nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng bò đực giống 7/8 máu Sind và bổ xung thức ăn tinh tỷ lệ sống ,sinh trưởng của đàn bê lai
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
VŨ TRÍ QUÂN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐÀN BÒ VÀNG, NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG BÒ ĐỰC GIỐNG 7/8 MÁU SIND VÀ BỔ SUNG THỨC ĂN TINH TỚI TỶ LỆ SỐNG, SINH TRƯỞNG CỦA ĐÀN BÊ LAI
TẠI HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN – 2007
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
VŨ TRÍ QUÂN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐÀN BÒ VÀNG, NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG BÒ ĐỰC GIỐNG 7/8 MÁU SIND VÀ BỔ SUNG THỨC ĂN TINH TỚI TỶ LỆ SỐNG, SINH TRƯỞNG CỦA ĐÀN BÊ LAI
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, những số liệu đã được sử dụng trong bản luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Moị sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Vũ Trí Quân
Trang 4Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của hai thầy cô giáo hướng
dẫn: TS Trần Trang Nhung, TS Hoàng Toàn Thắng
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Sở Công Nghiệp – Khoa học & Công nghệ, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Kạn, Trung tâm ứng dụng tiến bộ Khoa học & Công nghệ, Trung tâm nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Bắc Kạn
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới UBND huyện Chợ Đồn, Phòng Nông lâm nghiệp, Phòng Thống kê, Trạm Thú y, UBND các xã của huyện Chợ Đồn
Nhân dịp này tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình và bè bạn gần xa
đã tạo điều kiện, khuyến khích, động viên giúp đỡ tôi hoàn thành chuyên đề nghiên cứu
Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các vị trong Hội đồng chấm luận văn lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất
Thái Nguyên ngày 4 tháng 11 năm 2007
Tác giả
Vũ Trí Quân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I – TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng 12
1.1.6 Cơ sở khoa học để bổ sung thức ăn tinh cho bê từ 6 đến 10 tháng tuổi 21
1.3 Giới thiệu về bò đực giống 7/8 máu Sind 31 1.4 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Chợ Đồn 32
CHƯƠNG II – NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 34
2.4 Các chỉ chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định 40
CHƯƠNG III- KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả điều tra, đánh giá hiện trạng đàn bò địa phương 45 3.1.1 Tình hình phát triển chăn nuôi bò của các xã điều tra 45 3.1.2 Khả năng sinh trưởng của đàn bò Chợ Đồn 50 3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng
đực giống F3 (7/8 máu Sind) tới tỷ lệ sống và sinh trưởng của bê lai 58
Trang 63.2.1 Tỷ lệ nuôi sống của bê Lai Sind và bê địa phương 58 3.2.2 Sinh trưởng tích luỹ của bê Lai Sind và bê địa phương 60 3.2.3 Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của bê Lai Sind và bê ĐP 65 3.2.4 Kích thước một số chiều đo của bê Lai Sind và bê địa phương 69 3.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bổ sung
thức ăn tinh để nuôi bê Lai Sind sau cai sữa từ 6 đến 10 tháng tuổi 71 3.3.1 Tỷ lệ nuôi sống của bê Lai Sind thí nghiệm 71 3.3.2 Sinh trưởng tích lũy của bê Lai Sind thí nghiệm 72 3.3.3 Sinh trưởng tuyệt đối của bê Lai Sind thí nghiệm 74 3.3.4 Kết quả sinh trưởng tương đối của bê Lai Sind thí nghiệm 76 3.3.5 Kích thước một số chiều đo của đàn bê Lai Sind thí nghiệm 77 3.3.6 Sơ bộ hạch toán chi phí thức ăn cho bê thí nghiệm 79
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Thành phần hoá học một số cỏ tự nhiên và cỏ trồng 18
Bảng 2.1 Nhu cầu dinh dưỡng của bê nuôi thịt ở giai đoạn 6-10 tháng
tuổi và có mức tăng trọng là 500 gr/ngày
Bảng 2.4 Dinh dưỡng cho bê thí nghiệm sau khi đã bổ sung thức ăn
tinh hỗn hợp so với lô đối chứng và nhu cầu ăn
40
Bảng 3.1 Số lượng, phân bố và biến động của đàn bò 4 xã điều tra
qua 3 năm gần đây
46
Bảng 3.3 Quy mô đàn bò chăn nuôi trong nông hộ tại các xã điều tra 49 Bảng 3.4 Sinh trưởng tích luỹ của bò vàng địa phương từ sơ sinh
Đồn với bê lai F1 (Bố Red Sindhi x mẹ đp) của các địa phương khác (kg)
64
Trang 9Bảng 3.11 Sinh trưởng tuyệt đối của của bê Lai Sind và bê địa phương
36
Sơ đồ thí
nghiệm 2
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh tới tỷ
lệ sống và sinh trưởng của đàn bê lai từ 6 đến 10 tháng tuổi
37
Trang 103.3 Sinh trưởng tuyệt đối của bê Lai Sind thí nghiệm 75
Trang 11MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Bò là một loại gia súc có nhiều ưu thế, được nuôi ở hầu hết các vùng địa
lý, vùng sinh thái khác nhau trên thế giới Là động vật nhai lại nên bò có khả năng sử dụng các loại thức ăn xanh, thức ăn thô rẻ tiền chứa nhiều xơ như: Cỏ khô, rơm rạ, thân cây ngô và các phế phụ phẩm nông, công nghiệp mà con người và các loại vật nuôi khác không sử dụng được để chuyển hóa thành các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và giá trị thương mại cao như: Thịt, sữa đồng thời còn cung cấp sức kéo cho sản xuất nông nghiệp Năm 2006 thế giới thu được 657 triệu tấn sữa, trong đó có tới 80- 90% là sữa bò (Số liêụ của FAO tại trang web: www.vinanet.com.vn, ngày 10/10/2007)[12]; Sản lượng thịt bò thế giới năm 2006 đạt 53,8 triệu tấn (số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ tại trang web: www.xttm.agroviet.gov.vn, ngày 7/5/2007)[3] Đây là một trong những nguồn thực phẩm quan trọng đối với đời sống con người
Chăn nuôi bò có khả năng đem lại hiệu quả kinh tế cao do chi phí thức ăn thấp, công lao động chủ yếu là trẻ em, người già Bò cũng là loài gia súc chịu kham khổ tốt, dễ nuôi và ít bệnh tật Ngoài ra chăn nuôi bò còn cung cấp khối lượng phân hữu cơ đáng kể cho trồng trọt, đồng thời cung cấp nguyên liệu (da, lông, sừng, móng ) cho công nghiệp chế biến và sản xuất hàng tiêu dùng Vì lẽ đó, chăn nuôi bò cần được quan tâm phát triển nhằm mang lại lợi ích kinh tế
Việt Nam với 3/4 diện tích là đồi núi và vị trí địa lý nằm trong khu vực nhiệt đới nên quanh năm cây cỏ xanh tốt, có nhiều thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi đại gia súc, hơn nữa lại có nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp đáng kể là điều kiện thuận lợi để phát triển và mở rộng quy mô đàn gia súc ăn
cỏ, đặc biệt là đàn bò
Trang 12Năm 2004 tổng đàn bò của cả nước là 4,91 triệu con, năm 2005 tăng lên 5,54 triệu con, tốc độ tăng đàn là 12,85 %; Sản lượng thịt trâu bò năm 2004 là 177,24 ngàn tấn đến năm 2005 tăng lên 201,96 ngàn tấn, tốc độ phát triển đạt 13,94% (Báo cáo của Cục Chăn nuôi, tháng 6-2006) [6]
Bắc Kạn là một tỉnh nghèo nằm ở miền núi phía bắc có ngành công nghiệp kém phát triển, sản xuất nông lâm nghiệp được xác định là thế mạnh kinh tế của tỉnh, trong đó chăn nuôi trâu bò được ưu tiên phát triển, với mục
tiêu là: “Phấn đấu đưa đàn trâu bò của tỉnh từ 121.000 con lên 300.000 con
vào năm 2010” đã được đưa vào Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh
Thực hiện Nghị quyết của tỉnh, huyện Chợ Đồn đã có nhiều cố gắng
để phát triển đàn bò địa phương, các dự án khoa học đã được triển khai, kỹ thuật chăn nuôi bò bán thâm canh được chuyển giao tới các hộ gia đình chăn nuôi bò ở huyện Trong đó, bò đực giống Lai Sind được đưa vào để
“Sind hóa” đàn bò địa phương, các giống cỏ năng suất cao được đưa vào trồng để cung cấp thức ăn xanh tại chỗ cho bò, kỹ thuật chăn nuôi bò được tập huấn cho nông dân
Để cung cấp thêm các thông tin tham khảo trong công tác nghiên cứu khoa học và tổng kết các mục tiêu của dự án, củng cố bài học thành công và
có các căn cứ triển khai mở rộng dự án sang các huyện thị khác trong tỉnh, thực hiện thành công chủ trương của tỉnh trong việc chỉ đạo thực hiện đề án phát triển đàn bò Chúng tôi tiến hành đề tài khoa học:
"Đánh giá thực trạng đàn bò vàng, nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng bò đực giống 7/8 máu Sind và bổ sung thức ăn tinh tới tỷ lệ sống, sinh trưởng của đàn bê lai tại huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn "
Trang 132 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI:
- Nắm bắt được thực trạng phát triển và tốc độ sinh trưởng của đàn bò vàng địa phương
- Đánh giá được ảnh hưởng của việc sử dụng bò đực giống 7/8 máu Sind đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của đàn bê Lai Sind
- Đánh giá được ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn tinh tới tỷ lệ sống và sinh trưởng của đàn bê Lai Sind
- Rút ra bài học thực tế khuyến cáo phát triển chăn nuôi bò trong các địa phương khác của tỉnh
Trang 14Chương I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Cơ sở khoa học của ƣu thế lai
Ưu thế lai là hiện tượng tăng thêm sinh lực ở đời con do sự giao phối giữa cá thể đực, cái khác loài, giống, dòng cũng như khác nhau về mặt di truyền, điều kiện sống và nuôi dưỡng, kết quả là đời con cho sức sinh trưởng, sức sản xuất và sức đề kháng cao hơn bố mẹ Danh từ ưu thế lai (Heterosis) được dùng trong khoa học từ năm 1914 theo đề nghị của nhà di truyền học người Mỹ I.Shull
Theo Falconer, 1990, ưu thế lai là sự khác biệt giữa giá trị tính trạng của con lai so với bố mẹ, thường vượt lên trung bình của cả bố và mẹ (Trần Đình Miên, 1975) [15]
X mẹ + X bố
X con lai > -
Thế hệ bố, mẹ càng khác nhau thì ưu thế lai càng cao
Nếu gọi ưu thế lai là H, ta có công thức tính ưu thế lai:
X F 1 – X bố mẹ
H (%) = - x 100
X bố mẹ
Trong đó: - X F 1 Là bình quân giá trị đời con
- X bố mẹ là bình quân giá trị tính trạng đời bố mẹ
Người ta thường sử dụng ưu thế lai để thay đổi đặc điểm di truyền của các giống vật nuôi đã có hoặc tạo một giống khác, thường được lợi
Trang 15nhuận cao hơn trong chăn nuôi Vì vậy, khi lai giữa các giống khác nhau, thường xảy ra sự thay đổi về di truyền dẫn tới những thay đổi về thể hình, sinh lý con lai Để nâng cao một bước về sức sản xuất của đàn bò địa phương, đồng thời xây dựng đàn bò nền phục vụ cho công tác lai tạo nâng cao sức sản xuất thịt, sữa; Các công trình nghiên cứu cho thấy phương hướng cải tạo đàn bò địa phương bằng con đường "Sind hóa" là hoàn toàn phù hợp và hiệu quả nhất
Ngoài sự kết hợp chung, các gen còn có khả năng kết hợp đặc biệt Khả năng kết hợp chung thường là do hoạt động của gen trội, gen siêu trội, sự át gen có ảnh hưởng của sinh thái môi trường và có sự tương quan giữa môi trường và di truyền Còn khả năng đặc biệt là do đặc tính của dòng, của cá thể được chọn lọc đã có từ trước
Bản chất của ưu thế lai trong di truyền học cho đến nay vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu Để giải thích hiện tượng ưu thế lai (Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, 1997) [21] các nhà nghiên cứu đã đưa ra 3 giả thuyết, trong đó có hai giả thuyết chính đó là: Thuyết gen trội và thuyết gen siêu trội Thường gọi tắt là thuyết trội và siêu trội
- Thuyết gen trội: Những tính trạng như sức sống, khả năng sinh sản, sinh trưởng… nói chung là các tính trạng số lượng được nhiều gen điều khiển, cho nên rất hiếm có tổ hợp gen đồng hợp tử Thế hệ con được tạo ra do lai giữa hai cá thể sẽ biểu hiện tất cả các gen trội Trong
đó một nửa thuộc gen trội đồng hợp tử của bố và mẹ và một nửa thuộc gen trội dị hợp tử
Khi thế hệ bố, mẹ có nguồn gốc xa nhau về huyết thống, thì số gen trội khác nhau tăng lên, đó là cơ sở dẫn tới ưu thế lai
Trang 16Ví dụ:
Đời bố mẹ AAbbCCdd x aaBBccDD
Số lô cút mang gen trội 2 2
Đời con AaBbCcDd
Số lô cút mang gen trội 4
Trong trường hợp này tất cả các gen lặn đều bị lấn át
- Thuyết siêu trội: Hiệu quả của một cặp gen lặn ở trạng thái dị hợp tử thường khác với hiệu quả của từng alen biểu hiện trong trạng thái đồng hợp
tử Cho nên cá thể có tính trạng ở trạng thái dị hợp tử sẽ vượt bất kỳ cá thể có tính trạng ở dạng nào khác Hiện tượng này có thể do ở cơ thể dị hợp tử, sự tương tác giữa các alen dẫn đến hiệu quả tác động lên kiểu hình
Trong phần lớn các trường hợp alen trội thắng thế, nhưng trong nhiều trường hợp không phải như vậy và tính trạng thắng thế lại thuộc về bên không trội Nếu cả 2 lôcút Aa và Bb tương tác với nhau không trên cùng một locut sẽ
có 4 cặp Ab Do đó trạng thái hoạt động của dị hợp tử sẽ tăng lên
Kết hợp cả 2 giả thuyết trên là quan niệm cho rằng: Thay đổi về trạng thái của các hoạt động hoá sinh của hệ thống enzym trong cơ thể tạo nên ưu thế lai
Đó chính là dị hợp tử của cơ thể mới và cũng chính là nguyên nhân làm tăng khả năng sản xuất của con lai trong điều kiện được nuôi dưỡng thoả đáng
1.1.2 Sự di truyền các tính trạng năng suất
Trong di truyền học động vật có hai loại tính trạng, đó là: Tính trạng số lượng (Quantitative Character) và tính trạng chất lượng Trong chăn nuôi các tính trạng số lượng quyết định năng suất của vật nuôi, nên người ta đặc biệt
Trang 17quan tâm tới các tính trạng này (Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, 1998) [22]
Tính trạng số lượng (Quantitative Character) là những tính trạng do nhiều gen quy định Giá trị kiểu hình (Phenotyp -P) của cá thể do giá trị kiểu gen (Genotype - G) và sai lệch môi trường (Environment - E) tạo nên Nói cách khác: Cấu trúc di truyền quy định tiềm năng về năng suất của vật nuôi và ngoại cảnh là điều kiện thể hiện tiềm năng đó Mối quan hệ này được biểu hiện như sau:
Kiểu hình = Kiểu di truyền + Ngoại cảnh
+ D: Tính trội (Dominance) là sự sai lệch tương tác giữa hai gen trên cùng một lôcut
+ I: Át gen là sự sai lệch tương tác giữa các gen ở các lôcut khác nhau
D và I còn được gọi là những sai lệch không cộng gộp, chúng không cố định
- Sai lệch môi trường : E = EG+ES
Trong đó:
+ EG là môi trường chung (General Environment) ảnh hưởng tới tất
cả các con vật trong quần thể như: Khí hậu, thời tiết, khả năng cung cấp thức ăn…
+ ES: Là môi trường riêng, môi trường đặc biệt (Special Environment) ảnh hưởng đến cá thể con vật
Do đó giá trị kiểu hình của con vật sẽ là:
Trang 18P = A + D + I + EG + ES
Từ công thức trên cho thấy: Muốn cải tiến nâng cao giá trị kiểu hình P (Phenotype) thì phải cải tiến các yếu tố cấu thành Có thể tác động về mặt di truyền theo các phương thức tác động vào A bằng cách chọn lọc, vào hiệu ứng (D) và Át gen (I) bằng cách giao phối tạp giao
Khi các giá trị A + D + I được nâng lên thì tiến bộ di truyền được cải thiện, thông qua công tác lai tạo và chọn lọc
Môi trường E cũng là yếu tố tác động mạnh mẽ đến năng suất vật nuôi Các giá trị EG +ES được cải thiện thông qua việc cải thiện các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý
Tính trạng số lượng thường thay đổi liên tục dưới tác động của môi trường Để đánh giá tính trạng số lượng, người ta sử dụng các tham số thống
kê Mỗi tính trạng số lượng đều có một mức độ tập trung nhất định được biểu thị bằng số trung bình ( X) và mức độ biến dị nào đó được biểu thị bằng độ lệch chuẩn Sx hoặc hệ số biến dị (CV%)
1.1.3 Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng
1.1.3.1 Khái niệm về quá trình sinh trưởng và phát dục
Sinh trưởng là một trong những tính trạng di truyền số lượng của vật nuôi và chịu tác động của ngoại cảnh Trong công tác nhân giống vật nuôi, tính trạng này luôn được nghiên cứu
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ thông qua đồng hoá và
dị hoá Sự sinh trưởng làm tăng kích thước các chiều, tăng khối lượng của các
bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật
Nói cách khác đó là sự tích luỹ dần dần các chất mà chủ yếu là protein trong cơ thể Tốc độ sinh trưởng và cách thức tổng hợp protein là do các gen trong cơ thể điều khiển
Trang 19Như vậy sự tăng về khối lượng là một trong những chỉ tiêu tăng trưởng của cơ thể
Tuy nhiên một số trường hợp sự tăng khối lượng không phải là tăng trưởng đó là sự tích luỹ mỡ hoặc nước mà không có sự phát triển của mô cơ Theo Gartner, 1922, quá trình sinh trưởng được xem là kết quả của sự phân chia tế bào, làm tăng thể tích của tế bào để tạo nên sự sống (Lê Quang Nghiệp, 1984) [16] Sự sinh trưởng được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh để hình thành hợp tử cho đến khi cơ thể trưởng thành
Nghiên cứu sự sinh trưởng không thể không nói đến sự phát dục Đó là một quá trình thay đổi về chất, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh dần về chức năng các bộ phận của cơ thể vật nuôi
Theo Somangaozen, 1935, giữa sinh trưởng và phát dục của cơ quan này hay cơ quan khác, có sự tương quan và phụ thuộc lẫn nhau Hiện tượng này không phải bao giờ cũng chỉ ở phạm vi bộ phận mà còn đối với toàn bộ cơ thể Nó được thực hiện qua trao đổi chất và luôn thay đổi Quá trình này mang tính giai đoạn, được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, do nhiều yếu
tố tác động như phân hoá, trao đổi chất, dinh dưỡng … (Lê Quang Nghiệp, 1984) [16]
Sinh trưởng và phát dục của gia súc là hai mặt của một quá trình phát triển cơ thể vật nuôi Nói cách khác, phát triển là kết quả của các quá trình sinh trưởng, phát dục dưới dạng động thái mà cơ sở vật chất của nó là sự tăng khối lượng, thể tích cùng với sự thay đổi sâu sắc về chức năng các bộ phận trong cơ thể
Như vậy quá trình sinh trưởng và phát dục là quá trình thay đổi về số lượng và chất lượng liên tục của cơ thể vật nuôi Tuy nhiên xét trong phạm vi toàn cơ thể không phải lúc nào hai mặt sinh trưởng và phát dục cũng song song với nhau mà có thời kỳ sinh trưởng mạnh hay phát dục mạnh hơn Sinh
Trang 20trưởng có thể phát sinh từ phát dục và ngược lại sinh trưởng tạo điều kiện cho phát dục tiếp tục hoàn chỉnh (Trần Đình Miên, 1975) [15]
1.1.3.2 Những quy luật chung về sinh trưởng và phát dục
Quá trình phát triển của gia súc thường tuân theo những quy luật nhất định Trong chăn nuôi, muốn đánh giá đúng đắn sự phát triển của vật nuôi, cần nắm được những quy luật chung về sinh trưởng và phát dục cũng như nhu cầu của cơ thể đang phát triển và những ảnh hưởng của ngoại cảnh đối với quá trình này
Sinh trưởng và phát dục của vật nuôi thường tuân theo các quy luật chung, đó là: Sinh trưởng phát dục theo giai đoạn, sinh trưởng phát dục không đồng đều và sinh trưởng phát dục theo nhịp điệu (Nguyễn Văn Bình và Trần Văn Tường, 2004) [2]
+ Quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn: Quá trình phát triển của vật nuôi được phân chia thành 2 giai đoạn Đó là giai đoạn phát triển trong bào thai và giai đoạn phát triển ngoài bào thai Giai đoạn phát triển ngoài bào thai được chia làm 2 thời kỳ, là thời kỳ bú sữa và thời kỳ sau cai sữa Sự tăng trưởng của cơ thể non trong giai đoạn bào thai chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường dinh dưỡng trong cơ thể mẹ Khi cơ thể gia súc non được sinh ra đó là thời kỳ tiếp theo của giai đoạn bào thai, thì sự sinh trưởng phụ thuộc vào tính
di truyền của đời trước nhiều hơn
+ Quy luật phát triển không đồng đều của vật nuôi cho thấy nhịp độ phát triển của cơ thể và từng bộ phận qua các thời kỳ có những đặc điểm khác nhau
+ Qui luật phát triển theo nhịp điệu: Sự sinh trưởng phát dục của sinh vật nói chung và gia súc nói riêng không phải là tuyến tính Fedolop đã theo dõi
sự tăng trưởng của bò trong điều kiện nuôi dưỡng ổn định cho thấy sự tăng trọng thường theo chu kỳ và mỗi chu kỳ khoảng 12 ngày Các hiện tượng
Trang 21khác trong cơ thể cũng diễn ra theo nhịp điệu như: Chu kỳ động dục, sự đồng hoá, dị hoá của cơ thể…
Khi nắm được các quy luật sinh trưởng và phát dục của vật nuôi sẽ giúp chúng ta điều khiển 2 yếu tố di truyền và ngoại cảnh Hai yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ và biểu hiện rõ rệt trong suốt quá trình sinh trưởng phát dục của vật nuôi Trên cơ sở đó chúng ta chủ động điều chỉnh các điều kiện cho phù hợp với sự sinh trưởng của từng loại vật nuôi nhằm đạt được mục đích, đem lại hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi
1.1.3.3 Phương pháp xác định khả năng sinh trưởng của bò
Trong thực tế chăn nuôi, để biết được khả năng sinh trưởng của vật nuôi người ta thường dùng phương pháp cân và đo các chiều đo trên cơ thể vật nuôi Thông qua các số liệu cân, đo người ta xác định được tốc độ sinh trưởng của vật nuôi
Để đánh giá khả năng sinh trưởng của vật nuôi người ta căn cứ vào các chỉ tiêu sau:
- Sinh trưởng tích luỹ (sự thay đổi về khối lượng kích thước các bộ phận
và toàn bộ cơ thể vật nuôi theo thời gian)
- Sinh trưởng tuyệt đối (tăng khối lượng trong 1 đơn vị thời gian, thường được tính bằng gam/ngày)
- Sinh trưởng tương đối (mức tăng, giảm khối lượng tính bằng %)
Để dễ nhận biết và so sánh khả năng sinh trưởng của vật nuôi người ta thường biểu diễn bằng đồ thị và biểu đồ tăng trưởng
Việc đánh giá sự phát triển của vật nuôi qua xác định kích thước các chiều đo cũng là một nội dung quan trọng, đặc biệt trong việc đánh giá con giống theo hướng sản xuất của chúng
Trang 221.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng
Khi nghiên cứu về quá trình sinh trưởng của vật nuôi, người ta thấy quá trình này chịu sự tác động của hai yếu tố chính đó là:
- Đặc điểm di truyền của giống
- Môi trường nuôi dưỡng và chọn lọc giống
Theo nhận xét của Ewald Sasimonski (1987) [36] khối lượng của động vật phụ thuộc vào bản chất di truyền của loài, giống, tuổi, phụ thuộc vào tính biệt, yêu cầu thức ăn và thời tiết khí hậu
Yếu tố ảnh hưởng đầu tiên, chủ yếu trực tiếp tới khả năng sinh trưởng của con vật là yếu tố di truyền Thực tế cho thấy rằng: Các giống bò khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau Những giống bò thịt như: Hereford, Santagertrudis có tốc độ sinh trưởng nhanh, đạt 1.000 - 1.200 g/ngày Trong khi đó các giống kiêm dụng thịt, sữa như Zebu, Red Sindhi, Browrn Swiss chỉ đạt tăng trọng 600 - 800 gam/ngày
Khi so sánh giữa bò Russian Black Pied (RBP) với bò lai Holstein Friesian (HF + RBP), các tác giả Ertuer N.M; Koltosova I.Yu (1984) [37] đã đánh giá : Bò lai (HF + RBP) đã nặng hơn rõ rệt so với bò RBP ở 3,6,12 và 18 tháng tuổi Sự khác nhau trung bình là 11,2; 14,3; 17,5 và 21,6 kg
So sánh năng suất sinh trưởng của các giống thuần Charolais, Holstein Friesian, Mentbeliard; Aberdeen - Angus với con lai giữa bò cái Adma với chúng, Saint Martin G, Mesine O và cộng sự (1991) [51] đã thấy có sự khác nhau giữa giống thuần và giống lai, giữa con đực và con cái Khối lượng sơ sinh là 24,8 0,6 và 30,4 1,1kg đối với con đực 23,20,6 và 30,90,09 kg ở con cái Tăng khối lượng gam/ngày là 47022 và 663176 gam ở con đực; 45318 và 66944 gam ở con cái
So sánh khả năng sinh trưởng của bò F1 khi cho bò lai Zebu với bò Brown Swiss, Charolais, Chianina, Indobrazinlian, Limousine, Simmental dưới các điều kiện, quản lý thay đổi, các tác giả Montano M, Martiner G,
Trang 23Reynoso (1990) [44] đã cho biết: Sinh trưởng của bò chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố Bò lai giữa Charolais và Chianina có khối lượng sơ sinh cao hơn 4% so với những con lai khác
Dashdamirov K.SH (1991) [34] khi nghiên cứu bò đực Aberdeen Angus (AA), F1 Cuban Zebu (CZ) x (AA)và F2 CZ x AA đã thu được kết quả tương ứng là: Khối lượng sơ sinh trung bình là 29,9; 31,3 và 30,0 kg Khối lượng 6 tháng tuổi là 207,9; 281,6 và 293,8 kg Khối lượng 18 tháng tuổi là 405; 446,2
và 451,2kg Như vậy giữa các nhóm có sự sai khác rõ rệt
Sung Y.Y, Wang K.C và cộng sự (1988) [53] nghiên cứu về năng suất của các giống bò Red Sindhi (RS) Santa Gertrudis (SG) và con lai của chúng với bò Taiwan Yellow cho thấy: Khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa và khối lượng lúc 1 tuổi ở bò SG (27,6; 130,7 và 177,7kg) cao hơn rõ rệt so với những con bò khác Tốc độ sinh trưởng của bò Red Sindhi nói chung là thấp Planas T (1983) [49] khi nghiên cứu về năng suất sinh trưởng của 1.300
bê Zebu sinh ở Cu Ba vào những năm 1978-1980 đã cho biết: Hệ số di truyền
về khối lượng sơ sinh 3, 6, 9 và 12 tháng tuổi tương ứng là: 0,440,14; 0,160,07; 0,160,06; 0,110,25 và 0,160,06
Kentamies H (1983) [40] đã tính được hệ số di truyền về tốc độ tăng trọng/ngày của bò Finnish Ayrsline và bò Finnish Friesian tương ứng là: 0,390,1 và 0,770,25
Theo Abasa K.P, Wilcox C.J và Oson T.A (1989) [31] khi nghiên cứu trên 1.401 bò Gobra thì hệ số di truyền về khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, 12 và 18 tháng tuổi tương ứng là 0,14; 0,34; 0,33 và 0,15
Burrow H.M, Serfert G.W và Hetzel O.J.S (1991) [42] nghiên cứu trên
bò Zebu, Bos Taurus và bò Zebu x Bos Taurus ở vùng nhiệt đới đã tính được
hệ số di truyền về khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa và lúc 18 tháng tuổi của các giống tương ứng là 0,46 ; 0.21 và 0,22
Trang 24Sinh trưởng và phát triển của bò ngoài yếu tố di truyền còn phụ thuộc vào những yếu tố khác như: Thức ăn và mức độ dinh dưỡng, các điều kiện tự nhiên như khí hậu, thời tiết, nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng… Trong đó thức ăn, mức độ dinh dưỡng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh trưởng Những thiếu thốn về dinh dưỡng, đặc biệt trong giai đoạn bào thai đã ảnh hưởng lớn đến sự hình thành cơ thể con vật, làm cho chơ thể phát triển không hoàn chỉnh Tình trạng này kéo dài cho đến khi con vật trưởng thành và thường được gọi là tình trạng phát triển suy yếu trong bào thai (Embryonalisme) và suy yếu ngoài bào thai (Ifantilisme) Có thể nói thức ăn
và dinh dưỡng đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh trưởng của con vật Khi thức ăn được cung cấp đầy đủ, cân đối về thành phần dinh dưỡng thì con vật tăng trọng nhanh, giảm tiêu tốn thức ăn / 1 kg tăng trọng
Qua nghiên cứu thực tế cho thấy bò ở vùng ôn đới sinh trưởng, phát triển tốt hơn ở vùng nhiệt đới
Theo kết quả nghiên cứu của Johnson (1958-1961) [38] về khả năng tăng trọng của bò cho thấy: ở vùng khí hậu nóng bò sinh trưởng chậm hơn so với
bò ở vùng ôn đới có nhiệt độ trung bình 100
C Kết quả nghiên cứu tương tự, khi nuôi bò đực Hereford Angus trong điều kiện nóng ở Imperian valley (Mendel 1971, Johnson H.D, Roman Ponce H, trích dẫn, 1994 [43] Strees nóng làm giảm sinh nhiệt nội sinh, giảm thu nhận thức ăn cũng như đòi hỏi tăng sinh nhiệt và thay đổi tình trạng Hormore, giảm năng lực đạt được của bò đối với khả năng di truyền của chúng về mặt sinh trưởng
Nhiệt độ môi trường cao luôn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của bào thai Những bò cái chửa trong điều kiện đó đã đẻ bê có khối lượng sơ sinh nhỏ hơn rõ rệt (Johnson H.D trích dẫn 1994) [39]
Chu kỳ chiếu sáng cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới tốc độ sinh trưởng của bò
Trang 25Ở Michigal U.S.A, Peters và CS (1978) đã làm thí nghiệm trên bê Holstein với phương pháp thay đổi độ chiếu sáng trong mùa đông Cùng với thí nghiệm ở Michigal U.S.A, Sorensen T.M (1984) [42] đã thử nghiệm trên bê có khối lượng sống dưới 360 kg, cho thấy ánh sáng ảnh hưởng đển tăng trưởng của bê, còn đối với bò đã trưởng thành sự thay đổi
về cường độ chiếu sáng và thời gian chiếu sáng ít ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của bò tơ Boule, Zebu, Adama và Boule x Adama, các tác giả Poivery F.P Menissien F và cộng sự (1988) [47]
đã đánh giá sinh trưởng của bò trên 3 - 4 tháng tuổi phụ thuộc vào tính chất mùa vụ
Khi nghiên cứu về mùa vụ trên bò cái Gobra Zebu, tác giả Abassa K.P (1987) [30] đã nhận xét : Mùa vụ có ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh sản của bò và khối lượng sơ sinh cũng như mức độ tăng trưởng của bê Những bò cái sinh ra
từ tháng 10 đến tháng 3 có khối lượng trưởng thành nhỏ hơn so với những bê sinh ra từ tháng 4 đến tháng 9
Ảnh hưởng của tính biệt và thiến tới tốc độ sinh trưởng của bò cũng khá rõ rệt Nhiều nghiên cứu của Newmans, Deland M và cộng sự (1988) [46] về hiệu quả phối giống của bò Hereford với đực Sahiwal, Charolais, Simmental, Jersey đã cho thấy: So với những con cái, con đực có khối lượng sơ sinh cao hơn 2kg, nặng hơn 15kg khi cai sữa và tăng trọng cao hơn 66 gam/ngày Bê lai với các giống Châu Âu có khả năng sản xuất cao hơn khi cho lai với giống Zebu
Khi nghiên cứu về năng suất sinh trưởng và khả năng sản xuất thịt của các giống bò Finnish Ayrsline (FA), Finish Friesian (FF) , Finish (F) Charolais và Hereford, tác giả Kentamies H (1983) [40] đã nhận xét: Bò Charolais có khả năng tăng trọng cao nhất và tỷ lệ thịt xẻ cao hơn bò F1,
Trang 26FF và FA Tính biệt cũng ảnh hưởng rõ rệt đến tốc độ sinh trưởng và chất lượng thịt
Dalatte J.T, Ougan H và cộng sự (1986) [35] nghiên cứu cho thấy tính biệt cũng có ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của bò Thí nghiệm ảnh hưởng của tính biệt đến năng suất sinh trưởng của bò Zebu trên các giống Arah, Fuleni đã nhận xét: Sự khác biệt giữa các giống là rõ rệt, tăng trọng/ngày bị ảnh hưởng bởi tuổi và tính biệt
Sử dụng các loại kích tố sinh trưởng cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng của con vật Ngoài ra các yếu tố như bệnh tật, loại hình thần kinh, chăm sóc, quản lý đều có những ảnh hưởng nhất định tới khả năng sinh trưởng của vật nuôi
Johnson H.D và Roman Ponce H (1994) [39] đã kết luận: Sinh trưởng của vật nuôi phụ thuộc vào dinh dưỡng, khí hậu, tình hình dịch bệnh…
Các tác giả Mwandotto B.A.J Carles HB, Cartwraight T.C (1998) [45]
đã nhận thấy: Giống, mùa vụ, tháng đẻ, tính biệt, tuổi cai sữa, thời tiết, khí hậu, lượng mưa tổng số và tuổi đẻ của đàn bò mẹ đã ảnh hưởng tới khối lượng cai sữa Những bê sinh trong các tháng từ tháng 7 đến tháng 12 nặng hơn 12kg so với những bê sinh trong các tháng từ tháng 1 đến tháng 6, do ảnh hưởng của các yếu tố môi trường sống, nhiệt độ, ẩm độ và thức ăn
1.1.5 Nguồn thức ăn nuôi bò
Nước ta không có nhiều đồng cỏ mênh mông để chăn thả những đàn bò lớn, nhưng chúng ta có các loại cỏ tự nhiên mọc nhiều ở vùng trung du, miền núi Ở đồng bằng, cỏ mọc nhiều trên các bãi ven sông, dọc bờ đê, đường đi và xen trong những ruộng hoa màu Đó là nguồn thức ăn đầy tiềm năng cho bò Hơn nữa nước ta thuộc vùng nhiệt đới có tiềm năng vô tận về năng lượng mặt trời và đây là nền tảng cho sự phát triển cây thức ăn cho trâu bò trong tương lai Biến đổi tiềm năng năng lượng đó trên các hệ thống canh tác có năng suất
Trang 27sinh khối cao sẽ tạo ra bước nhảy vọt trong sản xuất lương thực và thức ăn chăn nuôi
Trong những năm gần đây để phát triển chăn nuôi, thức ăn công nghiệp
đã phát triển mạnh mẽ, trong tổng số thức ăn công nghiệp có khoảng 60% là giành cho lợn, 35% là cho gia cầm, 2% thức ăn cho bò và 3% cho các loại khác Thức ăn động vật nhai lại hầu hết vẫn là thức ăn tự nhiên hoặc lấy từ các sản phẩm phụ nông nghiệp
1.1.5.1 Thức ăn xanh
Nước ta thuộc vùng nhiệt đới có tập đoàn cây cỏ đa dạng, một khối lượng khổng lồ về sản phẩm phụ cây trồng, đây là những lợi thế cho việc phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại Song điều đáng lo ngại hiện nay là diện tích cỏ tự nhiên đang bị thu hẹp dần, thay thế vào đó là diện tích canh tác nông nghiệp
Thức ăn xanh ở nước ta mặc dù phong phú, song lại tập trung chủ yếu vào mùa mưa, mùa khô thiếu nghiêm trọng Vấn đề này khiến chúng ta nghĩ đến việc nghiên cứu các loại cỏ cao sản có thể phát triển ở vụ đông và dự trữ,
bổ sung thức ăn cho bò
Thức ăn xanh cho bò bao gồm: Cỏ tự nhiên, cỏ trồng, thân cây ngô, lá mía, dây lang, ngọn lá một số cây bụi và cây lấy gỗ Bò có thể tiêu hoá 70% chất hữu cơ trong thức ăn xanh Thức ăn xanh chứa hầu hết các chất dinh dưỡng cần thiết cho bò Nó cung cấp một lượng chất thô đáng kể, trong đó chứa nhiều protein dễ tiêu, giàu vitamin và các khoáng đa lượng,
vi lượng Thành phần dinh dưỡng của thức ăn xanh phụ thuộc vào giống cây trồng, điều kiện khí hậu, đất đai trình độ canh tác và giai đoạn sinh trưởng của chúng
Trang 28Bảng 1.1 Thành phần hoá học một số cỏ tự nhiên và cỏ trồng (%)
Giống cỏ Vật chất
khô
Protein thô Mỡ thô Xơ thô
Dẫn suất
k đạm
Khoáng tổng số
Viện Chăn nuôi, 2001[29]
Cỏ hoà thảo nước ta có hàm lượng dinh dưỡng khá cao Trong 1kg chất khô của nó chứa hàm lượng protein thô trung bình là 75-145g, hàm lượng xơ 269-373g, không thua kém giá trị trung bình của các loại cỏ nhiệt đới Tuy nhiên, khoáng đa lượng và vi lượng trong cỏ hòa thảo của ta thấp, đặc biệt nghèo can xi (4,7g/kg chất khô) và phốt pho (2,6g/kg chất khô)
Nhận thấy vấn đề khó khăn trong chăn nuôi gia súc nhai lại (bò sữa, bò thịt, trâu ) chính là vấn đề thức ăn, đặc biệt là vụ đông, nhiều tỉnh đã có những dự án nhằm đưa giống cỏ cao sản, thích nghi được trong vụ đông cho các hộ chăn nuôi như : Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lâm Đồng, TP Hồ Chí Minh Các giống chủ yếu là:
- Cỏ Voi (Pennisetum purpureum)
- Cỏ Ghine (Panicum maximum)
- Cỏ Pangola (Digitaria decumbens)
- Goatemala (Tripsacumlaxum)…
Trang 29Với sự phát triển mạnh mẽ của bò thịt, bò sữa, trâu nên đã đến lúc chúng
ta phải đưa việc phát triển trồng cây thức ăn cho gia súc vào chiến lược canh tác các cây trồng ở nước ta
Hiện nay, nước ta chưa có nhiều giống cây họ đậu làm thức ăn xanh cho
bò, đáng chú ý hơn là cỏ Stylo và cây Keo dậu Cành non, lá và hạt Keo dậu chứa glucozide mimosine có thể gây rụng lông trâu bò, làm giảm thể trọng Trong dạ cỏ gia súc nhai lại, mimosine bị thuỷ phân thành 3-4 dihydroxy - piridine không gây độc cho gia súc (Nguyễn Thiện, Lê Hoà Bình, 1994) [20] Tuy vậy trâu, bò, chỉ nên sử dụng dưới 30% lá Keo dậu trong khẩu phần Ngoài ra, nhiều loại lá cây bụi, lá một số cây lấy gỗ cũng là nguồn thức
ăn xanh đáng kể cho bò, nhất là ở các vùng trung du, miền núi
1.1.5.2 Thức ăn từ sản phẩm phụ cây trồng
Nước ta có một lượng sản phẩm phụ cây trồng rất phong phú, đây là những thức ăn thuộc loại nghèo dinh dưỡng Trước hết là rơm, nếu tính tỷ lệ rơm/hạt lúa là 0,8/1 thì nước ta hàng năm có 25 triệu tấn rơm, có thể được dùng để chăn nuôi trâu bò (Orskov, 2001) [18]
Rơm có hàm lượng protein thô thấp (20-30g) và hàm lượng xơ cao (320-350g)/1kg chất khô, xơ trong rơm bị Lignin hoá khó tiêu Như vậy cần phải nghiên cứu áp dụng những phương pháp chế biến khác nhau, nhằm nâng cao chất lượng rơm làm cho gia súc ăn và tiêu hoá tốt hơn, tránh lãng phí nguồn rơm khổng lồ mà ngành trồng trọt đã cung ứng cho ngành chăn nuôi chúng ta
Cây ngô già hiện nay cũng là nguồn thức ăn thô quan trọng, đặc biệt là
vụ thu đông Cứ 1kg thân cây ngô đã thu bắp trung bình có 600-700 g chất khô, 60-70 g protein thô, 280-300 g xơ thô, ước tính hàng năm cây ngô già sau thu bắp có khoảng 3 triệu tấn (Lê Viết Ly, 2001) [14]
Trang 30Ngọn sắn tươi với năng suất 2.500 - 3.000 kg/ha còn lại sau khi thu hoạch củ (Dương Thanh Liêm và cs, 1997) [41] là nguồn bổ sung protein thực vật đáng kể cho gia súc Tuy nhiên nguồn thức ăn này ít được sử dụng trong thực tế Ngoài ra, thân lá lạc, dây khoai lang, cây đỗ tương, ngọn và lá mía cũng là nguồn thức ăn tốt cho gia súc nhai lại
Tóm lại, vấn đề sử dụng các sản phẩm phụ trên còn ít trong thực tế, cốt lõi vấn là phương pháp bảo quản, chế biến và khuyến cáo cho người chăn nuôi sử dụng
Trung bình 1 kg chất khô của sắn củ có 22-28 g protein; 3-4 g chất béo
và 650g tinh bột Trong sắn có độc tố HCN do men Linamarinaza hoạt hoá chất xyanoglucozit trong tế bào sinh ra và có thể gây ngộ độc cho gia súc Sắn lát phơi khô dưới ánh nắng tự nhiên, làm hàm lượng độc tố giảm chỉ còn lại không đáng kể, là thức ăn an toàn cho gia súc nhai lại (Phạm Sỹ Tiệp, 1999) [26]
Nếu lá sắn thu hoạch như một sản phẩm phụ khi thu hoạch củ, khối lượng chất thô xanh tương đương 30% năng suất củ (Ravindran, 1992) [50]
Do vậy, lá sắn là nguồn bổ sung protein có nhiều tiềm năng cho gia súc nhai lại ở những vùng nhiệt đới
Trang 311.1.5.4 Thức ăn là phụ phẩm công nghiệp
Đây là nguồn thức ăn quan trọng ảnh hưởng lớn tới hiệu quả chăn nuôi Các sản phẩm phụ công nghiệp chế biến bao gồm: Cám gạo, cám ngô, bã mía,
bã bia, khô dầu, rỉ mật đóng góp một khối lượng lớn thức ăn cho chăn nuôi noíư chung và chăn nuôi trâu bò nói riêng
Các tác giả Preston and Leng, 1991 [19] đã kết luận: Ngọn lá, bã mía và
rỉ mật có được sau thu hoạch và sản xuất đường là nguồn thức ăn quan trọng cho gia súc nhai lại
Theo Bùi Văn Chính và CS, 2000 [33] mỗi năm nước ta có khoảng 1,5 triệu tấn phụ phẩm từ cây mía, một nguồn thức ăn thô nhiều đường nên được khai thác để nuôi trâu bò
Tóm lại, hàng ngày bò ăn nhiều thức ăn, tương ứng với khối lượng cơ thể
to lớn của nó Thức ăn của bò, rất phong phú và ít bị áp lực cạnh tranh với thức ăn của người và gia súc khác
1.1.6 Cơ sở khoa học để bổ sung thức ăn tinh cho bê từ 6 đến 10 tháng tuổi
Bò có ưu điểm là trong hệ thống tiêu hoá có hệ vi sinh vật dạ cỏ phong phú, nên có thể tiêu hoá chất khô, đặc biệt là xơ cao hơn các loại gia súc khác Bò có thể tận dụng được nhiều loại cỏ, lá cây và phế phụ phẩm nông nghiệp của trồng trọt mà các gia súc khác không sử dụng được Nguồn thức
ăn chính của bò nước ta là cỏ và nguồn phụ phẩm nông nghiệp Chúng có hàm lượng xơ cao, protein thấp, lượng ăn vào nhiều nhưng tỷ lệ tiêu hoá thấp do đó năng suất thịt của bò thấp thường dưới mức tiềm năng Vì thế cần phải bổ sung thêm protein và năng lượng cho chúng thông qua thức ăn tinh hỗn hợp, việc bổ sung này lại càng quan trọng đối với bê sau cai sữa từ 6 đến 10 tháng tuổi bởi vì lúc này bê bị cắt đứt nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng
từ sữa mẹ, trong khi yêu cầu về sinh trưởng của bê ở giai đoạn này lại rất cao
Trang 32Thức ăn tinh được bổ sung sẽ giải quyết 2 vấn đề: Thứ nhất là cung cấp năng lượng cho các vi sinh vật trong dạ cỏ phát triển mạnh nhằm tăng tỷ lệ tiêu hoá thức ăn, đặc biệt là chất xơ và thứ 2 là cung cấp dinh dưỡng trực tiếp cho bê
Khi bổ sung các loại thức ăn như cám, tấm, ngô… sẽ cung cấp năng lượng cho hệ vi sinh vật hoạt động, do đó hệ vi sinh vật dạ cỏ sẽ phát triển tăng lên, trong đó có nhiều vi khuẩn có khả năng tiêu hoá xơ nên sẽ tăng tiêu hoá chất xơ hơn Vi khuẩn và thảo phúc trùng cũng sẽ phân giải tinh bột thành polysaccarit, glycozen và amilopectin Những đường đa này sẽ được lên men tạo thành các a xít béo bay hơi trong dạ cỏ - nguồn cung cấp năng lượng và các thành phần cấu tạo nên cơ thể bò Ngoài ra khi vi sinh vật phát triển mạnh sau đó khi chết đi, nó cũng là nguồn protein đáng kể cung cấp cho cơ thể bê
Hệ vi sinh vật trong dạ cỏ của bò rất phong phú, số lượng và thành phần
vi khuẩn trong dạ cỏ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tiêu hoá của bò
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ và thành phần vi khuẩn, trong đó khẩu phần ăn là yếu tố quan trọng nhất Khi ta cho bò ăn một khẩu phần ăn nào đó thì có một số loại vi khuẩn phát triển nhanh ngược lại sự phát triển của một nhóm vi khuẩn khác lại bị hạn chế và ảnh hưởng không tốt đến các nhóm khác nữa Như vậy muốn bổ sung thức ăn tinh cho bò cần phải dựa vào nhu cầu ăn của bò giai đoạn này, tránh làm mất cân đối hệ vi sinh vật trong dạ cỏ ảnh hưởng không tốt cho tiêu hoá thức ăn thô của bò
Căn cứ các cơ sở khoa học trên cho nên để giải quyết vấn đề năng lượng và protein thiếu hụt đáp ứng yêu cầu sinh trưởng của bê trong giai đoạn 6-10 TT, chúng tôi sử dụng biện pháp bổ sung thức ăn tinh hỗn hợp cho bê, công thức phối trộn được tính toán từ việc khảo sát lượng thức ăn
Trang 33mà bê được cung cấp hàng ngày, với nguyên tắc là tận dụng các vật liệu rẻ tiền và sẵn có tại địa phương như: Cám gạo, bột ngô, đậu tương…
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1.1 Những nghiên cứu về việc lai giống bò để tăng năng suất thịt
Theo Lê Viết Ly, 1995 [13] nước Anh là nước đi đầu về cải tiến và lai tạo giống bò thịt Từ thế kỷ XVIII việc lai tạo giống bò để đạt ưu thế lai đã được chú ý Đầu thế kỷ XVIII các giống bò đen như Aberdeen Angus và Welkblack xuất hiện cùng với giống bò đỏ Hereford và đến cuối thế kỷ XIX thì bò Shorthorn đã chiếm ưu thế Đây là giống bò thịt cao sản nổi tiếng của nước Anh, có khả năng tăng trọng từ 750 - 1.000 g/ con/ ngày Tỷ lệ thịt xẻ đạt 65-68 %
Bằng cách lai ba giống bò thịt Shorthorn, Zebu, Hereford, trong đó máu bò Zebu chiếm 3/8 đã tạo ra giống bò thịt Santa Gertrudis ở miền Nam nước Mỹ
Bò có khả năng chịu đựng với khí hậu nóng và kham khổ, tỷ lệ thịt xẻ đạt 63 65
% Bò đực thiến vỗ béo đạt khối lượng khoảng 1.000kg, tỷ lệ thịt xẻ đạt 71,9 %
Ở Pháp người ta đã tạo ra giống bò Chairolais có tầm vóc lớn, sức sản xuất thịt cao, tỷ lệ thịt xẻ đạt 60 - 65%, thịt mềm, thơm ngon
Shimada K; Izarike Y, Suduki O và Kosugigama M (1989) [52] đã xác định được hệ số di truyền ở bò lai hướng thịt là 0,82 về khối lượng trưởng thành
1.2.1.2 Kết quả nghiên cứu về thức ăn, nuôi dưỡng để tăng sinh trưởng và năng suất bò thịt
Bên cạnh vấn đề lai tạo giống các nhà khoa học chăn nuôi cũng quan tâm đến nguồn thức ăn và chế độ nuôi dưỡng đối với bò thịt
Neumauh, Weiher, Nicola, Robekamp, 1990 (Vũ Văn Nội, 1994) [17]
đã dùng 11 con bò đực Charolais, 14 con bò Chianina, 13 con bò Simmental,
Trang 3411 con bò Piedmont và 14 con bò Limousin nuôi với khẩu phần chứa 70% thức ăn thô Tác giả cho thấy cũng chế độ nuôi dưỡng mức độ tăng trọng và khối lượng của chúng có sự sai khác nhau giữa các phẩm giống, như tăng trọng hàng ngày từ 150 đến 520 ngày tuổi tương ứng 1189 g; 1024 g; 1127 g;
972 g; 1025 g Khối lượng lúc giết thịt là : 624 kg; 579 kg; 612 kg; 559 kg; và
563 kg; Tỷ lệ thịt xẻ đạt tương ứng là 61,4 %; 62,5 %; 59,7 %; 63,4 %; và 61,7 %
Để nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi bò thịt và áp dụng trong các gia đình nông dân ở các nước đang phát triển, các nhà khoa học chăn nuôi đã nghiên cứu việc sử dụng các phế phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho bò Frands Dolberg và Peter Finlayson, 1990 (Vũ Văn Nội) [17] đã tiến hành ủ rơm để nuôi bò thịt ở Trung Quốc, theo dự án FAO (1990-1992) Tác giả cũng sử dụng protein thoát qua dạ cỏ để nâng cao khả năng hấp thuprotein (khô dầu bông) đã cho kết quả tăng trọng từ 608 g ± 198 – 173 g ± 90
so với 1027 con bò của 312 gia đình trong 12 làng tại 4 vùng Huaiyang, Shanshiu, Beixiang, Ding Xing
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.2.1 Đặc điểm của bò vàng
Giống bò vàng của nước ta hiện nay được hình thành từ nhiều giống bò
có nguồn gốc từ các nước lân cận, nhưng chủ yếu là từ 2 giống bò có nguồn gốc từ ấn Độ và Trung Quốc, qua tạp giao nhiều đời đã tạo thành giống bò vàng Việt Nam Trải qua quá trình chọn lọc tự nhiên nhiều năm, đến nay giống bò vàng Việt Nam hoàn toàn thích nghi với khí hậu nóng ẩm, chịu đựng kham khổ cao, khả năng chống đỡ bệnh tật khá Ngay trong điều kiện nuôi dưỡng kém, thức ăn xanh khan hiếm, giống bò vàng Việt Nam vẫn phát triển
và tồn tại (Vũ Văn Nội, 1994) [17]
Đàn bò vàng Việt Nam hiện nay gồm nhiều nhóm bò ở các vùng khác nhau Tuy có cùng đặc điểm chung của giống, nhưng mỗi nhóm vẫn có đặc
Trang 35điểm riêng về tính trạng năng suất và khả năng sinh sản Phần lớn giống bò Việt Nam có lông màu vàng, một số có màu đen hoặc lang trắng và có tầm vóc nhỏ
Nguyễn Văn Thưởng và cộng sự (1985) [27] đã điều tra, khảo sát đàn bò trong phạm vi cả nước cho biết : Bò cái sinh sản của ta chân thấp (cao vây khoảng từ 100 - 104,2 cm); mình ngắn (dài thân chéo là 111,1 - 115,9 cm); ngực lép (rộng ngực 27-33 cm) khối lượng bình quân đại trà là 140-160 kg ở các địa phương khác nhau có sự sai khác đáng kể về khối lượng bình quân như: Bò Lạng Sơn (186 kg); bò Thanh Hoá (200 kg) bò Nghệ An, bò Phú Khánh (206 kg), bò Nghĩa Bình (189 kg), bò Sông Bé (219 kg), bò Biên Hoà (243 kg), bò Đồng Nai (260 kg)
Về khả năng sinh sản và cho thịt, các tác giả cho biết: Tuổi phối giống lần đầu ở bò vàng Nghĩa Bình trung bình là 27 tháng; bò vàng Phú Khánh là
35 tháng; bò vàng Đông Nam Bộ là 36 tháng Tuổi đẻ lứa đầu tương ứng là 36,44 và 45 tháng Sản lượng sữa đạt 300-400 kg/chu kỳ Tỷ lệ thịt xẻ bình quân đạt trên dưới 45%
Khối lượng bò đực giống địa phương cũng nhỏ khoảng 210 – 280 kg Kích thước các chiều đo của bò đực so với đàn bò cái sinh sản không có sự chênh lệch đáng kể Do đó, nếu dùng đực nội phối giống với bò cái nội, không thể cải tạo, nâng cao tầm vóc và khối lượng đàn bò vàng của ta được
Lê Quang Nghiệp (1984) [16] nghiên cứu về sinh trưởng và sinh sản của
bò vàng Thanh Hoá cho biết: Bê cái sơ sinh có khối lượng bình quân 14,150,27 kg; 6 tháng tuổi; 60,180,75 kg; 12 tháng tuổi 97,080,17 kg, 24 tháng tuổi 167,071,05 kg và 36 tháng tuổi đạt 181,871,53 kg Bê đực có khối lượng tương ứng là 15,56; 63,9; 100,25; 183,01 và 217,08 kg Bò cái có tuổi đẻ lứa đầu bình quân là 28,030,46 tháng
Trang 36Phạm Huy Thuỵ (1996) [24] cho biết khả năng sinh trưởng và sinh sản của bò vàng ở huỵên Thanh Hoà - Vĩnh Phú như sau: Bê cái có khối lượng sơ sinh bình quân 15,1 kg; 6 tháng tuổi đạt 61,5 kg; 12 tháng tuổi 98,6 kg; 18 tháng 148,3 kg; 24 tháng 172,1kg và 36 tháng là 195,4 kg Các số liệu tương ứng ở bê đực là 16,5; 65,4; 102,6; 150,1; 185,4 và 221,7 kg
Thực tế cho thấy do đàn bò vàng của ta có ngoại hình xấu, tầm vóc quá nhỏ, nên nếu cho phối thẳng với bò đực ngoại để có đàn bò lai lấy thịt, sữa thì năng suất vẫn chưa đạt như mong muốn và hiệu quả kinh tế chưa cao Chính vì vậy đối với đàn bò nước ta, trước hết phải dùng bò đực Zebu giống Red Sindhi hoặc Sahiwal cho lai cải tạo để nâng dần tầm vóc, khối lượng và khả năng sản xuất của chúng Ngoài ra thông qua chọn lọc, chúng
ta chọn ra đàn bò cái lai làm nền cho việc lai tạo tiếp theo với các giống bò chuyên dùng thịt, sữa
1.2.2.2 Đặc điểm giống bò Red Sindhi
Bò Red Sindhi là giống bò thuộc nhóm bò Zebu Ấn Độ (Bos Indicus) có nguồn gốc từ vùng Karachi, Hyderabad ở Pakistan, bang Sind và một số vùng phía Tây Ấn Độ Bò Red Sindhi có đặc điểm sau:
Đặc điểm ngoại hình: Bò có lông ngắn mềm, có màu đỏ sẫm, một số con
có màu vàng và có một số ít có một vài đám trắng Bò đực có màu lông sẫm hơn ở cổ, đùi, mí mắt, yếm và càng lớn thì những chỗ này càng chuyển thành màu sẫm đen
Bò Red Sindhi có trán rộng, gồ, tai to và hơi rủ xuống, yếm to trễ, rốn to hơi sệ xuống, mông nở và dốc, đuôi dài, bốn chân khoẻ, thân hơi ngắn, âm hộ
có nhiều nếp nhăn
Theo Nguyễn Văn Thưởng và cộng sự, 1985 [27], bò Red Sindhi có tầm vóc và khối lượng lớn hơn hẳn bò vàng Việt Nam Bò đực có khối lượng 400-
Trang 37450 kg (bình quân 415 kg), bò cái 300 - 350 kg (bình quân 323 kg 12,8 kg) Sản lượng sữa 1.400 - 2.100 kg/chu kỳ, tỷ lệ mỡ sữa 5%
Theo Vũ Chí Cương (1990) [5] bò Red Sindhi có sức cày tốt, sức sản xuất thịt khá cao Tỷ lệ thịt xẻ 48-50%, phẩm chất thịt ngon, tuổi giết mổ sớm hơn bò địa phương
Nhiều tác giả cho biết: Ngay từ thời kỳ Pháp thuộc, vào khoảng những năm 20 của thế kỷ XX một số kiều dân Ấn Độ đã nhập vào Việt Nam giống
bò Red Sindhi (thường gọi là bò Sind)
Trong những năm 1985 - 1987 được sự viện trợ của chính phủ Mông Cổ, nước ta đã nhập một số bò Red Sindhi từ Pakistan về nuôi thích nghi, nhân giống thuần chủng tại nông trường hữu nghị Việt Nam - Mông Cổ và Trung tâm tinh đông viên Moncada để cung cấp nguồn giống phục vụ cho việc thực hiện chương trình "Sind hoá" cải tạo đàn bò Việt Nam
1.2.2.3 Một số kết quả của việc lai tạo giữa bò Red Sindhi với bò vàng Việt Nam
Một số bò Red Sindhi được nhập vào nước ta từ năm 1923 ( Do bác sỹ S.Chein ) nhằm khai thác sữa và cải tạo đàn bò vàng Việt Nam Sau đó bò Red Sindhi được các kiều dân Ấn Độ tiếp tục nhập thêm vào Việt Nam nhằm khai thác sữa cung cấp cho nhu cầu đời sống của các thành phố lớn Qua nhiều năm nuôi tại Việt Nam bò Red Sindhi đã tạp giao với bò vàng Việt Nam tạo ra nhóm bò lai gọi là bò Lai Sind
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thưởng, Trần Doãn Hối, Vũ Văn Nội và cộng tác viên, 1985 [27] cho biết: Bò Lai Sind có nhiều ưu điểm về khả năng sản xuất so với bò vàng Việt Nam Đồng thời với các tính trạng năng suất, tính thích nghi thể hiện rõ qua khả năng sinh trưởng và sinh sản
Bò cái Lai Sind cao hơn bò vàng địa phương khoảng 8,6 - 8,7%, dài mình hơn khoảng 4,8 - 4,9%; Khối lượng lớn hơn 35 - 40% Bò đực Lai Sind cũng
Trang 38có kích thước các chiều đo và khối lượng hơn hẳn bò đực nội; Tất cả các chiều đo đều tăng từ 14 - 22% so với đực nội Đặc biệt về khối lượng bò Lai Sind trưởng thành đạt trên 400 kg, trong khi đó bò đực nội trưởng thành đạt bình quân 250 kg Rõ ràng để cải tạo đàn bò địa phương cần phải dùng bò đực Red Sindhi Dùng đực Red Sindhi cho lai với bò vàng Việt Nam không chỉ nâng cao tầm vóc, khối lượng mà còn nâng cao khả năng sản xuất; Sản lượng sữa tăng gấp 2 lần, tỷ lệ thịt xẻ tăng 5%, sức kéo cũng tăng rõ rệt Trong nghiên cứu cũng như thực tế dùng bò đực Red Sindhi để lai tạo với đàn bò địa phương ở một số tỉnh những năm qua cho thấy vai trò quan trọng của giống
bò Red Sindhi trong việc cải tạo đàn bò vàng Việt Nam
1.2.2.4 Một số kết quả nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của bò Red Sindhi tại Việt Nam
Tác giả Nguyễn Văn Bình, (1996) [1] nghiên cứu trên 172 bê cái Red Sindhi tại nông trường hữu nghị Việt Nam - Mông Cổ cho biết: Bê cái Red Sindhi có khối lượng sơ sinh đạt trung bình 17,870,29 kg; Lúc 6 tháng tuổi đạt 83,81 2,76 kg) Sinh trưởng tuyệt đối ở giai đoạn sơ sinh đến 6 tháng tuổi đạt trung bình 377g/con/ngày, ở giai đoạn 9, 12, 18, 24 và 36 tháng tuổi,
có khối lượng trung bình đạt tương ứng là 103,38; 122,67; 139,33; 144,85 và 185,09 kg Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân ở giai đoạn 6 đến 36 tháng tuổi là 112,26 g/con/ngày
Nghiên cứu trên 204 bê đực Red Sindhi, tác giả cho biết: Bê đực có khối lượng sơ sinh bình quân đạt 19,53 kg, lúc 6 tháng tuổi đạt 95,60 kg, thấp hơn
so với chỉ tiêu của phẩm giống (tương ứng là 24 và 120 kg) Sinh trưởng tuyệt đối trung bình ở thời kỳ bú sữa là 422,5g/con/ngày
Lúc 9, 12, 18, 24 và 36 tháng tuổi, khối lượng trung bình đạt tương ứng là:114,24; 122,14, 156,55; 23,87 và 398,80 kg Cũng ở giai đoạn này sinh trưởng tuyệt đối đạt bình quân 287,49 g/con/ngày Tác giả cho rằng mức dinh
Trang 39dưỡng kém đã ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của bê, làm cho các chỉ tiêu sinh trưởng đạt được thấp hơn so với phẩm giống
1.2.2.5 Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ nuôi sống của bò Red Sindhi nuôi tại Việt Nam
Kết quả nghiên cứu tại Nông trường hữu nghị Việt Nam -Mông Cổ của tác giả Nguyễn Văn Bình [1] cho biết: Tỷ lệ nuôi sống của bê trong giai đoạn bú sữa
là 95,56 % đối với những bò mẹ 3 năm tuổi, 96,67% đối với những bò mẹ 4 năm tuổi và ở những bò mẹ 5 tuổi, tỷ lệ này là 97,53%
1.2.2.6 Những nghiên cứu trong nước về thức ăn dinh dưỡng đối với bò thịt
Bên cạnh biện pháp lai giống các nhà khoa học chăn nuôi cũng quan tâm đến thức ăn và chế độ nuôi dưỡng để nâng cao khả năng sản suất đối với
Bảng 1.2 Thành phần của 2 loại tảng liếm
Trang 40Ở mỗi địa điểm 15 bê thịt đồng đều về tuổi, tính biệt, giống, khối lượng được phân vào 3 lô, mỗi lô 5 con Kết quả 2 thí nghiệm sau 3 tháng cho thấy:
Bê F1 hướng thịt (gồm Red Sindhi, Charolais, Limousine, Hereford, Simmental, Santa Gertrudis) nuôi chăn thả quảng canh tăng trọng thấp 0,21 đến 0,24 kg/ con/ ngày, nếu được ăn bổ sung thêm rơm ủ u rê + tảng liếm MUB tăng trọng sẽ tốt hơn 0,386 đến 0,429 kg/ con/ ngày (Hà Tam) và 0,342-0,402 kg/ con/ ngày (Bình Định) vượt hơn 60 % so với chăn thả quảng canh Tác giả Trần Doãn Hối, Nguyễn Đức Tặng, (1963 - 1979) [10] xác định được mức tăng trọng và thức ăn tiêu tốn qua từng giai đoạn của bò lai Sind:
Bê đực Lai Sind 6 tháng tuổi đạt khối lượng 114kg, tăng trọng 504 gam/ngày;
9 tháng đạt 163,1kg tăng trọng 545 gam/ngày Bê cái Lai Sind 6 tháng tuổi đạt khối lượng 89,1kg; tăng trọng 394 gam/con/ngày; 9 tháng đạt 127 kg, tăng trọng 421 gam/con/ngày
Về phát dục: Bò đực 24 tháng đạt 91% khối lượng trưởng thành và có khả năng giao phối, bò cái 24 tháng đạt 83% khối lượng trưởng thành Tuổi
đẻ lứa đầu của bò cái Lai Sind là 34 - 35 tháng Để nuôi một bê đến 6 tháng tuổi cần 250 ĐVTA cho con cái và 300 ĐVTA cho con đực
Nuôi bê đến 24 tháng tuổi tiêu tốn đến 2006 ĐVTA với con cái, 2217 ĐVTA với con đực Lượng thức ăn tiêu tốn để tăng 1 kg khối lượng tăng dần theo tháng tuổi, riêng giai đoạn 18 - 24 tháng có giảm Lượng đạm cần cho bê
ở giai đoạn 6 tháng tuổi phải đảm bảo 110 gam, ở giai đoạn từ 9 - 12 tháng tuổi cần 80 gam, giai đoạn 12 - 24 tháng tuổi cần 70 gam/ĐVTA
Tóm lại: Qua một số thông tin nghiên cứu trong và ngoài nước đã cho thấy rất nhiều tác giả trong nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu về đặc điểm di truyền của các giống bò, khả năng sinh trưởng và tiến hành lai tạo, tạo ra các giống bò có năng suất cao Những kết quả đó là cơ sở cho việc định hướng chương trình “Sind hoá” cải tạo đàn bò trên phạm vi cả nước