1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu cơ sở khoa học phục hồi rừng sau cháy tại huyện hòa an, tỉnh cao bằng

77 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu - Phân tích được hiện trạng và đặc điểm của thảm thực vật phục hồi tự nhiên trên đất rừng sau cháy làm cơ sở phân loại khả năng phục hồi tại khu vực nghiên cứu.. Cá

Trang 1

HÀ ĐỨC LINH

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC PHỤC HỒI RỪNG SAU CHÁY TẠI HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

HÀ ĐỨC LINH

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC

PHỤC HỒI RỪNG SAU CHÁY TẠI HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG

Ngành: Lâm học

Mã số: 8620201

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THU HOÀN

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân

tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn

toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn

toàn trách nhiệm

Thái nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2020

Học viên

Hà Đức Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo thạc sĩ lâm học tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên Được sự nhất trí của của Nhà trường và Khoa lâm nghiệp, tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài:

"Nghiên cứu cơ sở khoa học phục hồi rừng sau cháy tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng"

Để có được kết quả đó, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất

đến TS Nguyễn Thị Thu Hoàn là người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình

giúp đỡ, cung cấp thông tin bổ ích, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn tới: Ban Giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, thư viện trường Đại học Nông Lâm, lãnh đạo cơ quan, cùng bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Mặc

dù đã cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng do kiến thức, kinh nghiệm của bản thân và điều kiện về thời gian cũng như tư liệu tham khảo còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp chỉ bảo của thầy cô giáo

Cuối cùng tôi xin kính chúc toàn thể các thầy cô giáo sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2020

Học viên

Hà Đức Linh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN v

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu 2

3 Ý nghĩa thực tiễn, khoa học 2

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1 Một số khái niệm liên quan 3

1.1.1 Khái niệm rừng 3

1.1.2 Khái niệm cháy rừng 3

1.1.3 Khái niệm thực vật rừng 3

1.1.4 Khái niệm phục hồi rừng 4

1.2 Các kết quả nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 4

1.2.1 Kết quả nghiên cứu trên thế giới 4

1.2.2 Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam 11

1.3 Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật cho phục hồi rừng 16

1.4 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 17

1.4.1 Điều kiện tự nhiên 17

1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 24

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 28

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28

2.2 Nội dung nghiên cứu 28

Trang 6

2.3 Phương pháp nghiên cứu 28

2.3.1 Phương pháp thu thập các dữ liệu thứ cấp 28

2.3.2 Phương pháp phỏng vấn 29

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm của lâm phần sau cháy 29

2.3.4 Phương pháp đề xuất các giải pháp phục hồi sau cháy 30

2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Đánh giá thực trạng tài nguyên rừng và công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại khu vực nghiên cứu 33

3.1.1 Tài nguyên rừng 33

3.1.2 Thực trạng quản lý tài nguyên rừng 34

3.2 Đặc điểm về đất đai và thực vật rừng sau cháy tại khu vực nghiên cứu 39

3.2.1 Đặc điểm thực vật tầng cây gỗ rừng sau cháy 39

3.2.2 Đặc điểm tái sinh rừng sau cháy 42

3.2.3 Đặc điểm cây bụi thảm tươi rừng sau cháy 44

3.2.4 Đặc điểm về đất rừng 48

3.3 Kết quả phỏng vấn 48

3.4 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến phục hồi rừng sau cháy 50

3.5 Phân loại tiềm năng phục hồi rừng trên đất rừng sau cháy 53

3.6 Đề xuất các giải pháp lâm sinh phục hồi rừng sau cháy 55

3.6.1 Giải pháp kỹ thuật lâm sinh 55

3.6.2 Giải pháp tổ chức và chính sách 57

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

1 Kết luận 59

2 Kiến nghị 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1.Thống kê diện tích các xã vùng nghiên cứu 26

Bảng 2.2 Số liệu cháy rừng của các xã nghiên cứu từ năm 2015-2019 - Phân loại tiềm năng phục hồi rừng trên đất rừng sau cháy 28

Bảng 3.1 Hiện trạng rừng và đất rừng tại khu vực nghiên cứu 33

Bảng 3.2 Thống kê diện tích rừng phòng hộ theo đơn vị hành chính 34

Bảng 3.3.Tình hình vi phạm lâm luật trên địa bàn huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng từ năm 2015 - 2019 35

Bảng 3.4 Kết quả và hình thức xử phạt vi phạm lâm luật trong những năm 2015- 2019 tại huyện 37

Bảng 3.5.Tình hình cháy rừng giai đoạn 2015-2019 36

Bảng 3.6 Đặc điểm và tính chất đất rừng sau cháy 48

Bảng 3.7 Thông tin các Ô tiêu chuẩn tại khu vực nghiên cứu 39

Bảng 3.8 Tỷ lệ và hệ số tổ thành cây tầng cao đối với từng loài cây 41

Bảng 3.9 Đặc điểm ở tầng cây gỗ thảm thực vật sau cháy 40

Bảng 3.10 Tỷ lệ và hệ số tổ thành cây tái sinh đối với từng loài cây 42

Bảng 3.11 Đặc điểm ở tầng tái sinh thảm thực vật sau cháy 43

Bảng 3.12 Đặc điểm ở tầng cây bụi thảm tươi thảm thực vật sau cháy 47

Bảng 3.13 Phân loại tiềm năng phục hồi rừng trên đất rừng sau cháy 53 Bảng 3.14 Biện pháp kỹ thuật chủ yếu trong khoanh nuôi tái sinh tự nhiên 56

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Rừng là một bộ phận của môi trường sống, là nguồn tài nguyên tài nguyên

vô cùng quý giá, đa dạng và có khả năng phục hồi, tái tạo Rừng có vai trò quan trọng trong việc giữ nước, điều tiết dòng chảy và hạn chế xói mòn đất và bảo vệ môi trường, hấp thụ CO2 và góp phần giảm hiệu ứng nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu Sự suy giảm của rừng kéo theo sự suy giảm chức năng phòng

hộ, tăng nguy cơ xuất hiện lũ lụt vào mùa mưa, hạn hán vào mùa khô và gây xói mòn bồi lấp lòng sông, suối, hồ Hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau mà chủ yếu là do cháy rừng đã làm cho diện tích rừng bị suy giảm một cách nhanh chóng Việc phục hồi và phát triển rừng là rất cần thiết, đặc biệt ở những nơi chưa có rừng, những nơi đã xảy ra cháy rừng

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Lâm Nghiệp: Năm 2016, nước ta đã xảy ra hàng chục vụ cháy rừng Diện tích rừng thiệt hại hơn 3000 ha.Năm 2017, cả nước xảy ra 182 vụ cháy rừng lớn nhỏ, diện tích rừng thiệt hại là hơn 350

ha Đến đầu năm 2018, có nhiều vụ cháy rừng đã xảy ra trên nhiều địa phương Chẳng hạn như Lạng Sơn, Lai Châu, Điện Biên, Gia Lai, Đắc Lắc, Vũng Tàu, Bình Thuận, Kiên Giang, Cà Mau

Hòa An (Kết quả theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp của huyện

Hòa An năm 2018) là huyện lớn của tỉnh, có tổng diện tích tự nhiên

60.952,08ha, diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp (theo quy hoạch 3 loại rừng) là 47248.2ha, trong đó diện tích có rừng là 34418.21ha Trong đó rừng đặc dụng là 27.18 ha; phòng hộ là 7965.21ha; sản xuất là 26425.82 ha

Trong những năm gần đây, do quá trình biến đổi khí hậu, tác động của con người, các vụ cháy rừng thường xuyên xảy ra trên địa bàn huyện Năm

2015 xảy ra 20 vụ cháy rừng với tổng diện tích thiệt hại là 57,57ha; năm 2016 xảy ra 16 vụ cháy rừng với tổng diện tích thiệt hại là 25,31ha; năm 2017 xảy ra

Trang 10

09 vụ cháy rừng với tổng diện tích thiệt hại 29,52ha; năm 2018 xảy ra 02 vụ cháy rừng với tổng diện tích thiệt hại là 10,07ha Nhờ làm tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng nên số lượng các vụ cháy và diện tích cháy cũng giảm dần qua các năm Tuy nhiên việc khắc phục hậu quả, khôi phục lại hiện trạng rừng vẫn chưa được quan tâm Hiện nay có rất ít các đề tài nghiên cứu đến việc khôi phục, phục hồi rừng sau cháy tại huyện

Chính vì vậy, việc tìm ra các giải pháp lâm sinh để phục hồi rừng sau cháy nhằm bảo vệ và phát triển rừng tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng là yêu cầu cấp thiết, cần được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ quan quản lý và sản xuất lâm nghiệp và sự nỗ lực cố gắng của mỗi người dân

trên địa bàn huyện Với lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học phục hồi rừng sau cháy tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng" làm đề

tài luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo Thạc sĩ Lâm học

2 Mục tiêu

- Phân tích được hiện trạng và đặc điểm của thảm thực vật phục hồi tự nhiên trên đất rừng sau cháy làm cơ sở phân loại khả năng phục hồi tại khu vực nghiên cứu

- Phân loại tiềm năng phục hồi rừng thông qua thời gian phục hồi sau cháy nhằm đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp

3 Ý nghĩa thực tiễn, khoa học

- Ý nghĩa khoa học

Đề tài đã xác định được mối quan hệ giữa tiềm năng phục hồi cây gỗ trên đất sau cháy với tổ hợp nhân tố điều kiện thổ nhưỡng, thời sau cháy và thời gian phục hồi rừng

- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề tài đề xuất các giải pháp tác động cụ thể nhằm rút ngắn thời gian phục hồi rừng trên đất sau cháy

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1 Khái niệm rừng

Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng,

vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên (Nguồn: Theo Điều 2 Luật Lâm nghiệp năm 2017)

1.1.2 Khái niệm cháy rừng

Cháy rừng là sự xuất hiện và lan truyền của những đám cháy trong rừng mà không nằm trong sự kiểm soát của con người; gây lên những tổn thất nhiều mặt về tài nguyên, của cải và môi trường

1.1.3 Khái niệm thực vật rừng

Thực vật rừng hay cây rừng gồm tất cả các loài cây, loài dây leo, loài

cỏ thuộc thực vật bậc cao có mạch phân bố trong rừng Chúng là thành phần chính của hệ sinh thái rừng và là nguồn tài nguyên quan trọng mang lại nhiều lợi ích cho con người.Ở từng nơi, từng lúc thành phần thực vật rừng có thể thay đổi; đó là kết quả sinh trưởng phát triển của từng loài và sự thích ứng của chúng với những biến động của nhân tố ngoại cảnh Vì vậy, thực vật rừng ở mỗi địa phương trong thời điểm nhất định không chỉ phản ánh hiện trạng tài nguyên, tính đa dạng sinh học mà còn phản ánh tình trạng môi trường rừng Nơi lập địa khắc nghiệt thành phần thực vật thường đơn giản, chất lượng thấp; nơi lập địa tốt, ít bị tác động không những chất lượng rừng cao mà thành phần thực vật rừng cũng phong phú đa dạng Tái sinh rừng, được hiểu theo nghĩa

Trang 12

rộng là sự tái sinh của cả hệ sinh thái rừng Tái sinh rừng, hiểu theo nghĩa hẹp

là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng (Phùng Ngọc Lan (1986)

1.1.4 Khái niệm phục hồi rừng

Phục hồi rừng được hiểu là quá trình tái tạo lại rừng trên những diện tích

đã bị mất rừng Theo quan điểm sinh thái học thì phục hồi rừng là một quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu Đó là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán Để tái tạo lại rừng người ta có thể sử dụng các giải pháp khác nhau tuỳ theo mức độ tác động của con người là: phục hồi nhân tạo (trồng rừng), phục hồi tự nhiên và phục hồi tự nhiên có tác động của con người (xúc tiến tái sinh)

Theo Trần Đình Lý (1995), phục hồi rừng là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều thời gian và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ (hoặc tre nứa) bắt đầu khép tán Nói một cách khác, phục hồi rừng là quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái, một quần xã sinh vật mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu, nó chi phối các quá trình biến đổi tiếp theo

1.2 Các kết quả nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Kết quả nghiên cứu trên thế giới

1.2.1.1 Quan niệm về phục hồi

Phục hồi (toàn phần) là tái lập lại thành phần, cấu trúc, năng suất và ĐDSH các loài đặc trưng cho khu vực đã bị suy thoái, tổn thương hoặc bị phá hủy Theo thời gian, các quá trình và chức năng sinh thái của môi trường sống dần được khôi phục gần như môi trường sống ban đầu (Mudappa và Raman, 2010)

Phục hồi sinh thái là quá trình hỗ trợ sự phục hồi của một HST đã bị suy thoái, hư hại, hoặc bị phá hủy (Society of Ecological Restoration, 2010) Thực tiễn phục hồi sinh thái bao gồm các hoạt động như kiểm soát xói mòn, tái trồng rừng, sử dụng các loài bản địa, loại bỏ các loài ngoại lai và cỏ dại, tái phủ xanh

Trang 13

khu vực bị tác động, trồng các loài bản địa, cũng như cải thiện môi trường sống và phạm vi đối với các loài chính "Phục hồi sinh thái" là thuật ngữ chỉ việc ứng dụng trên thực tiễn chuyên ngành “Sinh thái học phục hồi” (Restoration Ecology)

Từ những năm 1930 giải pháp phục hồi rừng bằng biện pháp tái sinh rừng

đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, trong đó vấn đề được quan tâm đặc biệt là thế hệ cây tái sinh có tổ thành giống hay khác biệt với tổ thành tầng cây cao (Mibbread, 1930; Richards, 1933, 1939, 1965; Aubrerille, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gibert, 1954; Jones, 1955, 1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969)

Phục hồi rừng cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong cải thiện sinh kế và sức khỏe con người Những lợi ích này bao gồm nâng cao năng lực thích ứng, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và cải thiện sinh kế của người dân phụ thuộc vào HST rừng, trao quyền cho cộng đồng (ITTO/IUCN, 2009)

1.2.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến cháy rừng và phục hồi rừng sau cháy

Các nghiên cứu liên quan đến cháy rừng: Những công trình nghiên cứu về cháy rừng đã được một số nhà khoa học tiến hành từ những năm đầu thế kỷ

XX tại các nước có nền kinh tế và lâm nghiệp phát triển như: Mỹ, Thụy Điển, Australia, Pháp, Canada, Nga, Đức,…

* Nghiên cứu bản chất của cháy rừng

Kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng cháy rừng là hiện tượng ôxy hoá các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao Nó xẩy ra khi có mặt đồng thời của 3 yếu tố, hay còn gọi là tam giác cháy: nguồn nhiệt (lửa), ôxy và vật liệu cháy Tuỳ thuộc vào đặc điểm của 3 yếu tố trên mà cháy rừng có thể được hình thành, phát triển hay bị ngăn chặn hoặc suy yếu đi (Brown, 1979; Belop, 1982; Chandler, 1983) Vì vậy, về bản chất, những biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng chính là những biện pháp tác động vào 3 yếu tố trên theo chiều hướng

Trang 14

ngăn chặn và giảm thiểu quá trình cháy Vì vậy, về bản chất, những biện phápphòng cháy, chữa cháy rừng chính là những biện pháp tác động vào 3 yếu tố trên theo chiều hướng ngăn chặn và giảm thiểu quá trình cháy Các nhà khoa học phân biệt 3 loại cháy rừng

Cháy dưới tán cây hay cháy mặt đất rừng, là trường hợp chỉ cháy một phần hay toàn bộ lớp cây bụi, cỏ khô và cành rơi lá rụng trên mặt đất

Cháy tán rừng (ngọn cây) là trường hợp lửa lan tràn nhanh từ tán cây này sang tán cây khác

Cháy ngầm là trường hợp xẩy ra khi lửa lan tràn chậm, âm ỉ dưới mặt đất, trong lớp thảm mục dày hoặc than bùn Trong một đám cháy rừng có thể xẩy ra một hoặc đồng thời 2, 3 loại cháy rừng trên

Tuỳ theo loại cháy rừng mà người ta đưa ra những biện pháp phòng và chữa cháy khác nhau

* Các nghiên cứu liên quan đến phục hồi rừng sau cháy

Các công trình đi sâu nghiên cứu đến khả năng phụ hồi của thực vật rừng sau cháy, các nghiên cứu đã đề cập đến khả năng tái sinh rừng và khả năng chống chịu lửa của thực vật Khi nghiên cứu về thảm thực vật sau cháy, các tác giả Lloret & Vila (2003); pausas và cộng sự (2004); Arnan và cộng sự (2007) cho thấy khả năng tái sinh sau cháy là rất cao và phụ thuộc nhiều vào các thảm thực vật trước khi cháy Theo Science Daily, nhóm Catalan đã thực hiện nghiên cứu về sự thay đổi tập tính của quần thể động vật sau vụ cháy rừng Nghiên cứu

đã lấy mẫu từ các khu vực bị ảnh hưởng bởi một đám cháy rừng diễn ra từ hồi tháng 8/2003 ở vùng ngoại ô Sant Llorenc del Munti L’Obac Natural Park, Catalonia (Tây Ban Nha) Sau khi phân tích mẫu đã có kết luận rằng: sự xuất hiện của các loài nhuyễn thể là một dấu hiệu cho thấy rừng đang phục hồi và quá trình rừng phục hồi sau cháy rừng không gây hại đến loài động vật vốn nhạy cảm với các môi trường đất và cấu trúc thảm thực vật; Science Direct khi

Trang 15

nghiên cứu với rừng thông ở Địa Trung Hải cho thấy sự phục hồi, tái sinh rừng cũng bị ảnh hưởng bởi tần số các đám cháy ở khu vực nghiên cứu Nghiên cứu chỉ ra rằng cháy rừng là một trong những tác nhân chọn lọc đối với các loài cây chống chịu lửa tốt, tái sinh mạnh Ở khu vực có tần số xảy ra cháy rừng lớn sẽ chọn lọc được các loài cây có khả năng tái sinh mạnh mẽ

1.2.1.3 Nghiên cứu về tái sinh rừng

Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dưới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trò lịch sử của lớp cây con này là thay thế thế hệ cây già cỗi Vì vậy tái sinh từng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969) Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá trị nên trong thực tiễn, người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định

Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được nghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến đổi Van steenis (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng

Trang 16

Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các cách thức sử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh Nội dung chi tiết các bước và hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được Baur (1964) tổng kết trong tác phẩm: Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa

Nghiên cứu tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi, A.Obrevin (1938) (Dẫn theo Phùng Ngọc Lan, 1986) nhận thấy cây con của các loài cây ưu thế trong rừng mưa là rất hiếm A.Obrevin đã khái quát hoá các hiện tượng tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi để đúc kết nên lý luận bức khảm tái sinh, nhưng phần

lý giải các hiện tượng đó còn bị hạn chế Vì vậy lý luận của ông còn ít sức thuyết phục, chưa giúp ích cho thực tiễn sản xuất các biện pháp kỹ thuật điều khiển tái sinh rừng theo những mục tiêu kinh doanh đã đề ra

Tuy nhiên, những kết quả quan sát của Davit và P.W Risa (1933), Bơt (1946), Sun (1960), Role (1969) (Dẫn theo Phùng Ngọc Lan, 1986) ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ lại khác hẳn với nhận định của A.Obrevin Đó là hiện tượng tái sinh tại chỗ và liên tục của các loài cây và tổ thành loài cây có khả năng giữ nguyên không đổi trong một thời gian dài

Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927), với diện tích ô đo đếm thông thường từ 1 đến 4 m2 Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi trong điều tra nhưng số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1950) đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau

Trang 17

Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards, P.W (1952), Bernard Rollet (1974), tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1 x 1m, 1 x 1.5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson ở Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập Tayloer (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995)

Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này Baur G.N (1962) cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm, ảnh hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn Nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy

H Lamprecht (1989) căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa sáng,

Trang 18

nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng Kết cấu của quần thụ lâm phần có ảnh hưởng đến tái sinh rừng I.D.yurkevich (1960) đã chứng minh độ tàn che tối ưu cho sự phát triển bình thường của đa số các loài cây gỗ là 0,6 - 0,7

Độ khép tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây con Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần thụ, V.G.Karpov (1969) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh dưỡng khoáng của đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất không thuần nhất của quan hệ qua lại giữa các thực vật tuỳ thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của quần thể thực vật (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992)

Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng

kể Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ Trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992)

Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ việc đặc điểm tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Đó là cơ sở để xây dựng các phương thức lâm sinh hợp lý

Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả nghiên cứu Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia và Venezuela nhận xét: Sau khi bỏ hoá số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu đến rừng thành thục Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào

Trang 19

tỷ lệ các loài nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số canh tác của khu vực đó (dẫn theo Phạm Hồng Ban) Kết quả nghiên cứu của các tác giả Lambert et al (1989), Warner (1991), Rouw (1991) đều cho thấy quá trình diễn thế sau nương rẫy như sau: đầu tiên đám nương rẫy được các loài cỏ xâm chiếm, nhưng sau một năm loài cây gỗ tiên phong được gieo giống từ vùng lân cận hỗ trợ cho việc hình thành quần thụ các loài cây gỗ, tạo ra tiểu hoàn cảnh thích hợp cho việc sinh trưởng của cây con Những loài cây gỗ tiên phong chết đi sau 5-10 năm và được thay thế dần bằng các loài cây rừng mọc chậm, ước tính cần phải mất hàng trăm năm thì nương rẫy cũ mới chuyển thành loại hình rừng gần với dạng nguyên sinh ban đầu

Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy

từ 1-20 năm ở vùng Tây Bắc ấn Độ, Ramakrishnan (1981, 1992) đã cho biết chỉ số đa dạng loài rất thấp Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá Long Chun và cộng sự (1993) đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuangbanna tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nhận xét: tại Baka khi nương rẫy

bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật, bỏ hoá 19 năm thì có

60 họ, 134 chi, 167 loài (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000)

Tóm lại, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số nơi Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm quản lý tài nguyên rừng bền vững

1.2.2 Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam

1.2.2.1 Quan niệm về phục hồi

Phục hồi rừng trước hết là phục hồi lại thành phần chủ yếu của rừng, là thảm thực vật cây gỗ; sự hình thành nên thảm cây gỗ này sẽ tạo điều kiện cho

Trang 20

sự xuất hiện các thành phần khác của rừng như tầng cây bụi, tầng cỏ quyết, khu hệ động vật, vi sinh vật… và các yếu tố khác của rừng như: chế độ nhiệt, chế

độ ẩm… (Võ Đại Hải và cộng sự, 2003) Vì vậy, khái niệm phục hồi rừng sẽ có một ý nghĩa rộng lớn hơn là phục hồi lại cả một quần lạc sinh địa hay một hệ sinh thái rừng hoàn chỉnh; trong thực tế, quá trình phục hồi rừng được đánh giá bằng sự xuất hiện và chất lượng của thế hệ mới các cây gỗ

Phục hồi rừng là một quá trình sinh học, gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thế hệ mới thảm cây gỗ bắt đầu khép tán; quá trình phục hồi sẽ tạo điều kiện cho sự cân bằng sinh học xuất hiện, đảm bảo cho sự cân bằng này tồn tại liên tục và cũng vì thế mà chúng ta có thể sử dụng chúng liên tục được (Võ Đại Hải và cộng sự, 2003)

1.2.2.2 Nghiên cứu cấu trúc rừng

Trong vòng vài chục năm qua, nghiên cứu về cấu trúc rừng là một trong những nội dung quan trọng nhằm đề xuất các giải pháp kỹ thuật phù hợp Thái Văn Trừng (1978), Trần Ngũ Phương (1970) cũng đã nghiên cứu cấu trúc sinh thái để làm căn cứ phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam

Trần Ngũ Phương (1970) đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của các thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam từ 1961 đến 1965 Nhân tố cấu trúc đầu tiên được nghiên cứu là tổ thành và thông qua đó một số quy luật phát triển của các hệ sinh thái rừng được phát hiện và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất

Khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở nước ta Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) (Theo Phùng Ngọc Lan, 1986) đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng như: tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C) Thái Văn Trừng đã vận dụng và cải tiến, bổ sung phương pháp biểu đồ mặt cắt đứng của Davit - Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được vẽ phóng đại với

Trang 21

tỷ lệ nhỏ hơn và có ghi ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình Bên cạnh đó, tác giả này còn dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam, đó là dạng sống ưu thế của những thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng mùa của tán lá Với những quan điểm trên Thái Văn Trừng đã phân chia thảm thực vật rừng Việt nam thành 14 kiểu Như vậy, các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể

1.2.2.3 Nghiên cứu về tái sinh rừng

Rừng nhiệt đới Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung, nhưng do phần lớn là rừng thứ sinh bị tác động của con người nên những quy luật tái sinh đã bị xáo trộn nhiều Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tái sinh rừng nhưng tổng kết thành qui luật tái sinh cho từng loại rừng thì còn rất ít Một số kết quả nghiên cứu về tái sinh thường được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học và một phần công bố trên các tạp chí

Trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1969, Viện Điều tra - Quy hoạch rừng

đã điều tra tái sinh tự nhiên theo các "loại hình thực vật ưu thế" rừng thứ sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969) Đáng chú ý là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu (1962-1964) bằng phương pháp đo đếm điển hình Từ kết quả điều tra tái sinh, dựa vào mật độ cây tái sinh, Vũ Đình Huề (1969) đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5 cấp, rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu Nhìn chung nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng mà chưa đề cập đến chất lượng cây tái sinh Cũng từ kết quả điều tra trên, Vũ Đình Huề (1975) đã tổng kết và rút ra nhận xét, tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ; dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều

Trang 22

loài cây gỗ mềm kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng Với những kết quả đó, tác giả đã xây dựng biểu đánh giá tái sinh áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng, miền Bắc nước ta

Thái Văn Trừng (1978) khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam,

đã kết luận: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng Nếu các điều kiện khác của môi trường như đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có qui luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường

1.2.2.3 Một số nghiên cứu về rừng phục hồi sau nương rẫy ở Việt Nam

Canh tác nương rẫy là hoạt động canh tác truyền thống của nhiều dân tộc sống ở miền núi nước ta, hiện nay nó vẫn đang tồn tại, nhưng đã có nhiều thay đổi so với trước đây Ở nước ta, tài liệu nghiên cứu về canh tác nương rẫy còn rất ít, tuy nhiên có thể kể đến một số công trình như:

Viện khoa học Lâm nghiệp (2001) xây dựng chuyên đề về canh tác nương rẫy Chuyên đề đã giới thiệu các công trình nghiên cứu về đánh giá hiện trạng canh tác nương rẫy ở Tây Nguyên (1998-1999) Các tác giả đã phân tích khá sâu sắc về tập quán canh tác nương rẫy ở Tây Nguyên và các chính sách, giải pháp sử dụng hợp lý đất rừng Giới thiệu kết quả bước đầu khảo nghiệm 4

mô hình sử dụng cây họ đậu để làm tăng độ che phủ, phục hồi nhanh độ phì đất

bỏ hoá và làm tăng năng suất cây trồng nông nghiệp

Đặng Kim Vui (2002) khi nghiên cứu cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn với đối tượng là rừng phục hồi tự nhiên ở các giai đoạn tuổi khác nhau, đã nghiên cứu về cấu trúc tổ thành loài, cấu trúc dạng sống, cấu trúc hình thái, mật độ, độ phủ, của các trạng thái rừng và kết

Trang 23

luận: Tổng số loài cây của hệ sinh thái rừng phục hồi giảm dần khi giai đoạn tuổi tăng lên, đồng thời số loài cây gỗ tăng dần, số loài cây cỏ, cây bụi giảm nhanh Theo quá trình phục hồi, trạng thái rừng có sự thay đổi về tầng thứ và thành phần thực vật ở các tầng, ở giai đoạn cuối của quá trình phục hồi (từ 10 -

15 tuổi) rừng có cấu trúc 5 tầng rõ rệt Trên cơ sở đó tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phục hồi rừng sau nương rẫy

1.2.2.4 Các nghiên cứu liên quan đến cháy rừng và phục hồi rừng sau cháy ở Việt Nam

* Các nghiên cứu liên quan đến cháy rừng

Ở Việt Nam, cháy rừng thường xuất hiện vào mùa hanh khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 5 năm sau tại tất cả các vùng Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung

bộ và Bắc Bộ Cháy rừng do nhiều nguyên nhân khác nhau Bên cạnh nguyên nhân khách quan do thời tiết hanh khô là các tác động của con người như di dân tự do, đốt đất làm nương, đốt cỏ để chăn nuôi, hun khói lấy mật, khai thác

gỗ trái phép, du lịch sinh thái… Vì vậy ở nước ta đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu liên quan đến cháy rừng như:

* Các nghiên cứu liên quan đến phục hồi rừng sau cháy

Ở Việt Nam cũng giống như trên thế giới các nghiên cứu về khả năng phục hồi của rừng sau cháy còn rất mới mẻ

Tác giả Nguyễn Văn Thêm (2002), khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng khộp sau khi cháy rừng ở vùng Tây Nguyên nhận thấy rằng một số loài cây họ dầu (Dipterocarpaceae) ở khu vực này chỉ có thể sinh trưởng và phát triển “bình thường” khi có lửa tràn qua Năm 2005, Vương Văn Quỳnh và các cộng sự đã thực hiện đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu xây dựng các giải pháp phòng chống và khắc phục hậu quả cháy rừng cho vùng U Minh và Tây Nguyên” Trong đó các tác giả đã nghiên cứu về đặc điểm tái sinh rừng tràm (vùng U

Trang 24

Minh), tái sinh ở một số trạng thái rừng tự nhiên (vùng Tây nguyên) sau cháy,

từ đó đề xuất giải pháp phục hồi các trạng thái rừng này

Việc nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng sau cháy giúp tăng cường sự phục hồi tài nguyên rừng tự nhiên, rừng trồng cũng góp phần đánh giá được loài cây nào có sức chống chịu tốt đối với lửa và khả năng tái sinh mạnh để đề xuất các loài cây trồng trên băng cản lửa

Tóm lại, trong thời gian qua đã có nhiều kết quả nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh rừng, những công trình đề cập ở trên là những định hướng quan trọng cho việc giải quyết các vấn đề nghiên cứu của đề tài Cho đến nay, vấn đề nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy còn ít, đặc biệt là ở huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, vấn đề này còn khá mới mẻ Trên cơ

sở lựa chọn và vận dụng những kết quả của các tác giả đi trước để nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi tự nhiên sau nương rẫy, thông qua đó đề tài đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp, đáp ứng mục tiêu kinh doanh, góp phần khôi phục và phát triển rừng

1.3 Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật cho phục hồi rừng

Các nghiên cứu liên quan đến phục hồi rừng tự nhiên ở Việt Nam đã được bắt đầu từ những năm 1960, các đề tài nghiên cứu về phân loại rừng, nghiên cứu cấu trúc, động thái, các kỹ thuật khai thác bảo đảm tái sinh, kỹ thuật làm giàu rừng, với các hệ sinh thái rừng đặc trưng của Việt Nam Trong giai đoạn

1991 - 2000, các nghiên cứu về rừng tự nhiên hầu như bị gián đoạn để tập trung cho nghiên cứu trồng rừng, bắt đầu từ năm 2001 trở lại đây, các nghiên cứu về rừng tự nhiên mới được khởi động trở lại

Trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (sông Hiếu, Yên Bái và Lạng Sơn), Nguyễn Duy Chuyên (1988) đã khái quát đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các

Trang 25

hàm lý thuyết Từ đó làm cơ sở định hướng các giai pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu Tiếp theo, sự ra đời của thuật ngữ phục hồi rừng bằng

“khoanh nuôi xúc tiến tái sinh” những năm 1990 được coi như một bước tiến vượt bậc về mặt khoa học trong phục hồi rừng khi hàng loạt công trình nghiên cứu về lĩnh vực này được triển khai và tập trung theo hai hướng chủ yếu: lựa chọn đối tượng là thảm thực vật rừng phục hồi sau nương rẫy ở các giai đoạn khác nhau xây dựng mô hình phục hồi rừng với quy mô 0,5 ha/ô mẫu, 5-10 ô mẫu/ mô hình/ địa điểm Và tìm kiếm các mô hình sử dụng đất bỏ hoá sau nương rẫy có hiệu quả ở địa phương để tìm hiểu các biện pháp tác động Kết quả điều tra, theo dõi một số mô hình, tác giả kết luận: Mô hình khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung, làm giàu rừng là mô hình dựa trên cơ sở triệt để lợi dụng tái sinh, diễn thế tự nhiên của thực vật chi phí ban đầu thấp, góp phần rút ngắn thời gian phục hồi rừng, cải thiện cấu trúc tổ thành, mật độ theo hướng làm tăng giá trị phòng hộ và kinh tế của rừng trong hiện tại cũng như trong tương lai Một số loài cây như: Hồi, Lát hoa, Quế là những cây có giá trị kinh tế, phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương, được người dân lựa chọn, đó là những cây có triển vọng phù hợp với biện pháp kỹ thuật khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng

bổ sung và làm giàu rừng.Kết quả nghiên cứu của các đề tài trên không chỉ là tiền đề cho các hoạt động khoanh nuôi phục hồi rừng mà còn đặt nền móng cho sự ra đời của các quy phạm về phục hồi rừng đã được Nhà nước ban hành trong những năm 1990, bao gồm quy phạm "Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa" (QPN 14 - 92) và "Phục hồi rừng bằng khoanh

nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung" (QPN 21 - 98)

1.4 Đặc điểm khu vực nghiên cứu

1.4.1 Điều kiện tự nhiên

1.4.1.1 Vị trí địa lý

Trang 26

Hoà An là một huyện miền núi thuộc tỉnh Cao Bằng, nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh và bao quanh thành phố Cao Bằng Có toạ độ địa lý từ 106000’00” đến

106024’33” kinh độ Đông và từ 22030’33” đến 22052’30” vĩ độ Bắc

Ranh giới theo địa giới hành chính có giới hạn:

- Phía Bắc giáp các huyện Hà Quảng và Trà Lĩnh;

- Phía Nam giáp huyện Thạch An;

- Phía Đông giáp các huyện Quảng Uyên và Phục Hòa;

- Phía Tây giáp các huyện Nguyên Bình và Thông Nông

Sơ đồ huyện Hòa An:

Hình 2.1 Sơ đồ huyện hòa An, tỉnh Cao Bằng

Hiện nay, huyện Hòa An có tổng diện tích tự nhiên là 60.710,33 ha, dân số là 53.726 người, chia thành 21 đơn vị hành chính gồm 20 xã và 01 thị trấn

Trung tâm huyện Hòa An là thị trấn Nước Hai, nằm trên tỉnh lộ 203 cách

Trang 27

thành phố Cao Bằng 16 km về hướng Tây Bắc Trên địa bàn huyện, giao thông đường bộ chủ yếu là các tuyến đường huyết mạch trong tỉnh gồm có Quốc lộ 3, Quốc lộ 34, tỉnh lộ 204, tỉnh lộ 203 và nhờ có các tuyến đường này mà Hòa An

đã trở thành cầu nối giữa trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Cao Bằng với các huyện, thành phố trong tỉnh, với các tỉnh trong vùng và nước láng giềng Trung Quốc (Hòa An cách cửa khẩu Sóc Giang 40 km) Nhìn chung, huyện Hòa An có vị trí tương đối thuận lợi để giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với các địa bàn khác trong và ngoài tỉnh và với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa qua cửa khẩu Sóc Giang

1.41.2 Địa hình

Huyện Hòa An có kiến tạo địa hình dạng lòng máng dọc theo sông Bằng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Độ cao trung bình 350 m so với mực nước

biển Núi đồi chiếm 2/3 diện tích huyện, bao gồm núi đá và núi đất Độ cao

trung bình là 300m so với mặt biển, thấp dần từ tây sang đông Các ngọn núi cao của huyện đáng kể là: Khau Mjà (xã Đức Long) cao 508m, Khau Hân (xã Bình Long) cao 524m, Khau Sầm (xã Vĩnh Quang) cao 618m, Khau Luôn (xã

Lê Chung) cao 769m, Nà Mấn (xã Ngũ Lão) cao 1.011, Pá Diển (xã Quang Trung) cao 1.000m, Lũng Xen (xã Công Trừng) cao 854m Dãy núi đá vôi Lam Sơn (còn gọi là dãy Phja Ngả) nằm án ngữ phía tây huyện, địa hình khá hiểm trở, có nhiều hang sâu Huyện có nhiều sông suối chảy qua, đáng kể nhất là sông Bằng (đoạn chảy qua Đề Thám gọi là sông Mãng) Sông Bằng bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy từ hướng tây bắc xuống Hà Quảng, nhập lưu với các nhánh sông Nặm Thoong tại Nà Niền (xã Đức Long), Dẻ Rào từ Thông Nông chảy xuống và sông Tả Sla từ Nguyên Bìnhra gặp sông Bằng tại Nước Hai; một nhánh từ Đại Tiến ra gặp sông Bằng tại Bản Sẩy xã Bế Triều, chảy qua các xã Hồng Việt, Hoàng Tung, Hưng Đạo, Vĩnh Quang, Đề Thám, thành phố Cao Bằng, Quang Trung, Hà Trì, Chu Trinh, Hồng Nam, sang huyện Phục Hòa rồi chảy qua Trung

Trang 28

Quốc Sông Bằng có lòng rộng và sâu, thuận tiện cho giao thông vận tải Hệ thống sông Bằng và các nhánh đã bồi đắp nên những cánh đồng tương đối bằng phẳng và phì nhiêu vào loại nhất tỉnh Các sông, suối còn là nguồn cung cấp tôm cá cho con người, nguồn dự trữ thủy điện khá dồi dào

Địa hình ở đây chia cắt phức tạp, đại bộ phận có đồi núi thấp xen kẽ địa hình castơ (đá vôi) với các thung lũng sâu, kín và bồn địa giữa núi Sự phân hóa nền địa hình chia thành 3 dạng chính: địa hình đồi núi đất, địa hình thũng lũng và địa hình núi đá

- Dạng địa hình đồi núi đất: có độ cao trung bình từ 300 - 350 m, phân bố ở các xã phía Bắc, Đông Bắc và phía Nam của huyện Địa hình có độ dốc thoải ở ven rìa các khối núi, càng tiến vào trong càng dốc Đất đai phần lớn có

độ dốc trên 250 xen kẽ có các thung lũng hẹp và chân sườn đồi dốc thoải, có độ dốc dưới 200, dạng địa hình này chiếm khoảng 63% diện tích toàn huyện

- Dạng địa hình thung lũng bồn địa: có độ cao trung bình 140 - 200 m so với mực nước biển, phân bố chủ yếu trên địa bàn 8 xã, thị trấn trung tâm huyện dọc theo 2 bờ sông Bằng Đây là một bồn địa lớn của tỉnh, được hình thành do sự bồi đắp phù sa của các sông, suối thuộc hệ thống sông Bằng, có địa hình tương đối bằng phẳng và là vùng sản xuất lúa màu tập trung lớn của huyện Dạng địa hình này chiếm khoảng 17% diện tích toàn huyện

- Dạng địa hình núi đá: có độ cao trung bình từ 350 - 400 m, phân bố chủ yếu ở các xã phía Đông, Đông Bắc và phía Tây của huyện trên địa bàn 6

xã, trong đó tập trung chủ yếu ở 4 xã phía Đông huyện Dạng địa hình này chủ yếu là các dãy núi đá vôi dốc đứng xen kẽ các thung lũng nhỏ, hẹp Khả năng khai thác sử dụng đất vào mục đích nông nghiệp bị hạn chế, chỉ có thể canh tác được ở các thung lũng Một hạn chế khác của dạng địa hình này là thiếu nước, thậm chí nước sinh hoạt cũng thiếu vào mùa khô Vùng địa hình này chiếm khoảng 20% diện tích toàn huyện

Trang 29

Đặc điểm địa hình của huyện Hòa An cho thấy sự phân hóa rõ rệt, các dạng địa hình khác nhau gây khó khăn cho việc đi lại và xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng lại mang sự đa dạng trong khả năng khai thác sử dụng đất Vì vậy, việc khai thác sử dụng đất cần chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đặc biệt là

ở các vùng đồng bằng, nơi tập trung đông dân cư gắn liền với quá trình đô thị hóa và cơ sở hạ tầng phát triển mạnh gây sức ép lớn Các vùng địa hình đồi núi cần gắn việc khai thác sử dụng với việc bảo vệ tài nguyên, môi trường nhằm

đảm bảo tính bền vững trong quá trình sử dụng

1.4.1.3 Khí hậu, thuỷ văn

* Khí hậu: Huyện Hòa An chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu lục địa nhiệt đới gió mùa và phân hoá thành 2 mùa:

- Mùa đông nhiệt độ thấp, khô lạnh, ít mưa, đôi khi có sương muối

- Mùa hè nhiệt độ và độ ẩm cao, mưa nhiều, đôi khi có mưa đá

Những đặc trưng trong chế độ khí hậu thời tiết như sau:

- Chế độ nhiệt: nền nhiệt độ trung bình cả năm vào khoảng 20 - 220C, nhiệt

độ trung bình tối cao là 32,30C (tháng 7), nhiệt độ trung bình tối thấp là 10,40C (tháng 1) Nền nhiệt độ phân hóa theo 2 mùa rõ rệt trong năm Mùa nóng ẩm từ tháng 5 - 9, mùa lạnh khô từ tháng 10 - 4 năm sau Nhiệt độ trung bình các tháng mùa nóng đạt 26,20C Nhiệt độ trung bình các tháng mùa lạnh khoảng 18,90C Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm khoảng 8,40C

- Tổng tích ôn: hàng năm đạt khoảng 7.8900C, trong đó vụ đông xuân đạt 3.3180C, vụ mùa đạt khoảng 4.7520C Với nền nhiệt độ như trên có thể canh tác được 2 - 3 vụ cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới

- Chế độ mưa: huyện Hòa An có lượng mưa bình quân khoảng 1.300 -

1.500 mm/năm, tuy nhiên phân bố không đều trong năm: lượng mưa trong mùa mưa (từ tháng 3 - 8) chiếm tới 80% lượng mưa cả năm

- Lượng bốc hơi: bình quân 800 - 1.000 mm/năm

- Độ ẩm: trung bình cả năm đạt 82%

Trang 30

Nhìn chung, chế độ mưa, ẩm của huyện tương đối khá nhưng không đều Sự chênh lệch lượng mưa giữa các mùa ảnh hưởng đến độ ẩm trong mùa khô, lạnh làm hạn chế đáng kể tới khả năng tăng vụ cây trồng trên những diện tích chưa chủ động được nước tưới

- Các hiện tượng thời tiết đặc biệt: trên địa bàn huyện Hòa An còn có

một số hiện tượng thời tiết đặc biệt như sau:

+ Mưa đá: có thể xảy ra vào các tháng 3, 4 và 9, 10 Tuy ít gặp nhưng thường gây thiệt hại lớn cho cây trồng ngắn ngày như rau, thuốc lá, ngô, lúa…

+ Sương muối: có thể xảy ra trong các tháng 12 và tháng 1 thường đi đôi với rét hại nên gây thiệt hại nặng cho các loại cây trồng và đàn gia súc, gia cầm

+ Lũ lụt: thường xảy ra trong các tháng mùa mưa tại các vùng ven sông suối gây lũ quét, xói lở đất… ảnh hưởng tới cuộc sống của nhân dân

Với đặc điểm khí hậu và thời tiết như trên, đòi hỏi khi quy hoạch sử dụng đất cần chú trọng phát huy ưu thế về nền nhiệt, độ ẩm để bố trí cây trồng hợp

lý nhằm nâng cao hệ số sử dụng đất Đồng thời cần hạn chế những bất lợi của thời tiết, khí hậu đến đất đai và cây trồng như xói mòn rửa trôi đất, khô hạn, sương muối, mưa đá… bằng các biện pháp kỹ thuật thích hợp để đảm bảo sử dụng đất hiệu quả và bền vững

* Thủy văn: Hoà An có nguồn nước khá dồi dào với mạng lưới sông suối khá dày song lại phân bố không đều Tại các vùng đồi núi thấp, nhìn chung nguồn nước mặt khá phong phú, đáp ứng đủ nước sinh hoạt và sản xuất, nhưng

ở các vùng núi đá vôi rất thiếu nước, nhất là vào mùa khô

a Nguồn nước mặt

Nguồn nước mặt dùng cho sinh hoạt và sản xuất chủ yếu được cung cấp

bởi các sông, suối, hồ,… Các con sông chính chạy qua huyện và hồ đập gồm:

- Sông Bằng: là sông chính chảy qua huyện, với 2 chi lưu lớn là sông Tsè

Lao ở phía Tây và sông Tả Pàng ở phía Đông Bắc Hai chi lưu này hợp với

Trang 31

sông Bằng ở thị trấn Nước Hai Sông Bằng chảy qua địa phận huyện Hoà An với độ dài 40 km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Sông có lưu lượng Qmax: 1.879 m3/s, Qmin: 7,43 m3/s Đây là nguồn chính cung cấp nước tưới cho cánh đồng lúa của huyện Hoà An

- Sông Hiến:chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc với độ dài hơn 20

km, đi qua địa bàn các xã nằm ở phía Nam huyện Sông có lưu lượng Qmax:

431 m3/s, Qmin: 3,38 m3/s

b Nguồn nước ngầm

Nguồn nước ngầm ở Hoà An chưa được điều tra, khảo sát chi tiết, tuy

nhiên ở nhiều nơi nhân dân đã sử dụng giếng đào lấy nước sinh hoạt

1.4.1.4 Thổ nhưỡng, các nguồn tài nguyên

* Tài nguyên đất:Dưới tác động tổng hợp của các điều kiện tự nhiên và

hoạt động sản xuất của con người cũng như tính đặc thù về vị trí địa lý, trên địa bàn huyện Hòa An đã hình thành 7 nhóm đất chính với diện tích như sau:

- Đất phù sa: 3.667,43 ha, chiếm 5,55% diện tích tự nhiên

- Đất xám: 37.947,62 ha, chiếm 57,47% diện tích tự nhiên

- Đất nâu: 6.332,31 ha, chiếm 9,59% diện tích tự nhiên

- Đất đen nứt nẻ: 108,15 ha, chiếm 0,16% diện tích tự nhiên

- Đất tích vôi: 108,20 ha, chiếm 0,16% diện tích tụ nhiên

- Đất đỏ: 5.494,40 ha, chiếm 8,32% diện tích tự nhiên

- Đất xói mòn trơ sỏi đá: 2.265,48 ha, chiếm 3,43% diện tích tự nhiên Năm nhóm đất có diện tích lớn nhất ở Hòa An là đất xám, đất nâu, đất đỏ, đất phù sa và đất xói mòn trơ sỏi đá Trong đó, nhóm đất xám chiếm hơn nửa tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Đáng chú ý, huyện Hòa An còn có nhóm đất đen, tuy chiếm diện tích nhỏ nhưng đây là nhóm đất hiếm gặp mà ở một số nơi khác không có (phân bố ở các xã Dân Chủ, Ngũ Lão, Quang Trung)

* Đất rừng:Diện tích đất rừng của huyện Hòa An năm 2010 là 47.291,21

ha, trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ với diện tích là 45.497,99 ha; rừng trồng

Trang 32

với diện tích là 1.723,21 ha và rừng đặc dụng có diện tích nhỏ với 70,01 ha Độ che phủ rừng của huyện hiện tại đạt 52% Thảm thực vật rừng tự nhiên chủ yếu là các loài thân gỗ và tre nứa có sức tái sinh mạnh Thảm thực vật rừng trồng có thông, sa mộc, bạch đàn, keo,… Để đảm bảo phục hồi và phát triển quỹ rừng, ngành lâm nghiệp thực sự là thế mạnh của một huyện miền núi và đảm bảo an toàn sinh thái trong những năm tới cần đặc biệt chú trọng tới công tác quản lý, bảo vệ rừng nhằm không ngừng nâng cao độ che phủ và trữ lượng lâm sản

1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.4.2.1 Dân số, dân tộc

Hiện nay, dân số của huyện Hòa An có 53.726 người, gồm có 6 dân tộc trong đó chủ yếu là dân tộc Tày (chiếm 58%) và dân tộc Nùng (chiếm 28%) Mỗi dân tộc sinh sống trên địa bàn huyện đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên nền văn hoá truyền thống phong phú, đa dạng đặc biệt là dân tộc Tày Họ có truyền thống văn hoá lâu đời, có chữ viết riêng (nhóm ngôn ngữ Tày - Nùng) Nét đặc sắc về văn hoá của người Tày được thể hiện trong các hội làng, ca hát đối đáp, hát ví, hát then, hát si, hát lượn Sự phong phú, đa dạng về bản sắc văn hóa của các dân tộc là nguồn động lực mạnh mẽ, thúc đẩy kinh tế xã hội của huyện phát triển

Hiện nay, trên địa bàn huyện còn bảo tồn được nhiều điểm di tích lịch sử

- văn hóa có giá trị như: đền vua Lê, khu di tích lịch sử Nặm Lìn, khu di tích lịch sử Lam Sơn, Đây là nguồn tài nguyên nhân văn to lớn cần phải thường xuyên tu tạo và trân trọng phát huy

1.4.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

* Tăng trưởng kinh tế: Nền kinh tế của huyện Hoà An trong những năm

qua không có những đột phá mà có những bước phát triển ổn định Giá trị tổng sản phẩm của các ngành sản xuất vật chất và dịch vụ có sự tăng trưởng bền vững trên cơ sở nông nghiệp là nền tảng cho phát triển kinh tế của địa phương

Trang 33

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2006 - 2010 đạt 12,2%, trong đó:

+ Khu vực kinh tế nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 13,5%;

+ Khu vực kinh tế công nghiệp và xây dựng tăng 12,5%;

+ Khu vực kinh tế dịch vụ tăng 12%

Tổng giá trị sản xuất (theo giá so sánh 1994) của các ngành kinh tế tăng

từ 186 tỷ đồng năm 2006 lên 275 tỷ đồng năm 2010; tăng trưởng bình quân đạt trên 10%/năm Nhóm ngành Nông - Lâm nghiệp tăng 5,29%; nhóm ngành Công nghiệp - Xây dựng cơ bản tăng 19,3% (trong đó ngành CN - TTCN tăng nhanh, bình quân đạt khoảng 31%, ngành xây dựng tăng chậm lại, tuy nhiên bình quân tăng đạt gần 13%); nhóm ngành Thương mại - Dịch vụ tăng đạt 15,1%; giá trị sản xuất bình quân đầu người tăng từ 2,91 triệu đồng năm 2006

lên 5,08 triệu đồng năm 2010

Năm 2011 tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện đạt 13,5%, trong đó: + Khu vực kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4%;

+ Khu vực kinh tế công nghiệp - TTCN - XDCB tăng 15%;

+ Khu vực kinh tế dịch vụ tăng 18%

Tăng trưởng kinh tế của huyện trong giai đoạn 5 năm trở lại đây đạt khá nhưng chưa ổn định và chủ yếu do đầu tư mang lại Tuy nhiên, hiệu suất đầu tư và sức cạnh tranh của các sản phẩm nông - lâm sản, dịch vụ chưa cao, chưa tạo thành vùng hàng hóa có thương hiệu riêng Việc sử dụng giống mới có năng suất, chất lượng cao trong sản xuất chưa đồng đều giữa các vùng; chưa tạo được nhiều hàng hóa xuất khẩu, kết quả thực hiện các dự án nông, lâm nghiệp đạt hiệu quả chưa cao

* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Là một huyện miền núi, sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế huyện Hòa An nói chung đã theo hướng tích cực và phù hợp với

xu thế phát triển chung nhưng tốc độ chuyển dịch giữa các ngành còn chậm và

Trang 34

chưa ổn định, chưa phát huy hết khả năng, thế mạnh của huyện Cơ cấu kinh tế còn nhiều bất cập so với toàn vùng và của tỉnh Cao Bằng Do một số nguyên nhân, trong đó nông nghiệp đang giữ vai trò chủ đạo và là thế mạnh trong phát triển kinh tế của huyện, bên cạnh việc phát triển công nghiệp còn gặp khó khăn

do nguồn đầu tư và điều kiện kinh doanh, sức mua dân cư không lớn so với những vùng kinh tế khác

Địa điểm nghiên cứu được thực hiện trên các xã Bình Dương; Bạch Đằng; Hoàng Tung; Hồng Việt; Lê Chung Đây là các xã nằm trong vùng trọng điểm cháy của huyện trong các năm qua.Cháy rừng thường xảy ra vào mua khô bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau

Diện tích có rừng của các xã nghiên cứu gồm Bình Dương, Bạch Đằng, Hoàng Tung, Hồng Việt và Lê Chung được thống kê ở bảng 2.1 dưới đây:

Bảng 2.1.Thống kê diện tích các xã vùng nghiên cứu

STT Tên xã, thị trấn

Tổng diện tích có rừng (ha)

Diện tích trong quy hoạch LN (ha)

Diện tích ngoài quy

Bảng 2.2 Số liệu cháy rừng của các xã nghiên cứu từ năm 2015-2019

Trang 35

TT Tên xã Số vụ

cháy

Diện tích cháy (ha) Năm cháy Ghi chú

Trang 36

Chương 2

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Rừng tự nhiên và rừng trồng, và các giải pháp lâm sinh phục hồi rừng sau cháy tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Căn cứ vào diện tích quy hoạch đất lâm nghiệp cho huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, đề tài chọn 05 xã đại diện có rừng và xảy ra cháy rừng qua các năm làm cơ sở cho việc điều tra nghiên cứu gồm: Bình Dương; Bạch Đằng; Lê Chung; Hoàng Tung; Hồng Việt, huyện Hòa An

Vấn đề nghiên cứu: Đặc diểm của các loài thực vật, khả năng phục hồi sau cháy của thực vật rừng và những biện pháp lâm sinh phục hồi rừng sau cháy góp phần quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng tại huyện Hòa

An, tỉnh Cao Bằng

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng và công tác QLBVR tại khu vực nghiên cứu

- Đánh giá tình hình cháy rừng từ giai đoạn năm 2015 đến nay

- Đánh giá đặc điểm của thảm thực vật rừng sau cháy theo thời gian

- Nghiên cứu và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến phục hồi rừng sau cháy

- Phân loại tiềm năng phục hồi rừng trên đất rừng sau cháy

- Đề xuất các giải pháp lâm sinh phục hồi rừng sau cháy

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập các dữ liệu thứ cấp

Phương pháp này được sử dụng để thu thập thông tin khoa học trên cơ

sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu và tư liệu đã có, vận dụng phương pháp tư duy logic để rút ra các kết luận khoa học cần thiết Những dữ liệu thu thập là:

Trang 37

- Tài liệu về khí tượng: các chỉ tiêu như: nhiệt độ trung bình năm; tổng lượng mưa; độ ẩm và lượng bốc hơi…

- Tài liệu về tài nguyên rừng và đất rừng, đặc điểm phân bố, đặc điểm địa hình khu vực phân bố…

- Tài liệu về kinh tế - xã hội: thu thập các số liệu thống kê về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu Cơ cấu kinh tế nông nghiệp (trồng trọt; chăn nuôi; lâm nghiệp)

- Tài liệu tham khảo liên quan đến đề tài của các tác giả trong và ngoài nước Các số liệu thu được sẽ được thống kê lại theo những yêu cầu của đề tài và các thời điểm phục vụ cho phân tích, đánh giá và xác định mức độ cần bổ sung

Số lượng được phỏng vấn là 20 hộ

Tiêu chí lựa chọn: Đối tượng phỏng vấn là các chủ rừng có diện tích rừng

đã từng xảy ra cháy; các lô rừng là rừng nghèo kiệt, rừng chưa có trữ lượng; đất trống có cây gỗ tái sinh

Cách thức phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp, phát phiếu để thu thập thông tin đối với các đối tượng được chọn

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm của lâm phần sau cháy

Các tuyến điều tra và các ô đo đếm đảm bảo đi qua các dạng địa hình, trạng thái rừng và mức độ cháy khác nhau Thực hiện trên khu vực rừng bị cháy rừng có diện tích lớn vào các năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019 tại xã Bình Dương; Hồng Việt; Lê Chung; Bạch Đằng; Hoàng Tung huyện Hòa An

Điều tra trên 16 OTC, mỗi OTC có 5 ô thứ cấp và được bố trí theo tại 04 góc của OTC và điểm giữa của OTC, các đặc điểm về thực vật:

Trang 38

+ Đặc điểm cây tầng cao: Đếm số lượng, chiều cao, đường kính, xác định tên loài Tính toán mật độ, độ tàn che Kết quả điều tra theo mẫu biểu (Phụ

lục 02)

+ Đặc điểm cây tái sinh: Đếm số lượng, đo chiều cao cây tái sinh và

phân cấp chiều cao cây tái sinh, xác định tên cây tái sinh (Tên địa phương, khoa học, các loài không biết tên cần phải lấy mẫu để giám định theo phương pháp chuyên gia) Xác định nguồn gốc, chất lượng cây tái sinh, phân cấp chiều cao Chiều cao cây tái sinh được đo bằng thước Blumeleiss cho cây có chiều cao > 4m và đo bằng sào đo cao có chia vạch cho cây có chiều cao < 4m Kết quả điều

tra tổng hợp theo mẫu biểu (Phụ lục 03)

+ Thống kê loài cây bụi, thảm tươi, độ che phủ cây bụi thảm tươi trên 5

ô thứ cấp 25m2 Kết quả điều tra theo mẫu biểu (Phụ lục 04)

- Nghiên cứu đất dưới tán rừng

+ Trên mỗi OTC: Đào phẫu diện đất, độ sâu tùy thuộc phần đá gốc nằm dưới Xác định độ dày tầng đất thông qua các tầng phát sinh của phẫu diện, được tính cho hết tầng A đến tầng chuyển tiếp sang B (tính cho hết phần đất

còn xốp, chưa gặp nhiều đá lẫn) Kết quả điều tra theo mẫu biểu (Phụ lục 05)

- Về nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến phục hồi rừng sau cháy: đề tài tiến hành nghiên cứu một số yếu tố có ảnh hưởng đến tái sinh tự nhiên trên các ô tiêu chuẩn: nhóm nhân tố địa lý - địa hình: vị trí, độ dốc Nhóm nhân tố thực vật: độ che phủ cây bụi thảm tươi Nhóm nhân tố đất: độ dày tầng đất, độ xốp đất, độ ẩm đất Nhóm nhân tố kinh tế xã hội: các tác động chăn thả, khai thác…

2.3.4 Phương pháp đề xuất các giải pháp phục hồi sau cháy

Tổng hợp những kiến thức kinh nghiệm từ việc nghiên cứu tổng quan, đánh giá những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên - kinh tế, xã hội;

Ngày đăng: 08/03/2021, 11:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w