Thông thường chu trình bán hàng - thu tiền thực hiện các chứcnăng cơ bản sau: Xử lý đơn đặt hàng của khách hàng: khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng gửi đến thì doanh nghiệp phải
Trang 2CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KIỂM TOÁN CHU TRÌNH BÁN HÀNG THU
TIỀN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
I CHU TRÌNH BÁN HÀNG - THU TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH CỦA DOANH NGHIỆP.
1 Đặc điểm của chu trình bán hàng - thu tiền.
Trong doanh nghiệp sản xuất, để tồn tại và duy trì các hoạt động sản xuất kinhdoanh của mình thì quá trình kinh doanh của doanh nghiệp phải nối tiếp liên tục vàlặp đi lặp lại tạo thành những chu kỳ sản xuất Thực tế chu kỳ sản xuất bao gồmcác chuỗi nghiệp vụ có liên quan chặt chẽ với nhau toạ thành chu kỳ nghiệp vụ cơbản chu kỳ kinh doanh tại một doanh nghiệp thường bắt đầu từ khi doanh nghiệptạo vốn có thể bằng vốn tự có hoặc nguồn vốn vay mượn để phục vụ cho sản xuất,kết thúc giai đoạn sản xuất thì công đoạn cuối cùng của chu kỳ kinh doanh là việctiêu thụ sản phẩm đồng thời là quá trình thu tiền từ hoạt động bán hàng để thu hồilại vốn kinh doanh Chu trình hoạt động bán hàng - thu tiền chấm dứt một quá trìnhkinh doanh để bắt đầu quá trình kinh doanh tiếp theo Như vậy, quá trình kinhdoanh bao gồm các chu kỳ diễn ra liên tục, đều đặn và mỗi chu kỳ đều là mắt xíchquan trọng không thể thiếu được Trong đó kết quả của chu trình bán hàng - thutiền không chỉ phản ánh riêng kết quả của chu trình mà còn phản ánh toàn bộ kếtquả quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
Bán hàng và thu tiền là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu của hàng hoá quaquá trình trao đổi hàng tiền Với ý nghĩa như vậy, quá trình này bắt đầu từ yêu cầumua của khách hàng và kết thúc bằng việc chuyển đổi hàng hoá thành tiền Trongtrường hợp này, hàng hoá và tiền tệ được xác định theo bản chất kinh tế của chúng.Hàng hoá là những tài sản hay dịch vụ chứa đựng giá trị và có thể bán được : tiền
tệ là phương tiện thanh toán nhờ đó mọi người quan hệ giao dịch được giải quyết
Trang 3tức thời Tuy nhiên ranh giới của bán hàng - thu tiền được thể chế hoá trong từngthời kỳ và từng đối tượng cụ thể khác nhau.
Theo chế độ kế toán hiện hành của Việt Nam, quá trình tiêu thụ được thựchiện khi hàng hoá, dịch vụ đã được chuyển giao cho người mua và người mua trảtiền hoặc chấp nhận thanh toán về bản chất, bán hàng - thu tiền là quá trình thựchiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đồng thời tạo vốn đểtái sản xuất mở rông Thực hiện tốt quá trình nay, doanh nghiệp mới có thể thu hồivốn và có lãi -một nguồn thu quan trọng để tích luỹ và ngân sách và các quỹ củadoanh nghiệp nhằm mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao đời sống người laođộng
Dưới góc độ kiểm toán, chu trình bán hàng - thu tiền liên quan đến nhiều chỉtiêu trong bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh Đây là những chỉtiêu cơ bản mà những người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệpdùng để phân tích khả năng thanh toán, hiệu quả kinh doanh , triển vọng phát triểncũng như rủi ro tiềm tàng trong tương lai, vì thế các chỉ tiêu này thường bị phảnánh sai lệch Để có thể có được những hiểu biết sâu sắc về chu trình thì trước hếtphải nắm được các đặc điểm của chu trình
Các đặc điểm của chu trình bán hàng - thu tiền gồm có :
- Mật độ phát sinh của các nghiệp vụ là tương đối lớn
- Có liên quan đến các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp
- Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quy luật cung - cầu
- Các chỉ tiêu dễ bị phản ánh sai lệch
- Các quan hệ thanh toán trong mua bán rất phức tạp, chiếm dụng vốn củanhau công nợ dây dưa khó đòi Tuy nhiên, việc lập dự phòng khó đòi lại mang tínhchủ quan và thường dựa vào ước đoán của ban giám đốc nên rất khó kiểm tra vàthường bị lợi dụng để ghi tăng chi phí
Trang 4- Rủi ro đối với các khoản mục trong chu kỳ xảy ra theo nhiều chiều hướngkhác nhau có thể ghi tăng , ghi giảm hoặc vừa ghi tăng vừa ghi giảm theo ý đồ củadoanh nghiệp hoặc một số cá nhân Vì thế việc kiểm toán chu trình bán hàng - thutiền tương đối tốn kém và mất thời gian Với chức năng xác minh và các thông tin
về chu trình nói riêng thì kiểm toan viên không thể không xem xét những đặc điểmcủa chu trình và ảnh hưởng của nó tới phương pháp kiểm toán
2 Chức năng của chu trình bán hàng - thu tiền.
Để thực hiện tốt chu trình bán hàng - thu tiền , trong doanh nghiệp có các bộphận chức năng khác nhau thực hiện các công việc khác nhau Quá trình được bắtđầu từ việc phát sinh nhu cầu mua hàng từ giá khách hàng đến khâu tiếp theo nhưviệc phê chuẩn các phương thức bán hàng , cách thức thanh toán và việc tiêu thụhàng hoá sản phẩm Thông thường chu trình bán hàng - thu tiền thực hiện các chứcnăng cơ bản sau:
Xử lý đơn đặt hàng của khách hàng: khi nhận được đơn đặt hàng của khách
hàng gửi đến thì doanh nghiệp phải thực xem xét có nhất trí việc cung cấp hànghoá, dịch vụ cho khách hàng không Việc chấp nhận hay không là tuỳ thuộc vàonhu cầu hàng hoá của khách hàng và khả năng cung cấp của doanh nghiệp và cácyếu tố khác như giá cả, phương thức thanh toán
Xét duyệt bán chịu : Đối với phương thức bán chịu cho khách, hàng sẽ được
chuyển đi sau khi có sự phê chuẩn của người có thẩm quyền trong doanh nghiệp Việc phê chuẩn phương thức bán chịu được thực hiện tốt sẽ giúp cho doanhnghiệp quản lý tốt các khoản nợ phải thu
Chuyển giao hàng : Khi hàng hoá được chuyển đi thì chứng từ vận chuyển sẽ
được lập, đấy là điều cần thiết cho việc tính tiền đúng số hàng chuyển giao
Gửi hoá đơn cho khách hàng và ghi rõ nghiệp vụ bán hàng: Hoá đơn phải
được lập ngay sau khi giao hàng, hoá đơn là phương thức chỉ rõ cho khách hàng số
Trang 5Nhu cầu bán hàng Lưu trữ
Bộ phận cung ứng Thủ trưởng, KTT Bộ phận quản lý hàng Kế toán thanh toán
Lập chứng từ bán hàng Ký duyệt hoá đơn Giao nhận hàngGhi sổ và theo dõi thanh toán
Bộ phận kinh doanh KTT Thủ quỹ Bộ phận cung cấp
Lập hoạt động C2 d vụ Ký duyệt hoá đơn Thu tiền Cung cấp dịch vụ
Kế toán bán hàng
Ghi sổ doanh thu
tiền và thời hạn thanh toán đồng thời là căn cứ ghi sổ nhật ký bán hàng và theo dõicác khoản phải thu
Xử lý và ghi số các khoản thu tiền : Sau khi thực hiện các chức năng về bán
hàng cùng ghi sổ kế toán các khoản này cần phải thực hiện các chức năng thu tiền
cả trong điều kiện bình thường và không bình thường Trong mọi trường hợp đềucần xử lý và ghi sổ các khoản thông thường về thu tiền bán hàng
Xử lý và ghi sổ các khoản hàng bán bị trả lại và bớt giá : Tất cả các khoản này
phải trả được phê chuẩn đúng đắn bởi những người có trách nhiệm và phải đượcghi số kế toán một cachs chính xác và nhanh chóng
Dự phòng nợ khó đòi và xoá sổ các khoản phải thu không thu hồi được: Trước
khi khoá sổ các tài khoản và chuẩn bị lập BCTC phải tiến hành đánh giá phí tồnkho cho các khoản phải thu không có khả năng thu hồi được qua đó tiến hành lập
dự phòng cho các khoản đó Còn những khoản không thể thu hồi được thì phải xoá
sổ kế toán cho các khoản này
3 Tổ chức kế toán bán hàng - thu tiền
Bán hàng - thu tiền là một giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh Làgiai đoạn thứ hai sau quá trình mua hàng và thanh toán đối với doanh nghiệpthương mại và là giai đoạn tiếp theo giai đoạn sản xuất đối vơi các doanh nghiệpsản xuất Do vậy, cũng giống như các giai đoạn khác, tổ chức kế toán bán hàng -thu tiền gồm các nội dung sau :
(1) Tổ chức chứng từ kế toán : Đó là quá trình thiết kế khối lượng chứng từ vàquy trình hạch toán trên chứng từ theo chỉ tiêu hạch tán và đơn vị hạch toán cơ sở
Tổ chức chứng từ kế toán cho chu trình bán hàng - thu tiền được chia làm haitrường hợp :
Trường hợp 1 : Hàng hoá bán ra là sản phẩm vật chất
* Trường hợp 2 : Hàng hoá bán ra là sản phẩm phi vật chất
Trang 6TK3387 : Doanh thu nhận trước
TK139 : Dự phòng phải thu khó đòi
TK641 : Chi phí bán hàng
TK642 : Chi phí quản lý doanh nghiệp
TK3331 : Thuế VAT đầu ra
TK111 : Tiền mặt tại quỹ
TK112 : Tiền gửi ngân hàng
- Sổ chi tiết doanh thu bán hàng
(4) Quy trình hạch toán kế toán chu trình bán hàng -thu tiền
Thuế XK, tiêu thụ Doanh thu áp dụng phương pháp
tính thuế VAT trực tiếp (tổng giá thanh toán)
Đvị áp dụng pp VAT khấu trừ
TK3331
VAT đầu ra
TK531,532
TK3387 Dthu hàng bán Cuối kỳ K/c Doanh thu Doanh thu ghi
bị trả lại DT Dthu hàng bán Kỳ này nhận trước
giảm giá bị trả lại hoặc
giảm giá phát sinh trong kỳ
TK131,136 TK642
Doanh thu chưa Xoá nợ phải thu TK911 thu tiền khó đòi
Dthu bán hàng phát sinh
Trang 74 Hệ thống kiểm toán nội bộ với chu trình bán hàng - Thu tiền
Trong mỗi doanh nghiệp, hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ là khácnhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm và quy mô của doanh nghiệp đó Với mục đíchchung của các doanh nghiệp khi tổ chức, xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm
để phục vụ cho công tác kiểm toán kiểm soát và qua đó có thể cung cấp nhữngnguồn thông tin nhanh chóng và đáng tin cậy, giúp cho các nhà quản lý có thể chỉđạo tốt hoạt động của đơn vị mình đem lại thành công trong công việc
Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách, các thủ tục kiểm soát
do đơn vị lập nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đề ra của đơn vị
- Bảo vệ tài sản của đơn vị
- Bảo đảm độ tin cậy các thông tin
- Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý
- Bảo đảm hiệu quả hoạt động và năng lực quản lý
Hệ thống kiểm soát nội bộ có vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động củaCông ty Cũng như vậy đối với chu trình bán hàng và thu tiền, hệ thống kiểm soátnội bộ giúp cho việc đềiu hành giám sát và hoàn thiện các hoạt động của chu trình
Hệ thống kiểm soát nội bộ gồm 4 yếu tố cấu thành chính :
- Môi trường kiểm soát
- Hệ thống kế toán
- Các thủ tục kiểm soát
- Kiểm toán nội bộ
Chính vì vậy, việc xây dựng và điều hành tốt hệ thống kiểm soát nội bộ sẽgiúp cho nhà lãnh đạo thành công trong việc điều hành các hoạt động của đơn vịmình
II KIỂM TOÁN CHU TRÌNH BÁN HÀNG - THU TIỀN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.Mục tiêu kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền :
Trang 8Trong việc thực hiện kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền của kiểm toánbáo cáo tai chính phải xác định rõ phạm vi công việc và mục tiêu của cuộc kiểmtoán Với chu trình bán hàng - thu tiền cũng vậy, phải xác định rõ mục tiêu vàphạm vi công việc để làm cơ sở cho việc thu thập bằng chứng kiểm toán để làm cơ
sở đưa ra ý kiến của mình về báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theochuẩn mực kiểm toán số 200 thì “mục tiêu kiểm toán báo cáo tài chính là giúp chokiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận nhận rằng báo cáo tàichính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc đượcchấp nhạan có tuân thủ pháp luật và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khíacạnh trọng yếu hay không ?
Các mục tiêu của kiểm toán có mối quan hệ với những xác nhận của ban quảntrị Do đó, để thực hiện tốt cuộc kiểm toán cần phải hiểu được những xác nhận đó
Năm loại xác nhận của kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền gồm :
- Xác nhận về sự hiện hữu : Doanh thu trên báo cáo tài chính phản ánh quátrình trao đổi về hàng hoá và dịch vụ thực tế đã xảy ra các khoản phải thu trongbảng cân đối là có thực vào ngày lập các cân đối kế toán
- Xác nhận về tính đầy đủ : Tất cả doanh thu về dịch vụ, hàng hoá, các khoảnthu và đã thu đều được ghi sổ và đưa vào báo cáo tài chính
- Xác nhận về quyền sở hữu : Hàng hoá và các khoản phải thu của doanhnghiệp vào ngày lập bảng cân đối tài sản đều thuộc quyền sở hữu của doanhnghiệp
- Xác nhận về sự đánh giá và phân loại : Các khoản phải thu khoản doanh thuđược phân loại đúng bản chất và được tính đúng đắn
- Xác nhận về sự trình bày : Doanh thu và các khoản phải thu được trình bàytrung thực và đúng đắn trên bảng cân đối tài sản hay trên báo cáo tài chính theođúng hệ thống kế toán của doanh nghiệp và theo các quy định kế toán hiện hành
Trang 9Bên cạnh các xác nhận của ban quản trị của doanh nghiệp thì các mục tiêuchung và mục tiêu đặc thù của kiểm toán cần phải được xem xét
Mục tiêu chung gồm:
- Mục tiêu hợp lý chung : Mục tiêu này giúp kiểm toán viên đánh giá số liệutrên các số dư trên tài khoản phải thu khách hàng… có hợp lý hay không xét theotất cả các thông tin mà kiểm toán viên có được về công việc kinh doanh kháchhàng
- Các mục tiêu chung khác bao gồm :
+ Có căn cứ hợp lý : Số tiền ghi sổ và ghi trên báo cáo tài chính thực sự là sốtiền phát sinh trong quá trình xảy ra nghiệp vụ bán hàng và các nghiệp vụ có liênquan
+ Tính đầy đủ : Tất cả các nghiệp vụ phát sinh đều được ghi sổ
+ Quyền sở hữu : Số tiền hoặc tài sản được ghi thuộc quyền sở hữu của doanhnghiệp tại ngày lập báo cáo tài chính
+ Sự đánh giá : Tiền và tài sản của doanh nghiệp phải được đánh giá đúng đắnphù hợp với giá trị hiện tại trên thị trường và được ghi trên hoá đơn và trên sổ sáchchính xác hợp lý theo từng kỳ
+ Sự phân loại : Số tiền được ghi trên sổ phải được phản ánh đúng đắn ghiđúng nội dung tài khoản và các tài khoản phải được trình bày đúng đắn trên báocáo tài chính
+ Ghi chép đúng kỳ: Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được ghi chép đúngthời gian phát sinh nghiệp vụ, tránh mọi hiện tượng báo cáo thừa hoặc thiếu
Mục tiêu đặc thù của chu trình bán hàng -thu tiền bao gồm :
+ Có căn cứ hợp lý: Doanh thu tiền mặt và các khoản phải thu đều phải hiệnhữu vào ngày lập báo cáo tài chính
- Tính đầy đủ : Các khoản doanh thu và các khoản phải thu hiện có được tính
và ghi vào tài khoản có liên quan
Trang 10+ Quyền sở hữu : Doanh nghiệp có quyền sở hữu đối với các khoản doanhthu, thu nhập khác và các khoản phải thu phát sinh trong kỳ
+ Sự đánh giá: Tính giữa đơn giá và số lượng hàng hoá phải được tính đúng
và số liệu trên các sổ chi tiết phải được cộng dồn chính xác
+ Chính sách chiết khấu phù hợp : Doanh thu và các khoản phải thu thực tếphát sinh phù hợp với các chính sách chiết khấu của đơn vị đề ra
+ Sự phân loại : Doanh thu phải được phân loại đúng đắn thành các loạidoanh thu bán ra và doanh thu nội bộ, doanh thu hàng bán bị trả lại doanh thu nhậntrước Các khoản phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác…
+ Tính đúng kỳ : Doanh thu và các khoản phải thu được ghi chép đúng kỳ,không có hiện tượng ghi giảm doanh thu và ghi tăng các khoản phải thu và ngượclại
+ Trình bày và thể hiện : Doanh thu tiền mặt và các khoản phải thu được trìnhbày chính xác và hợp lý trên các báo cáo tài chính theo đúng chế độ
2 Quy trình kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền trong kiểm toán báo cáo tài chính
Sau khi kiểm toán viên đã hoàn thành việc xác định các mục tiêu kiểm toánđặc thù cho chu trình bán hàng thu tiền, yếu tố cấu thành của báo cáo tài chính thìkiểm toán viên bắt đầu các giai đoạn kiểm toán cụ thể Do chu trình bán hàng - thutiền có những khoản mục là yếu tố cấu thành báo cáo tài chính nên khi tiến hànhkiểm toán cũng phải tuân thủ theo quy trình kiểm toán chung của một cuộc kiểmtoán để đảm bảo tính thống nhất
Quy trình kiểm toán là một hệ thống phương pháp rõ ràng của tổ chức mộtcuộc kiểm toán nhằm giúp cho kiểm toán viên hoàn thành công việc của mình theođúng các mục tiêu đề ra
Quy trình kiểm toán gồm 3 giai đoạn :
Giai đoạn 1
báo cáo kiểm toán
Thực hiện kiểm toán chu trình bán hàng
-thu tiền Lập kế hoạch thiết kế phương pháp kiểm toán của chu trình bán hàng - thu tiền
Trang 11Giai đoạn 1: Lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế phương pháp kiểm toán
(1) Lập kế hoạch kiểm toán : Kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền là mộtchu trình của kiểm toán tài chính Vì vậy, nhiệm vụ chung của kiểm toán chu trình
là triển khai các chức năng kiểm toán thông qua việc vận dụng các phương phápkiểm toán thích hợp với đặc thù của phần hành này thông qua các bước trong quytrình kiểm toán Để cso kế hoạch kiểm toán cụ thể cho một khách hàng nói chung
và kế hoạch kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền nói riêng, kiểm toán viênthường thực hiện các bước sau :
Bước 1 : Chuẩn bị kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền:
Trong bước này phải thực hiện các công việc sau:
- Thứ nhất, phải xác định mục tiêu và phạm vi kiểm toán Mục tiêu và phạm
vi kiểm toán cần phải xác định cụ thể đối với từng mục kiểm toán Mục tiêu kiểmtoán là cái đích cần đạt tới đồng thời là thước đo kết quả kiểm toán cho mỗi chutrình kiểm toán cụ thể Mục tiêu chung phải gắn với mục tiêu riêng yêu cầu củaquản lý Do vậy, mục tiêu của kiểm toán phải tuỳ thuộc vào quan hệ giữa chủ thể
và khách thể kiểm toán, tuỳ thuộc vào loại hình cụ thể Phạm vi kiểm toán là sựgiới hạn về không gian và thời gian của đối tượng kiểm toán, thường được xácđịnh đồng thời với mục tiêu kiểm toán và là một hướng cụ thể xác định mục tiêunày với một khách thể kiểm toán cần xác định rõ đối tượng cụ thể của kiểm toán :Bảng cân đối tài sản hay toàn bộ các bảng khai tài chính…
- Thứ hai, chỉ định người phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điềukiện vật chất cơ bản Để thực hiện tốt và có hiệu quả cuộc kiểm toán báo cáo tàichính thì lãnh đạo công ty kiểm toán cần bố trí đội ngũ nhân viên có trình độ nghềnghiệp tuỳ thuộc vào nhu cầu của cuộc kiểm toán, hay tuỳ thuộc vào đặc điểm củacuộc kiểm toán đó
Trang 12- Thứ ba, lập hợp đồng kiểm toán Sau khi thực hiện xong các bước công việctrên thì Công ty kiểm toán và khách hàng sẽ lập hợp đồng kiểm toán Hợp đồngkiểm toán là tài liệu nêu rõ trách nhiệm của Công ty kiểm toán, trách nhiệm củaCông ty khách hàng, thời gian tiến hành cuộc kiểm toán , giá phí kiểm toán hayphạm vi cuộc kiểm toán.
- Thứ tư, thu thập những thông tin phục vụ cho việc kiểm toán: Để thực hiệntốt công việc kiểm toán nói chung và kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền nóiriêng thì kiểm toán viên cần phải có những hiểu biết về công việc kinh doanh củakhách hàng và kiến thức về lĩnh vực kinh doanh của Công ty khách hàng Khi tiếnhành kiểm toán có rất nhiều cách khác nhau để thu thập thông tin cơ sở Thôngthường thông tin cơ sở được thu thập dưới các hình thức sau :
Qua tìm hiểu về doanh nghiệp: kiểm toán viên tiến hành tìm hiểu về doanhnghiệp để thu thập những thông tin về cơ cấu tổ chức, loại hình kinh doanh hatphương pháp kế toán áp dụng tại doanh nghiệp
Qua tham quan nhà xưởng: Tất cả những thông tin thu thập được qua tìm hiểudoanh nghiệp chủ yếu trên giấy tờ, tài liệu ở văn phòng của Công ty Do đó, thamquan nhà xưởng sẽ giúp cho kiểm toán viên có cách nhìn thực tế hơn về cácphương tiện vật chất, giúp cho việc hiểu biết được công tác bảo vệ tài sản và giúpcho việc thuyết minh số liệu kế toán bằng cách đưa ra một khung tham gia qua đóhình dung ra những tài sản này như: sản phẩm đang chế tạo và máy móc thiết bị,phân xưởng để chế tạo ra hàng hoá
Xem xét qua các chính sách của Công ty: Nhiều chính sách của Công ty đượcphản ánh trên báo cáo tài chính là một phần của cơ cấu kiểm soát nội bộ
Qua phỏng vấn : Kiểm toán viên có thể thu được những thông tin cơ sở qua việcphỏng vấn trong nôi bộ Công ty hoặc bên ngoài
Thu thập những thông tin về trách nhiệm pháp lý của khách hàng để làm cơ
sở phục vụ cho kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền
Trang 13Các thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng được trình bày trên các tàiliệu như :
+ Hồ sơ thành lập : Đây là tài liệu về thông tin của doanh nghiệp về quá trìnhthành lập Công ty khách hàng, về vốn thành lập cơ cấu của bộ máy quản lý
+ Biên bản các cuộc họp : Biên bản sẽ cung cấp những thông tin quan trọng
để xác định xem các báo cáo tài chính đó có thật đúng không?
+ Hợp đồng : Đây là những tài liệu cung cấp những thông tin về nghĩa vụpháp lý của Công ty khách hàng trong việc thực hiện công việc kinh doanh, việccung cấp các dịch vụ, hàng hoá mà Công ty khách hàng đã ký kết với bạn hàng của
họ, đây cũng là bằng chứng thiết thực nói lên quá trình kinh doanh của đơn vị cóđược ổn định và phát triển qua các thời kỳ kế toán hay không
Bước 2: Đánh giá trọng yếu và rủi ro trong quá trình kiểm toán báo cáo tàichính nói chung và kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền nói riêng:
Nếu ở các bước trên, kiểm toán vien mới chỉ thu thập thông tin mang tínhkhách quan về khách hàng thì ở bước này, kiểm toán viên sẽ căn cứ vào các thôngtin đã thu thập để đánh giá, nhận xét nhằm đưa ra một kế hoạch kiểm toán phù hợp
* Đánh giá tính trọng yếu: Trọng yếu là khái niệm về tầm cỡ (hay quy mô) vàbản chất của các sai phạm (kể cả bỏ sót) của các thông tin tài chính hoặc đơn lẻ,hoặc là từng nhóm mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để xétđoán thì không thể chính xác hoặc là sẽ rút ra kết luận sai lầm
Kiểm toán viên cần đánh giá mức trọng yếu cho toàn bộ báo cáo tài chính vàphân bổ mức đánh giá này cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính
- Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu : Mức ước lượng ban đầu về tính trọngyếu là lượng tối đa mà kiểm toán viên tin rằng ở mức đó các báo cáo tài chính cóthể sai lệch nhưng vẫn chưa ảnh hưởng đến các quyết định cuả người sử dụngthông tin tài chính
Trang 14Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp cho kiểm toán viên lập kế hoạchthu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp Tuy nhiên để xây dựng được các ướclượng ban đầu không phải là điều dễ dàng mà đòi hỏi phải có những phán xét xácđáng về chuyên môn: Cho nên khi tiến hành công việc này, những kiểm toán viên
có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ cao thường được chủ định thực hiện
Khi xây dựng mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu, kiểm toán viên cầnlưu ý những yếu tố ảnh hưởng sau:
+ Tính trọng yếu là một khái niệm tương đối hơn là một khái niệm tuyệt đối,
nó gắn liền với quy mô của Công ty khách hàng Do vậy, viêc xác định và chỉ dẫn
ra một mức giá trị cụ thể bằng tiền cho sự ước lượng ban đầu về tính trọng yếu ápdụng cho tất cả khách hàng là điều không thể làm được
+ Yếu tố định lượng của tính trọng yếu: Quy mô sai phạm là một yếu tố quantrọng để xem xét liệu các sai phạm có trọng yếu hay không Tuy nhiên do trọngyếu mang tính chất tương đối nên việc có đươck các cơ sở để quyết định xem mộtquy mô của sai phạm nào có là trọng yếu hay không là một điều cần thiết
+ Yếu tố định tính của tính trọng yếu : Trong thực tế, để đánh giá một saiphạm có trọng yếu hay không, kiểm toán viên phải đánh giá cả về mặt quy mô vàbản chất Một hành vi gian lận luôn được coi là trọng yếu bất kể quy mô
- Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục: Sau khikiểm toán viên đã có được ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho toàn bộ báocáo tài chính, kiểm toán viên cần phân bổ mức ước lượng này cho từng khoản mụctrên báo cáo tài chính Đó cũng chính là sai số có thể chấp nhận được đối với từngkhoản mục
Mục đích của việc phân bổ này là để giúp kiểm tán viên xác định được sốlượng bằng chứng kiểm toán thích hợp phải thu thập đối với từng tài khoản ở mứcchi phí thấp nhất mà vẫn có thể đảm bảo công việc
* Đánh giá rủi ro:
Trang 15Trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên và Công ty kiểm toán phải xácđịnh mức độ rủi ro kiểm toán có thể xảy ra là cao hay thấp bao gồm đánh giá rủi rotiềm tàng (rủi ro cố hữu), rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện.
Rủi ro kiểm toán (AR) là rủi ro do Công ty kiểm toán và kiểm toán viên đưa
ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn cónhững sai sót trọng yếu
Rủi ro kiểm toán bao gồm rủi ro cố hữu, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện
Rủi ro cố hữu (IR) là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài
chính có chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp,mặc
dù có hay không có hệ thông kiểm soát nội bộ
Để đánh giá rủi ro cố hữu kiểm toán viên dựa vào các yếu tố ảnh hưởng sau:
- Bản chất kinh doanh của khách hàng
- Tính trung thực của ban giám đốc
- Kết quả các lần kiểm toán trước
- Hợp đồng kiểm toán lần đầu và hợp đồng kiểm toán dài hạn
- Các nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên
- Các ước tính kế toán
- Quy mô của các số dư tài khoản
Như vậy, kiểm toán viên cần đánh giá lần lượt các yếu tố trên và quyết địnhmức rủi ro cố hữu thích hợp đối với từng khoản mục trên báo cáo tài chính
Rủi ro kiểm soát (CR): là khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu do hệ thốngkiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạt động hoặc hoạt động khônghiệu qủa do đó đã không phát hiện và ngăn chặn các sai phạm nay
Rủi ro kiểm soát là cao trong các trường hợp :
- Hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ không được áp dụng đúng
- Việc đánh giá sự áp dụng của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ đượcxem là không đủ