1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Cách mạng tư sản và sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới từ cuộc cách mạng tư sản hà lan đến 1870

72 38 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 829,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách mạng tư sản đã đánh đấu bước ngoặt mới của lịch sử nhân loại, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, thiết lập một mô hình mới về cấu trúc xã hội, chính quyền, hệ tư

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

KHOA SƯ PHẠM _

NGUYỄN NGỌC THỦY

CÁCH MẠNG TƯ SẢN

VÀ SỰ THẮNG LỢI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TRÊN PHẠM VI TOÀN THẾ GIỚI (TỪ CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN HÀ LAN ĐẾN 1870)

Tháng 12 - 2007

Trang 2

MỤC LỤC……… 1

GIỚI THIỆU CHUNG ……… 3

CHƯƠNG I: NHỮNG CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN ĐẦU TIÊN……… 5

I CÁCH MẠNG TƯ SẢN NÊĐÉCLAN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NÊĐÉCLAN TRONG CÁC THẾ KỶ XVI, XVII ……… 5

1 Cách mạng tư sản Hà Lan……… 5

1 1 Tình hình Hà Lan cuối thế kỷ XV - đầu thế kỷ XVI ……… …….5

1.2 Diễn biến cách mạng……… ….…7

1.3 Tính chất, ý nghĩa………9

2 Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Hà Lan trong các thế kỷ XVI, XVII……… 9

2.1 Về kinh tế ……… 9

2.2 Văn hóa………10

II CÁCH MẠNG TƯ SẢN ANH GIỮA THẾ KỶ XVII VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆPANH………10

1 Cách mạng tư sản Anh (1640-1688)………10

1.1 Nước anh trước cách mạng………10

1.2 Tiến trình cách mạng……… 13

1.3 Tính chất và ý nghĩa……… 16

2 Cách mạng công nghiệp Anh……….17

2.1 Tiền đề của cách mạng công nghiệp……… 17

2.2 Nội dung cuộc cách mạng công nghiệp……… 18

2.3 Hệ quả của cuộc cách mạng công nghiệp………19

III CUỘC CHIẾN TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP CỦA CÁC THUỘC ĐỊA ANH Ở BẮC MỸ (1775- 1783) VÀ CUỘC CHIẾN TRANH LI KHAI CỦA HOA KÌ (1861- 1865)……… 20

1 Chiến tranh giành độc lập và sự thành lập hợp chúng quốc Hoa Kỳ……… 20

1.1 Những tiền đề của cuộc cách mạng ……… 20

1.2 Diễn biến cuộc chiến tranh giành độc lập……… 21

1.3 Tình hình nước Mỹ sau khi giành độc lập……… .24

1.4 Tính chất và ý nghĩa……….25

2 Nước Mỹ nửa đầu thế kỷ XIX và cuộc chiến tranh li khai (1861-1865)……… 26

2.1 Nước Mỹ nửa đầu thế kỷ XIX……… 26

2.2 Cuộc chiến tranh li khai (1861-1865)……… 27

IV CÁCH MẠNG TƯ SẢN PHÁP CUỐI THẾ KỶ XVIII ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX ……… 28

1 Đại cách mạng Pháp (1789- 1794)……….29

1.1 Nước Pháp trước cách mạng……… 29

1.2 Tiến trình của cách mạng……… 33

1.3 Ý nghĩa và tính chất lịch sử của cách mạng tư sản Pháp………37

2 Nước Pháp từ năm 1794-1830……… 38

1.1 Quốc ước Técmino và Chế độ Đốc chính (1794-1799)……… 38

2.2 Chế độ Tổng tài và đế chế thứ nhất (1799-1815)……… 38

Trang 3

2.3 Vương triều phục hồi (1815-1830)……….40

3 Cách mạng tư sản Pháp 1830 Vương triều tháng Bảy (1830-1848)……….44

3.1 Cách mạng năm 1830……… 44

3.2Vương triều tháng 7 ( 1830-1848)……… 44

4 Cách mạng tư sản Pháp( 1848-1849) và nền Cộng hoà thứ hai……….45

4.1 Cách mạng tư sản Pháp năm 1848……… ;45

4.2 Nền cộng hoà thứ hai……….46

CHƯƠNG II : CÁC CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN CUỐI CÙNG VÀ SỰ THẮNG LỢI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TRÊN THẾ GIỚI……….50

I CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN DÂN CHỦ ĐỨC (1848-1849) VÀ CÔNG CUỘC THỐNG NHẤT………50

1 Cách mạng dân chủ tư sản Đức 1848-1849……… 50

1.1 Tình hình nước Đức đầu thế kỷ XIX……… 50

1.2 Cách mạng năm 1848 ở Đức………51

1.3 Cuộc đấu tranh thống nhất nước Đức ……….52

II CÁCH MẠNG DÂN CHỦ TƯ SẢN Ý VÀ CUỘC ĐẤU TRANH THỐNG NHẤT NƯỚC Ý……… 56

1 Cách mạng 1848-1849……… 56

1.1 Tình hình nước Ý sau năm 1815……….56

1.2 Cách mạng năm 1848-1849………57

1.3 Công cuộc thống nhất đất nước……… 57

III SỰ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA TƯ BẢN Ở NGA VÀ CẢI CÁCH NÔNG NÔ NĂM 1861 ……… 60

1 Một vài nét về lịch sử nước Nga: ……… 60

2 Tình hình nước Nga giữa thế kỷ XIX:……… 61

3 Cải cách nông nô ở nước Nga:……… 62

IV SỰ SỤP ĐỔ CỦA CHẾ ĐỘ MẠC PHỦ VÀ CẢI CÁCH MINH TRỊ NĂM 1868 Ở NHẬT………63

1 Sự sụp đổ của chế độ Mac Phủ……… 63

1.1 Tình hình kinh tế , chính trị, xã hội Nhật Bản trước Duy tân Minh Trị………… 64

1.2 Sự sụp đổ của chế độ Mạc Phủ………65

2 Nội dung cải cách của Mịnh Trị Thiên hoàng:……… 66

V SỰ THẮNG LỢI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TRÊN PHẠM VI THẾ GIỚI…67 1 Sự thắng lợi và sự xác lập nền kinh tế tư bản chủ nghĩa:……….67

1.1 Sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi thế giới……… 67

1.2 Sự xác lập nền kinh tế tư bản chủ nghĩa……… 70

2 Sự thiết lập và thống trị của chính quyền tư sản:……… 71

3 Sự phân hoá giai cấp trong xã hội tư bản chủ nghĩa và cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đấu tranh chống giai cấp tư sản:……… 72

3.1 Sự phân hoá giai cấp trong xã hội tư bản………72

3.2 Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản……….72

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 76

Trang 4

GIỚI THIỆU CHUNG

Cách mạng Nêđéclan (Hà Lan) năm 1566-1581 mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử thế giới- Thời cận đại

Thời cận đại có thể chia làm hai thời kỳ lớn Thời kỳ thứ nhất từ cách mạng tư sản

Hà Lan giữa thế kỷ XVI đến Công xã Pari (1871) và thời kỳ thứ hai từ Công xã Pari đến cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 Trong khuôn khổ của chương trình, giáo trình tập trung đề cập đến thời kì thứ nhất của lịch sử thế giới cận đại với một số vấn đề cơ bản

thuộc các nội dung sau:

+ Ngay từ thế kỷ XV, XVI, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã ra đời trong lòng chế độ phong kiến Âu châu, Bắc Mỹ và một số quốc gia Á châu nhưng do sự thống trị và kìm hãm của chế độ phong kiến, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể phát triển mạnh mẽ được Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất ( mới, tiến bộ) và quan hệ sản xuất (phong kiến, cũ, lạc hậu) đã dẫn đến việc bùng nổ những cuộc cách mạng tư sản thời cận đại Rõ ràng, cách mạng tư sản không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên và là một hiện tượng xã hội mà là một quá trình có tính quy luật trong sự vận động của xã hội loài người, hoàn toàn phù hợp với qui luật phát triển khách quan của lịch sử

+ Trong suốt các thế kỷ XV - XIX, phong trào cách mạng tư sản đã diễn ra trên một không gian rộng, thủ tiêu hoàn toàn sự thống trị của chế độ phong kiến và xác lập sự thống trị của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi thế giới Cách mạng tư sản đã đánh đấu bước ngoặt mới của lịch sử nhân loại, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, thiết lập một mô hình mới về cấu trúc xã hội, chính quyền, hệ tư tưởng văn hoá mang tính cách mạng phù hợp với sự tiến bộ xã hội

+ Cách mạng tư sản là phong trào cách mạng diễn ra dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản, nhưng quần chúng lao khổ là động lực chính thúc đẩy cách mạng đạt tới đỉnh vinh quang của nó; thành quả cách mạng lại hoàn toàn nằm trong tay giai cấp tư sản hoặc phục vụ quyền lợi của giai cấp tư sản Do vậy, cách mạng tư sản đã triệt để, điển hình như cách mạng tư sản Pháp (1789) vẫn còn nhiều hạn chế, tiêu cực

+ Cách mạng tư sản thời cận đại trải qua hai giai đoạn nối tiếp nhau, giai đoạn thứ nhất, kết thúc với cuộc cách mạng tư sản Pháp Trong giai đoạn một, những yếu tố tích cực tiến bộ được thể hiện rõ nét hơn so với giai đoạn hai, bởi lẽ, ở giai đoạn hai, giai đoạn cách mạng tư sản diễn ra trong các thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX phong trào công

Trang 5

nhân ngày một lớn mạnh, do vậy trong khi thực hiện nhiệm vụ cách mạng chống chế độ phong kiến, giai cấp tư sản lại còn tìm cách đối phó lại với phong trào công nhân

+ Trong những nước khác nhau và trong những thời gian khác nhau, sự bùng nổ

và kết quả của các cuộc cách mạng tư sản có đặc trưng riêng, có những loại hình riêng Các cuộc cách mạng tư sản đầu thời kỳ cận đại và trong những năm 50, 60 của thế kỷ XIX khi chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ tự do cạnh tranh và loại hình cách mạng tư sản trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền hay chủ nghĩa đế quốc Trên cơ sở tính phức tạp và đa dạng của các kiểu loại cách mạng tư sản, giáo trình đặt ra nhiệm vụ phải giải quyết là vạch ra tính đặc trưng của mỗi kiểu loại cách mạng tư sản thích ứng với từng loại nước, từng thời kỳ lịch sử nhất định Đồng thời qua đó thấy được kết quả là sự ra đời các kiểu mô hình nhà nước tư sản: nền Cộng hoà tư sản, nền Quân chủ lập hiến

Trong học phần này, các anh chị sinh viên cần tập trung thời gian cho chương 1 Nhất thiết phải có bản đồ, biểu đồ về diễn trình các cuộc cách mạng tư sản Chú ý phân biệt những đặc điểm riêng và chung cùa các cuộc cách mạng tư sản

Tháng 3 năm 2007

Giảng viên: Nguyễn Ngọc Thuỷ

Trang 6

CHƯƠNG I

NHỮNG CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN ĐẦU TIÊN

I CÁCH MẠNG TƯ SẢN NÊĐÉCLAN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA

TƯ BẢN NÊĐÉCLAN TRONG CÁC THẾ KỶ XVI, XVII

Nêđéclan nằm trên bờ biển Bắc Âu Tên gọi của đất nước (đất thấp) bao hàm đặc điểm chính về địa hình Gần một nửa diện tích chủ yếu là phần ở phía Tây nằm dưới mặt nước biển Vào thế kỷ XVI khi bùng nổ cuộc cách mạng tư sản vùng đất này bao gồm Hà Lan, Bỉ, Lucxămbua ngày nay

Năm 1830 Bỉ tách ra và đến năm 1890 là Lucxămbua Hiện nay, diện tích của Hà Lan là 37.330 km2, dân số là 15.653.000 người (thống kê năm 1999 - mật độ đông nhất châu Âu), thành phố lớn là La Hay, thủ đô Amtécđam, nguyên thủ quốc gia hiện nay là

Trên cơ sở phát triển của nền thủ công nghiệp, các phường hội tan rã, các công trường thủ công ra đời vào thế kỉ XV Công xưởng thủ công của Nêđeclan đước đánh giá

là phát triển bậc nhất thế giới lúc bấy giờ Nó thường có qui mô tương đối lớn và đảm nhận những ngành nghề quan trọng như dệt, đóng tàu…

Trong thương nghiệp Nêđéclan có nhiều thuận lợi vì sau các cuộc phát kiến địa lý trung tâm kinh tế từ vùng Địa Trung Hải lên vùng ven bờ Đại Tây Dương Nêđéclan đã đặt quan hệ buôn bán rộng rãi với Anh, Nga, Tây Ban Nha, khu vực Ban Tích và các thuộc địa của các nước này ở châu Mỹ đã đưa đến sự hình thành các trung tâm hoạt động mậu dịch và tài chính quan trọng như Amtécđam,Brabăng và Anvecpen…

Với nền thương nghiệp phát triển, Nêđéclan với dân số khoảng 3 triệu người có tới trên 300 thành phố lớn nhỏ, trong đó nổi tiếng nhất là Avecpen - một thành phố thương nghiệp và tín dụng có tính chất quốc tế Trong thành phố có một bến cảng xây dựng rất lớn có thể đậu một lúc 2500 thuyền buôn đến từ các nơi trên thế giới để trung chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu Ở đây còn có sở giao dịch hàng hoá, sở giao dịch tiền

tệ và hàng nghìn chi nhánh của sở thương vụ các nước ngoài, hằng năm có khoảng 5000 nhà buôn đến để xem mẫu hàng, ký kết hợp đồng buôn bán

Trang 7

Trong nông nghiệp quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bắt đầu xâm nhập Một số lãnh chúa phong kiến ở những nơi có nền kinh tế phát triển bắt đầu kinh doanh, sản xuất theo kiểu tư bản chủ nghĩa: họ cho thuê ruộng đất chứ không trực tiếp cày cấy Thị dân giàu và các chủ trại cũng góp phần vào quá trình này Họ mua những thửa đất rộng rồi thuê người làm Nhiều đầm lầy được tháo nước biến thành những nông trường chăn nuôi

bò sữa, cừu để cung cấp cho thị trường Ở những nơi nông nghiệp lạc hậu, hình thức bóc lột chủ yếu là tô tiền

Như vậy, rõ ràng đến thế kỷ XV, nền kinh tế Nêđéclan có những bước phát triển nhất định và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thực sự thâm nhập trong tất cả các lĩnh vực kinh tế Đậm nét nhất là trong lĩnh vực ngoại thương Cũng trong quá trình ấy Nêđéclan đã hình thành hai miền kinh tế, miền Bắc với trung tâm Amtécđam đã mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài và nông thôn bị lôi cuốn vào nền kinh tế hàng hoá chủ nghĩa tư bản phát triển khá thuận lợi trong khi ở miền Nam với trung tâm Avecpen nền kinh tế hàng hoá bị lệ thuộc vào Tây Ban Nha vì phải dựa vào Tây Ban Nha để được cung cấp len dạ Quan hệ phong kiến trong nông nghiệp vẫn còn tồn tại đậm nét Vì vậy trong quá trình phát triển kinh tế miền Nam phát triển chậm lại và Amtécđam ở miền Bắc trở thành trung tâm chính trị, kinh tế

Cùng với quá trình xâm nhập những yếu tố kinh tế tư bản chủ nghĩa cơ cấu giai cấp cũng thay đổi:

Do tác động của nền kinh tế hàng hóa, giai cấp quý tộc phong kiến bị phân hóa,

họ thay đổi phương thức kinh doanh trong nông nghiệp hoặc đầu tư trong lĩnh vực công

thương nghiệp trở thành quý tộc mới

Giai cấp tư sản đang trên đường hình thành từ tầng lớp thị dân thời trung cổ, bao gồm các thương gia lớn, các chủ công trường thủ công vì thế giai cấp tư sản Nêđéclan còn yếu ớt về kinh tế, chính trị

Bình dân thành thị bao gồm thợ thủ công phá sản, thợ bạn, công nhân của công trường thủ công, công nhân khuân vác Ở các thành phố lớn tầng lớp này chiếm hơn 1/2

số dân

Giai cấp nông dân có sự phân hóa vì khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thâm nhập vào nông thôn, nhiều nông dân bị tước đoạt phần đất được chia họ trở thành

cố nông, công nhân các công trường thủ công Một bộ phận khác trở thành phú nông

Về mặt ý thức hệ, vào thời điểm này khi làn sóng cải cách tôn giáo lan rộng khắp châu Âu thì Nêđéclan là một địa bàn thuận lợi để tư tưởng Tân giáo phát triển Các tầng lớp, giai cấp, trừ quý tộc đều theo Tân giáo Quý tộc mới theo đạo Luthơ, giai cấp tư sản, phú nông thì theo Tân giáo Canvanh, bình dân thành thị, nông dân thì theo phái rửa tội lại hoặc đạo Canvanh

1.1.2 Chính sách thống trị của Tây Ban Nha đối với Nêđéclan

Thời trung đại, Nêđéclan thuộc vương quốc Frăng Sau hiệp ước Vécđoong năm

843 , Nêđéclan bị chia thành nhiều lãnh địa khi thuộc Đức, khi thuộc Pháp Đến năm

1477 Nêđéclan khi lệ thuộc đế quốc Hápxbua ( Áo), các công quốc, bá quốc…vẫn giữ được ít nhiều quyền tự trị Đến 1556 trở thành một tỉnh của vương quốc Tây Ban Nha

Trang 8

thống nhất, quyền tự trị bị giới hạn Thời vua Sáclơ V và nhất là Philip II, Nêđéclan được xem là thuộc địa, ách bóc lột, đàn áp lên đến đỉnh điểm:

Về Chính trị vua Tây Ban Nha bổ nhiệm Toàn quyền thay mặt vua, đứng đầu các tỉnh là Tổng đốc phần nhiều là người Tây Ban Nha được trực tiếp cử sang cai trị Thời vua Philip II một bạo chúa đần độn, thiển cận và cuồng tính Thiên chúa giáo chế độ chuyên chế càng được tăng cường Năm 1559 Philip II bổ nhiệm Công tước Macgơrít làm Toàn quyền, người phụ chính là Hồng Y giáo chủ Ganvenla tham quyền độc ác Dưới chiêu bài chống Pháp, vua Tây Ban Nha đem quân chiếm đóng Nêđéclan

Về tôn giáo, thi hành chính sách đàn áp khốc liệt Từ năm 1521 ban hành “Sắc lệnh trừng phạt” qui định những tín đồ dị giáo hối cải thì bị trừng phạt nặng nề , người theo dị giáo bị xử tử và tịch thu tài sản Năm 1522, sắc lệnh này được thực hiện khắc nghiệt hơn Trong 30 năm (1521- 1550) có tới hơn 50.000 tín đồ bị giết, chôn sống, cầm

Về kinh tế, thi hành chính sách thuế nặng nề, phải nộp thuế bằng 2/5 ngân sách chung trong khi diện tích vùng này chỉ bằng 6% tổng diện tích vương quốc Cấm hoạt động ngoại thương và dùng nhiều biện pháp trừng phạt kinh tế làm nền kinh tế Nêđéclan

bị đình đốn

Tất cả các tầng lớp xã hội đều bất mãn với chế độ cai trị của Tây Ban Nha Năm

1565, một số quý tộc như bá tước Ecmông, đô đốc Hocmơ và đứng dầu là hoàng thân Vinhem Orăng thành lập tổ chức “Thoả ước quí tộc” tập hợp được 2.000 quý tộc theo xu hướng tôn giáo cải cách Họ cử đại biểu đến gặp vua đòi giảm bớt giám mục, sự ngược đãi dị giáo và triệu tập hội nghị đẳng cấp Yêu cầu Tây Ban Nha phải tôn trọng các đặc quyền của Nêđéclan, rút quân đội Tây Ban Nha, triệu hồi Hồng Y giáo chủ Gavenla, thủ tiêu các sắc lệnh trừng trị Tân giáo

Tư sản thành lập tổ chức “Thoả ước thương nhân” đòi tự do kinh doanh buôn bán Bình dân và nông dân biểu lộ sự bất bình bằng những cuộc hội hợp đông người bên ngoài các thành thị, ở đó người ta tuyên truyền những tư tưởng cải cách tôn giáo

¾ Kết luận:

Dưới sự thống trị của Tây Ban Nha, Nêđéclan bị phá huỷ về kinh tế, bị đàn áp về tôn giáo, bị hạn chế về quyền tự trị, mâu thuẫn giữa nhân dân Nêđéclan với thống trị ngoại lai là mâu thuẫn thứ nhất, thứ hai là mâu thuẫn quan hệ tư bản chủ nghĩa và quan

những yêu sách về tôn giáo mà phong trào đặt ra vào giai đoạn đầu

Khi yêu sách về tôn giáo thỏa mãn, quý tộc quay ra đàn áp phong trào, tư sản đứng ra giảng hòa, kêu gọi nhân dân ngừng bạo động Nắm bắt thời cơ Philip II thực thi chính sách cứng rắn đối với Nêđéclan: Năm1567 điều 18.000 quân do Anba chỉ huy

Trang 9

chiếm đóng toàn bộ Nêđéclan Thành lập Uỷ ban điều tra bạo động, thi hành chính sách sách trấn áp xử tử 8.000 người trong đó có bá tước Ecmông và đô đốc Hocmơ , hoàng thân Vinhem Orăng chạy sang Đức Về kinh tế chính quyền Tây Ban Nha tiếp tục tăng thuế, tịch thu tài sản: Anba nói “Thà để lại một đất nước nghèo khổ, thậm chí phá sản cho chúa và quốc vương còn hơn là nhìn thấy một đất nước phồn vinh hưng thịnh ở trong tay quỷ Xa tăng và bọn tà giáo”

Trước sự đàn áp của chính quyền Tây Ban Nha, những quý tộc chạy ra nước ngoài dựa vào Anh, Pháp thành lập đội quân đánh thuê kéo về Nêđéclan Năm 1568 đạo quân này bị đánh tan, hoàng thân Vinhem Orăng lại sống lưu vong Trong khi đó những người bình dân và một bộ phận quí tộc tư sản tổ chức đội quân “ Những kẻ khốn cùng trên rừng” và “ Những kẻ khốn cùng trên biển” chống lại Tây Ban Nha Đến tháng 4/1572 quân khởi nghĩa giành quyền làm chủ nhiều vùng đất rộng lớn

Tháng 7/1572 tỉnh Hôlan họp hội nghị các thành phố Hội nghị quyết định trao cho Vinhem Orăng quyền Tổng đốc hợp pháp của Philipp II ở Hôlan và Đelan và thống lĩnh chỉ huy các lực lượng vũ trang, quyền điền hành tối cao mọi hoạt động của phong trào

Cho đến lúc này thì cuộc khởi nghĩa đã giành được những thắng lợi quan trọng Được tổ chức lại tương đối thống nhất Tuy chưa tách khỏi vương quyền của Phillip II, nhưng đã có bóng dáng một nước Cộng hoà

1.2.2 Giai đoạn thứ hai(1572-1609)

Đến cuối năm 1573 các tỉnh khác như Fxixlan, Utơrêt, thượng Ixen,Nêđéclan cũng lần lượt tuyên bố độc lập.Các tỉnh miền Bắc trên đường hình thành một nước độc lập

Thắng lợi ở miền Bắc thúc đẩy phong trào đáu tranh của các tỉnh miền Nam Ngày 4/9/1576 ở Bruyxen nổ ra khởi nghĩa chiếm trụ sở hội đồng nhà nước

Chính quyền Tây Ban Nha liên tiếp đưa quân đội hùng mạnh do các danh tướng chỉ huy.Tuy vậy, Tây Ban Nha gặp khó khăn lớn không thể cung cấp tài chính đầy đủ cho quân viễn chinh Quân đội phải tự cung cấp bằng cách đi cướp Ngày 4/11/1576 chúng tràn vào Avecpen làm 8.000 người chết, thiêu hủy 1.000 ngôi nhà Bốn ngày sau vụ đốt cháy Avecpen, hội nghị ở thành phố Gentơ đi đến kí hiệp ước Gentơ, theo đó các tỉnh miền Nam sẽ cùng với tỉnh Đelan và Hôlan thuộc miền Bắc phối hợp đấu tranh chung, tiến thêm một bước thống nhất lực lượng

Phong trào tiếp tục lên cao Bọn quý tộc và tư sản lớp trên nhất là ở miền Nam lo

sợ nên ráo riết hoạt động chống lại phong trào của quần chúng Tháng 1/1579 một số quý tộc đã họp ở thành phố Araxơ, thành lập đồng minh Arut, tuyên bố vẫn phục tùng vua Tây Ban Nha Đây là sự rút lui của một bộ phận quí tộc bảo thủ khỏi cuộc đấu tranh chung của Nêđéclan Nhân dân các tỉnh miền Bắc vẫn tỏ ra vững vàng và kiên quyết ngày 23/1/1579 thành lập Liên minh Utrêcht, đồng minh này sử dụng hệ thống tiền tệ, cân, đo thống nhất, có đường lối ngoại giao thống nhất và có cơ quan quản lý chung là hội nghị

ba cấp Đạo Canvanh được công nhận là quốc giáo, quyền tự do tín ngưỡng được tôn trọng

Tháng 7/1584, hội nghị ba cấp tuyên bố phế truất Philip II, miền Bắc Nêđéclan trở thành một nước Cộng hòa liên tỉnh Vinhem Orăng là Tổng đốc

Sau khi thành lập nền Cộng hòa, Vinhem Orăng bị tay sai vua Philip ám sát Nhân tình hình khó khăn toàn quyền mới của Tây Ban Nha là Phácnedơ với sự giúp sức của

Trang 10

đồng Arut đã tấn công mạnh mẽ vào lực lượng khởi nghĩa Từ năm 1581 đến 1585 đất đai

ở miền Nam lần lượt rơi vào tay quân Tây Ban Nha trong đó sự thất thủ thành phố Avecpen năm 1585 đánh dấu sự thất bại của phong trào cách mạng miền Nam Phácnedơ đem quân tấn công miền Bắc

Lúc ấy (năm 1585), con của hoàng thân Orăng là Môrixơ được bầu làm Tổng đốc Ông là nhà chính trị và quân sự tài năng đã ký kết hiệp ước với Anh, Pháp đánh bại hải quân Tây Ban Nha khiến nước này mất địa vị cường quốc số 1 thế giới về hải quân và suy yếu một cách nhanh chóng Từ đó Hà Lan được Anh,Pháp hỗ trợ để chống Tây Ban Nha Cuộc chiến tranh kéo dài trong nhiều năm, Môrixơ đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân Tây Ban Nha ra khỏi miền Bắc tiến quân xuống miền Nam Thất bại Tây ban Nha phải thừa nhận Hà Lan độc lập năm 1609 (chỉ độc lập trong thời gian đình chiến) Hiệp định đình chiến năm 1609 đánh dấu sự thắng lợi của cuộc cách mạng miền Bắc Nêdéclan

Năm 1621 chiến tranh lại tiếp diễn và dần hoà vào cuộc chiến tranh 30 năm với sự tham gia của nhiều nước châu Âu Đến năm 1648 nền độc lập của Hà Lan mới chính thức được công nhận Các tỉnh ở miền Nam tức nước Bỉ sau này đến năm 1830 mới được độc lập

1.3 Tính chất, ý nghĩa

Cách mạng Nêđéclan là cuộc cách mạng tư sản diễn ra dưới hình thức một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc

Đây là cuộc cách mạng tư sản đầu tiên thành công trong lịch sử và nước Cộng hoà

Hà Lan là nước Cộng hoà đầu tiên trên thế giới Thắng lợi của cách mạng là dấu hiệu đầu tiên của sự thắng lợi tất yếu của chế độ tư bản chủ nghĩa đối với chế độ phong kiến

Cách mạng tư sản đã mở ra con đường phát triển nhanh chóng về mọi mặt làm cho Hà Lan trở thành một nước tư bản kiểu mẫu trong thế kỷ XVI-XVII

2 Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Hà Lan trong các thế kỷ XVI, XVII:

2.1 Về kinh tế

Do xóa bỏ được sự kìm hãm của chế độ phong kiến, đồng thời thu hút nhiều thợ thủ công lành nghề từ nước Pháp di cư tới để tránh sự ngược đãi đối với tín đồ Tân giáo nên công nghiệp Hà Lan phát triển mạnh mẽ

Những nghề thủ công như dệt len dạ, dệt lụa vải, nhuộm, làm giấy in, đồ sứ, đồ thuỷ tinh nổi tiếng ở châu Âu Năm 1596 tại Zaandam thành lập xưởng cưa chạy bằng sức gió đầu tiên Nghề đóng thuyền cũng vượt xa các nước khác về quy mô sản xuất cũng như trình độ kĩ thuật

Trong thương nghiệp, Hà Lan có quan hệ buôn bán rộng rãi với nhiều nước châu

Âu, châu Phi, Trung Cận Đông, Ấn Độ, Đông Nam Á, châu Mỹ Năm 1602, Hà Lan lại thành lập công ty Đông Ấn Độ với tiềm lực kinh tế, tổ chức chặt chẽ và với quyền hạn do chính phủ ban cho, công ty Đông Ấn Độ đã giữ vị trí quan trọng trong buôn bán với phương Đông Năm 1626 thành lập công ty Tây Ấn Độ để buôn bán với châu Mỹ Hà Lan còn dùng thuyền của mình để chở hàng thuê cho nhiều nước, họ chiếm đến 70% số hàng thuê và được mệnh danh là người đánh xe ngựa trên biển

Trang 11

Đồng thời với hoạt động thương nghiệp Hà Lan còn tích cực tìm kiếm đất thực dân, kết quả là xây dựng được một số cứ điểm ở Ấn Độ, Inđônêxia, Amtécđam mới (nay

là New York), Đài Loan…

Do sự phát triển của công thương nghiệp hải cảng Amtécdam trở thành thủ đô kinh tế của Hà Lan Đầu thế kỷ XVII thành phố có 100.000 cư dân Hàng ngày có 2.000 thuyền đậu tại cảng này, mỗi ngày khoảng 300 chiếc thuyền xuất phát Năm 1609, ngân hàng quốc gia Antécdam thành lập đây là nhà băng mang tính chất tư bản chủ nghĩa đầu tiên ở châu Âu phạm vi ảnh hưởng của nó không bó hẹp trong cương giới Hà Lan

2.2 Văn hóa

Nửa đầu thế kỉ XVII, Hà Lan là nước tiên tiến Trường đại học Tân giáo Lâyđen đầu tiên được thành lập năm 1575, Đến năm 1645 ở Hà Lan có 6 trường Đại học nổi tiếng nghề in và nghề xuất bản cũng sớm phát triển, là nơi báo chí ra đời sớm nhất Đồng thời các mặt khoa học kỹ thuật_ Nhà Vật lý học Huyghen phát minh ra đồng hồ quả lắc, triết học_ Nhà triết học Xpinôda với việc đề xướng chủ nghĩa vô thần và quan điểm duy vật, sử học, luật học_ Nhà sử học kiêm luật học Grôtiut với việc đặt nền móng cho công pháp quốc tế, hội họa… có nhiều thành tựu nổi bật

II CÁCH MẠNG TƯ SẢN ANH GIỮA THẾ KỶ XVII VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP ANH

Đảo quốc nằm ở Tây Bắc châu Âu Gồm 4 vùng lịch sử dân tộc: Anh, Scotland, Wales trên đảo Anh và Bắc Ireland Hiện nay, tên chính thức của nó là Liên hiệp vương quốc Anh và Bắc Ireland, diện tích 244.820 km2, dân số (năm 1999) 58.610.000 người,

có 6 tín ngưỡng chính theo chế độ quân chủ nghị viện, nguyên thủ quốc gia là quốc vương hiện nay là nữ hoàng Elizabeth II từ triều đại của triều đại Wisor

1 Cách mạng tư sản Anh (1640-1688):

1.1 Nước Anh trước cách mạng

1.1.1 Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Anh trước cách mạng

• Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp

Một đặc điểm lớn của nền kinh tế nước Anh trước cách mạng là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xâm nhập mạnh mẽ vào nền nông nghiệp - Nền nông nghiệp Anh có sự chuyển hướng kinh doanh, do nhu cầu về lông cừu tăng lên và nền nuôi cừu trở nên đặc biệt có lợi Một bộ phận địa chủ đã thay đổi cách khai khẩn đất đai Họ đuổi tá điền ra khỏi ruộng đất, rào ruộng đất đó và cả một phần ruộng đất của công xã thành một vùng rộng lớn thuê nhân công nuôi cừu

Kết quả của quá trình rào đất là số người tay trắng bị tách ra khỏi tư liệu sản xuất ngày càng đông, trở thành một đội quân lao động của ngành công nghiệp và số tiền tích lũy nhờ việc bán lông cừu ngày càng nhiều (xuất khẩu len dạ chiếm 4/5 toàn bộ xuất khầu của Anh) Đó là quá trình tích lũy tư bản nguyên thủy làm tiền đề cho sự phát triển tư bản ở Anh

Trang 12

Trên những lô đất còn tiếp tục canh tác nông nghiệp yếu tố tư bản chủ nghĩa cũng xâm nhập khá mạnh Các trại chủ đã áp dụng phương pháp khai thác hợp lí Họ tiếp tục rào đất, lập trang trại thuê nhân công, sử dụng phân bón nhân tạo, cải tiến chế độ luân canh, sử dụng máy móc và công cụ mới trong sản xuất Do vậy, năng xuất tăng lên khoảng 3-4 lần

Ngoài ra cũng đáng chú ý không kém là trong công nghiệp len dạ thời kì này các công trường thủ công xây dựng không tập trung ở thành thị mà tản mát ở nông thôn để gần nguồn nguyên liệu và tận dụng nhân lực dư thừa tại chỗ phát sinh từ “Rào đất” Nông thôn Anh trở thành “Vườn ươm của công xưởng thủ công tư bản chủ nghĩa”

• Sự phát triển tư bản chủ nghĩa trong công thương

Quy mô sản xuất len dạ của công trường mở rộng, thu hút khoảng hàng nghìn người đã áp đảo sản suất của phường, hội, chiếm 80% hàng hóa xuất khẩu

Các ngành công nghiệp khai mỏ, đóng tàu, sản xuất đồ gốm và kim khí, khai thác than đã áp dụng những phát minh kỹ thuật, năng xuất tăng 14 lần đạt 4/5 sản xuất than đá châu Âu thế kỷ thứ XVII, nhiều ngành sản xuất bông, giấy, tơ lụa, thuỷ tinh, xà phòng… xuất hiện ngày càng phát triển

Thương mại trở thành nguồn quan trọng của tích lũy tư bản nguyên thuỷ Đặc biệt dưới thời nữ hoàng Elizabeth I đã lần lượt xuất hiện nhiều công ty buôn bán Tên gọi của các công ty cho thấy vùng hoạt động của chúng: Công ty Moskva (1554) hoạt động ở vùng biển Bantích, công ty Levant (1579)buôn bán ở vùng biển Địa trung Hải, công ty Guinea (1588) buôn bán với Tây Phi, công ty Phương Đông (1579), công ty Đông Ấn (1600) được độc quyền buôn bán với những xứ nằm từ mũi hảo Vọng đến eo biển Magellan Sự tăng trưởng kinh tế theo con đường tư bản chủ nghĩa đã dẫn đến sự ra đời của thị trường chứng khoán ở London năm 1566 London trở thành trung tâm tài chính, công nghiệp, thương mại bậc nhất châu Âu

Tính chất tư bản thể hiện rõ trong việc tổ chức lao động, sự phát triển của công thương nghiệp Điều này là những yếu tố cách mạng nằm trong lòng xã hội phong kiến, thúc đẩy quá trình tan rã của chế độ phong kiến

1.1.2 Tình hình xã hội, chính trị

Sự thâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào nông thôn làm cho giai cấp quý tộc Anh

bị phân hóa Một bộ phận quý tộc chuyển sang kinh doanh theo hướng tư bản chủ nghĩa

là tầng lớp “quý tộc mới” Quý tộc mới được hưởng những đặc quyền và địa vị như quý tộc phong kiến nhưng có thế lực về kinh tế hơn quý tộc phong kiến Họ cũng có những điều kiện thuận lợi hơn giai cấp công thương nghiệp vì số đông có giữ chức vụ ở địa phương, có thể dùng đặc quyền và địa vị của mình chống lại sự can thiệp của chính quyền phong kiến để phát triển kinh doanh Quý tộc mới có quyền lợi gắn với giai cấp tư sản, muốn hoàn toàn thoát khỏi sự ràng buộc của chế độ phong kiến Họ liên minh với nhau trong cuộc đấu tranh chống phong kiến

Giai cấp tư sản (chủ công trường thủ công, nhà buôn…) đại diện cho phương thức sản xuất mới, là giai cấp tiến bộ, cách mạng, nhưng cũng bao gồm nhiều tầng lớp có quyền lợi khác nhau và tinh thần cách mạng không giống nhau Tầng lớp trên bao gồm các nhà đại công thương nghiệp, thường là chủ nợ của vua và quý tộc nên không chủ trương cách mạng, chỉ đòi hỏi một số cải cách để tăng thế lực về kinh tế và chính trị Bộ phận đông đảo còn lại của giai cấp tư sản không thỏa mãn với địa vị xã hội hiện có, bất mãn với sự đè nén của chế độ phong kiến nên kiên quyết đấu tranh chống phong kiến, giành địa vị thống trị Họ là những người lãnh đạo của cách mạng

Trang 13

Nông dân Anh phân hóa Một bộ phận trở thành phú nông cho vay lãi, bót lột lao động làm thuê, có quyền lợi gần với quí tộc mới họ cũng phản đối chế độ chuyên chế phong kiến

Bần nông phần lớn bị mất đất, sống nghèo khổ, kiên quyết đòi thủ tiêu chế độ bóc lột phong kiến và đòi trả ruộng đất đã bị chiếm Đây là đội quân chủ lực của cách mạng.Dân nghèo thành thị là những người bị bóc lột nặng nề và không có quyền chính trị Họ là lực lượng kiên quyết trong cách mạng

Quý tộc mới, tư sản, nông dân nghèo thành thị hợp thành một mặt trận đông đảo chống phong kiến Đối lập với mặt trận phong kiến là tầng lớp quý tộc phong kiến và Giáo hội Anh sống chủ yếu bằng địa tô phong kiến, đặc quyền đặc lợi và lương bổng quan lại Vận mệnh của tầng lớp này gắn liền với chế độ quân chủ chuyên chế nên ra sức bảo vệ nó, tìm mọi cách để ngăn cản sự phát triển tư bản chủ nghĩa Đây chính là đối tượng cách mạng

_ Về chính trị, Nước Anh bây giờ là một nước quân chủ nhưng đã có Đại hiến chương tự do năm 1215, Quốc hội thành lập năm 1265 và có quyền soạn thảo, làm luật

từ năm 1295 Với tình hình đó đến thế kỷ XVI Thế kỷ chứng kiến sự lớn mạnh đồng thời của hai thế lực trong tương lai sẽ đối đầu nhau: chế độ quân chủ chuyển thành chế độ quân chủ chuyên chế và liên minh quí tộc mới, tư sản được củng cố dần nhờ sự phát triển vững chắc của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa Sự phát triển này là kết quả của đường lối cai trị sáng suốt của các vua triềuTudor ( nhất là nữ hoàng Êlizabeth I)

Giữa hai lực lượng chính của xã hội Anh trong thề kỷ XVI, đã hình thành một thế quân bình trên cơ sở tương nhượng: chấp nhận quyền lực của triều Tudor, quý tộc mới và

tư sản dồn mọi nỗ lực vào hoạt động kinh tế ; trong lúc các vua Tudor tuy có toàn quyền cai trị, nhưng biết tự giác không gây thiệt hại đến quyền lợi tài chính và xâm phạm địa vị pháp lý của quý tộc mới và tư sản Hơn thế nữa, họ còn biết đề ra một chính sách phát triển công thương nghiệp có hiệu quả và đeo đuổi một chính sách tôn giáo nhìn chung không đi ngược lại quyền lợi của quí tộc mới và tư sản

Năm 1603, nữ hoàng Êlizabeth I chết, cháu một dòng họ ngoại là vua GIêm IV xứ Xcốtlen lên ngôi vua Anh gọi là vua Giêm I Giêm I lên ngôi bắt đầu thời kỳ chuyên chế của triều Xtiu-ác Giêm I dựa vào Anh giáo để củng cố ngôi vua của mình Năm 1625, Sác-lơ I (con trai Giêm I) lên nối ngôi, tiếp tục chính sách cai trị độc đoán của vua cha Nhà vua giải tán quốc hội, đặt thêm nhiều thuế mới, bất chấp mọi khát vọng của giai cấp

tư sản Sac-lơ I thi hành chính sách độc quyền trong sản xuất, đặt ra nhiều quy chế chặt chẽ kiểm soát chặt chẽ công thương nghiệp Đối với quý tộc mới thì tăng cường kiểm soát quyền sở hữu đất đai để bảo vệ chặt chẽ những quyền lợi của giai cấp quý tộc và giáo hội Tình hình đó làm cho các mâu thuẫn trong xã hội ngày càng trở nên gay gắt hơn, trong xã hội hình thành nên hai phe đối lập, một bên là quý tộc phong kiến phản động và một bên là quý tộc mới, tư sản và các tầng lớp nhân dân lao động

Tóm lại, cuối những năm 30 của thế kỷ XVII Yêu cầu khách quan của xã hội Anh lúc đó là thanh toán chế độ phong kiến và chính quyền chuyên chế của dòng Xtiu-ác,

mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển

1.1.3 Sự chuẩn bị về tư tưởng

Sự chuẩn bị về tư tưởng cho cách mạng tư sản Anh được biểu hiện dưới hình thức

là cuộc đấu tranh giữa hai tôn giáo

Trang 14

Anh là một nước đạo Thiên chúa từ lâu Thời kỳ Henry VIII (1509-1547), cuộc cải cách tôn giáo được khởi xướng và được tiếp tục dưới thời Elizabeth I đã cho ra đời Giáo hội Anh giáo (Anglicanism) Trong giáo hội mới thay vì tuân phục giáo hoàng, thì nay các giáo dân và giáo sĩ tuân phục nhà vua, nhà vua nắm cả thế quyền lẫn thần quyền Anh giáo là trụ cột, là chỗ dựa tinh thần của chế độ phong kiến

Như vậy, đối với quí tộc mới và tư sản chịu ảnh hưởng làn sống cải cách tôn giáo

từ lục địa châu Âu sang Giáo hội được Anh hoá như trên còn rất lâu mới đạt yêu cầu và

là trở ngại trên con đường phát triển tư bản chủ nghĩa Họ muốn hoàn tất cải cách bằng nỗ lực “Trong sạch hoá” giáo hội khỏi mọi hoen ố Được gọi là Puritans (tín đồ Thanh giáo)

do chủ trương sinh hoạt khắc kỉ Điều này có nghĩa là luồng tư tưởng mới của giai cấp tư sản không biểu hiện hoàn toàn công khai mà phải ở dưới hình thức tôn giáo: Thanh giáo hay còn gọi là tôn giáo “Trong sạch”, xuất hiện vào những năm 60 của thế kỷ XVI

Cuối thế kỷ XVI, trong hàng ngũ tín đồ Thanh giáo xuất hiện nhiều trào lưu khác nhau Các tín đồ ôn hoà muốn giữ lại một phần cấu trúc của nó Chủ trương cơ bản là xoá

bỏ chức giám mục trực tiếp phụ thuộc vào nhà vua và thay bằng Hội đồng Niên trưởng gồm có tất cả các mục sư và các niên trưởng đại diện cho tất cả các công đoàn theo tỉ lệ 1/1 ( vì vậy, họ được gọi là phái Trưởng lão) Có thể nói mục tiêu chính của họ là thay ban lãnh đạo độc nhất được áp đặt từ bên trên bằng ban lãnh đạo tập thể được bầu ra từ bên dưới đồng thời rất tôn trọng chính quyền Trong cách mạng phái này không kiên định, dễ thỏa hiệp với thế lực phong kiến

Cách tả trong Thanh giáo hoàn toàn chống đối Giáo hội Anh nên được gọi là phái Độc lập (Independent) Chủ trương rằng một cộng đồng tôn giáo dù nhỏ nhất vẫn có quyền tự quản, có quyền duy trì tư thế độc lập của mình Mọi tín đồ có quyền bước lên diễn đàn và rao giảng kinh thánh theo nhận thức tôn giáo riêng Phái Độc lập tìm thấy sự ủng hộ trong giới tư sản, quý tộc mới vừa và nhỏ có quyền lợi kinh tế đối địch với chế độ phong kiến

Cuộc đấu tranh giữa Thanh giáo và Anh giáo không đơn giản chỉ là sự phủ nhận vai trò giáo chủ của nhà vua, mà còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn: Phủ nhận chính ngay

sự tồn tại của chế độ chuyên chế Đó là lí do khiến xung đột của nhà vua theo Anh giáo

và liên minh quý tộc mới (tư sản theo Thanh giáo) thực chất là cuộc xung đột mang ý nghĩa chính trị

1.2 Tiến trình của cách mạng

1.2.1 Cách mạng bùng nổ

Trước khi cách mạng bùng nổ, giữa quốc hội và nhà vua đã xung đột gay gắt Năm 1627, Quốc hội không được triệu tập định kỳ như trước đây mà chỉ được triệu tập theo ý muốn của vua và các đạo luật chỉ có hiệu luật sau khi được vua phê chuẩn

Do chính sách cai trị chuyên chế, nông dân Anh, Ailen và Xcốtlen thường nổi dậy chống lại Đến khi nhà vua bắt người Xcốtlen phải theo Anh giáo và công nhận mình là giáo trưởng (1637) họ đã tràn vào biên giới nước Anh chống lại vua Anh

Vì cần tiền để mộ quân đàn áp khởi nghĩa của nhân dân Xcốtlen tháng 4/1640 vua buộc phải triệu tập quốc hội Quốc hội gồm đa số là tư sản và quý tộc mới không chuẩn y các khoản thuế mới do vua đề ra, công kích chính sách bạo ngược, đòi quyền kiểm soát quân đội, tài chính và giáo hội Sáclơ I khước từ và quyết định dùng vũ lực để chống lại quốc hội

Trang 15

Vua cho quân đội đến quốc hội để bắt những người khởi xướng việc chống lại nhà vua nhưng không thành công Trước làn sóng phản đối của quần chúng, Sáclơ I cùng quần thần kéo lên miền Bắc nước Anh, dựa vào bọn quý tộc phong kiến ở đây để chiêu

mộ thêm quân đội chống quốc hội và nhân dân

1.2.2 Cuộc nội chiến cách mạng (1642-1649) và sự thành lập nền Cộng hòa

_ Ngày 28/8/1642, Sáclơ I chính thức tuyên chiến với quốc hội ở Nốt-tinh-ham Phe nhà vua tập trung dưới cờ Anh giáo Căn cứ nhà vua là ở miền Tây và Tây Bắc, kinh

tế không phát triển, chế độ phong kiến còn có cơ sở vững mạnh Tư sản và quý tộc mới thống nhất dưới ngọn cờ của Thanh giáo mà trung tâm là quốc hội Căn cứ của quốc hội

là thủ đô London, miền Đông Nam các thành thị công nghiệp, những khu vực nông dân

và kinh tế phát triển

Trong giai đoạn đầu của cuộc nội chiến, quân đội của quốc hội bị đánh bại vì quân đội nhà vua trang bị tốt và thiện chiến hơn Mặt khác, quốc hội tiến hành những hoạt động quân sự chống vua không được kiên quyết, do phái Trưởng lão chi phối quốc hội, chủ trương lập nền quân chủ lập hiến nên có ý muốn thỏa hiệp với nhà vua

Giữa lúc quân của quốc hội đang gặp khó khăn và có nguy cơ tan rã, thì quần chúng nhân dân nổi dậy ở khắp nơi, ngăn chặn các đường tiến quân của nhà vua Dựa vào

sự ủng hộ của quần chúng Ôliver Crôm-Oen và các quý tộc nơi khác - những người muốn thông qua nội chiến để được giải phóng – đã tiến hành cải tiến quân đội

Thấy rõ ý chí cách mạng của quần chúng, Crôm-Oen chủ trương dựa vào họ để chống nhà vua Ông đòi quốc hội thông qua kế hoạch cải tổ lại quân đội Ông tổ chức một quân đội kiểu mới mà lực lượng nòng cốt là nông dân và thợ thủ công Điểm nổi bật của quân đội kiểu mới là có kỹ luật chặt chẽ, có tính chiến đấu cao, được gọi là “Đội quân sườn sắt”

Nêdơbi, một làng nhỏ ở miền Trung nước Anh được vua Anh chọn làm điểm quyết chiến Ngày 14/6/1645, đội quân sườn sắt giành được thắng lợi lớn 5.000 quân của nhà vua cùng toàn bộ vũ khí rơi vào tay quân cách mạng Sáclơ I chạy trốn lên Xcốtlen

và bị bắt Các thủ lĩnh Xcốtlen nộp Sác-lơ I cho quốc hội, nhận số tiền thưởng 40 vạn bản Anh Cuộc nội chiến lần thứ nhất kết thúc

Sau nội chiến, Phái trưởng lão chủ trương thoả hiệp, đàm phán Crôm-Oen đã cho quân đội đến trụ sở của quốc hội đoạt lấy vua đưa về giam trong doanh trại quân đội Dưới áp lực của quần chúng, phái Độc lập tiến vào London đuổi những người bảo hoàng

ra khỏi quốc hội Phái độc lập chiếm được ưu thế trong quốc hội và chính quyền

_ Cuối năm 1647, Sác-lơ I trốn khỏi London tập hợp quân đội để chống quốc hội Mùa xuân 1648 nội chiến lần thứ hai bùng nổ Các trận giao chiến nổ ra kịch liệt, nhưng lần này quân của quốc hội được củng cố vững mạnh,lại được nhân dân ủng hộ nên đã nhanh chóng giành được thắng lợi Cuối năm 1648, cuộc nội chiến kết thúc, Sác-lơ I lại

bị bắt Bộ phận lớp trên của phái Độc lập chủ trương để Sác-lơ I thoái vị, cho con lên thay, nhưng những người chủ trương cộng hòa, đặc biệt là quần chúng nhân dân kiên quyết đòi đưa Sác-lơ I ra xét xử

Ngày 30/1/1649, Sáclơ I bị chém đầu ở quãng trường thành phố trước cung điện trắng dưới sự reo hò của đông đảo quần chúng

Ngày 15/9/1649, quốc hội tuyên bố thành lập nền Công hòa Phái Độc lập chiếm

ưu thế trong chính quyền do Crôm-Oen đứng đầu Việc xử Sác-lơ I cùng với viêc ra đời của nền Cộng hòa đánh dấu một bước tiến của cách mạng, một thắng lợi to lớn của quần

Trang 16

chúng và sự sụp đổ của chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến Cách mạng tư sản Anh

đã đạt đến đỉnh cao của nó

Sau cách mạng tư sản thành công, Crômoen tiến hành chiến tranh xâm lược Ailen (1649) và Xcốtlen (1650) Trên cơ sở lực lượng lớn mạnh nhanh chóng Anh phát động cuộc chiến tranh chống kẻ cạnh tranh chính là Hà Lan Anh giành chiến thắng Hà Lan buộc phải thừa nhận luật hảng hải (1651) qui định nước Anh chỉ nhập khẩu những hàng

do tàu Anh hoặc tàu của nước khác có hàng mang đến Hà Lan bị gạt khỏi địa vị của người chở hang trên mặt biển

Giai cấp tư sản và quí tộc mới rất lo sợ phong trào quần chúng nhân dân Họ sẵn sàng thủ tiêu nền Cộng hoà để xây dựng một chính quyền mới có “Bàn tay sắt” để vừa có khả năng trấn áp phong trào, vừa có khả năng chiến thắng những quốc gia cạnh tranh bên ngoài Tháng 4 và tháng 9/1652 Crôm-Oen dùng quân đội giải tán nghị viện, thực chất là thanh toán nền Công hoà ở Anh Năm 1653, Crôm-Oen lên làm Bảo hộ công Chế độ độc

tài quân sự được thành lập

1.2.3 Chế độ bảo hộ độc tài của Crôm-Oen (1653-1658)

Crôm-Oen có quyền hành tuyệt đối: Tổng tư lệnh lực lượng quân đội, kiểm tra tài chính và toà án, quyết định chính sách đối nội và đối ngoại, ban hành luật lệ… Toàn quốc chia làm 11 khu do tướng tá cai quản Trật tự quân sự, cảnh sát ngự trị trong nước, lực lượng quân đội hùng mạnh của Crôm-Oen trở thành công cụ chuyên chính tư sản

Tuy vậy chính quyền cũng không thoát khỏi những khó khăn do chiến tranh với Tây Ban Nha (1654) tuy thắng lợi, nhưng chi phí quân sự quá cao, sản xuất công thương nghiệp đình đốn, hàng vạn gia đình bị bần cùng, làn sóng đấu tranh của nhân dân lan tràn trong toàn quốc Tình trạng đó làm cho quí tộc mới và tư sản không còn tin tưởng chế độ độc tài, nhất là khi crôm-Oen mất (9/1658), con trai là Risa lên thay nhưng bất tài Giai cấp tư sản quyết định tìm cách phục hồi chế độ quân chủ mạnh mẽ hơn nhưng dưới sự chi phối của họ

1.2.4 Sự phục hồi vương triều Xtiu-ác và chính biến năm 1688

Tháng 4/1660 sau khi hai bên đã thỏa thuận, Sáclơ Xtiu-ác ra một bản tuyên ngôn với nhiều hứa hẹn và được mời về Anh lên ngôi vua, lấy hiệu là Sáclơ II Sau khi nắm quyền, Sáclơ II không tuân thủ các điều kiện đã đặt ra mà rắp tâm lập lại chế độ quân chủ chuyên chế, giành lại những quyền lợi đã mất, trả thù những người cách mạng

Năm 1685 Sáclơ II chết, em trai là Giêm II nối ngôi vẫn tiếp tục củng cố thế lực phong kiến, uy hiếp quyền lợi của tư sản và quý tộc mới

Trước tình hình đó, tháng 6/1688 quốc hội mời Vinhem xứ Ô-răng-giơ (con rể Giêm II, là tín đồ Tin Lành kiên định) đang là quốc trưởng Hà Lan sang Anh Lúc bấy giờ Hà Lan theo Tân giáo đang quyết liệt chống lại âm mưu thôn tín của Pháp theo Công giáo Sự chống đỡ kiên cường của Hà Lan chắc chắn sẽ bị bẻ gãy nếu Anh và Pháp liên minh với nhau Chính để ngăn chặn nguy cơ này, Vinhem đáp ứng lời mời của của nghị viện Anh

Ngày 5/11/1688, Vinhem cầm 4,6 vạn quân với sự yểm trợ của 60 tàu chiến đổ bộ trên đất Anh, Giêm II bỏ trốn sang Pháp Sau khi chấp nhận điều kiện của nghị viện, ngày 13/2/1689 vợ chống Vinhem và Mary được nghị viện chính thức công nhận là vua và nữ hoàng vương quốc Anh và vương quốc Xcốtlen

Trang 17

Ngay sau đó nghị viện thông qua văn kiện Đạo luật về sự khoan dung đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và Luật về các quyền (Bill of rights) có các nội dung chính:

_ Vua không có quyền đình chỉ hay bỏ qua các đạo luật, dựng lên toà án, tổ chức

và duy trì đạo quân thường trực, ban hành các sắc thuế, nếu chưa được sự tán thành của nghị viện

_ Nghị viện sẽ họp thường kỳ, thông qua bầu cử tự do và có quyền tự do phát triển

_ Người dân được phép gởi kiến nghị lên vua và sẽ được xử bởi một bồi thẩm đoàn nếu như bị cáo buộc

Được đánh giá là văn kiện có giá trị tương đương hiến pháp Luật về các quyền đã khai sinh chế độ Quân chủ lập hiến ở Anh Chế độ này sẽ tiếp tục được hoàn thiện trong những năm sau đó

Đây là cuộc chính biến kết thúc cuộc cách mạng tư sản Anh Ý nghĩa của sự kiện này là ở chỗ nó xác định lại tính chất của cuộc cách mạng tư sản Anh, củng cố thêm chính quyền có lợi cho tư sản và quý tộc mới, thủ tiêu chế độ quân chủ chuyên chế, thiết lập chế độ quân chủ lập hiến Từ nay vua không có thực quyền, chỉ cai trị theo hiến pháp, quốc hội là trung tâm quyền lực của tư sản và quý tộc mới quyết định các chính sách của nhà nước

1.3 Tính chất và ý nghĩa của cách mạng tư sản Anh

Cuộc cách mạng tư sản Anh do tầng lớp quý tộc mới và tư sản lãnh đạo đã lật đổ chế độ phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển ở Anh

Cách mạng Anh là sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử châu Âu và thế giới ,có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của lịch sử loài người trong buổi đầu chuyển từ chế

độ phong kiến sang chế độ tư bản, góp phần thúc đẩy tinh thần đấu tranh chống phong kiến ở các nước mà trước tiên là ở Pháp Các Mác đã viết: “Thắng lợi của giai cấp tư sản

có ý nghĩa là thắng lợi của chế độ xã hội mới, thắng lợi của chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa đối với chế độ sở hữu phong kiến”

2 Cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anh ( khoảng giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX):

2.1 Những tiền đề của cuộc cách mạng công nghiệp

Cách mạng tư sản thế kỷ XVII đã mở đường cho tư bản phát triển đến giữa thế kỷ thứ XVIII, nước Anh đã có đủ điều kiện để tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp

_ Các nhà tư bản Anh đã có một khối lượng tư bản Anh tự do khổng lồ được tích luỹ bằng cách khai thác thuộc địa, trong đó béo bở nhất là Ấn Độ Buôn bán nô lệ da đen cũng giúp cho thương nhân Anh thu rất nhiều tiền Mỗi năm có hàng trăm chiếc tàu chở

nô lệ khởi hành từ châu Phi đi châu Mỹ, và người ta tính rằng, trong bốn chiếc thì có ba chiếc là của Anh Một số hàng hóa có giá trị từ 25 đến 100 đôla để đổi lấy một nô lệ và khi đến Mỹ thương nhân Anh bán với giá 500, có khi 1.000 đến 2.000 đôla Để thu lợi nhuận cao, giai cấp tư sản còn bóc lột tàn nhẫn nhân dân lao động trong nước Nước Anh

do đó đã đủ điều kiện thứ nhất để tiến hành công cuộc cách mạng Đó là tích lũy tư bản _ Trước và trong cách mạng tư sản ở thế kỷ XVII, việc rào đất cướp ruộng đã làm cho nền kinh tế nông nghiệp phong kiến chuyển biến thành nền nông nghiệp kinh tế tư

Trang 18

bản chủ nghĩa thơng qua bạo lực đối với nơng dân Mặt khác, nĩ đã chuẩn bị sức lao động cần thiết cho nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và tạo thị trường cho cơng nghiệp Sau cuộc chính biến 1688-1689, đất đai tiếp tục bị chiếm đoạt một cách cơng khai và trắng trợn hơn vì được chính quyền ủng hộ Quốc hội Anh khuyến khích việc bao chiếm ruộng đất bằng những đạo luật theo yêu cầu của địa chủ muốn phân chia đất cơng Chỉ riêng nửa đầu thế kỷ XVIII, 208 đạo luật như thế được ban hành và do đĩ mà 312.000 acre rơi vào tay địa chủ

Hậu quả là tầng lớp nơng dân tự canh bị tiêu diệt, họ bị mất đất phải bỏ quê hương sang các thuộc địa hoặc ra các thành phố làm thuê, tạo cho nền cơng nghiệp Anh một nguồn nhân cơng dự trữ dồi dào Về việc tước đoạt ruộng đất của nơng dân và hậu quả của nĩ, Mác viết: “Quá trình đi chiếm đoạt ruộng đất để phát triển tư bản nơng nghiệp đã làm cho ruộng đất gắn liền với tư bản, trở thành một bộ phận của tư bản, tạo ra cho các ngành cơng nghiệp ở thành thị một nguồn cung cấp nhân cơng cần thiết là những người vơ sản đã được “Tự do”

Việc bao chiếm ruộng đất cịn đưa đến sự phát triển của các trang trại kinh doanh

tư bản chủ nghĩa Đĩ là cơ sở của việc cung cấp nguyên liệu, lương thực, thực phẩm cho các khu cơng nghiệp, gĩp phần mở rộng thị trường trong nước

Với cuộc cách mạng trong nơng nghiệp, sức lao động được tích lũy nhiều nhất ở Anh Đây là điều kiện cần thiết thứ hai để tiến hành cuộc cách mạng cơng nghiệp

_ Ngồi những tiền đề nêu trên, nước Anh cịn cĩ những điều kiện thuận lợi cho

sự ra đời của sức sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa Đĩ là việc cải tiến kỹ thuật trong các ngành cơng nghiệp, các cơng trường thủ cơng đã cĩ sự phân cơng lao động, chuyên mơn hĩa trong sản xuất Chuyên mơn hĩa tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải tiến, phát minh ra máy móc và đào tạo được các cơng nhân lành nghề, cĩ kinh nghiệm để cĩ thể sử dụng máy mĩc, chuẩn bị điều kiện để chuyển sang sản xuất bằng máy

2.2 Quá trình thực hiện cuộc cách mạng cơng nghiệp Anh:

Cuộc cách mạng cơng nghiệp Anh khởi đầu là cơng nghiệp nhẹ và trước tiên là trong ngành cơng nghiệp dệt:

Năm 1733, Giơn Cây phát minh ra con thoi bay mở dài chiều rộng của tấm vải Năm 1765, Giêm Hacgrivơ phát minh ra máy kéo sợi Gienny, máy quay bằng tay do một người điều khiển cĩ 16 đến 18 cột suốt nên sản xuất được nhiều sợi hơn Năm 1769, Accaaitơ phát minh ra máy kéo sợi mới bằng sức nước Năm 1785, Etmơn Acraitơ phát minh ra máy dệt, năng suất lao động tăng lên 40 lần

Lúc bấy giờ máy mĩc chạy bằng sức nước Vấn đề đặt ra là cần cĩ một loại máy khơng phụ thuộc vào thiên nhiên

Năm 1705, Niucơmen phát minh ra máy hơi khơng khí dùng để đưa hơi nước lên rồi cho rơi xuống làm các bánh xe chuyển động, máy này dùng rất nhiều nguyên liệu Năm 1769, Giêm Oát phát minh ra máy hơi nước Việc phát minh ra máy hơi nước tiêu thụ bằng than đã tạo ra động lực hồn tồn do con ngưịi chi phối nên sản xuất cơng nghiệp cĩ thể tập trung ở bất cứ nơi nào Nhờ giải quyết được vấn đề động lực là khâu quan trọng nhất đã giúp cho các ngành khai mỏ, dệt, giao thơng vận tải phát triển

Đầu tiên là cải tiến kỹ thuật trong ngành luyện kim và chế tạo cơ khí Năm Abroham Đacbi phát minh phương pháp lấy than cốc từ hang đá để luyện gang-chất lượng chưa cao Năm 1784, Cooctơ sáng chế ra lị luyện gang sử dụng than đá để biến gang thành thép

Trang 19

Sự phát triển của kỹ thuật giao thông đường bộ được đánh dấu bởi việc làm ra đầu máy kéo các toa xe chạy trên đường đá năm 1802 Đến năn 1814, Xtiphenxơn chế tạo ra đầu máy cải tiến kéo được tám toa xe và chạy với tốc độ 6km/h Năm 1825, nước Anh đã xây dựng được đường xe lửa đầu tiên với tốc độ 10km/h Từ năm 1870-1900, tổng số chiều dài đường sắt tăng từ 210.000-790.000 km

Giao thông đường thuỷ cũng có sự phát triển đáng kể, năm 1807, Phơntơn (Mỹ)

đã chế tạo thành công chiếc tàu thuỷ chạy bằng hơi nước đầu tiên Năm 1811, nước Anh lại sản xuất được một chiếc tàu thuỷ nữa Đến năm 1836, ở Anh đã có hơn 500 chiếc tàu thuỷ

Các lĩnh vực khoa học-kỹ thuật có các bước tiến đáng kể: Năm 1837 Moóc sáng chế ra máy điện báo; năm 1823 máy chụp ảnh ra đời; từ 1820-1830 nhiều nước châu Âu

đã biết thắp đèn sáng bằng khí đốt Năm 1867, phát minh ra máy phát điện và phương thức truyền điện đi xa có ý nghĩa lớn trong sản xuất và sinh hoạt Năm 1895, ở Anh và

Mỹ đã làm ra tàu điện thay thế xe ngựa

Tính đến đầu thế kỷ XIX, nhiều phát minh quan trong trong khoa học tự nhiên đã phá bỏ những quan niệm cũ về thế giới như học thuyết tiến hoá của Đácuyn, thuyết tế bào, sự bảo tồn và chuyển hoá năng lượng… tạo điều kiện để con người đi sâu khám phá bản chất, quy luật của tự nhiên xây dựng thế giới quan duy vật điện chứng

2.3 Hệ quả

Hiệu quả về kinh tế:

_ Việc phát minh máy móc thúc đẩy sản xuất phát triển Sản lượng công nghiệp cũng như chất lượng và giá trị sản phẩm tăng lên nhanh chóng Đây thật sự là một cuộc cách mạng biến đổi về chất trong sản xuất Cuối thế kỷ XVIII, nhà máy được xây dựng khắp nơi trên đất Anh, hàng hóa tràn ngập thị trường nước ngoài Đầu thế kỷ XIX, Anh xuất khẩu gần 500 triệu mét vải Nước Anh trờ nên giàu mạnh đứng đầu thế giới

_ Cách mạng công nghiệp còn biến đổi sâu sắc địa lí kinh tế ở nước Anh Vùng Tây Bắc vốn lạc hậu trở thành vùng công nghiệp mới, nhiều trung tâm công nghiệp mới được tiếp tục xây dựng, nhiều thành thị mới xuất hiện và phát triển nhanh chóng như Manchéctơ, Bớtminhham,Livơpul…Đầu thế kỷ XIX, tỷ lệ dân thành thị chiếm đến 2/3 dân số cả nước, từ một nước nông nghiệp lên một nước công nghiệp Ăng-ghen đã có nhận xét: “Lịch sử công nghiệp Anh trong khoảng 60 năm gần đây, một thiên lịch sử chưa từng thấy trong sử sách của loài người Cách đây 60-80 năm, Anh là một nơi như mọi nơi khác với những thành phố nhỏ bé, công nghiệp ít ỏi và rất thô sơ, dân số thưa thớt Ngày nay là nơi có một không hai với thủ đô gần 5,2 triệu dân, với nhiều thành phố khổng lồ, với một nền công nghiệp cung cấp hàng hóa cho toàn thế giới”

Hệ quả về xã hội:

Lực lượng sản xuất có bước phát triển nhảy vọt, do vậy quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập vững chắc Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thực sự chiến thắng phương thức sản xuất phong kiến

Có sự biến đổi lớn lao trong quan hệ giai cấp và cấu tạo giai cấp: giai cấp tư sản nhờ vào những thành tựu khoa học nên ngày càng có thế lực về kinh tế-chính trị trở thành giai cấp có thế lực thật sự, còn tầng lớp quý tộc mới mất dần thế lực, một sản phẩm quan trọng của cuộc cách mạng công nghiệp là sự hình thành giai cấp vô sản-xã hội hình thành hai giai cấp cơ bản đối nghịch nhau đó là tư sản và vô sản

Trang 20

Giai cấp vô sản bị bóc lột thậm tệ trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng công nghiệp, giai cấp vô sản đã thực hiện phong trào đập phá máy móc, phong trào mạnh lên Năm 1811,1812 ở Nottinham do Nêniốt lãnh đạo

III CUỘC CHIẾN TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP CỦA CÁC THUỘC ĐỊA ANH Ở BẮC MỸ (1775- 1783) VÀ CUỘC CHIẾN TRANH LI KHAI CỦA HOA KÌ (1861- 1865)

Dân Châu Mỹ là dân da đỏ ở Mỹ vốn từ Châu Á, họ vựot eo biển Berinh đến Alaska rồi đến Bắc Mỹ cách đây khoảng 25000 năm Đến thế kỷ XV, khi Côlômbô phát hiện ra Hoa Kỳ có ít nhất là 300 bộ lạc sinh sống ở những vùng đất phì nhiêu và cũng từ đó từng đoàn người châu Âu lần lượt kéo sang châu Mỹ

Khu dân cư đầu tiên là của người Tây Ban Nha - vùng Florida, của người Pháp là New York, ngoài ra còn có những khu dân cư của Hà Lan-Thuỵ Điển Đầu thế ký XVII, thương nhân Anh tìm đuờng sang các nước vùng biển Đông, họ không có hướng nào khác là nhằm vào hướng Bắc châu Mỹ vì mọi con đường đã bị Tây Ban Nha khống chế Năm 1607, nhà hàng hải thám hiểm Sirwalter Raleigh lập nên khu dân cư đầu tiên

là Jamestown (sau này mang tên Viêginia) Tiếp đó năm 1620, tàu Mayflower chở 120 tín

đồ Thanh giáo lập nên khu dân cư thứ hai là Playmouth (sau là Massasuset).Ngoài ra có không ít những nhà quí tộc tìm sang Bắc Mĩ để xây dựng một xã hội phong kiến cổ điển (các bang Maryland, Pennylvania, Carolina) Sau cuộc cách mạng tư sản Anh thế kỷ XVII, quá trình rào đất vẫn tiếp tục diễn ra, một bộ phận nông dân không có ruộng đất di

cư sang Bắc Mỹ Như vậy, 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ được thành lập dần dần qua những thời kì khác nhau, thành phần chủ yếu là nông dân, dân nghèo thành thị, tín đồ Thanh giáo và một số ít quí tộc Họ rời bỏ nước Anh vì lí do kinh tế, chính trị tôn giáo Thổ dân Inđian bị dồn đuổi về phía Tây và nô lệ da đen được nhập vào để kinh doanh đồn điền

Trong quá trình thành lập 13 bang, người Anh phải đối phó với 2 nguy cơ chính: thổ dân da đỏ và người Pháp Từ thế kỷ XVIII, hai bên xảy ra xung đột gọi là cuộc chiến tranh 7 năm (1756-1763) Người Pháp đã bị đánh bại vì Anh được sự chi viện của chính quốc, người Anh đông khoảng 1,5 triệu, người Pháp chỉ có 6000.000 người sống rải rác.Trong chiến tranh nổi bật lên vai trò của George Wasinhtơn

1 Chiến tranh giành độc lập và sự thành lập hợp chúng quốc Hoa Kỳ

Công thương nghiệp phát triển ở Bắc Mỹ ở những ngành như đóng thuyền (30% tàu Anh đóng ở Bắc Mỹ), khai thác gỗ, khai mỏ, luyện sắt thép, dệt vải len, thuộc da

Trang 21

đóng giày, nấu rượu Thương nghiệp có trung tâm là Nêđéclan xuất khẩu tăng từ 265 783 bảng Anh (năm 1700) đến 1 044 591 bảng Anh ( năm 1750).Trực tiếp buôn bán với Hà Lan, Tây Ban Nha, Pháp, Tây Âu

Tư tưởng

Kinh tế phát triển mạnh, sự giao lưu hàng hoá giữa miền Bắc và miền Nam tạo ra một thị trường nội địa thống nhất Sống trong một môi trường địa lí mới, tách biệt hẳn với châu Âu, những người di dân tự cảm thấy họ là sắc dân riêng biệt, cùng gắn bó với nhau bởi một số phận chung trong khuôn khổ quy chế di dân Đa số di dân nói tiếng Anh, nhưng ngay cả ngôn ngữ này cũng mang một loạt đặc điểm so với chính quốc, như nhiều

từ mới xuất hiện , và ngay cả từ cũ cũng có nội dung khác đi Báo chí, văn nghệ, triết học,

ca nhạc phát triển, một nền văn hóa Mỹ, văn hoá dân tộc hình thành ảnh hưởng đậm nét châu Âu (giữa Anh-Pháp-Đức-Hà Lan), văn hóa bản xứ và người da đen Phi châu

Giai cấp tư sản Mĩ ảnh hưởng học thuyết J Locke (1632-1634), lý thuyết gia của Đảng Whig, hai thành phần lớn nhất của ông là ban 3 thảo luận và thư về sự khoan dung (1690), chính phủ (1689) Theo học thuyết về chính phủ con người có một số quyền tự nhiên, chủ yếu là quyền sống, quyền tự do và quyền tư hữu khi con người lập ra chính phủ họ đã tạo cho nó quyền lực để bảo vệ những quyền vừa được nêu, công việc này được thực hiện dựa trên một thỏa thuận chung, J Locke gọi chung là khế ước xã hội giữa người dân và chính phủ Do đó, ông lập luận rằng khi một chính phủ không bảo vệ được quyền tự nhiên của họ thì người dân có quyền lập ra một chính phủ mới, học thuyết đã cung cấp một luận cứ mạnh mẽ cho những cuộc cách mạng chống chế độ cường quyền và dựng nên chế độ chính phủ của nhân dân Thời kỳ này nhiều hội kín, nhiều tổ chức tiến

bộ ra đời, đại diện cho tư tưởng này là Tomat Ghephecson (1743-1826) và Wasinhtơn (1732-1799)

cả đã làm bùng lên giữa di dân và chính quyền thực dân Anh Ngày 7/10/1765, đại diện của 9 thuộc địa họp ở New York quyết định không nộp thuế mà không có đại biểu của thuộc địa biểu quyết và tẩy chay hàng Anh

Năm 1773, đã xảy ra sự biến Boston Tea Party Năm 1774, để trừng phạt nghị viện Anh ra năm đạo luật bị dân thuộc địa gọi là Intolerable Acts nhằm trấn áp các hoạt động chống đối của di dân

Quan hệ giữa chính quốc và thuộc địa trở nên căng thẳng, chính phủ Anh tăng cường quân đội sang Bắc Mỹ, Bắc Mỹ đứng trước ngưỡng cửa của cuộc cách mạng chống thực dân Anh giành độc lập

1.2 Diễn biến cuộc chiến tranh giành độc lập

Tháng 10/1774, Đại hội lục địa lần thứ nhất thông qua bản tuyên bố về những quyền lực của di dân và “ Cuộc sống, tự do và sở hữu “, tẩy chay hàng hoá Anh, khuyến khích dùng hàng bản xứ

Trang 22

Ngày 19/4/1975, tướng Ghêgiơ cho quân đánh chiếm kho vũ khí do di dân dự trữ

ở Concord và Lexington Trận chiến diễn ra, chiến tranh giành độc lập bùng nổ

Cư dân thuộc địa chia làm hai phe: Phe Cách mạng đấu tranh giành độc lập chủ quyền bao gồm nông dân lao động,tá điền, chủ trại , công nhân, thợ thủ công, tiểu tư sản thành thị do tư sản cách mạng lảnh đạo Tư sản cách mạng tập hợp trong phái whig Phái thân Anh (Bảo hoàng hay Tôri) gồm thống đốc các bang, quan tòa, nhân viên cao cấp của chính quyền thuộc địa và một bộ phân tư sản có quyền lợi gắn với tư sản Anh, đại địa chủ miền Trung được vua ban đất

Trong những năm đầu 1775-1776 chiến sự diễn ra gay gắt ở vùng Đông Bắc, gần Boston Mặc dầu quân đội có tinh thần chiến đấu cao, nhưng trong giai đoạn đầu phải chịu nhiều thất bại Nguyên nhân chính của tình trạng đó là do thiếu một bộ máy chính quyền mạnh mẽ, một đường lối lãnh đạo thống nhất Trong khi đó quân nhà vua đông (90.000 người) trang bị tốt, thiện chiến lại được phái bảo hoàng giúp đỡ rất tích cực

_ Tháng 5/1776, Đại hội lục địa lần thứ hai quyết định thành lập “ Quân đội thuộc địa” và bổ nhiệm Wasinhtơn làm tổng chỉ huy Ngày 4/7 đại hội thông qua bản “Tuyên ngôn độc lập” do Tômát Giépphécxơn (1743-1826) soạn thảo Văn kiện đã thay công thức cũ “ Cuộc sống, tự do và sở hữu” bằng quyền sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc Đây là những quyền tự nhiên mà tạo hoá đã ban cho con người và họ có quyền nổi dậy để bảo vệ các quyền này: “Chúng tôi coi những chân lý này là điều hiển nhiên, rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng họ được tạo hóa ban cho một số quyền không thể nhân nhượng được, rằng trong số những quyền đó có quyền được sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc Và để đảm bảo những quyền này, các chính phủ đã được thành lập trong nhân dân, với những quyền bính mà chúng nhận được từ sự ưng thuận của những người bị trị Mỗi khi một hình thái chính phủ nào đó trở thành có hại cho các mục đích này, thì nhân quyền

có quyền thay hay phá bỏ nó, và thiết lập một chính phủ mới, tạo dựng nó trên những nền tảng nào đó, mà người dân xét thấy là thích hợp nhất cho việc đảm bảo an ninh và mưu cầu hạnh phúc của họ.” Bản Tuyên ngôn tuyên bố các thuộc địa liên hiệp lại với nhau, tách ra khỏi nước Anh, thành lập quốc gia độc lập: Hợp chúng quốc Châu Mỹ - tức Hoa Kỳ-ra đời (ngày 4/7 sau này trở thành ngày quốc khánh của nước Mỹ)

Bản Tuyên ngôn độc lập là văn kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại Các Mác đã gọi đây là “ Bản tuyên bố đầu tiên về quyền con người”

Chiến tranh tiếp diễn Hàng vạn người gia nhập quân đội Ngày 14/10/1777, Quân Bắc Mỹ thắng lớn ở Xaratôga, 5000 quân Anh bị bắt làm tù binh Chiến thắng này

có ảnh hưởng lớn tới cục diện chiến tranh Cùng với việc tiến hành chiến tranh, Đại hội lục địa bắt đầu xây dựng Hiến pháp Tháng 11/1777, Hiến pháp đầu tiên của Mỹ được thông qua và đến ngày 1/3/1781 có hiệu lực (được gọi là Hiến pháp năm 1781)

Hiến pháp quy định quyền hạn của chính quyền trung ương rất hạn chế, còn quyền hạn các bang rất rộng rãi Với Hiến pháp này, 13 liên bang liên hiệp với nhau một cách lỏng lẽo Việc thực hiện nghị quyết của Đại hội lục địa không có tính chất bắt buộc

Sau chiến thắng Xaratôga, hoàn cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi cho Bắc Mỹ, họ

đã tranh thủ được sự ủng hộ của một số cường quốc châu Âu: Năm 1778, Pháp kí hiệp ước liên minh với Hoa Kỳ giúp 2 triệu bảng Anh, 6.000 quân và 38 tàu chiến Năm 1779 Tây Ban Nha ký kết với Mỹ hiệp ước cùng chống Anh Năm 1781, Hà Lan cũng tuyên chiến với Anh Nhân dân nhiều nước châu Âu tình nguyện sang chiến đấu ở Bắc Mỹ Liên minh chống Anh được thành lập Nước Anh bị cô lập và mất ưu thế trên mặt biển Điều đó có ảnh hưởng tới quá trình chiến tranh

Trang 23

Tháng 10/1781, 15 ngàn quân liên hiệp của Wasinhtơn và Rôsambô(Pháp) bao vây 8.000 quân Anh trên bán đảo Ioóctao Cuối cùng quân Anh phải đầu hàng với toàn bộ

vũ khí Đây là trận đánh có tính chất quyết định Khi tin thất bại về tới Anh, một phong trào phản đối chính phủ nổ ra, Quốc hội Anh quyết định đình chiến để đàm phán với Bắc

Mỹ

Tháng 9/1783 hoà ước được kí kết ở Vécxai, Anh công nhận nền độc lập của 13 nước thuộc địa Bắc Mỹ trả cho Pháp và Tây Ban Nha một số thuộc địa mà Anh đã chiếm

1.3 Tình hình nước Mỹ sau khi giành độc lập

Các chính sách lớn

Cuộc chiến tranh đã để lại hậu quả to lớn Trước tình hình đó năm 1785 chính phủ quyết định chuyển nhượng từng ô đất rộng 640 acrơ ( mẩu Anh+ 4046m2) với giá tiền 1000đô la.Như vậy chỉ có chủ đồn điền mới có khả năng mua được Đến năm 1800 chính phủ ra đạo luật bán phần đất rộng 160 acrơ đến 320 acrơ được trả tiền dần sau khi trả trước 1/4 giá đất Điều này đã khẳng định con đường phát triển kinh tế nông nghiệp theo kiểu sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa

Chính sách quan trọng thứ hai là phát hành tiền giấy Điều này mang ý nghĩa độc lập về chính trị và giải quyết được nạn tài chính thiếu hụt Năm 1786, hệ thống ngân hàng được thành lập

Đặc điểm quan trọng trong nền kinh tế Mỹ là khuyến khích phát triển công nghiệp Đây là cơ sở để tự chủ về chính trị, bảo vệ thành quả cách mạng Tuy vậy trị giá sản phẩm công nghiệp Mỹ vào lúc này chỉ khoảng 50 triệu đô la Sự cạnh tranh của công nghiệp Anh vẫn còn là trở ngại lớn trên con đường phát triển

Các cuộc khởi nghĩa của dân nghèo(1786-1787):

Thắng lợi của cuộc chiến tranh đem lại cho tư sản và chủ nô nhiều quyền lợi to lớn Họ trở thành những giai cấp thống trị mới, còn quần chúng nhân dân vẫn bị áp bức bóc lột, không được hưởng quyền bình đẳng, tự do thực sự như “Tuyên ngôn độc lập” đã nêu Không những thế, mọi gánh nặng của cuộc chiến tranh đều đè lên vai quần chúng Chính quyền mới tăng thuế làm nhiều chủ trại bị phá sản, nạn thất nghiệp lan tràn Vì vậy sau chiến tranh, mâu thuẫn giai cấp vẫn gay gắt, nhiều cuộc khởi nghĩa chống chính quyền của tư sản, chủ nô nổ ra

Năm 1786, ở nhiều bang miền Bắc đã diễn ra các cuộc khởi nghĩa của công nhân

và chủ trại bị phá sản Họ kéo đến tòa án và đốt sổ thuế và giấy bán ruộng để gán nợ, nhiều nhà tù ở các thành phố bị phá hủy, nhà giàu bị tấn công…

Có tiếng vang lúc bấy giờ là cuộc khởi nghĩa ỏ bang Masasuxớt do Đanien Sêvơ lãnh đạo Ông là trại chủ nghèo, nguyên là đại úy trong quân đội Khởi nghĩa kéo dài từ tháng 9/1786 đến tháng 2/1787 Quân khởi nghĩa đã đề ra những chương trình hành động

mà điểm nổi bật là vấn đề ruộng đất Họ đòi ban hành đạo luật chia đều ruộng đất, thủ tiêu nợ nần, xử án công bằng Cuộc khởi nghĩa thu hút tới 15.000 người tham gia Giai cấp tư sản tập trung lực lượng đàn áp Cuộc khởi nghĩa thất bại Sêvơ cùng những người lãnh đạo bị bắt và bị xử tử

Trang 24

Hiến pháp 1787

Năm 5/1789, Đại hội đại biểu các bang được tập hợp ở Philađenphia, đến tháng 9/1787 Hiến pháp mới được thông qua Hiến pháp 1787 có vị trí hết sức quan trọng trong lịch sử nước Mỹ, cho đến nay nó vẫn còn hiệu lực trên những nét lớn

Dưới quyền chủ toạ của oasinhtơn các đại biểu thoả thuận biến nước Mỹ từ một liên bang nhiều quốc gia thành một quốc gia liên bang với quyền tự trị của các bang khá rộng rãi

Nguyên tắc tổ chức chính quyền là sự phân lập 3 quyền Nắm quyền hành pháp, cao nhất là Tổng thống, nhiệm kỳ 4 năm ,bầu cử theo lối gián tiếp qua hai cấp, đại cử tri

là người trực tiếp bầu ra Tổng thống, số lượng cử tri bằng tổng số lượng thượng nghị sĩ

và hạ nghị sĩ

Tổng thống có quyền cao nhất, quyền phủ quyết những vấn đề liên quan đến quyền lập pháp, quyền chỉ huy quân đội, chỉ định bộ máy chính phủ là các bộ trưởng, các quan toà liên bang

Quyền lập pháp thuộc về nghị viện gồm: Thượng viện mỗi tiểu bang có 2 người,

hạ viện do dân bầu , số đại biểu thay đổi theo dân số của các bang Nghị viện hạn chế quyền Tổng thống bằng số phiếu 2/3

Về quyền tư pháp thì thuộc về tòa án tối cao, các luật sư hệ thống bồi thẩm đoàn

do Tổng thống chỉ định, họ giữ nhiệm vụ suốt đời, tòa án có quyền tuyên bố sự mất hiệu lực của các văn bản

Chỉ có nhà giàu mới có quyền bầu cử: phụ nữ, nô lệ và người da đỏ không có quyền công dân

Theo quy định, phải có 9 bang thông qua thì Hiến pháp mới có hiệu lực Tháng 7/1788 Hiến pháp được phê chuẩn và hiệu lực kể từ ngày 4/3/1789 Phong trào quần chúng có kết quả rất đáng kể: 12 điều khoản mới được bổ sung, quy định quyền tự do dân chủ của công dân và quyền tự trị của các địa phương

G.Wasinhtơn được bầu làm Tổng thống Chính quyền mới nằm trong tay tư sản công thương nghiệp miền Bắc và chủ nô miền Nam Với chế độ Tổng thống, nền thống trị của gia cấp tư sản Bắc Mỹ cũng được thiết lập

1.4 Tính chất và ý nghĩa

Cuộc chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa đã giải phóng Bắc Mĩ thoát khỏi

ách thống trị của thực dân Anh và thiết lập một quốc gia độc lập Cuộc chiến tranh còn giải quyết những nhiệm vụ kinh tế, xã hội của một cuộc cách mạng tư sản Nó đã phá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với việc phát triển của sức

sản xuất tư bản chủ nghĩa, đưa giai cấp tư sản liên minh với chủ nô lên nắm chính quyền

Cuộc cách mạng Mỹ là một sự kiện tiến bộ, có ảnh hưởng quốc tế rất lớn Nó không chỉ tấn công vào chủ nghĩa thực dân Anh mà còn giáng những đòn quyết liệt vào chế độ thống trị độc đoán, tàn bạo ở các nước phong kiến quân chủ Châu Âu Thúc đẩy phong trào chống phong kiến ở nhiều nước trước hết là cách mạng Pháp bùng nổ cuối thế

kỷ XVIII và cuộc đấu tranh giành độc lập của các nước Mỹ La tinh cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX

Các Mác đánh giá cao cuộc cách mạng tư sản này Theo Mác, Mỹ là “Nơi đầu tiên sinh ra những tư tưởng về nước cộng hoà dân chủ vĩ đại thống nhất, nơi tuyên bố bản tuyên ngôn đầu tiên về quyền của con người và đem lại sự kích thích đầu tiên với cuộc cách mạng Châu Âu thế kỷ XVIII”

Trang 25

2 Nước Mỹ nửa đầu thế kỷ XIX và cuộc chiến tranh li khai (1861-1865):

2.1 Nước Mỹ nửa đầu thế kỷ XIX

Sau khi giành độc lập, lãnh thổ Hoa Kỳ không ngừng được mở rộng về miền Tây Năm 1849 người Mỹ chưa đặt chân đến bờ Thái Bình Dương với 30 bang, diện tích 4,8 triệu km2 Cùng với quá trình bành trướng về phía Tây, Mỹ đã mưu toan mở rộng ảnh hưởng của mình ở Mỹ Latinh Học thuyết Mônrô ra đời tháng 2/1823 Những năm 1840,

Mỹ tham gia chiến tranh thuộc phiện lần I,II, buộc Trung Quốc kí điều ước Vọng Hạ Năm 1853, Mỹ cử đô đốc Peri chỉ huy 4 chiến hạm uy hiếp buộc Nhật Bản mở cửa

Kinh tế Hoa Kỳ đạt được những bước tiến lớn đưa Hoa Kỳ đứng vào hàng ngũ những nước công nghiệp hàng đầu bấy giờ là Anh-Pháp-Đức

Kinh tế Mỹ phát triển nhanh chóng vì có nhiều yếu tố thuận lợị như thừa hưởng nhiều thành từ cách mạng kỹ thuật của châu Âu, tài nguyên phong phú (phát hiện mỏ vàng ở caliphoócnia năm 1848), tàn dư phong kiến trong chính trị, kinh tế tương đối ít, diện tích đất rộng lớn do chính phủ kiểm soát và nguồn nhân lực có kĩ thuật và cần cù luôn được bổ sung

Bấy giờ, kinh tế phát triển theo hai con đường: miền Bắc vùng Đông bắc phát triển nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa, vùng ruộng đất phía Bắc và Tây Bắc nằm trong tay các trại chủ và nông dân tự do sản xuất phục vụ thị trường công nghiệp ( từ năm 1820

di dân nông nghiệp được mua những mảnh đất từ 80 acrơ đến 160 acrơ và được vay vốn kinh doanh Đến năm 1862 đạo luật cư trú ra đời, làn song di dân ngày càng lớn vì được cấp không những mảnh đất rộng 160 acre Người trại chủ canh tác trên mảnh đất bằng chính sức lao động của mình và gia đình, làm hàng hoá nông phẩm bán ra thị trường Nó tạo nên con đường sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp); miền Nam phát triển kinh tế đồn điền dựa trên sự bóc lột sức lao động của nô lệ

Sự khác biệt về kinh tế của hai miền lẽ ra phải bổ sung cho nhau nhưng không thể

vì miền Bắc ủng hộ chính sách bảo vệ thuế quan, cho phép nền công nghiệp Đông Bắc độc quyền, làm chủ thị trường nội địa, trong lúc đó quyền lợi của miền Nam lại đòi hỏi ngược lại họ đòi tự do mậu dịch Vì lẽ, ở miền Nam, bông là cây trồng chính, chế độ độc canh này đã buộc thị trường miền Nam tìm thị trường bên ngoài, chủ yếu là bán cho các xưởng dệt ở Anh, ngược lại nước này cung cấp hàng công nghiệp, hai bên ràng buộc nhau bởi quy ước về tài chính, điền chủ miền Nam bán hàng trước, được ngân hàng Anh trả tiền sau, với lối sống kiểu quý tộc châu Âu, các điền chủ miền Nam thích tiêu thụ sản phẩm cao cấp của Anh hơn là hàng của Hoa Kỳ

Mâu thuẫn giữa hai bên ngày càng bộc lộ rõ xoay quanh vấn đề ruộng đất vì vào những năm 50 của thế kỷ XIX, kinh tế đồn điền miền Nam lâm vào khủng hoảng: Ấn Độ phát triển làm cho miền Nam mất độc quyền cung cấp bông Đất đai trở nên cằn cỗi, năng suất thấp Chủ nô miền Nam giải quyết việc sa sút này bằng cách tăng cường bóc lột nô

lệ, tranh giành vùng đất tự do ở phía Tây bằng cách giành lấy những vùng đất rộng bao la rồi đưa nô lệ đến khai thác

Điều này cản trở công việc khai thác đất mới của cư dân miền Bắc: trại chủ, công nhân thất nghiệp, dân di cư sang Mĩ sau cách mạng 1848 ở châu Âu Họ muốn thiết lập trang trại, chống lại chủ nô muốn chiếm đất phía Tây, chống lại chủ nô ngăn trở chính phủ trong việc giải quyết vấn đề ruộng đất theo hướng dân chủ (nhà nước bán tới 15 triệu acrơ với giá rất rẻ)

Trang 26

Cuộc chiến tranh li khai còn bắt nguồn từ vấn đề thủ tiêu chế độ nô lệ (toàn bộ kinh tế miền Nam dựa vào sức lao động của nô lệ để tồn tại ) 15 bang miền Nam có 6,25 triệu dân da trắng có đến 3 triệu nô lệ Vấn đề nô lệ đã thực sự ăn sâu vào tìm thức của người dân thường, đánh động đến lương tâm của họ từ cuốn tiểu thuyết “ uncle Tom’s cabin” (1852) của nữ văn sĩ harriet Beecher- Stowe Thành công vang dội của sách cho thấy vấn đề nô lệ đã thực sự trở thành mối quan tâm của toàn xã hội ( cần lưu ý năm

1833 Anh đã huỷ bỏ chế độ nô lệ ở các thuộc địa, Pháp vào năm 1848 và Nga cũng đang chuẩn bị xoá bỏ chế độ nông nô)

2.2 Cuộc chiến tranh li khai (1861-1865)

Giữa thế kỷ XIX, các cuộc nổi dậy của nô lệ ngày càng nhiều, phong trào đấu tranh đòi thủ tiêu chế độ nô lệ lên cao, chủ nô càng ra sức chống lại Nắm chính quyền thông qua Đảng Dân chủ chiếm đa số trong hai viện, chủ nô miền Nam khống chế quyền hành pháp, sử dụng quyền lực để duy trì quyền lợi Năm 1854, Quốc hội cho phép chủ nô được thiết lập chế độ nô lệ ở phía Tây và phía Bắc, vi phạm hiệp định Mitxuri (năm

1820, ra đời quy chế Missouri vạch một đường ranh phân chia ảnh hưởng giữa miền Bắc

và miền Nam là 36030’ Trong vòng nửa đầu thế kỷ XIX, hai bên đạt được sự quân bình Năm 1840, Hoa Kỳ có tất cả 30 bang, 15 bang nô lệ, 15 bang tự do Lúc này, các luồn di

cư ngày càng thêm đông đảo, đổ ào ạt vào vùng đât viễn Tây từ đó nảy sinh nguy cơ mới

là nhiều bang tự do Bang Caliphoócnia Năm 1850, với phần lớn lãnh thổ phần lớn nằm

ở phía Nam vĩ tuyến 36030’ được thu vào liên bang với tư cách là một bang tự do Thương viện, hạ viện có nguy cơ rơi vào vòng ảnh hưởng của miền Bắc) Đạo luật này đưa đến sự xung đột từ năm 1854 đến năm 1858, nội chiến càng tới gần

Năm 1854, Đảng Cộng Hoà ra đời, Đảng là trung tâm thu hút các lực lượng dân chủ Đảng giành được vị thế vững chắc ở Quốc hội trong cuộc bầu cử năm 1856

Ngọn lửa trực tiếp dẫn tới nội chiến là cuộc bầu cử năm 1860 khi Araham Lincôn đắc cử Mất uy thế trong chính quyền, ngày 20/12/1860 bang Carôlina miền Nam tuyên

bố tách khỏi liên bang Đến tháng 2/1861, các bang miền Nam khác cũng tuyên bố li khai Một chính phủ mới ra đời - Các bang liên kết ( Confiderate States of America), bầu đại tá Đêvit làm tổng thống, thành lập quân đội do tướng Robert E Lee chỉ huy, đặt thủ

đô ở Richmơn

Diễn biến:

Ngày 12/04/1861 nội chiến bùng nổ Trong gian đoạn đầu miền Bắc gặp thất bại

về quân sự dù có lực lượng quân đội thường trực chuyên nghiệp, dân số lớn gấp đôi miền Nam Quân miền Nam trang bị thiếu thốn, hàng ngàn lính không giày, lương thực vũ khí thiếu thốn

Tháng 8/1862, quân miền Nam thắng trận Bull Run (Viêginia), vượt sông Potomac tiến ra Bắc nhưng kế hoạch bị lộ, 100.000 quân miền Bắc tiến xuống phía Nam chặn đường tiến công của tướng Lee Ngày 17/9, trận đánh ở Antietam (Maryland) bắt đầu Với quân số chỉ có 18.000 người Lee cố gắng tránh đại bại Cuộc chiến hôm đó làm 26.000 người thiệt mạng Nước Mỹ đang đổ hết máu của mình cho cuộc nội chiến Lee quyết định dẫn quân rút khỏi chiến trường trở về bờ sông Potomác

Miền Nam giành thắng lợi vì cuộc chiến không được tuyên bố là thủ tiêu chế độ

nô lệ mà là sự thống nhất nước Mỹ Miền Bắc chủ trương bao vây miền Nam để miền Nam không mua được vũ khí, không bán được nguyên liệu cho nên cuối cùng phải đầu

Trang 27

hàng Dưới áp lực của quần chúng và sự thất bại trên chiến trường chính phủ Lincôn đã tiến hành một số biện pháp tiến bộ

Tháng 5/1862, Lincôn ký đạo luật về việc cấp các lô đất không trả tiền ở miền Tây cho những người không nổi loạn chống lại sự thống nhất quốc gia Tháng 9/1862, Lincôn tuyên bố giải pháp những người nô lệ da đen, thủ tiêu chế độ nô lệ, thanh trừ phản động trong quân đội và trong chính quyền

Năm 1863, cuộc chiến chuyển sang một giai đoạn mới sau trận Gentibớc Đầu năm 1864, ba cánh quân miền Bắc tràn xuống phía Nam chia cắt mặc trận các bang li khai, quân miền Nam kiệt quệ Lincôn tái đặt cử Tổng thống vào năm 1864, đập tan mọi mưu đồ của chủ nô miền Nam

Ngày 3/4/1865, Richmơn thất thủ Ngày 9/4/1865, tướng Lee tổng chỉ huy quân đội miền Nam đầu hàng tướng Gơran, tướng chỉ huy quân đội miền Bắc cùng với 280

000 quân Cuộc nội chiến kết thúc

Ngày 14/4/1865, trong buổi dạ hội mừng chiến thắng ở Wasinhtơn, Lincôn bị ám sát trên khán đài Nội chiến kết thúc 2 bên hi sinh 60 000 quân, quân đội liên bang giành thắng lợi, hi sinh 36.000 quân

¾ Kết luận:

Sự tồn tại của chế độ nô lệ miền Nam cản trở sự phát triển toàn diện của chủ nghĩa

tư bản Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản miền Bắc và tầng lớp chủ nô miền Nam phản ảnh mâu thuẫn của xã hội đương thời Cuộc nội chiến là nhằm giải quyết mâu thuẫn đó Thắng lợi của giai cấp tư sản miền Bắc, việc thủ tiêu hoàn toàn chế độ nô lệ đã gạt bỏ được cản trở cuối cùng ( con đường phát triển kiểu trang trại tư bản chủ nghĩa giành được thắng lợi vĩnh viễn trong nông nghiệp) trên con đường phát triển tư bản chủ nghĩa của

Mỹ Vì thế cuộc chiến tranh li khai được giới sử học Macxít xem là cuộc cách mạng tư sản lần thứ hai

Cuộc nội chiến này được tiến hành bằng lực lượng tiến bộ của giai cấp tư sản công thương, quần chúng nhân dân lao động và nô lệ Sau nội chiến vấn đề lao động cho nô lệ được giải quyết một cách cụ thể: người nô lệ được cấp đất miền Tây Đây là giải pháp dân chủ và tiến bộ nhưng vấn đề người da đen vẫn chưa được giải quyết một cách triệt

để, nó vẫn còn là một mối quan tâm lớn của xã hội Mỹ trong những tháng năm sau đó Kết quả to lớn của cuộc nội chiến là cuối thế kỷ XIX nước Mỹ vươn lên vị trí hàng đầu các nước tư bản trên thế giới

IV CÁCH MẠNG TƯ SẢN PHÁP CUỐI THẾ KỶ XVIII ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ

KỶ XIX

Trong khoảng 150 năm trên thế giới đã có những biến chuyển to lớn Ở Anh đã diễn

ra cuộc cách mạng công nghiệp và cuộc cánh mạng này đã có ảnh hưởng rất lớn đến lực lượng sản xuất ở châu Âu và Bắc Mỹ Cuộc chiến tranh giành độc lập ở 13 thuộc địa Anh

ở Bắc Mỹ đưa đến sự xuất hiện một quốc gia tư sản - Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Ở Pháp, mức phát triển sản xuất đến trước ngày cách mạng bùng nổ đã vượt xa nước Anh trước

khi cách mạng được tiến hành

Như vậy, cách mạng Pháp xảy ra trong một thời kỳ mà quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thế giới đã phát triển mạnh hơn trước nhiều Tình hình trên cho phép cách mạng

Trang 28

Pháp tiếp tục thừa kế những thành quả của những thắng lợi trước nó, làm cho nó trở thành một cuộc cách mạng tư sản lớn nhất, triệt để nhất so với những cuộc cách mạng tư sản đã diễn ra trong lịch sử Thắng lợi của cuộc cách mạng tư sản Pháp báo hiệu sự toàn thắng của trật tự tư sản đối với trật tự phong kiến không còn bao lâu nữa, xét trên phạm vi toàn thế giới

1 Đại cách mạng Pháp (1789- 1794):

1.1 Nước Pháp trước cách mạng

Tình hình kinh tế:

Nước Pháp trước năm 1789, căn bản vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu Chế

độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ chiếm địa vị thống trị Nông dân phải nộp tô lao dịch cho địa chủ, làm các nghĩa vụ phong kiến, nộp thuế 1/10 cho các giáo hội và các thứ tạp thuế khác cho nhà nước phong kiến 30% rừng rú, đồng cỏ, đầm hồ là thuộc về địa chủ

Một điều đáng chú ý là ở Pháp (đặc biệt là ở miền Đông Bắc), một bộ phận địa chủ bắt chước quý tộc Anh đuổi nông dân ra khỏi ruộng đất, lập các nông trường tư bản chủ nghĩa trên lãnh địa của mình nhưng không đạt hiệu quả Đại bộ phận địa chủ chẳng những giữ phương pháp bóc lột nông dân như cũ, và hơn thế nữa cùng với sự phát triển của mậu dịch và sự tăng lên về nhu cầu nông phẩm, chúng tăng cường bóc lột theo lối phong kiến với mức cao nhất, vơ vét tận cùng số địa tô có thể vơ vét được trên lưng nông dân

Tất cả các tình hình trên đây đã kìm hãm sự phát triển theo chiều hướng tiến bộ trong nông nghiệp, làm cho đời sống nông dân ngày càng thêm xơ xác, mất hứng thú trong sản xuất, là một trong những nguyên nhân ngăn cản sự phát triển công-thương nghiệp tư bản ở Pháp

Thương nghiệp Pháp phát triển mạnh Pháp có quan hệ mậu dịch với phần lớn các nước châu Âu và nguồn lợi chính của Pháp là quan hệ mậu dịch với các nước Trung Đông, châu Phi và quần đảo Ăngti Số lời của công ty Đông Ấn Độ của Pháp thường đạt tới 200% Những hàng buôn chủ yếu là đường, thuốc lá, nô lệ Ngoài ra, tư sản tài chính còn cho nhà nước phong kiến vay trước và sau đó đứng ra thu thuế

Thương nghiệp phát triển thúc đẩy công nghiệp phát triển, trước hết là công nghiệp nhẹ như: nhà máy làm đường, xưởng đóng tàu, xưởng dệt vải hoa… Những công xưởng làm hàng xa xỉ của Pháp nổi tiếng khắp châu Âu như: thủy tinh, pha lê, len dạ, tơ lụa, đồ gỗ… Trong công nghiệp dệt, một số máy móc đã bắt đầu sử dụng trong các nhà máy dệt lớn ở Noócmăngđi và Liông

Ngành công nghiệp nặng (cơ khí và mỏ) cũng bước đầu được cơ khí hóa Mỏ than Ăngdanh ở miền đông Bắc có 12 máy bơm và một số máy hơi nước, số công nhân lên đến 4.000 người Nhà máy cơ khí Lơcơrơdơ có 4 lò cao, nhà máy luyện sắt ở vùng Andatxơ có 800 công nhân

Bên cạnh các công xưởng và các công trường thủ công tập trung ( công ty Andát

sử dụng 4.000 thợ, 12 máy hơi nước) thì những công trường thủ công phân tán cũng còn phổ biến trong toàn quốc ( vùng Ruăng sử dụng 19 vạn thợ kéo sợi làm thủ công trong các gia đình) Khác với nước Anh phường hội lỗi thời ở Pháp có một thế lực lớn Thủ công nghiệp được tổ chức hoàn toàn theo quy định của phường hội như sản lượng, mẫu

mã, quy mô kinh doanh Thuế quan nội địa nhiều tầng nhiều lớp, hệ thống đo lường không thống nhất… gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế, đặc biệt là thương nghiệp

Trang 29

Sự phát triển công thương làm cho bộ mặt thành phố thời trung cổ thay đổi Thủ

đô Pari với 50 vạn dân, nổi tiếng nhất thế giới về sản xuất mĩ phẩm, ngoài ra còn có Ruăng, Havrơ,Liông, Anđát, Loren hải cảng Boocđô, Macxây…

Ở thế kỷ XVII nền công thương nghiệp được hưởng một số ưu tiên nhất định Sang thế kỷ XVIII, tình hình đổi khác, sự phát triển của công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa đã đạt đến mức độ đòi phá vỡ những ràng buộc của chế độ phong kiến Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến và quan hệ trong sản xuất phong kiến lỗi thời là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sụ bùng nổ của cách mạng

Xã hội:

Xã hội phong kiến Pháp chia thành 3 đẳng cấp.Tăng lữ là đẳng cấp thứ nhất, quý tộc là đẳng cấp thứ hai, đẳng cấp thứ ba gồm tư sản, nông dân, dân nghèo thành thị, thợ thủ công, công nhân

Tăng lữ và quý tộc là trụ cột của chế độ phong kiến, chiếm 1% dân số, nắm giữ những chức vụ cao cấp trong bộ máy chính quyền không phải chịu bất cứ thứ thuế nào

Họ chỉ phục vụ nhà vua bằng lời “Cầu nguyện” và “Lưỡi kiếm” Được hưởng chế độ xử

án riêng

Đẳng cấp tăng lữ chia thành hai tầng lớp Tăng lữ cấp cao là những chức sắc quan trọng trong giáo hội và chỉ những người xuất thân là quý tộc mới được làm tăng lữ cấp cao Tăng lữ cấp dưới là cha cố ở thôn xã, đều xuất thân từ thường dân.Tăng lữ cấp cao

có thu nhập cao gấp 240 lần so với tăng lữ cấp dưới Do nguồn gốc xuất thân, bổng lộc ít, tăng lữ cấp dưới dễ dàng thông cảm với nhân dân, hiểu được nguyện vọng của nhân dân

Họ đấu tranh chống lại tăng lữ cấp cao

Tăng lữ Pháp chiếm 1/5 ruộng đất và có quyền chi phối, giám sát đời sống văn hóa và giáo dục Giáo hội có ngân sách riêng, bộ máy riêng, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo hoàng Rôma Do bổng lộc cao, đời sống tăng lữ cấp cao cực kỳ xa hoa, trụy lạc, uy tín của chúng ngày càng giảm sút trong nhân dân

Đẳng cấp quý tộc chiếm 20% ruộng đất toàn quốc Từ lâu quý tộc trở thành một đẳng cấp đóng kín, kiêu hãnh và ăn bám xã hội Không chịu tham gia bất cứ nghề nghiệp

gì vì chúng cho rằng tham gia sản xuất tức là làm mất phẩm chất quý tộc Điều này trái ngược với quí tộc Anh Tình hình trên cho thấy chế độ phong kiến Pháp mang tính chất chuyên chế và hết sức bảo thủ Lợi tức phong kiến không tăng nên từ đầu thế kỷ XVIII trở đi, quý tộc càng bám chặt lấy những quyền lợi phong kiến

Đẳng cấp quý tộc chia thành 3 loại Đại quý tộc còn gọi là quý tộc công khanh, giữ những chức vụ cao cấp trong triều đình, trong giáo hội, trong quân đội Đại quý tộc rất được sủng ái Từ năm 1774, nhà vua đã cho họ một số tiền khổng lồ là 2.500 triệu bạc Pháp

Quý tộc địa phương, sống chủ yếu nhờ bóc lột tô tức Mức sống của họ ngày càng

đi xuống do số địa tô ngày càng cố định mà vật giá ngày càng tăng Vì vậy, chúng ra sức bao chiếm đất công hoặc hạn chế nông dân sử dụng trên những mảnh đất chúng rào lại

Quý tộc “Áo dài” tức quý tộc tư pháp, nắm các tòa án và các chức vị hành chính quan trọng, ngày càng có thế lực trong chế độ phong kiến

Nhìn chung quý tộc, tăng lữ Pháp là một lớp người ăn bám, vơ vét nguồn tài nguyên quốc gia và yêu cầu hưởng thụ điên cuồng, bảo thủ và rất phản động

Đẳng cấp thứ ba chiếm 99% dân số, do tư sản đứng đầu Tư sản cũng chia thành

ba tầng lớp khác nhau

Trang 30

- Tư sản tài chính phục vụ chủ yếu cho bộ máy nhà nước Họ là những chủ

ngân hàng của nhà nước, người thầu thuế của vương quyền… Quyền lợi của tầng lớp này gắn bó chặt chẽ với chế độ Vì vậy họ chỉ đòi cải tổ chính trị, kinh tế sao cho phù hợp với quyền lợi của họ hơn

- Tư sản công thương là tầng lớp có vai trò rất lớn trong đời sống kinh tế Trong

kinh doanh họ bị chế độ phong kiến kìm hãm, yêu cầu của họ là hủy bỏ chế độ phường hội, sửa đổi quan thuế, cải tổ xã hội Về chính trị, họ muốn hạn chế vương quyền nhưng không muốn đi đến bạo động

Bên cạnh hai tầng lớp nói trên, có một số trí thức xuất thân từ tư sản và tiểu tư sản Nói chung họ là người phát ngôn của giai cấp tư sản Về chính trị họ chủ trương đánh đổ chế độ quân chủ chuyên chế thành lập chế độ Cộng hòa

Tuy chia thành nhiều tầng lớp có quyền lợi khác nhau, nhưng tư sản rất thống nhất trên một quan điểm: chống phong kiến, chống đặt quyền Nhìn chung họ có trình độ văn hóa cao hơn quý tộc, thế lực kinh tế của tư sản rất lớn, nhưng ngược lại quyền lợi chính trị và địa vị xã hội của họ hầu như không có gì Đại diện cho lực lượng sản xuất mới, họ là một giai cấp cách mạng, một giai cấp đang đồng hóa quyền lợi giai cấp với quyền lợi dân tộc và có ý thức về vai trò lãnh đạo toàn dân chống phong kiến

Giai cấp nông dân, chiếm đến 90% dân số nhưng chỉ có chừng 40% ruộng đất, trong đó có 18% nông dân tay trắng Nông dân bị ba tầng áp bức: nộp cho nhà vua các thứ thuế trực thu và gián thu, thuế 1/10 cho giáo hội, nộp cho lãnh chúa các tô thuế và nghĩa vụ Họ còn phải gánh vác các nghĩa vụ công ích: vận tải, xây dựng cầu đường, cung cấp và đài thọ cho binh lính… Tất cả đã làm cho đời sống nông dân vô cùng cơ cực

Trong những năm 70 của thế kỷ XVIII, phong trào nông dân chống chế độ phong kiến lên rất mạnh, chính quyền đã huy động quân đội đàn áp dữ dội, nhưng cũng không sao dập tắt Nông dân trở thành đội quân chủ lực của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống phong kiến

Dân nghèo thành thị, gồm công nhân, tiểu thương, tiểu thủ, thợ thủ công Điều kiện làm việc và sinh hoạt của công nhân, thợ thủ công rất cực khổ Tiểu thương, tiểu chủ

ở thành phố vừa bị thuế của giai cấp phong kiến, vừa bị sự tập trung tư bản đe dọa Họ căm thù chế độ phong kiến và lo sợ trước sự phát triển của chế độ tư hữu lớn, họ là đội quân xung kích của giai cấp tư sản

Trong tình hình kinh tế, xã hội Pháp giữa thế kỷ XVIII, chúng ta thấy có một sự không cân xứng giữa các lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa và quan hệ sản xuất phong kiến, giữa giai cấp quý tộc thống trị và giai cấp tư sản mới nổi lên Cơ cấu phong kiến cổ truyền của Pháp không còn thích hợp với tương quan lực lượng kinh tế và xã hội mới Đó

là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự bùng nổ của cuộc cách mạng tư sản Pháp

Tư tưởng

Đỉnh cao của cách mạng tri thức trong thế kỷ XVII, XVIII là trào lưu tư tưởng khai sáng Những nhà triết học tư sản đề ra mục đích con người là đi tìm hạnh phúc ngay trong đời này Dựa trên những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, con người sẽ chiến thắng được thiên nhiên và làm cho xã hội phát triển , không ngừng Đề cao lý trí, đề cao tự do, chống lại mọi hình thức áp bức của vương quyền và giáo hội Trào lưu tư tưởng này đạt

Trang 31

được những thành tựu rực rỡ nhất ở nước Pháp tiêu biểu nhất là Môngtexkiơ, Vônte, Ruxô…

_ Môngtexkiơ (1689-1755) xuất thân quý tộc áo dài Tác phẩm lớn nhất, nổi tiếng khắp thế giới là cuốn “Tinh thần luật pháp” xuất bản năm 1748, tái bản đến 22 lần và dich ra nhiều thứ tiếng Trong tác phẩm ông đề ra lí luận về tam quyền phân lập để hạn chế quyền hành và đảm bảo cho nền tự do của con người : quyền lập pháp, hành pháp và

tư pháp.Qua việc khảo sát ba hình thái chính phủ ông cho rằng nền quân chủ lập hiến kiểu Anh là hình thức tốt nhất cho nước Pháp

_ Vônte (1684-1778) xuất thân từ một gia đình thị dân ở Pari, con của một trưởng khế Ông được xem là bộ óc bách khoa của thế kỷ Tác phẩn của ông bao gồm nhiều lãnh vực: triết học, văn, thơ, kịch, sử học, vật lí học Trong tác phẩm của mình ông đả phá dữ dội chế độ quân chủ và giáo hội Pháp đồng thời ca ngợi thể chế Anh Khi xem xét sự nghiệp sáng tác của ông nhiều nhà bình luận cho rằng ảnh hưởng to lớn mà Vônte tạo dựng không phải nằm trong một hay vài tác phẩm mà chính là nằm trong tinh thần hoài nghi Bằng cách hành văn đầy ý tưởng đã khiến mọi người đều hiểu rằng: “Hãy hồ nghi tất cả, đừng tin gì cả!” Ông chủ trương quyền tư hữu là cần thiết cho một xã hội có trật

tự và đấu tranh mạnh mẽ cho quyền tự do ngôn luận Ông từng tuyên bố “ Tôi không tán đồng một lời nói nào của anh cả, nhưng tôi sẽ bảo vệ đến cùng quyền được nói của anh”

_ Ruxô (1712-1778) là một người gần gũi với nhân dân hơn cả Đã có thời ông đi lại khắp cácnẻo đường đất nước Pháp, Thuỵ Sĩ và Ý Ông hiểu rất rõ người nông dân sống ra sao và những vấn đề phức tạp mà đất nước phải đối mặt Trong luận văn nổi tiếng

“ Bàn về nguồn gốc bình đẳng của loài người” (1755), Ruxô kịch liệt chỉ trích trật tự phong kiến, hướng tới sự xoá bỏ triệt để chế độ phong kiến Ông xem chế độ tư hữu lớn

là nguyên nhân dẫn đến mọi bất bình đẳng trong xã hội và đề nghị lấy chế độ tư hữu nhỏ Tác phẩm lớn nhất của ông là “Khế ước xã hội” (1762), theo ông khi con người sống quần tụ thành xã hội, con người phải tìm ra một hình thức chung có thể liên kết họ lại với nhau sao cho quyền lợi riêng của họ trong cuộc sống tập thể vẫn được bảo vệ Hình thức liên kết đó gọi là “khế ước xã hội” Cơ sở cho sự ra đời khế ước xã hội là mỗi người phải biết hi sinh một số quyền riêng của mình để thừa nhận một “ý chí chung” _ ý chí chung

đó thể hiện qua một cuộc bầu cử dân chủ sẽ phù hợp với quyền lợi chung của xã hội Đồng thời ông cũng nhấn mạnh rằng ý chí chung đó không thể chuyển nhượng cho một

cá nhân Ông đề cao nhân dân, coi nhân dân là nguồn gốc của chủ quyền quốc gia và chính thể tốt nhất là chính thể cộng hòa

_ Mêliê (1664-1724) là một linh mục sống gần nông dân Mêliê nghiêm khắc tố cáo mọi sự bất công của xã hội phong kiến, sự dối trá và tàn bạo của giáo hội Ông cho rằng phải thủ tiêu chế độ tư hữu, ruộng đất phải là tài sản chung của nông dân

_ Nhóm “Bách khoa toàn thư” do Điđơrô (1713-1784) lãnh đạo, ra đời năm 1749, tập hợp những nhà tư tưởng tiến bộ nhất, những nhà khoa học tiên phong lúc bấy giờ Bộ

“Bách khoa toàn thư” bao gồm rất nhiều ý kiến, quan điểm triết học và chính trị khác nhau trong đó, mặt chính trị là nổi bậc nhất Về mặt chính trị, bộ “Bách khoa toàn thư” tập trung những yêu cầu của tư sản đòi hủy bỏ mọi đẳng quyền phong kiến bất công, đòi quyền tự do chính trị cho nhân dân, trước hết là cho giai cấp tư sản Về kinh tế, nhóm

“Bách khoa toàn thư” đòi hỏi tự do kinh doanh, tư do thông thương với khẩu hiệu nổi tiếng là: “Hãy để làm, hãy để đi”

Trào lưu tư tưởng và quan điểm “Thế kỷ ánh sáng” đã có tác dụng to lớn trong việc chuẩn bị tích cực cho cuộc cách mạng sắp tới, đúng như Ăng-Ghen đánh giá:

Trang 32

“Những vĩ nhân Pháp soi sáng đầu óc mọi người để chuẩn bị cho cuộc cách mạng sắp bùng nổ, chính họ là những người hết sức cách mạng, họ không thừa nhận bất cứ một uy quyền nào bên ngoài Tôn giáo, quan niệm về tự nhiên, xã hội, tổ chức nhà nước, tất cả đều bị phê phán hết sức nghiêm khắc”

1.2 Tiến trình của cách mạng

1.2.1 Cách mạng bùng nổ Nền quân chủ lập hiến ( 1789- 1791)

Chính quyền chuyên chế Pháp bộc lộ sự suy yếu một cách rõ rệt trước hết là sự khủng hoảng về tài chính Do việc Pháp tham gia vào cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ, do sự phung phí vô độ của hoàng gia và triều đình, làm cho số nợ của ngân sách năm1789 lên tới 5 tỷ bạc Pháp Các tổng trưởng tài chính từ Tuyếcgô đến Nếchke lần lượt thay nhau đổ vì không thuyết phục được các đẳng cấp một và hai đóng thuế và

hoàng gia tiết kiệm Sự khủng hoảng về tài chính đã dẫn đến sự khủng hoảng về chính trị

Để giải quyết khủng hoảng tài chính, Lui XVI triệu tập hội nghị Thân hào (gồm hoàng thân, công tước, giám mục lớn…) nhưng không thành công vì số này không chịu hạn chế đặc quyền của mình Lui XVI cũng kêu gọi đến Pháp viện nhưng cũng không thành công Cuối cùng trước đòi hỏi của các tầng lớp nhân dân, Lui XVI buộc phải phục chức Nếchke và triệu tập Hội nghị ba đẳng cấp

Ngày 5/5/1789, Hội nghị ba đẳng cấp khai mạc ở cung điện Vecxây, gồm 396 đại biểu tăng lữ, 282 đại biểu quý tộc và 611 đại biểu đẳng cấp thứ ba Trong diễn văn khai mạc, Lui XVI không nói gì đến thể thức bỏ phiếu, không đề cập đến tình hình trong nước, mà chỉ yêu cầu giải quyết về vấn đề tài chính, tức là đòi nhân dân phải đóng góp nhiều hơn

Hơn một tháng, Hội nghị ba đẳng cấp không đạt đến một tiến triển nào Được sự ủng hộ của quần chúng, ngày 17/6/1789, các đại biểu đẳng cấp thứ ba, nhân danh 96% dân tộc, tự họp thành quốc hội, tuyên bố tự xem mình là quốc hội lập hiến có quyền soạn thảo hiến pháp

Để đối phó với lực lượng cách mạng, từ cuối tháng 6/1789, Lui XVI cho tập trung hơn 2 vạn quân đội về Pari Tiến thêm một bước nữa, ngày 11/7/1789, Lui XVI cách chức Nếchke Khi những tin tức nói trên lan ra, quần chúng nhân dân Pari đã nổi dậy, nhiều diễn giả tư sản hô hào quần chúng cầm vũ khí Ngày 14/7/1789, khi nghe tin đại bác của pháo đài Baxti chuẩn bị bắn vào thủ đô, gần 300.000 người chủ yếu là công nhân, thợ thủ công kéo đến bao vây Pháo đài Baxti lọt vào tay quần chúng cách mạng sau 4 giờ chiến đấu

Pháo đài Baxti là hiện thân của chế độ bạo ngược, chế độ chuyên chế, do đó, việc pháo đài Baxti bị hạ ngày 14/7/1789, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ phong kiến đồng thời nó cũng là sự mở đầu cho chế độ tự do Ngày 14/7/1789, về sau chọn làm ngày quốc khánh của nước Pháp

Nền Quân chủ lập hiến:

Sự kiện ngày 14/7 ở Pari đã kéo theo cuộc “Cách mạng đô thị” ở các thành phố và

phong trào nổi dậy ở nông thôn Chính quyền mới thành lập nằm trong tay Đại tư sản tài

chính gọi là phái Lập hiến Họ kéo đến các lâu đài đòi quý tộc đưa cho họ những văn bản

ghi quyền lợi phong kiến và đem đốt ở những nơi công cộng Để xoa dịu sự đấu tranh của nông dân, đêm 4/8/1789 quốc hội lập hiến tuyên bố xoá bỏ một số nghĩa vụ của nông dân

Trang 33

nhưng vẫn duy trì những đặc quyền cơ bản của phong kiến Sau đó, quốc hội tịch thu ruộng đất của giáo hội đem bán cho nông dân với giá cao

Ngày 26/8/17889, quốc hội thông qua bản “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” với khẩu hiệu nổi tiếng: “Tự do, bình đẳng, bác ái”, khẳng định mọi người sinh ra đều được tự do, bình đẳng, có quyền tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và quyền tư hữu là quyền bất khả xâm phạm và thiêng liêng

Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền là một thành tựu vĩ đại của cách mạng Pháp Nó đặt cơ sở cho nền dân chủ tư sản và ảnh hưởng sâu sắc đối với các phong trào

tự do và dân quyền từ đó về sau

Tháng 9/1791, Quốc hội lập hiến thông qua hiến pháp Hiến pháp xác lập nền chuyên chính tư sản, dưới hình thức chế độ quân chủ lập hiến Nhà vua trên danh nghĩa đứng đầu nhà nước, song mọi quyền hành tập trung vào quốc hội Hiến pháp chia công dân ra làm hai loại: “Công dân tích cực” có quyền bầu cử, ứng cử và được làm quan chức Đại đa số nhân dân lao đông thuộc “Công dân tiêu cực” không có quyền chính trị Phụ nữ không có quyền bầu cử Quốc hội còn ban hành đạo luật Lơsapaliê cấm công nhân bãi công

Tới ngày 30/9/1791, quốc hội lập hiến tuyên bố tự giải tán, nhường chỗ cho quốc hội lập pháp vừa được bầu theo quy định của hiến pháp năm 1791

Tình hình nước Pháp vẫn rất căng thẳng, các thế lực phản cách mạng hoạt động mạnh Quý tộc di cư hàng loạt để tìm ngoại viện chống cách mạng Quý tộc, tăng lữ xúi giục nhân dân (chủ yếu là nông dân mộ đạo) nổi dậy chống chính quyền Giữa năm 1791, nhà vua cùng vợ con trốn ra nước ngoài, nhưng bại lộ bị bắt phải trở về Pari Hai nước phong kiến Áo, Phổ liên minh với nhau, chuẩn bị đem quân Pháp vào để đàn áp cách mạng Sau lưng Áo, Phổ cả châu Âu phong kiến tập hợp nhau chống nước Pháp cách mạng

1.2.2 Tư sản công thương cầm quyền.Nền cộng hòa thành lập (1792 đến 5/1793)

Đầu năm 1792, Áo-Phổ thông qua một kế hoạch tấn công Pháp Quốc hội lập pháp tuyên chiến với Áo (20/4/1792) Chiến tranh nổ ra giữa nước Pháp cách mạng và liên minh phong kiến châu Âu Lúc đầu, Pháp liên tiếp thua trận, vì tướng lĩnh và sĩ quan (phần lớn là quý tộc) không kiên quyết chiến đấu, vì nội phản (hoàng hậu Mari Ăng-toa-nét đã chuyển kế hoạch tác chiến cho địch)

Trước nguy cơ, tháng 7/1792 quốc hội tuyên bố “Tổ quốc lâm nguy” Hàng vạn nhân dân Pari tòng quân, quân tình nguyện các đại phương kéo về bảo vệ thủ đô, hát vang bài Mácxâye

Ngày 10/8/1792, không khí cách mạng bao trùm khắp Pari Các công xã cách mạng được thành lập, nắm toàn bộ chính quyền trong thành phố Nhân dân Pari được sự

hỗ trợ của các địa phương tấn công cung vua, bắt giam vua và hoàng hậu

Cuộc khởi nghĩa ngày 10/8/1792 chấm dứt giai đoạn thứ nhất của Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII – Giai đọan cầm quyền của đại tư sản Pháp Chính quyền chuyển tay tư bản công thươg nghiệp thuộc phái Girôngdanh

Nhân dân Pháp hăng hái chống giặc ngoại xâm Ngày 20/9/1792, quân đội Pháp đánh thắng quân xâm lược Áo-Phổ ở cao điểm Vanmi (thuộc Đông Bắc nước Pháp, gần biên giới Bỉ) Từ đó quân Pháp chuyển sang phản công, đuổi quân địch ra khỏi biên giới

và trên đường truy kích quân cách mạng Pháp chiếm luôn Bỉ và vùng tả ngạn sông Ranh

Trang 34

Ngày 21/9/1792, một quốc hội mới được bầu ra theo chế độ phổ thông đầu phiếu (công dân từ 21 tuổi trở lên được quyền bầu cử không theo mức thuế) Quốc hội mới, gọi là Quốc ước, quyết định thủ tiêu chế độ quân chủ và thành lập nền Cộng hòa đầu tiên của nước Pháp Ngày21/1/1793, vua Lui XVI bị kết án phản quốc và xử tử hình Ít lâu sau hoàng hậu cũng bị đưa lên đoạn đầu đài Cách mạng Pháp bước vào giai đoạn thứ hai – giai đoạn Cộng hòa

Đầu năm 1793, nước Pháp đứng trước những thử thách nặng nề Bên trong bọn phản cách mạng nổi loạn, đời sống nhân dân sa sút do nạn đầu cơ tích trữ và chiến tranh kéo dài Nông dân ở Văngđê và cả miền Tây Bắc bị bọn phản động xúi giục nổi loạn chống chính quyền cách mạng Nước Anh tư sản tham gia liên minh với các nước phong kiến châu Âu chống lại nước Pháp cách mạng Phái Girôngđanh cầm quyền tỏ ra bất lực trong việc chống nội phản và ngoại xâm

1.2.3 Nền chuyên chính dân chủ cách mạng Giacôbanh Đỉnh cao của cách mạng

Ngày 31/5/1793, đường phố Pari lại tràn ngập quần chúng cách mạng Họ đấu tranh đòi bắt và xét xử những người Girôngđanh cầm quyền phản bội tổ quốc, ngăn cản

sự phát triển của cách mạng (đầu hàng quân địch ở nhiều nơi, tàn sát hàng chục hội viên Giacôbanh, truy nã phái Điên dại…) Ngày 2/6/1793, hàng vạn quần chúng, dân quân vũ trang bao vậy Quốc ước 22 người cầm quyền Girôngđanh bị bắt giam, chính quyền cách mạng chuyển tay qua những người thuộc phái Giacôbanh, do Rôbexpie đứng đầu

Lúc phái Giacôbanh lên cầm quyền, cách mạng Pháp đứng trước một tình hình khó khăn nhất kể từ trước tới nay Quân đội Pháp tiếp tục thất bại Quân đồng minh phong kiến vượt qua biên giới tràn vào đất nước Quân Anh bao vây các hải cảng, xâm chiếm đảo Coóxơ Bọn phiến loạn chiếm 60/83 quận Tuy vậy, họ đã đạt được mục đích bảo vệ tổ quốc, bảo vệ cách mạng bằng cách tổ chức một chính quyền tập trung cao độ và dựa vào lực lượng quần chúng cách mạng

Những đạo luật trong tháng 6/1793 quy định trả lại cho nhân dân ruộng đất công

đã bị phong kiến, quý tộc chiếm đoạt trước đây Chia đất tịch thu của quý tộc, bán từng lô nhỏ, trả trong thời hạn 10 năm để nông dân nghèo có thể mua được Các đặt quyền phong kiến bị xóa bỏ hoàn toàn Những đội vũ trang được đưa về các tỉnh, trưng thu lúa mì của quý tộc địa chủ và phú nông, để giải quyết nạn thiếu bánh mì ở thành thị, đặc biệt là ở thủ

đô Pari

Cũng trong tháng 6/1793, một hiến pháp mới được Quốc ước thông qua Hiến pháp quy định chính thể Pháp là chính thể Cộng hòa, tuyên bố quyền bầu cử cho mọi công dân nam từ 21 tuổi trở lên, xóa bỏ hoàn toàn sự bất bình đẳng về đẳng cấp Hiến pháp năm 1973 khẳng định chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân

Để bảo vệ cách mạng, chống thù trong giặc ngoài, Ủy ban cứu quốc (thành lập trước khởi nghĩa) được cải tổ, do Rôbexpie trực tiếp lãnh đạo và thi hành những biện pháp kiên quyết Ngày 23/8/1793, theo đề nghị của Ủy ban cứu quốc, Quốc ước thông qua sắc lệnh “Tổng động viên toàn quốc” Đến đầu năm 1794, nước Cộng hòa Pháp đã có

14 đạo quân đước trang bị tốt, do những viên tướng trẻ trưởng thành trong cách mạng chỉ huy Quốc ước còn thông qua “Đạo luật xét xử những người tình nghi”, “Luật giá tối đa” (quy định bán giá tối đa cho những nhu yếu phẩm)quy định mức tiền lương tối đa của công nhân Những chính sách kiên quyết của chính quyền cách mạng đáp ứng lòng mong muốn của những người lao động bình dân lớp dưới thế lực của cách mạng được củng cố

Trang 35

Tháng 12/1793, quân địch ở khắp nơi đều bị đánh bật ra khỏi biên giới Pháp Cảng Tulông được giải phóng ra khỏi tay quân Anh và ngày 19/12/1793 Các cuộc bạo loạn ở trong nước đều bị dập tắt Quyền lực của quốc ước được khôi phục trong hầu hết các quận trong nước Cách mạng Pháp đã đạt đến đỉnh cao của nó trong thời kỳ chuyên chính dân chủ cách mạng Giacôbanh

1.2.4 Thời kỳ thoái trào Tính chất và ý nghĩa của cách mạng Pháp cuối thế kỷ XVIII

Cuộc đảo chính ngày 9-Técmino (Tháng nóng)

Khi cuộc đấu tranh chống thù trong giặc ngoài giành được thắng lợi, những mâu thuẩn vốn âm ỉ trong các lực lượng xã hội bộc lộ ngày càng gay gắt, khối đoàn kết chung quanh chính phủ suy yếu và đi đến tan vỡ:

Rôbexpie và những đồng chí của ông mong muốn giải quyết triệt để những nhiệm

vụ của cuộc cách mạng tư sản Trên thực tế, chính quyền không thực hiện được kế hoạch

về ruộng đất đề ra, chỉ tịch thu ruộng đất của quý tộc lưu vong, phản cách mạng Quyền

sở hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến vẫn được giữ nguyên đối với những kẻ tuyên bố ủng hộ chính quyền cách mạng Mâu thuẫn trong nội bộ của phái Giacôbanh và giữa họ với nhân dân nảy sinh Nông dân, được chia ruộng đất, đấu tranh chống việc trưng thu lương thực, công nhân, được hưởng quy định tiền lương tối đa, đấu tranh chống luật cấm lập hội và bãi công Giai cấp tư sản, trước hết là đại tư sản, những người giàu lên trong cách mạng, muốn tự do kinh doanh đòi chấm dứt khủng bố, bãi bỏ giá tối đa

Mất sự ủng hộ của quần chúng, phái Giacôbanh đứng trước nguy cơ bị lật đổ Cầm đầu âm mưu lật đổ là tầng lớp tư sản chống nền chuyên chính cách mạng Giacôbanh Ngày 9-Técmino, khi Rôbexpie xuất hiện ở Quốc ước, những đại diện của tư sản phản cách mạng vũ trang bao vây, bắt ông và các đồng chí của ông Hôm sau, Rôbexpie và những đồng chí của ông bị hành hình Nền chuyên chính Giacôbanh bị lật

đổ, đánh dấu sự thoái trào của cách mạng

Ý nghĩa và tính chất lịch sử của cách mạng tư sản Pháp:

Cách mạng tư sản Pháp đã đập đổ chế độ phong kiến, quét sạch tàn dư lạc hậu của thời trung cổ, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển ở Pháp và trên lục địa châu Âu

So với cách mạng tư sản Anh thế kỷ XVII thì cách mạng tư sản Pháp triệt để hơn nhiều Điểm nổi bật nhất trong cách mạng tư sản Pháp là quần chúng nhân dân đã tham gia một cách rất tích cực và trong chừng mực nhất định cách mạng đã đem lại ruộng đất cho nông dân, làm thỏa mãn phần nào những yêu cầu cơ bản của quần chúng nhân dân thành thị

Thắng lợi của cách mạng tư sản Pháp đã góp một phần rất lớn trong việc truyền

bá tư tưởng dân chủ tư sản, khuấy động được tinh thần phản kháng của nhân dân các nước châu Âu đứng lên chống lại vương quyền

Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử thế giới suốt thế kỷ XIX Nó thức tỉnh lực lượng dân chủ tiến bộ đứng lên chống chế độ phong kiến, chế độ thực dân Lênin cho rằng: “Người ta gọi đó là cuộc đại cách mạng thật là xứng đáng, nó đã làm bao nhiêu việc cho giai cấp của nó, giai cấp mà nó phục vụ, gia cấp tư sản, đến nổi trọn thế kỷ XIX, thế kỷ đem lại văn minh và văn hóa cho toàn thể nhân loại đã trôi qua dưới dấu hiệu của cách mạng Pháp”

Trang 36

2 Nước Pháp từ năm 1794-1830:

1.1 Quốc ước Técmino và Chế độ Đốc chính (1794-1799)

Sau khi lật đổ phái Giacôbanh, tầng lớp tư sản Técmino nắm lấy chính quyền, tìm mọi cách xóa bỏ tận gốc nền chuyên chính Giacôbanh Sự phản động về mặt chính trị được thể hiện trong việc thanh trừng các ủy ban, cải cách tòa án cách mạng, trấn áp những tổ chức Giacôbanh và của quần chúng

Trên lĩnh vực kinh tế, luật giá tối đa và những biện pháp xã hội khác có lợi cho dân nghèo bị xóa bỏ Đời sống nhân dân ngày càng khốn khổ hơn vì thiếu bánh mì, và giá

cả ngày càng đắt đỏ Mùa xuân năm 1795, nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân nổ ra ở Pari chiếm được Quốc ước nhưng cuối cùng thất bại Ngày 20/5/1795, đông đảo quần chúng nhân dân trong đó có nhiều phụ nữ, tràn vào trụ sở Quốc ước đòi: “Bánh mì và hiến pháp 1793” Tầng lớp tư sản cầm quyền đã khủng bố tàn khốc nhân dân ( mấy chục

án tử hình, 1.200 người bị bắt, 1.700 người bị tước khí giới) Trong lúc đó, phái bảo hoàng, gồm những người chủ trương phục hồi chế độ quân chủ cũng ngóc đầu dậy Tháng 6,7,10/1795, những cuộc nổi loạn vũ trang của phái bảo hoàng nổ ra ở Pari và bị dập tắt ngay Bọn phản cách mạng bị đem ra bắn ngay trên chiến trường Muốn đàn áp tất

cả những cuộc nổi dậy này, tư sản Técmino phải nhờ đến tướng Napôlêông Bônapác

Trong khi tư sản Técmino đi từ diệt tả đến dập hữu như vậy, thì do những thành quả cách mạng trước đây, quân đội Pháp tiếp tục giành được chiến thắng Các nước tham chiến, trừ Áo lần lượt ký hòa ước với Pháp

Ngày 26/10/1795, Quốc ước Técmino tuyên bố tự giải tán Tư sản Técmino vẫn tiếp tục cai trị nhưng dưới chế độ Đốc chính theo Hiến pháp năm 1795 Theo chế độ này, quyền lập pháp thuộc hai viện có khả năng hạn chế lẫn nhau: Viện 500 và Viện Những người kỳ cựu Quyền hành pháp ở trong tay một ủy ban gọi là Đốc chính, gồm 5 người

Dưới thời Đốc chính, Pháp tiếp tục theo đuổi chiến tranh chinh phục để củng cố

uy tín bên trong, đồng thời tiến hành mở rộng việc bành trướng xâm lượt Chiến tranh đã thay đổi tính chất: từ chính nghĩa trở nên phi nghĩa, từ cuộc chiến tranh ái quốc trở thành cuộc chiến tranh xâm lược Trên lục địa châu Âu, quân Pháp thu được một số chiến thắng, nhưng cuộc đổ bộ sang đất Anh và cuộc viễn chinh sang Ai Cập không thành công Chiến tranh kéo dài làm cho nước Pháp càng thêm khó khăn, trong lúc đó ở trong nước, quần chúng nhân dân vẫn tiếp tục đấu tranh đòi cơm áo, tự do và bình đẳng, tiêu biểu là “Liên minh của những người bình đẳng” do Bahớp lãnh đạo Mặt khác, phái bảo hoàng vẫn âm mưu nổi loạn

Trước tình hình ấy, giai cấp tư sản Pháp cần phải dựa vào lục lượng vũ trang để trấn áp vừa cả phái hữu lẫn phái tả để giữ vững quyền thống trị, vừa để tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh xâm lược nhằm mở rộng thị trường kinh doanh Giai cấp tư sản ủng

hộ Napôlêông Bônapác một viên tướng trẻ có tài và đầy tham vọng Ngày 18 tháng Bruyme (9/11/1799), Napôlêông làm cuộc đảo chính lật đổ chế độ Đốc chính, quyền lực vào tay một ban Tổng tài lâm thời gồm Napôlêông, Xiâyét va Duycô

Nền Cộng hoà đang chuyển dần thành chế độ độc tài quân sự

2.2 Chế độ Tổng tài và đế chế thứ nhất (1799-1815)

2.2.1 Chế độ Tổng tài và Đế chế

_ Chế độ Tổng tài (1799-1804)

Ngày đăng: 08/03/2021, 14:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w