nhưng quan trọng hơn cả là tình yêu của họ bền chặt qua thử thách và họ có một cuộc sống rất hạnh phúc
Trong các truyện Nôm bác học, các tác giả không xây dựng kiểu tình yêu như vậy Nhìn chung, các nhân vật trong những truyện Nôm bác học đều thuộc tầng lớp phong kiến và có thể đều “môn đăng hộ đối” Nhưng đó không phải là điều các nhà thơ muốn nhấn mạnh Mối quan tâm của các tác giả truyện Nôm bác học chính
là cơ sở tình cảm trong quan hệ yêu đương của các nhân vật Nhiều truyện đề cao tình yêu của những cô gái đẹp với những chàng trai có tài, nghe qua thì đó là các chuyện yêu đương của “tài tử - giai nhân” theo quan niệm phong kiến, nhưng kì thực đó là những mối tình được xây dựng trên cơ sở tình cảm, về thực chất nó đối lập với chế độ hôn nhân phong kiến
Tinh thần dân chủ trong quan hệ tình yêu và hôn nhân còn thể hiện ở việc đề
cao vai trò của người bình dân Trong Hoa tiên, tình yêu của Lương Sinh với Dao
Tiên như một chất men thấm dần vào da thịt, để cô gái quí tộc này chiến thắng những thành kiến quí tộc mà nói lên tiếng nói chân thật của lòng mình Quá trình đó không thể thiếu vai trò của hai nhân vật nữ tì là Vân Hương và Bích Nguyệt Họ là những mối lái, những “ông tơ bà nguyệt” dẫn dắt cho cặp tình nhân đến với nhau Hình ảnh đêm thề nguyền của Lương Sinh và Dao Tiên có Vân Hương và Bích
Nguyệt chứng giám đã nói lên đầy đủ vai trò của họ trong câu chuyện tình nầy Ở
Sơ kính tân trang, vai trò của Hồng Nương và Yến Đồng cũng giống như vậy Việc
đề cao vai trò của người bình dân không phải chỉ có ở những truyện Nôm viết đề tài tình yêu, mà còn ở một số tác phẩm truyện Nôm khác như câu chuyện về trung hiếu
tiết nghĩa trong Nhị độ mai chẳng hạn Điều muốn nói ở đây chính là vai trò của
con người bình dân trong việc thúc đẩy cho chủ đề tình yêu tự do được thực hiện
Tình yêu trong văn học giai đoạn này còn có một đặc điểm nữa là nó không
có tính chất cá nhân chủ nghĩa vị kỉ, không làm cho con người trở nên nhỏ bé, tầm thường, trái lại, nó làm cho con người cảm thấy mình cao lớn hơn, đẹp đẽ hơn Sự chiếm lĩnh tình yêu đồng thời cũng là sự chiếm lĩnh thế giới Về một ý nghĩa nào
đó, có thể nói tình yêu đã nhân đạo hóa con người Trong các truyện Nôm giai đoạn này, hầu như tác phẩm nào viết về tình yêu đẹp thì cũng viết đẹp về thiên nhiên
Với Truyện Kiều, tình yêu không phải chỉ đem lại cho con ngườI vẻ đẹp của cuộc sống mà còn đặt vấn đề chống định mệnh Nguyễn Du qua Truyện Kiều đã đạt đến
đỉnh cao trong vấn đề tình yêu nhân đạo hóa con người
Đề tài tình yêu trong văn học giai đoạn này còn cho chúng ta thấy con người
cá thể bắt đầu được khẳng định Nói cách khác, cái rung động của con người trước
tình yêu đã được các nhà thơ thể hiện có tính chất cá thể hóa rõ nét Trong Sơ kính
tân trang, đó là cái xao xuyến, choán ngợp của con người trước mối tình đầu; trong Truyện Kiều là nỗi nhớ thương, ngậm ngùi da diết về một tình yêu tan vỡ; trong Hoa tiên là sự trách móc về một tình yêu lỗi hẹn; trong thơ Hồ Xuân Hương là sự
chua chát phẫn nộ về một tình yêu dang dở;…Nhưng có lẽ không tác phẩm nào nói đến một tình yêu xót xa, đau đớn hơn tình yêu của Phạm Thái trước cái chết của
Trương Quỳnh Như (Văn tế Trương Quỳnh Như); không lời đằm thắm nào mà mỉa mai và lời mỉa mai nào mà đằm thắm hơn lời Mời trầu của Hồ Xuân Hương Ở các
sáng tác chữ Hán của Phạm Nguyễn Du và Ngô Thì Sĩ, nhìn chung, cá tính chưa
Trang 30được thể hiện rõ nét, nhưng trong hai tập thơ khóc vợ là Đoạn trường lục (Phạm Nguyễn Du) và Khuê ai lục (Ngô Thì Sĩ), người đọc đã cảm nhận được thế nào là
nỗi lòng thương tiếc, xót xa vô hạn của hai nhà thơ trước cái chết của vợ mình Tình cảm của hai ông thật xúc động làm sao!
Con người cá thể trong văn học giai đoạn này chủ yếu gắn với đề tài tình yêu, nhưng ở một số tác giả, con người cá thể còn được thể hiện qua tâm sự, hoài bão của họ Đó có thể là con người chán chường đến khinh bạc của Phạm Thái trong một loạt bài thơ tự thuật; con người dằn dỗi, bực dọc của Nguyễn Gia Thiều
trong bài Miếng tình; con người sôi nổi của Nguyễn Công Trứ trong nhiều bài viết
về chí nam nhi, vừa thể hiện ý thức về nghĩa vụ làm trai, vừa mang màu sắc cá nhân
ở mức độ nhất định
1.3.2.2 Xây dựng hình tượng người phụ nữ trong văn học
Nhu cầu giải phóng tình cảm của con người còn gắn liền với sự xuất hiện của hình tượng người phụ nữ trong văn học Chưa bao giờ văn học xây dựng nhiều
hình tượng người phụ nữ đến như vậy Dường như tác giả nào cũng có viết về người phụ nữ Không những Nguyễn Du, Phạm Thái, Hồ Xuân Hương, ĐặngTrần Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Huy Tự viết về người phụ nữ,
mà Phạm Đình Hổ, Ninh Tốn, Lí Văn Phức cũng viết về người phụ nữ Phạm Đình
Hổ trong bài Hữu sở cảm đã khắc họa thật hay hình ảnh cô gái Trường An với vẻ
đẹp ngây thơ trong sáng đứng tựa bao lơn trước vườn hoa, e người yêu nghe đàn hiểu rõ tâm sự của mình, nên cô đặt ngang đàn cầm, cười mà không gãy Một bài thơ khác đã vẽ nên hình ảnh cô gái đẹp ngồi trên mình ngựa với ánh mắt đưa duyên
thật tình tứ trong bài Mã thượng mĩ nhân của Ninh Tốn Hay như Cao Bá Quát trên
hải trình theo phái đoàn đi sứ sang Indonesia đã thẫn thờ trước hình ảnh một người đàn bà châu Âu áo trắng như tuyết, tay cầm chén sữa một cách uể oải, nũng nịu đòi chồng nâng dậy trong khung cảnh đêm lạnh, gió bể thổi mịt mù và tâm trạng nhà
thơ đang trong cảnh biệt li (Dương phụ hành)…
Phụ nữ trong văn học giai đoạn này có người là phụ nữ quí tộc, có người là phụ nữ bình dân, thậm chí ca nhi, kĩ nữ,… nhưng họ hoàn toàn không phải là mẫu người phụ nữ của lễ giáo phong kiến Như một qui luật phổ biến, bất kì một trào lưu nhân đạo chủ nghĩa nào ra đời trong văn học thì vấn đề phụ nữ lại được đặt lên hàng đầu, được quan tâm sâu sắc Vì sao? Bởi vì họ là người bị áp bức nặng nề nhất, không chỉ về phương diện giai cấp mà cả về phương diện giới tính nữa Nỗi khổ nhục của họ không loại trừ thành phần xuất thân Phụ nữ giàu hay nghèo đều
có những nỗi khổ nhục riêng Nguyễn Du đã hai lần khái quát nỗi khổ nhục của họ trong xã hội phong kiến như một định mệnh không thể thay đổi được
Rất nhiều sáng tác văn học trong giai đoạn này đã thể hiện phong phú nỗi
khổ của người phụ nữ Trong Chinh phụ ngâm là hình ảnh người chinh phụ mòn
Trang 31mỏi, khổ đau vì chồng tham gia vào những cuộc chiến tranh phong kiến Trong
Cung oán ngâm khúc là hình ảnh người cung nữ cô đơn, lạnh lẽo vì bị vua ruồng
bỏ Trong thơ Phạm Đình Hổ là hình ảnh những cô gái hát triều Lê đánh liều với
cuộc sống buông trôi năm này sang năm khác (Cựu cơ ca) Trong thơ Hồ Xuân
Hương là những người phụ nữ làm lẽ, chửa hoang, muộn chồng và chồng chết
Trong thơ Nguyễn Du là bốn mẹ con một người ăn xin sắp chết đói (Sở kiến hành);
là nàng Tiểu Thanh bên Trung Hoa mới mười tám tuổi đầu, lấy lẽ bị vợ cả ghen bắt
ở trên núi, buồn rồi chết, có để lại tập thơ (Độc Tiểu Thanh kí); là cô Cầm ở Long Thành nổi tiếng tài hoa mà nay tóc đã hoa râm, nét mặt võ vàng (Long Thành cầm
giả ca); là người ca nữ ở La Thành (thành Nghệ An) sống không biết cậy vào ai nên
phải xuống tuyền đài tìm người tri kỉ (Điếu La Thành ca giả); là cô hầu gái của em
đã ba con mà vẫn mặc chiếc áo cũ trước khi lấy chồng (Ngộ gia đệ cựu ca cơ); là ba
người phụ nữ kiên quyết chống lại bọn hung bạo và hy sinh để giữ mình được trong
sạch (Tam liệt miếu) Và đau khổ hơn cả chính là tấn bi kịch về cuộc đời của cô gái
họ Vương mà bao thế kỉ qua đi vẫn tiếp tục gieo vào lòng người đọc niềm cảm
thương vô hạn (Truyện Kiều)! Mỗi người một nỗi khổ, chẳng cái khổ nào giống cái
khổ nào Nhưng bị khinh bỉ và đau khổ hơn cả trong xã hội phong kiến chính là những ca nhi, kĩ nữ Đúng vậy Ở cái xã hội ấy, phụ nữ nói chung đều bị coi thường, đều đau khổ, nhưng nếm trải tận cùng nỗi khổ nhục, không ai hơn những người phụ nữ làm nghề “xướng ca vô loài” và mại dâm Ngay như Thúy Kiều, nhân
vật mà nhà thơ yêu mến nhất, cũng “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”…
Bằng tất cả sự xúc động, thông cảm, xót thương và trân trọng của nhà thơ, nhiều hình tượng người phụ nữ chịu khổ đau trong văn học giai đoạn này đã được xây dựng thật sinh động, tạo nên được những ấn tượng sâu đậm trong tình cảm, tâm hồn người đọc nhiều thế hệ Dù vậy, hình ảnh người phụ nữ không chỉ hiện lên ở phương diện khổ đau, ở họ còn là những con người có tài, có tình, có ý chí và có
nghị lực Trong Truyền kì tân phả (còn có tên là Tục truyền kì), một tác phẩm ghi
chép những truyện hoang đường của Đoàn Thị Điểm ra đời khoảng đầu giai đoạn,
có nhiều truyện ghi nhận những nét tính cách tiêu biểu của người phụ nữ giai đoạn
này Hải khẩu linh từ lục (Truyện đền thiêng ở cửa bể) kể chuyện nàng Bích Châu
xinh đẹp, cung phi của vua Trần Duệ Tông, giỏi thơ văn, cảm thấy chính sự trong nước ngày càng suy kém nàng đã dâng lên vua bản điều trần mười điều gọi là “Kê
minh thập sách” giúp vào việc trị nước, yên dân Đinh phu nhân trong An Ấp liệt nữ
lục (Truyện người liệt nữ ở An Ấp) là người dung nhan thanh nhã, cử chỉ đoan
trang, khéo thêu thùa và giỏi văn thơ, từng làm thơ khuyên chồng là Đinh Hoàn không được lơ là việc nước Công chúa Liễu Hạnh, vốn là Tiên chúa giáng trần,
trong Vân Cát thần nữ lục (Truyện nữ thần ở Vân Cát) đã hai lần xướng họa thơ
văn với Phùng Khắc Khoan, thường hiển linh giúp người lành, trị kẻ ác Trong các truyện Nôm bình dân, các cô gái đều là những người có ý chí, có nghị lực lớn
Nàng Ngọc Hoa trong truyện Phạm Tải Ngọc Hoa hay nàng công chúa trong truyện
Lý Công đều là những người phụ nữ đã dũng cảm đương đầu với những thế lực đen
tối phá hoại tình yêu của họ Điều gì đã khiến cho Cúc Hoa, con gái nhà trưởng giả, can đảm trao duyên cho anh chàng ăn xin nhưng hiếu thảo và tuấn tú - Tống Trân,
trong truyện Tống Trân Cúc Hoa? Không thể lí giải điều ấy ngoài lòng thương
người, tình cảm đậm đà với người con trai hoạn nạn và một nghị lực phi thường khi can đảm nhận lấy trách nhiệm nuôi mẹ và giúp chồng học hành Với Phương Hoa
trong truyện Phương Hoa thì đó là cô gái giả trai đi thi đậu trạng nguyên, gặp vua
để tố cáo tội ác của tên Tào Trung úy và minh oan cho người chồng chưa cưới của mình…
Trang 32Riêng Thúy Kiều của Nguyễn Du, con người tài sắc vẹn toàn ấy, không phải chỉ có hoạn nạn mà còn biết điều khiển cả một phiên tòa để trừng trị thích đáng những kẻ gây ra tội ác Thúy Kiều là một con người luôn ý thức về mình và về
xung quanh Trong Truyện Kiều, Thúy Kiều không bao giờ là con rối trong bàn tay
định mệnh, cũng không bao giờ nàng buông xuôi mặc cho cuộc sống cuốn đến đâu hay đến đó, mà Thúy Kiều luôn luôn chống lại, luôn luôn đứng lên Cũng như thế, người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương lúc nào cũng như thách thức với xã hội
Họ có bản lĩnh, giỏi thơ văn, nhận thức về khả năng không kém gì đàn ông của mình, nhưng vì xã hội trói buộc nên không thi thố được
Không chỉ ở những nhân vật chính diện, ngay cả những nhân vật phản diện, cũng có nhân vật được xây dựng như là con người có bản lĩnh, có cá tính Hoạn
Thư trong Truyện Kiều là một con người:
Ở ăn thì nết cũng hay, Nói điều ràng buộc thì tay cũng già
Với các nhân vật phụ nữ trong văn học giai đoạn này, thái độ của các nhà thơ nói chung là thông cảm, bênh vực, ca ngợi Họ không phải chỉ ca ngợi người phụ nữ ở mặt đảm đang chịu khó, chung thủy với tình yêu, có hiếu với cha mẹ, nghĩa là ca ngợi những đức tính, phẩm chất mà đạo đức phong kiến ở một xuất phát điểm khác cũng có thể chấp nhận và ca ngợi được, mà còn thông cảm và ca ngợi những đức tính, phẩm chất nhiều khi đối lập gay gắt với quan niệm đạo đức phong kiến
Trong trào lưu đấu tranh đòi giải phóng tình cảm con người, các nhà thơ dù nhận thấy cuộc sống có trăm nghìn cái xấu xa dơ bẩn cần tố cáo, lên án, tiêu diệt, nhưng cuối cùng đối với họ, đáng sống nhất vẫn là cuộc sống ở cõi đời này, chứ không phải ở một thiên đường hay thế giới nào khác Họ có nói đến Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, nhưng cuộc sống được khẳng định trong tác phẩm văn học không phải là chủ nghĩa khổ hạnh của Phật giáo, không phải là thái độ siêu thoát, an nhiên
tự tại, tiêu cực của Đạo giáo hay chủ trương ức chế dục vọng, khắc chế bản thân theo tinh thần khắc kỉ của Nho giáo, mà là một cuộc sống trần tục với tất cả những
niềm vui và nỗi buồn trần tục (thơ Hồ Xuân Hương, các truyện Phan Trần, Phạm
Tải Ngọc Hoa, Sơ kính tân trang, Vân Cát thần nữ lục,…) Ở một số truyện Nôm
bác học, nhà thơ có đi đến triết lí tiêu cực nhuốm màu sắc tôn giáo, kêu gọi con người thoát li cuộc đời Nhưng xét kĩ, những trường hợp như thế không phải vì họ thấm nhuần tôn giáo, mà chính là biểu hiện sự bế tắc của nhà thơ trong việc lí giải những vấn đề của cuộc sống, ở một chừng mực nào đó có thể xem là thái độ phủ nhận thực tại xấu xa mà họ cảm thấy bất lực trên con đường đi tìm giải pháp cho sự thay đổi, cải thiện
Trên đây là những nội dung cơ bản của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX Về thực chất, có thể nói trào lưu nhân đạo chủ nghĩa này có tính chất chống phong kiến Tuy nhiên, do xã hội chưa có một giai cấp tiên tiến với một ý thức hệ tiên tiến làm nền tảng cho cuộc đấu tranh, nên tính chất chống phong kiến trong văn học giai đoạn này không triệt
để mà có tính chất nửa vời
1.4 KHÁI QUÁT HOÁ NGHỆ THUẬT
1.4.1 Đề cao nhận thức và phản ánh cuộc sống
Trang 33Từ lâu, xã hội phong kiến Việt Nam đã lấy Nho giáo làm ý thức hệ chính thống Quan điểm văn học của Nho giáo vì thế cũng có một ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển của văn học dân tộc Quan điểm đó biểu hiện một cách tập trung trong hai mệnh đề cơ bản là “văn dĩ tải đạo” (văn để chở đạo đức) và “thi ngôn chí” (thơ để nói chí hướng) Thật ra, hai mệnh đề trên chỉ là một, vì một thời gian khá dài trong lịch sử văn học người ta chưa phân biệt giữa văn và thơ, cũng như giữa văn và một số hoạt động văn hóa khác Với quan niệm “tải đạo” (hay
“quán đạo”) như thế, Nho giáo chỉ đề cao chức năng giáo huấn, đề cao tính chất minh họa đạo đức, thậm chí biến văn học thành cái loa phát ngôn cho đạo đức, mà xem thường chức năng nhận thức của văn học
Xã hội phong kiến nước ta trước thế kỉ XVIII, Nho giáo đang còn thịnh hành, nhất là dưới thời Lê Thánh Tông, Nho giáo được tôn làm quốc giáo Nhưng sang thế kỉ XVIII, bên cạnh Nho giáo, thì Đạo giáo và một chừng mực nào đó Thiên Chúa giáo đều có phát triển, nên vai trò và vị trí của Nho giáo không còn như trước Nhà nước phong kiến suy tàn thì Nho giáo cũng suy tàn Đến đầu thế kỉ XIX, Nho giáo có được đề cao trở lại với triều đình phong kiến chuyên chế nhà Nguyễn, nhưng với xã hội, Nho giáo vẫn không thể có vai trò như trước Nói cách khác, dù Nho giáo có được đề cao trở lại hay mất vai trò do sự phát triển của Đạo giáo, Phật giáo hay Thiên Chúa giáo như ở thế kỉ XVIII, thì chung qui lại, cũng như các tôn giáo khác đều không phải là thành phần chủ đạo trong tư tưởng thời đại Sống ở một thời đại khủng hoảng và đầy những biến động lịch sử lớn lao như giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, thì đáng tin hơn cả không phải là tôn giáo, mà chính là nhận thức, kinh nghiệm tích lũy được trong cuộc sống, trong cuộc đấu tranh thực tiễn của con người Đó cũng là cơ sở để xã hội manh nha và phát triển một thứ tư tưởng duy vật thô sơ, hoặc để người ta có thể tiếp thụ một vài lí thuyết
có tính chất duy vật chủ nghĩa của phương Tây Những tác phẩm của nhà bác học
đầu tiên của Việt Nam Lê Quí Đôn như Vân đài loại ngữ, Phủ biên tạp lục, Kiến
văn tiểu lục đã cho thấy con người của thời đại này đã biết chú trọng đến tri thức
thực tiễn, đến môi trường tự nhiên và xã hội trên đất nước mình Phan Huy Chú, với kiến thức uyên bác về lịch sử và đời sống không kém gì Lê Quí Đôn đã soạn
Lịch triều hiến chương loại chí, so với Vân đài loại ngữ hơn hẳn về mặt phân loại
và hệ thống hóa Ở lĩnh vực khoa học có tính chất thực hành, danh y Lê Hữu Trác
đã đúc kết lí thuyết và kinh nghiệm chữa bệnh của Trung Quốc, kết hợp với phương
pháp chữa bệnh gia truyền của nhân dân ta, trong bộ sách Hải Thượng y tông tâm
lĩnh đồ sộ gồm tất cả 66 quyển…
Nói chung, sáng tác văn học ra đời trong một bối cảnh tôn giáo không còn vai trò độc tôn, tinh thần duy vật khoa học chừng mực có phát triển, thì không thể tiếp tục giáo huấn suông được, mà phải tăng cường chức năng nhận thức của văn
học Văn học phải nhận thức cuộc sống và phản ánh cuộc sống Đó là sự chuyển
biến cơ bản về phương diện khái quát hóa nghệ thuật trong văn học giai đoạn này
Sự chuyển biến đó từ Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, sau đó với Cung oán
ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái,
đến Sơ kính tân trang của Phạm Thái, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Hoa tiên của
Nguyễn Huy Tự, thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, thơ chữ Hán của Cao Bá Quát,…thì sự chuyển biến ấy ngày càng được biểu hiện một cách cụ thể Có thể thấy, nếu không tận mắt chứng kiến những cuộc chiến tranh và nỗi sầu khổ triền miên của những người chinh phụ trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ thì Đặng Trần
Côn có đâu cảm xúc để viết Chinh phụ ngâm Tiếng thơ Nguyễn Gia Thiều đem lại
Trang 34cho người đọc qua Cung oán ngâm khúc ngoài sự bất mãn có tính chất cá nhân, còn
là sự bất công và đổ vỡ của một thực tế xã hội mà ông từng chứng kiến “Mười năm gió bụi” sống nhờ ở quê vợ Thái Bình và những năm trở về quê cha sống “dưới chân Hồng Lĩnh” của Nguyễn Du là những năm tháng gắn liền với những biến động lớn lao của xã hội đã đẩy ông ra với gió bụi và bão táp cuộc đời, khiến ông phải sống những năm tháng gian lao vất vả, phong trần Thế nhưng, nếu không có những năm tháng làm chứng nhân của lịch sử ấy, Nguyễn Du không thể có được
những câu thơ tựa như chảy ra từ máu và nước mắt của ông trong Truyện Kiều, bắt
nguồn từ “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”… Tuy nhiên, do thế giới quan của các nhà văn, nhà thơ giai đoạn này còn có những mặt duy tâm thần bí, do chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng chính thống và sự tác động của quan niệm thẩm mĩ phong kiến, nên khả năng nhận thức trong văn học còn bị hạn chế, hình thức phản ánh chưa phải đã phong phú, đa dạng Các nhà thơ, nhà văn mới nêu lên được cái cốt lõi chứ chưa nêu được cái đa dạng, phong phú của vấn đề Vì thế, qua văn học giai đoạn này, thật khó mà hình dung cuộc sống xã hội Việt Nam với những chi tiết phong phú, sinh động
Ngoài sự chuyển biến trên, các nhà thơ giai đoạn này còn quan niệm thơ phải biểu hiện tình cảm, phải có cảm xúc Lê Quí Đôn (1726 - 1784) chủ trương làm thơ phải chú trọng đến ba phương diện là tình, cảnh và sự Bùi Dương Lịch (1757 - 1828) thì cho rằng thơ do tình phát ra, và cái thần lưu động trong cái tình Thật ra, quan niệm thơ biểu hiện tình cảm, cảm xúc chưa thể hiện việc đề cao chức năng nhận thức trong sáng tác văn học Tuy vậy, so với quan niệm “thi ngôn chí” hay “văn dĩ tải đạo” thì nó vẫn gần gũi với chức năng nhận thức của văn học hơn Bởi lẽ, tình cảm hay cảm xúc của con người, suy cho cùng, chỉ có thể nảy sinh trên
cơ sở tiếp xúc với cuộc sống
1.4.2 Tính cao nhã, qui phạm, công thức; tính ƣớc lệ, tƣợng trƣng
Cũng như các giai đoạn văn học trước, giai đoạn này người ta đề cao thơ hơn văn xuôi và thơ phát triển hơn văn xuôi Điều này cũng không ngoài quan niệm thẩm mĩ phong kiến Đi liền với quan niệm ấy là tính chất cao nhã trong văn học
Người xưa cho rằng: “Con Người (được đúc bằng bạc) của hoa ngũ hành, nó thực
sự là tâm của Đất và Trời Khi tâm sinh ra thì lời nói xuất hiện, mà lời xuất hiện thì văn trở nên thấy rõ Đó là Đạo tự nhiên!” (Lưu Hiệp – Văn tâm điêu long Dẫn
theo I.S Lisevich, 1993, tr 29) Bầu trời có văn chương của bầu trời, mặt đất có
văn chương của mặt đất Đến cây cỏ, chim muông cũng có văn của nó: “Hãy nhìn
ra chung quanh nơi vô vàn sinh thể cả cầm thú lẫn cỏ cây đều có hoa văn Rồng và Phượng là ngọn cờ lành của màu sắc lộng lẫy Hổ và Báo thì được nhận ra theo đốm và văn Có khi một áng mây chiều như chế nhạo cái khéo của người thợ vẽ, còn sự pha màu thanh thoát của cây cỏ chẳng cần đến cái lạ của thợ dệt thêu Lẽ nào đó chỉ là sự điểm tô bên ngoài – không, đó là bản tính của chúng (…) Nếu các vật vô tri cũng có được vẻ đẹp đến độ ấy lẽ nào chúng lại không có văn như người, nơi trú ngụ của tâm?!” (Dẫn theo I.S Lisevich, 1993, tr 30) Với quan niệm đó,
văn chương thời xưa được xem là vẻ đẹp, vật quí, cái đạo của cả trời đất, chứ không chỉ của riêng con người Sáng tác văn chương cũng có lúc để tiêu khiển, thù tạc,
nhưng mục đích trọng đại là để giáo hóa người đời Phan Kế Bính trong Việt Hán
văn khảo có viết: “Văn chương chẳng những là một nghề chơi thanh nhã để di dưỡng tính tình mà thôi, mà có thể cảm động được lòng người, di dịch được phong tục, chuyển biến được cuộc đời, cái công hiệu về đường giáo hóa lại càng to lớn lắm” (Dẫn theo Lê Trí Viễn, 1997, tr 25-26) Mục đích của văn học cao nhã như
Trang 35vậy, nên cách nhận thức và phản ánh cuộc sống trong văn học giai đoạn này cũng
có những nét khác, chưa thể thoát khỏi tính qui phạm, công thức, tính ước lệ, tượng trưng
Qui phạm được hiểu là khuôn phép, từ quan niệm văn chương cho đến việc lựa chọn đề tài, thể loại, ngôn ngữ, kết cấu, cách sử dụng điển cố, điển tích,… Làm thơ thì có các đề tài: cảm, thuật, hoài, tặng, đề, tán, tiễn, tống, biệt, hứng, vịnh, ngâm, tức, điếu, vãn,… Viết văn xuôi thì thường xoay quanh những vấn đề thuộc việc lớn của nước nhà hay những hiện tượng kì lạ trong dân gian, những nhân vật, anh hùng có công lớn với đất nước Truyện Nôm bình dân lẫn bác học lấy đề tài trong truyền thuyết, truyện cổ tích dân gian hay mượn của nước ngoài Chọn thể ngâm/ngâm khúc với những câu thơ song thất lục bát phù hợp để diễn tả nỗi sầu muộn thiết tha Viết về cuộc chiến tranh phong kiến chẳng hạn, có hàng trăm cách miêu tả, nhưng các tác giả của văn học giai đoạn này chỉ chọn cách miêu tả nỗi lòng của người chinh phụ, rồi đến tâm sự của người chinh phu Đề tài về nỗi khổ của người cung nữ cũng qui tụ nhiều tác giả với nhiều tác phẩm ra đời có cái tên na
ná giống nhau như Cung oán ngâm, Cung oán thi, Cung oán thi tập,… Tính cách
của những nhân vật cùng tầng lớp, giai cấp có được nhà thơ, nhà văn chú ý khắc họa nhưng chưa rõ nét sự khác nhau giữa người này với người khác Kim Trọng và Thúc Sinh không xuất thân cùng một môi trường xã hội, nhưng vì Thúc Sinh có đi học, nên Nguyễn Du cũng xếp vào loại “thư sinh”, cũng mặc chiếc áo xanh “văn nhân”, cũng biết làm thơ! Văn nhân là vậy, còn anh hùng thì thế nào cũng phải có
thanh gươm hay ngọn giáo Người chinh phu trong Chinh phụ ngâm: “Chỉ ngang
ngọn giáo vào ngàn hang beo” Từ Hải trong Truyện Kiều thì: “Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo” Miêu tả vẻ đẹp của người phụ nữ phải hài hòa cả tài
(cầm, kì, thi, họa) lẫn sắc, tài thì tuyệt đỉnh và sắc thì tuyệt trần: Kiều càng sắc sảo
mặn mà/So bề tài sắc lại là phần hơn; Thông minh vốn sẵn tính trời/Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm…
Tính chất ước lệ trong phản ánh hiện thực của văn học giai đoan này không loại trừ việc nhà văn dùng chữ Hán để sáng tác Bên cạnh tiếng mẹ đẻ được dùng một cách phổ biến, quan niệm cho chữ Hán mới là cao nhã, còn chữ Nôm dù sao vẫn là “nôm na mách qué” không phải không còn Thậm chí, khá nhiều trường hợp chữ Nôm được dùng trong tác phẩm chưa phải là thứ ngôn ngữ hằng ngày, chưa phải là lời ăn tiếng nói của quần chúng, mà là thứ ngôn ngữ “cao quí” pha trộn nhiều từ Hán Việt, nhiều điển cố, điển tích, nhiều cách nói cầu kì, kiểu cách…
Mặc dù vậy, xu hướng vượt thoát khỏi tính cao nhã, qui phạm, công thức, tính ước lệ, tượng trưng để văn chương trở nên gần gũi với cuộc sống, đáp ứng yêu cầu của đời sống đã có những chuyển biến nhất định qua thời gian, cũng như qua các thể loại Trong thơ Hồ Xuân Hương, hệ thống đề tài không chung chung mà đã khá cụ thể, có những đề tài lấy từ cảnh ngộ riêng của nhà thơ Ngôn ngữ thơ Hồ
Xuân Hương chịu ảnh hưởng nhiều của ca dao, tục ngữ Hoàng Lê nhất thống chí
đã phản ánh khá chân thực một hiện thực lịch sử - xã hội có qui mô rộng lớn về không gian và thời gian với nhiều chi tiết chân thực, sinh động Bên cạnh những chỗ ghi chép sự kiện, sự việc như một tác phẩm biên niên sử, các tác giả Ngô gia văn phái đã bước đầu xây dựng được những nhân vật có cá tính, tính cách, thỏa mãn phần nào khoái cảm thẩm mĩ ở người đọc Nhiều bài thơ chữ Hán của Nguyễn
Du, Cao Bá Quát đã được viết ra từ một bút pháp hiện thực sắc sảo với nhiều chi tiết sinh động, có tính chất cá thể hóa rõ nét…
Trang 36Tóm lại, văn học từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX tuy đề cao nhận thức, nhưng do những đặc điểm nêu trên, giá trị nhận thức, phản ánh trong văn học còn bị hạn chế Nhiều tác phẩm đã cho thấy xu hướng vượt thoát khỏi tính cao nhã, qui phạm, công thức, tính ước lệ, tượng trưng để văn học dần dần trở nên gần gũi với cuộc sống, đáp ứng yêu cầu của đời sống Tuy vậy, văn học chưa phải đã nhận thức cuộc sống bằng chính hình thức của bản thân đời sống Đây cũng là kết luận chung về đặc điểm của vấn đề khái quát hóa nghệ thuật trong văn học Việt Nam giai đoạn này
CÂU HỎI ÔN TẬP, ĐỀ TÀI THẢO LUẬN, THỰC HÀNH
1 Vì sao văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX phát triển rực rỡ ? Mô tả diện mạo của văn học giai đoạn này
2 Nội dung và đặc điểm của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học Việt Nam giai đoạn từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX
3 Những biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo qua một số tác phẩm Nôm tiêu biểu của giai đoạn văn học từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX
4 “Nhu cầu giải phóng tình cảm không những gắn liền với đề tài tình yêu,
mà còn gắn liền với sự xuất hiện của hình ảnh người phụ nữ trong văn học Chưa bao giờ văn học lại nói nhiều về phụ nữ như giai đoạn này Hình ảnh người phụ nữ
là hình ảnh thành công nhất trong văn học nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX” (Nguyễn Lộc, 2005, tr 70)
Anh/chị hãy phân tích và chứng minh nhận định trên
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
Duy Phi (Biên soạn – Dịch thơ) (2003) 249 bài thơ chữ Hán Nguyễn Du Hà Nội:
Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc
Đào Duy Anh (2013) Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX Hà Nội: Nhà
xuất bản Khoa học xã hội
Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên & Phạm Luận (1999) Văn học Việt Nam nửa
cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục
Đoàn Thị Điểm (2001) Truyền kỳ tân phả Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học
Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu & Trần Hữu Tá (Chủ biên)
(2004) Từ điển văn học bộ mới Hà Nội: Nhà xuất bản Thế giới
Hải Thượng Lãn Ông (1993) Thượng Kinh ký sự Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học Lại Nguyên Ân & Bùi Văn Trọng Cường (2001) Từ điển Văn học Việt Nam từ
nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà
Nội
Lênin (1960) Bàn về văn học nghệ thuật Hà Nội: Nhà xuất bản Sự thật
Lê Trí Viễn (1996) Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam Hà Nội: Nhà xuất bản
Khoa học xã hội
Lê Trí Viễn (1997) Văn học trung đại Việt Nam (Giáo trình lưu hành nội bộ)
Thành phố Hồ Chí Minh: Trường Đại học Sư phạm
Trang 37Lisevich, I.S (1993) Tư tưởng văn học Trung Quốc cổ xưa Thành phố Hồ Chí
Minh: Trường Đại học Sư phạm
Nguyễn Lộc (2005) Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ
XIX) Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục
Nhiều tác giả (1963) Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (Tập II) Hà Nội: Nhà xuất bản
Văn hóa
Niculin, N I (2006) Dòng chảy văn hóa Việt Nam (Hồ Sĩ Vịnh & Nguyễn Hữu
Sơn, Tuyển chọn và giới thiệu) Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin
Phạm Đình Hổ (2001) Vũ trung tùy bút Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học
Phạm Đình Hổ & Nguyễn Án (2001) Tang thương ngẫu lục Hà Nội: Nhà xuất
bản Văn học
Quỳnh Cư & Đỗ Đức Hùng (1995) Các triều đại Việt Nam Hà Nội: Nhà xuất bản
Thanh niên
Trần Đình Sử (2005) Thi pháp văn học trung đại Việt Nam Hà Nội: Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 38CHƯƠNG 2 CHINH PHỤ NGÂM
MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
Sinh viên cần:
- Nắm được những vấn đề về tác giả, dịch giả, đề tài, hoàn cảnh sáng tác,
giá trị nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của tác phẩm Chinh phụ ngâm
- Rèn luyện khả năng phân tích những sắc thái đa dạng, phong phú của thế giới tâm trạng, tình cảm nhân vật được thể hiện qua bản dịch với thể ngâm và ngôn ngữ nghệ thuật ở trình độ kiệt tác
- Phản đối chiến tranh phi nghĩa; thông cảm với cuộc sống của những người phụ nữ có chồng, con tham gia vào cuộc chiến; có thái độ đúng mực trong việc tiếp thu văn học nước ngoài và sáng tạo cho phù hợp với tâm hồn, tình cảm dân tộc
NỘI DUNG CHƯƠNG
2.1 TÁC GIẢ, DỊCH GIẢ, ĐỀ TÀI, HOÀN CẢNH SÁNG TÁC
2.1.1 Tác giả, dịch giả
2.1.1.1 Tác giả
Người viết Chinh phụ ngâm bằng Hán văn là Đặng Trần Côn (không có
nghi vấn gì) Cho đến nay, những hiểu biết của chúng ta về Đặng Trần Côn còn rất
sơ sài Phạm Đình Hổ, người giới thiệu tương đối nhiều hơn cả về Đặng Trần Côn
so với các tác giả quá khứ khác, trong Tang thương ngẫu lục có ghi : “Ông người
làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, bạn của đấng Tiên quan tôi xưa Tính thích rượu, đềnh đoàng phóng túng Trong khoảng trường ốc, văn chương ông tiếng lừng thiên hạ Bấy giờ, chúa Uy Vương bị bệnh, phải dời đến ở cung Thưởng Liên Kinh thành tối đến cấm lửa rất ngặt Ông đào hầm ở dưới đất đọc sách, không bõ bể lúc nào” (Phạm Đình Hổ & Nguyễn Án, 2001, tr 157) Ông thi đậu hương cống và
hỏng kì thi hội Ông nhận chức Huấn đạo ở một trường phủ, sau đổi sang chính thức làm Tri huyện Thanh Oai, nay thuộc Hà Tây Sau cùng, ông cũng chỉ làm đến chức Ngự sử đài chiếu khán rồi mất
Về sáng tác, ngoài Chinh phụ ngâm mà theo Phạm Đình Hổ “khúc ngâm ấy
người ta sao chép, truyền sang đến hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc”, ông còn là tác giả của một loạt bài thơ đề tranh tám cảnh đẹp ở Tiêu Tương
(Tiêu Tương bát cảnh), một số bài phú không có nội dung thiết thực Cũng theo tác giả Tang thương ngẫu lục, Đặng Trần Côn còn “có cuốn tiểu thuyết Bích Câu kì
ngộ lưu hành ở đời” (Phạm Đình Hổ & Nguyễn Án, 2001, tr 162) Trong Chinh phụ ngâm bị khảo, Hoàng Xuân Hãn nói ông có thể là tác giả của những truyện Tùng bách thuyết thoại (Kể chuyện tùng bách), Long hổ đấu kì (Rồng hổ đấu phép
lạ) và Khuyển miêu đối thoại (Chó mèo nói chuyện), tất cả đều viết bằng chữ Hán
Trang 39phụ ngâm bị khảo có đề cập ở trên, đã phát hiện ra nhiều bản dịch trong đó có bản
của Đoàn Thị Điểm, đồng thời khẳng định bản dịch hiện hành là của Phan Huy Ích Căn cứ vào tiếng Việt lịch sử cùng những cứ liệu khác, đến nay nhiều nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận bản dịch hiện hành là của Phan Huy Ích Đoàn Thị Điểm
được khẳng định là người đầu tiên dịch Chinh phụ ngâm ra chữ Nôm và bản dịch
của bà có một ảnh hưởng thật sự trong sự phát triển của văn học chữ Nôm lúc bấy giờ
2.1.2 Đề tài
Hiện thực chiến tranh từ lâu đã là đề tài của nhiều nền văn học trên thế giới
Văn học Trung Quốc đời Hán, đời Đường đều có viết (như “Thập ngũ tòng quân
chinh”, “Chiến thành Nam”, – dân ca Nhạc phủ đời Hán; thơ biên tái của Sầm
Than, Vương Xương Linh, Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Trần Đào, Vương Hàn, ) Đề tài chiến tranh bao giờ cũng gắn liền với những vấn đề khác như: tình yêu, lòng chung thủy, sự mong mỏi đợi chờ, niềm hạnh phúc, hi sinh, Trong văn học quá khứ của Việt Nam, những tác phẩm viết về chiến tranh chính nghĩa, như chiến tranh chống ngoại xâm bảo vệ dân tộc hay chiến tranh của nông dân chống ách bạo tàn của nhà nước phong kiến, thường rất hào hùng, hừng hực một khí thế chiến đấu Còn nói chung, những tác phẩm viết về những cuộc chiến tranh phi nghĩa, về những sự xâu xé tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến, hay chiến tranh phong kiến đàn áp các phong trào nông dân khởi nghĩa, thì trong văn học dân gian cũng như trong văn chương bác học thường cất lên tiếng nói oán trách, than thở Trong đó, không ít những lời than thở của người chinh phụ Thời Lê
Thánh Tông có bài Chinh phụ ngâm của Thái Thuận, một trong “Nhị thập bát tú”
của Hội Tao Đàn, là một thí dụ Như vậy, đề tài về người chinh phụ không mới, nhiều người đã viết và viết thật hay Đặng Trần Côn khi đi vào đề tài này để viết
Chinh phụ ngâm, ông đã viết trên cái nền hiện thực cuộc sống đương thời trước
mắt, để không lặp lại những gì người khác đã viết, và ông đã có được cống hiến xuất sắc
2.1.3 Hoàn cảnh sáng tác
Đặng Trần Côn sáng tác Chinh phụ ngâm vào thời gian nào? Trong Lịch
triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú có viết: “Chinh phụ ngâm, 1 quyển, Hương cống Đặng Trần Côn soạn Vì đầu đời Cảnh Hưng có việc binh đao, cảnh biệt li của người đi chinh thú khiến ông cảm xúc mà làm”(Dẫn theo Nguyễn Lộc,
2005, tr 144) “Đầu đời Cảnh Hưng” là năm 1740 “Việc binh đao” ở đây chỉ
phong trào khởi nghĩa nông dân nổi lên rầm rộ khắp nơi lúc bấy giờ Việt sử thông
giám cương mục đã có ghi chép về tình hình rối loạn của xã hội phong kiến lúc đó
như sau: “Đời vua Lê Ý Tôn (1735 – 1740) trong lúc Trịnh Giang cầm quyền, chính
sự hư hỏng, thuế khoá nặng nề, lòng người ước ao sự loạn lạc”; “ở Ninh xá là Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, ở Mộ Trạch là Ngô Trác Oánh, ở Sơn Nam là Hoàng Công Chất, tốp to tốp nhỏ nổi lên khắp nơi, khởi binh xưng vị hiệu ”; sách cũng
chép việc giai cấp phong kiến phải đối phó với tình hình nghiêm trọng bằng những
biện pháp khẩn trương như “hạ lệnh cho các lộ như Sơn Tây, Thanh Hoá đều phải
đặt những đồn hoả hiệu trên các đỉnh núi, cùng dân sở tại ngày đêm canh giữ, hễ
có biến động là đốt lửa báo hiệu”(Dẫn theo Lê Trí Viễn, Phan Côn, Đặng Thanh
Lê, Phạm Văn Luận & Lê Hoài Nam, 1976, tr 45) Chúng ta lại biết thêm Đoàn Thị
Điểm dịch Chinh phụ ngâm vào khoảng từ năm 1742 – 1744 là những năm chồng
bà đi sứ Trung Quốc Ông Hoàng Xuân Hãn trong Chinh phụ ngâm bị khảo (Theo
Trang 40Nguyễn Lộc, 2005, tr 143-144) có căn cứ vào một bức thư của Phan Kính (sinh
năm 1715) mời Đặng Trần Côn tới thưởng xuân, và căn cứ vào việc sách Tang
thương ngẫu lục có chép Đặng Trần Côn bị Đoàn Thị Điểm (sinh năm 1705) chê là
trẻ con, mà ước đoán ông “sinh vào khoảng 1710 – 1720” và mất vào khoảng năm
1745, “thọ chưa đến 40 tuổi”, đồng thời ông còn tính Đặng Trần Côn viết Chinh
phụ ngâm vào khoảng những năm 1741 – 1742 Kết hợp với ý kiến của các nhà
nghiên cứu khác, có thể đoán Chinh phụ ngâm được sáng tác trong khoảng thời
gian 1740 – 1742
Như vậy, tác phẩm đã in dấu ấn của thời đại nông dân khởi nghĩa và chiến tranh phi nghĩa của chính quyền Lê - Trịnh đàn áp những cuộc nổi dậy của quần chúng nông dân lúc bấy giờ
2.2 CHINH PHỤ NGÂM VỚI VẤN ĐỀ CHIẾN TRANH VÀ HẠNH PHÚC
Chinh phụ ngâm là khúc ngâm của người chinh phụ, là lời than thở của một
người phụ nữ có chồng ra chiến trường Vấn đề trung tâm đặt ra trong toàn bộ khúc ngâm là mâu thuẫn giữa chiến tranh với cuộc sống con người, với hạnh phúc của lứa đôi, của tuổi trẻ Những tình tiết cấu tạo nên toàn bộ khúc ngâm là nỗi niềm lo
âu, sầu muộn, thở than, oán trách, sợ hãi, trông đợi, của một người vợ trẻ đầm đìa nước mắt, hằng ngày “thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây”, luôn phóng tầm mắt đến một phương trời xa thẳm trông ngóng tin chồng
Mâu thuẫn ấy tác giả đặt ra ngay từ những dòng đầu và kéo dài trong suốt tác phẩm, nhưng lại kết thúc bằng một ước mơ hoàn toàn chủ quan Nỗi truân chuyên của người chinh phụ chỉ chồng chất thêm, chứ không thay đổi Câu hỏi da
diết đặt ra trong phần mở đầu tác phẩm: “Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?” vẫn cứ
lơ lửng, ám ảnh người đọc như một nỗi niềm đau xót chưa được giải quyết!
Khúc ngâm đã thực sự gieo vào lòng người đọc nỗi chán ghét, oán giận những cuộc chiến tranh phi nghĩa nhằm bảo vệ quyền lợi ích kỉ của giai cấp thống trị Qua tâm trạng của nhân vật trữ tình - người chinh phụ - chúng ta sẽ thấy được cách nhìn nhận của nàng đối với chiến tranh phong kiến Đó cũng là cách nhìn nhận của nhà thơ trước thực tại
2.2.1 Chiến tranh và hình ảnh người chinh phu
Chinh phụ ngâm mở ra bằng khung cảnh náo động của những ngày đầu
chiến tranh, khói lửa mịt mù, tiếng trống Tràng Thành giục giã, tiếng hịch truyền
nửa đêm định ngày xuất chinh “Nước thanh bình ba trăm năm cũ” không còn nữa
Người chinh phu xuất hiện như một chàng dũng sĩ có đủ sức mạnh để xoay chuyển
thời thế Đó là một “Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt”, nghĩa là thuộc tầng lớp quí tộc Đất nước có chiến tranh, theo tiếng giục của “sứ trời”, chàng xếp bút nghiên, từ giã vợ con, lên đường chiến đấu, xem “Phép công là trọng niềm tây sá gì”
Hình ảnh người chinh phu đẹp đẽ, uy nghi tựa như một trang dũng tướng, nổi bật giữa đoàn quân:
Áo chàng đỏ tựa ráng pha, Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
với quyết tâm ra đi, với khí thế hùng dũng, sẵn sàng ngã xuống nơi chiến địa:
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,