Tuy nhiªn ®Ó nh÷ng bµi tËp tr¾c nghiÖm ®ã chØ dïng ®Ó kiÓm tra kÕt qu¶ häc tËp cña häc sinh ë mét néi dung trong mét tiÕt häc cô thÓ chø cha xÕp thµnh c¸c ®Ò kiÓm tra kiÕn thøc c¸c em ®·[r]
Trang 1Sở Giáo dục-Đào Tạo
Đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng bài kiểm tra
trắc nghiệm khách quanmôn Toán 4
Môn: Toán Tên tác giả : Lê Thị hồng Bích
Đánh giá của nhà trờng
(Nhận xét ,xếp loại )
Năm học 2005-2006 PHần I: mở đầu
I - Lý do chọn Đề tài
Trong thời đại hiện nay, khi xã hội ngày càng tiến lên, cuộc cách mạng khoahọc công nghệ đang phát triển mạnh mẽ thì nhiệm vụ đặt ra cho nhà trờng nóichung và trờng Tiểu học nói riêng là phải giáo dục con ngời phát triển một cáchtoàn diện, hài hoà đủ các mặt tri thức, đạo đức, thẩm mĩ, thể chất
Tiểu học là bậc học nền tảng đặt nền móng vững chắc cho ngành giáo dục.Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ
Trang 2sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con ngời Việt Nam Trong các môn học ởTiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vai trò vô cùng quan trọng vì:
Toán học là môn học cung cấp các kiến thức cơ bản, hệ thống tri thức, kĩnăng, kĩ xảo Toán học, qua đó phát triển t duy lô gíc, bồi dỡng và phát triển nhữngthao tác trí tuệ cần thiết để nhận thức thế giới khách quan về mặt số lợng và hìnhdạng nh trừu tợng hoá, khái quát hoá, phân tích tổng hợp nhờ đó biết cách hoạt
động có hiệu quả trong cuộc sống
Thực tế hiện nay, khoa học kỹ thuật tiến bộ mạnh mẽ, trẻ em đợc tiếp cận trithức qua nhiều kênh, nhiều nguồn khác nhau nh thông tin đại chúng, thông quatruyền hình Trẻ em sớm phát triển về t duy Khối lợng tri thức của trẻ em ngàymột gia tăng, nhận thức của các em ngày càng mở rộng Trẻ em phát triển nhanhhơn có khả năng nhận thức tốt hơn Vì thế dạy học không chỉ trang bị những kiếnthức kỹ năng kỹ xảo xác định mà cũng cùng với việc dạy học đó cần phải tổ chức
nh thế nào để đảm bảo dạy học rèn t duy cho học sinh
Cựu Thủ Tớng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần nhấn mạnh: "Chơng trình sách giáo khoa phải đảm bảo dạy cho học sinh những nguyên lý cơ bản, toàn diện về các mặt đức dục, trí dục, mỹ dục Đồng thời tạo cho các em điều kiện phát triển óc thông minh, khả năng độc lập sáng tạo Cái quan trọng của trí dục là: Rèn luyện
óc thông minh và sức suy nghĩ (Phạm Văn Đồng - Đào tạo thế hệ trẻ của dân tộc
thành những chiến sỹ cách mạng dũng cảm, thông minh sáng 1996tr137)
tạo-NXBGD-Môn toán có vai trò lớn trong việc rèn luyện phơng pháp suy nghĩ, phơngpháp suy luận, phơng pháp giải quyết có vấn đề có căn cứ khoa học, linh hoạt, sángtạo Môn Toán còn góp phần hình thành và phát triển phẩm chất của ngời học sinh
nh kiên trì, nhẫn nại, cẩn thận, ý thức vợt khó khăn làm việc một cách khoa học có
hệ thống Đồng thời nó cũng là công cụ để giúp học sinh học tập các bộ môn khác
và cần thiết cho mọi hoạt động trong cuộc sống, trong thực tiễn
Xuất phát từ nhiệm vụ cơ bản của dạy học Toán trong trờng phổ thông làlàm cho học sinh nắm đợc hệ thống kiến thức toán học phổ thông cơ bản, hiện đại
và những kỹ năng cơ bản vận dụng kiến thức thực hành Trên cơ sở đó phát triểnnăng lực nhận thức, t duy độc lập sáng tạo , xây dựng những quan điểm t tởng tìnhcảm đúng đắn có thái độ đúng đắn đối với sự vật hiện tợng trong đời sống thực tiễn.Bậc Tiểu học là bậc học đầu tiên đặt nền móng đầu tiên cho giáo dục phổ thông
Trong luật phổ cập giáo dục Tiểu học có ghi: "Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm
đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách cho ngời Việt Nam XHCN".
Trang 3Hội nghị quốc tế về giáo dục phổ thông họp ở Maxcơva năm 1968 đã có kếtluận rằng: Nếu đứa trẻ không đạt kết quả tốt ở Tiểu học thì chắc chắn nó cũngkhông tiến bộ đợc trong những năm sau.
Với một vị trí quan trọng của môn toán nh vậy nên mỗi giáo viên trong côngtác giảng dạy của mình đều rất chú trọng tới việc tổ chức dạy và học môn toán, nh-
ng dạy nh thế nào để tiết dạy, bài dạy đảm bảo đúng tinh thần: “nhẹ nhàng hơn, tựnhiên hơn và hiệu quả hơn” Đó là sự đổi mới phơng pháp dạy học Nh chúng ta đãbiết: “ Phơng pháp là con đờng, là biện pháp, cách thức thực hiện mục đích đã đềra” và phơng pháp chính là sự vận động của nội dung, có nghĩa là: Nội dung dạyhọc nào sẽ ứng với phơng pháp dạy học ấy
Môn Toán ở bậc Tiểu học, mỗi lớp có một vị trí, yêu cầu và nhiệm vụ cụ thểkhác nhau Riêng môn Toán lớp 4 mới có một vị trí quan trọng vì nó hệ thống, kháiquát lại nội dung môn Toán ở các lớp 1, 2, 3 đồng thời nâng cao mở rộng và bổsung các kiến thức khác cha có ở các lớp dới Môn toán lớp 4 mở đầu cho giai đoạnhọc tập sâu
Nội dung Toán 4 gồm 4 mạch kiến thức cơ bản: Số học ; Đại lợng và đo đạilợng ; các yếu tố hình học và giải toán có lời văn.(Một số yếu tố đại số và yếu tốthống kê đợc tích hợp ở nội dung số học) Trong 4 mạch kiến thức cơ bản của Toán
4, mạch số học đóng vai trò trọng tâm, cốt lõi, thời lợng dành cho mạch nội dung
số học khoảng 70% tổng thời lợng Toán 4 Trong hệ thống kiến thức về số học thìnội dung về số tự nhiên lại là hạt nhân của mạch kiến thức số học
Mặt khác, bớc sang thế kỷ 21, nớc ta tiếp tục thực hiện chiến lợc đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành nớccông nghiệp hiện đại Tình hình mới đặt ra cho giáo dục những thời cơ và tháchthức mới Việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung, bao cấp sang nền kinh tếthị trờng định hớng XHCN đòi hỏi con ngời đợc nhà trờng đào tạo phải có năng lựcthích ứng với những biến động của thị trờng, biết khai thác các yếu tố tích cực củaviệc chuyển đổi này để tiếp tục tự phát triển và góp phần phát triển xã hội
Khoa học công nghệ có những bớc nhảy vọt đòi hỏi ngời học phải thờngxuyên cập nhật các tiến bộ khoa học kỹ thuật , phải thay đổi căn bản phơng pháphọc tập, chuyển từ việc học để tiếp thu kiến thức sang học cách tự mình tìm kiếmkiến thức
Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế là xu thế khách quan đang tác động mạnh
đến giáo dục.Để chủ động bớc vào hội nhập, chúng ta cần chuẩn bị đội ngũ nhânlực không chỉ có đạo đức, kiến thức, kỹ năng mà còn phải t duy độc lập sáng tạo,
có ý chí vơn lên mạnh mẽ, có những phẩm chất cơ bản của con ngời Việt Nam hiện
đại
Trang 4Nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân, xu hớng học tập suốt đời vàyêu cầu xây dựng xã hội học tập đòi hỏi giáo dục phải tạo cho ngời học lòng say
mê học tập, ham hiểu biết óc tò mò khoa học, khả năng và phơng pháp tự học để tựhọc suốt đời
Các môn học trong nhà trờng trong đó có môn Toán cần phải có những đổimới về mục tiêu, nội dung, phơng pháp và hình thức dạy học, đổi mới về trang thiết
bị dạy học và kiểm tra đánh giá để đáp ứng tốt nhất những yêu cầu nêu trên của sựnghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc, để nắm lấy thời cơ và vợt quathách thức do tình hình mới đặt ra
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới về mục tiêu cấp học nêu trong luật giáo dục(1998) chơng trình Toán không quá coi trọng tính cấu trúc, hạn chế đa vào chơngtrình những kết quả có ý nghĩa lý thuyết thuần tuý Tăng tính thực tiễn và tính sphạm, tạo điều kiện để học sinh đợc tăng cờng luyện tập, thực hành, rèn luyện kĩnăng tính toán vận dụng kiến thức toán học vào đời sống và vào các môn học khác.Giúp học sinh phát triển t duy lôgic, khả năng diễn đạt chính xác ý tởng của mình,khả năng tởng tợng và bớc đầu hình thành cảm xúc thẩm mỹ qua học tập mônToán
Xuất phát từ những yêu cầu đổi mới và những cơ sở lý luận trên và qua thực
tế trực tiếp giảng dạy tôi nhận thấy từ khi tiếp cận với chơng trình - SGK Toán mớithì việc đánh giá học sinh có nhiều đổi mới Mặc dù ở các lớp 1, 2,3 các em đã đ ợc
đánh giá kết quả học tập dới dạng trắc nghiệm khách quan nhng thờng các em cònlúng túng và còn mất nhiều thời gian để hoàn thành bài trắc nghiệm Mà việc đacác bài trắc nghiệm khách quan vào đề kiểm tra lại chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 60%)
Để đánh giá đúng trình độ của học sinh và giúp học sinh rèn t duy học Toán, tôi đã
chọn Kinh nghiệm nghiên cứu:
"đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng bài kiểm tra
trắc nghiệm khách quan môn toán lớp 4 "
II -Lịch sử nghiên cứu
Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh Tiểu học hiện nay nói chung, họcsinh lớp 4 nói riêng đã đợc ngành GDĐT đặc biệt quan tâm Có rất nhiều tài liệu racác bài tập trắc nghiệm Tuy nhiên để những bài tập trắc nghiệm đó chỉ dùng đểkiểm tra kết quả học tập của học sinh ở một nội dung trong một tiết học cụ thể chứcha xếp thành các đề kiểm tra kiến thức các em đã học một cách hệ thống và charèn cho các em t duy học toán từ các đề kiểm tra kiến thức đó Trớc đây để đánhgiá kết quả học tập của học sinh thì đề bài thờng ra các câu hỏi tự luận Để giải đ-
ợc học sinh mất rất nhiều thời gian (cùng một thời gian 40’ học sinh chỉ có thể làm
Trang 5đợc 4 -5 bài) mà số lợng bài ít không thể đánh giá đợc việc học của học sinh quanhiều nội dung kiến thức khác nhau Hơn nữa học sinh còn có thể chép bài của bạnhay đa vào bài mẫu lại không phát huy hết sự nhạy bén của học sinh.
III -Mục đích nghiên cứu
- Mục đích của của kinh nghiệm là: Tìm hiểu thế nào là trắc nghiệm kháchquan?
+ Nguyên tắc và cách thiết kế đề toán trắc nghiệm khách quan + Xây dựng hệ thống đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan và việc rèncho học sinh cách làm các làm các đề kiểm tra trắc nghiệm đó để nâng cao chất l-ợng dạy học
IV-Tóm tắt nội dung và kết quả nghiên cứu
- Tìm hiểu về nội dung, chơng trình SGK toán 4
- Tìm hiểu một số vấn đề về trắc nghiệm khách quan
- Tìm hiểu về các loại trắc nghiệm
- Nghiên cứu cách thiết kế bài toán trắc nghiệm khách quan
- Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm
- Đề xuất phơng án giúp học sinh giải các bài trắc nghiệm khách quan
V-Phơng Pháp nghiên cứu
Để thực hiện kinh nghiệm tôi đã sử dụng phơng pháp:
- Phơng pháp nghiên cứu lý luận
Vậy làm thế nào để học sinh biết cách làm bài, làm thế nào để đề thi đánhgiá đợc đúng thực chất, chất lợng học của học sinh, chất lợng dạy của giáo viên?Muốn vậy thì đề thi đòi hỏi t duy tìm tòi sáng tạo của học sinh mà không cho phépchép bài của bạn, chép bài mẫu lại làm thế nào để phát hiện học sinh giỏi để bồi d-ỡng nhân tài cho đất nớc khi mà trớc đây để phân hoá học sinh chúng ta thờng ra
Trang 6một câu khó trong đề kiểm tra chính vì vậy mà báo chí, các phơng tiện thông tin
đại chúng đã “rùm beng” việc dạy thêm học thêm của ngành giáo dục ta Làm thếnào để phân hoá đợc giữa học sinh khá và học sinh giỏi mà không phải dạy thêmhọc thêm nh hiện nay?
Đây là một câu hỏi lớn không phải ngày một ngày hai ngành giáo dục có thể
có câu trả lời thấu đáo đợc và tất nhiên đã, đang và sẽ có nhiều chuyên gia giáo dụcnghiên cứu vấn đề này
Từ năm 2002 - 2003 cả nớc ta bắt đầu thực hiện chơng trình Tiểu học mới.Việc thực hiện này đòi hỏi chúng ta phải đổi mới đồng bộ cả nội dung dạy học,phơng pháp dạy học và cách kiểm tra đánh giá Trong đó đổi mới phơng pháp kiểmtra đánh giá là khâu rất quan trọng
Trớc đây chúng ta thờng cho học sinh các đề toán, các đề kiểm tra, các đề thitheo kiểu tự luận Cách ra đề thi theo kiểu tự luận tuy có nhiều u điểm, nhng cũng
Để khắc phục đợc các nhợc điểm trên, từ lâu trên thế giới, ngời ta đã áp dụngrộng rãi lối ra đề toán theo kiểu trắc nghiệm khách quan, trong đó học sinh phải tựlựa chọn phơng án đúng trong nhiều phơng án đã cho
Hiện nay nhiều giáo viên Tiểu học có mong muốn đổi mới phơng pháp kiểmtra đánh giá theo hớng này để tiếp cận với giải pháp hiện đại của khu vực và thếgiới
Trong phạm vi kinh nghiệm này tôi chỉ mạo muội đa ra một cách làm mà đã
đợc tham khảo, đọc qua các tài liệu nhằm giúp học sinh làm quen với bài tập trắcnghiệm ngay từ mỗi tiết học, mỗi mạch kiến thức cơ bản
II Phân tích đặc điểm chủ yếu, mục tiêu, phơng pháp dạy học, mạch kiến thức của chơng trình SGK toán 4 mới.
1 Đặc điểm chủ yếu của toán 4.
1.1 Toán 4 mở đầu cho giai đoạn mới của dạy học toán ở Tiểu học.
Quá trình dạy học toán trong Chơng trình tiểu học đợc chia thành hai giai đoạn:Giai đoạn các lớp 1, 2, 3 và giai đoạn các lớp 4, 5
Trang 7- Giai đoạn các lớp 1, 2, 3 có thể coi là giai đoạn học tập cơ bản vì ở giai đoạnnày HS đợc chuẩn bị những kiến thức, những kỹ năng cơ bản nhất về đếm, đọc,viết, so sánh, sắp thứ tự các số tự nhiên và bốn phép tính về số tự nhiên ( trongphạm vi các số đến 100 000)
về đo lờng với các đơn vị đo và dụng cụ đo thông dụng nhất; về nhận biết, vẽcác hình học đơn giản, thờng gặp; về phát hiện và giải quyết các tình huống có vấn
đề trong học tập và trong đời sống, chủ yếu thông qua giải và trình bày bài giải cácbài toán có lời văn, Đặc biệt, ở giai đoạn này, HS đợc chuẩn bị về phơng pháp tựhọc toán dựa vào các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.Nhờ sự hỗ trợcủa các đồ dùng học toán đơn giản, dễ làm nh: hình vẽ, mô hình, của SGK, họcsinh đợc tập dợt tự pháp hiện, tự giải quyết vấn đề, tự chiếm lĩnh kiến thức mới,kết hợp học cá nhân với hợp tác học nhóm, trong lớp; thực hiện học gắn với thựchành, vận dụng một cách linh hoạt, dới sự tổ chức, hớng dẫn của giáo viên Vớicách chuẩn bị phơng pháp tự học toán nh trên, HS không chỉ biết cách tự học màcòn phát triển ngôn ngữ ( nói, viết) để diễn đạt chính xác, ngắn gọn và đầy đủ cácthông tin, để giao tiếp khi cần thiết; không chỉ bớc đầu phát triển các năng lực t duy( phân tích, tổng hợp, trừu tợng hoá, khái quát hoá đúng mức ) mà còn từng bớchình thành t duy phê phán, biết lựa chọn và tìm cách giải quyết vấn đề một cáchhợp lí
- Giai đoạn các lớp 4, 5 có thể coi là giai đoạn học tập sâu ( so với giai đoạntrớc ) ở các lớp 1, 2, 3, HS chủ yếu chỉ nhận biết các khái niệm ban đầu, đơn giảnqua các ví dụ cụ thể với sự hỗ trợ của các vật thực hoặc mô hình, tranh ảnh, do đóchủ yếu chỉ nhận biết “ cái toàn thể “, “ cái riêng lẻ “, cha làm rõ các mối quan hệ,các tính chất của sự vật, hiện tợng Giai đoạn các lớp 4, 5, HS vẫn học tập các kiếnthức và kĩ năng cơ bản của môn Toán nhng ở mức sâu hơn,khái quát hơn, tờngminh hơn Nhiều nội dung toán học có thể coi là trừu tợng, khái quát đối với họcsinh ở giai đoạn các lớp 1, 2, 3 thì đến các lớp 4, 5 lại trở lên cụ thể, trực quan vàdùng làm chỗ dựa ( cơ sở ) để học các nội dung mới Do đó, tính trừu tợng kháiquát của nội dung môn Toán ở các lớp 4, 5 đợc nâng lên một bậc ( so với các lớp 1,
2, 3 ) HS có thể nhận biết và vận dụng một số tính chất của số, phép tính, hình học
ở dạng khái quát hơn Một trong những đổi mới trong dạy học toán ở giai đoạn cáclớp 4, 5 của CTTH là không quá nhấn mạnh lí thuyết và tính hàn lâm nh trớc mà cốgắng tạo điều kiện để tinh giản nội dung, tăng hoạt động thực hành - vận dụng,tăng chất liệu thực tế trong nội dung, đặc biệt, tiếp tục phát huy dạy học dựa vàohoạt động của học sinh để phát triển năng lực làm việc bằng trí tuệ cá nhân và hợptác trong nhóm với sự hỗ trợ có mức độ của thiết bị học tập
Trang 81.2 Toán 4 bổ sung, tổng kết quá trình dạy học số tự nhiên và chính thức dạy học phân số
- Trong chơng trình môn Toán ở Tiểu học, số học là nội dung trọng tâm, làhạt nhân của toàn bộ quá trình dạy học toán từ lớp 1 đến lớp 5 Các nội dung về đolờng, yếu tố hình học, yếu tố thống kê, giải các bài toán có lời văn đợc tích hợp vớinội dung số học; tức là chúng đợc dạy học dựa vào các nội dung số học và tạo ra sự
hỗ trợ lẫn nhau giữa các nội dung của môn Toán, tạo thành môn Toán thống nhấttrong nhà trờng Tiểu học
- ở học kì I của lớp 4, môn Toán chủ yếu tập trung vào bổ sung, hoàn thiện,tổng kết, hệ thống hoá, khái quát hoá ( dù còn rất đơn giản, ban đầu ) về số tự nhiên
và dãy số tự nhiên, hệ đếm thập phân, bốn phép tính ( cộng, trừ, nhân, chia ) và một
số tính chất của chúng Từ các nội dung này có thể làm nổi rõ dần một số đặc điểmcủa tập hợp số tự nhiên
Gắn bó với quá trình tổng kết số tự nhiên và hệ đếm thập phân là sự bổ sung
và tổng kết thành bảng đơn vị đo khối lợng ( tơng tự nh bảng đơn vị đo độ dài ở lớp
3 ), giới thiệu tơng đối hoàn chỉnh về các đơn vị đo thời gian và tiếp tục giới thiệumột số đơn vị đo diện tích
Nhờ khái quát hoá bằng các công thức chữ ( hoặc khái quát hoá bằng lời )trong số học mà học sinh có điều kiện tự lập một số công thức tính chu vi, tính diệntích của một số hình đã và đang học Một số quan hệ toán học và ứng dụng củachúng trong thực tế cũng đợc giới thiệu gắn với dạy học về biểu đồ, giải toán liênquan đến tìm số trung bình cộng của nhiều số,
Có thể nói, trong CHTH mới, việc dạy học số tự nhiên đợc thực hiện liên tục
từ đầu lớp 1 đến cuối kì I của lớp 4, theo các mức độ từ đơn giản và cụ thể đến kháiquát và trừu tợng hơn Việc dạy học và thực hành, vận dụng số tự nhiên luôn gắn bóvới các đại lợng thờng gặp trong đời sống nh độ dài, khối lợng, thời gian ( khoảngthời gian và thời điểm ), diện tích, ; với các mối quan hệ trong so sánh hoặc tínhtoán thực hiện trên các số, trong quá trình giải quyết các vấn đề gần gũi với đờisống của HS Tiểu học
1.3.Toán 4 kế thừa và phát huy các kết quả của đổi mới PPDH toán và đổi mới cách đánh giá kết quả học tập toán ở các lớp 1, 2, 3
Trang 9- Cả GV và HS đều phải chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong dạy và học;phát triển năng lực học tập toán theo từng đối tợng học sinh; tạo ra môi trờng họctập thân thiện và hợp tác giữa GV và HS, giữa HS và HS; sử dụng hợp lí các thiết bịdạy và học toán theo đặc điểm của giai đoạn các lớp 4 và 5.
- Phối hợp giữa kiểm tra thờng xuyên và định kì, giữa các hình thức kiểm tra( miệng, viết, tự luận và trắc nghiệm khách quan, )
- Thực hiện dạy học và kiểm tra theo chuẩn chơng trình đảm bảo công bằng,trung thực, khách quan, phân loại tích cực trong kiểm tra
2 Mục tiêu dạy học Toán 4 :
a Về số và phép tính :
* Số tự nhiên :
- Nhận biết một số đặc điểm chủ yếu của dãy số tự nhiên
- Biết đọc, viết, so sánh, sắp thứ tự các số tự nhiên
- Biết công, trừ các số tự nhiên; nhân số tự nhiên với số tự nhiên có đến bachữ số ( tích không quá sáu chữ số ); chia số tự nhiên có đến sáu chữ số cho số tựnhiên có đến ba chữ số ( chủ yếu là chia cho số có đến hai chữ số )
- Biết tìm một thành phần cha biết của phép tính khi biết kết quả tính vàthành phần kia
- Biết tính giá trị của biểu thức số có đến ba dấu phép tính ( có hoặc không
có dấu ngoặc ) và biểu thức chứa một, hai, ba, chữ dạng đơn giản
- Biết vận dụng tính chất giao hoán và kết hợp cuả phép cộng và phép nhân,tính chất nhân một tổng với một số để tính bắng cách thuận tiện nhất
- Biết tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính, nhân với 10; 100; 1000; ;chia cho 10; 100; 1000; ; nhân số có hai chữ số với 11
- Nhận biết dấu hiệu chia hết cho 2; 3; 5; 9
* Phân số :
- Bớc đầu nhận biết về phân số ( qua hình ảnh trực quan )
- Biết đọc , viết phân số , tính chất cơ bản của phân số , biết rút gọn , quy đồng mẫu
Trang 10c Yếu tố hình học :
- Nhận biết góc vuông , góc nhọn , góc tù , góc bẹt ; hai đờng thẳng vuông góc , hai
đờng thẳng song song Một số đặc điểm về cạnh , góc của hình chữ nhật, hìnhvuông , hình bình hành , hình thoi
- Biết vẽ đờng cao của hình tam giác , hai đờng thẳng vuông góc , hai đờng thẳngsong song , hình vuông , hình chữ nhật , biết độ dài các cạnh
- Biết tính chu vi , diện tích của hình bình hành , hình thoi
d Về một số yếu tố thống kê và tỷ lệ bản đồ :
- Biết đọc nhận định ( ở mức độ đơn giản ) các số liệu trên biểu đồ
- Biết một số ứng dụng của tỷ lệ bản đồ trong thực tế
e Về giải toán có lời văn :
- Biết tóm tắt bài toán bằng cách ghi ngắn gọn hoặc bằng sơ đồ , hình vẽ
- Biết giải và trình bày bài giải các bài toán có đến 3 bớc tính , trong đó có các bàitoán : Tìm số trung bình cộng ; tìm hai số biết tổng và hiệu của hai số đó ; Tìm hai
số biết tổng và tỷ số của hai số đó ; Tìm hai số biết hiệu và tỷ số của hai số đó ;Tìm phân số của một số
g Phát triển ngôn ngữ , t duy và nhân cách học sinh :
- Phát triển ( ở mức độ thích hợp ) năng lực phân tích , tổng hợp , khái quát hóa , cụthể hoá
- Biết diễn đạt một số nhận xét , quy tắc , tính chất bằng ngôn ngữ nói , viết ởdạng khái quát
- Tiếp tục rèn luyện đức tính : chăm học , tự tin , trung thực , có tinh thần tráchnhiệm
3 Ph ơng pháp dạy học Toán 4 :
Định hớng chung của PPDH Toán 4 là dạy học trên cơ sở tổ chức và hớngdẫn các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Cụ thể là GVphải tổ chức, hớng dẫn cho HS hoạt động học tập với sự trợ giúp đúng mức và đúnglúc của SGK Toán 4 và của các đồ dùng dạy và học toán, để từng học sinh (hoặctừng nhóm HS ) tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học, tự chiếm lĩnh nộidung học tập rồi thực hành, vận dụng các nội dung đó theo năng lực cá nhân củaHS
Toán 4 kế thừa và phát huy các PPDH toán đã sử dụng trong giai đoạn cáclớp 1, 2, 3 đồng thời tăng cờng sử dụng các PPDH giúp HS tự nêu các nhận xét, cácquy tắc, các công thức ở dạng khái quát hơn( so với lớp 3).Đây là cơ hội tiếp tụcphát triển năng lực trừu tợng hoá, khái quát hoá trong học tập môn toán ở đầu giai
đoạn các lớp 4 và 5; tiếp tục phát triển khả năng diễn đạt và tập suy luận của HStheo mục tiêu của môn toán ở lớp 4
Trang 11III.Phân tích thực trạng phần thiết kế hệ thống bài tập toán ở lớp 4 chơng trình mới
1 Thực trạng của giáo viên:
Hiện nay trong nhà trờng tiểu học, ngoài các bài tập trong chơng trình,giáo viên đã chú ý đến việc ra các bài tập thêm để bồi dỡng học sinh giỏi, phụ đạohọc sinh yếu Song giáo viên mới chỉ dừng lại ở mức độ ra bài tập mà mình thamkhảo ở các sách, cha chú ý đến việc bổ xung nguồn bài tập hoặc thay thế các bàitập cùng dạng trong SGK cho phù hợp những đặc điểm về trình độ của học sinh, vềthực tiễn của địa phơng
2 Thực trạng của học sinh.
Qua tìm hiểu điều tra cho thấy đa số học sinh làm đợc các bài tập trongSGK Song khi làm đến bài tập nâng cao thì học sinh thờng gặp khó khăn trongnhận dạng bài toán, cha hiểu sâu sắc bản chất của bài toán từ đó dẫn đến kết quảcha đúng
Ví dụ: Học sinh sẽ lúng túng khi làm bài tập toán về “ Tìm hai số khi biết tổng vàhiệu của hai số đó” Do học sinh không xác định đợc đâu là số lớn, đâu là số bé,
đâu là tổng, đâu là hiệu khi ở bài toán cho dới dạng ẩn: Tổng của hai số bằng 8,hiệu của chúng cũng bằng 8
1.1 Khái niệm Trắc nghiệm khách quan:
Bài trắc nghiệm đợc gọi là khách quan, vì hệ thống cho điểm là kháchquan chứ không chủ quan nh bài trắc nghiệm tự luận Thông thờng có nhiều câu trảlời đợc cung cấp cho mỗi câu hỏi của bài trắc nghiệm nhng chỉ có một câu là câutrả lời là đúng hay câu trả lời tốt nhất Bài trắc nghiệm đợc chấm bằng cách đếm sốlần mà ngời làm trắc nghiệm đã chọn đợc câu trả lời đúng trong số các câu trả lời
đã đợc cung cấp.( Một số cách chấm điểm còn có cả sự phạt điểm do đoán mò, ví
dụ nh trừ đi một tỷ lệ nào đó có câu trả lời sai đối với số câu trả lời đúng ) Có thểcoi là kết quả chấm điểm sẽ nh nhau không phụ thuộc vào ai chấm bài chắc nghiệm
đó Thông thờng một bài trắc nghiệm khách quan gồm có nhiều câu trả lời hơn mộtbài trắc nghiệm tự luận, và mỗi câu hỏi thờng có thể đợc trả lời bằng một dấu hiệu
đơn giản Nội dung của một bài trắc nghiệm khách quan cũng có phần chủ quantheo nghĩa là nó đại diện cho một sự phán xét của một ngời nào đó về bài trắc
Trang 12nghiệm Chỉ có việc chấm điểm khách quan Có một số loại hình câu hỏi và cácthành tố của bài trắc nghiệm đợc sử dụng trong khi viết một bài trắc nghiệm kháchquan.
1.2.Hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan:
Hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan là hệ thống gồm các bài tập trắcnghiệm khách quan với nhiều mức độ phức tạp khác nhau, có nội dung lo gic vớinhau giúp học sinh rèn luyện t duy
1.3.Yêu cầu với hệ thống bài tập Trắc nghiệm khách quan
- Hệ thống bài tập bao gồm các bài tập với nhiều mức độ phức tạp khác nhau phùhợp với trình độ học sinh khá- giỏi
- Hệ thống bài tập chứa đựng những phơng pháp giải quyết các vấn đề điển hình,vừa sức với học sinh và có ý nghĩa quan trọng đối với nội dung môn toán ở Tiểuhọc, đặc biệt với nội dung môn toán ở lớp 4
- Hệ thống bài tập bao gồm các bài tập có phơng pháp giải logic với nhau, kiếnthức trong các bài tập đi liền mạch với nhau
- Hệ thống bài tập bao gồm các bài tập nhằm rèn luyện t duy cho học sinh: bài tậprèn luyện khả năng tính toán, khả năng lí luận, khả năng ghi nhớ, khả năng nhậnbiết và khả năng sáng tạo
2.Cách thiết kế bài tập trắc nghiệm khách quan:
2.1 Yêu cầu khi thiết kế bài tập trắc nghịêm khách quan.
- Đảm bảo nội dung: Nội dung của bài trắc nghiệm phụ thuộc vào loại trắc nghiệm
và lứa tuổi làm trắc nghiệm Nội dung các bài tập có văn phải phù hợp với thựctiễn
- Đảm bảo tính vừa sức:Nội dung bài trắc nghiệm phù hợp với cấp lớp (cấp tiểuhọc-lớp 4) và hiểu biết kiến thức toán sẵn có của lứa tuổi, thời gian làm bài phù hợpvới trình độ học sinh lớp 4
2.2 Cách thiết kế một bài tập trắc nghiệm khách quan nói chung.
Khi thiết kế một bài tập trắc nghiệm khách quan, ta tiến hành theo ba bớc sau:
B
ớc 1 : Xác định mục tiêu và điều kiện của bài trắc nghiệm.
- Mục tiêu của bài trắc nghiệm là rèn luyện phần kiến thức nào? Sử dụng bài tập đó
để làm gì? ( Rèn luyện các thao tác t duy, các loại hình t duy nào? )
- Điều kiện của bài trắc nghiệm là thời gian làm bài, hình thức làm bài
Trang 13Đây là loại câu hỏi chỉ có hai phơng án để lựa chọn là đúng hoặc sai, câulệnh thờng là: đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống hoặc điền dấu x thích hợp vàobảng sau.
1.1 Ưu điểm và hạn chế của dạng trắc nghiệm đúng - sai.
Ưu điểm của dạng trắc nghiệm đúng - sai.
Đây là loại câu hỏi đơn giản nhất để trắc nghiệm mọi lĩnh vực kiến thức khácnhau
Loại câu hỏi đúng - sai giúp cho việc trắc nghiệm bao gồm một lĩnh vực rộnglớn trong khoảng thời gian ngắn
Soạn loại câu hỏi đúng - sai tuy cũng cần nhiều công phu nhng chỉ trong thờigian ngắn có thể soạn đợc nhiều câu hỏi Có thể viết ít nhất 10 câu hỏi loại đúng -sai trong khoảng thời gian cần thiết để viết đợc 1 câu hỏi có 4 hay 5 câu trả lời chosẵn để chọn
Có tính chất khách quan khi chấm điểm
Khi làm bài, học sinh chỉ cần chọn một trong hai câu trả lời cho sẵn cần điền
đúng ( Đ ) hoặc sai ( S ) vào ô trống
Hạn chế của dạng trắc nghiệm đúng - sai.
Có thể khuyến khích sự đoán mò, học sinh có khuynh hớng đoán may rủi để có50% hy vọng trả lời đúng
Do yếu tố đoán mò nên khó phát hiện ra điểm yếu của học sinh
Loại trắc nghiệm đúng - sai có độ tin cậy thấp Học sinh có thể đợc điểm caonhờ đoán ra câu trả lời
Khi dùng loại câu hỏi này để kiểm tra phần lý thuyết, giáo viên thờng cókhuynh hớng trích nguyên vẹn các câu trong danh sách và do đó học sinh tập thóiquen học thuộc lòng hơn là tìm hiểu suy nghĩ
Với các học sinh còn bé, những câu phát biểu sai có thể khiến cho học sinhnhững điều sai lầm một cách vô thức
1.2.Những nguyên tắc khi soạn câu hỏi loại trắc nghiệm “Đúng - sai “
Một câu trắc nghiệm đúng - sai thờng gồm một câu phát biểu để học sinhphán đoán xem nội dung đúng hay sai hoặc một phần phát biểu chính gọi là phầndẫn và hai phơng án trả lời cho sẵn để học sinh chọn phơng án trả lời đúng:
+ Nếu câu hỏi gồm một phần phát biểu chính và hai phơng án trả lời cho sẵn thìphần chính hay câu dẫn của câu hỏi phải mạch lạc rõ ràng Trong hai ph ơng án trảlời cho sẵn có một phơng án đúng và một phơng án sai Phơng án sai phải có lí,cách tạo ra phơng án sai dựa vào những hớng suy nghĩ sai mà học sinh thờng mắcphải
Trang 14+ Nếu câu hỏi gồm một câu phát biểu để học sinh phán đoán xem nội dung đúng hay sai thì nên dùng những chữ chính xác và thích hợp để câu hỏi đơn giản và rõ ràng mang ý nghĩa xác định, trọn vẹn Mỗi câu hỏi loại đúng - sai chỉ nên mang một ý tởng chính yếu hơn là có cái hay nhiều ý tởng trong mỗi câu Nội dungcủa các câu hỏi đa ra phải có nghĩa hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai Không nên trích nguyên văn câu hỏi từ SGK Nên diễn tả lại các điều đã học dới dạng những câu mới Không nên dùng số câu đúng nhiều hơn số câu sai hay ngợc lại Số câu đúng
và số câu sai nên bằng nhau
1.3 Các dạng bài tập có thể đa vào bài tập trắc nghiệm đúng - sai "
Có thể đa tất cả các dạng bài tập trong chơng trình toán lớp 4 kể cả phần bài tập lý thuyết vào dạng trắc nghiệm “ đúng - sai”
1.4 Cách thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm đúng - sai
Thiết lập bài tập trắc nghiệm đúng - sai cũng tuân theo 3 hớng chính nh thiết
kế bài tập trắc nghiệm khách quan nói chung, cụ thể
Bớc 1: Xác định mục tiêu, điều kiện của bài trắc nghiệm.
Bớc 2: Đa ra tình huống
- Đa ra 2 hớng suy nghĩ trong đó một hớng suy nghĩ đúng, một hớng suy nghĩ sai
mà học sinh thờng gặp
- Giải tình huống theo hai hớng đã suy nghĩ rồi ghi lại kết quả
* Chú ý : - Khi ra loại bài trắc nghiệm này không đợc hỏi quá 1 ý trong câu
- Tránh lập những câu phủ định
- Tránh dùng số câu đúng và sai bằng nhau
- Hạn chế dùng các từ sau khi lập câu : chỉ mà thôi ; tất cả , đôi khi ,
luôn luôn , phần nhiều
Bớc 3: Viết lại thành bài trắc nghiệm hoàn chỉnh Ví dụ: Đúng điền Đ, sai điền S vào ô trống. 248 x 311 = 77028
205 x 378 = 77490
164 x 125
372 x 604 = 223 688
1.5-Một số bài tập dạng trắc nghiệm đúng - sai Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống Bài 1:
457 895 < 467 895
Trang 15Bài 3: Một đoàn xe có hai loại xe 6 xe mỗi xe chở đợc 3 tấn 4 xe mỗi xe chở đợc
2 tấn Trung bình mỗi xe chở đợc bao nhiêu tấn hàng ?
Bài 5: Mẹ hơn con 24 tuổi Sau 5 năm nữa thì tổng số tuổi của hai mẹ con là 46.
Hỏi tuổi của mẹ và tuổi con hiện nay
Trang 1657
30
75
216
Bài 7 A Số 240 chia hết cho 3 và 5
B Số 24 1562 không chia hết cho 3
C Số nào chia hết cho 3 thì tận cùng là 5
D Số nào chia hết cho 9 thì tận cùng là 3
Bài 8: A 31007 x 4 - 74876 = 49153
B 45365 + (10432 + 21425) x 3 = 140936
C 7698 x 4 + 6715 x 4 = 97616
D 47662 x 9 = 428988
Bài 9 : Hình thoi nào có diện tích bé hơn 20 cm2 : B N E G A C M P
K H D
Q
2 Trắc nghiệm có nhiều phơng án trả lời để lựa chọn.
- Đây là loại câu hỏi đa ra nhiều phơng án để lựa chọn Mỗi câu hỏi có ít nhất 3 lựa chọn cũng có thể có tới 5, 6 lựa chọn, trong đó chỉ có 1 phơng án đúng, các phơng
án còn lại là phơng án gây nhiễu dựa vào những sai lầm của học sinh để xây dựng
- Câu hỏi loại này thờng gồm 2 phần: Phần dẫn trình bày dới dạng 1 câu hỏi hoặc 1 câu cha hoàn chỉnh Phần các phơng án trả lời gồm 1 số câu hỏi trả lời hoặc các ý hoàn chỉnh câu dẫn Học sinh lựa chọn câu trả lời đúng rồi khoanh vào chữ cái tr ớc câu trả lời đúng mà mình đã chọn
2.1 Ưu điểm và hạn chế của dạng trắc nghiệm có nhiều phơng án trả lời để lựa chọn.
*
Ưu điểm :
Trang 17- Có thể kiểm tra, rèn luyện đợc nhiều lĩnh vực kiến thức khác nhau, đánh giánhững mục tiêu giảng dạy, học tập khác nhau.
- Có độ tin cậy cao Yếu tố đoán mò, may rủi của học sinh giảm đi nhiều so vớidạng trắc nghiệm đúng sai
- Học sinh phải xét đoán và phân biệt kĩ càng khi trả lời câu hỏi Học sinh phảichọn lựa câu trả lời đúng nhất hayb hợp lí nhất trong số các phơng án trả lời đã cho
- Có thể kiểm tra rèn luyện đợc nhiều lĩnh vực kiến thức khác nhau Có thể đo đợc,rèn luyện đợc các khả năng ghi nhớ, áp dụng các quy tắc công thức suy diễn trừu t-ợng hóa tốt
- Đảm bảo tính khách quan khi chấm
- Các câu hỏi lựa chọn có thể không đo đợc khả năng phán đoán và khả năng giảiquyết vấn đề khéo léo 1 cách hiệu quả bằng câu hỏi loại tự luận
2.2 Nguyên tắc khi soạn câu hỏi trắc nghiệm có nhiều phơng án trả lời để lựa chọn.
- Một bài toán dạng này gồm 1 phần phát biểu chính gọi là phần dẫn "haycâu hỏi" và 4, 5 hay nhiều phơng án trả lời cho sẵn để học sinh chọn câu trả lời
- Phân bố một cách ngẫu nhiên câu trả lời đúng Câu trả lời đúng phải đợc đặt ởnhững vị trí khác nhau số lần tơng đơng nhau (nếu bài trắc nghiệm có 5 phơng ántrả lời thì câu trả lời đúng nhất ở vị trí A, B, C, D, E số lần ngang nhau)
- Vị trí các câu trả lời để lựa chọn đợc sắp xếp nên theo một thứ tự "tự nhiên nào đónếu có thể đợc"
Trang 182.3 Các dạng bài tập có thể đa vào bài tập trắc nghiệm có nhiều phơng án lựa chọn.
Các dạng bài tập có thể đa vào là các loại bài về đọc, viết, so sánh số, dãy số
tự nhiên, cấu tạo số, các phép tính
2.4 Cách thiết kế bài tập trắc nghiệm có nhiều phơng án để lựa chọn.
- Khi thiết kế ta tuân theo các bớc của một bài trắc nghiệm nói chung
Bớc 1: Xác định mục tiêu của bài trắc nghiệm.
- Trong các câu A,B,C,D chỉ có một câu đúng mà thôi
- Nên lập câu tơng tự và đồng loại , những câu đồng loại , những câu sai phải thuộccùng một " trờng nghĩa " với câu đúng Tránh những câu tơng phản nhau hay khác
" trờng nghĩa "
- Các câu sai phải " có lí " , tức là trong thực tế học sinh có sai nh thế
- Số lựa chọn không đợc quá 5 câu và không dới 3 câu
Bớc 3: Viết lại thành bài trắc nghiệm hoàn chỉnh.
Ví dụ: Khoanh vào chữ cái trớc câu trả lời đúng
Có hai dãy ghế, dãy thứ nhất có 45 cái, đợc xếp thành các hàng, mỗi hàng có
6 cái Hỏi tất cả có bao nhiêu hàng
a 15 hàng
b 17 hàng
c 16 hàng
d 14 hàng
2.5 Một số bài tập dạng trắc nghiệm có nhiều phơng án lựa chọn
Khoanh vào chữ cái trớc kết quả đúng
Trang 19Câu 5: Một cửa hàng trong 3 ngày bán đợc 720 kg gạo Hỏi trong tám ngày cửa
hàng bán đợc bao nhiêu ki lô gam gạo ? Biết rằng số gạo mỗi ngày bán đợc là nhnhau