nghệ trong doanh nghiệp còn phụ thuộc vào điều kiện của từng doanh nghiệp về cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ quản lý .Công ty Khoá Minh Khai nằm trên diện tích 1700m2 nên việc bố trí
Trang 1THỰC TẾ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở CÔNG TY KHOÁ MINH KHAI
2.1: Đặc điểm chung của Công ty Khoá Minh Khai
2.1.1: Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Khoá Minh Khai:
Công ty Khoá Minh Khai là một doanh nghiệp nhà nước hạch toán độclập, có tư cách pháp nhân, chịu sự quản lý trực tiếp của Tổng công ty Cơ khíxây dựng – Bộ Xây dựng
Trụ sở chính của Công ty đặt tại 125D phố Minh Khai, quận Đống Đa,
TP Hà Nội
Ngành nghề kinh doanh :
- Sản xuất khoá các loại, hàng tiểu ngũ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng
- Sản xuất hàng kết cấu thép và thiết bị xây dựng
Ngày 5/5/1972 theo Quyết định số: 562/BKT của Bộ trưởng Bộ Kiếntrúc ( nay là Bộ
Xây dựng ) Công ty Khoá Minh Khai chính thức được thành lập với tên gọiban đầu là Nhà máy Khoá Minh Khai, cùng với sự giúp đỡ của nước Cộnghoà Ba Lan về nhà xưởng, nhà làm việc, máy móc thiết bị, quy trình côngnghệ Năm 1972 do chiến tranh ác liệt của đế quốc Mỹ bắn phá miền Bắcnước ta, cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà máy bị tàn phá nặng nề nên phảingừng hoạt động để phục hồi sửa chữa Cuối năm 1973 nhà máy mới đi vàosản xuất thử; đầu năm 1974 nhà máy mới chính thức đi vào sản xuất hàngloạt Thời gian đầu nhà máy sản xuất các loại sản phẩm như: khoá, ke cửa,bản lề, chốt cửa theo thiết kế của Ba Lan Tuy nhiên do áp dụng quy trìnhcông nghệ của Ba Lan nên mẫu mã sản phẩm sản xuất ra không phù hợp vớithị hiếu tiêu dùng của người Việt Nam Trước tình hình đó, từ năm 1975 cán
bộ công nhân viên nhà máy phải vừa sản xuất vừa bắt tay vào nghiên cứu,thiết kế cải tiếnlại mẫu mã, sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu tiêu dùngtrong nước Đó chính là thành công bước đầu của nhà máy đạt được Tới nayqua 30 năm liên tục phấn đấu xây dựng, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách,
Trang 2năm là đơn vị quản lý giỏi của ngành Xây dựng; Thương hiệu khoá MinhKhai đã khảng định được chỗ đứng của mình trên thị trường và được ngườitiêu dùng tín nhiệm; sản phẩm của Công ty đã dành được nhiều huy chươngtrong các hội chợ triển lãm hàng công nghiệp và hàng tiêu dùng
Năm 1989 thực hiện Quyết định số: 217/HĐBT, ngày 14/11/1987 Hộiđồng Bộ trưởng ( nay là Chính phủ ) về các chính sách đổi mới hạch toánkinh doanh Xã hội chủ nghĩa với các xí nghiệp Quốc doanh Công ty đã bố trí,sắp xếp, cải tiến hoàn thiện cơ cấu tổ chức sản xuất, bộ máy quản lý và rút ramột bộ phận lớn lao động dôi dư, trình độ nghiệp vụ, tay nghề và sức khoẻkhông phù hợp chuyển sang làm công tác khác hoặc giải quyết chế độ chonghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, hoặc trợ cấp thôi việc, đồng thời gửi một bộphận cán bộ công nhân viên có trình độ năng lực đi học tập, lao động ở nướcngoài Công ty đã tổ chức sắp xếp lại bộ máy quản lý gọn nhẹ hơn, hợp lýhơn, phân công việc cho cán bộ công nhân viên phù hợp với năng lực vàchuyên môn nghiệp vụ của từng người Vì vậy mà mọi cán bộ công nhân viênđều cảm thấy gắn bó và có trách nhiệm trong công việc xây dựng Công tyngày càng vững mạnh
Ngày 5/5/1993 Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ra Quyết định số:163A/BXD-TCLD thành lập lại doanh nghiệp Nhà nước: Nhà máy KhoáMinh Khai trực thuộc Liên hiệp các xí nghiệp Cơ khí xây dựng – Bộ Xâydựng
Ngày 7/3/1994, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số: 90/TTG, V/vtiếp tục sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, Liên hiệp các xí nghiệp Cơ khíxây dựng cho phép Nhà máy khoá Minh Khai được đổi tên thành Công tyKhoá Minh Khai Dưới đây là một số chỉ tiêu tổng hợp tình hình của Công tyKhoá Minh Khai vài năm qua
2.1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý của Công ty.
Trang 3nghệ trong doanh nghiệp còn phụ thuộc vào điều kiện của từng doanh nghiệp( về cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ quản lý ).
Công ty Khoá Minh Khai nằm trên diện tích 1700m2 nên việc bố trí,sắp xếp các phân xưởng, các bộ phận sản xuất là tương đối thuận lợi cho việcvận chuyển vật tư, vận chuyển thành phẩm giữa các tổ sản xuất, các phânxưởng với nhau Việc sắp xếp các bộ phận sản xuất của Công ty khá hợp lýnên việc vận chuyển giữa các phân xưởng đảm bảo nhanh gọn, thuận tiện từkhâu đưa nguyên vật liệu vào đến khâu cuối cùng là tạo ra sản phẩm hoànchỉnh
Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Loại hình sản xuất của Công tylà kiểu chế biến liên tục, quy mô sảnxuất thuộc loại vừa Sản phẩm của Công ty gồm nhiều loại, có kết cấu phứctạp, có những đặc tính khác nhau về kích cỡ, yêu cầu kỹ thuật nhưng nhìnchung các sản phẩm có cùng một quy trình công nghệ sản xuất Quy trìnhcông nghệ đó bao gồm các giai đoạn sau:
(1) Giai đoạn chế tạo phôi tạo ra các chi tiết, các bộ phận sản phẩmdưới dạng thô (phôi ) Sau đó phôi được chuyển sang giai đoạn gia công cơkhí để chế biến thành chi tiết hoặc bộ phận sản phẩm hoàn thành có thể bán rangoài dưới dạng bán thành phẩm
(2) Giai đoạn gia công cơ khí chủ yếu tạo ra các chi tiết, các bộ phận
cụ thể của từng phân xưởng như sau:
- Phân xưởng Cơ khí – Cơ điện gồm 2 bộ phận:
+ Bộ phận cơ khí: Có nhiệm vụ tạo phôi ban đầu như dập định hình racác khuôn mẫu ( phôi, ke, khoá ), đúc tay nắm nhôm, đúc đồng thỏi để tiện lõikhoá Đối với một số sản phẩm đơn giản, ít công đoạn như bản lề, then cài,chốt cửa thì bộ phận cơ khí có thể làm hoàn chỉnh từ khâu đầu đến khâu cuối
Thuộc bộ phận này gồm có các tổ: Khuôn, dập, nguội, rèn, khoan
Trang 4+ Bộ phận cơ điện: Nhiệm vụ của bộ phận này là sửa chữa thườngxuyên trung đại tu máy móc thiết bị trong Công ty, kể cả phần cơ và phầnđiện Bộ phận này chịu trách nhiệm đảm bảo cho các phân xưởng khác hoạtđộng liên tục không bị gián đoạn do ảnh hưởng của của máy móc thiết bị hay
do ảnh hưởng của nguồn điện
Ngoài ra bộ phận cơ điện còn có nhiệm vụ chế tạo khuôn đúc ke, bản
lề, khoá Nhiệm vụ này rất quan trọng và phức tạp vì nó đòi hỏi chính xác cao
để đảm bảo khi đúc các chi tiết có thể lắp ráp được khớp với nhau Thuộc bộphận này gồm các tổ: Phay, điện, sửa chữa, gia công cơ khí
Mặc dù số công nhân của phân xưởng không nhiều song phân xưởng cơkhí – cơ điện vẫn là một phân xưởng mạnh, một điển hình tiên tiến tromg tổchức sản xuất của Công ty, đồng thời là đơn vị tạo ra giá trị sản lượng lớnnhất trong Công ty
- Phân xưởng bóng mạ sơn: Có nhiệm vụ chủ yếu là mạ quai khoá, bản
lề, chốt cửa crêmôn Công nghệ mạ đòi hỏi phải có kỹ thuật cao theo quytrình công nghệ nghiêm ngặt để đảm bảo có độ bền và độ bóng cao Thuộcphân xưởng này có các tổ bóng, mạ, sơn
- Phân xưởng lắp khoá bao gồm các tổ lắp 1, lắp 2, lắp 3, lắp 4, lắpkhoá: Nhiệm vụ của phân xưởng này là lắp ráp các chi tiết rời do các phânxưởng khai thác tạo ra thành sản phẩm hoàn chỉnh
- Phân xưởng kết cấu thép: Nhiệm vụ là sản xuất các mặt hàng kết cấuthép như giàn giáo, cửa chớp, cửa hoa
Các phân xưởng sản xuất trên đều chịu sự quản lý trực tiếp của cácquản đốc phân xưởng
Tại các phân xưởng trên do sản phẩm hoàn thành có kết cấu phức tạp,bán thành phẩm hoàn thành ở phân xưởng này lại tiếp tục được sản xuất, chếtạo ở phân xưởng kia Vì vậy giữa các phân xưởng trong Công ty có quan hệchặt chẽ với nhau và cùng hoàn thành một sản phẩm
Trang 5NGUYÊN VẬT LIỆU
PHÂN XƯỞNG CƠ KHÍ - CƠ ĐIỆN PHÂN XƯỞNGBÓNG MẠ PHÂN XƯỞNG KẾT CẤU THÉP
PHÂN XƯỞNGLẮP KHOÁ
lý mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, chịu trách nhiệm chung về
Trang 6nhân viên ( từ việc huy động vốn đến đảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi,đảm bảo đủ công ăn việc làm và thu nhập cho cán bộ công nhân viên chức,đến việc phân phối thu nhập và thực hiện nghĩa vụ với nhà nước ) Trợ giúpgiám đốc có một Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật, một Phó giám đốc phụtrách kinh doanh, một Phó giám đốc phụ trách sản xuất Các phòng ban chứcnăng có nhiệm vụ giúp ban giám đốc Công ty quản lý các hoạt động sản xuấtkinh doanh và chịu sự quản lý trực tiếp của ban giám đốc.
Nhiệm vụ và chức năng cụ thể của từng phòng ban như sau:
- Phòng Tổ chức hành chính là bộ phận có nhiệm vụ bố trí sắp xếp laođộng trong Công ty về số lượng, trình độ nghiệp vụ, tay nghề phù hợp vớitừng phòng ban, từng bộ phận sản xuất, xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộcông nhân viên, tập hợp các định mức lao động, các quy chế quản lý và sửdụng lao động, tổ chức ký kết các hợp đồng lao động, giải quyết các chế độchính sách về lao động và tiền lương
- Phòng Kế hoạch vật tư: Nhiệm vụ của phòng là xây dựng các kếhoạch cho sản xuất, tiêu thụ vật tư ngắn và dài hạn Ngoài ra phòng còn cónhiệm vụ đảm bảo cung ứng đầy đủ và kịp thời, cân đối giữa các mặt vật tư,lao động và máy móc thiết bị đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục
- Phòng Tài vụ có nhiệm vụ thu thập, xử lý và đưa ra các thông tin tàichính giúp cho việc quản lý và giám sát một cách thường xuyên liên tục, có
hệ thống mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
- Phòng Kỹ thuật công nghệ có nhiệm vụ cùng với phòng Kế hoạch vật
tư xây dựng các định mức kinh tế, kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm,quy cách từng loại mặt hàng trước khi bắt tay vào sản xuất Phòng Kỹ thuậtcòn có nhiệm vụ thiết kế các khuôn mẫu, thiết kế các sản phẩm mới, nghiêncứu ứng dụng các tiến độ kỹ thuật khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chế biếnthử sản phẩm Ngoài ra phòng Kỹ thuật còn có nhiệm vụ tham gia sửa chữalớn máy móc thiết bị
Trang 7BAN GIÁM ĐỐC
Phòng kế hoạch vật tư Phòng kinh doanh Phòng kỹ thuật công nghệ Phòng KCS Phòng tài vụ Phòng tổ chức hành chính
Phân xưởng cơ khí – cơ điện Phân xưởng kết cấu thép Phân xưởng bóng mạ Phân xưởng lắp khoá
- Phòng KCS có chức năng kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi
nhập kho
- Phòng Kinh doanh có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, tìm và phát
hiện nhu cầu đồng thời giới thiệu sản phẩm của Công ty trên thị trường, nhằm
cung cấp cho nhà quản lý những thông tin giúp cho việc đưa ra quyết định
đúng đắn trong sản xuất kinh doanh Cùng với hoạt động quản lý của các
phòng ban chức năng, các phân xưởng và các tổ đội sản xuất có các quản đốc
phân xưởng và các tổ trưởng sản xuất là người chịu trách nhiệm về hoạt động
sản xuất trong nội bộ của bộ phận mình quản lý, bố trí cho phù hợp, thường
xuyên giám sát kỹ thuật và tình hình thực hiện sản xuất của đơn vị mình
Sơ đồ 2:
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÔNG TY KHOÁ MINH KHAI
Trang 8KẾ TOÁN TRƯỞNG
Kế toán vật tư Kế toán Tlương và bán TP Kế toán Tphẩm và tiêu thụ Kế toán thanh toán Thủ quĩ kiêm kế toán TSCĐ Kế toán dự án đầu tư
2.2 Tổ chức công tác kế toán tại Công ty Khoá Minh Khai
2.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán:
Tại Công ty Khoá Minh Khai bộ máy kế toán gồm 7 nhân viên được tổ
chức theo kiểu tập trung, có nhiệm vụ thực hiện kế hoạch tài chính, tính toán
ghi chép chính xác về nguồn vốn và tình hình TSCĐ, vật tư, các loại vốn bằng
tiền và lập báo cáo kế toán kịp thời đầy đủ Bộ máy kế toán của Công ty được
tổ chức như sau:
Sơ đồ 3:
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN VÀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN
- Kế toán trưởng: Là người chịu trách nhiệm chung của toàn bộ công
tác kế toán của Công ty, là người có trách nhiệm quản lý, theo rõi tình hình tài
chính của Công ty, tổ chức và điều hành toàn bộ công tác kế toán
Trang 9- Kế toán vật tư: Có trách nhiệm theo rõi chi tiết và tổng hợp tình hìnhnhập xuất tồn kho từng loại vật tư gồm vật liệu chính, vật liệu phụ, công cụlao động.
- Kế toán tiền lương: Có nhiệm vụ tính lương và các khoản trích theolương cho cán bộ công nhân viên Hàng tháng có nhiệm vụ tạm ứng, thanhtoán tiền lương cho cán bộ công nhân viên Đồng thời kế toán tiền lương còn
có nhiệm vụ theo rõi kho bán thành phẩm, tình hình nhập xuất, tồn kho bánthành phẩm hàng tháng
- Kế toán thành phẩm và tiêu thụ: Có nhiệm vụ tập hợp chi phí sản xuấtphát sinh, tính giá thành cho từng loại thành phẩm, tình hình tiêu thụ và thanhtoán công nợ với khách hàng Đông thời lập các báo cáo kế toán theo định kỳhoặc theo yêu cầu của lãnh đạo
- Kế toán thanh toán: Có nhiệm vụ lập các phiếu thu, phiếu chi trên cơ
sở đó mở các sổ theo rõi các khoản thu, chi phí bằng tiền phát sinh hàng ngày
ở Công ty
- Kế toán dự toán đầu tư: Có nhiệm vụ thu thập, tính toán xử lý, phảnảnh và tổng hợp đầy đủ kịp thời chính xác thông tin về nghiệp vụ đầu tư hìnhthành Thực hiện kiểm tra, kiểm soát tình hình chấp hành các tổ chức địnhmức, các chế độ chính sách quản lý tài chính đầu tư và xây dựng của nhànước và của đơn vị
- Thủ quỹ: Có nhiệm vụ thu, chi theo yêu cầu, thủ quỹ còn là ngườitheo rõi tình hình TSCĐ của Công ty, tình hình tăng giảm, trích khấu haoTSCĐ
Tuy có sự phân chia giữa các phần hành kế toán, mỗi kế toán viên trongphòng kế toán có một công việc nhất định, nhưng giữa các bộ phận này luôn
có sự kết hợp với nhau Việc hoạch toán trung thực, chính xác các nghiệp vụkinh tế phát sinh và kết quả ở khâu này sẽ là nguyên nhân, là tiền đề cho khâutiếp theo, đảm bảo cho toàn bộ hệ thống kế toán hoạt động một cách hiệu quảnhất
2.2.2 Tài khoản và hình thức sổ sách kế toán áp dụng:
Với đặc điểm kinh doanh thực tế, Công ty Khoá Minh Khai áp dụng hệ
Trang 10chính ban hành thống nhất áp dụng trong cả nước từ ngày 01/01/1996 và cácquy định sửa đổi bổ sung của Bộ Tài chính qua Thông tư số: 89/2002 Hiệnnay Công ty có trang bị máy vi tính cho công tác kế toán nhưng công việckhông hoàn toàn sử dụng máy mà chỉ sử dụng một phần máy vi tính Hìnhthức sổ đăng ký của Công ty là sổ nhật ký chung, chương trình trên máy cũng
sử dụng hình thức nhật ký chung Chứng từ đưa vào được thực hiện songsong trên hai hướng là bằng ghi chép sổ sách và nhập chứng từ vào chươngtrình máy tính Trên máy, từng phần hành sẽ nhập chứng từ liên quan sau đókết quả trên máy sẽ được đối chiếu với nhau Các báo cáo in ra từ máy, do đócông việc của kế toán có giảm bớt nhưng chưa đáng kể
Phần hành kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ đã góp phầntheo dõi chính xác, trung thực tình hình nhập xuất tồn kho thành phẩn, tìnhhình tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ của Công ty, cung cấp thông tin cholãnh đạo về tình hình tiêu thụ thành phẩm để có những biện pháp giải quyếttốt nhất
Trên đây là những nét chung nhất giới thiệu về Công ty và bộ máy kếtoán của Công ty Trong bài viết này sẽ đề cập chi tiết về hạch toán tiêu thụthành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ của Công ty Khoá Minh Khai
2.2.3 Đặc điểm của thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm.
2.2.3.1 Đặc điểm của thành phẩm:
Công ty Khoá Minh Khai là một trong những Công ty sản xuất thiết bị,sản phẩm cơ khí phục vụ ngành Xây dựng có uy tín lớn trong cả nước, khôngchỉ cho những công trình xây dựng lớn mà còn phục vụ cho nhu cầu dân cưtrên địa bàn Hà Nội cũng như các tỉnh, thành phố trong cả nước Trong điềukiện cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường, Công ty vẫm đứng vững, khảngđịnh mình bằng chính chất lượng sản phẩm sản xuất ra đồng thời nó giúpCông ty tạo được uy tín và thu hút được khách hàng Hiện nay Công ty sảnxuất trên 7 loại sản phẩm,mỗi loại gồm nhiều thứ khác nhau Chẳng hạn riêng
về mặt hành khoá, Công ty có hơn10 loại khác nhau như khoá MK10,MK10A, MK10F, thanh cài mạ, thanh cài sơn tĩnh điện Loại sản phẩm tiêuthụ chủ yếu là thành phẩm, ngoài ra vật tư, phế liệu cũng có thể được Công tyđem đi tiêu thụ khi hồi phục từ sản xuất Sự phong phú về chủng loại sản
Trang 11phẩm giúp Công ty có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng ngày càng
đa dạng nhưng nó cũng gây khó khăn đến việc hạch toán chi tiết, tổng hợpthành phẩm của Công ty
2.2.3.2 Đặc điểm tiêu thụ và các hình thức tiêu thụ thành phẩm của Công ty.
Sản phẩm của Công ty được tiêu thụ theo 2 phương thức chủ yếu sau:
- Thành phẩm bán trực tiếp cho khách hàng:
Theo phương thức này, sản phẩm được trao đổi trực tiếp đến ngườimua (xuất thành phẩm bán thẳng cho người mua), việc thoả thuận giá cả,phương thức thanh toán được diễn ra trực tiếp giữa Công ty và khách hàng màchủ yếu là trả trực tiếp bằng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng Một số khách hàng
có quan hệ lâu dài có thể thanh toán trả chậm
Có thể chia thành hai loại đối tượng mua hàng theo phương thức này ởCông ty như sau:
+ Đối với một số sản phẩm phục vụ nhu cầu xây dựng dân dụng củadân cư hay các sản phẩm cơ khí phục vụ cho xây dựng cơ bản như giàn giáo,ống chống, thanh giằng thì khách hàng chủ yếu là dân cư và các Công ty xâydựng lớn Loại đối tượng mua hàng này được Công ty bán theo giá bán lẻ.Phương thức này thuận lợi cho cả khách hàng và Công ty Khách hàng có thểtrực tiếp đến Công ty chọn sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mình còn Công
ty thì nhanh chóng tiêu thụ được thành phẩm Tuy nhiên đối tượng mua hàngthuộc loại này ít và chỉ giới hạn trong một vài sản phẩm nhất định Phươngbán hàng này đang được Công ty mở rộng và khách hàng ngày càng ưachuộng vì Công ty có thể trực tiếp liên hệ được với khách hàng, thị hiếu tiêudùng mới để có thể đưa ra những sản phẩm được thị trường chấp nhận
+ Loại đối tượng thứ hai theo phương thức bán đại lý là các đại lý muađứt bán đoạn
Theo hình thức này các đại lý phải được Công ty đồng ý cho phép vàthông qua hợp đồng đại lý Ngoài một số tiền Công ty cho từng đại lý chịucăn cứ trên doanh số bán ra của từng đại lý Khi đến mua hàng các đại lý phảithanh toán ngay với Công ty như đối tượng mua lẻ ở trên Khi xuất hàng bán
Trang 12cho đại lý, Công ty viết ngay hoá đơn trên GTGT và doanh thu ghi nhận ngaykhi xuất hàng cho đại lý đồng thời Công ty nhận được tiền hàng.
- Tiêu thụ thành phẩm thông qua phương thức là các đại lý gửi cửahàng giới thiệu sản phẩm Các đại lý ký gửi hay cửa hàng giới thiệu sản phẩmmuốn nhận bán đại lý, ký gửi phải được sự đồng ý của Công ty và thông quahợp đồng ký gửi
Khi xuất thành phẩm bán cho những đối tượng này Công ty sẽ viếtphiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, hàng xuất bán vẫn thuộc quyền sởhữu của Công ty, doanh thu chiụ được ghi nhận khi các đại lý, ký gửi hoặccửa hàng giới thiệu sản phẩm bán được hàng và phòng kinh doanh viết hoáđơn GTGT Số dư hàng gửi bán cuối tháng chính là giá vốn của số thànhphẩm xuất bán cho các đại lý, ký gửi, cửa hàng giới thiệu sản phẩm mà chưađược ghi nhận doanh thu Đối với các đại lý mua đứt bán đoạn và đại lý, kýgửi mà Công ty xuất thành phẩm bán cho theo giá bán buôn Sản phẩm tiêudùng như các loại khoá, crêmôn, bản lề, là chủ yếu Hiện nay mạng lưới đại
lý của Công ty đã mở rộng ra ở hầu hết khắp các tỉnh miền Bắc, ngoài ra còn
có một số đại lý ở miền Nam và miền Trung
2.2.3.3 Phương thức thanh toán:
Ngoài việc lựa chọn phương thức bán hàng cho phù hợp, Công ty cũngquan tâm đến việc đa dạng hoá các phương thức thanh toán sao cho tiện lợi vàđơn giản nhất với khách hàng và cho phép khách hàng có thể thanh toánnhanh theo nhiều phương thức khác nhau như tiền mặt, tiền gửi Ngân hànghoặc có thể trả chậm Một số mặt hàng chưa đủ cung cấp hay sản xuất theođơn đặt hàng thì khách hàng có thể đặt tiền trước
- Thanh toán trực tiếp:
Theo phương thức này khách hàng được nhận hàng và trả tiền ngay,chủ yếu là diễn ra với khách hàng mua lẻ số lượng ít, không thường xuyên vàcác đại lý mua đứt bán đoạn Đây là phương thức thanh toán chiếm tỷ lệ caonhất
- Khách hàng ứng tiền trước:
Trang 13Khách hàng có thể ứng tiền ra để đặt trước một số mặt hàng mà Công
ty chưa kịp sản xuấ hay sản xuất theo đơn đặt hàng Doanh số thu được ghinhận trong trường hợp này là khi Công ty xuất sản phẩm cho khách hàng
- Khách hàng mua phải chịu: Thường xẩy ra với khách hàng có quan hệmua bán lâu dài với Công ty và các đại lý ký gửi, cửa hàng giới thiệu sảnphẩm
2.3 Kế toán tiêu thụ thành phẩm ở Công ty Khoá Minh Khai:
2.3.1 Hạch toán ban đầu:
Việc ghi chép ban đầu của kế toán tiêu thụ thành phẩm ở Công ty chủyếu là sử dụng các chứng từ sau: Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ,phiếu xuất kho, hoá đơn GTGT và một số chứng từ liên quan khác
Trang 142.3.1.1 Quá trình xuất kho thành phẩm:
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ được sử dụng trong trườnghợp Công ty xuất nội bộ thành phẩm bao gồm: Xuất giới thiệu sản phẩm thìcăn cứ vào giấy duyệt của giám đốc, xuất thành phẩm gửi bán cho đại lý, kýgửi, cửa hàng giới thiệu sản phẩm thì theo đề nghị của khách hàng và đã đượcgiám đốc phê duyệt
Biểu số 1:
Đơn vị: Công ty khóa Minh Khai
Vận chuyển nội bộ Ban hành theo QĐ số
Căn cứ lệnh điều động số ngày tháng năm của
Họ và tên người vận chuyển: Phạm Thúy Hồng 1E Cát Linh
Phương tiện vận chuyển:
Xuất tại kho:
Thực nhập
Bộ Tài Chính phát hành Xuất ngày 4/2/2004
Người lập phiếu nhập Thủ kho xuất Người vận chuyển Thủ kho
Trang 15Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nộ bộ được lập thành 3 liên: 1 liên lưutại cuống, 1 liên giao cho khách hàng và 1 liên thủ kho giữ Sau khi ghi vàothẻ kho thì thủ kho chuyển cho kế toán để làm cơ sở ghi vào bảng kê xuất nộibộ.
- Phiếu xuất kho:
Khi sản phẩm không đảm bảo yêu cầu bị khách hàng trả lại Công ty sẽxuất đổi sản phẩm mới cho khách hàng, hàng bán bị trả lại không ảnh hưởngđến doanh thu, đồng thời hàng xuất đổi không phải viết hóa đơn GTGT hayphiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
Số lượng thành phẩm kém chất lượng đem về Công ty sẽ được viếtphiếu xuất kho giao thẳng xuống cho bộ phận gia công chế biến lại
Biểu số 2
QĐ 1141/TC/QĐ/CĐKTNgày 1/11/1995 của Bộ Tài Chính
Yêucầu
Thựcđơn
Trang 16Ta có số liệu tháng 1/2004 ở Công ty như sau:
- Tại kho: Thủ kho căn cứ vào các chứng từ do phòng kinh doanh lập đểtiến hành nhập, xuất kho thành phẩm theo đúng số lượng ghi trong chứng từ
Cuối ngày, thủ kho kiểm tra phân loại theo từng loại chứng từ, từng thứthành phẩm rồi ghi số lượng nhập, xuất, tồn kho thành phẩm vào từng thẻ kho
Trang 17tương ứng Riêng đối với thành phẩm hỏng do khách hàng trả lại, thủ kho còntheo dõi thêm ở thẻ kho hàng hỏng Phiếu xuất kho và phiếu nhập kho thànhphẩm sửa chữa lại là căn cứ để ghi vào thẻ kho hàng hỏng.
Thẻ kho gồm 5 cột lớn: Bao gồm cột chứng từ, trích yếu, ngày nhậpxuất, cột số lượng và ký xác nhận của kế toán trong đó cột chứng từ có 2 cộtnhỏ là số hiệu và ngày tháng của chứng từ, cột số lượng gồm 3 cột nhỏ là cộtnhập, xuất, tồn
Cuối tháng thủ kho căn cứ vào số dư trên từng thẻ kho để ghi vào sổ số
dư cột số lượng làm căn cứ đối chiếu với kế toán vào cuối tháng ( biểu số 03)
Sổ số dư do phòng kế toán lập được mở cho cả năm Mỗi tháng một vàitrang sổ tùy theo thành phẩm của Công ty nhiều hay ít chủng loại
Trang 18tiền S.lượng
Thành tiền
- tồn chỉ theo dõi về mặt số lượng, không theo dõi về mặt giá trị (Công tykhông sử dụng giá hạch toán để hạch toán để đánh giá thành phẩm)
- Tại phòng kế toán
Theo định kỳ, thủ kho chuyển toàn bộ hóa đơn xuất kho cho kế toán, kếtoán tiền hành phân loại hàng hóa Các loại chứng từ xuất kho ở Công ty khóaMinh Khai; Hóa đơn GTGT áp dụng cho đối tượng mua hàng trực tiếp; phiếuxuất kho kiêm vận chuyển nội bộ áp dụng cho trường hợp xuất thành phẩmgiử các đại lý, cửa hàng giới thiệu sản phẩm xuất đi triển lãm; phiếu xuất khođược sử dụng trong trường hợp xuất thành phẩm hỏng do khách hàng trả lạimang đi sửa chữa
Căn cứ vào phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ và phiếu xuất kho kếtoán lấy số liệu trên cột số lượng để ghi vào bảng kê xuất nội bộ Bảng kêxuất
nội bộ gồm 4 phần dựa trên 4 mục đích khác nhau của xuất nội bộ
Trang 19Phần thứ nhất: Theo dõi việc xuất kho thành phẩm đem đi sửa chữa, cơ
sở lập phần này là các phiếu xuất kho
Phần thứ 2: ghi số liệu của những phiếu xuất nội bộ có liên quan đến
việc gửi hàng đi bán cho đại lý ký gửi
Phần thứ 3: ghi số liệu của những phiếu xuất nội bộ có liên quan đến đi
giới thiệu sản phẩm
Phần thứ 4: Ghi số liệu tổng hợp của những phiếu xuất nội bộ có liên
quan đến việc xuất thành phẩm cho cửa hàng giới thiệu sản phẩm
Với số liệu ngày 1/1/2004 các phần của sổ xuất nội bộ được minh hoạ ởcác biểu 04, 05, 06, 07
Biểu số 5:
Trích bảng kê xuất nội bộTháng 1/2004Phần thứ nhất
Đơn vị: cái
Inox
Ke 160Inox
Trang 20Biểu số 6
Trích bảng kê xuất nội bộ
Tháng 1/2004Phần thứ 2
Đơn vị: cáiST
Cụm23AS
Trang 21Biểu số 8:
Trích bảng kê xuất nội bộ
Tháng 1/2004Phần thứ 4
Đơn vị: cái
Diễn giải Ke 120
Inox
Ke 160 Inox
Hóa đơn GTGT được lập thành 3 liên: liên 1 lưu tại cuống, liên 2 và liên
3 giao cho khách hàng xuống kho lấy hàng trong đó liên 3 khách hàng dùng
để thanh toán, liên 2 thủ kho giữ Sau khi ghi vào thẻ kho số lượng thànhphẩm xuất bán, thủ kho gửi hóa đơn lên phòng kế toán để kế toán làm căn cứghi vào sổ tiêu thụ thành phẩm (đối với bán lẻ trực tiếp cho người tiêu dùng)hay ghi sổ chi tiết bán hàng đại lý (bán buôn cho các đại lý)
Đối với hóa đơn GTGT: kế toán phân loại hóa đơn theo nhóm bán lẻ vàbán buôn đại lý (kể cả đại lý mua đứt bán đoạn và đại lý ký gửi)
Với hóa đơn GTGT bán buôn đại lý (biểu số 9): Kế toán phân loại hóađơn theo từng đại lý Mỗi đại lý kế toán mở một hay một số tờ sổ chi tiết đểtheo dõi số lượng thành phẩm xuất cho từng đại lý (biểu số 11)
Trang 22Hóa đơn GTGT MS 01 GTKT - 3LL
Liên 3: Dùng thanh toán 02-B
Đơn vị bán hàng : Công ty khóa Minh Khai
Địa chỉ: 125D Minh Khai
Điện thoại:
Họ và tên người mua hàng: chị Yên - Nam Định
Hình thức thanh toán: Tiền mặt
STT Tên hàng hóa , dịch vụ Đơn
Số tiền viết bằng chữ: Năm triệu ba trăm ba lăm ngàn đồng chẵn
Với hóa đơn GTGT của hàng bán lẻ
Trang 23Biểu số 10
Liên 3: Dùng thanh toán 02 - B
Đơn vị bán hàng : Công ty khóa Minh Khai
Địa chỉ : 125D Minh Khai
Điện thoại :
Họ và tên người mua hàng: Bình - Bách Khoa
Hình thức thanh toán: Tiền mặt
STT Tên hàng hóa , dịch vụ Đơn
vị
S.lượng Đơn giá Thành tiền
Thuế suất thuế GTGT: 10% Cộng tiền hàng: 4.650.000
Thuế GTGT:
465.000Cộng tiền thanh toán: 5.115.000
Số tiền viết bằng chữ: năm triệu một trăm mười lăm ngàn đồng chẵn
Do số nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong trường hợp này không nhiều nên
kế toán không mở sổ chi tiết theo từng khách hàng mà căn cứ trực tiếp vào sốlượng thành phẩm xuất bán cho từng khách hàng trên hóa đơn để ghi thẳngvào bảng kê số lượng thành phẩm tiêu thụ (Biểu số 12) Bảng kê này gồmnhiều cột lớn: chứng từ, tên người mua và các cột nhỏ ghi trên từng thứ thànhphẩm xuất bán, số các cột tên thành phẩm căn cứ vào số lượng thứ thành