Nội dung các chương xoay quanh các vấn đề về môi trường đầu tư chứng khoán; phân loại và định giá chứng khoán; cơ chế hoạt động của thị trường chứng khoán và các phương thức giao dịch ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
GIÁO TRÌNH PHÂN TÍCH VÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
TS ĐẶNG HÙNG VŨ ThS NGUYỄN THỊ KIM ANH
AN GIANG, 07-2018
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
GIÁO TRÌNH PHÂN TÍCH VÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
TS ĐẶNG HÙNG VŨ ThS NGUYỄN THỊ KIM ANH
AN GIANG, 07-2018
Trang 5Giáo trình “Phân tích và đầu tư chứng khoán” do tác giả Đặng Hùng Vũ
và Nguyễn Thị Kim Anh công tác tại Khoa Kinh tế-Quản trị Kinh doanh thực hiện Tác giả đã báo cáo nội dung ngày 02/03/2018, và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày …
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Trang bị kiến thức về chứng khoán và đầu tư chứng khoán cho sinh viên bậc cao đẳng và đại học trong các ngành học về kinh doanh và quản lý rất cần thiết đối với các trường đại học nói chung và trong Khoa Kinh tế-QTKD của Trường Đại học An Giang nói riêng Thị trường chứng khoán là học phần thuộc khối kiến thức chuyên ngành của các chương trình đào tạo cử nhân Tài chính-Ngân hàng và Kế toán của Khoa Kinh tế-QTKD Giáo trình Phân tích và đầu tư chứng khoán được biên soạn nhằm đáp ứng như cầu giảng dạy và học tập học phần Thị trường chứng khoán của sinh viên Khoa Kinh tế-QTKD
Giáo trình được biên soạn trước hết dành cho sinh viên các ngành đào tạo cao đẳng
và đại học của Khoa Kinh tế - QTKD, Trường Đại học An Giang Sinh viên cần được trang bị kiến thức căn bản về môi trường đầu tư chứng khoán, hoạt động của thị trường chứng khoán, phân tích và đầu tư chứng khoán Một mặt, giáo trình đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên cao đẳng và đại học khối ngành kinh tế và kinh doanh Sinh viên ngành Tài chính-Ngân hàng cần những kiến thức căn bản này để nghiên cứu sâu hơn các lý thuyết về phân tích và định giá chứng khoán sau này Bên cạnh đó, giáo trình này thích hợp làm tài liệu tham khảo cho những người làm kinh doanh, sinh viên các ngành không thuộc khối kinh doanh và quản lý có mong muốn tìm hiểu
về chứng khoán và đầu tư chứng khoán
Giáo trình được viết lại từ tài liệu giảng dạy môn Thị trường chứng khoán do Ths Đặng Hùng Vũ viết từ tháng 6/2007 Giáo trình cập nhật những thông tin mới về thị trường chứng khoán thế giới và Việt Nam, các nội dung và quy định mới về môi trường đầu tư, các nghiệp vụ chứng khoán Giáo trình được bố trí thuận tiện để người đọc tiếp thu thông tin và kiến thức Ngoài ra, giáo trình được bổ sung bài tập để sinh viên thực hành và ôn tập các nội dung nghiên cứu
Giáo trình chia thành 6 chương Nội dung các chương xoay quanh các vấn đề về môi trường đầu tư chứng khoán; phân loại và định giá chứng khoán; cơ chế hoạt động của thị trường chứng khoán và các phương thức giao dịch chứng chứng khoán; phân tích phát hành chứng khoán của công ty cổ phần; phân tích chứng khoán; các hình thức
và chiến lược đầu tư chứng khoán
Trang 7Tài liệu này giúp sinh viên và độc giả dễ dàng tiếp thu kiến thức về đầu tư chứng khoán Trong quá trình biên soạn, chắc chắn tác giả sẽ có những sai sót Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý độc giả để giáo trình được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn mọi ý kiến đóng góp của bạn đọc
An Giang, tháng 07/2018
Nhóm tác giả
TS Đặng Hùng Vũ (Chủ biên) Email: dhvu@agu.edu.vn
Ths Nguyễn Thị Kim Anh Email: ntkanh@agu.edu.vn
Trang 9MỤC LỤC
MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 1
CHƯƠNG 1: 1.1 THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 1
1.2 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 4
1.2.1 Khái niệm thị trường chứng khoán 4
1.2.2 Cấu trúc của thị trường chứng khoán 4
1.2.3 Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán 6
1.2.4 Những hành vi tiêu cực trên thị trường chứng khoán 7
1.3 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THẾ GIỚI 7
1.3.1 Thị trường chứng khoán Châu Âu 7
1.3.2 Thị trường chứng khoán Hoa Kỳ 8
1.3.3 Thị trường chứng khoán Nhật Bản 9
1.4 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 10
1.4.1 Quá trình hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam 10
1.4.2 Cơ chế điều hành và giám sát thị trường chứng khoán Việt Nam 12
1.5 CÂU HỎI ÔN TẬP 14
CHỨNG KHOÁN VÀ ĐỊNH GIÁ CHỨNG KHOÁN 15
CHƯƠNG 2: 2.1 TRÁI PHIẾU 15
2.1.1 Khái niệm 15
2.1.2 Đặc điểm các loại trái phiếu 15
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng giá trái phiếu 16
2.1.4 Chỉ báo trên thị trường trái phiếu 17
2.1.5 Định giá trái phiếu 17
2.1.6 Lãi suất và lợi suất trái phiếu 20
2.1.7 Mối quan hệ giữa giá trái phiếu và các yếu tố lãi suất, thời hạn và suất chiết khấu 21
2.2 CỔ PHIẾU 23
2.2.1 Khái niệm 23
2.2.2 Đặc điểm các loại cổ phần/cổ phiếu 23
2.2.3 Các loại giá cổ phiếu 25
2.2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu 26
2.2.5 Định giá cổ phiếu 26
2.3 CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH 32
2.3.1 Hợp đồng kỳ hạn (Forward) 32
2.3.2 Hợp đồng tương lai (Futures) 33
2.3.3 Quyền chọn (Option) 35
2.3.4 Chứng quyền (Warrant) 37
2.3.5 Quyền mua cổ phần (Right) 39
2.4 CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 40
MUA BÁN CHỨNG KHOÁN 42
CHƯƠNG 3: 3.1 NIÊM YẾT CHỨNG KHOÁN 42
Trang 103.1.1 Hệ thống niêm yết 42
3.1.2 Các hình thức niêm yết 42
3.1.3 Thông tin thị trường 43
3.1.4 Công bố thông tin 44
3.1.5 Thành viên sở giao dịch chứng khoán 44
3.2 CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 45
3.2.1 Hệ thống giao dịch 45
3.2.2 Phương thức giao dịch 46
3.2.3 Lệnh mua bán chứng khoán 48
3.2.4 Hệ thống đăng ký chứng khoán 50
3.2.5 Hệ thống lưu ký chứng khoán 50
3.2.6 Hệ thống thanh toán bù trừ 51
3.2.7 Hệ thống giám sát thị trường 52
3.3 CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 52
3.4 GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN 54
3.4.1 Mua bán với các nhà buôn chứng khoán 54
3.4.2 Mua bán trên hệ thống mạng điện tử và thị trường của các chuyên gia 55
3.4.3 Giao dịch chứng khoán phái sinh 55
3.4.4 Giao dịch ký quỹ 55
3.5 Chi phí giao dịch 56
3.6 CHỈ SỐ CHỨNG KHOÁN 57
3.7 GIÁ CỔ PHẦN TRONG NHỮNG NGÀY GIAO DỊCH ĐẶC BIỆT 59
3.7.1 Trả cổ tức, chia lãi bằng tiền 60
3.7.2 Trả cổ tức, chia lãi, phát thưởng bằng cổ phiếu 60
3.7.3 Phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn kèm quyền mua cổ phần 61
3.8 CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 63
PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN CÔNG TY 64
CHƯƠNG 4: 4.1 TÌNH HUỐNG MỞ ĐẦU 64
4.1.1 Lịch sử hình thành Vinamilk 64
4.1.2 Cổ phần hóa Vinamilk và những vấn đề phát sinh 65
4.1.3 Phát hành chứng khoán Vinamilk 67
4.1.4 Bán thoái vốn cổ phần Vinamilk do nhà nước nắm giữ 68
4.1.5 Kinh nghiệm thành công của Vinamilk 70
4.2 PHƯƠNG ÁN PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN 71
4.3 ĐIỀU KIỆN PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN 73
4.4 THỦ TỤC PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN 73
4.5 MARKETING PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN 74
4.6 CHI PHÍ PHÁT HÀNH 77
4.7 PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN QUỐC TẾ 77
4.8 TÁCH, GỘP CỔ PHẦN 78
4.9 CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 79
Trang 11PHÂN TÍCH CHỨNG KHOÁN 81
CHƯƠNG 5: 5.1 PHÂN TÍCH CƠ BẢN 81
5.1.1 Phân tích kinh tế vĩ mô và ngành kinh tế 81
5.1.2 Phân tích doanh nghiệp 85
5.2 PHÂN TÍCH KỸ THUẬT 93
5.2.1 Các loại biểu đồ 93
5.2.2 Sử dụng biểu đồ trong phân tích chứng khoán 96
5.2.3 Một số mô hình trong dự báo giá chứng khoán 97
5.2.4 Các chỉ tiêu dự báo trong phân tích kỹ thuật 101
5.3 TÌNH HUỐNG PHÂN TÍCH CỔ PHIẾU 104
5.4 CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 110
ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 112
CHƯƠNG 6: 6.1 CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 112
6.1.1 Tự đầu tư 112
6.1.2 Đầu tư qua môi giới của công ty chứng khoán 113
6.1.3 Đầu tư qua nhà tư vấn nổi tiếng 113
6.1.4 Đầu tư vào quỹ đầu tư 113
6.2 CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ 115
6.2.1 Mua và giữ - Buy and Hold 115
6.2.2 Chiến lược trung bình chi phí - Dollar-cost Averaging 115
6.2.3 Chiến lược đầu tư một lượng tiền cố định - Constant dollar plan 116
6.2.4 Chiến lược đầu tư tỷ lệ cố định - Constant ratio plan 117
6.2.5 Chiến lược vay mua cổ phiếu - Buying stock on margin 117
6.2.6 Chiến lược bán khống - Selling short 117
6.3 DANH MỤC ĐẦU TƯ 118
6.3.1 Xây dựng danh mục đầu tư 118
6.3.2 Quản lý danh mục đầu tư 121
6.3.3 Lợi nhuận và rủi ro danh mục đầu tư 122
6.3.4 Danh mục đầu tư tối ưu theo lý thuyết Markowitz 127
6.4 CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 131
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Mô hình kinh doanh của JPX 10
Hình 2: Giá trái phiếu kỳ hạn 5 năm và 20 năm (F = $1000, i = 8%) ở những mức chiết khấu khác nhau 19
Hình 3: Mối quan hệ giữa suất chiết khấu và mức tín nhiệm của trái phiếu 20
Hình 4: Giá trái phiếu (F = $ 1.000, i = 7%) ở các mức chiết khấu khác nhau và trong các trường hợp thời gian đáo hạn khác nhau 22
Hình 5: Quy trình giao dịch chứng khoán niêm yết 45
Hình 6: Sự thay đổi vốn điều lệ của Vinamilk giai đoạn 2003-2016 67
Hình 7: Cơ cấu sở hữu vốn của Vinamilk tháng 11/2017 70
Hình 8: Các hình thức phát hành cổ phiếu 72
Hình 9: Biểu đồ thanh giá cổ phiếu AT&T Inc (NYSE) 94
Hình 10: Biểu đồ nến giá cổ phiếu AT&T Inc (NYSE) 95
Hình 11: Biểu đồ điểm và số với các dấu hiệu bán, mua 96
Hình 12: Đường kháng cự và đường chống đỡ 97
Hình 13: Mô hình đầu và vai (Sincere, 2004) 98
Hình 14: Mô hình đầu và vai ngược (Sincere, 2004) 99
Hình 15: Mô hình song đỉnh (Sincere, 2004) 99
Hình 16: Mô hình song đáy (Sincere, 2004) 100
Hình 17: Dải Bollinger với kỳ tính bình quân 20 ngày và biên độ dao động là 2 lần độ lệch chuẩn 103
Hình 18: Biểu đồ giá cổ phần VNM từ tháng 7/2017 đến tháng 4/2018 109
Hình 19: Danh mục đầu tư thận trọng 120
Hình 20: Danh mục năng động trung bình 121
Hình 21: Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và rủi ro danh mục 125
Hình 22: Đường hiệu quả của hai cổ phiếu 128
Trang 13DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Cổ phiếu lưu hành và mức vốn hóa thị trường NYSE 2017 9
Bảng 2: Giá trái phiếu (F = $ 1.000, i = 7%) ở các mức chiết khấu khác nhau và trong các trường hợp thời gian đáo hạn khác nhau 22
Bảng 3: Sổ lệnh giao dịch khớp lệnh định kỳ cổ phần ABC 47
Bảng 4: Sổ lệnh giao dịch khớp lệnh liên tục cổ phần XYZ 48
Bảng 5: Thay đổi vốn của Vinamilk giai đoạn 204-2016 68
Bảng 6: Tóm tắt Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh Công ty Vinamilk giai đoạn 2015-2017 106
Bảng 7: Các chỉ tiêu tài chính của Vinamilk giai đoạn 2015-2017 107
Bảng 8: Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và rủi ro danh mục 125
Trang 15MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CHƯƠNG 1:
Chương 1 giới thiệu môi trường đầu tư chứng khoán bao gồm cấu trúc, vai trò và trị
trí của thị trường chứng khoán Trước khi tìm hiểu về thị trường chứng khoán, chúng
ta cần hiểu biết chung về thị trường tài chính và vị trí của thị trường chứng khoán trong thị trường tài chính Chương này cũng giới thiệu những nguyên tắc hoạt động
và hành vi của các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán Sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán thế giới và Việt Nam được giới thiệu qua các thị trường chứng khoán tiêu biểu của thế giới như Anh, Mỹ, Nhật và thị trường chứng khoán Việt Nam
1.1 THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Trong một nền kinh tế, vốn đầu tư là một trong những điều kiện thiết yếu cho sự tăng trưởng của nền kinh tế Muốn tăng trưởng kinh tế, lượng tiết kiệm trong nền kinh tế cần phải được gia tăng để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư lớn và dài hạn Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế cao cũng sẽ tạo điều kiện để tăng tiết kiệm Mối quan hệ này là nền tảng của sự phát triển kinh tế xã hội Nhu cầu đầu tư và nhu cầu vốn đầu tư là điều kiện ra đời của thị trường tài chính
Thị trường tài chính là nơi diễn ra hoạt động mua bán, trao đổi các tài sản tài chính
giữa nhà phát hành với nhà đầu tư và giữa các nhà đầu tư với nhau Trong quá trình hoạt động, các chủ thể trong nền kinh tế (doanh nghiệp, chính phủ, gia đình và người nước ngoài) có lúc tạm thời thặng dư vốn, cũng có lúc thiếu hụt vốn Khi thặng dư vốn, các chủ thể này cần tìm nơi đầu tư để sinh lợi Khi thiếu hụt vốn, các chủ thể cần tìm nguồn tài trợ nhằm đảm bảo cho hoạt động của mình được liên tục Việc giải quyết nhu cầu về vốn lúc thừa, lúc thiếu được thực hiện thông qua thị trường tài chính Thị trường tài chính là nơi trao đổi các công cụ tài chính, còn gọi là tài sản tài chính
Tài sản tài chính là một loại tài sản vô hình Giá trị của tài sản tài chính không phụ
thuộc vào các thuộc tính vật chất đặc thù mà phụ thuộc vào lợi ích trong tương lai của tài sản tài chính Đó là quyền được hưởng một giá trị được tính ra bằng tiền trong tương lai Một tài sản tài chính mang lại cho người nắm giữ nó quyền hưởng một
khối lượng tiền cố định, được ấn định trước được gọi là công cụ nợ (debt instrument)
Những công cụ nợ như: trái phiếu kho bạc, trái phiếu công ty hay các khoản cho vay… Một tài sản tài chính mà buộc người phát hành phải trả cho người nắm giữ một số tiền căn cứ vào lợi nhuận thu được (nếu có) sau khi đã thanh toán xong những
khoản nghĩa vụ được gọi là công cụ vốn (equity instrument) Thông dụng nhất là cổ
phiếu thường (common stock)
Thị trường tài chính, nơi diễn ra các hoạt động mua bán các tài sản tài chính, có ba chức năng quan trọng:
Trang 16Thứ nhất, huy động vốn cho nền kinh tế Thị trường tài chính là nơi tập trung các
khoản tiền tiết kiệm thành nguồn vốn từ ngắn hạn đến dài hạn, cung cấp cho các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế Chức năng này được thể hiện qua kênh tài chính trực tiếp và gián tiếp
Kênh tài chính gián tiếp: thông qua các trung gian tài chính là các ngân hàng và các
định chế tài chính phi ngân hàng Hoạt động chủ chốt trên khu vực này là các ngân hàng thương mại với vai trò là người huy động vốn rồi đem cho vay Những trung gian tài chính này thực hiện việc kinh doanh chuyển vốn từ người thừa vốn sang người thiếu vốn bằng việc định lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động để thu lợi nhuận Nhưng điều quan trọng hơn là hoạt động của các trung gian tài chính làm cho lãi suất – giá của tiền tệ - phản ánh đúng cung cầu thị trường Như vậy, nhờ hoạt động tài chính gián tiếp thị trường tài chính được vận hành
Kênh tài chính trực tiếp: các chủ thể dư thừa vốn trực tiếp chuyển vốn cho các chủ
thể thiếu vốn bằng cách mua các tài sản tài chính trực tiếp từ người phát hành - người cần vốn – thông qua thị trường tài chính Trong trường hợp này, luồng tiền vận động thẳng từ người thừa vốn sang người thiếu vốn
Thứ hai, cung cấp công cụ đầu tư Thị trường tài chính tạo ra cơ hội đầu tư cho
mọi thành viên trong xã hội, đó là cơ hội đầu tư sinh lời đầy hấp dẫn Mọi cá nhân tổ chức thông qua thị trường tài chính đều có thể dùng tiền của mình để đầu tư dưới nhiều hình thức thông qua các chứng khoán để kiếm lời dưới nhiều quy mô khác nhau Thị trường tài chính còn có chức năng nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế Nhờ hoạt động của thị trường tài chính, nguồn tiền tiết kiệm được huy động phục vụ sản xuất kinh doanh, vừa làm tăng thêm lượng vốn cho nền kinh tế, vừa làm tăng hiệu suất sử dụng vốn Các hoạt động sản xuất kinh doanh nhờ thị trường tài chính ngày càng phát triển, công nghệ tiên tiến được ứng dụng rộng rãi làm cho nền kinh tế phát triển với tốc độ ngày càng cao
Thứ ba, hình thành giá của các tài sản tài chính, tạo tính thanh khoản cho tài sản tài chính Thông qua tác động qua lại giữa những người mua và người bán, giá
tài sản tài chính được xác định, hay nói cách khác, lợi tức cần phải có trên một tài sản tài chính được xác định Cùng với sự hình thành giá các tài sản tài chính, tính thanh khoản của các tài sản tài chính cũng được tạo lập qua hoạt động mua bán các tài sản tài chính khiến cho hoạt động đầu tư tài chính diễn ra sôi động hơn Mặc dù tất cả thị trường tài chính đều có tính thanh khoản, nhưng mức độ thanh khoản là khác nhau giữa các thị trường
Thị trường tài chính được xem xét từ hai góc độ: vừa là nơi mua bán các sản phẩm tài chính, cũng là chỗ vay và cho vay vốn Dưới góc độ là nơi diễn ra hoạt động vay
và cho vay vốn, giá của tài sản tài chính là lãi suất, được hình thành bởi sự cân bằng giữa cung và cầu vốn Dưới góc độ là nơi mua bán các tài sản tài chính, giá cả các sản phẩm tài chính được hình thành trên cơ sở cân bằng cung và cầu các sản phẩm tài
Trang 17chính Giá thấp khiến lợi tức của một tài sản tài chính tăng lên, làm tăng tính hấp dẫn của tài sản tài chính và nhiều người tìm mua tài sản đó
Để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu, có thể phân biệt hai bộ phận của thị trường tài chính là thị trường tiền tệ và thị trường vốn Tuy nhiên, trong thực tế, không phải dễ dàng có thể chỉ ra đâu là khu vực chuyên môn hóa của thị trường tiền tệ và đâu là khu vực chuyên môn của thị trường vốn (Lê Văn Tư & Lê Tùng Vân, 1997) bởi lẽ hai thị trường này có mối quan hệ hữu cơ khăng khít với nhau Hiện tại, việc phân chia hai bộ phận của thị trường tài chính dựa vào các căn cứ chủ yếu sau:
Căn cứ vào thời gian sử dụng vốn vay và thời gian cho vay của người tích lũy, người
ta phân biệt hai loại vốn: vốn ngắn hạn và vốn dài hạn Nguồn vốn ngắn hạn chủ yếu
là các phương tiện thanh toán, là đối tượng của thị trường tiền tệ Nguồn vốn dài hạn
có khối lượng lớn, đáp ứng nhu cầu đầu tư vào sản xuất kinh doanh và được tụ lại trên các điểm giao dịch vốn lớn được xem là đối tượng của thị trường vốn
Căn cứ vào hình thức vận động của các nguồn tài chính: vận động gián tiếp và vận
động trực tiếp Thị trường tiền tệ chuyên môn hóa của các công cụ tài chính gián tiếp
và thị trường vốn chuyên môn hóa của các công cụ tài chính trực tiếp
Thị trường tiền tệ là thị trường giao dịch các khoản tiền tệ ngắn hạn trong nền kinh
tế Hoạt động của thị trường tiền tệ chủ yếu là qua hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng vì ngân hàng thương mại là chủ thể quan trọng nhất trong việc thu hút và phân phối lại nguồn vốn ngắn hạn Các công cụ của thị trường tiền tệ có độ an toàn tương đối cao, cung cấp lợi tức tiết kiệm cho nhà đầu tư Các công cụ chủ yếu của thị trường tiền tệ bao gồm: tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng, thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng (Bank Bill) và tín phiếu công ty tài chính
Tín phiếu kho bạc1 (Treasury Bill) là loại chứng khoán nợ do Nhà nước phát hành nhằm mục đích điều hòa lưu thông tiền tệ Loại công cụ này gần giống tiền (self-liquidity papers) ở chỗ rất dễ mua bán lại, tính thanh khoản rất cao Chính vì vậy, tín phiếu được các nhà đầu tư nắm giữ để quản lý tính thanh khoản trong ngắn hạn Chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng2 (NCD: Negotiatable Certificate of Deposit)
là chứng chỉ do ngân hàng phát hành nêu rõ người gửi tiền đã gửi một khoản tiền trong một khoảng thời gian nhất định với lãi suất cụ thể tại ngân hàng, được ngân hàng sử dụng làm phương tiện điều chỉnh tính thanh khoản và làm nguồn cung cấp cho vay Nguời mua NCD là những công ty muốn tối đa hóa với vốn nhàn rỗi trong khi vẫn duy trì được tính thanh khoản và độ an toàn của vốn gốc Lãi suất của NCD cao hơn lãi suất kỳ phiếu kho bạc cùng kỳ hạn, do rủi ro thanh toán cao hơn, thị trường thứ cấp hẹp hơn, thuế cao hơn
Trang 18Thương phiếu (commercial paper) là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định Thương phiếu gồm hối phiếu và lệnh phiếu (theo Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 17/1999/PL-UBTVQH10)
Thị trường vốn còn đươc gọi là thị trường vốn dài hạn, là một bộ phận quan trọng
của thị trường tài chính, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn trong xã hội, tập trung thành những nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp và chính phủ nhằm mục đích phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư Thị trường vốn bao gồm: thị trường tín dụng trung và dài hạn, còn gọi là thị trường thế chấp (Mortgage market), thị trường cho thuê tài chính (Leasing market) và thị trường chứng khoán (Stock/Security market) – một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính trong việc huy động những khoản vốn khổng lồ
1.2.1 Khái niệm thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán (Securities market) là một bộ phận quan trọng của thị
trường vốn, là nơi diễn ra giao dịch mua bán chứng khoán dài hạn như trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh – hợp đồng tương lai, quyền chọn, bảo chứng phiếu, chứng quyền Securities market hay stock market đều có nghĩa là thị trường chứng khoán, không nói đến một địa điểm cụ thể nơi diễn ra hoạt động mua bán chứng khoán mà là một thuật ngữ nói về một thị trường mua bán một loại tài sản tài chính là chứng khoán Khác với thuật ngữ này, Sở giao dịch chứng khoán (Stock Exchange) là một địa điểm cụ thể, nơi diễn ra hoạt động mua bán chứng khoán
Thị trường chứng khoán là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn cho đầu
tư và phát triển kinh tế Thị trường chứng khoán có tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung Thị trường chứng khoán là một thị trường cao cấp: nơi tập trung nhiều đối tượng tham gia với các mục đích, sự hiểu biết và lợi ích khác nhau Các giao dịch tài sản tài chính được thực hiện với giá trị rất lớn Đặc tính đó khiến cho thị trường chứng khoán cũng là môi trường dễ xảy ra các hoạt động kiếm lợi không chính đáng với các hoạt động gian lận, không công bằng gây tổn thất cho các nhà đầu tư; tổn thất cho thị trường và cho toàn bộ nền kinh tế
1.2.2 Cấu trúc của thị trường chứng khoán
Căn cứ vào sự luân chuyển của nguồn vốn, thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Theo tính chất tập trung mua bán, thị trường chứng khoán có hai loại: tập trung và phi tập trung Thị trường mua bán trực tiếp và thị trường môi giới được phân chia dựa vào cấp độ tổ chức thị trường
Thị trường sơ cấp (Primary Market) là thị trường mua bán các chứng khoán mới
phát hành Trên thị trường sơ cấp, chứng khoán do nhà phát hành bán cho các nhà
Trang 19thị trường sơ cấp vốn đầu tư được chuyển từ nhà đầu tư đến nhà phát hành Thị trường sơ cấp có vai trò chứng khoán hóa nguồn vốn đầu tư, tạo hàng hóa cho thị trường chứng khoán, vốn của công ty được huy động thông qua việc phát hành chứng khoán; thực hiện quá trình chu chuyển tài chính, biến nguồn tiền tiết kiệm thành vốn đầu tư Vì vậy, chỉ có thị trường sơ cấp là nơi mà chứng khoán mang lại vốn cho người phát hành, là thị trường tạo vốn cho nhà phát hành và tạo hàng hóa cho thị trường thứ cấp Trên tổng thể nền kinh tế, thị trường sơ cấp làm tăng vốn đầu
tư cho nền kinh tế Giá chứng khoán trên thị trường sơ cấp do nhà phát hành quyết định và được nhà đầu tư chấp nhận
Thị trường thứ cấp (Secondary Market)
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch mua bán các chứng khoán đã phát hành trên thị trường sơ cấp Trên thị trường thứ cấp, chứng khoán được các nhà đầu tư mua bán với nhau Do vậy, thị trường thứ cấp không mang lại nguồn vốn cho nhà phát hành
mà là nơi chuyển đổi quyền sở hữu về vốn từ nhà đầu tư này sang nhà đầu tư khác, tạo tính thanh khoản cho chứng khoán Trên thị trường thứ cấp, tiền bán chứng khoán thuộc về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc
Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân loại theo tính chất tập trung của hoạt động mua bán: Thị trường tập trung và thị trường phi tập trung
Thị trường tập trung là các sở giao dịch chứng khoán hoặc những nơi tương tự, ở
đó chứng khoán được mua bán tập trung tại một địa điểm vật chất cụ thể và tuân theo những quy tắc xác định Tại sở giao dịch chứng khoán, các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh hình thành nên phiên giao dịch Chỉ có những chứng khoán đủ tiêu chuẩn niêm yết mới được giao dịch ở đây
Thị trường phi tập trung (thị trường OTC: Over The Counter) không có địa điểm
giao dịch chính thức, thay vào đó các nhà môi giới (công ty chứng khoán) kết nối các giao dịch qua mạng máy vi tính diện rộng giữa các công ty chứng chứng khoán và trung tâm quản lý hệ thống Thị trường OTC không phải là thị trường chợ đen mà là một thị trường có tổ chức dành cho những chứng khoán chưa niêm yết trên thị trường
Trang 20tập trung Thị trường này được xem là thị trường của các nhà buôn chứng khoán (stock dealers)
Thị trường trực tiếp (Direct Search Market) là thị trường có tổ chức thấp nhất
Người mua và người bán phải trực tiếp tìm kiếm nhau Thị trường này có đặc điểm là những người tham gia mua bán không thường xuyên, hàng hóa không được tiêu chuẩn hóa và giá thấp Nhà đầu tư có thể tìm kiếm lợi nhuận cao trên thị trường trực tiếp, nhưng cũng gặp rất nhiều rủi ro khi tham gia vào thị trường này
Thị trường môi giới (Brokered Market) là một thị trường có cấp độ tổ chức cao
Nhà đầu tư chủ động và thuận lợi hơn khi thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán ở thị trường này Người môi giới tìm kiếm lợi nhuận thông qua cung cấp những dịch vụ đang cần cho người mua và người bán
1.2.3 Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán
Nguyên tắc cạnh tranh: Đó là sự cạnh tranh theo pháp luật nhằm đảm bảo cho
chứng khoán được mua bán ở mức giá tốt nhất Theo nguyên tắc này, người bán giá thấp được ưu tiên bán trước, người mua trả giá cao được ưu tiên mua trước Giá cả chứng khoán được hình thành tại mức giá có khối lượng giao dịch lớn nhất Tính cạnh tranh trong thị trường chứng khoán giúp cho nhà đầu tư huy động được nguồn vốn ở mức giá thấp và nhà đầu tư có cơ hội lựa chọn đầu tư vào loại chứng khoán có mức sinh lợi cao
Nguyên tắc công bằng: Nguyên tắc này đảm bảo quyền được chia sẻ những thông
tin ngang bằng nhau cho những người tham gia trên thị trường chứng khoán Cho nên, việc một tổ chức hay cá nhân nào đó mua bán chứng khoán trên cở sở nắm được những thông tin chưa được công bố là vi phạm nguyên tắc công bằng Mua bán nội gián là một ví dụ điển hình
Nguyên tắc công khai: Cũng liên quan đến thông tin trên thị trường, nguyên tắc
công khai đòi hỏi nhà phát hành phải công khai minh bạch tình hình tài chính và những thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của công ty cho nhà đầu tư Nguyên tắc này được thực hiện nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư thiểu số
Nguyên tắc trung gian: Trên thị trường chứng khoán các nhà đầu tư không trực tiếp
mua bán với nhau mà thông qua những người môi giới Môi giới trên thị trường chứng khoán vừa là cầu nối giữa cung-cầu chứng khoán, vừa là người tổ chức thị trường, cung cấp dịch vụ liên quan đến hoạt động mua bán chứng khoán Công ty chứng khoán là một hình thức môi giới có tổ chức, ngoài ra còn có môi giới cá nhân
Nguyên tắc tập trung: Hoạt động mua bán chứng khoán diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ
và chủ yếu tại những địa điểm tập trung đó là các sở giao dịch chứng khoán
Trang 211.2.4 Những hành vi tiêu cực trên thị trường chứng khoán
Đầu cơ chứng khoán làm lũng đoạn thị trường Hành vi này được hiểu là việc một
tổ chức hay cá nhân nắm giữ một số lượng lớn chứng khoán chờ thời cơ để bán ra làm lũng đoạn thị trường chứng khoán và thu lợi bất chính cho mình Hành động này
có thể gây hậu quả nghiêm trọng đối với một nền kinh tế quốc gia và có thể gây ảnh hưởng đến toàn khu vực hay nền kinh tế thế giới như một phản ứng dây chuyền Trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997, các nhà kinh tế viện dẫn
ra nhiều nguyên nhân, trong đó bóng dáng của các nhà đầu cơ chứng khoán cũng được tìm thấy đâu đó trong cuộc khủng hoảng này
Bán khống là việc bán một loại chứng khoán mà nhà đầu tư không sở hữu vào điểm
mua bán Việc bán khống được thực hiện bằng cách nhà đầu tư đi vay chứng khoán rồi bán lại cho một nhà đầu tư khác Bán khống có tác dụng làm cho thị trường chứng khoán trở nên sôi nổi hơn, nhộn nhịp hơn, đặc biệt là hành vi mua bán khống của các môi giới chuyên gia có tác dụng hạ nhiệt thị trường khi cầu tăng Tuy nhiên, hành vi bán khống dẫn đến kết quả là tăng cầu chứng khoán trong tương lai nên nhiều nhà quản lý cho rằng hành vi bán khống sẽ gây rối loạn thị trường trong tương lai Quan điểm về hành vi bán khống không thống nhất giữa các nhà quản lý và ở các quốc gia Chính vì vậy, một số quốc gia thừa nhận hành vi bán khống là hợp pháp, trong khi một số quốc gia khác lại nghiêm cấm Điều 9 Luật Chứng Khoán số 70/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 không cấm hành vi bán khống; hành vi này có thể được thực hiện tại Việt Nam
Mua bán nội gián là hành vi vi phạm nguyên tắc công bằng và công khai của thị
trường chứng khoán Đó là việc nhà đầu tư lợi dụng thông tin “nội bộ” chưa được công khai để mua, bán chứng khoán trục lợi cho bản thân Pháp luật các nước (nhất
là Mỹ) rất mạnh tay trong việc xử lý hành vi này
Những hành vi của người môi giới làm thiệt hại lợi ích người đầu tư: làm trái
lệnh mua, bán của nhà đầu tư; không cung cấp xác nhận giao dịch theo quy định; tự ý mua, bán chứng khoán trên tài khoản của khách hàng hoặc mượn danh nghĩa khách hàng để mua bán chứng khoán
1.3 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THẾ GIỚI
1.3.1 Thị trường chứng khoán Châu Âu
Thị trường chứng khoán ra đời đầu tiên ở Châu Âu Vào khoảng giữa thế kỷ XV, tại những thành phố trung tâm buôn bán của phương Tây, các thương gia tụ tập tại các quán cà phê để thương lượng việc mua bán, trao đổi các loại hàng hóa ví dụ như nông sản, khoáng sản, ngoại tệ Điểm đặc biệt là trong những cuộc thương lượng này, các thương gia chỉ dùng lời nói để trao đổi với nhau, không có hàng hóa, ngoại tệ hay bất cứ một loại giấy tờ nào Những cuộc thương lượng này nhằm thống nhất với nhau các “hợp đồng” mua bán, trao đổi thực hiện ngay, kể cả những hợp đồng thực hiện vào thời điểm 3 tháng, 6 tháng hoặc 1 năm sau Những cuộc trao đổi này, lúc đầu chỉ
Trang 22có một nhóm nhỏ, dần dần số người tăng lên Đến cuối thời Trung Cổ, phiên chợ riêng này trở thành một “thị trường” và thời gian họp chợ rút xuống hàng tuần và sau
đó là hàng ngày Trong các phiên chợ này, họ thống nhất với nhau những quy ước cho các cuộc thương lượng Dần dần những quy ước đó được tu bổ hoàn chỉnh những quy tắc có giá trị bắt buộc đối với những người tham gia
Phiên chợ riêng đầu tiên diễn ra vào năm 1453 tại một lữ điếm của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ) Tại đây có một bảng hiệu hình 3 túi da với 1 từ tiếng Pháp “Bourse” tức mậu dịch trường hay còn gọi là sở giao dịch Mậu dịch trường là bảng hiệu chung, ba túi da tượng trưng cho 3 nội dung của mậu dịch trường: mậu dịch trường hàng hóa, mậu dịch trường ngoại tệ và mậu dịch trường giá khoáng động sản
Năm 1547, thành phố Bruges mất đi sự phồn vinh do eo biển Even bị cát lấp, tàu bè
ra vào khó khăn, mậu dịch trường ở đây bị sụp đổ và được chuyển qua thị trấn Auvers, một hải cảng lớn của Bỉ thời đó Mậu dịch trường Auvers phát triển rất nhanh Giữa thế kỷ XVI, Theomes Gresham, quan đại thần tài chính Anh quốc, đến đây thị sát và sau đó thiết lập mậu dịch trường tại London, nơi sau này được gọi là
Sở Giao dịch Chứng khoán London Các mậu dịch thị trường khác cũng lần lượt được thành lập tại Pháp, Đức và Bắc Âu
Sở giao dịch chứng khoán Luân Đôn (The London Stock Exchange - LSE) ngày nay
là một trong những sở giao dịch chứng khoán cổ nhất thế giới, ra đời từ hơn 300 năm LSE được sáng lập năm 1801, tọa lạc tại thủ đô Luân Đôn của nước Anh LSE là một trong những sở giao dịch chứng khoán thuộc Tập đoàn Sở Giao dịch Chứng khoán Luân Đôn (The London Stock Exchange Group PLC) Tập đoàn này còn sở hữu cổ phần của nhiều sở giao dịch chứng khoán ở Châu Âu như Borsa Italiana, MillenniumIT, Russell Investments, FTSE International, Exactpro Tổng vốn hóa thị trường trên sàn LSE vào khoảng 6.000 tỷ USD vào thời điểm tháng 12/2014 (theo Báo cáo tháng của LSE) LSE là sàn giao dịch lớn nhất Châu Âu và đứng hàng thứ
ba trên thế giới, sau hai sàn giao dịch của Mỹ là New York và NASDAQ
1.3.2 Thị trường chứng khoán Hoa Kỳ
Là một cường quốc kinh tế số một của thế giới, Hoa Kỳ sở hữu hai sở giao dịch chứng khoán lớn nhất và nhì của thế giới SGDCK New York (The New York Stock Exchange, viết tắt là NYSE) được mệnh danh là The Big Board, nằm ở số 11 Phố Wall, Lower Manhattan, thành phố New York NYSE là SGDCK lớn nhất thế giới với mức vốn hóa thị trường lên đến 21 nghìn tỷ USD (xem Bảng 1) Đến 24/01/2007, tất cả cổ phần trên sàn NYSE được giao dịch điện tử (trừ một số lượng rất ít những
cổ phần giá cao) Trong 3 tháng đầu năm 2007, có hơn 82% lệnh mua bán được gửi đến sàn giao dịch qua hệ thống điện tử NYSE đã làm việc với các nhà lập pháp Hoa
Kỳ như Ủy ban Chứng khoán (SEC) và Sàn giao dịch hợp đồng tương lai (Commodity Futures Trading Commission-CFTC) để phối hợp trong việc quản lý rủi
ro trong môi trường kinh doanh chứng khoán điện tử bằng cách thực thi các cơ chế như sử dụng các thiết bị tự động nhằm bảo vệ vòng lặp điện toán khỏi bị hư hỏng do
Trang 23quá tải (gọi là circuit breakers), hoặc hệ thống tự động chuyển từ giao dịch điện tử sang giao dịch đấu giá (Liquidity Replenishment Points – LRP3)
Bảng 1: Cổ phiếu lưu hành và mức vốn hóa thị trường NYSE 2017
Giá trung bình
cổ phiếu niêm yết
là chủ sở hữu và điều hành sàn giao dịch NASDQA Cổ phiếu của tập đoàn này cũng được niêm yết trên sàn NASDAQ từ ngày 02/07/2002, mã cổ hiếu là NDAQ
NASDAQ là hệ thống thông tin điện toán ghi nhận và cung cấp các chào giá của phần lớn các chứng khoán trên thị trường OTC Tuy nhiên, không phải tất cả cổ phiếu trên thị trường OTC của Hoa Kỳ được giao dịch tại NASDAQ vì thị trường OTC rất rộng lớn Ngoài những cổ phiếu được chào bán qua hệ thống điện toán của NASDAQ, các cổ phiếu OTC còn được tìm thấy trên các trang hồng (pink sheets) dành cho cổ phiếu, trang vàng (yellow sheets) dành cho trái phiếu công ty, hay các trang xanh (blue lists) dành cho trái phiếu đô thị
1.3.3 Thị trường chứng khoán Nhật Bản
Đứng thứ tư trên thế giới và đứng đầu Châu Á là thị trường chứng khoán của Nhật Bản, Tập đoàn Sở Giao dịch Nhật Bản (Japanese Exchange Group - JPX) Tập đoàn này được thành lập sau quyết định sáp nhập Tập đoàn Sở Giao dịch Chứng khoán Tokyo (Tokyo Stock Exchange Group) và Sở Giao dịch Chứng khoán Osaka (Osaka
3
NYSE Liquidity Replenishment Points (LRP) là những điểm giá chứng khoán đã được xác định trước Ở mức giá mà, giao dịch điện tử tự động được chuyển sang giao dịch đấu giá LRP xuất hiện khi có hiện tượng quét điện tử do sự biến động giá diễn ra quá nhanh
Trang 24Securities Exchange) vào ngày 01/01/2013 JPX trở thành tập đoàn dịch vụ tài chính
lớn nhất của Nhật, quản lý điều hành cả 2 sàn giao dịch Tokyo và Osaka
Mô hình kinh doanh của JPX (Hình 1) cho thấy dịch vụ của JPX khá phong phú
Ngoài cung cấp dịch vụ mua bán chứng khoán và dịch vụ niêm yết, JPX còn cung
cấp thông tin thị trường, dịch vụ thanh toán và bù trừ Thị trường chứng khoán Nhật
là thị trường năng động và hiện đại nhất của Châu Á, bên cạnh các thị trường
Thượng Hải và Hong Kong
JPX điều hành thị trường giao dịch các công cụ tài chính bao gồm cổ phiếu được
niêm yết (Cash equity), những công cụ phái sinh (Derivatives) Mức vốn hóa thị
trường của hai sàn giao dịch Tokyo và Osaka vào khoảng gần 5 nghìn tỷ USD, lớn
hơn so với sàn Thượng Hải (4 nghìn tỷ) và Hong Kong (gần 3,5 nghìn tỷ USD)
Hình 1: Mô hình kinh doanh của JPX
Nguồn: http://www.jpx.co.jp
1.4.1 Quá trình hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam sau năm 1975 được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn trước
1986, giai đoạn 1986-2000 và giai đoạn từ năm 2000 đến nay Sự hình thành và phát
triển của thị trường chứng khoán Việt Nam qua các giai đoạn như sau:
Giai đoạn trước 1986: nền kinh tế Việt Nam còn chưa phát triển Sau một thời gian
dài chìm trong chiến tranh và sau đó là cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nền kinh tế
Việt Nam chỉ có thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Hoạt động kinh tế
diễn ra theo sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của nhà nước Cơ chế phân phối bình
quân theo giá cả bao cấp đã làm giảm các chức năng của đồng tiền, phá vỡ quan hệ
cung cầu và quy luật giá trị Các xí nghiệp quốc doanh do nhà nước quản lý, điều
Trang 25hành và kiểm soát trên cơ sở các chỉ tiêu hiện vật là chủ yếu Nhà nước rót vật tư và nguyên liệu ở đầu vào theo chỉ tiêu pháp lệnh, phân phối sản phẩm đầu ra theo địa chỉ Người lao động tuy được hưởng lương nhưng tiền lương chỉ đủ để mua hàng hóa theo lượng định với giá cả bao cấp, thấp hơn nhiều so với giá trên thị trường Trong
cơ chế như vậy, nhu cầu trao đổi vốn để sản xuất kinh doanh không có điều kiện tồn tại và phát triển
Giai đoạn 1986-2000: Sau đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm
1986, nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường Sự phát triển của các thành phần kinh tế cùng với cơ chế tự chủ tài chính trong khu vực kinh tế quốc doanh
đã thực sự tạo môi trường cạnh tranh cho các doanh nghiệp Chính sách phân phối mới đã làm thay đổi vấn đề tiền lương, thu nhập và dự trữ trong các doanh nghiệp, hộ gia đình và các tổ chức kinh tế xã hội Nhu cầu giao lưu vốn xuất hiện Mối quan hệ giữa những người cần vốn và những người có vốn ngày càng được phát triển Tuy nhiên, trong giai đoạn này, nguồn vốn chủ yếu được huy động qua kênh tài chính gián tiếp thông qua các trung gian tài chính là các ngân hàng thương mại và các định chế tài chính phi ngân hàng Một số cột mốc quan trọng trong giai đoạn này là:
Năm 1992, Các tổ nghiên cứu thuộc Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước bắt đầu nghiên cứu để hình thành và phát triển thị trường vốn và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Năm 1993, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành lập ban nghiên cứu xây dựng thị trường vốn là đơn vị chuyên nghiên cứu về lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán
Năm 1995, trên cơ sở đề án của Bộ Tài Chính, Ngân hàng Nhà Nước, Ban Kinh tế Trung ương, chính phủ đã quyết định thành lập Ban chuẩn bị tổ chức thị trường chứng khoán
Ngày 28/11/1996, Chính phủ ban hành nghị định số 75/CP thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là cơ quan trực thuộc Chính phủ, quản lý các hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Tháng 4/1997, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chính thức đi vào hoạt động, phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng khuôn khổ pháp lý, chuẩn bị hàng hóa, hình thành các tổ chức tài chính trung gian cũng như các điều kiện khác cho
sự ra đời của thị trường chứng khoán
Ngày 11/7/1998 Nghị định 48/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán và Quyết định 127/QĐ-TTg về việc thành lập hai Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (GDCK) tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh được chính thức ban hành
Giai đoạn sau năm 2000: Ngày 28/07/2000, phiên giao dịch đầu tiên đã chính thức
được tổ chức tại Trung tâm GDCK TP.HCM, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của Thị trường chứng khoán Việt Nam Trung tâm GDCK TP Hồ Chí Minh chính thức
đi vào hoạt động, mở ra một kỷ nguyên mới cho nền tài chính Việt Nam Đây là giai đoạn mà sự giao lưu vốn diễn ra mạnh mẽ nhất từ trước đến nay Vốn được huy động
Trang 26không chỉ qua các định chế tài chính trung gian mà còn qua thị trường chứng khoán
Số lượng các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các quỹ đầu tư và các công ty niêm yết trong giai đoạn 2000-2005 tăng lên đáng kể Sự ra đời của Trung tâm GDCK TP Hồ Chí Minh là bước khởi đầu, đánh dấu thời kỳ phát triển và hội nhập của nền tài chính Việt Nam Các mốc quan trọng kiện diễn ra trong giai đoạn này là:
Ngày 28/11/2003, Chính phủ ban hành nghị định số 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán thay thế Nghị định số 48/1998/NĐ-
CP ngày 11 tháng 7 năm 1998 của chính phủ Đây là văn bản hiện hành điều chỉnh mọi hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Ngày 08/03/2005, Trung tâm GDCK Hà Nội ra đời, đây là nơi giao dịch cổ phiếu của những doanh nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu niêm yết tại Trung tâm GDCK TP Hồ Chí Minh Ngày 14.7.2005 Trung tâm GDCK Hà Nội khai trương Sàn giao dịch chứng khoán thứ cấp
Trung tâm Lưu ký Chứng khoán ra đời ngày 01/05/2006 theo quyết định số 189/2005/QĐ-TTg ngày 27/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ Trung tâm Lưu
ký Chứng khoán hoạt động độc lập với các trung tâm GDCK, làm nhiệm vụ đăng ký, lưu ký và bù trừ thanh toán chứng khoán từ các trung tâm GDCK Hiện nay, Việt Nam có 2 sở giao dịch chứng khoán 100% vốn chủ sở hữu thuộc Bộ Tài chính, hoạt động với mô hình Công ty TNHH Một Thành viên Ngày 11/05/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 599/QĐ chuyển Trung tâm GDCK TP Hồ Chí Minh thành Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) Ngày 24/06/2009, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) chính thức ra mắt SGDCK
Hà Nội tổ chức hoạt động đấu giá cổ phần, hoạt động đấu thầu trái phiếu Chính phủ
và vận hành các thị trường cổ phiếu niêm yết, cổ phiếu công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCoM), trái phiếu Chính phủ và chứng khoán phái sinh
1.4.2 Cơ chế điều hành và giám sát thị trường chứng khoán Việt Nam
Việc điều hành và giám sát thị trường chứng khoán là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo tính hiệu quả, công bằng, lành mạnh của các hoạt động của thị trường này Quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và tất cả các thành viên khác tham gia trên thị trường chứng khoán được bảo vệ Thị trường chứng khoán ở từng địa phương, từng quốc gia có những đặc thù riêng nên cần phải có một cơ chế điều hành riêng phù hợp cho từng thị trường
Thành phần tham gia vào thị trường chứng khoán bao gồm: nhà phát hành, nhà đầu
tư, các nhà môi giới và các tổ chức quản lý điều hành thị trường chứng khoán Các tổ chức tham gia quản lý và giám sát thị trường gồm 2 nhóm: các cơ quan quản lý chính phủ và các tổ chức tự quản
Các cơ quan quản lý Chính phủ là các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà
nước đối với hoạt động của thị trường chứng khoán Nhìn chung, các cơ quan quản
lý thị trường của Chính phủ chỉ thực hiện các chức năng quản lý chung, không trực
Trang 27quy định điều chỉnh các hoạt động trên thị trường chứng khoán tạo khung pháp lý cho các tổ chức tự quản trực tiếp thực hiện chức năng điều hành và giám sát thị trường
Ủy ban chứng khoán là cơ quan quản lý chuyên ngành của nhà nước trong lĩnh vực
chứng khoán Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam được quy định trong Quyết định số 48/2015/QĐ-TTG ngày 08/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán; trực tiếp quản lý, giám sát hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán; quản lý các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực chứng khoán, thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật
Các tổ chức tự quản bao gồm các sở giao dịch chứng khoán và hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Sở giao dịch chứng khoán là tổ chức tự quản bao gồm các
công ty chứng khoán thành viên, trực tiếp điều hành và giám sát các hoạt động giao dịch chứng khoán thực hiện trên sở giao dịch Sở giao dịch tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán cho chứng khoán của những tổ chức phát hành có đủ điều kiện niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Theo Luật Chứng khoán Việt Nam 2006 (Quốc Hội XI, 2006), chỉ có sở giao dịch chứng khoán được phép tổ chức thị trường giao dịch của những công ty không đủ điều kiện niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Không tổ chức, cá nhân nào khác được phép tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức của các công ty chứng khoán
được thành lập với mục đích tạo ra tiếng nói chung cho toàn ngành kinh doanh chứng khoán và đảm bảo các lợi ích chung của thị trường chứng khoán Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán thực hiện các chức năng điều hành và giám sát thị trường
Trang 281.5 CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Trình bày cấu trúc của thị trường tài chính và xác định vị trí của thị trường chứng khoán trong thị trường tài chính
2 Phân biệt thị trường chứng khoán sơ cấp và thị trường chứng khoán thứ cấp
3 Phân biệt thị trường tập trung và thị trường phi tập trung
4 Hãy trình bày những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán
5 Những hành vi nào được xem là hành vi tiêu cực trên thị trường chứng khoán?
6 Hãy trình bày lịch sử hình thành thị trường chứng khoán
7 Trình bày đặc điểm của một vài thị trường chứng khoán lớn trên thế giới: Anh,
Mỹ và Nhật Bản
8 Trình bày sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam?
9 Trình bày cơ chế điều hành và giám sát thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 29CHỨNG KHOÁN VÀ ĐỊNH GIÁ CHỨNG KHOÁN CHƯƠNG 2:
Chương 2 trình bày đặc điểm các loại chứng khoán: trái phiếu, cổ phiếu và chứng
khoán phái sinh Các nhân tố ảnh hưởng đến giá chứng khoán và các phương pháp định giá chứng khoán cũng được giới thiệu
2.1 TRÁI PHIẾU
2.1.1 Khái niệm
Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành Trái phiếu là giấy chứng nhận nợ, là công cụ thể hiện quyền chủ nợ đối với chính phủ, chính quyền địa phương hay doanh nghiệp, gọi chung là nhà phát hành trái phiếu Trái phiếu là hợp đồng nợ dài hạn được ký kết giữa chủ thể phát hành và người mua trái phiếu - người cho vay - đảm bảo một sự chi trả lợi tức định kỳ và hoàn lại vốn gốc cho người cầm trái phiếu vào thời điểm đáo hạn
Trái phiếu là công cụ nợ Đây là một loại giấy nợ do Chính phủ hay doanh nghiệp phát hành để huy động vốn Thời hạn trái phiếu thường là 3-5 năm (trung hạn), trái phiếu dài hạn từ 7-10 năm trở lên Cuối kỳ đáo hạn vốn gốc phải được hoàn trả cho trái chủ Lãi suất trái phiếu thường là cố định, không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh Trái phiếu ít rủi ro hơn cổ phiếu; tín phiếu kho bạc xem như có rủi ro bằng không Khi công ty bị giải thể, thanh lý tài sản, người cầm trái phiếu được ưu tiên trả nợ trước cổ đông
Các thông tin trên trái phiếu bao gồm mệnh giá, lãi suất, thời gian đáo hạn, hình thức trả lãi Hai nội dung được chú ý nhiều nhất là mệnh giá trái phiếu và lãi suất Mệnh giá (Parvalue) là giá trị danh nghĩa của trái phiếu được in ngay trên tờ phiếu, là
số tiền được trả tại thời điểm đáo hạn Lãi suất trên trái phiếu là lãi suất danh nghĩa của trái phiếu mà nhà đầu tư được hưởng hàng năm Thông thường có hai phương thức trả lãi: bán niên (semi-annual) 6 tháng/ lần và thường niên (annual) 12 tháng/ lần
2.1.2 Đặc điểm các loại trái phiếu
Theo chủ thể phát hành: Trái phiếu chính phủ (government bond) do chính phủ ban hành Ngoài rủi ro mất giá do lạm phát, trái phiếu chính phủ hầu như không chứa đựng những rủi ro khác Trái phiếu doanh nghiệp (corporate bond) do doanh nghiệp (công ty) phát hành Trái phiếu doanh nghiệp chịu ảnh hưởng lớn của khả năng thanh
toán của doanh nghiệp
Theo sự đảm bảo tài sản: Trái phiếu có thế chấp (mortgage bond) là loại trái phiếu được phát hành khi đơn vị phát hành có một tài sản thế chấp cho khoản vay của mình Trái phiếu không có thế chấp (debenture bond) không được đảm bảo bằng bất cứ tài
sản nào
Trang 30Theo tính chất: Trái phiếu có thể chuyển đổi (convertible bond) là loại trái phiếu được chuyển đổi thành cổ phiếu thường sau một thời gian nhất định với một tỷ lệ
chuyển đổi xác định Trái phiếu có thể chuộc lại (callable bond) được nhà phát hành
mua lại khi cần Trong những giai đoạn cần vốn, nhà phát hành có thể phát hành loại trái phiếu này với mức lãi suất đủ hấp dẫn nhằm thu hút nguồn vốn kịp thời Sau đó,
khi nhu cầu về vốn giảm đi, nhà phát hành có thể mua lại trái phiếu đã phát hành
Theo thu nhập của trái phiếu: Trái phiếu có lãi suất ổn định (straight bond) là loại trái
phiếu trả lãi cố định Mức lãi suất này thường được ghi trên trái phiếu Trái phiếu thu
nhập (income bond) Thông thường lãi suất của trái phiếu được nhà phát hành trả cho nhà đầu tư theo một thỏa thuận (ghi trên trái phiếu) nhưng đôi khi hai bên cũng thỏa thuận trả lãi theo thu nhập của công ty Theo đó, lãi suất mà người nắm giữ trái phiếu
nhận được phụ thuộc vào kết quả hoạt động của công ty Trái phiếu có lãi suất thả
nổi (floating bond) có lãi suất thay đổi theo sự thay đổi của lãi suất thị trường – Ví dụ
như LIBOR + 3% Trái phiếu chiết khấu (Zero coupon bond) là loại trái phiếu không
lãnh lãi, người cầm giữ trái phiếu chỉ được nhận một lần số tiền bằng với mệnh giá trái phiếu vào ngày đáo hạn của trái phiếu Vì thế, giá của trái phiếu chiết khấu luôn
thấp hơn mệnh giá của trái phiếu
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng giá trái phiếu
Khả năng tài chính của nhà phát hành trái phiếu: Nhà phát hành trái phiếu cũng đồng thời là con nợ của người cầm trái phiếu, người có trách nhiệm thanh toán lãi và vốn gốc cho trái chủ Do đó, những biến động có ảnh huởng đến khả năng tài chính, khả năng trả lãi và vốn của trái phiếu sẽ có ảnh hưởng lập tức đến giá trái phiếu Giá trái
phiếu giảm khi có những ảnh hưởng bất lợi đến khả năng tài chính của nhà phát hành
Thời gian đáo hạn: Thông thường suất chiết khấu mong đợi của nhà đầu tư (kd) lớn hơn lãi suất của trái phiếu, nên những trái phiếu có thời gian đáo hạn càng gần thì giá càng tăng Hai trái phiếu có cùng mệnh giá và lãi suất, trái phiếu có thời gian đáo hạn ngắn hơn sẽ có giá cao hơn Điều này chỉ đúng khi lãi suất thị trường hay suất sinh lợi yêu cầu của nhà đầu tư lớn hơn lãi suất trái phiếu Ngược lại, nếu suất sinh lợi yêu cầu của nhà đầu tư nhỏ hơn lãi suất trái phiếu thì trái phiếu có thời gian đáo hạn ngắn hơn sẽ có giá thấp hơn Trong bất kỳ trường hợp nào, nếu không có sự tác động của các yếu tố khác, giá trái phiếu tiến gần về mệnh giá khi trái phiếu gần đến hạn; hiện tượng này được gọi là “kéo giá tới hạn”
Dự kiến về lạm phát: Lạm phát là mối đe dọa đối với các khoản đầu tư, đặc biệt là đối với các khoản đầu tư dài hạn Đối với chứng khoán trả lãi suất cố định như trái phiếu, lãi suất mà nhà đầu tư nhận được là lãi suất danh nghĩa Lãi suất thực giảm khi lạm phát tăng Khi đó, trái phiếu trở nên kém hấp dẫn hơn so với những tài sản có thể loại trừ (hoặc ít bị tác động bởi) yếu tố lạm phát Do vậy, giá thị trường của trái
phiếu sẽ giảm
Lãi suất thị trường: Lãi suất tiết kiệm tăng lên là điều tồi tệ đối với trái phiếu bởi lẽ
Trang 31chứng khoán có lãi suất cố định nói chung Trong khi lãi suất trái phiếu cố định, nếu lãi suất tăng trái phiếu trở nên kém hấp dẫn và giá thị trường của trái phiếu vì thế
cũng sẽ giảm theo
Tỷ giá hối đoái: Yếu tố này ảnh hưởng đến giá của những trái phiếu có nguồn gốc ngoại tệ Ví dụ khi tỷ giá đồng đôla Mỹ tăng so với đồng Việt Nam thì giá những trái phiếu USD tính bằng đồng Việt Nam sẽ tăng lên
2.1.4 Chỉ báo trên thị trường trái phiếu
Các chỉ báo trên thị trường trái phiếu: định mức tín nhiệm trái phiếu và bao gồm chỉ
số giá trái phiếu
Định mức tín nhiệm trái phiếu là một trong các chỉ báo quan trọng về rủi ro liên quan đến tổ chức phát hành trái phiếu Hai tổ chức định mức tín nhiệm nổi tiếng trên thế giới là Moody’s và Standard & Poor’s (S&P’s) có hệ thống xếp hạng tín nhiệm được
mô tả ngắn gọn như sau:
Moody’s S&P’s Ý nghĩa
Đầu cơ/ rủi ro cao Đầu cơ/ rủi ro cao Đầu cơ/ rủi ro cao Chất lượng kém
Chỉ số giá trái phiếu phản ánh sự thay đổi giá của trái phiếu so với thời kỳ gốc Chỉ
số giá trái phiếu (I) của n trái phiếu được tính như sau:
I = ∑ P
Pi : giá hiện hành của trái phiếu thứ i
Poi : giá cơ sở của trái phiếu thứ I (thời kỳ gốc)
2.1.5 Định giá trái phiếu
Phương pháp chiết khấu dòng tiền – Discounted Cash Flow (DCF)
Một trái phiếu mệnh giá F, trả lãi hàng năm với lãi suất danh nghĩa i, sẽ đáo hạn trong n năm được có giá là P nếu lãi suất thị trường là r
(1+r)t+ F
(1+r)n n
t=1
Trang 32Trong đó:
F Mệnh giá của trái phiếu (Face value)
i lãi suất danh nghĩa của trái phiếu
I Tiền lãi định kỳ của trái phiếu (I = Fxi)
r Tỷ suất chiết khấu, là lãi suất mà nhà đầu tư mong muốn (Discount rate)
n Thời kỳ đáo hạn (Years to maturity)
P Giá trái phiếu (Market price)
Ví dụ: Một trái phiếu có mệnh giá F = 1 triệu đồng, kỳ hạn 30 năm, phát hành năm
2000, lãi suất 7%/ năm Cuối năm 2020, một nhà đầu tư muốn mua lại trái phiếu này với suất chiết khấu là 8%/năm Nhà đầu tư sẽ trả giá P = 932.899 đồng
P = 1.000.000 × 7%
1.000.000(1 + 8%) = 932.899 đồng
Trong excel, sử dụng hàm PV(rate,nper,pmt,fv,type)
rate = r = 8%
nper = (2000 + 30) – 2020 = 10 năm, thời hạn còn lại của trái phiếu
pmt = I = 1.000.000 x 7% = 70.000 đồng
fv = F = 1.000.000 đồng
PV = P, giá trái phiếu là 932.899 đồng
Trường hợp trả lãi bán niên
Trong trường hợp trái phiếu trả lãi bán niên (6 tháng/lần), lãi suất của 6 tháng là i/2
và thời kỳ đáo hạn tăng lên gấp đôi 2n, suất chiết khấu là r/2
t=1
Trường hợp trái phiếu chiết khấu
Lãi suất I = 0% (không trả lãi) nên P =( )
Trái phiếu vô thời hạn
Trái phiếu được trả lãi mãi mãi, khi đó n→ ∞
P = lim
→
Fxi(1+r)t+ F
(1+r)n n
t=1
P =F × i
r
Một số tính chất của thị giá trái phiếu
Thị giá trái phiếu (P) tỷ lệ nghịch với suất chiết khấu r Khi lãi suất thị trường tăng,
Trang 33Đối với một trái phiếu có thời gian đáo hạn là n năm Với cùng một mức thay đổi (tăng/giảm) về suất chiết khấu, lợi nhuận thu được khi suất chiết khấu giảm (capital gain) luôn lớn hơn khoảng lỗ vốn khi suất chiết khấu tăng (capital loss) Do vậy, lợi tức sẽ lớn hơn khi mua trái phiếu lúc lãi suất thị trường giảm so với bán trái phiếu lúc lãi suất thị trường tăng (cùng mức tăng/giảm)
Rủi ro về lãi suất ảnh hưởng nhiều đến giá trị trái phiếu Tuy nhiên, mức ảnh hưởng này cũng tùy thuộc vào thời gian đáo hạn của trái phiếu So sánh giá của hai trái phiếu có thời hạn là 5 năm và 20 năm qua Hình 2 Trái phiếu có thời gian đáo hạn dài
sẽ nhạy cảm với lãi suất hơn so với trái phiếu có thời gian đáo hạn ngắn
Nếu suất chiết khấu r giảm thấp hơn i = 8% thì trái phiếu kỳ hạn 20 năm có giá trị cao hơn trái phiếu kỳ hạn 5 năm
Nếu suất chiết khấu r = i = 8% thì hai trái phiếu có giá bằng nhau P = F =
$ 1000
Nếu suất chiếc khấu r > i (8%) thì trái phiếu kỳ hạn 20 năm có giá trị thấp hơn trái phiếu kỳ hạn 5 năm
Hình 2: Giá trái phiếu kỳ hạn 5 năm và 20 năm (F = $1000, i = 8%) ở những
mức chiết khấu khác nhau
Giá trái phiếu theo hạng trái phiếu/hệ thống tín nhiệm
Lãi suất trên thị trường vốn được đánh giá như sau:
lãi suất
thị trường =
lãi suấtthực +
tỷ lệlạm phát +
đền bùrủi ro lãi suấtLãi suất thị trường của một trái phiếu hay suất chiết khấu của trái phiếu đó được cấu thành bởi ba yếu tố: lãi suất thực, tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ đền bù rủi ro lãi suất Cả ba yếu tố này chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố cung cầu vốn, môi trường vĩ mô của nền kinh tế và mức độ rủi ro của các trái phiếu Trong đó, lãi suất thực và tỷ lệ lạm phát
là giống nhau cho các loại trái phiếu còn tỷ lệ đền bù rủi ro lãi suất là yếu tố bên
Trang 34trong của từng loại trái phiếu, nó hàm chứa một rủi ro mất khả năng thanh toán khác
nhau đối với từng loại trái phiếu (bankruptcy risk) Do vậy, chính tỷ lệ đền bù rủi ro
lãi suất quyết định suất chiết khấu của trái phiếu này cao hơn hay thấp hơn một trái
phiếu khác (xem Hình 3) Nhà đầu tư dựa vào mức tín nhiệm và đánh giá chủ quan
của mình để quyết định tỷ lệ này Do đó, những trái phiếu có mức tín nhiệm càng cao
thì suất chiết khấu càng thấp
Hình 3: Mối quan hệ giữa suất chiết khấu và mức tín nhiệm của trái phiếu
2.1.6 Lãi suất và lợi suất trái phiếu
Ngoài lãi suất danh nghĩa (i) in trên trái phiếu, nhà đầu tư còn quan tâm đến ba loại
lợi suất của trái phiếu Lợi suất hiện tại (Current Yield - CY) là lợi suất hiện thời của
trái phiếu được tính bằng lợi tức trái phiếu (I = F x i) chia cho giá đóng cửa hôm qua
P(t-1)
Lợi suất hiện tại (CY)=Mệnh giá (F)× Lãi suất danh nghĩa(i)
Giá đóng cửa hôm trước (P(t-1)Lợi suất đáo hạn (Yield to maturity - YTM) là lợi suất đầu tư cho đến lúc trái phiếu
đáo hạn Giả sử bạn mua một trái phiếu có mệnh giá F=1.000$, thời hạn n=14 năm
được hưởng lãi suất hàng năm i=15%, lãi (I=Fxi) với giá P=1.368,31$ Bạn giữ trái
phiếu này cho đến khi đáo hạn, lợi suất đầu tư trái phiếu này là bao nhiêu? Để xác
định lợi suất đầu tư khi trái phiếu đáo hạn, chúng ta có thể giải phương trình sau (đặt
(1+r)n= ×PVIFAr,n+F×PVIFr,nThe Present Value Interest Factor of Annuity (PVIFA) là hệ số tính giá trị hiện tại
của dòng tiền đều (I) trong tương lai The Present Value of Interest Factor (PVIF) là
Trang 35hệ số tính giá trị hiện tại của một khoản tiền nhận được trong tương lai (F) Các hệ số này được tính toán trong các bảng tra tài chính ứng với thời đoạn n và lãi suất i Thay số vào phương trình
1.368,31= 150
(1+r)1+
150(1+r)2+…+
150(1+r)13+150+1.000
(1+r)14 =150×PVIFAr,14+1.000×PVIFr,14Phương trình này được giải trên máy tính tài chính hoặc bằng thuật toán của Excel Lợi suất đầu tư khi trái phiếu đáo hạn YTM = r = 10%
Ví dụ: Một trái phiếu có mệnh giá 1.000.000 đồng, lãi suất 8%, n = 20 năm, giá thị
trường là 1.050.000 đồng Nếu nhà đầu tư mua trái phiếu này, suất thu lợi của nhà đầu tư (yield to maturity) là bao nhiêu và suất thu lợi thực tế (current yield) là bao nhiêu?
Trong excel, sử dụng hàm RATE(nper,pmt,pv,fv,type,guess)
000.80
= 7,62%
Đôi khi công ty phát hành trái phiếu có kèm theo điều khoản thu hồi (mua lại) trái phiếu trước hạn Điều này thường xảy ra nếu như công ty dự báo lãi suất sẽ giảm sau khi phát hành trái phiếu Khi ấy công ty sẽ thu hồi lại trái phiếu đã phát hành (với lãi suất cao) để phát hành trái phiếu mới có lãi suất thấp hơn thay thế và nhà đầu tư sẽ nhận được lợi suất cho đến khi trái phiếu được thu hồi (YTC) thay vì nhận lợi suất cho đến khi trái phiếu đáo hạn (YTM) Lợi suất trái phiếu lúc thu hồi được tính trong công thức sau:
(1+r)1+
I(1+r)2+…+
I(1+r)m-1+ I+Pc
(1+r)mTrong đó m là số năm cho đến khi trái phiếu được thu hồi, Pc là giá thu hồi trái phiếu
và YTC=r là lợi suất khi trái phiếu được thu hồi Nếu biết giá của trái phiếu (P) và lãi hàng năm (I=Fxi), giải phương trình trên để tìm lãi suất khi trái phiếu được thu hồi (YTC=r)
2.1.7 Mối quan hệ giữa giá trái phiếu và các yếu tố lãi suất, thời hạn và suất chiết khấu
Một trái phiếu F = $ 1.000, i = 7% Giả sử lãi suất thị trường (r) có thể là 5%, 7% hoặc 9% Giá trái phiếu được xác định ở từng mức chiết khấu trong các trường hợp thời gian đáo hạn của trái phiếu là 2, 4, 10, 15, 30 và 50 năm như Bảng 2
Trang 36Bảng 2: Giá trái phiếu (F = $ 1.000, i = 7%) ở các mức chiết khấu khác nhau và
trong các trường hợp thời gian đáo hạn khác nhau
Hình 4: Giá trái phiếu (F = $ 1.000, i = 7%) ở các mức chiết khấu khác nhau và
trong các trường hợp thời gian đáo hạn khác nhau
Sự thay đổi của giá của trái phiếu khi thời hạn và suất chiết khấu trái phiếu thay đổi được minh họa trong Bảng 2 Khi lãi suất thị trường bằng lãi suất danh nghĩa của trái phiếu (r=i), giá trái phiếu luôn bằng mệnh giá F=$1.000 Khi lãi suất thị trường nhỏ hơn lãi suất danh nghĩa (r<i), giá trái phiếu lớn hơn mệnh giá; trái phiếu có thời gian đáo hạn càng dài thì mệnh giá càng lớn Ngược lại, khi lãi suất thị trường cao hơn lãi suất danh nghĩa của trái phiếu (r>i), giá trái phiếu nhỏ hơn mệnh giá; trái phiếu có thời gian đáo hạn càng dài thì mệnh giá càng nhỏ Ngoài ra, Hình 4 còn cho thấy khi lãi suất thị trường khác với lãi suất danh nghĩa (r≠i), giá trái phiếu nhạy cảm với thời gian đáo hạn của trái phiếu: thời gian đáo hạn càng dài thì giá càng xa mệnh giá Nói cách khác, giá trái phiếu tiến gần về mệnh giá khi trái phiếu càng gần ngày đáo hạn
Trang 372.2 CỔ PHIẾU
2.2.1 Khái niệm
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối – cổ đông, đã góp một phần vốn vào công ty cổ phần – cổ phần Cổ phiếu là giấy chứng nhận cổ phần của cô đông Cổ phiếu là giấy chứng nhận góp vốn và không có
kỳ hạn hoàn vốn Cổ phiếu của một công ty cổ phần còn có giá trị khi công ty cổ phần đó vẫn còn hoạt động Ngoại trừ cổ phiếu ưu đãi, cổ tức của cổ phần thường phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và tỷ lệ chi trả cổ tức của công ty Khi công ty cổ phần phá sản, cổ đông thường (người nắm giữ cổ phần thường) là người cuối cùng được hưởng giá trị còn lại của tài sản thanh lý Giá
cổ phiếu trên thị trường chứng khoán biến động do nhiều nhân tố, nhưng nhân tố cơ bản nhất là hiệu quả kinh doanh và triển vọng phát triển của công ty qua đánh giá của nhà đầu tư
2.2.2 Đặc điểm các loại cổ phần/cổ phiếu
Căn cứ vào sự ưu đãi dành cho cổ đông, cổ phần được chia làm 2 loại: cổ phần ưu đãi và cổ phần thường (cổ phần phổ thông)
Cổ phần ưu đãi có những ưu tiên đặc biệt hơn về mặt tài chính so với các cổ phần thường nhưng bị hạn chế về quyền hạn như không được tham gia bầu cử, ứng cử vào hội đồng quản trị, ban kiểm soát Cổ phần ưu đãi có các loại sau:
Cổ phần ưu đãi tích lũy/không tích lũy Trong trường hợp công ty cổ phần phát hành cổ phần không có lợi nhuận để trả cho cổ đông ưu đãi, cổ tức của
cổ phần ưu đãi tích lũy được tích lũy sang những năm tiếp theo đến khi nào công ty có lãi để trả dần cổ tức cho cổ đông Trái lại, cổ tức của cổ phần không tích lũy không được tích lũy như vậy
Cổ phần ưu đãi có chia phần, ngoài khoản cổ tức cố định được chia, cổ đông nắm giữ loại cổ phần này còn được chia thêm cổ tức nếu công ty hoạt động tốt
Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần thường được chuyển đổi thành cổ phần thường sau một thời gian nhất định
Cổ phần ưu đãi có thể chuộc lại giống trái phiếu có thể chuộc lại ở chỗ nhà phát hành có thể mua lại khi cần thiết, nhưng khác với trái phiếu chuyển đổi
vì nó là một cổ phần, là công cụ thể hiện quyền sở hữu của cổ đông trong một công ty cổ phần
Các loại cổ phần ưu đãi theo Điều 113 Luật doanh nghiệp Việt Nam (Luật số: 68/2014/QH13) bao gồm cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần
ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định
Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có quyền biểu quyết cao hơn cổ phần thường
Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết được quy định trong điều lệ của công ty Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được
Trang 38quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết Thời hạn hiệu lực của cổ phần ưu đãi biểu quyết tối đa là 03 năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Sau thời hạn này, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông
Cổ phần ưu đãi cổ tức là loại cổ phần được nhận cổ tức cao hơn cổ phần thường hoặc cao hơn một mức cố định hàng năm Cổ tức của cổ phần này bao gồm 2 phần: phần
cố định và cổ tức thưởng Cổ tức cố định và phương thức xác định mức cổ tức thưởng được ghi trên cổ phần ưu đãi cổ tức
Cổ phần ưu đãi hoàn lại là loại cổ phần mà công ty phải hoàn lại vốn bất kỳ khi nào
có yêu cầu của cổ đông hoặc theo những quy định được ghi trên cổ phần
Điểm 6, Điều 113 Luật Doanh nghiệp Việt Nam quy định cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo nghị quyết của đại hội đồng cổ đông
Các loại cổ phần thường còn được gọi là cổ phần phổ thông Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông Dựa vào những đặc điểm riêng của từng cổ phần, cổ phần thường được phân thành nhiều loại
Liên quan đến quyền bầu cử, quyền được hưởng cổ tức cổ phần được chia thành các loại sau:
Cổ phần thường loại A: là loại cổ phần phát hành ra công chúng và được hưởng cổ tức nhưng không có quyền bầu cử Do vậy, giá cổ phần này thấp hơn loại cổ phần thường được bỏ phiếu
Cổ phần thường loại B, còn gọi là cổ phần sáng lập viên (founder’s share) –
có quyền bầu cử nhưng chỉ được hưởng cổ tức khi công ty đạt đến một giai đoạn tăng trưởng nhất định
Cổ phần thường có gộp lãi (accumulating ordinary share): cổ đông không nhận cổ tức bằng tiền mặt mà được nhận cổ tức bằng cổ phần mới phát hành Căn cứ vào đặc điểm của công ty, nhà đầu tư phân biệt cổ phiếu của các công ty cổ phần thành các loại sau:
Cổ phiếu “thượng hạng” (Blue chip stock) là cổ phiếu của những công ty lớn, nổi tiếng trên thị trường Các công ty này có lịch sử phát triển lâu đời, khả năng sinh lợi cao, ổn định
Cổ phiếu tăng trưởng (growth stock) do những công ty đang trong giai đoạn tăng trưởng phát hành Những công ty loại này là những công ty mới, kinh doanh những sản phẩm mới hứa hẹn tiềm năng phát triển nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro thất bại Vì vậy, cổ phiếu này khá rủi ro nhưng bù lại hứa hẹn khả năng sinh lợi cao Hơn nữa, các công ty này quan tâm đến việc đầu tư mở rộng sản xuất, nghiên cứu chế tạo sản phẩm mới nên thường giữ lại lợi nhuận
để tái đầu tư Do đó, tỷ lệ chi trả cổ tức rất thấp
Trang 39 Cổ phiếu thu nhập (income stock) mang lại cổ tức cao cho cổ đông nắm giữ loại cổ phiếu này Đây thường là cổ phiếu của những công ty công cộng hoặc một số công ty lâu năm, tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt (payout ratio) cao nên thích hợp cho những nhà đầu tư thích nhận cổ tức, các quỹ hưu bổng…
Cổ phiếu chu kỳ (Cyclical stock) là cổ phiếu của những công ty hoạt động trong những ngành mà sự tăng trưởng của ngành này thay đổi theo chu kỳ kinh tế Khi nền kinh tế phát triển ổn định, công ty có lợi nhuận khá cao, giá
cổ phiếu cũng tăng cao Và ngược lại, khi nền kinh tế gặp khó khăn, giá cổ phiếu sẽ giảm
Cổ phiếu theo mùa (seasonal stock) là cổ phiếu của những công ty mà hoạt động kinh doanh thay đổi theo mùa vụ nhất định trong năm như: lễ, Tết, khai giảng năm học mới… Ví dụ như công ty du lịch, các công ty thời trang
2.2.3 Các loại giá cổ phiếu
Mệnh giá (Par-value): là giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu Mệnh giá chỉ là
giá trị danh nghĩa, thậm chí ở Mỹ người ta còn phát hành cổ phiếu không ghi mệnh giá bởi vì mệnh giá cổ phiếu không có ý nghĩa kinh tế
Tổng số cổ phiếu đăng ký phát hành
Thư giá (Book value): là giá cổ phiếu tính theo giá trị sổ sách Ví dụ: Năm 2010
Công ty cổ phần SVC có 1 triệu cổ phần mệnh giá 10.000 đồng/cổ phần Vốn điều lệ của công ty SVC tại thời điểm này là 10 tỷ đồng Năm 2015, nguồn quỹ tích lũy từ lợi nhuận giữ lại là 5 tỷ đồng Thư giá cổ phiếu tại thời điểm này là:
10 tỷ + 5 tỷ
1 triệu cổ phiếu=
15.000.000.0001.000.000 = 15.000 đồng
Giá trị thực chất (Intrinsic value) là giá trị của cổ phiếu ở thời điểm hiện tại, còn
được gọi là hiện giá Các nhà kinh doanh chứng khoán luôn tìm cách tính toán, xác định giá trị thực chất/hiện giá của cổ phiếu Nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu muốn đánh giá được giá trị thực của cổ phiếu, so sánh với giá của thị trường để chọn lựa phương án đầu tư có hiệu quả nhất Có nhiều mô hình định giá cổ phiếu được sử dụng để xác định hiện giá cổ phiếu Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có mô hình nào được chấp nhận là hoàn hảo Cơ bản, hiện giá được tính toán căn cứ vào cổ tức công ty, triển vọng phát triển của công ty và lãi suất thị trường
Thị giá (Market value): là giá cổ phiếu được mua bán trên thị trường tại một thời
điểm nhất định Thị giá thường biến đổi xung quanh giá trị của cổ phiếu tùy theo quan hệ cung cầu tại thời điểm mua bán Quan hệ cung cầu cổ phiếu lại chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế chính trị, xã hội… Thị giá tạo nên giá thị trường của công
ty và về cơ bản chịu sự tác động bởi khả năng sinh lợi của doanh nghiệp
Trang 402.2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu
Nhân tố kinh tế là những yếu tố cơ sở cho việc định giá cổ phiếu là lợi nhuận của
công ty - thể hiện qua chỉ số lợi nhuận trên mỗi cổ phần EPS (Earning per Share) và lãi suất trên thị trường Trong đó, EPS tương lai được đánh giá qua triển vọng phát triển và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, những yếu tố này bị ảnh hưởng lớn bởi khuynh hướng phát triển của ngành, của nền kinh tế trong nước và rộng hơn nữa là
xu thế phát triển của nền kinh tế khu vực và thế giới
Nhân tố phi kinh tế là những nhân tố phi kinh tế bao gồm những thay đổi trong điều
kiện chính trị, xã hội, khoa học kỹ thuật, điều kiện tự nhiên như chiến tranh, bầu cử,
cơ cấu quản lý hành chính, thay đổi thời tiết
Nhân tố thị trường là những nhân tố thị trường được hiểu là những nhân tố nội tại
của thị trường bao gồm sự biến động thị trường và mối quan hệ cung cầu, được coi là một trong ba nhân tố ảnh hưởng đến giá chứng khoán Sự thăng trầm của thị trường
là do sai lệch trong việc ước đoán giá cổ phiếu, như trong trường hợp ước đoán giá
cổ phiếu quá cao
Tóm lại, sự biến động giá cổ phiếu chịu ảnh hưởng bởi sự pha trộn nhiều nhân tố khác nhau, trong đó nhân tố cơ bản tập trung nhất là khả năng sinh lợi của doanh nghiệp và triển vọng phát triển
2.2.5 Định giá cổ phiếu
Phương pháp chiết khấu dòng thu nhập (DCF)
Giá trị = Thu nhập thời đoạn t
(1 + r)
Các yếu tố cần xác định
Thu nhập thời đoạn t: những giá trị thu nhập từ cổ phiếu trong tương lai Những khoảng thu nhập này thường biến đổi, không ổn định như thu nhập từ lãi của trái phiếu
Suất chiết khấu r: suất chiết khấu được sử dụng thường là chi phí sử dụng vốn
đã điều chỉnh rủi ro (Risk adjusted cost of capital)
Thời gian t: thời gian nắm giữ cổ phiếu Cổ phiếu có thể được bán ra vào một năm n hoặc được nắm giữ mãi mãi (n=∞)
Giá trị của cổ phiếu được tính toán trên cơ sở một số giả định Từ những giả định khác nhau, nhiều mô hình định giá cổ phiếu ra đời dựa trên cách tính này
Chiết khấu dòng thu nhập cổ phiếu, giá cổ phiếu được tính bằng:
n n n 3
3 2
2 1
1
0
)1(
PD
)1(
D)
1(
D)