1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Kỹ năng giao tiếp và truyền thông

88 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ưu điểm và nhược điểm của truyền thông - Không thể làm thay được công việc của người đi làm truyền thông Vì vậy, chỉ sử dụng phương pháp truyền thồng nhất là phương pháp truyền thông ti

Trang 1

TÀI LIỆU GIẢNG DẠY

KỸ NĂNG GIAO TIẾP VÀ TRUYỀN THÔNG

Người biên soạn: ThS Phạm Xuân Phú

An Giang, Ngày 20 tháng 08 năm 2016

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Trang 2

PHẦN 1: THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THÔNG 1.1 Khái niệm về thông tin và truyền thông

1 1.1 Khái niệm về thông tin

Thông tin (Information) là những ý tưởng, những ý thức, những sự kiện mà con người có thể hiểu biết về nó nhờ có sự trao đổi với nhau hoặc do con người nhận biết bằng các giác quan

1.1.2 Mục đích của thông tin

- Thông tin là phương tiện giao tiếp và phát triển cộng đồng

- Thông tin thúc đẩy sự phát triển xã hội và ngược lại xã hội càng phát triển nhu cầu thông tin càng cao

- Trong thời đại ngày nay được mệnh danh là thời đại của công nghệ thông tin

là động lực phát triển của xã hội

1.1.3 Khái niệm truyền thông

Truyền thông là quá trình truyền đạt thông tin từ người này đến người khác một cách trực tiếp hoặc thông qua các phương tiện, thiết bị thông tin Trong thực

tế, hiện nay người ta đã sử dụng rất nhiều các phương tiện thông tin đại chúng khác nhau như đài, tờ rơi, áp phích…để cung cấp thông tin cần thiết cho đại đa số nông dân tại cùng một thời điểm

1.1.4 Ưu điểm và nhược điểm của truyền thông

- Không thể làm thay được công việc của người đi làm truyền thông

Vì vậy, chỉ sử dụng phương pháp truyền thồng nhất là phương pháp truyền thông tin đại chúng trong các trường hợp sau đây:

- Tuyên truyền để giúp nông dân nhận thức được những sáng kiến mới và động viên họ đẩy mạnh sản xuất

Trang 3

- Đưa ra lời khuyến cáo đúng lúc (ví dụ: khả năng bùng nổ của một loại sâu biệnh nào đó và hướng dẫn nông dân biện pháp xử lý

- Mở rộng phạm vi ảnh hưởng các hoạt động truyền thông (ví dụ: Tuyên truyền mô hình trình diễn…)

- Chia sẻ kinh nghiệm với những nông dân ở địa phương khác (ví dụ: thành công về mô hình VAC của nông dân ở một địa phương nào đó nếu được phát trên đài sẽ có tác dụng khuyến khích nông dân ở địa phương khác làm theo)

- Trả lời thắc mắc của nông dân Thường thì lời khuyên về cách khắc phục một vấn đề nào đó nếu được phát trên đài, ti vi, báo chí sẽ được nhiều người biết đến

- Nhắc đi nhắc lại nhiều lần một lượng thông tin hoặc một lời khuyến cáo cho nông dân để làm cho họ nhớ kỹ và lâu hơn

1.2 Nguyên tắc sử dụng phương tiện thông tin đại chúng

Muốn sử dụng hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng trong công tác truyền thông cho người dân phải:

- Tiếp cận được phương tiện thông tin (có radio, tivi…)

- Có nghe hoặc có xem (có người có đài nhưng không nghe bao giờ)

- Nghe hoặc xem một cách chăm chú Muốn vậy, thông tin phải đáp ứng nhu cầu của nông dân và được trình bày hấp dẫn

- Hiểu được thông tin

- Thông tin truyền thông thường có tính giáo dục, cho nên nếu không có kết cấu chặt chẽ sẽ làm cho người nghe/xem chóng chán, nếu dài quá sẽ làm cho họ chóng quên Vì vậy, thông tin phải:

- Đơn giản và ngắn

- Được nhắc đi nhắc lại nhiều lần

- Có kết cấu chặt chẽ

1.3 Các yếu tố chính của quá trình truyền thông

Truyền thông có kết quả phải là truyền thông 2 chiều Người cung cấp thông tin phải chú ý đến phản ứng và trả lời của người tiếp nhận Quá trình phản hồi là yếu

tố quan trọng của quá trình truyền thông:

- Nguồn phát thông tin

- Nội dung thông tin

- Kênh thông tin

Trang 4

- Người nhận thông tin

Người truyền đạt thông tin bao giờ cũng phải cân nhắc một cách cẩn thận 4 yếu tố nêu trên, vì chúng đều ảnh hưởng đến quá trình truyền thông Khi nghiên cứu từng yếu tố một cần xem xét đánh giá chúng trên cơ sở các câu hỏi sau đây:

Ngu ồn thông tin (người cung cấp thông tin):

Nguồn thông tin là yếu tố khởi xướng việc thực hiện truyền thông, yếu tố đó có thể là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức truyền thông Khi sử dụng thông tin cần quan tâm đến độ tin cậy, sự tín nhiệm và tính chính xác, mới mẻ, hấp dẫn

Nguồn thông tin được phát ra từ đâu? (từ ai, từ tài liệu nào, từ các kết quả nghiên cứu hay các mô hình thành công tại địa phương…)

Thông tin sẽ được đưa tới đối tượng nào?(cán bộ cấp trên hay nông dân)

N ội dung thông tin (thông điệp):

Những chi tiết, nội dung thông tin cần truyền đạt

- Thông tin bao gồm những nội dung thông tin gì?

- Nội dung có đáp ứng nhu cầu đối tượng không?

- Nội dung có dễ hiểu không? Cần chuyển hóa như thế nào cho dễ hiểu?

Kênh thông tin (mạch truyền thông tin): Là cách thể hiện thông điệp thông

qua các phương tiện truyền thông trung gian:

- Truyền đạt thông tin bằng phương tiện nào sẽ có hiệu quả nhất ? (lời nói, tranh ảnh, hay các phương tiện nghe nhìn khác)

- Người nhận tin có phương tiện gì trong nhà (đài, ti vi, báo…)

- Họ có biết đọc không? Nếu họ không biết ai sẽ giúp họ hiểu nội dung thông tin?

Người nhận thông tin: là đối tượng cần tác động, cần đáp ứng nhu cầu và

giúp họ hiểu nội dung và làm theo

- Người nhận thông tin là ai? họ cần thông tin gì? họ có thể sử dụng thông tin nào?

- Thông tin sẽ đem lại cho họ phản ứng gì? họ có biết những gì của chủ đề không?

- Họ có chấp nhận không? Có áp dụng được không, những vấn đề phức tạp

đã được đơn giản hóa cho dễ hiểu để áp dụng chưa?

1.4 Làm sao truyền thông có hiệu quả

Nh ững câu hỏi cần trả lời khi tuyền thông

Trang 5

- Thông tin truyền có đúng đối tượng không?

- Họ có đọc chúng không?

- Họ có hiểu chúng không?

- Họ có làm gì sau đó không?

- Họ có phản hồi cho người trao thông tin không?

 Quy trinh gửi nhận

 Truyền thông có hiệu quả

- Lập kế hoạch truyền thông có hiệu quả

- Tập trung vào đối tượng nhận thông tin

- Nên đơn giản

Xây d ựng bảng câu hỏi bắt đầu bằng các từ dễ hỏi

- Thông điệp định gửi là gì?

- Ai là nhóm đối tượng nhận tin?

- Công cụ truyền thông nào sẽ được sử dụng?

- Lúc nào là thời điểm thích hợp?

- Tổ chức truyền thông ở đâu?

Một quá trình truyền thông có hiệu quả sẽ tạo sự phát triển của nguồn thông tin và ngày càng nâng cao trí thức cho người nhận

Người gửi

thông tin

Kênh truyền thông

Trang 6

Sơ đồ dưới đây là một quá trình truyền thông có hiệu quả

L ập kế hoạch truyền thông

- Xác định mục tiêu truyền thông

- Xác định cơ sở lý luận (tại sao việc lập kế hoạch truyền thông lại quan trọng)

- Xác định và hiểu nhóm đối tượng

- Chọn công cụ truyền thông thích hợp cho từng nhóm đối tượng cho từng mục tiêu

- Lên thời gian và lập kế hoạch

- Kiểm tra và điều chỉnh

NỘI DUNG THÔNG TIN

NGƯỜI ĐƯA TIN (Người nhận tin cũ)

NỘI DUNG THÔNG TIN

KÊNH TRUYỀN THÔNG TIN (Phương pháp)

NGƯỜI NHẬN THÔNG TIN

Áp dụng TBKT

tự tìm hiểu

Thắc mắc, muốn

có thông tin mới

- Từ người tin cậy

- Đơn giản hoá

- Đưa vào thông tin

- TBKHKT

- Chính sách

Nhìn, nghe, nói vi ết Hiểu biết, thuyết phục

Quyết định, hoàn thiện

Trang 7

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN THÔNG TRONG KHUYẾN NÔNG 2.1 Một số định nghĩa về khuyến nông

Nội dung công tác khuyến nông rất đa dạng bởi vì khuyến nông dựa trên yêu cầu của nông dân về ngững thông tin và kiến thức họ cần Đất nước càng phát triển, trình độ văn hoá, quản lý, kiến thức khoa học của nông dân càng cao thì nội dung hoạt động khuyến nông càng phong phú Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi nước mà định nghĩa về khuyến nông có những điểm khác nhau

 Theo CIDSE (Tổ chức hợp tác quốc tế vì phát triển và đoàn kết): “Khuyến nông là một từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc liên quan đến sự phát triển nông thôn Đó là một hệ thống giáo dục ngoài nhà trường, trong đó người già và trẻ em được học bằng thực hành”

 Theo FAO (Tổ chức lương thực và nông nghiệp): “ Khuyến nông là một quá trình dịch vụ thông tin truyền bá kiến thức và đào tạo tay nghề cho nông dân, làm cho nông dân có đủ khả năng để giải quyết lấy các vấn đề của gia đình, của làng xã Nói cách khác, khuyến nông là một biện pháp giúp đỡ nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ, xây dựng phát triển nông thôn và cải thiện điều kiện vật chất, tinh thần cho nông dân”

Định nghĩa về khuyến nông của Indonesia:

Khuyến nông nông nghiệp là một hệ thống giáo dục không theo một quy định thống nhất nào mà cũng không theo một hệ thống chung nào để huấn luyện nông dân nhằm mục đích giúp họ có những kỹ năng và trình độ kỹ thuật tốt hơn, phát triển hơn quan điểm xác thực về đổi mới dành được thế chủ động trong sản xuất, kinh doanh và cuộc sống của họ

Định nghĩa này dựa trên quan điểm cơ bản là giúp nông dân để rồi họ tự giúp

họ Vì vậy, họ có thể tự giải quyết những vấn đề của chính họ bằng sự chấp nhận

ký thuật tốt hơn trong sản xuất và những hoạt động trong kinh doanh

Như vậy, khuyến nông ở Indonesia không đơn thuần liên quan đến việc chuyển giao kỹ thuật tiến bộ mà trước hết liên quan đến giáo dục nông dân để họ trở thành những người thực sự phát triển

Vậy: Khuyến nông là một quá trình, một dịch vụ truyền bá kiến thức và huấn luyện tay nghề cho nông dân làm cho họ có khả năng tự giải quyết lấy các vấn đề của họ nhằm phát triển sản xuất, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân

2.2 Đối tượng nghiên cứu của khuyến nông

Nông dân là đối tượng chủ yếu và mục tiêu chính của giáo dục khuyến nông

và khuyến nông nghiên cứu về nông dân như chủ thể của một đơn vị sản xuất và tiêu thụ cơ bản Vì vậy, giáo dục khuyến nông cần hiểu tâm lý của nông dân trên

cơ sở cơ cấu dân cư nông thôn và điều kiện sinh thái nhân văn của nông dân

Trang 8

2.2.1 Đặc điểm tâm lý xã hội với nông dân

Đặc điểm tâm lý của người nông dân Việt Nam trong cộng đồng làng xã, dòng

họ gắn chặt chẽ với nền văn hoá trồng lúa nước Tâm lý được hình thành lâu đời với nông nghiệp, nông dân ít thay đổi Trong cơ chế cũ nhiều năm xưa, cán bộ đến với nông dân để giao các chỉ tiêu, truyền đạt các mệnh lệnh hoặc truyền đạt các chủ trương mang tính áp đặt Người nông dân chỉ biết thừa hành và phục tùng Ngày nay khuyến nông với đúng nghĩa của nó: người nông dân được đặt vị trí trung tâm Mục đích của giáo dục khuyến nông là khuyến khích để nông dân tham gia vào quá trình phát hiện những điều họ cần học hỏi Lựa chọ tiến bộ nào? Cần

tư liệu thông tin gì? Thông qua giáo dục khuyến nông sẽ đáp ứng Vì vậy, về tâm lý giáo dục huấn luyện nông dân cần chú ý:

- Hiểu và thông cảm tình cảm của nông dân bước vào cơ chế thị trường còn khó khăn, vướng mắc trăn trở gì? Họ là người chịu nhiều hy sinh trong các cuộc kháng chiến nhưng họ vẫn nghèo khổ và chịu nhiều khó khăn

- Giáo dục khuyến nông chỉ có tác dụng khi thực tiễn làm cho nông dân có hiệu quả hơn, năng suất cao hơn

- Công tác giáo dục khuyến nông phải biến điều quan tâm của nông dân thành hiện thực để tạo động lực thúc đẩy chứ không chỉ là mơ ước

2.2.2 Đặc điểm về điều kiện sinh thái

Nông dân nước ta với hơn 80 triệu dân, gồm 54 dân tộc và gần 80% dân số là nông dân chia làm 2 vùng rõ rệt:

- Vùng đồng bằng chiếm khoảng 70% dân số Dân cư đa số là người kinh phân bố phần lớn ở các vùng đồng bằng và châu thổ các sông ngòi lớn Nền nông nghiệp truyền thống chủ yếu dựa vào nghề trồng lúa

- Vùng núi chiếm khoảng 30% dân số, nhưng chiếm 2/3 đất đai của cả nước Dân cư chủ yếu là dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng kém Tình trạng canh tác thô sơ, chủ yếu dùng các công cụ thủ công với nền sản xuất tự cung tự cấp, do đó còn chưa thoát khỏi nghèo đói

Người nông dân làm nông nghiệp còn lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên việc sản xuất chịu ảnh hưởng của thiên tai như hạn hán, lũ lụt…gây ra

Về phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, mỗi vùng dân cư, mỗi dân tộc có màu sắc đa dạng riêng, nhưng vẫn có nét tương đồng trong đặc điểm chung của cộng đồng Việt Nam (như sau thu hoạch đều tổ chức lễ hội truyền thống cầu nguyện tâm linh mưa thuận gió hoà, để sản xuất nông nghiệp bội thu…) Từ đó giáo dục khuyến nông cần hiểu ngững đặc điểm nơi người nông dân đã sinh sống

và gắn bó lâu đời để có sự thông cảm và cách tiếp cận phù hợp với từng vùng

2.3 Mục đích và ý nghĩa của khuyến nông

2.3.1 Mục đích

Trang 9

 Đẩy mạnh công tác khuyến nông nhằm giúp hộ nông dân nâng cao hiệu quả

sử dụng những điều kiện tự nhiên và điều kiện vật chất nâng cao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế gia đình, nâng cao thu nhập cho nông dân

 Nâng cao trình độ mọi mặt cuả người dân để tự họ vượt qua thử thách khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, trong cuộc sống của họ

 Tóm lại với quan điểm hiện tại thì mục đích của khuyến nông là truyền bá kiến thức, giảng dạy kỹ năng, trợ giúp những điều kiện vật chất cần thiết cho nông dân để nông dân có đủ khả năng tự giải quyết được những công việc chính mình, tự tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhằm cải thiện đời sống và phát triển nông thôn

2.3.2.Ý nghĩa

 Thông qua khuyến nông trình độ hiểu biết của nông dân được tăng lên để họ

có khả năng tiếp nhận những tiến bộ mới về khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất của địa phương và gia đình họ, nắm vững thông tin và xử lý thông tin đó một cách khách quan để họ có những quyết định đúng đắn trong sản xuất kinh doanh và đời sống gia đình

 Chỉ bằng con đường khuyến nông những tiến bộ mới về khoa học kỹ thuật, những thông tin về kinh tế thị trường, văn hoá và xã hội mới nhanh chóng đến được với người dân để họ có điều kiện đẩy nhanh sản xuất

 Khuyến nông là cầu nối giữa nghiên cứu và sản xuất, đó là cầu nối hai chiều giữa các nhà nghiên cứu với nông dân

 Đây là con đường xoá đói giảm nghèo có hiệu quả, biến vùng nông thôn nghèo nàn lạc hậu trở thành nơi trù phú về kinh tế, sạch về môi trường và đẹp về cảnh quan

2.4 Bản chất của khuyến nông

Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình người nông dân phải luôn luôn đòi hỏi vươn tới một cuộc sống có chất lượng ngày càng cao Tuy nhiên với sự hạn chế về mọi mặt nông dân rất khó có thể tự giải quyết thành công những mục tiêu của họ nên họ cần có sự trợ giúp của nhà nước và xã hội

Để tổ chức được các hoạt động sản xuất và đời sống, người nông dân có ba điều kiện:

+ Điều kiện tự nhiên

+ Điều kiện vật chất

+ Điều kiện tri thức và kỹ năng

Điều kiện vật chất, điều kiện tri thức và kỹ năng là những điều kiện mà bản thân nông dân không bao giờ có sẵn đầy đủ, họ luôn phải tìm kiếm thu nhận thêm

từ bên ngoài, từ về nhà nước và xã hội Do vậy, có thể nói trong quá trình phát triển, người nông dân cần có hai loại trợ giúp cơ bản, đó là:

Trang 10

+ Trợ giúp về điều kiện vật chất: Đất đai, tư liệu sản xuất, vốn và môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất và đời sống như: chính sách giá cả, tín dụng, bảo hộ hàng nông sản, chính sách thuế…

+ Trợ giúp về điều kiện tri thức là trợ giúp cho nông dân về tri thức kỹ năng và kinh nghiệm để họ có thể vận hành, sử dụng có hiệu quả hơn những điều kiện tự nhiên, vật chất sẵn có cũng như tiếp nhận từ bên ngoài

Ngày nay ở nông thôn Việt nam, sự trợ giúp về tri thức, kỹ năng kinh nghiệm càng quan trọng hơn và trở thành những yếu tố không thể thiếu được vì:

+ Hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, do vậy họ phải tự quyết định mọi công việc của chính mình

+ Sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật nông nghiệp không chỉ làm tụt hậu nhanh chóng về sự hiểu biết của nông dân mà còn làm cho họ luôn thiếu kém

về hiểu biết

+ Sự phát triển của nền nông nghiệp hàng hoá bắt buộc người nông dân phải

có hiểu biết tốt hơn, nhiều hơn về thị trường để tiếp cận thị trường có hiệu quả hơn

Trợ giúp về tri thức, kỹ năng đến với nông dân từ 2 nguồn chủ yếu:

+ Tự tích luỹ bằng cách tự học từ thực tiễn sản xuất và tự học qua sách vở + Tiếp nhận từ các tổ chức, cá nhân thông qua dịch vụ truyền bá thông tin, giáo dục và huấn luyện

Vì đặc điểm của tri thức là không chuyển giao được như vật chất Vì vậy, để

có tri thức, người nông dân không đơn thuần mua bán nó như yếu tố vật chất mà

họ phải được truyền bá, phổ biến Các hình thức truyền bá để người nông dân tiếp nhận được tri thức rất phong phú, bao gồm: Tuyên truyền, huấn luyện - giảng dạy - giáo dục - đào tạo - tư vấn - thuyết phục - trình diễn - khuyến cáo - thực nghiệm…Những hoạt động truyền bá tri thức kể trên gọi chung là “dịch vụ truyền

Vì vậy, bản chất của khuyết nông là:

+ Một quá trình giáo dục, huấn luyện nông dân

+ Cung cấp và truyền bá thông tin

+ Tư vấn giúp nông dân tự giải quyết những vấn đề của họ

2.5 Lịch sử hình thành và phát triển khuyến nông

Trang 11

2.5.1 Lịch sử hình thành và phát triển khuyến nông trên thế giới

Khuyến nông bắt đầu từ thời kỳ Phục Hưng (thế kỷ 14) khi nền khoa học bắt đầu ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất

Khởi đầu là thầy thuốc và nhà giáo người Pháp Rabelais (1493-1553), ông chủ trương gắn liền nhà trường với thực tiễn (hướng dẫn nông dân một cách cặn

kẽ về nhận biết các loại rau quả phục vụ cho cuộc sống)

- Năm 1661 giáo sư người Anh Hartlib đã viết cuốn sách về “Sự tiến bộ của nghề nông”, sau đó các chương trình giảng dạy trong các trường đại học nông nghiệp đã được đổi mới mang tính ứng dụng và thực nghiệm rõ rệt

- Năm 1777, giáo sư người Thuỵ Sĩ Heinrich Pastalozzi thấy rằng muốn mở mang nhanh nền nông nghiệp giúp nông dân nghèo cải thiện được cuộc sống trở nên giàu có thì phải đào tạo được chính con em họ có trình độ học vấn và nắm được tiến bộ kỹ thuật, biết làm một số công việc thành thạo như cày, bừa, dệt vải…

- Năm 1806, ông Philip Emanel người Thuỵ Sĩ đã tự bỏ tiền ra xây dựng 2 trường nông nghiệp thực hành tại Hofwyl và sau này nó ảnh hưởng rất lớn đối với nội dung và phương pháp đào tạo đối với cán bộ nông nghiệp ở các nước Châu

Âu Và Bắc Mỹ

- Trường đại học nông nghiệp được thành lập sớm nhất ở Châu Âu là Zarvas năm 1779 và Georgicon năm 1797 tại Hungari và sau này những trường này là những trường nông nghiệp kiểu mẫu của Châu Âu

- Năm 1723 tổ chức Hiệp Hội “Tăng cường hiểu biết về nông nghiệp” đầu tiên được thành lập ở Pháp năm 1761, ở Đức 1764 và ở Nga 1765…

- Những hiệp hội này đã đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển khuyến nông sau này

- Biểu hiện rõ nét về hoạt động mang tính chất khuyến nông trong thời kỳ này

là việc thành lập Uỷ ban Nông nghiệp của hội đồng thành phố New York (Hoa Kỳ) năm 1843, Uỷ ban này đã đề nghị các giáo sư giảng dạy ở các trường đại học Nông Nghiệp và các Viện Nghiên cứu Nông Nghiệp thường xuyên xuống các cơ

sở để hướng dẫn phổ biến khoa học kỹ thuật mới giúp đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ở các vùng nông thôn

- Năm 1800 đã có trên 200 tác giả viết về “Kết quả thực nghiệm nông nghiệp

và phát triển nông nghiệp”

- Năm 1853, Edward Hitchcok của trường đại học Amherst là một thành viên của Uỷ Ban Nông Nghiệp bang Massachusastt đã đề nghị thành lập “Học Viện Nông Dân” Ông được xem là nhà tiên phong về giáo dục khuyến nông ở Mỹ, có nhiều đóng góp tích cực thúc đẩy phát triển nông nghiệp ở Mỹ

Trang 12

- Danh từ “Extension” có nghĩa là mở rộng, triển khai được sử dụng đầu tiên ở Anh năm 1866 cùng với hệ thống giáo trình giảng dạy về nông nghiệp được các trường đại học Cambridge và Oxford biên soạn theo hướng dẫn “mở rộng” đầu tiên

- Việc chính thức thành lập hoạt động khuyến nông ở Mỹ là sự kết hợp tổng hợp của các dạng “Extension + Education” (triển khai + giáo dục)

- Bộ nông nghiệp Mỹ và các chính quyền nông nghiệp các địa phương rất ủng

hộ những cố gắng hoạt động theo dạng “Extension + Education”

- Đến năm 1907, 42 trường đại học ở 39 bang của Mỹ đã tham gia vào hoạt động theo dạng “Extension” này và có nhiều trường đại học thành lập bộ môn khuyến nông

- Năm 1914 chính phủ Mỹ ra quyết định thông qua đạo luật về khuyến nông (Smith-Lever) cho phép sử dụng các nguồn tài trợ liên bang, tiểu bang và của địa phương vào các hoạt động khuyến nông Các nhà khoa học nông nghiệp Mỹ đều ủng hộ hoạt động này Số người Mỹ theo học khuyến nông và hoạt động khuyến nông đến thời điểm đó lên tới trên 3 triệu người

2 5.2 Lịch sử hình thành và phát triển khuyến nông Châu Á

Khuy ến nông ở Ấn Độ

Được hình thành năm 1960, được tổ chức đào tạo theo 5 cấp Nhờ làm tốt công tác khuyến nông Ấn Độ đã có một nền nông nghiệp phát triển mạnh mẽ Mở đầu là cuộc “cách mạng xanh” giải quyết được cơ bản vấn đề lương thực Sau đó

đã làm “ cách mạng trắng” là sản xuất sữa đã thành công và đang làm “cách mạng nâu” phát triển chăn nuôi chủ yếu là trâu bò

Khuy ến nông ở Thái Lan

Đến năm 1967 Thái Lan mới thành lập hệ thống khuyến nông Nhưng được chính phủ đặc biệt quan tâm đầu tư cán bộ và kinh phí Số cán bộ khuyến nông ở Thái lan 1992 có khoảng 15.196 người

Khuy ến nông ở Trung Quốc

Thực ra công tác khuyến nông ở Trung quốc đã có từ lâu Năm 1993 ở trường đại học Nông Nghiệp Kinh Lăng đã lập phân khoa khuyến nông Nhưng mãi đến năm 1970 Trung Quốc mới chính thức có tổ chức khuyến nông Tại nghị quyết của BCH Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc khoá 8 (1991) về “ tăng cường công tác Nông Nghiệp và Nông Thôn” trong đó có mục 4 nêu rõ “ phải nắm vững chiến lược khoa học công nghệ và khuyến nông” Đưa các sinh viên mới tốt nghiệp về cơ

sở và đào tạo đội ngũ khuyến nông Cả nước Trung Quốc có 10/33 lãnh đạo tỉnh là trưởng ban khuyến nông Nông nghiệp Trung Quốc đã có những bước nhảy vọt nhất là 3 lĩnh vực: lúa lai, chuẩn đoán thú y và nuôi trồng thuỷ sản

Khuy ến nông ở Indonesia

Trang 13

Thành lập năm 1955, ở cấp quốc gia có hội đồng khuyến nông quốc gia điều hành Ở cấp tỉnh có diễn đàn khuyến nông cấp I do giám đốc nông nghiệp làm chủ tịch Ở cấp huyện có diễn đàn khuyến nông cấp II do khuyến nông chọn 1 trong các trưởng dịch vụ trung tâm thông tin nông thôn Ở Indonesia rất chú trọng 2 trung tâm này và được coi là tuyến đều của khuyến nông Indonesia

2 5.3 Lịch sử hình thành và phát triển khuyến nông ở Việt Nam

2.5.3.1 Thời kỳ xã hội nguyên thuỷ

Ở thời kỳ khuyến nông rất sơ đẳng chỉ là sự truyền đạt kinh nghiệm săn bắt, hái lượm, kinh nghiệm dự trữ thức ăn từ người này sang người khác và từ đời này sang đời khác Việc đòi hỏi và phổ biến cách tạo ra các công cụ lao động cũng được chú trọng đây là hình thức sơ khai của khuyến nông

2.5.3.2 Thời kỳ sản xuất theo kiểu truyền thống

Khuyến nông có những bước tiến mới, con người đã có ý thức hơn trong việc tích luỹ và phổ biến kinh nghiệm sản xuất Một số phương pháp đơn giản trong chọn tạo giống cây trồng theo các hướng sử dụng, một số biện pháp gieo trồng, tích trữ hạt giống cũng được truyền từ người này sang người khác bằng các câu

ca dao, tục ngữ như nhất nước, nhì phân…đây là thời kỳ nông dân truyền đạt cho nông dân đặc trưng nhất

Những người cầm đầu nhà nước cũng chú ý đến công tác khuyến nông:

- Từ thời nhà Đinh (năm 981) hàng năm Lê Hoàn đã tự mình xuống cày đường cày đầu tiên theo mỗi vụ sản xuất

- Trong khám định Việt Sử thông giám cương mục của Quốc Tử giám triều Nguyễn có ghi chép “dưới thời nhà vua Trần (1225-1400) có 23 lần nhà vua hoạch định chính sách khuyến nông cho nông dân

- Năm 1226 dưới thời nhà Trần lập ra các chức quan: Hà đế sứ, đồn điền sứ, khuyến nông sứ và quan chuyên chăm lo, khuyến khích phát triển sản xuẩt nông nghiệp Những công trình thuỷ lợi dẫn thuỷ nhập điền của Nguyễn Công Trứ cũng

là sự thực thi của công tác khuyến nông

- Năm 1789 vua Quang Trung đã ban bố “Chiếu khuyến nông” ông viết: “ Chính trị của bậc vương giả là phải biết vun gốc, chú trọng vào việc nông Nhờ đó

mà trong nước không có kẻ chơi không, ngoài đồng không có đất bỏ hoang Trẫm chịu mệnh trời giữ nghiệp lớn bốn bể trong lặng Nay bước đầu đại định chính sách, khuyến khích sản xuất làm cho dân giàu phải được tiến hành lần lượt cái vui giàu thịnh trẫm sẽ cùng trăm họ vui chung”

- Tháng 11 năm 1945 Hồ Chủ Tịch ra chỉ thị “Phải làm tốt công tác khuyến nông”

Trang 14

- Sau cải cách ruộng đất các tổ đổi công, hợp tác xã (HTX) ra đời đã hình thành các tổ kỹ thuật để giống, bảo vệ thực vật Các tổ kỹ thuật này thực chất là tổ khuyến nông

- Năm 1960 ở miền nam (thời Mỹ Nguỵ) thành lập “Nhà khuyến nông” trực thuộc Bộ Nông nghiệp cải cách điền địa Nông Ngư mục

- Năm 1961-1962 Bộ nông Nghiệp hàng năm đưa sinh viên xuống các HTX làm đông xuân chọn giống lúa, ngô, khoai, làm bèo dâu, tiêm phòng…

- Từ năm 1964 Bộ Nông Nghiệp chính thức có chủ trương lập các đoàn chỉ đạo sản xuất, đưa các sinh viên mới tốt nghiệp xuống các cơ sở (HTX, nông trường…) xây dựng mô hình, mở lớp tập huấn cho cán bộ chủ chốt của HTX, nông trường…

2.6 Chức năng khuyến nông

Chức năng khuyến nông phản ánh bản chất của nó Về mặt lý thuyết, chức năng của khuyến nông là truyền bá thông tin, giáo dục và huấn luyện cho nông dân Tuy nhiên trên thực tế, khuyến nông luôn luôn hoạt động trong mối quan hệ lẫn nhau với các bộ phận cấu thành của phát triển nông thôn Vì vậy, để hoạt động khuyến nông có hiệu quả, khuyến nông không chỉ là truyền bá thông tin mà phải biến những thông tin kiến thức được truyền bá thành kết quả sản xuất Tức là khuyến nông cần có những điều kiện vật chất nhất định như: vốn , đất đai, tư liệu sản xuất, sức lao động…Những điều kiện như vậy, nông dân không phải lúc nào cũng nhận được Vì vậy, khuyến nông đồng thời phải đảm trách thêm những hoạt động liên quan vốn không phải thuộc chức năng của mình

Căn cứ vào mức độ liên quan đến bản chất khuyến nông, có thể chia chức năng khuyến nông thành ra 3 loại:

(1) Nhóm chức năng chính: Là những chức năng phù hợp với bản chất của

khuyến nông như

+ Thúc đẩy: khuyến nông nông dân hành động theo sáng kiến của chính họ, phát triển hình thức hợp tác, liên kết của nông dân, nhằm mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn

+ Giáo dục huấn luyện nông dân: Tổ chức những hình thức huấn luyện, đào tạo giảng dạy cho nông dân, việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, phương pháp quản lý sản xuất và quản lý cộng đồng

+ Cung cấp và truyền bá thông tin: Thu thập, xử lý, lựa chọn những thông tin cần thiết phù hợp từ những nguồn khác nhau để truyền bá phổ biến cho nông dân + Giúp nông dân giải quyết các vấn đề phát sinh (tư vấn): Giúp nông dân phát hiện, nhận biết và phân tích được các vấn đề xảy ra trong sản xuất và đời sống và cùng họ tìm cách giải quyết

Trang 15

+ Phát triển các chủ đề và phương pháp khuyến nông: Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng nông dân, nông nghiệp, nông thôn ở từng địa phương, khuyến nông đề xướng những chủ đề khuyến nông thích hợp và xây dựng được những phương pháp khuyến nông cụ thể để thực hiện các chủ đề khuyến nông

+ Đánh giá hoạt động khuyến nông: Bao gồm việc kiểm tra, theo dõi, giám sát

và đánh giá các hoạt động khuyến nông theo từng chủ đề và thời gian nhất định + Cầu nối giữa sản xuất và nghiên cứu

(2) Nhóm chức năng phụ: Là những chức năng về bản chất không phải

khuyến nông nhưng cần có để thực hiện nhóm chức năng chính là:

+ Trợ giúp nông dân bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm

+ Tổ chức các thử nghiệm nghiên cứu trên đồng ruộng tại địa phương nhằm kiểm tra sự phù hợp của các kết quả nghiên cứu khoa học tại địa phương, làm cơ

sở cho việc phổ biến, mở ruộng những kết quả đó

+ Trợ giúp nông dân phát triển các điều kiện về cở sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn như: xây dựng đường xá, phương tiện giáo dục học tập của nông dân,

cơ sở thuỷ lợi…

+ Cung cấp dịch vụ về:

 Cây con giống

 Bảo vệ thực vật

 Chữa biệnh vật nuôi

Dĩ nhiên khi khuyến nông thực hiện những chức năng này họ biến thành vai trò của người quản lý hoặc người thực hiện dịch vụ kinh doanh nông nghiệp, chứ không phải là người tư vấn Vì vậy, cần xác định một ranh giới phù hợp khi khuyến nông thực hiện những chức năng này

(3) Nhóm chức năng liên quan: Là những chức năng bổ sung tạo điều kiện

cho các nhóm chức năng trên thực hiện như:

+ Giúp nông dân về tín dụng và thanh toán: khuyến nông trong nhiều trường hợp phải đưa ra những tư vấn cho nông dân về cách khai thác, tìm kiếm nguồn vốn, các phương thức thủ tục vay tín dụng và thanh toán Tuy nhiên, việc xử lý nợ nần không phải là chức năng của khuyến nông

+ Thống kê về hoạt động khuyến nông: Khuyến nông có chức năng thu thập

số liệu về hoạt động khuyến nông ở địa phương mà mình phụ trách để cung cấp cho các tổ chức khuyến nông cấp trên

Nghiên cứu Khuyến nông Nông dân

Trang 16

+ Kiểm tra hoạt động khuyến nông: Khuyến nông trong chừng mực nào đó thực hiện chức năng kiểm tra một số lĩnh vực của hoạt động sản xuất nông nghiệp

ở địa phương như: Kiểm tra tiến độ sản xuất, chất lượng giống, chất lượng sản phẩm

2.7 Vai trò của khuyến nông

Như vậy, khuyến nông là một lĩnh vực hoạt động nông nghiệp, nó được phân biệt với các hoạt động khác bởi đối tượng tác động, mục tiêu và phương pháp thực hiện Vai trò của khuyến nông thể hiện như sau:

2.7.1 Trong phát triển nông thôn

Mặc dầu mục đích cuối cùng của khuyến nông là thúc đẩy sự phát triển nông thôn, nhưng không phải như vậy mà đồng nhất khuyến nông với phát triển nông thôn Phát triển nông thôn là cái đích của nhiều hoạt động khác nhau, tác động vào những khía cạnh khác nhau của nông thôn như: chính sách, công nghệ, thị trường, giáo dục nông nghiệp, tín dụng, y tế…

Tóm lại: Khuyến nông là một yếu tố, một bộ phận hợp thành của toàn bộ hoạt động phát triển nông thôn

2.7.2 Khuyến nông đối với nông dân

Khuyến nông có vai trò trực tiếp với nông dân và cộng đồng của họ Đặc biệt khi hộ gia đình được coi là một đơn vị kinh tế tự chủ và sản xuất hàng hoá là quy luật họ phải tuân theo, thì nông dân là đối tượng cuối cùng tiếp nhận thông tin và chịu mọi tác động của khuyến nông Vì vậy, khuyến nông hơn bao giờ hết cần đến cho mọi hộ nông dân Có thể nói khuyến nông là người bạn gần gũi nhất của nông dân

Sự giúp đỡ của khuyến nông đối với nông dân không bó hẹp trong khuôn khổ truyền bá thông tin, giáo dục, huấn luyện mà còn có những lĩnh vực tìm kiếm, sử dụng các nguồn tự nhiên và kinh tế Vai trò của khuyến nông đối với nông dân thể hiện:

 Là người trực tiếp nắm bắt các vấn đề nảy sinh từ nông dân và cộng đồng của họ

 Là người trực tiếp giúp đỡ nông dân về sản xuất và đời sống

 Là người trực tiếp huấn luyện, đào tạo nông dân và giúp nông dân sử dụng có hiệu quả những kiến thức, kỹ năng và điều kiện vật chất đã tiếp nhận

 Là người tạo lập và thúc đẩy mối liên hệ phối hợp giữa các tổ chức tự nguyện của nông dân

2.8 Khuyến nông đối với nhà nước

Khuyến nông không chỉ là cầu nối giữa khoa học và thực tiễn, giữa các cơ quan nghiên cứu khoa học với nông dân mà còn là cầu nối giữa nhà nước với nông dân Vai trò của khuyến nông đối với nhà nước thể hiện:

Trang 17

- Khuyến nông là người giúp nhà nước thực hiện những chiến lược chính sách về nông dân, nông nghiệp và nông thôn

- Khuyến nông là người trực tiếp vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách nông nghiệp của nhà nước

- Khuyến nông là người trực tiếp cung cấp thông tin về những nhu cầu, đòi hỏi những nguyện vọng của nông dân cho nhà nước có cơ sở để hoạch định những chính sách phù hợp

- Khuyến nông còn là người trực tiếp giúp nhà nước phân phối sử dụng đúng đắn có hiệu quả vốn, quỹ và các nguồn lực khác nhau dành cho việc phát triển nông nghiệp và nông thôn

2.9 Vai trò của cán bộ khuyến nông

2.9.1 Vai trò của cán bộ khuyến nông

Cán bộ khuyến nông có trách nhiệm cung cấp thông tin, giúp nông dân hiểu được và giám quyết định về một vấn đề cụ thể (ví dụ áp dụng một cách làm ăn mới, gieo trồng một giống mới) Khi nông dân quyết định cán bộ khuyến nông phải chuyển giao kiến thức để nông dân áp dụng thành công cách làm ăn mới đó Như vậy, vai trò của cán bộ khuyến nông là đem kiến thức cho nông dân và giúp họ sử dụng kiến thức đó

Cán bộ khuyến nông phải làm sao cho nông dân càng tin tưởng vào năng lực của chính họ, để họ tự tổ chức lấy các hoạt động kinh tế của gia đình và tham gia ngày càng tích cực vào các chương trình khuyến nông Muốn vậy, cán bộ khuyến nông phải thường xuyên hỗ trợ và động viên nông dân phát huy những tiềm năng sáng kiến của họ để chủ động giải quyết lấy các vấn đề cuộc sống Cán bộ khuyến nông phải phân tích tình huống của nông dân trước khi quyết định cách tốt nhất để giúp đỡ họ Mội cán bộ khuyến nông thực thụ sẽ có những vai trò đói với nông dân như sau:

Người đào tạo (người thầy) Người tạo điều kiện

Người lãnh đạo Người quản lý

Người môi giới Người cung cấp thông tin

để nhập vai một cách đúng đắn và linh hoạt

Trang 18

2.9.2 Kiến thức, năng lực và phẩm chất của cán bộ khuyến nông

2.9.2.1 Kiến thức: Một cán bộ khuyến nông thực thụ cần có các kiến thức về

4 lĩnh vực sau:

- Kiến thức về mặt kỹ thuật: phải được đào tạo đầy đủ kỹ năng về nông lâm nghiệp trong phạm vi công tác của mình: Như kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và tiếp thị nông sản phải biết làm các công việc chủ yếu như gieo hạt, bón phân…

- Kiến thức về phát triển nông thôn: như đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), lập kế hoạch, phát triển cộng đồng, theo dõi và đánh giá dự án…

- Kiến thức xã hội và đời sống nông thôn: Cán bộ khuyến nông phải hiểu được những vấn đề liên quan đến xã hội nhân văn của đời sống nông thôn, vai trò của giới, chú trọng đến các phong tục tập quán truyền thống văn hoá và những giá trị tinh thần của cộng đồng nông thôn Đặc biệt là kiến thức truyền thống của cộng đồng Ngày nay người ta thừa nhận rằng những kiến thức của nông dân là cực kỳ quan trọng để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, phát triển tri thức của nông thôn để tự họ đưa ra quyết định đúng đắn là một nhiệm vụ quan trọng của cán bộ khuyến nông, vì tri thức của những người nông dân là nguồn lực chính của

sự phát triển

- Kiến thức về đường lối chính sách của Đảng: Cán bộ khuyến nông phải nắm được đường lối và những chính sách cơ bản của nhà nước về phát triển nông nghiệp và nông thôn Đồng thời cũng phải biết những vấn đề khác có liên quan và ảnh hưởng đến đời sống nông thôn như các chương trình phát triển, chương trình tín dụng, các thủ tục pháp lý và hành chính ở nông thôn

- Kiến thức về giáo dục: Do khuyến nông là một tiến trình giáo dục mà đối tượng là nông dân nên cán bộ khuyến nông phải biết các kiến thức về giáo dục, các phương pháp dạy học để thúc đẩy sự tham gia của người nông thôn

2.9.2.2 Năng lực cá nhân

Năng lực cá nhân phản ánh những kỹ năng tổng hợp mà một cán bộ khuyến nông (CBKN) cần phải có Năng lực cá nhân cần thiết đối với cán bộ khuyến nông là:

- Năng lực tổ chức và lập kế hoạch: CBKN phải có khả năng lập kế hoạch các hoạt động khuyến nông và tổ chức thực hiện đó CBKN phải có khả năng quản lý một cách có hiệu quả công việc của bản thân cũng như các hoạt động có liên quan

- Năng lực truyền đạt thông tin: CBKN phải có khả năng diễn đạt và viết các báo cáo, vì họ sẽ sử dụng thường xuyên những kỹ năng này trong giao tiếp với nông dân khi làm khuyến nông

Trang 19

- Kỹ năng phân tích và đánh giá: CBKN phải có khă năng phân tích và đánh giá các tình huống nảy sinh hàng ngày, có khả năng thương lượng và giải quyết các mâu thuẫn Nhận thức và hiểu rõ các vấn đề trong công việc để có thể đề xuất những biện pháp kịp thời và hợp lý

- Năng lực lãnh đạo: CBKN phải tự tin và biết tin tưởng vào những người nông dân mà mình đang phục vụ, phải gương mẫu trước quần chúng và có khả năng lãnh đạo quần chúng thực hiện các chương trình khuyến nông

- Tính sáng tạo: CBKN phải làm việc trong những điều kiện độc lập, ít sự giám sát của cấp trên Vì vậy, phải có khả năng sáng tạo và tin tưởng vào việc làm của mình chứ không phải lúc nào cũng dựa vào sự chỉ đạo của cấp trên

2.9.2.3 Phẩm chất cá nhân: Phẩm chất cá nhân là những đức tính tốt mà mỗi

người làm công tác khuyến nông đều phải có Đó là những điều người ta cần phải đánh giá khi tuyển lựa cán bộ khuyến nông Những phẩm chất đó bao gồm:

 Đạo đức tác phong tốt, khiêm tốn và giản dị

 Luôn tin tưởng vào nông dân

 Lòng nhân đạo, tình cảm yêu mến đối với bà con nông dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc tiểu số, có tính hài hước và nhẹ nhàng trong công việc, tôn trọng

và lắng nghe ý kiến của nông dân

 Tin tưởng vào năng lực của chính mình và tự giác hoàn thành công việc được giao

 Sẵn sàng làm việc ở những vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh

2.10 Nội dung hoạt động của khuyến nông

 Tuyên truyền chủ trương chính sách phát triển trong nông nghiệp và xây dựng nông thôn của Đảng và nhà nước

 Truyền bá những kỹ thuật về thâm canh cây trồng, vật nuôi, chế biến nông sản… Nội dung phải sát thực và phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của địa phương

 Cung cấp cho nông dân những thông tin về thị trường và giá cả nông sản phẩm và vật tư nông nghiệp để họ tổ chức sản xuất có lãi

 Phổ biến kinh nghiệm sản xuất giỏi, chọn những nông dân giỏi phổ biến kinh nghiệm sản xuất để nông dân khác cùng làm theo

 Bồi dưỡng và phát triển kỹ năng, kiến thức quản lý kinh tế cho hộ hoặc nhóm nông dân

 Thực hiện dịch vụ kỹ thuật và cung ứng vật tư cho nông dân: Khuyến nông

có thể thực hiện các dịch vụ kỹ thuật cung cấp các giống cây, giống con và một số vật tư nông nghiệp có chất lượng cao phục vụ nông dân nhưng phải gắn trách nhiệm với kết quả sản xuất

 Truyền bá thông tin kiến thức, lối sống văn hoá lành mạnh, kế hoạch hoá gia đình, tinh thần trách nhiệm với cộng đồng và ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường cho nông dân

Trang 20

CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG PHÁP KHUYẾN NÔNG 3.1 Các phương pháp khuyến nông chung

M ục đích: Nhằm đạt được những mục tiêu, lợi ích nhất định mà khuyến

nông đặt ra về một lĩnh vực nào đó của nông nghiệp, nông thôn

Hình th ức: Lập những chương trình dự án phù hợp và kiểm tra những điều

kiện vật chất cần có (vốn, công nghệ, chính sách, thị trường…) Người thực hiện các chương trình dự án là cư dân nông thôn (ví dụ: các chương trình

tưới tiêu, phủ xanh đất trống đồi trọc, xoá đói giảm nghèo…)

Ưu điểm

- Các hoạt động khuyến nông được quản lý tập trung thống nhất

- Có thể thu được kết quả trong một thời gian ngắn trên phạm vi rộng lớn

Nhược điểm

- Vốn đầu tư lớn

- Đòi hỏi trình độ quản lý, phối hợp cao

- Có thể có sự mâu thuẫn giữa lợi ích quốc gia và lợi ích của vùng, địa phương thực hiện dự án

- Vốn dễ bị thất thoát, hiệu quả vốn đầu tư thấp

3.2 Phương pháp khuyến nông theo sản phẩm hàng hoá

M ục tiêu: Tập trung phát triển sản xuất hoặc một vài loại sản phẩm nông

nghiệp hàng hoá theo chu trình khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ

Hình th ức: Lập dự án khuyến nông theo sản phẩm Thành lập các ban

chuyên trách, các hiệp hội có khả năng: cung cấp các yếu tố “đầu vào”, chuyển giao và chỉ đạo quy trình sản xuất kỹ thuật giải quyết tiêu thụ sản phẩm (ví dụ: các dự án khuyến nông dâu tằm, cà phê, lợn nạc…)

Ưu điểm

- Tạo ra sự thay đổi nhanh chóng về số lượng và chất lượng sản phẩm

Trang 21

- Nông dân có điều kiện tiếp thu kỹ thuật và yên tâm sản xuất do có sự bảo trợ

cả đầu vào lẫn đầu ra

- Thay đổi được tập quán canh tác của nông dân, chuyển sản xuất phân tán sang sản xuất hàng hoá

- Thu nhập và đời sống nông dân được cải thiện rõ rệt

- Thúc đẩy trao đổi buôn bán quốc tế nhờ có sự tập trung hàng hoá và kiểm soát được chất lượng

Nhược điểm

- Dễ thất thoát vốn do thiếu sự kiểm soát từ hai phía: nhà nước và nông dân

- Dễ dẫn đến một hệ thống canh tác phiến diện mất cân đối

- Nông dân bị phụ thuộc vào cây trồng, vật nuôi và ràng buộc bởi các hợp đồng

3.3 Phương pháp khuyến nông theo các nhóm mục tiêu

M ục đích: Cung cấp thông tin cho nông dân bằng cách tạo lập những nhóm

mục tiêu, tức là nhóm những nông dân có những nhu cầu, sở thích và sự quan tâm giống nhau

Hình th ức: Tổ chức các nhóm mục tiêu theo những quan tâm khác nhau

Ví dụ: - Nhóm nông dân nghèo

- Nhóm nông dân sản xuất giỏi

- Nhóm nông dân kinh doanh cây đặc sản

Ưu điểm:

- Cung cấp thông tin cho nông dân đúng nhu cầu

- Thúc đẩy sự hợp tác cho nông dân

- Làm giảm nhẹ công việc của khuyến nông

- Thích hợp với nông dân sản xuất quy mô nhỏ cần sự giúp đỡ nhiều từ bên ngoài

Trang 22

Nhóm chức năng không thành lập trên cơ sở những quan điểm của nông dân như nhóm mục tiêu mà trên cơ sở chức năng hoạt động sản xuất kinh doanh

Ví dụ: - Nhóm nông dân sản xuất

- Nhóm nông dân tiếp thị

- Nhóm nông dân cung cấp dịch vụ

- Nhóm nông dân cung cấp vốn

M ục tiêu:

- Thúc đẩy sự phát triển của phân công và hợp tác lao động trong nông dân

- Động viên nguồn lực có sẵn của từng nông dân tạo thành nguồn lực lớn hơn nhờ hợp tác

Hình th ức: Giúp nông dân thành lập các nhóm chức năng đa dạng về lĩnh

vực hoạt động và ở nhiều quy mô khác nhau

Ưu điểm

- Nông dân có thể nhận được thông tin chuyên sâu

- Thu hút được sự hỗ trợ từ các tổ chức nhà nước và các tổ chức phi chính phủ khác

- Làm giảm nhẹ được công việc của khuyến nông khi các nhóm đủ mạnh

Nhược điểm: Đòi hỏi cán bộ khuyến nông phải có kiến thức sâu rộng và đa

dạng

3.5 Phương pháp khuyến nông theo các tổ chức của nông dân

Là phương pháp tác động vào nông dân thông qua các tổ chức hợp pháp của họ

M ục đích: Nhằm tuyên truyền, phổ biến những kiến thức chung về kinh tế,

văn hoá và xã hội cho các thành viên

Hình th ức: Nông dân tổ chức thành những nhóm hợp tác, hợp tác xã, hiệp

Trang 23

- Quyết định của thành viên bị phụ thuộc vào tổ chức của họ, do vậy có thể xảy ra mâu thuẫn về quyền lợi giữa thành viên với tổ chức

3.6 Phương pháp theo hệ thống canh tác

Là cách tiếp cận khuyến nông thông qua việc xây dựng và thực hiện hệ thống canh tác

M ục đích: Giúp nông dân có sự hiểu biết toàn diện, hệ thống nghề nghiệp

của mình Từ đó mà có thể lựa chọn hoặc tạo lập cho mình một công nghệ sản xuất phù hợp nhất và có hiệu quả nhất

Hình th ức:

- Xây dựng và phổ biến các hệ thống canh tác khoa học cho nông dân

- Tiến hành thực nghiệm từng hệ thống canh tác ở địa phương để xác định một hệ thống canh tác phù hợp

- Tốn kém nhiều thời gian

- Khó khăn trong việc thẩm định, tiêu chuẩn hoá những công nghệ, kiến thức

do chính nông dân sáng tạo ra

3.7 Các phương pháp làm khuyến nông

Phương pháp làm khuyến nông là cách đạt mục tiêu khuyến nông thông qua

sự tác động trực tiếp giữa chủ thể khuyến nông (CBKN) mà đối tượng khuyến nông (nông dân) bằng những hoạt động giáo dục, huấn luyện trực tiếp

Căn cứ phương thức tác động giữa cán bộ khuyến nông với nông dân, phương thức truyền bá thông tin cho nông dân có thể phân chia phương pháp làm khuyến nông như sau

3.7.1 Phương pháp tiếp xúc cá nhân (cá thể)

3.7.1.1 Khái niệm:

Phương pháp cá thể là phương pháp mà thông tin được chuyển giao trực tiếp cho từng cá nhân nông dân

3.7.1.2 Một số hình thức

Trang 24

a Đến thăm nông dân

M ục đích:

- Làm quen và tạo sự gần gũi với người nông dân và gia đình họ

-Tạo điều kiện cung cấp cho nông dân thông tin và lời khuyên về một vấn đề

cụ thể

- Giải đáp những thắc mắc mà người nông dân không có cơ hội hỏi cặn kẽ

- Tạo điều kiện theo dõi kết quả của công việc khuyến nông đang tiến hành Giúp hiểu thêm tình hình ở địa phương và những vấn đề người dân đang phải đối mặt hàng ngày

V ạch kế hoạch cho chuyến thăm viếng

Trong chương trình công tác hàng tháng, cần vạch kế hoạch cụ thể cho những cuộc viếng thăm nông dân Trước hết phải xác định mục đích rõ ràng cho cuộc viếng thăm Cần thu thập trước một số thông tin về hoàn cảnh kinh tế và những hoạt động tăng thu nhập của hộ nông dân dự định đến thăm, kể cả những thành công hay thất bại của họ Tuyệt dối không được làm cho nông dân hiểu lầm rằng người đến thăm chẳng biết gì về gia dình và cách làm ăn của họ

Những công việc chuẩn bị trước khi đến thăm nông dân:

- Định thời gian, hẹn trước với chủ nhà nếu có thể

- Nắm rõ yêu cầu của nông dân

Th ực hiện cuộc viếng thăm

- Cán bộ khuyến nông khi đến thăm nông dân không phải chỉ trao đổi thông tin, các kiến thức khoa học kỹ thuật hoặc những lời khuyên mà cần thời gian để trò chuyện làm tăng thiện cảm và lòng tin của nông dân với chương trình khuyến nông Hãy bắt đầu bằng những lời thăm hỏi thân tình Cần nhớ rằng cán bộ khuyến nông phải “nhập gia tuỳ tục” Khi cả hai bên đều cảm thấy thoải mái và tin tưởng, có thể tiến hành trao đổi công việc với người dân Trong khi trao đổi phải biết cách lắng nghe và khuyến khích người dân giải bày tâm sự của họ Ngoài ra cần có những lời khen đúng lúc đối với người nông dân để động viên làm cho họ

tự tin hơn

- Cuộc trao đổi có thể bao trùm nhiều công việc khác nhau Người nông dân

có thể cần CBKN giúp thêm thông tin về một loại cây/con hay về một biện pháp kỹ

Trang 25

thuật nào đó Trong khả năng của mình hãy cố gắng đáp ứng nhu cầu đó của nông dân Cũng cần thông tin cho họ những chủ trương phát triển nông lâm nghiệp của nhà nước những vấn đề liên quan đến đường lối chích sách hoặc giới thiệu những chương trình khuyến nông khác đang áp dụng trong vùng

Nh ững điều cần lưu ý khi đến thăm nông dân

- Khơi dậy sự quan tâm của nông dân

- Thảo luận để phát hiện vấn đề và tìm giải pháp

- Cung cấp những kiến thức kỹ thuật hay bất kỳ những thông tin gì mà họ cần

- Thống nhất với họ thời gian, mục đích của lần đến tiếp theo

- Ghi chép đầy đủ các chi tiết của cuộc thăm viếng

Nh ững bước tiếp theo

- Chuyển tài liệu, vật tư hoặc thông tin họ yêu cầu

- Trả lời câu hỏi chưa trả lời lần trước

- Tóm lại đi thăm nông dân là công việc quan trọng nhất của người cán bộ khuyến nông nhằm xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa tổ chức khuyến nông với nông dân trong địa bàn Nó cũng góp phần quan trọng vào việc củng cố niềm tin của nông dân, một yếu tố không thể thiếu giúp hoàn thành tốt các nhiệm vụ khuyến nông

b Nông dân đến thăm cơ quan khuyến nông

M ục đích

- Tạo sự gần gũi, thân thiện, tin cậy lẫn nhau

- Giúp người nông dân mạnh dạn hơn trong quan hệ

- Giúp nhà khuyến nông có điều kiện nhiều hơn giới thiệu cho nông dân những vấn đề liên quan

- Người nông dân cũng có lúc đến thăm cơ quan khuyến nông Sự viếng thăm này phản ánh mối quan tâm của họ đối với cơ quan khuyến nông Có những nông dân khi thành công một việc gì đó (nếu thành công có giúp đỡ của cơ quan khuyến nông) họ cũng sẽ tìm đến cơ quan khuyến nông để cảm ơn và mong nhận được thêm thông tin hay những lời khuyên khác

Trang 26

- Cần chuẩn bị những cuộc viếng thăm như vậy của nông dân, mặc dù không thể biết khi nào họ đến, nên bố trí văn phòng, sao cho khi nông dân đến thăm, họ cảm thấy gần gũi như ở nhà và họ hiểu hơn công việc của cấn bộ khuyến nông

Hình th ức

- Trao đổi thảo luận

- Trình bày những biểu bảng, sơ đồ, tranh vẽ

- Thăm phòng thí nghiệm và khu thực nghiệm (nếu có)

Chú ý: Văn phòng khuyến nông cần bố trí sao cho:

- Nông dân dễ tìm, dễ đến (nên đặt ở nơi đi lại thuận tiện, có biểu hiện rõ ràng)

-Trong văn phòng cần có những tài liệu và thông tin khoa học kỹ thuật mới nhất, các loại tạp trí, sách báo nói về nông lâm nghiệp hoặc những tờ rơi để trao cho họ nếu cần

- Có bàn ghế cho nông dân ngồi

- Có những nông dân cảm thấy lung túng khi đến văn phòng vì họ có thể chưa quen giao tiếp Nên tỏ thái độ chu đáo, ân cần để họ không mặc cảm tự ti và sớm trao đổi với CBKN một cách cởi mở những vấn đề của họ

Khuyến nông viên phải ghi chép tỷ mỉ những yêu cầu của nông dân

c Trao đổi thƣ từ

M ục đích:

- Nhằm tăng cường dung lượng thông tin trao đổi

- Đáp ứng kịp thời thông tin theo yêu cầu của nông dân

- Tiết kiệm được thời gian

- Đôi khi CBKN sẽ gởi thư cho nông dân Thư thường được gửi đi trong các trường hợp sau:

+ Sau khi đi thăm một hộ nông dân, viết thư gửi những lời khuyên hoặc thông tin theo yêu cầu của hộ nông dân đó

+ Gửi những lời khuyên hoặc thông tin cho hững nông dân không có điều kiện đến cơ quan khuyến nông

+ Khi viết thư cần nhớ những điểm quan trọng dưới đây:

+ Thư viết phải sạch, đơn giản, rõ ràng và chính xác cho người đọc dễ hiểu + Thông tin viết trong thư phải đầy đủ và tập trung vào chủ đề thảo luận

+ Cố gắng trả lời càng sớm càng tốt những yêu cầu của nông dân

Trang 27

+ Có sao chép lại để lưu trữ

d Trao đổi điện thoại

Ở nông thôn Việt Nam, điện thoại chưa phải là một phương tiện thông tin phổ biến Có thể sau này khi kinh tế nông thôn phát triển, điện thoại sẽ được lắp đặt nhiều hơn và do vậy hoàn toàn có thể sử dụng chúng vào mục đích khuyến nông Khi trao đổi qua điện thoại nên tập trung vào chủ đề cần thiết, trao đổi cho nông dân thông tin hoặc lời khuyên ngắn gọn và đầy đủ Trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải nói mạch lạc và rõ ràng

Phương pháp tiếp xúc cá nhân có một số ưu điểm và nhược điểm sau:

Ưu điểm

- Đưa ra giải pháp phù hợp

- Nông dân tiếp thu cao do được truyền đạt trực tiếp

- Tăng lòng tin của dân đối với cán bộ khuyến nông

- Tạo mối liên hệ khăng khít giữa khuyến nông với nông dân

Nhược điểm

- Tốn thời gian, đòi hỏi phải có nhiều cán bộ khuyến nông

- Tập trung sự giúp đỡ vào một số nông dân

3.7.1.2 Phương pháp nhóm

a Khái niệm

Là phương pháp khuyến nông mà ở đó thông tin được truyền đạt cho một nhóm người có cùng chung một mối quan tâm và nhằm đạt mục đích giống nhau

Khi tổ chức các nhóm nông dân cần lưu ý:

Thành viên nhóm phải có cùng một mối quan tâm, một lợi ích chung làm nền tảng cho sự hợp tác lâu dài Chú ý khía cạnh về giới để tạo sự bình đẳng tránh tình trạng “nữ làm nam học”

Nên thông qua nhóm để đem đến cho các thành viên những thông tin và những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm giúp họ giải quyết các vấn đề thuộc mối quan tâm chung của nhóm

Nhóm nên thành l ập như thế nào?

- Dựa vào mục tiêu công việc:

- Nhóm phải bao gồm những nông dân có chung nguyện vọng giải quyết những vấn đề khó khăn về sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi,

- Dựa vào hoàn cảnh

Trang 28

- Đồng đều về kinh tế, văn hoá, kỹ năng và có cùng mối quan tâm

- Ổn định: số thành viên nên ổn định, khoảng 15-20 nông dân

b Ưu nhược điểm của phương pháp nhóm

 Ưu điểm

- Tiếp xúc được nhiều với nông dân

- Tạo môi trường học tập sinh động, có tác dụng động viên lẫn nhau và củng

cố lòng tin với nông dân

- Mang tính cộng đồng cao, mọi người trong nhóm có điều kiện quan tâm đến nhau cùng nhau giải quyết những việc mà cá nhân không thể làm được

M ột số hình thức hội họp

- Họp thông báo: là cuộc họp phổ biến cho nông dân một chỉ thị hoặc một

thông tin mới nào đó cần cho họ và thu thập ý kiến của dân đối với những điều đã thông báo

- Họp lập kế hoạch: Là cuộc họp thảo luận một vấn đề cụ thể nào đó trước khi

đưa ra các giải pháp và những quyết định về những công việc cần làm tiếp theo

- Họp nhóm có chung lợi ích: Là cuộc họp của những nhóm người có chung

lợi ích (như nhóm người làm vườn, nuôi cá .) để truyền đạt và thảo luận riêng những chủ đề riêng của nhóm

- Họp chung cộng đồng: Là cuộc họp toàn thể cộng đồng để nghe phổ biến và

thảo luận những vấn đề chung Thỉnh thoảng khuyến nông cần tổ chức cuộc họp chung để các nhóm lợi ích khác không cảm thấy hoạt động của họ tách biệt với cộng đồng

Trong mọi trường hợp, chỉ nên mời họp khi nhận thấy cuộc họp thực sự cần thiết và có tác dụng Một khi đã quyết định mời họp Phải kiểm tra và chuẩn bị một cách chu đáo để đảm bảo cuộ họp thành công

Trang 29

Chu ẩn bị cuộc họp

- Chọn thời gian và địa điểm

- Thông báo mời họp

- Bố trí nơi họp, quyét dọn và sắp xếp bàn ghế, nước uống

- Chuẩn bị trước những thứ cần thiết như giấy bút, bảng, phấn và các phương tiện nghe nhìn

- Vạch chương trình thảo luận, thứ tự trình bày các chủ đề

- Dự định của chủ toạ, thư ký (nên gợi ý cho bà con bầu chủ toạ, thư ký cuộc họp)

- Chỉ định khách mời hoặc các chuyên gia sẽ phát biểu

Điều khiển cuộc họp

Mọi công việc chuẩn bị đều tốt nhưng nếu tổ chức, điều khiển không tốt thì cuộc họp cũng khó thành công Nông dân không thích ngồi lâu và lại càng không thích nghe những bài diễn văn dài dòng Muốn giúp họ tập trung tư tưởng, nội dung thảo luận phải phong phú, diễn giả chỉ nên nói ngắn gọn và phải có phương tiện nghe nhìn hỗ trợ Đặc biệt phải khuyến khích sự tham gia của nông dân Cách làm tốt nhất là:

+ Khai mạc cuộc họp

Bắt đầu họp đúng giờ, trước tiên chào mừng những người đén tham dự cuộc họp, giới thiệu khách mời, tuyên bố mục đích cuộc họp và những nội dung sẽ thảo luận Bầu chủ toạ và thư ký

+ Điều khiển cuộc họp

Sau đó, mời chủ toạ và thư ký lên điều khiển cuộc họp với sự hỗ trợ của cán

bộ khuyến nông

- Trong khi điều khiển cuộc họp phải:

- Luôn nêu vấn đề để cho mọi người suy nghĩ

- Đặt câu hỏi và kích thích cho mọi người thảo luận

- Thu thập sự kiện và ý kiến

- Đảm bảo các sự kiện và ý kiến được trình bày rõ ràng

- Giữ cho thảo luận đi đúng vấn đề

- Thường xuyên tóm tắt lại những điểm chính và ghi nhận những quyết định quan trọng

+ Tổng kết cuộc họp

Trang 30

- Tóm tắt những điều đã nhất trí hay thảo luận

- Ghi nhận các vấn đề chưa được thống nhất (nếu có)

- Xác định các hoạt động sẽ tiến hành

- Giao nhiệm vụ cho các thành viên (nếu có)

- Bế mạc: Khi cuộc họp kết thúc, phải cảm ơn những người liên quan

Chú ý:

- Thời gian họp chỉ nên kéo dài 1 đến 2 tiếng

- Thời gian: Không nên họp vào những thời điểm bất lợi, như khi thời vụ khẩn trương, khi mệt mỏi và căng thẳng

- Nội dung: ngắn gọn, cần thiết và dễ hiểu

- Sau những lần họp, phải ghi những nội dung chính đã thảo luận và các quyết định mà cuộc họp đề ra

b Diễn thuyết hay nói chuyện

Diễn thuyết hay nói chuyện là một phương tiện quan trọng trong việc truyền bá các thông tin trong khuyến nông Mục tiêu của người nói chuyện là: Sau buổi nói chuyện người nghe có khả năng kể lại cho người khác biết về các vấn đề mà bạn

đã nói

Các bước tiến hành

- Chuẩn bị nội dung

- Chiến lược trình bày:

Trang 31

+ Chuẩn bị kém

+ Thiếu mạch lạc

+ Dán mắt vào tài liệu

+ Đánh giá thấp khán giả

+ Giới thiệu và giải thích không đầy đủ

+ Dài dòng và không nêu những điểm quan trọng chính cho người nghe

- Dàn ý buổi nói chuyện

+ Giới thiệu + Khái quát chung

- Thông tin là lời nói nên dễ quên

- Khó giữ được sự hứng thú của thính giả trong cuộc nói chuyện dài

- Diễn thuyết hay nói chuyện là một phương tiện quan trọng trong việc truyền

bá các thông tin trong khuyến nông

M ột vài điểm chú ý khi nói chuyện

- Người nói chuyện phải nghiên cứu kỹ các tài liệu và phải nêu bật được những điểm chính

- Cần lưu ý những vấn đề làm họ hứng thú nên liên hệ chủ đề chính của buổi nói chuyện với hứng thú, kinh nghiện và yêu cầu khán giả, đồng thời kết hợp ví dụ của địa phương

- Cần phải sắp xếp buổi nói chuyện, trước hết vạch ra các điểm chính, chứng minh bằng các ví dụ và có sự tóm tắt nội dung lúc kết thúc

Trang 32

Ví dụ: Có thể tách nam và nữ, người già và trẻ, nông dân giàu, nghèo hay

trung bình thành những nhóm riêng

4.1.2 Mục đích:

Giúp cho các thành viên của nhóm phác thảo việc giải quyết vấn đề thông qua các kinh nghiệm của nhau và có thể có ảnh hưởng đáng kể đến thái độ của những người tham gia Tất cả các thành viên của nhóm có cơ hội trình bày quan điểm của mình, không chỉ ngồi nghe một cách thụ động mà chủ động suy nghĩ về các vấn đề sẽ được thảo luận

4.1.3 Vai trò của người tổ chức nhóm:

Đóng vai trò rất quan trọng vì phải biết cách quản lý, tổ chức và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên: làm gì? bao giờ hoàn thành? Những người

tổ chức nhóm thường là những người có nhiều kinh nghiệm, được nhóm tin tưởng

và có những thông tin đầy đủ về các thành viên khác của nhóm để đặt vấn đề một cách chính xác, giúp cho các thành viên tự hình thành và phân tích các vấn đề, đồng thời giúp họ vạch ra giải pháp Họ có thể đóng góp một số thông tin cho cuộc thảo luận, nhưng chỉ khi nhóm thấy cần và những thành viên khác trong nhóm không thể cung cấp chúng

4.1.4 Các bước tổ chức nhóm:

 Phải có danh sách của các thành viên tham gia nhóm

 Quy định: ngày giờ, thời gian, địa điểm

 Kế hoạch làm việc

 Phân công công việc rõ ràng cho từng thành viên

 Chủ động thời gian và linh hoạt trong cách giải quyết vấn đề

 Xây dựng trên cở sở nhất trí nhau

4.2 CÁCH LÀM VIỆC THEO NHÓM:

4.2.1 Ưu điểm của phương pháp làm việc theo nhóm:

Trang 33

 Áp dụng rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực và có hiệu quả

 Tạo ra một môi trường thuận lợi để cho các thành viên trong nhóm thảo luận, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, tạo sự tin cậy cao trên cơ sở đã thảo luận, cùng nhau giải quyết một vấn đề

 Liên kết được các liên ngành thành viên trong nhóm giải quyết được vấn đề lớn mà một cá nhân không thể giải quyết được

 Ngôn ngữ sử dụng trong các cuộc hội thảo quen thuộc hơn đối với những người tham gia

 Người tổ chúc nhóm học hỏi được nhiều về trình độ, kiến thức và các vấn đề của các thành viên trong nhóm

4.2.2 Nhược điểm của phương pháp làm việc theo nhóm:

 Sự chuyển giao các thông tin mất nhiều thời gian

 Những vấn đề được thảo luận ít mang tính hệ thống hơn là trong một cuộc nói chuyện

 Có nguy hiểm là một số người tham dự sẽ chỉ “cỡi ngựa xem hoa” hoặc nói quá nhiều trong cuộc thảo luận

 Một cuộc thảo luận tốt thì những người tham dự ít nhất phải có những kiến thức tối thiểu Ngược lại cuộc thảo luận sẽ trở nên vô nghĩa

 Có thể có một cơ hội mà một thông tin không chính xác, do một người trong nhóm nêu ra, sẽ không được làm cho chính xác lại

 Các cuộc thảo luận nhóm yêu cầu các thành viên của nhóm phải có năng lực, có thể giải quyết những vấn đề không mong đợi có thể có

 Các cuộc thảo luận nhóm yêu cầu mức độ đồng nhất nào đó trong nhóm

4.3 Những khía cạnh quan trọng của phương pháp làm việc theo nhóm:

Vấn đề xây dựng và phát triển nhóm là rất quan trọng, công việc xây dựng đòi hỏi nhiều thời gian Khi đã xây dựng xong, việc duy trì nó lại là một vấn đề rất quan trọng Để duy trì một nhóm hoạt động hữu hiệu cần chú ý các điểm sau:

4.3.3 Tuyển lựa:

Để dễ nắm bắt các khó khăn của nhóm cũng như dễ dàng cho sự truyền đạt nên tuyển lựa trưởng nhóm, xếp các nhóm có cùng quan điểm lại với nhau

Trang 34

4.4 Các hoạt động làm việc theo nhóm:

4.4.1 Họp nhóm:

Là phương tiện tập trung các thành viên trong nhóm lại để trao đổi kinh nghiệm hay bàn thảo một vấn đề nào đó trước khi đi đến quyết định chung, hay trao đổi các kinh nghiệm về lĩnh vực nào đó

Các buổi họp nhóm thường rất đa dạng và có nhiều hình thức khác nhau, một buổi họp nhóm đơn giản có thể chỉ trình bày một vấn đề hay phân phát các tài liệu

có liên quan đến các vấn đề mình muốn trình bày

Qua buổi họp nhóm đó, các thành viên có thể rút ra được nhiều kinh nghiệm cho bản thân và đồng thời cũng có cơ hôi tiếp xúc với các thành viên ở nơi khác

để tìm hiểu nhiều vấn đề đặc biệt hơn

4.4.2 Các hình thức làm việc theo nhóm:

Tùy theo tính chất và mục tiêu, người chủ trì có thể chọn cách làm việc theo các hình thức sau đây:

 Thảo luận theo chủ đề:

Người tập họp nhóm thường dùng lối thảo luận này để truyền đạt một ý tưởng mới, sau khi trình bày xong nếu không có một câu hỏi nào được đặt ra thì cuộc thảo luận đó chỉ đi có một chiều, đó là một khuyết điểm lớn Do đó thuyết trình viên hay điều hành buổi họp cần phải tìm cách khích lệ các thành viên trong nhóm đưa ra các vấn đề, các câu hỏi thảo luận sôi nổi và biến cuộc họp thành hai chiều Để động viên sự tham gia thảo luận của nhóm, ngay từ đầu buổi họp người

tổ chức phải thông báo cho thành viên biết sau buổi trình bày có dành thời gian để thành viên nêu câu hỏi và thảo luận

 Hội nghị (seminar):

Trong loại này thì đề tài là trọng tâm của buổi họp Các đề tài sẽ do 2 đến 5 thành viên trình bày, mỗi người với một quan điểm, nhưng nội dung đề tài không trái ngược nhau Sau khi diễn giả trình bày xong các thành viên khác sẽ thảo luận

về đề tài đó Mục đích của cuộc họp này là trao đổi kiến thức hay giới thiệu một phương pháp mới

 Thảo luận theo lối luận đàm (symposium):

Diễn giả có thể có từ 2 đến 5 diễn thuyết theo quan điểm khác nhau và không có tính cách thảo luận, nhưng mỗi thành viên có quyền bổ túc hoặc phê bình

ý kiến của thành viên khác Thính giả dưới sự khích thích của nhóm sẽ chất vấn hoặc đưa ra ý kiến riêng của mình Phương pháp này tuy là một vấn đề nhưng do nhiều thành viên nói và dựa trên nhiều quan điểm khác nhau, nhưng sau cùng cần phải có một vị trí ưu thế dung hòa thành một ý kiến chung

 Thảo luận theo nhóm (group discussion):

Trang 35

Các cuộc họp này thường được áp dụng khi số người tham dự quá đông Đặc điểm của phương pháp này là tất cả các thành viên đều có dịp thảo luận đến vấn đề đã được nêu ra Thể thức tổ chức như sau:

 Chủ toạ cuộc họp chia các thành viên ra nhiều nhóm

 Các thành viên trong nhóm tự giới thiệu cho nhau, bầu ra chủ toạ và thư ký của nhóm

 Chủ toạ cuộc họp tuyên bố đề tài thảo luận cho mọi người được rõ và nhóm bắt đầu thảo luận

 Sau thời gian ấn định, chủ toạ mời nhóm trình bày ý kiến kết luận của nhóm mình

 Sau khi thu thập ý kiến, chủ toạ sẽ chọn ý kiến quan trọng nhất đưa ra cho toàn thể hội nghị hay các nhóm thảo luận hoặc nghiên cứu kỹ hơn

Phương pháp này có ưu điểm là mọi người đều có cơ hội phát biểu nhất là đối với những người có tính rụt rè hoặc không muốn hỏi tại chỗ đông người

 Phỏng vấn nhóm: (group interview):

Trong phương pháp này người điều khiển đôi khi được gọi là "phóng viên thẩm tra", sẽ phỏng vấn các các thành viên khác khi đứng giữa đám đông Khi đó, người điều khiển sẽ thu thập được nhiều kiến thức quí báu Chức năng chính của phương pháp này là thu thập thông tin, quan điểm và kích thích sự tham gia từ các thành viên

Trang 36

PHẦN 2: KỸ NĂNG GIAO TIẾP

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIAO TIẾP

1.1 Khái niệm và vai trò của giao tiếp

1.1.1 Khái ni ệm

Hiện nay có rất nhiều khái niệm và quan niệm về giao tiếp Tùy theo từng lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu khác nhau (kinh doanh, tâm lí, y học, giáo dục, xã hội học ) các tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau về gi ao tiếp Với tâm lí học, giao tiếp là một hiện tượng tâm lí phức tạp với nhiều mặt, nhiều cấp độ khác nhau Trong kinh doanh, giao ti ếp là hoạt động với nhiều loại người khác nhau, đảm bảo hai bên cùng có lợi Giao tiếp trong kinh doanh vừa l à một khoa học, vừa là một nghệ thuật Nhà kinh doanh cần phải biết các nguyên tắc giao tiếp, các quy luật tâm lí và vận dụng các nguyên tắc đó một cách linh hoạt Ngoài ra, trong quá trình sống và hoạt động, giữa con ng ười với con người luôn tồn tại nhiều mối quan hệ Đó có thể là quan hệ dòng họ, huyết thống, quan hệ hành chính – công việc; quan hệ tâm lý Trong các mối quan hệ đó chỉ có một số ít là

có sẵn từ khi con người cất tiếng khóc chào đời (chẳng hạn quan hệ huyết thống, họ hàng) còn đa số các quan hệ còn lại chủ yếu được hình thành, phát triển trong quá trình con người sống và hoạt động trong cộng đồng xã hội thông qua các hình th ức tiếp xúc, gặp gỡ, liên lạc với người khác Mặc dù, tùy theo các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau các nh à khoa học đưa ra các quan niệm khác nhau về giao tiếp, nh ưng nói chung lại, giao tiếp được hiểu là quá trình truyền tải

và tiếp nhận thông tin giữa người này với người kia, giữa một cá nhân với một nhóm người và trong chính bản thân một con người để từ đó các bên tham gia có thể có chung quan điểm, nhận thức về vấn đề được đề cập tới Quá trình giao

tiếp được tiến hành bằng nhiều phương tiện và công cụ khác nhau như: ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, phi ngôn ngữ (cử chỉ, h ành động, điệu bộ, trang phục ) Theo từ điển Wikipedia - bách khoa toàn thư mở thì:

“Giao tiếp là một quá trình hoạt động trao đổi thông tin giữa ng ười nói và người nghe nhằm đạt được một mục đích n ào đó.” Thông thường, giao tiếp trải qua ba

trạng thái: 1 Trao đổi thông tin, tiếp xúc tâm lý; 2 Hiểu biết lẫn nhau; 3 T ác động

và ảnh hưởng lẫn nhau (http://vi.wikipedia.org/wiki/Giao_ti%E1%BA%BFp )

Trang 37

Theo từ điển tiếng Anh Longman Oxford thì:“Communication is the process by which people exchange information or express their thoughts and feelings” - Giao

tiếp là một quá trình trao đổi thông tin hoặc biểu đạt cảm xúc, suy nghĩ giữa con người với nhau “Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa ng ười với người trong xã hội, ở đó

diễn ra sự trao đổi thông tin (nhận thức, t ư tưởng, tình cảm) và sự bày tỏ mối quan hệ, thái độ ứng xử của con người đối với nhau và đối với những nội dung thông tin nhằm đạt được những mục đích nhất định.”

Trong Tâm lí học giao tiếp được hiểu là hình thức đặc trưng cho mối quan hệ giữa con người với con người mà qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lí và được biểu hiện ở quá trình thông tin, hi ểu biết, rung cảm, ảnh h ưởng và tác động qua lại lẫn nhau

Trong xã hội học, giao tiếp là một quá trình xác lập mối quan hệ về sự tiếp xúc giữa con người với nhau nhằm thỏa m ãn những nhu cầu nhất định

Vậy, giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin hai chiều giữa các chủ thể tham

những nhu cầu nhất định

Trong giao tiếp sử dụng ngôn ngữ nói v à ngôn ngữ viết, ngoài ra việc sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng Phi ngôn ngữ không những làm tăng thêm giá trị chất lượng của ngôn ngữ mà còn chứa đựng những thông tin rất lớn Thậm chí các yếu tố phi ngôn ngữ c òn có khả năng tải những thông tin mà ngô n ngữ nói và ngôn ngữ viết không thể biểu đạt hết

1.1.2 Vai trò của giao tiếp

Giao tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống mỗi cá nhân và trong đời sống xã hội

1.1.2.1 Vai trò của giao tiếp đối với cá nhân

Trong đời sống của mỗi con ng ười, vai trò của giao tiếp đ ược biểu hiện ở những điểm cơ bản sau đây:

- Giao tiếp là điều kiện để tâm lý, nhân cách cá nhân phát triển bình thường

- Về bản chất, con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội Nhờ có giao tiếp

mà mỗi con người có thể tham gia vào các mối quan hệ xã hội, gia nhập vào cộng đồng, phản ánh các quan hệ xã hội, kinh nghiệm xã hội và chuyển chúng thành tài sản của riêng mình Những trường hợp trẻ em bị thất lạc vào rừng, sống với động vật đ ã cho thấy rằng, mặc dù những đứa trẻ này vẫn có hình hài của con người nhưng tâm lý và hành vi c ủa các em không phải của con ng ười

- Nhờ giao tiếp mà các phẩm chất của con người, đặc biệt là phẩm chất đạo đức được hình thành và phát tri ển

Trang 38

Trong quá trình ti ếp xúc với những ng ười xung quanh, chúng ta nhận thức được các chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ, pháp luật tồn tại trong xã hội tức là những nguyên tắc ứng xử; biết được cái gì tốt, cái gì xấu, cái gì đẹp, cái gì không đẹp, cái gì nên làm, cái gì c ần làm, cái gì được làm, cái gì không được, từ đó thể hiện thái độ và hành động cho phù hợp Những tính cách như: Khiêm tốn hay tự phụ,

lễ phép hay hỗn láo, ý thức nghĩa vụ, tôn trọng hay không tôn trọng người khác chủ yếu được hình thành, phát triển trong giao tiếp

- Giao tiếp thoả mãn nhiều nhu cầu của con người Những nhu cầu của con ng ười như: nhu cầu thông tin, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu được những người xung quanh quan tâm, chú ý , nhu cầu được hoà nhập vào những nhóm xã hội nhất định chỉ đ ược thoả mãn trong giao tiếp Chúng ta sẽ cảm thấy như thế nào nếu tự giam mình dù chỉ một ngày trong phòng, không gặp gỡ, tiếp xúc với ai, không liên hệ với ai qua điện thoại, không đọc sách báo, không xem ti vi? Chắc chắn đó sẽ là một ngày dài lê thê, nặng nề Đó là vì nhu cầu giao tiếp của chúng ta không được thoả mãn

Theo các nhà tâm lý học phát triển, nhu cầu giao tiếp là nhu cầu xuất hiện sớm nhất trong cuộc đời của mỗi con người Ngay khi mới được sinh ra, đứa trẻ đã có nhu cầu đươc yêu thương, được an toàn; khoảng 2-3 tháng tuổi, đứa trẻ đã biết trò chuyện với người lớn Những thiếu hụt trong tiếp xúc với người lớn ở giai đoạn ấu thơ sẽ để lại những dấu ấn tiêu cực trong tâm lý, nhân cách con người khi đến tuổi tr ưởng thành

1.1.2.2 Vai trò của giao tiếp đối với đời sống x ã hội

Đối với xã hội, giao tiếp là điều kiện của sự tồn tại và phát triển Xã hội là một tập hợp người cùng chung sống và có những mối quan hệ qua lại với nhau Nếu mỗi cá nhân trong x ã hội sống đơn lẻ, không có mối quan hệ qua lại, mỗi cá nhân chỉ biết mình mà không có sự quan tâm hoặc mối liên hệ với các cá nhân khác thì

sẽ không phải là xã hội mà chỉ là một tập hợp rời rác các cá nhân đơn lẻ Mối quan hệ chặt chẽ giữa con người với con người trong xã hội còn là điều kiện để

xã hội phát triển Ví dụ: nền sản xuất hàng hoá phát tri ển được là nhờ có mối liên hệ chặt chẽ giữa nhà sản xuất với ng ười tiêu dùng: người sản xuất nắm được nhu cầu của nười tiêu dùng, sản xuất ra những loại hàng hoá đáp ứng nhu cầu đó, nghĩa là được người tiêu dùng chấp nhận và điều này thúc đẩy sản xuất phát triển

Trong công tác xã hội, giao tiếp là công cụ đắc lực, là yếu tố cơ bản để thiết lập mối quan hệ hợp tác giữa nhân viên xã hội với đối tượng (cá nhân, nhóm, gia đình) cần giúp đỡ

Hoạt động kinh doanh thực chất là hoạt động giao tiếp Trong hoạt động của mình nhà quản lí giao tiếp với nhân viên để truyền đạt nhiệm vụ, động viên, khuyến khích nhân viên thực hiện tốt các nhiệm vụ đó Nhà quản lí cũng cần thiết lập các mối quan hệ với các cơ quan, các tổ chức chính quyền nhằm tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả Nhà kinh doanh cũng cần giao tiếp với khách hàng, bạn hàng, đối tác dưới nhiều hình thức khác nhau

Trang 39

Vì vậy, một trong những phẩm chất cần thiết đối với nhà kinh doanh là k ỹ năng giao tiếp

1 2 Mô hình giao ti ếp

- Trên một khía cạnh nào đó, giao tiếp có thể hiểu là quá trình phát và nhận thông tin giữa những đối tượng giao tiếp với nhau Giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin hai chiều, có nghĩa là không có sự phân cực giữa người phát tin và người nhận tin, mà cả hai đều là chủ thể tích cực, luôn đổi vai cho nhau

- Người gửi là người khởi đầu hoạt động giao tiếp v à sau đó là người nhận thông tin phản hồi

- Người nhận tin là người hiểu nội dung thông tin của ng ười truyền sau khi đã giải mã thông tin Người nhận tin có trách nhiệm phản hồi những thông tin đã được nhận để người gửi tin biết và điều chỉnh Để thông tin được truyền và nhận một cách chuẩn xác, cả hai bên cần có những hiểu biết nhất định với nhau để quá trình truyền tin đạt hiệu quả

- Nội dung thông điệp có thể là các quan điểm, sở thích, nhu cầu, tâm trạng, tình cảm Quá trình trao đổi thông tin có đạt được hiệu quả hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau

- Mã hóa là quá trình chuyển từ suy nghĩ sang lời nói, chữ viết hay các kí hiệu và phương tiện phi ngôn từ khác nhau

Trang 40

Sau đó được chuyển qua kênh truyền tải thông tin Việc lựa chọn kênh truyền tải thông tin hết sức quan trọng, nó quyết định tới việc thông tin có được truyền tải chính xác hay không?

Kênh thông tin bao g ồm:

- Kênh thông tin thông qua chữ viết: văn bản, thư từ, báo cáo, thông tư, nghị quyết

- Kênh thông tin qua lời nói: truyền đạt qua micro, điện thoại, loa đài

- Kênh thông tin thông qua điệu bộ phi ngôn ngữ: như vẻ mặt, âm thanh, ánh mắt

- Khi lựa chọn kênh truyền tải thông tin phải lựa chọn kênh phù hợp như tiện lợi, phù hợp với môi trường, phù hợp với đối tượng giao tiếp

Ngoài ra trong quá trình truyền tải thông tin có thể bị ảnh h ưởng bởi yếu tố nhiễu,

là những tác động từ môi trường hoặc chính bản thân người nhận, phát thông tin Yếu tố này có thể tạo thuận lợi hoặc gây cản trở đến quá trình giao tiếp Trong quá trình giao tiếp, chúng ta cần khắc phục tối đa các yếu tố gây cản trở

1 3 Phân loại giao tiếp

1 3.1 Căn cứ vào phương thức giao tiếp

1.3.1.1 Giao tiếp trực tiếp

Giao tiếp trực tiếp là loại giao tiếp trong đó các chủ thể trực tiếp gặp gỡ, trao đổi với nhau Ví dụ : Trò chuyện trực tiếp, thảo luận, đ àm phán

Ưu điểm của giao tiếp trực tiếp là bên cạnh việc sử dụng ngôn ngữ còn có thể sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ (ánh mắt, nét mặt, trang điểm, ăn mặc ) do

đó lượng thông tin thường phong phú đa dạng hơn Chủ thể giao tiếp nhanh chóng biết được ý kiến của người đối thoại và có thể điều chỉnh quá trình giao tiếp một cách kịp thời để đạt được mục đích

Tuy nhiên, giao tiếp trực tiếp là bị hạn chế về mặt không gian, dễ bị chi phối bởi một số yếu tố ngoại cảnh

1.3.1.2 Giao tiếp gián tiếp

Giao tiếp gián tiếp là chủ thể giao tiếp tiếp xúc với nhau qua các phương tiện truyền tin như: điện thoại, vô tuyến truyền hình, thư từ hoặc qua vật trung gian khác như hoa, quà k ỷ niệm, hoặc qu a người thứ ba

Giao tiếp gián tiếp có ưu thế giúp con nười có thể giao tiếp với nhau trong một khoảng không gian rộng lớn hoặc trong một khoảng thời gian dài Người ta có thể trò chuyện với nhau ở hai nửa địa cầu nhờ có điện thoại, mạng Intenet Thế

hệ ông cha có thể dặn dò con cháu nhiều đời sau qua di chúc, báu vật gia truyền

Ngày đăng: 08/03/2021, 14:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w