1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chăn nuôi đại cương khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y

50 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 789,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở động vật bậc cao, các tế bào cơ thể không thể trao đổi các chất khí trực tiếp với môi trường ngoài, mà sự trao đổi khí giữa các cơ quan với nhau hoặc trao đổi khí với môi trường ngoài

Trang 1

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

Chương 1 Sinh lý gia súc gia cầm cơ bản

Bài 1 SINH LÝ HÔ HẤP

Cơ thể vật nuôi luôn sử dụng khí oxy cho mọi hoạt động sinh sống của cơ thể, đồng thời

bên ngoài Vì vậy, hô hấp là một hoạt động rất quan trọng trong cơ thể của vật nuôi

Ở động vật đơn bào, quá trình hô hấp là sự trao đổi khí bằng cơ chế khuếch tán trực tiếp

qua màng tế bào, là hình thức hô hấp đơn giản nhất của động vật

Ở động vật bậc cao, các tế bào cơ thể không thể trao đổi các chất khí trực tiếp với môi

trường ngoài, mà sự trao đổi khí giữa các cơ quan với nhau hoặc trao đổi khí với môi trường

ngoài nhờ hoạt động sinh lí của hệ hô hấp Sinh lý hô hấp ở vật nuôi bao gồm:

- Sự thông khí ở phổi

- Sử dụng khí O2 ở tế bào

- Điều tiết chức năng sinh lý hô hấp

1 Hô hấp của loài có vú

1.1 Sơ lược cấu tạo của hệ hô hấp

Cơ quan hô hấp gồm có:

* Các đường dẫn khí gồm: xoang mũi, miệng, yết hầu, thanh quản, khí quản, phế quản

và các tiểu phế quản Tác dụng của đường dẫn khí:

- Làm ấm không khí, giúp nhiệt độ không khí trong phế nang luôn ổn định

- Làm không khí bão hoà hơi nước, ngăn loại thải nước trên bề mặt biểu mô trao đổi khí

của phế nang

- Lọc, làm sạch vật lạ và vi khuẩn trong không khí nhờ hệ thống cản bụi ở mũi và các

tuyến bài tiết chất nhày, từ đó bảo vệ tế bào phổi, tránh tổn thương và nhiễm trùng

+ Thanh quản là một liên kết các sụn có chức năng trong việc dẫn khí và phát ra âm thanh

+ Khí quản là 1 ống gồm nhiều vòng sụn hình móng ngựa, có chức năng lọc và dẫn khí

+ Từ 2 phế quản chính đi vào trong phổi, phân nhánh thành phế quản nhỏ rồi phế quản

nhỏ hơn, rồi đến phế quản hô hấp Phế quản lớn thành có chứa sụn và cơ Phế quản nhỏ thành

chỉ chứa cơ mà không có sụn

+ Phế quản hô hấp phân nhánh cho ra ống phế nang rồi đến phế nhỉ, túi phế nang và sau

cùng là phế nang Phế nang là những túi nhỏ có khả năng đàn hồi

Khi con vật thở, không khí qua mũi; khi ngạt mũi, con vật sẽ thở bằng miệng Thở bằng

mũi có ý nghĩa lớn đối với cơ thể, vì màng nhầy mũi tiết ra dịch nhờn, không khí từ ngoài đi

vào sẽ được sưởi ấm và lọc bụi Khi những mạch quản này sung huyết thì đường hô hấp hẹp

lại, gây khó thở (gặp ở trường hợp bị cảm lạnh)

Không khí đi qua đường hô hấp từ mũi đến nhánh phế quản nhỏ sẽ được sưởi ấm, lọc

sạch bụi bẩn và giữ hơi nước một cách vừa phải trước khi đi vào phế bào, phế bào là một tổ

chức mềm, mỏng, xung quanh có mao mạch bao phủ Phế bào là nơi tiến hành trao đổi khí

giữa máu và không khí

Trang 2

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

* Phổi được bao bọc bởi màng phổi có cấu tạo bởi mô liên kết, mô đàn hồi và sợi cơ trơn

Phổi nằm trong xoang ngực khép kín Trên bề mặt phổi có lá tạng, mặt trong thành ngực có lá thành Giữa lá tạng và lá thành tạo thành một xoang hộp có dịch màng ngực, xoang này gọi là xoang màng ngực Tác dụng của dịch xoang màng ngực là làm giảm lực ma sát của phổi vào màng ngực lúc di động

Phổi là một tổ chức bao gồm nhiều sợi đàn hồi, do đó nó có tính đàn hồi co giãn Phổi không có cấu tạo bằng cơ nên

không thể tự co dãn được một cách chủ động mà co dãn thụ động nhờ các cơ hô hấp: cơ

hoành và các cơ gian sườn làm cho lồng ngực được mở rộng hay thu hẹp lại và làm biến đổi

áp lực âm trong xoang màng ngực và kéo theo vận động của phổi

1.2 Hô hấp phổi (hô hấp ngoài)

Hô hấp phổi là động tác hoàn toàn bị động Lúc lồng ngực nở ra, phổi sẽ nở theo, áp

lực trong phổi nhỏ hơn bên ngoài, không khí tràn vào phổi, đó là động tác hít vào ngược lại là

động tác thở ra Lồng ngực vận động được là nhờ các cơ hô hấp (cơ hoành, cơ gian sườn

ngoài)

1.2.1 Động tác hít vào

Hít vào là kết quả mở rộng dung tích của xoang ngực theo chiều dài và ngang, do tác

dụng của cơ hô hấp (chủ yếu là cơ hoành và cơ gian sườn ngoài)

Vận động của cơ

hoành

Lúc bình thường cơ

hoành tạo thành một góc lồi,

định hướng về phía trước Lúc

cơ hoành co thì đỉnh trung tâm

của nó không đổi, nhưng phần

cơ co lại, cơ hoành từ góc lồi

biến thành góc nhọn, làm cho

dung tích xoang ngực nở ra từ

trước ra sau và ép vào các cơ

quan nội tạng trong bụng

Vì thế, lúc hô hấp ta thấy ở bụng có sự biến đổi một cách nhịp nhàng với động tác hô hấp

* Vận động của cơ gian sườn ngoài

Xương sườn một đầu cố định vào khớp cột sống, một đầu có phần sụn bám vào xương

ức có thể di động lên xuống được Cơ gian sườn, một đầu bám vào cạnh sau của xương sườn

trước, một đầu bám vào cạnh trước của xương sườn Lúc cơ gian sườn ngoài co thì xương

sườn được kéo lên Vì thế, khi cơ gian sườn ngoài co sẽ sinh ra hai lực ngược chiều: lực tác

dụng vào chỗ xương sườn gần trung tâm cố định (ở khớp) trở nên vô hiệu, còn lực tác dụng

Cơ gian sườn ngoài Cơ hoành

(góc tù)

Cơ hoành (góc nhọn)

Cơ gian sườn

Cơ hoành

Sơ đồ cấu tạo phổi và lồng ngực

Trang 3

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

vào đầu sườn di động sẽ kéo đầu xương sườn đó lên: kết quả là làm cho lồng ngực trương

rộng ra hai bên và trên dưới Do tác dụng của cơ hoành và cơ gian sườn, lồng ngực được

trương ra theo 3 chiều của không gian Áp lực âm trong xoang màng ngực tăng lên làm cho

phổi nở ra, áp lực trong phổi nhỏ hơn bên ngoài, không khí tràn vào phổi để cân bằng áp lực

và gây nên động tác hít vào

1.2.2 Động tác thở ra

Sau động tác hít vào thì cơ hoành giãn ra từ góc nhọn biến thành góc lồi, cơ gian sườn

ngoài giãn ra Mặt khác, do tác dụng co bóp của cơ gian sườn trong theo phương hướng

ngược chiều với cơ gian sườn ngoài nên xương sườn bị kéo xuống Kết quả là làm cho lồng

ngực nhỏ lại theo 3 chiều không gian Áp lực trong xoang ngực tăng lên, ép vào phổi, phổi co

vào làm cho áp lực trong phổi lớn hơn ngoài không khí, vì thế sinh ra động tác thở ra

Ngoài ra, lúc thở còn có một số cơ khác như cơ răng cưa, cơ chéo sườn … và đặc biệt

khi thở mạnh còn có một số cơ ở bụng cũng tham gia động tác hô hấp

1.2.3 Phương thức hô hấp

Khi gia súc thở bình thường thì thành bụng và thành ngực cùng hoạt động Đó là do tác

dụng co bóp của cơ hoành và cơ gian sườn nên được gọi là phương thức thở sườn bụng Trừ

chó thở bằng phương thức sườn (thể ngực)

Lúc mang thai gia súc thở bằng phương thức sườn là chính Lúc viêm ruột, viêm dạ dày,

viêm màng bụng, liệt cơ hoành, dãn dạ dày, đầy hơi ruột, đầy hơi dạ cỏ, bội thực dạ cỏ, gan

sưng, lách sưng, bàng quang bí tiểu … gia súc chỉ thở bằng sườn Ngược lại, lúc xoang ngực,

tim …bị bệnh, viêm màng phổi, tràn dịch màng phổi, liệt cơ gian sườn, xoang ngực tổn

thương thì gia súc thở bằng bụng là chủ yếu Vì thế trong chẩn đoán lâm sàng việc quan sát

phương thức hô hấp có tác dụng nhất định

1.2.4 Sự thông khí ở phổi

* Nhịp thở

Gia súc non có cường độ trao đổi chất mạnh hơn gia súc trưởng thành nên nhịp thở

nhanh hơn Động vật nhỏ so với động vật lớn cũng có nhịp thở nhanh hơn Nhịp thở ở gia súc

ăn cỏ cao hơn gia súc ăn thịt Ngoài ra, trạng thái sinh lý vận động, nhiệt độ môi trường, độ

cao, khí hậu thời tiết, tình trạng bệnh tật … cũng ảnh hưởng đến nhịp thở Điều này được thể

hiện ở bảng 1 như sau:

Bảng 1: Nhịp thở ở một số loài gia súc gia cầm

Động vật Nhịp thở

(lần/phút) Động vật

Nhịp thở (lần/ phút)

Nguồn: Lê Văn Thọ và Đàm Văn Tiện, 1992

* Các thể tích hô hấp

- Khí lưu thông (TV Tidal Volume): là lượng khí hít vào bình thường và thở ra bình thường

Trang 4

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

- Khí dự trữ hít vào (IRV: Inspiratory Reserve Volume): sau khi hít vào bình thường,

nhưng chưa thở ra ngay, cũng vẫn có thể cố sức hít vào thêm một thể tích khí nhất định

- Khí dự trữ thở ra (ERV: Expiratory Reverse Volume): sau khi thở ra bình thường,

nhưng chưa hít vào ngay, cũng vẫn có thể cố sức thở ra thêm một thể tích khí nhất định

- Khí cặn (RV: Residual Volume): là thể tích khí còn tồn tại trong phổi sau khi đã cố

sức thở ra

- Dung tích sống (VC: Vital capacity): là tổng thể tích của khí lưu thông, khí dự trữ thở

ra và khí dự trữ hít vào

1.3 Sự trao đổi khí trong hô hấp

1.3.1 Sự trao đổi khí ở phổi (hô hấp ngoài)

Sự trao đổi khí ở phổi được thực hiện theo phương thức khuyếch tán, khuyếch tán từ nơi có

áp suất cao đến nơi có áp suất cao đến nơi có áp suất thấp và phụ thuộc vào áp suất riêng của

từng loại khí

Sự trao đổi khí ở phổi là quá trình trao đổi khí ở phế nang và máu trong hệ thống mao

đó, rồi thấm qua biểu mô của phế nang, qua thành mao mạch vào trong huyết tương, sau cùng

vào trong hồng cầu để kết hợp với hemoglobulin Các mao mạch hợp lại thành các tĩnh mạch

động tác thở ra

khí CO2 vẫn diễn ra thuận lợi

1.3.2 Sự trao đổi khí ở mô (hô hấp trong)

tim và được tim co bóp để đi đến các tế bào và mô của các cơ quan Tại đây máu sẽ nhường

oxy hóa của tế bào và đưa tới phổi, thực hiện sự trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường ngoài

1.3.3 Sự vận chuyển khí O 2 và CO2 trong máu

1.3.3.1 Sự vận chuyển khí O 2 trong máu

Ở 2 dạng hòa tan và kết hợp

áp suất riêng của khí O2

- Dạng kết hợp: khí O2 được vận chuyển trong máu ở dạng kết hợp với Hb (chiếm

Trang 5

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

được vận chuyển về phổi dưới dạng hòa tan

dạng muối bicarbonate và 20% kết hợp trực tiếp với Hb

CO2 + Hb HbCO2 (Carbohemoglobin)

1.3.4 Những sự thay đổi của không khí đi ngang qua phổi

- Không khí thở ra thường nóng hơn khí trời

- Khí thở ra chứa nhiều hơi nước (mất 0,5 lít/ 24 giờ)

- Sự thay đổi quan trọng nhất là thành phần hoá học

+ Không khí hít vào có thành phần hoá học cố định

+ Không khí thở ra có thành phần hoá học không đổi nhưng hàm lượng thay đổi: giảm

(Nguồn: Nguyễn Quang Mai và Cù Xuân Dần, 2004)

mặt ngoài, tỷ lệ nghịch với khối lượng cơ thể

+ Ở người: 0,3 lít O2 /giờ /kg P

+ Ở chuột: 1,45 lít O2 /giờ /kg P

1.3.5 Những sự thay đổi của máu khi đi ngang qua phổi

Những thay đổi của máu khi đi ngang qua phổi

Nguồn: Nguyễn Thị Kim Đông, Hứa Văn Chung (2004)

1.4 Hô hấp trong điều kiện khác thường và trong lúc cơ làm việc

Phổi

Trang 6

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

1.4.1 Thiếu oxy

Trong điều kiện thiếu oxy, hoạt động hô hấp sẽ gia tăng, đặc biệt là gia tăng tần số hô

hấp Việc gia tăng tần số hô hấp là hình thức lấy số lần để bù lại cho phần thiếu hụt hàm

lượng oxy trong không khí, làm cho gia súc chóng mệt mỏi Nếu nồng độ oxy quá thấp sẽ dẫn

tới tình trạng ngạt thở

Hoạt động thần kinh cấp cao yêu cầu cung cấp đầy đủ oxy, đặc biệt là đối với tế bào

thần kinh thị giác và thính giác … Chỉ cần thiếu oxy trong giây lát thì các hoạt động trên sẽ bị

rối loạn Ví dụ: lúc ta đang ngồi đột nhiên đứng lên, do áp lực trong xoang bụng giảm, máu ở

đầu dồn về bụng quá nhanh, khiến não thiếu máu nên ta có cảm giác choáng váng, mờ mắt, ù

tai Điều này cũng cần chú ý lúc cứu người và gia súc trong trường hợp sinh khó, nếu kéo thai

ra quá mạnh cũng có thể gây ngất do não thiếu máu

1.4.2 Áp lực thấp và cao

Áp lực không khí thấp cũng dễ sinh ra thiếu oxy Từ thiếu ôxy sẽ dẫn đến tình trạng rối

loạn chức năng sinh lý của các cơ quan bộ phận trong cơ thể Ở độ cao 3500 – 4500 mét thì áp

lực không khí là 450 – 500mmHg, phân áp oxy trong phế bào khoảng 60 – 65mmHg, lúc này

độ bão hoà oxy trong máu hạ xuống còn 80 – 85% Ở độ cao 4500 – 5000 mét, người và

động vật dễ sinh bệnh núi cao (triệu chứng là khó thở, mệt mỏi, thị giác và thính giác giảm

yếu do thần kinh điều hoà tuần hoàn và hô hấp bị rối loạn nghiêm trọng, con vật có thể bị hôn

mê)

Sống ở độ cao 6000 – 7000 mét rất nguy hiểm Hạn độ tối đa ở người là 8000 – 9000

mét Nhưng nếu sự thiếu oxy chỉ trong phạm vi nhỏ thì cơ thể lâu ngày có thể thích ứng dần

được, điều này cũng có nghĩa là khi chuyển dịch gia súc từ vùng thấp lên vùng cao một cách

từ từ thì hoạt động hô hấp, tim mạch của nó sẽ tăng lên một cách thích ứng

Trong hoàn cảnh áp lực cao cũng dễ phát sinh nguy hiểm Nitơ trong máu chỉ ở dạng

hoà tan, độ hoà tan đó tỷ lệ thuận với phân áp nitơ, cho nên nếu động vật sống trong hoàn

cảnh áp lực cao càng lâu thì nitơ hoà tan trong máu càng nhiều (theo tính toán nếu cứ đi sâu

xuống 10 mét thì tăng 1atmotphe) Trên thực tế, ở vào chỗ sâu có thể không bị nguy hiểm

nhiều, nhưng nếu từ chỗ áp lực cao chuyển nhanh đến chỗ áp lực bình thường (như người thợ

lặn từ nơi nước sâu nổi lên chẳng hạn) thì rất nguy hiểm, vì nitơ từ thể hoà tan biến thành thể

khí một cách nhanh chóng, nó không thoát ra hết ở phổi mà theo tuần hoàn đi đến các mao

mạch Nếu sống trong điều kiện áp suất cao (3 atmosphere trở lên) thì oxy trong máu quá

nhiều, oxy này kích thích vào đại não gây co giật và chết

1.4.3 Cơ làm việc

Lúc cơ làm việc thì quá trình trao đổi chất tăng, đòi hỏi nhiều O2 và thải nhiều CO2 Lúc

việc tăng lên 60% Nếu con vật được huấn luyện thì độ sâu của hô hấp tăng nhưng nhịp

không tăng mấy, ngược lại nếu con vật ít luyện tập thì lúc vận động lại tăng nhịp thở là chủ

yếu Những con vật được luyện tập đều thì mao mạch trong mô bào tăng, lúc cơ vận động

mao mạch sẽ co giãn nhịp nhàng nên sự cung cấp oxy được bảo đảm

Trong quá trình hoạt động sống của cơ thể, sự vận động cơ và hô hấp hình thành, nên

mối liên hệ phản xạ có điều kiện và duy trì suốt đời, do đó dưới tác dụng của các tín hiệu kích

thích, vận động (cày, bừa …) sự hoạt động hô hấp của gia súc thay đổi một cách tương ứng

Điều đó chứng tỏ tác dụng của vỏ não trong quá trình hô hấp rất quan trọng

Trang 7

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

1.5 Sự hô hấp ở bào thai và thú mới sinh

Sự vận chuyển O2 từ máu của thú mẹ sang bào thai và vận chuyển CO2 theo chiều

Nhau thai điều hoà phân áp O2 và CO2 trong máu bào thai Nếu sự tuần hoàn máu

bào thai giảm sẽ khơi mào cử động hô hấp làm cho bào thai ngộp thở vì hít dịch trong túi ối

và túi niệu

hấp đầu tiên hoạt động Cùng với sự tăng trưởng lồng ngực giãn ra, các sợi đàn hồi gia tăng

và các lực co rút phổi gia tăng làm gia tăng nhanh chóng áp lực âm bên trong xoang ngực

Cho dù có co rút cách nào phổi thú cũng không thể nào xẹp xuống như phổi của bào thai (dù

rằng bào thai có cố gắng thở ra mạnh)

2 Hô hấp ở gia cầm

* Hệ thống hô hấp của gia cầm khác loài có vú như:

- Ở động vật có vú, sự trao đổi khí diễn ra qua màng phế nang Ở loài gia cầm, không

khí qua phổi trực tiếp lúc hít vào và thở ra

- Thể tích phổi nhỏ khoảng phân nữa phổi gia súc Phổi không di động, dính vào xương

sườn và lồng ngực Do đó thể tích không thay đổi trong chu kỳ hô hấp Xương sườn giãn làm

không gian xoang ngực giãn và mở rộng hút không khí vào Lúc xoang ngực co sẽ gây ra

động tác thở ra

- Đường dẫn khí gồm: khí quản, phế quản sơ cấp chạy vào phổi phân nhánh cho ra cho

phế quản thứ cấp rồi đến phế quản tam cấp phân nhánh cho ra một mạng lưới mao quản khí

- Phổi nối liền với các túi khí rộng và mỏng với thể tích gấp 10 lần phổi Có 9 túi khí (1

cặp túi khí ở cổ, 1cặp túi khí ngực trước, 1 cặp túi khí ngực sau, 1cặp túi khí bụng và một túi

khí ở xương mỏ ác) Các túi khí nối liền với phổi bởi các phế quản sơ cấp và thứ cấp, phế

quản tam cấp, hoặc các phế quản từ đầu túi khí đi vào phổi (Trừ túi khí cổ)

Tổ chức túi khí gia cầm rất phát triển Khi gia cầm bay chúng có tác dụng rất quan

trọng trong việc điều chỉnh trọng tâm và điều hoà thân nhiệt Túi khí còn làm giảm thể trọng

gia cầm khi bay và bơi lội

Lúc hít vào, không khí qua phổi vào các nhánh nhỏ, và cuối cùng vào các túi khí, lúc

thở ra thì ngược lại Phổi gia cầm nhỏ nhưng do không khí hai lần tuần hoàn nên vẫn đảm bảo

Trang 8

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

Bài 2 SINH LÝ TIÊU HOÁ

Tiêu hoá là một quá trình phân giải thức ăn từ miệng đến ruột già nhằm biến đổi những

hợp chất hữu cơ phức tạp của thức ăn thành những chất đơn giản mà cơ thể động vật có thể

hấp thu, lợi dụng được

Trong quá trình trao đổi chất động vật không ngừng lấy thức ăn từ ngoại cảnh để cung

cấp vật chất và năng lượng Trong thức ăn có chứa các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể

động vật để duy trì quá trình sống bình thường Những chất dinh dưỡng này gồm có: protein,

glucid, lipid, muối vô cơ, nước và vitamin

Protein, glucid, lipid trong thức ăn (gia súc phải lấy từ thực vật hoặc động vật khác) sau

khi vào ống tiêu hoá của gia súc phải được phân giải thành vật chất đơn giản mới có thể được

gia súc lợi dụng để tạo thành vật chất đặc biệt của bản thân chúng Riêng muối vô cơ, nước và

vitamin có thể được hấp thu ở trạng thái ban đầu

1 Chức năng chủ yếu của cơ quan tiêu hoá

Cơ quan tiêu hoá có 3 chức năng: chức năng chế tiết, chức năng vận động và chức năng

hấp thu

1.1 Chức năng chế tiết

Chức năng này biểu hiện ở chỗ các tuyến tiêu hoá sản xuất và bài tiết các dịch thể (nước

bọt, dịch vị, dịch tuỵ, dịch mật, dịch ruột) vào ống tiêu hoá

Dịch tiêu hoá gồm có nước, muối và chất hữu cơ Trong chất hữu cơ có thành phần

quan trọng là các men Men là những chất xúc tác sinh học Sự biến đổi hoá học của thức ăn

trong ống tiêu hoá về thực chất chính là nhờ tác dụng thuỷ phân của men Men có bản chất

protein ở thể keo Khi mới ở trong tế bào tuyến tiêu hoá tiết ra men còn ở dạng chuẩn men

(không hoạt động) Sau đó nhờ tác dụng của các nhân tố hoạt hoá xác định nó mới trở thành

dạng hoạt động Ví dụ: pepsinogen trong dịch vị được acid HCl hoạt hoá thành pepsine hoạt

động

Men tiêu hoá có tác dụng đặc hiệu, nghĩa là mỗi men chỉ xúc tác cho một quá trình nhất

giải glucid và men phân giải lipid

1.2 Chức năng vận động

Chức năng vận động hoàn thành được là do cơ trơn ống tiêu hoá Ngoài đặc tính cơ bản

của mô cơ, những cơ trơn này còn một số đặc tính riêng, như tính hưng phấn thấp và co bóp

chậm, tính căng thẳng và vận động có quy luật Nhờ sự vận động này mà thức ăn mới được

nghiền nát, hỗn hợp và chuyển từ bộ phận này đến bộ phận khác trong ống tiêu hoá

1.3 Chức năng hấp thu

Chức năng hấp thu được thực hiện nhờ màng nhầy ở các bộ phận ống tiêu hoá, bảo đảm

chuyển các chất dinh dưỡng ở dạng đơn giản vào máu và bạch huyết Ống tiêu hoá là một

trong những hệ thống thực hiện mối quan hệ giữa môi trường bên trong cơ thể với môi trường

ngoài

2 Tiêu hoá ở miệng

Thức ăn đưa vào miệng sẽ được răng và lưỡi phối hợp cắn, xé, nhai, nghiền nát và trộn

thấm với nước bọt

Trang 9

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

Nước bọt có tác dụng: tẩm ướt và làm mềm thức ăn; làm trơn và bảo vệ niêm mạc

xoang miệng (pha loãng chất độc hại); diệt khuẩn (làm tan màng vi khuẩn nhờ Lysozyme),

hoà tan một số muối làm tăng vị của thức ăn; phân giải một phần tinh bột; ở loài nhai lại nước

bọt có chứa vitamine C, ure (là chất dinh dưỡng cần cho vi sinh vật dạ cỏ), còn có tác dụng

trung hoà bớt lượng acid trong dạ dày; ở những loài có tuyến mồ hôi kém phát triển thì sự bốc

hơi nước từ nước bọt còn giúp cho sự toả nhiệt

2.1 Lấy thức ăn và nước uống

Ở các loài khác nhau sẽ có cách lấy thức ăn và nước uống khác nhau Chủ yếu nhờ môi,

răng, lưỡi; riêng ở gia cầm nhờ mỏ

2.1.1 Thức ăn ở dạng rắn

- Heo dùng mũi để ủi và môi dưới nhọn lấy thức ăn đưa vào miệng

- Trâu, bò dùng lưỡi để tóm lấy thức ăn đưa vào miệng Sau đó lấy răng cửa hàm dưới

và lợi hàm trên để cắt cỏ hoặc nhờ cử động của đầu

- Ngựa nhờ môi trên và răng cửa để ăn cỏ khi chăn thả Khi nhốt trong chuồng thì nó

dùng môi nhặt cỏ khô hoặc hạt dưới sự tham gia của lưỡi

- Dê, cừu với cách lấy thức ăn gần giống như ngựa nhưng môi trên của cừu có khe hở

nên tiện cho việc gặm cỏ đến tận gốc

- Gà dùng hàm dưới để xúc thức ăn và nuốt

2.1.2 Thức ăn ở dạng lỏng và nước uống

Cách uống nước và lấy thức ăn dạng thể lỏng ở gia súc ăn thịt và gia súc ăn cỏ cũng

khác nhau Chó mèo ăn thức ăn lỏng nhờ lưỡi, còn các gia súc khác thì nhờ vào áp lực âm của

xoang miệng

2.2 Nhai và hỗn hợp nước bọt

Nước bọt do 3 đôi tuyến chính (tuyến dưới hàm, dưới lưỡi và tuyến mang tai) tiết ra đổ

vào miệng Tuyến mang tai tiết ra nước bọt loãng, ít chất nhầy nhưng chứa nhiều enzyme

amylase và protid Tuyến dưới hàm và dưới lưỡi tiết ra nước bọt chứa nhiều chất nhầy

(mucin), không có enzyme

Nhai nhằm làm tăng diện tích tiếp xúc giữa thức ăn với dịch tiêu hoá Nhào trộn thức ăn

với nước bọt để làm trơn, dính thành viên giúp động tác nuốt một cách dễ dàng

Trong nước bọt có men amylase và maltase có tác dụng tiêu hóa tinh bột thành những

sản phẩm đơn giản hơn Amylase có rất nhiều trong nước bọt của người, trong nước bọt heo

cũng có một ít Ở điều kiện bình thường, động vật nhai lại và ngựa có rất ít men này trong

Trang 10

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

Nuốt là phản xạ phức tạp gồm có rất nhiều cơ tham gia Thông qua động tác này, thức

ăn từ miệng qua thực quản vào dạ dày

Đối với loài nhai lại, thức ăn chưa được nhai kỹ đã nuốt xuống, sau khi vào dạ cỏ thức ăn

được nước bọt và dịch trong dạ cỏ thấm ướt, làm mềm Khi yên tĩnh nó ợ lên miệng để nhai

kỹ lại, nhai lại là một phản ứng sinh học giúp gia súc

ăn nhanh ở đồng cỏ và dự trữ khối lượng lớn thức ăn trong dạ cỏ Sau khi lấy thức ăn 30-70 phút trâu bò bắt đầu nhai lại mỗi đợt nhai lại kéo dài 40-50 phút một ngày đêm nhai lại từ 6-8 đợt

3 Tiêu hoá ở dạ dày

3.1 Tiêu hoá ở dạ dày đơn

Tiêu hoá ở dạ dày là giai đoạn tiêu hoá quan trọng Thức ăn sau khi vào dạ dày chịu tác

dụng cơ học và hoá học Tác dụng của cơ học là do cơ trơn vách dạ dày co bóp, nhào trộn

thức ăn, đẩy thức ăn vào ruột Sự biến đổi về hoá học của thức ăn là do tác dụng của dịch vị ở

tuyến dạ dày tiết ra

* Hoạt động cơ học của dạ dày

Thức ăn nuốt vào trước được nằm ở chung quanh khối thức ăn Chúng

sẽ ngấm và được tiêu hoá bởi dịch vị Thức ăn nuốt vào sau nằm ở giữa khối thức ăn, chúng chưa ngấm dịch vị và sẽ được tiêu hoá tiếp tục bởi men amylase của nước bọt

Trong dịch vị có chứa acid HCl và các men

lipase )

+ HCl: Không phải là

một enzym tiêu hóa mà chỉ

là một chất có tác dụng làm thay đổi độ pH trong dạ dày giúp cho pepsine hoạt động dễ dàng

đều hoà mở đóng van hạ vị, kích thích tiết dịch tụy giàu kiềm và ức chế lên men thối ở dạ

dày Ngoài ra nó còn giúp hoạt hóa pepsinogene thành pepsine, làm trương nở protein thuận

Trang 11

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

lợi cho men pepsine hoạt động và có tác dụng diệt khuẩn Thủy phân cellulose thực vật, làm

tan colagen trong mô liên kết, nới lỏng mô cơ và tạo điều kiện cho enyme phân giải

+ Pepsine là men tiêu hóa chủ yếu của dịch vị Khi mới tiết ra nó ở dạng tiền pepsine

không hoạt động gọi là pepsinogene Dưới tác dụng của acid HCl pepsinogen chuyển thành

pepsine hoạt động Pepsine còn có tác dụng tiêu hóa thành phần của mô liên kết (các sợi

colagen) tạo điều kiện cho các enzyme khác hoạt động

Pepsinogene Pepsine

Pepsine hoạt động mạnh ở pH = 2 Pepsine có tác dụng phân hủy protein thành peptone

và polypeptid

Protid Albumozo + Peptone + amino acid

+ Catepsine: Tác dụng giống như Pepsine, thủy phân protein thành peptid và amino

acid, độ pH thích hợp 4 – 5 Enyme này hoạt động mạnh ở dạ dày gia súc non, khi gia súc lớn

thì hoạt lực của enyme này giảm dần và hết tác dụng

+ Chymozine (Kimozin): Men này có tác dụng làm ngưng kết sữa tạo cục sữa đông,

cắt đứt cấu trúc của casein để cho pepsine tác động dễ dàng hơn tạo thành acid amin Men này

thường chỉ có ở động vật non còn bú sữa mẹ

+ Lipase: Không phải là men tiêu hóa của dạ dày mà là của ruột non được đưa lên dạ

dày khi van hạ vị hé mở cho thức ăn lỏng xuống ruột non Nó có tác dụng phân giải mỡ trung

tính thành acid béo và glycerin nhưng hoạt động của nó ở dạ dày rất yếu do dạ dày có môi

trường acid không thuận lợi cho hoạt động của nó

Tóm lại ở dạ dày sự tiêu hóa học chưa quan trọng bằng ở ruột non và nó chỉ tác dụng

phân giải protein thành peptone và polypeptid, những chất này chưa thể hấp thu ngay vào máu

được

3.2 Tiêu hóa ở dạ dày kép

Dạ dày kép rất lớn, chiếm hết nữa trái xoang bụng, có 4 túi, khi trưởng thành tỷ lệ của 4 túi

Mỗi túi của dạ dày kép có chức năng riêng đối với quá trình tiêu hóa

3.2.1 Dạ cỏ: là một túi lớn nhất có nhiệm vụ là túi chứa thức ăn, thức ăn được lên men nhờ

hệ vi sinh vật sống cộng sinh trong dạ cỏ, trong dạ cỏ không có men tiêu hóa celluloza và các

thức ăn khác, nhưng thức ăn lại được phân giải nhờ các vi sinh vật sống cộng sinh trong dạ cỏ

- chúng gồm vi khuẩn, nguyên sinh động vật (thảo phúc trùng) và nấm

* Tiêu hóa cellulose: Trước hết nguyên sinh động vật phá vỡ màng cellulose một mặt

tạo điều kiện cho vi khuẩn lên men cellulose, mặt khác để lộ thành phần dinh dưỡng bên trong

tế bào thực vật (tinh bột, đường, protid ) để chúng dễ dàng bị tiêu hóa Nguyên sinh động vật

ăn một phần cellulose bị chúng phá vỡ để biến thành tinh bột và đường, tạo năng lượng cho

chúng tiếp tục hoạt động Ngoài ra chúng còn làm lên men cellulose thành acid béo bay hơi

Phần Cellulose và hemicellulose đã được nguyên sinh động vật phá vỡ còn lại sẽ được vi

HCl

Pepsine

Trang 12

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

khuẩn lên men tạo những acid béo bay hơi (acid acetic, acid propionic, acid butyric và 1 ít

acid valeric)

* Tiêu hóa tinh bột và đường: vi khuẩn và nguyên sinh động vật phân giải tinh bột

thành polysaccarit, glycogen và apilopectin Những đường đa này sẽ được lên men tạo thành

acid béo bay hơi Acid béo bay hơi này được hấp thụ qua thành dạ cỏ vào máu đến gan, một

phần giữ lại tại gan để được oxy hóa cung cấp năng lượng cho cơ thể, phần khác được chuyển

đến mô bào

* Tiêu hóa protid: vi sinh vật dạ cỏ lên men phân giải protid thực vật thành protid của

chính nó Khi theo thức ăn xuống dạ múi khế và ruột non gặp môi trường không thích hợp

chúng chết đi và cung cấp lại cho cơ thể gia súc một lượng lớn protid động vật

* Tiêu hóa lipid: vi sinh vật dạ cỏ phân giải Lipid thành glycerin và acid béo Glycerin

được vi sinh vật gây lên men tạo thành acid propionic

* Tổng hợp vitamin: vi sinh vật dạ cỏ có khả năng tổng hợp các loại vitamin B1, B2,

B6, B12, acid nicotinic, acid pantothenic, biotin va acid folic

- Dạ tổ ong là túi nhỏ nhất, nhiệm vụ của dạ tổ ong là chứa thức ăn lỏng và kiểm tra độ

cứng mềm của thức ăn Thức ăn thô sẽ được chuyển sang dạ cỏ để ợ lên nhai lại, thức ăn lỏng

sẽ được chuyển xuống dạ lá sách

- Dạ lá sách là túi nhỏ, hơi cứng nằm lệch sang bên phải, có nhiệm vụ nghiền nát và ép

các thức ăn đã nhai lại Phần thức ăn thô nằm lại giữa hệ thống phiến lá mỏng và được ép liên

tục, phần lỏng đi xuống dạ múi khế Ở dạ lá sách nước và acid béo được hấp thu mạnh

- Dạ múi khế là dạ dày chính của loài nhai lại, có chức năng tiêu hóa tương tự như dạ

Trang 13

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

- Rãnh thực quản: có hình lòng máng, bắt nguồn từ thượng vị, kết thúc ở lỗ thông với

dạ tổ ong, dạ lá sách Ở gia súc non bú sữa mẹ, rãnh thực quản được đóng lại Lúc này rãnh

thực quản từ hình lòng máng khép kín thành hình ống, sữa theo ống thực quản chảy thẳng vào

dạ lá sách và múi khế.Ở gia súc trưởng thành sau khi nhai lại lần 2, thức ăn sẽ chảy theo rãnh

thực quản xuống thẳng dạ lá sách

4 Tiêu hoá ở ruột non

Tiêu hoá ở ruột non chiếm vị trí vô cùng quan trọng trong toàn bộ quá trình tiêu hoá Vì

nó phân giải các chất dinh dưỡng thành những chất đơn giản (glucose, acid amin, glycerol,

acid béo ) có thể hấp thu ngang qua niêm mạc ruột vào máu tạo thành các tổ chức của cơ thể

4.1 Dịch tụy

Dịch tụy gồm có các enzym: Amylase, Maltase, Lactase, Trypsin, Pepsin, Lipase

* Tiêu hóa glucid

- Amylase dịch tụy có tác dụng giống như amylase của tuyến nước bọt nhưng mạnh

hơn và nhanh hơn Nó hoạt động tối ưu ở pH = 7

Tinh bột Maltose + Dextrin

- Maltase: Có tác dụng biến đổi maltose thành glucose

Maltose 2 Glucose

- Lactose Glucose + Galactose (quan trọng ở gia súc bú sữa)

- Saccharose Glucose + Fructose

* Tiêu hóa protein

- Trypsin: Tụy tạng tiết ra Trypsinogen không hoạt động và nó được hoạt hóa bởi

enzym Enterokinase để trở thành Trypsin hoạt động Trypsin hoạt động mạnh ở pH = 8 Tác

dụng của chymotrypsin thấp hơn Trypsin

Trypsinogen Trypsin

Protein Acid amin + peptid

Protein Polypeptid + Acid amin

* Tiêu hóa Lipid

Lipase thủy phân các chất lipid thành Glycerin và acid béo Lipase được hoạt hóa nhờ

dịch mật Lipase hoạt động mạnh ở pH trung tính hoặc hơi acid hay hơi kiềm

Lipid Glycerin + Acid béo

4.2 Dịch mật (ngựa và chim không có túi mật)

Maltase

Trang 14

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

Dịch mật có tác dụng:

- Hoạt hóa enzyme lipase, amylase, protease

- Nhũ tương hóa các lipid thành những hạt nhỏ để tăng diện tích phản ứng

- Cắt các hạt mỡ thành những hạt nhỏ hơn, nhờ đó ruột có thể hấp thu qua phương thức

ẩm bào

- Acid mật kết hợp với acid béo tạo phức chất hòa tan để ruột hấp thu

- Muối mật trung hòa HCl từ dạ dày xuống, góp phần nâng cao độ pH dịch ruột, ức chế

eznyme Pepsine phá hủy enzyme Trypsine

- Kích thích nhu động ruột Nếu thiếu muối mật thì lipid sẽ bị thải theo phân với số

lượng lớn (>40%)

- Trong trường hợp khác thường, cholesteron kết tủa thì hình thành sỏi mật

4.3 Dịch ruột

Dịch ruột gồm có các enzym amylase, maltase, invertase, peptidase, polypeptidase, lipase

* Thủy phân glucid

Tinh bột Maltose

Maltose 2 Glucose

Saccharose 2 Glucose

* Thủy phân protein

Dipeptid 2 Acid amin

Polypeptid Acid amin

* Thủy phân lipid

Lipid Glycerin + Acid béo

5 Tiêu hoá ở ruột già

Ruột già gồm có 3 đoạn: manh tràng, kết tràng và trực tràng

Ruột già có nhiệm vụ tiêu hoá tiếp tục phần dinh dưỡng không được hấp thu từ ruột non

chuyển xuống manh tràng và hấp thu chủ yếu là nước, muối khoáng, glucoza Đặc biệt manh

tràng và kết tràng có hệ vi sinh vật phong phú thực hiện quá trình lên men thức ăn giống như

dạ cỏ

Ở ruột già tuy cũng có tuyến tiêu hoá nhưng dịch tiết ít, men ít và hoạt động yếu nên sự

tiêu hoá tiếp tục ở ruột già chủ yếu là do men từ ruột non theo dưỡng chất chuyển xuống ruột

già để tiếp tục tiêu hoá phần dưỡng chất còn lại chưa được hấp thu hết ở ruột non

Trang 15

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

Niêm mạc ruột già cũng tiết dịch nhầy Phản ứng các chất chứa trong phần đầu và phần

giữa của ruột già là kiềm, còn phần cuối cùng ở kết tràng là toan Ở ruột già luôn luôn diễn ra

2 hiện tượng trái ngược nhau đó là hiện tượng lên men và thối rữa

6 Đường vận chuyển dinh dưỡng

- Đường máu: nước, muối khoáng, vitamin tan trong nước, các loại đường đơn, acid

amin, 30% acid béo và glycerin qua nhung mao ruột vào tĩnh mạch về gan, từ gan về tim, sau

đó theo động mạch đi phân phối khắp cơ thể

- Đường bạch huyết: 70% chất béo và glycerin còn lại, các vitamin tan trong dầu được

hấp thu vào nhung mao ruột, theo đường bạch huyết về tim và theo động mạch đi khắp cơ thể

Trang 16

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

BÀI 3 SINH LÝ SINH SẢN

Sinh sản là điều kiện để duy trì nòi giống của tất cả các cơ thể sống Ở gia súc quá trình

sinh sản không chỉ là sự truyền thông tin di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác mà còn liên

quan tới sự điều chỉnh nội tiết, đến các giai đoạn khác nhau của quá trình đó

1 Sự thành thục về thể xác và thể vóc

Gia súc thành thục về tính là khi nó đã sinh trưởng và phát dục đến giai đoạn có khả

Tuổi thành thục về tính của gia súc khác nhau tùy theo tính biệt, khí hậu, dinh dưỡng,

Tuổi thành thục về tính của các loài gia súc

Thành thục về tính thường sớm hơn thành thục về thể vóc Khi đã tới thời kỳ thành thục về

tính thì sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể gia súc vẫn còn tiếp tục

Các yếu tố ảnh hưởng đến thành thục về tính:

- Giống, loài: loài gia súc khác nhau thì có tuổi thành thục về tính khác nhau Trong

cùng loài, giống có năng suất thấp thành thục sớm hơn giống có năng suất cao Ví dụ: bò vàng

thành thục sớm hơn bò sữa Hoặc heo Móng Cái 3 – 4 tháng tuổi đã có thể sinh tinh trong khi

đó heo Yorkshire phải 5 – 6 tháng tuổi

- Dinh dưỡng: chế độ nuôi dưỡng tốt (đủ protein, vitamin A, D, E, khoáng) giúp gia súc

thành thục đúng tuổi Nuôi dưỡng kém gia súc chậm thành thục

- Thời tiết, khí hậu: gia súc nhiệt đới thành thục sớm hơn gia súc ôn đới

Tuổi thành thục về thể vóc của một số loài gia súc

Dê cừu cái Heo nọc

2 Sinh lý cơ quan sinh dục đực

2.1 Tế bào sinh dục đực – tinh trùng

Trang 17

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

Khi gia súc đực đã đến tuổi thành thục thì dịch hoàn bắt đầu sinh tinh trùng Ở một số

động vật như nai, lạc đà, voi mỗi năm có một thời kỳ giao phối nhất định, lúc đó mới có tinh

trùng thành thục, dịch hoàn ở vào trạng thái hoạt động Rất nhiều thú rừng đến mùa giao phối

thì dịch hoàn to ra, còn ở gia súc thường dịch hoàn không ngừng sản sinh tinh trùng cho nên

bất kỳ lúc nào gia súc đực cũng có thể giao phối

Tinh trùng sinh ra và phát dục trong ống tinh cong nhỏ của dịch hoàn Dưới kính hiển vi

ta có thể phân biệt được đầu, cổ, thân và đuôi của tinh trùng

Kích thước của tinh trùng của từng loài gia súc Động vật Chiều dài tinh trùng () Chiều dài đầu tinh trùng () Thể tích (3

7 – 127 5,6 – 8,4 7,2 – 10,2 5,3 – 9,7

58 – 132

32 – 101

65 – 215

34 – 80

- Đầu tinh trùng gia súc hơi bằng, hình bầu dục, trong đầu có chứa nhân, có tầng nguyên

sinh chất bao quanh Phía trên đầu có thể đỉnh chứa các enyme phân giải protein: acrosome,

phosphataza, esteraza và hyaluronidaza Nếu thể đỉnh tổn thương thì tinh trùng mất khả năng

thụ tinh

- Cổ và thân: nhỏ và ngắn hơn đầu, nối vào phía sau của nhân, trong chứa các bao ty thể

hình lò so cung cấp năng lượng cho tinh trùng hoạt động Từ cổ bắt nguồng 9 đôi sợi trục kéo

dài xuống tận đuôi

- Thân và đuôi: gồm 2 sợi trung tâm được bao bởi 9 đôi sợi đặc, ngoài cùng là lớp vỏ

sợi xoắn Nhờ có đuôi tinh trùng di chuyển trong đường sinh dục cái gặp trứng để thụ tinh

*Thành phần của tinh trùng:

Tinh trùng chứa khoảng 25% vật chất khô và 75% nước Trong vật chất khô có 85%

protein, 13,2 % lypid và 1,8 % khoáng

Đầu tinh trùng chủ yếu chứa nhân (65%), trong nhân chủ yếu là DNA, còn ở đuôi có

nhiều lipid Ngoài ra có nhiều men tham gia tích cực vào quá trình oxy hoá của tinh trùng

Tinh trùng được sinh ra trong ống dẫn tinh của tinh hoàn, lúc này chưa có khả năng thụ

tinh Sau đó được dự trữ ở dịch hoàn phụ, lúc này tinh trung đã phát triển thành thục Ở đây

tinh trùng được thêm lớp glycoprotein giúp chúng di động được

* Sinh lý tinh trùng

- Vận động tiến thẳng Đuôi tinh trùng cử động tạo chuyển động lắc lư, tiến thẳng có

định hướng Tốc độ vận động của tinh trùng bò, dê: 4 mm/phút; chó, thỏ: 2 mm/phút

- Khi vận động nhiều, tinh trùng tiêu hao nhiều năng lượng nên nhanh chết

- Trong đường sinh dục cái, tùy từng vị trí thời gian sống của tinh trùng dài ngắn khác

nhau: ở âm đạo 1 - 6 giờ, ở tử cung 30 giờ (đối với bò)

- Sức sống và vận động của tinh trùng chịu ảnh hưởng của nhiệt độ, ánh sáng, áp suất

thẩm thấu, các chất hoá học, độ pH của môi trường pha chế bảo quản.Tinh trùng chết nhanh

trong môi trường có nhiều nước, có acid, thuốc tê, hóa chất, nhiệt độ cao…

2.2 Sự sinh tinh và tinh dịch

* Sự sinh tinh: tinh trùng được sinh ra trong ống tinh của dịch hoàn, quá trình gồm 4 giai đoạn

Trang 18

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

- Giai đoạn sinh sản: tinh nguyên bào (2n) ở biểu mô ống sinh tinh liên tục phân chia

nguy6en nhiễm làm gia tăng số lượng tinh nguyên bào

- Giai đoạn sinh trưởng: tinh nguyên bào ngừng phân chia, lớn lên thành tinh bào I (2n)

- Giai đoạn thành thục: Tinh bào I phân chia giảm nhiễm tạo thành 2 tinh bào II (n) và 1

nhiễm sắc thể giới tính X hoặc Y Tinh bào II lại phân chia ngay thành 2 tinh tử (n) Mỗi tinh

tử mang 1 nhiễm sắc thể giới tính X (cái) và Y (đực)

- Giai đoạn tạo hình: tinh tử phát triển hoàn chỉnh cấu trúc thành tinh trùng

* Tinh dịch: gồm 2 phần là tinh dịch và tinh thanh Là dịch lỏng hơi nhay, màu trắng đục,

mùi tanh hơi hắc, có độ pH kiềm yếu (7,2 – 7,4)

Lượng tinh dịch và nồng độ tinh trùng của một số loài gia súc

Gia súc Lượng tinh dịch (ml)

Nồng độ tinh trùng (100 triệu/ml)

Tổng số tinh trùng trong tinh dịch (tỷ)

Trung bình Tối đa Trung bình Tối đa Trung bình Tối đa

* Những yếu tố ảnh hưởng đến lượng tinh dịch và nồng độ tinh trùng

- Tuổi: gia súc trưởng thành cho lượng tinh nhiều nhất và khả năng thụ tinh tốt nhất

Gia súc quá non hoặc quá già thì lượng tinh ít và chất lượng kém

- Giống: giống cao sản cho lượng tinh nhiều và chất lượng tinh tốt hơn giống có năng

suất thấp

- Trạng thái cơ thể: cơ thể khỏe, số lượng và chất lượng tinh tốt hơn khi cơ thể bị bệnh

hoặc gầy yếu

- Chế độ dinh dưỡng: nuôi dưỡng tốt, lượng tinh nhiều, khả năng thụ tinh cao Nuôi

dưỡng kém (thiếu protein, vitamin A, D, E, chất khoáng) sẽ ảnh hưởng đến số lượng và chất

lượng tinh dịch

- Nhiệt độ: mùa nóng, nhiệt độ môi trường cao, lượng tinh dịch sinh ra ít, mùa đông

lượng tinh dịch sinh ra nhiều hơn vào mùa hè

- Chế độ sử dụng: khai thác đực giống quá mức thì số lượng và chất lượng tinh dịch kém

* Quá trình sinh tinh trùng: chịu ảnh hưởng của nhiệt độ, nhiệt độ trong bìu thấp hơn nhiệt

Quá trình sinh tinh trùng còn chịu ảnh hưởng rõ rệt của điều kiện nuôi dưỡng Cung cấp

đủ protein có giá trị sinh học cao, chất vô cơ và vitamin sẽ tăng số lượng và chất lượng tinh

trùng Tinh trùng được sinh ra liên tục nhưng chỉ khi giao phối mới thải ra ngoài

Tinh trùng có thể ở lâu trong dịch hoàn phụ Thời gian tinh trùng sống trong phụ dịch

hoàn là 7 – 10 ngày, tối đa 2 tháng Nếu tinh trùng ở quá lâu trong dịch hoàn phụ nó dần dần

chết Cho nên gia súc đực đã lâu không giao phối thì khi giao phối lần thứ nhất trong tinh dịch

Trang 19

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

thường thấy tinh trùng kỳ hình và suy nhược

3 Sinh lý cơ quan sinh dục cái

3.1 Tế bào sinh dục cái - trứng

Tế bào trứng thành thục và rụng là đặc trưng sinh

lý chủ yếu của gia súc cái khi đạt đến tuổi thành thục

Trứng bắt nguồn ở biểu mô sinh dục của buồng trứng

Nó trải qua ba giai đoạn: tăng sinh, sinh trưởng và thành thục Trong thời kỳ tăng sinh, trứng sản sinh trong biểu mô sinh dục buồng trứng, dần dần lớn lên, phân chia nhiều lần sinh ra nhiều trứng mẹ Mỗi trứng

mẹ bị một lớp tế bào noãn bao lại hình thành bao noãn đầu Số lượng bao noãn đầu rất nhiều nhưng đạt đến giai đoạn thành thục thì không nhiều Cho nên phần lớn không thể phát dục mà thoái hóa trong buồng trứng

Một phần tiếp tục phát dục, và dần dần to lên, tế bào hạt chung quanh trứng phân chia rất nhanh, cho nên thể tích của bao noãn đầu tăng lên Số

lượng tế bào hạt cũng tăng nhiều, sự sắp đặt của nó từ một lớp trở thành nhiều lớp Tế bào hạt

lại bắt đầu tiết dịch có chứa folliculin Hormon này tích lại trong khe hở giữa bao noãn Sau

đó bao noãn càng lớn, dịch trong đó càng nhiều, nên nó giống một cái bóng nước Bao noãn

này tiếp tục phát dục và thành thục, thể tích tăng lên dần dần nổi lên trên bề mặt buồng trứng

Kích thước của trứng thành thục ở các loài gia súc khác nhau

3.2 Chu kỳ tính (chu kỳ động dục)

Sau khi thành thục về tính, cứ sau một thời kỳ nhất định trong cơ thể và nhất là cơ quan

sinh dục của con cái có một sự thay đổi Ví dụ: màng nhầy tử cung âm đạo xung huyết, động

vật cái biểu hiện động dục, trứng thành thục và rụng…Thời gian từ động dục lần trước đến

động dục lần kế sau là 1 chu kỳ tính Sự thay đổi về tính có tính chất chu kỳ này gọi là chu kỳ

tính Chu kỳ tính của đa số gia súc khác nhau và biến đổi theo điều kiện nuôi dưỡng…

Sự giao phối của đa số động vật hoang dại có mùa nhất định Giao phối có mùa làm

cho đời sau được sinh ra ở mùa có lợi nhất Một năm chỉ xuất hiện một hoặc hai lần động dục,

thời gian rất dài Đại đa số gia súc trong một năm có nhiều chu kỳ tính trong mỗi chu kỳ tính

có thời gian động dục rất ngắn Ngựa, bò, lợn là động vật nhiều chu kỳ, động vật hoang dại là

động vật ít chu kỳ

Gia súc

Đường kính ()

Thể tích (triệu 3

)

Đường kính ()

Thể tích (triệu 3

)

Đường kính ()

Thể tích (triệu 3

0,64

0,40

Tế bào trứng và vành phóng xạ

Trang 20

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

Chu kỳ động dục, thời điểm phối giống thích hợp và rụng trứng ở gia súc

Gia súc Chu kỳ động

dục (ngày)

Thời điểm phối giống thích hợp (giờ)

Thời điểm rụng trứng

(Nguồn: Trần Thị Thuận và ctv, 2005)

Nắm vững quy luật của chu kỳ tính có ý nghĩa thực tiễn quan trọng: có kế hoạch cho gia

súc giao phối, điều khiển thời gian đẻ bằng cách gây động dục hàng loạt, ngăn ngừa hiện

tượng không chửa đẻ…

Chu kỳ này được chia ra làm bốn thời kỳ

giảm; FSH phân tiết  nang noãn phát triển  estrogen tăng  lên giống

 Kỳ lên giống (kỳ động đực)

Noãn xuất hầu hết, hoàng thể bắt đầu thành lập Lượng estrogen và LH trong máu

giảm Là thời kỳ xuất hiện tính dẫn dụ của con cái Lúc này trứng rụng, toàn bộ cơ thể và cơ

bên ngoài của thời kỳ này là: âm hộ sung huyết và sưng, ở đa số gia súc có dịch nhờn từ âm

đạo chảy ra Vào cuối thời kỳ này gia súc biểu hiện hưng phấn cao độ, kém ăn, hay kêu la và

nhảy lên con vật khác, chuẩn bị tư thế giao phối

Thời gian biểu hiện động dục ở các loại gia súc

Dê Heo Chó

1,5 2-3 8-14

Thời gian động dục phụ thuộc vào nhiều nhân tố: tuổi, giống, điều kiện nuôi dưỡng,

quản lý…

Sau khi thời kỳ động dục kết thúc, nếu tế bào trứng được thụ tinh thì chu kỳ động dục sẽ

ngừng, gia súc cái bắt đầu giai đọan chửa cho đến khi đẻ mới xuất hiện chu kỳ động dục Nếu

trứng không được thụ tinh sẽ chuyển sang thời kỳ sau động dục

 Kỳ sau khi lên giống (kỳ sau động dục)

Lúc này hoàng thể tăng hoạt và progesterone phân tiết Các biến đổi chủ yếu trong cơ

quan sinh dục cái là: trong buồng trứng có xuất hiện thể vàng, thể vàng tiết progesterone, làm

thay đổi tính hưng phấn của trung tâm sinh dục và hệ thần kinh trung ương, động dục kết

thúc Sự tăng sinh của màng nhầy tử cung và sự tiết dịch đều ngừng, biểu mô của tầng màng

Trang 21

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

nhầy bong ra, tế bào biểu mô hóa sừng trong âm đạo cũng bong ra dần dần, khôi phục lại

trạng thái bình thường

 Kỳ nghỉ ngơi (kỳ yên tĩnh)

Là thời kỳ biểu hiện trạng thái yên tĩnh tương đối về tính Đặc điểm của thời kỳ này là

cơ quan sinh dục không biểu hiện họat động rõ rệt Bao noãn trong buồng trứng dần dần phát

dục, thể vàng dần dần teo lại

Quy luật của chu kỳ tính thường chịu sự khống chế của hệ thần kinh trung ương Kích

thích bên trong và bên ngoài cơ thể như khí hậu, ánh sáng, nhiệt độ, điều kiện dinh dưỡng , trạng thái cơ quan sinh dục … đều ảnh hưởng đến chu

kỳ tính qua phương thức phản xạ thần kinh thể dịch

4 Sự thụ tinh và định vị hợp tử 4.1 Sự thụ tinh

Diễn ra ở 1/3 trên của ống dẫn trứng Cùng với

sự đi xuống của noãn, các tinh trùng đi lên 1/3 ống dẫn trứng gặp nhau và thụ tinh ở đây Quá trình thụ tinh là một quá trình đấu tranh sinh tồn của hàng vạn tinh trùng Các tinh trùng đua

nhau tiết hyaluronidase để cùng phân giải màng phóng xạ Sau đó chỉ có một tinh trùng khỏe

nhất mới được chui vào, rồi mất đuôi Sau khi 1 tinh trùng đã vào trong noãn thì nang noãn

không còn tính thấm với các tinh trùng khác Vào được tế bào trứng, đầu tinh trùng tách ra

khỏi cổ và đuôi Nó tiến hành đồng hóa nguyên sinh chất của trứng để gia tăng kích thước và

thể tích tạo ra sự tương đồng với trứng Phần cổ và đuôi sẽ chết và được phân hủy làm chất

dinh dưỡng cho trứng và tinh trùng còn lại Đồng hóa mâu thuẫn càng cao thì khả năng thụ

tinh càng lớn, bào thai có điều kiện phát triển mạnh và đời con sẽ tốt Cuối cùng nhân đực và

nhân cái tạo thành hợp tử (2n)

4.2 Định vị hợp tử

Thời gian 2-3 ngày để trứng hợp

tử đi từ 1/3 đầu ống dẫn trứng xuống cuối ống dẫn trứng Nhờ vào co thắt của nhu động ống dẫn trứng, làn sóng tiêm mao biểu mô ống dẫn trứng, dinh duỡng lấy trực tiếp từ môi trường xung quanh

Sau 3 ngày vận chuyển hợp tử ở dạng Morula: bò 16 tế bào, cừu 10 tế bào, heo

8 tế bào

Quá trình phát triển lá nhau diễn

ra mãnh liệt: trong những tuần lễ đầu trứng hợp tử phân bào nhanh chóng và gia tăng thể tích, phôi dâu (Morula)  phôi vị  lá phôi Dinh dưỡng nuôi phôi (hợp tử)

bấy giờ là sữa tử cung được phân tiết từ nội mạc tử cung và các mô bị phân giải Một thời

gian sau, cùng với sự phát triển của phôi, lá phôi phát triển và nhau sẽ phát triển, thời gian

này sớm muộn tùy loài:

Sự thụ tinh

Sự phát triển của thai trong tử cung

Trang 22

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

Thú nhai lại: ngày thứ 30

Heo : ngày thứ 10

Chó: ngày thứ 20

Mèo: ngày thứ 12

Tỉ lệ phôi chết thường xảy ra ở thú sanh nhiều con/ lứa Ở heo, tỉ lệ này là 20-30%,

bò 10-20% Tỷ lệ này thường xảy ra lúc hợp tử định vị trên tử cung, sau khi định vị tỷ lệ

giảm nhiều Do các nguyên nhân:

- Xáo trộn kích thích tố: progesterone thiếu  lớp màng nhầy tử cung đón hợp tử

không được chuẩn bị

- Do di truyền phôi kém phát triển

- Do dinh dưỡng: protein, vitamin A, E, vi khoáng…

- Cảm nhiễm vi trùng, ký sinh trùng: Brucellosis, Trichomonas,

5 Sự có mang và sự đẻ

5.1 Sự mang thai

Bắt đầu bằng sự thụ tinh và kết thúc bằng sự sinh đẻ Được chia làm 3 giai đoạn:

- Noãn phân và thành lập nang phôi

- Định vị và phát triển

- Thai phát triển và chào đời

5.2 Khoảng thời gian mang thai

Thay đổi theo loài, dòng (rõ nhất ở ngựa), yếu tố môi trường và di truyền

- Ảnh hưởng do di truyền: Di truyền mà bào thai thừa hưởng của cha và mẹ có liên

quan đến khoảng thời gian có mang Khác với quan niệm trước kia cho rằng con đực có

ảnh hưởng đến khoảng thời gian có mang ở bò, ngày nay thì di truyền của bào thai hưởng

từ cha, mẹ là chính

- Ảnh hưởng do môi trường: gồm có nội môi trường và ngoại môi trường

* Nội môi trường

Sinh lý thú mẹ: tuổi, trọng lượng, bộ phận sinh dục…

Kích thước, phái tính, trọng lượng thai

Số con/lứa

Trọng lượng và kích thước của một hay nhiều thai có ảnh hưởng đến thời gian mang

thai ở cừu, bò nhưng không quan trọng trên heo Bò sinh đôi sẽ sinh sớm hơn 3- 6 ngày,

cừu sinh đôi sẽ sớm hơn 0,6 ngày Heo không có ảnh hưởng gì

Phái tính: bò sữa, bò thịt, ngựa…khoảng thời gian mang thai đực lâu hơn thai cái từ

1-2 ngày Cơ chế tác động chưa rõ

* Ngoại môi trường: khí hậu, dinh dưỡng, khoảng thời gian trong ngày…cũng có

ảnh hưởng đến thời gian mang thai

Ví dụ:

Bò sữa mang thai trong mùa xuân sẽ kéo dài khoảng thời gian mang thai 2 ngày so

với mùa thu

Trang 23

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

Ngựa dinh dưỡng tốt sanh sớm hơn 4 ngày so với nuôi trên đồng cỏ và rơm

Cừu dinh dưỡng thấp 1/3 chót của kỳ có mang sẽ sanh sớm hơn 5 ngày

Mùa phối giống: ngựa cái dòng Á rập phủ trong tháng 12 đến tháng 5 thì thời gian

mang thai dài thêm 10 ngày so với các con phủ từ tháng 6 đến tháng 11 (Howell & Rollins,

1951)

5.3 Diễn biến trong thời kỳ có mang

- Sự hấp thu ở đường tiêu hoá được cải thiện, đặc biệt là hấp thu chất khoáng Do đó

dinh dưỡng kém, xáo trộn biến dưỡng, vệ sinh chăm sóc kém  ảnh hưởng đến sự có

mang

- Tử cung dãn ra do các sợi cơ gia tăng kích thước: dài, dày

- Nhũ tuyến gia tăng khối lượng

- Tuần hoàn máu gia tăng 20-30%, thể tích máu gia tăng, tủy xương tăng hoạt động

làm số lượng hồng cầu thú cái có mang cao hơn thú cái không có mang

- Ở giai đoạn thứ hai của thời kỳ có mang sự biến dưỡng Ca, P rất quan trọng Có

những cá thể rất nhạy bén với sự biến dưỡng Ca, P đặc biệt ở thú già

Khắc phục : Chăn thả tự do trên đồng cỏ (có vitamin D), cung cấp vitamin D, A

- Tuyến nội tiết của bào thai hoạt động khá sớm, đặc biệt tuyến giáp, có thể xảy ra

bướu cổ ở bào thai nếu khẩu phần thú mẹ thiếu Iod

5.4 Thời gian mang thai ở một số loài

Loài vật Thời gian mang thai (ngày) Loài vật Thời gian mang thai (ngày)

(Nguồn: Nguyễn Thị Kim Đông, Hứa Văn Chung, 2004)

- Ngựa: Bào thai ở thân tử cung Thời gian mang thai: 335-337 ngày

- Bò: Bào thai phát triển 1 trong 2 sừng tử cung

- Heo: bào thai phân đều trong 2 sừng tử cung

5.5 Sự sinh đẻ

5.5.1 Giai đoạn chuẩn bị

- Cơ quan sinh dục sung huyết, mô liên kết nhũ tuyến và đường sinh dục cương lên

- Âm môn trương mọng, dây chằng (thiên tọa) giãn ra

Trước khi sanh thú tìm nơi vắng vẻ, bồn chồn (chó, mèo)

5.5.2 Giai đoạn giãn

- Cơ tử cung, cổ tử cung, đường sinh dục giãn ra

Trang 24

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

- Co thắt từ sừng tử cung lan xuống thân tử cung (5-15 phút) Thú đa thai 2 sừng tử

cung co thắt xen kẽ

- Dịch chất trong túi ối, túi niệu bảo vệ bào thai Khi cổ tử cung mở, bào thai đi vào

âm đạo, âm môn  bọc nước vỡ Giai đoạn giãn chấm dứt khi bọc nước vỡ, ở bò 4 - 8 giờ,

ngựa 2 - 12 giờ, heo nhiều giờ, chó 4 giờ

5.5.3 Giai đoạn trục

- Tử cung co thắt cùng với các cơ thành bụng  trục bào thai Thời gian trục thai tùy

loài: bò 2-3 giờ, ngựa 5-25’ Thú đa thai tỷ lệ với số bào thai Ví dụ: heo 6 -24 giờ

- Trục nhau: khi cuống rún đứt, chảy máu làm nhau lỏng lẻo trên màng nhày tử cung

đồng thời máu đến màng đệm nhau thai bị ngưng nhanh chóng  tống nhau ra ngoài

Thời gian tống nhau tùy loại nhau: bò nhung mao màng đệm tách rời tử diệp 4-5 giờ

sau Dê cừu 1-2 giờ Ngựa heo cùng lúc với bào thai Loài ăn thịt nhau được trục ngay sau

khi sinh, nếu không được trục  sót nhau  viêm

- Phục hồi: tử cung phục hồi nhanh khoảng 4 tuần lễ, nó trở về thể tích ban đầu Chỉ

trong vòng 24 giờ sau thì bề dài tử cung giảm còn một nửa Máu chuyển từ tử cung sang

nhũ tuyến Lớp màng nhày tử cung bong tróc ngày thứ 5-9 Khoảng 4-6 tuần sau thì lớp mô

liên kết sẽ tái tạo lại biểu mô bên ngoài

Vài ngày sau khi sanh: phù âm đạo biến mất và trở về vị trí bình thường Dây thiêng

tọa căng cũng trở về vị trí bình thường Thành bụng co rút lại

Thời gian phục hồi: thú nhai lại 4-6 tuần; ngựa, heo 2-3 tuần; chó mèo 3 tuần

Sau khi trục nhau estrogen + prog giảm  não thùy trước phân tiết gonadotropin và

prolactin  phát triển – khơi mào – duy trì tiết sữa Quá trình này cần chú ý dinh dưỡng

Ca

Trang 25

Khối kiến thức thuộc chuyên ngành thú y Chăn nuôi đại cương

Bài 4 Sự điều hòa thân nhiệt 1.Thân nhiệt

Khái niệm: thân nhiệt là nhiệt độ của cơ thể khác nhau ở mỗi vùng

- Cao nhất ở gan (là trung tâm quan trọng chuyển hoá các chất)

- Thấp hơn ở máu

- Luôn thay đổi ở cơ

- Da có nhiệt độ thấp nhất

Nhiệt độ ở các bộ phận trong cơ thể gia súc và gia cầm không hoàn toàn bằng nhau mà

thường biến đổi Ví dụ: nhiệt độ của máu tĩnh mạch cao hơn máu động mạch, nhiệt độ của nội

tạng cao hơn bên ngoài

- Thân nhiệt của gia súc nói chung là ổn định, đôi khi cũng thay đổi trong phạm vi hẹp

khi chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố (giống, tuổi, tính biệt, khi ăn, cơ làm việc, trạng thái

sinh lý, thời gian giữa ngày và đêm)

theo nhiệt độ ngoại cảnh

- Thân nhiệt của gia súc đực và cái khác nhau tuỳ theo loài và lứa tuổi Khi lên giống

và mang thai thân nhiệt của gia súc cái tăng lên

- Trong một ngày đêm thân nhiệt thay đổi có quy luật Buổi chiều thân nhiệt cao nhất,

sau đó giảm dần, ban đêm xuống tới thấpvà thấp nhất vào lúc sáng sớm (1g00 - 5g00), từ sáng

về sau thân nhiệt tăng dần và cao nhất vào buổi chiều (14g00 - 15g00) Quy luật này liên quan

đến trạng thái sinh lý của gia súc, nhiệt độ và các nhân tố khác của ngoại cảnh

Các loại hình sốt:

- Sốt trung bình: nhiệt độ cao hơn bình thường là 1 - 20C

- Sốt cao: nhiệt độ cao hơn bình thường là 2 - 30C

- Sốt rất cao: nhiệt độ cao hơn bình thường là > 30C

Ngày đăng: 08/03/2021, 14:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Châu Bá Lộc (2002). Giáo trình vệ sinh môi trường trong chăn nuôi. Khoa Nông Nghiệp, Tủ sách Đại học Cần Thơ Khác
[2] Hoàng Thị Thu Hà (1995). Thú y đại cương. Đại học Nông lâm Huế Khác
[3] Hồ Quảng Đồ. (2006). Giáo trình thực tập chăn nuôi heo. Khoa Nông Nghiệp, Tủ sách Đại học Cần Thơ Khác
[4] Huỳnh Kim Diệu (2010). Dược lý thú y. Khoa NN & sinh học ứng dụng, Đại học Cần Thơ Khác
[5] Lê Văn Thọ, Đàm Vă n Tiện ( 1992 ) . Sinh lý học gia súc. Hà Nội: NXB NN Khác
[6] Nguyễn Duy Thiện (2005). Công trình năng lượng khí sinh vật Biogas. Hà Nội: NXB xây dựng Khác
[7] Nguyễn Minh Tâm, Nghiêm Thị Anh Đào, Trần Thị Thuận và Nguyễn Thị Lệ Hằng (2005). Giáo trình Chăn nuôi thú y cơ bản. Hà Nội: NXB Hà Nội Khác
[8] Nguyễn Thị Hồng Nhân (1997). Giáo trình thức ăn gia súc. Khoa Nông Nghiệp, Tủ sách Đại học Cần Thơ Khác
[9] Nguyễn Thị Kim Đông, Hứa Văn Chung (2004). Sinh lý gia súc. Khoa NN & sinh học ứng dụng, Đại học Cần Thơ Khác
[10] Phạm Sĩ Lăng, Lê Thị Tài (1994). Thuốc điều trị và vacxin sử dụng trong thú y. Hà Nội: NXB Nông nghiệp Khác
[11] Trần Đình Cừ. Sinh lý gia súc. Đại học Nông nghiệp 1, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w