1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌNH HÌNH TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU Ở CÔNG TY DA GIẦY HÀ NỘI

40 275 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Tổ Chức Công Tác Kế Toán Nguyên Vật Liệu Ở Công Ty Da Giầy Hà Nội
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 215,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Xí nghiệp Giầy Da: Nhiệm vụ của xí nghiệp là chuyên sản xuất và nhận gia công các sản phẩm giầy da phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, xí nghiệp giầy da bao gồm ba phân xưở

Trang 2

TÌNH HÌNH TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU Ở

CÔNG TY DA GIẦY HÀ NỘI

2.1 Đặc điểm chung về công ty Da giầy Hà Nội

2.1.1 Quá trình hình thành và pháp triển của công ty

Công ty Da giầy Hà Nội là một doanh nghiệp nhà nước hạch toán kinh doanh độc lập, tự chủ về kinh tế và chụi sự quản lý của công ty Da Giầy Việt nam thuộc Bộ Công Nghiệp Quá trình pháp triển của công ty được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau gắn liền với sự pháp triển và chuyển đổi cơ chế của đất nước

- Giai đoạn 1912 – 1954: Vào năm 1912 công ty vốn là xưởng thuộc da

do một nhà tư bản người pháp đướng ra thành lập và đặt dưới sự bảo hộ của thực dân pháp lấy tên là “ Công ty thuộc Da Đông Dương’’ Mục đích hoạt động chủ yếu là phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp

- Giai đoạn 1954 – 1960: Công ty thuộc Da Đông Dương được chuyển giao cho Việt nam Đến năm 1960 nhà máy da tụy khê được thành lập trên cơ sở chuyển giao của một công ty hợp doanh và trở thành xí nghiệp quốc doanh

- Giai đoạn 1960 – 1922: Trải qua quá trình hình thành và pháp triển liên tục, từ xí nghiệp nhỏ sản xuất thủ công là chủ yếu, nhà máy đã cố gắng cải tạo

và mở rộng không ngừng do vậy sản lượng trung bình hàng năm đặt

+ Da cứng: 120 tấn/ năm

+ Da mềm: 1 triệu bia / năm ( 1 bia = 03x30 cm)

+ Keo da công nghiệp 50 tấn/ năm

Tháng 12 / 1992 nhà máy da Thụy Khuê đổi thành công ty Da giầy Thụy Khuê theo quyết định số 1310/ CNN – TCLĐ ngày 17 / 12/ 1992 của Bộ Trưởng Công nghiệp

- Giai đoạn từ 1992 đến nay: Theo quyết định số 388/ CNN – TCLĐ ngày 29/02/1993 của Bộ Trưởng Bộ Công Nghiệp ra quyết định thành lập công ty

Tên công ty: Công ty Da Giầy Hà Nội

Tên giao dịch quốc tế: HALEXIM

Trang 3

Trụ sở giao dịch chính: 152 Nguyễn Tam Trinh – Hà Nội

Tuy là một doanh nghiệp nhà nước nhưng từ khi nền kinh tế chuyển sang

cơ chế thị trường thì nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp giảm dần, trang thiết bị máy móc đều là của những năm 60 tới nay đã khấu hao hết nhưng vẫn dung Bên cạnh đó công ty còn chụi sự cạnh tranh gay gắt của nhiều công ty khác trên thị trường Năm 1994 để đáp ứng nhu cầu về chất lượng và số lượng sản phẩm của thị trường, công ty đã mạnh dạn đầu tư một dây chuyền thuộc da tương đối hoàn chỉnh và một số máy móc thiết bị của Ita Lia Hiện nay sản lượng của công ty la

+ Da cứng 30 - 40 tấn/ năm

+ Da mềm 500.000 Bia / năm

+ keo da công nghiệp 30 tấn / năm

+ Giầy da, giầy vải hơn 2.500.000 đôi năm

Kết quả kinh doanh của

+ Sản xuất các loại da và các thiết bị ngành da phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Công ty sản xuất hai loại da là Da cứng để chế biến thành các thiết bị, dụng cụ ngành da, phục vụ cho công nghiệp dệt Da mềm dùng để chế biến quân trong quân dụng và các mặt hàng tiêu dùng

+ Sản xuất da công nghiệp phục vụ cho công nghiệp trong nước

Trang 4

+ Sản xuất và gia công các loại giấy da, giầy vải phục vụ cho nhu cầu trong nước và xất khẩu.

+ Kinh doanh các loại vật tư, thiết bị, hoá chất thuộc ngành da

2.1.2 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

Công ty Da giầy Hà Nội bao gồm có ba xí nghiệp sản xuất chính và một phân xưởng sản xuất phụ

- Xí nghiệp Giầy Da: Nhiệm vụ của xí nghiệp là chuyên sản xuất và nhận

gia công các sản phẩm giầy da phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trên thị trường,

xí nghiệp giầy da bao gồm ba phân xưởng đó là phân xưởng chặt, phân xưởng may, phân xưởng gò

- Xí nghiệp Giầy Vải: Nhiệm vụ của xí nghiệp là chuyên gia công và sản

xuất các loại giầy vải phục vụ cho xuất khẩu là chủ yếu, xí nghiệp giầy vải bao gồm bốn phân xưởng đó là phân xưởng chặt, phân xưởng may, phân xưởng gò, phân xưởng hoàn tất

- Xí nghiệp cao su: Có nhiệm vụ sản xuất cao su, các loại để cung cấp

cho hai xí nghiệp sản xuất giầy của công ty

- Phân xưởng cơ khí: Có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ lao vụ cho các -

xí nghiệp, bao gồm ba bộ phận đó là bộ phận cơ khí, bộ phận mộc tề, và bộ phận nồi hơi

2.1.3.Đặc điểm tổ chức bộ máy của công ty.

Là đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập và có đầy đủ tư cách pháp nhân, công ty Da Giầy Hà Nội tổ chức quản lý theo mô hình trực tuyến chức năng để tránh tình trạng tập trung quá mức, chồng chéo hoặc bỏ sót nên các chức năng quản lý được ban lãnh đạo tiến hành phân cấp phù hợp cho xí nghiệp

Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty Da giầy ( sơ đồ 1)

- Ban giam đốc: Bam gồm một giám đốc điều hành chung cả công ty, chủ yếu là về kinh tế Hai phó giám đốc phụ trách kĩ thuật, một phó giám đốc phụ trách kinh tế

Trang 5

+ Phòng tổ chức: Có nhiệm vụ tham mưu cho ban lãnh đạo về tỏ chức bộ máy, quản lý lao động, ban hành một quy chế về công tác tiền lương ở công ty.

+ Phong kế hoạch: Có hai chức năng thứ nhất là xây dựng kế hoạch hàng quý, năm điều hành sản xuất kinh doanh trên cơ sở nhu cầu tiêu thụ của thị trường, thứ hai là căn cứ vào nhu cầu thị trường đưa ra kế hoạch giá thành, kế hoạch sản lượng nhằm mục đích thu được lợi nhuận cao nhất

+ Phòng tài chính kế toán: Giúp lãnh đạo trong công tác hạch toán chi

phí, báo cáo tình hình tài chính với các cơ quan chức năng, xây dựng kế hoạch tài chính của công ty, xác định nhu cầu về vốn, xem xét tình hình hiện có và sự biến động của các loại tài sản hiện có ở công ty

+ Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu: Giúp lãnh đạo trong việc tìm kiếm thị trường ngoài nước để tiêu thụ sản phẩm Có nhiệm vụ xuất những sản phẩm của công ty ra thị trường nước ngoài hoặc uỷ thác khi có khách hàngnước

Sơ đồ 1: Sơ đồ bộ máy công ty da giầy Hà Nội

Trang 6

SƠ ĐỒ SỐ 2: QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ THUỘC DA

ép nước, bào, thuộc

Da thuộc

Cô đặc

Trang 7

Sơ đồ số 3: Quy trình công nghệ dầy vải

Chát mảnh

Chát mảnh

Chuẩn bị gò Cao su Cách luyện Chát mảnh

Gò ráp sản phẩm giầy Cắt diềm, dán keo, sỏ dây

hoàn tất sản phẩm

Hấp kiểm nghiệm nhập kho

Nghiền đôngNhập kho

Ge latine CN

Trang 8

Ngoài, nhập vật tư, hoá chất, máy móc thiết bị phục vụ cho nhu cầu sản xuất ở công ty.

+ Phòng ISO: Điều hành việc tổ chức thực hiện hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tê, đặt hiệu quả cao

+ Phòng kinh doanh: Có nhiệm vụ tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như mở rộng đại lý tiêu thụ sản phẩm của công ty, kinh doanh các loại sản phẩm để tạo ra lợi nhuận đảm bảo đúng quy chế của công ty và pháp luật của nhà nước

Trang 9

+ Trung tâm kỹ thuật lấy mẫu: Có nhiệm vụ nghiên cứu và đưa ra được các loại mẫu mã mới phù hợp với nhu cầu thị trường, tiến hành sản xuất thử sản phẩm.

+ Các đơn vị trực thuộc: ( Bao gồm xí nghiệp giầy da, xí nghiệp giầy vải,

xí nghiệp cao su, phân xưởng cơ khí)

2.1.4 Đặc điểm quy trình công nghệ

Quy trình công nghệ thuộc da là một quy trình sản xuất phức tạp, chế biến liên tục không phân bước rõ ràng, sản phẩm là kết quả chế biến của nhiều công đoạn

Hình vẽ quy trình công nghệ thuộc da ( sơ đồ 2 )

Hình vẽ quy trình công nghệ giầy vải( sơ đồ 3)

2.1.5 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán.

2.1.5.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán.

Hình thức tổ chức công tác kế toán là hình thức nửa tập trung nửa phân tán Các bộ phận trực thuộc công ty đều là phòng kế toán riêng theo dõi những thành phần côgn việc kế toán chủ chốt ở các bộ phận trực thuộc Cuối kỳ lập báo cáo tổng hợp gửi về phòng kế toán công ty

Trang 10

SƠ ĐỒ 4: TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN.

Kế toán vật tư

Kế toán tiền lương

Kế toán TSCĐ

Kế toán chi phí và Z

- Kế toán trưởng: Có nhiệm vụ điều hành bộ máy kế toán, hướng dẫn chỉ

đạo kiểm tra hoạt động của các nhân viên kế toán ở dưới bộ phận trực thuộc cũng ở công ty

- Kế toán tổng hợp: Thực hiện công tác kế toán tổng hợp ( ghi sổ cái)

theo dõi mảng kế toán tài chính, lập báo cáo kế toán

- Kế toán TSCĐ, NVL, CCDC: Theo dõi tình hình tăng giảm tài sản cố

định, tình hình lập xuất tồn kho NVL, CCDC

Kế toán trưởng

Kế toán tiêu thụ

và XĐ KQKD

Kế toán thành phẩm

Kế toán thanh toán

Kế toán tập hợp

CP và tính giá thành

Kế toán TSCĐ

NVL CCDC

Trang 11

- Kế toán thanh toán: Theo dõi chi tiết thanh toán với người bán, với

công nhân viên ở công ty, kế toán thanh toán chỉ có ở công ty

- Kế toán thành phẩm: Theo dõi tình hình nhập xuất tồn kho thành

phẩm

- Kế toán tiêu thụ xác định kết quả: Theo dõi tình hình tiêu thụ sản

phẩm hàng hoá, giám sát tiến bộ thực hiện kế toán bán hàng, cung cấp những thông tin về tình hình bán hàng

- Kế toán tập hợp chi phí và giá thành: Có nhiệm vụ xây định đối tượng

tập hợp chi phí, đối tượng tính giá thành, lập báo cáo chi phí sản xuất và tính giá thành

Tại phòng kế toán ở xí nghiệp các nhân viên kế toán có nhiệm vụ kiểm tra công tác hạch toán ban đầu, thu nhập và kiểm tra chứng từ, ghi chép sổ sách phục vụ cho nhu cầu quản lý sản xuất ở phân xưởng Định lỳ lập báo cáo và chuyển chứng từ về phòng kế toán công ty để xử lý và tiến hành hoàn chỉnh công tác kế toán ở xĩ nghiệp

2.1.5.2 Hình thức tổ chức kế toán.

Hiện nay ở công ty đáp ứng được hình thức kế toán nhật ký chứng từ, đây

là hình thức sổ kế toán được áp dụng phổ biến và phù hợp với các doanh nghiệp

có quy mô vừa và lớn Trong quá trình thực hiện kế toán ở công ty không sử dụng toàn bộ các nhật ký chứng từ, bảng kê, bảng phân bổ và các sổ tại công ty nhưng vẫn đảm bảo các yêu cầu, về kế toán

Trình tự ghi sổ theo nhật ký chứng từ ( sơ đồ 5)

2.1.5.3 Phương pháp hạch toán hàng kế toán.

Công ty áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hoạch toán hàng tồn kho, Phương pháp kê khai thường xuyên hàng tồn kho là phương pháp ghi chép, Phản ánh thường xuyên liên tục có hệ thống tình hình nhập xuất tồn kho NVL trên các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp

Trang 12

2.1.5.4 Niên độ kế toán và kỳ kết toán.

- Niên độ kế toán: Áp dụng theo năm, ở công ty năm kế toán trùng với năm dương lịch bắt đầu từ ngày 01/ 01/ N đến 31/ 12 N

- Kỳ kế toán: Kỳ kế toán của công ty là 6 tháng ( từ ngày 01 / 01 N đến

30 / 06 N Cứ 6 tháng kế toán ở xí nghiệp lại lập báo cáo một lần rồi chuyển về phòng kế toán ở công ty

Chứng từ gốc

Bảng phân bổ

Nhật ký chứng từ

Bảng cân đối số pháp sinh

Báo cáo tài chính

Sổ cái

Sổ (thẻ) kế toán chi tiết

Trang 14

Sơ đồ 5:

2.2 Thực trạng và tình hình tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu

ở công ty da giầy Hà Nội.

2.2.1 Đặc điểm của nguyên vật liệu ở công ty giầy da Hà Nội.

Do đặc điểm của sản phẩm giầy da là mặt hàng tiêu dùng phải đảm bảo bền đẹp, chắc chắn và tiện lợi trong sinh hoạt, bên cạnh đó còn đòi hỏi về chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã phù hợp với nhu cầu thị trường Vì thế sản phẩm giầy

Trang 15

da của xí nghiệp rất đa dạng về chủng loại, kích cỡ, phong phú về mẫu sắc, chứng tỏ NVL làm ra sản phẩm giầy cũng rất đa dạng và phong phú mới đáp ứng được nhu cầu khách hàng NVL chính là da và giả da để may mũ giầy có rất nhiều loại với nhiều mầu khác nhau.

Da phải đảm bảo tính mềm, dẻo dai, bền… Các loại keo để dán giầy phải phù hợp với từng loại da ke phải đảm bảo bền không bong, cao su phải đảm bảo

độ đàn hồi, các loại để phải được dập khuôn theo các kích cỡ của từng loại giầy…

Mặt khác do sản xuất theo đơn đặt hàng mà chủ yếu là đơn đặt hàng của nước ngoài như Hàn Quốc, Đài loan….Là những khách hàng khó tính nên đòi hỏi không những sản phẩm có chất lượng mà còn phải tính đến kiểu dáng, mẫu

mã, kích cỡ phong phú theo dõi yêu cầu của từng đơn hàng Do đó NLV xuất dùng cho mõi đơn hàng khác nhau có nghĩa là NVL sẽ thay đổi về số lượng chất lượng, mầu sắc,….Trong mỗi đơn hàng

Công ty Da Giầy Hà Nội tuy mới thành lập nhưng máy móc thiết bị dây chuyền sản xuất được trang thiết bị tương đối hiện đại, mỗi phân xưởng được trang thiết bị máy móc theo chức năng hoạt động riêng có có của mình với sự chuyên môn hoá cao Chính vì vậy đối tượng sử dụng NVL ít thay đổi như: Các loại da, lót da bạt chỉ được xuất cho phân xưởng chặt với nhiệm vụ chặt da lót

da thành từng miếng theo mẫu kích cỡ khác nhau roòi chuyển qua cho phân xưởng may để may ra bán thành phẩm là mũ giầy, phân xưởng gò có nhiệm vụ lắp giáp và hoàn thiện sản phẩm

Với đặc điểm trên công tác quản lý NVL là hết sức quan trọng, để tạo điều kiện cho việc bảo quản và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, đặc biệt là NVL chính công ty đã tổ chức được hệ thống kho tàng bến bãi để dự chữ bảo quản NVL hợp lý gần các phân xưởng sản xuất, để tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển và cung ứng cho sản xuất một cách nhanh nhất Hiện nay công ty tổ chức quy hoạch tất cả thành một kho dùng để chứa tất cả các loại vật tư trừ hoá chất do xí nghiệp cao su đảm nhận

Trang 16

Kho của công ty được xây dựng khang trang, thoáng mát và được trang

bị đầy đủ các phương tịên phục vụ cho việc bảo quản NVL như cân đo, đông đếm, bố chí nhân lực giúp cho việc tiến hành chính xác các nghiệp vụ nhập xuất tồn kho NVL cũng như đảm bảo NVL cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục, không xảy ra tình trạng thiếu NVL hay ứ đọng vốn vì thừa NVL

2.2.2 Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu ở công ty Da Giầy Hà Nội 2.2.2.1 Phân loại nguyên vật liệu.

Công ty Da Giầy Hà Nội tiến hành phân loại NVL căn cứ vào công dụng của NVL

- NVL chính: Là đối tượng lao động chủ yếu ở công ty tham gia vào quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất chủ yếu cấu thành lên thực thể sản phẩm NVl chính bao gồm: Da Na ppa, Giả da mặt, vải, chỉ may… Trong mỗi loại lại chia thành nhiều thứ khác nhau như Da Nappa đen, đỏ be…

- NVL phụ: Bao gồm nhiều loại khác nhau tuy không cấu thành nên thực thể sản phẩm song NVL phụ có một tác dụng nhất định và cần thiết cho quá trình sản xuất như dây giầy, dây chun…

- Nhiên liệu: Xăng dầu đảm bảo cho máy móc hoạt động liên tục

- Phụ tùng thay thế: Như kim, chân vịt, chao máy … cho máy may, dao chặt

- Phụ liệu thu hồi: Các loại da vụn, méch, giầy hỏng… được thu gom để bán

Việc phân loại này giúp cho công ty trong việc quản lý theo dõi vạt tư được dễ dàng hơn trên cơ sở đó theo dõi số lượng, chất lượng của NVL chính, phụ…từ đó đề ra các biện pháp tổ chức quản lý, bảo quản sử dụng NVL tốt hơn Hiện nay công ty không sử dụng sổ danh điểm vật tư để mã hoá NVL nói rằng

và vật tư nói chung, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý, hạch toán giữa kế toán và thủ kho gặp khó khăn trong việc tìm kiếm và kiểm tra NVL

Trang 17

2.2.2.2 Đánh giá nguyên vật liệu.

2.2.2.2.1 Đối với nguyên vật liệu nhập trong kỳ.

NVL của công ty được nhập từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu là mua ngoài do phong kế hoạch đảm nhận, và nhận gia công theo đơn đặt hàng NVL do chính nước đặt hàng cung cấp khi kết thúc đơn đặt hàng sẽ tiến hành thanh toán bù trừ vào tiền hàng do hai bên thoả thuận ký kết Khi nhập kho NVL công ty sử dụng trị giá thực tế, giá này được xác định theo từng nguồn nhập

- Đối với NVL mua ngoài từ các nguồn ở trong nước

+ Đối với NVL được cung cấp ngay tại kho (thường là NVL phụ) thì giá trị nhập kho là giá ghi trên hoá đơn chưa có thuế GTGT (không có chi phí vận chuyển)

+ Đối với NVL mua ở xa thì phải chi ra những khoản chi phí liên quan pháp sinh trong quá trình mua NVL thì giá thực tế của NVL nhập kho là giá mua chưa có thuế GTGT cộng với chi phí thực tế liên quan

- Đối với NVL nhập khẩu: Giá nhập kho là trị giá thực tế tính theo tiền việt nam ( theo tỷ giá ngoại tệ do ngân hàng nhà nước công bố tại ngày nhập hàng) cộng với thuế nhập khẩu và chi phí liên quan pháp sinh trong quá trình mua

- Đối với NVL luân chuyển trong nội bộ trong công ty: Giá nhập kho là thành thực tế xuất kho của NVL chuyển sang cuối kỳ sẽ tiến hành thanh toán bù trừ lẫn nhau

- Đối với NVL nhận gia công theo đơn đặt hàng của nước ngoài: NVL do chính khách hàng hoá cung cấp lên giá nhập kho là giá thực tế NVL do bên gia công giao theo giá thoả thuận

- Đối với phế liệu thu hồi: Giá thực tế nhập kho là giá ước tính có thể sử dụng được

2.2.2.2.2 Đối với nguyên vật liệu xuất trong kỳ.

NVL của công ty xuất kho chủ yếu là dùng cho sản xuất, việc xuất dùng cho gia công ít (thường khi vào mùa vụ công ty không làm kịp mới đem đi gia

Trang 18

công) Hiện nay do tình hình nhập xuất NVL ít nên công ty áp dụng phương pháp tính giá NVL xuất kho là phương pháp giá thực tế đích danh Theo phương pháp này căn cứ vào số lượng xuất kho và đơn giá nhập kho của từng lô hàng xuất kho để tính.

Ưu điểm của phương pháp này là: Giúp cho công ty hạch toán chính xác trị giá của từng loại NVL xuất kho, từ đó tính chính xác chi phí NVL trong giá thành

Nhược điểm của phương pháp này là: Khối lượng công việc nhiều, dễ nhầm lẫn đơn giá giữa các NVL với nhau Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp pháp sinh ít các nghiệp vụ nhập xuất NVL

Ví dụ: Đối với NVL chính giả da mặt

Xuất kho trong kỳ

- Cửa lô hàng tồn đầu kỳ

- Cửa lô hàng nhập ngày 25/03

100300

3136031310

12.529.000

2.2.3 Thủ tục nhập xuất kho.

Để thực hiện tốt công tác quản lý nhập, xuất NVL tại công ty đồng thời nhằm đảm bảo thông tin kịp thời cho hạch toán kế toán phục vụ cho công tác quản lý chung tại công ty giám đốc công ty quy định

1 Khi mua NVL về cán bộ vật tư phải xuất trình từ mua NVL

+ Trường hợp NVl mua về kèm theo chứng từ: Thủ kho căn cứ vào số lượng NVL trên chứng từ đề nghị phòng kế hoạch viết phiếu nhập kho Trước khi nhập kho NVL phải qua phòng QC để kiểm tra chất lượng

+ Trường hợp NVL mua về không kèm theo chứng từ: Thủ kho yêu cầu cán bộ vật tư lập phiếu đề nghị nhập kho ghi rõ tên và đơn vị mua, số lượng, đơn giá, thành tiền …Đồng thời cán bộ vật tư phải viết cam kết hoàn trả chứng từ

Trang 19

phiếu đề nghị nhập kho trong trường hợp hàng về chưa có chứng từ thủ kho không cho phép NVL đó vào kho.

2 NVL mua về có giá trị trên 100.000 đồng phải có hoá đơn GTGT

3 Phiếu nhập kho được viết theo số thứ tự và bao gồm ba liên:

- Liên thứ nhất: Thủ kho giữ

- Liên thứ nhất: Cán bộ mua vật tư giữ

- Liên thứ ba: Dùng để thanh toán với người bán

4 Thủ kho phải tiến hành lập thẻ kho, lập bảng cân đối nhập xuất tồn NVL để cuối tháng tiến hành đối chiếu về kế toán

5 Trong tưng phân xưởng của công ty khi có nhu cầu sử dụng NVL thì phải lập phiếu đề nghị cấp pháp NVL ghi rõ số lượng rồi chuyển cho phòng kế hoạch để viết phiếu xuất kho Thủ kho căn cứ vào số lượng NVL thực tế tồn trong kho và ghi vào cột xuốt thực tế Phiếu xuất kho lập ba liên

- Liên 1: Thủ kho giữ

- Liên 2: Phân xưởng nhận NVL gĩư

- Liên 3: Chuyển lên công ty

Việc quy định của giám đốc thực hiện đối với toàn bộ công ty hỗ trợ phần lớn cho việc quản lý, sử dụng NVL cũng như tiêu dùng NVL một cách hợp lý đem lại hiệu quả kinh tế cao

Ví dụ: Khi mua NVL của cơ sở thuộc da Hưng Thái ta có những hoá đơn mua bán hàng như sau:

Trang 20

Biểu số 01:

HOÁ ĐƠN GTGT MẪU SỐ 01

Liên 3 (Giao cho khách hàng để thanh toán)

Ngày 25 tháng 03 năm 2003

Đơn vị bán hàng: Cơ sở thuộc da Hưng Thái

Địa chỉ: Số tài khoản:

Điện thoại: Mã số:

Họ và tên người mua hàng: Phạm Văn Trung

Đơn vị: Công ty Da Giầy Hà Nội

Địa chỉ: Số 409 Nguyễn Tam Trinh Hà Nội Số tài khoản

Hình thức thanh toán: Thanh toán bằng tiền mặt Mã số:

Tổng cộng tiền thanh toán 17.220.500

Số tiền bằng chữ : Mười bẩy triệu hai trăm hai mươi nghìn năm trăm đồng

Người mua hàng Kế toán trưởng Thủ trưởng đơn vị

NVL sau khi được kiểm tra ở phòng QC mới được nhập kho Mẫu biên bản kiểm nghiệm NVL như sau:

Ngày đăng: 07/11/2013, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ SỐ 2: QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ THUỘC DA - TÌNH HÌNH TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU Ở CÔNG TY DA GIẦY HÀ NỘI
2 QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ THUỘC DA (Trang 6)
Sơ đồ số 3: Quy trình công nghệ dầy vải - TÌNH HÌNH TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU Ở CÔNG TY DA GIẦY HÀ NỘI
Sơ đồ s ố 3: Quy trình công nghệ dầy vải (Trang 7)
BẢNG KÊ CHI TIẾT TK 1521 - TÌNH HÌNH TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU Ở CÔNG TY DA GIẦY HÀ NỘI
1521 (Trang 27)
SƠ ĐỒ 9: HẠCH TOÁN CHI TIẾT NGUYÊN VẬT LIỆU. - TÌNH HÌNH TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU Ở CÔNG TY DA GIẦY HÀ NỘI
SƠ ĐỒ 9 HẠCH TOÁN CHI TIẾT NGUYÊN VẬT LIỆU (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w