1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY DUNG DỊCH KHOAN VÀ HOÁ PHẨM DẦU KHÍ

49 391 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng hạch toán kế toán tiêu thụ sản phẩm tại công ty dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí
Tác giả Vũ Thị Thu Trang
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 218,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự đổi mới trong chính sách kinh tế của Đảng vàNhà nước đã thu hút được nhiều sự đầu tư của các Công ty dầu khí nướcngoài trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở

Trang 1

THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY DUNG DỊCH KHOAN VÀ HOÁ PHẨM DẦU KHÍ.

1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY DUNG DỊCH KHOAN VÀ HOÁ PHẨM DẦU KHÍ

1 Quá trình hình thành và phát triển

Những năm cuối thập kỉ 80, việc phát hiện ra dòng dầu công nghiệp đầutiên ở mỏ Bạch Hổ, mỏ Rồng đã đưa sản lượng khai thác dầu thô của nghànhdầu khí tăng vọt Cùng với sự đổi mới trong chính sách kinh tế của Đảng vàNhà nước đã thu hút được nhiều sự đầu tư của các Công ty dầu khí nướcngoài trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địaViệt Nam, đồng thời với việc xây dựng, phát triển lĩnh vực dịch vụ dầu khí.Chính trong bối cảnh đó, theo quyết định số 182 ngày 8 tháng 3 năm 1990 củaTổng cục Dầu khí (nay là Tổng Công ty Dầu khí Việt nam) và theo Quyếtđịnh số 197/BT ngày 16/2/1996 của văn phòng Chính phủ, Công ty Dungdịch khoan và hoá phẩm dầu khí đã được thành lập, để đáp ứng nhu cầu cấpbách, sản xuất hoá phẩm dung dịch khoan và từng bước vươn lên trở thànhnhà thầu phụ dung dịch khoan ở Việt nam và khu vực Đông Nam Á

Công ty Dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí là doanh nghiệp nhànước, thành viên của Tổng Công ty dầu khí Việt nam, hạch toán độc lập, có tưcách pháp nhân, có con dấu riêng được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước,ngân hàng trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật

 Tên gọi đầy đủ : Công ty Dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí

 Tên giao dịch quốc tế: DRILLING MUD COMPANY

 Tên viết tắt : DMC

 Trụ sở chính: 97 - Láng Hạ - Đống Đa - Hà Nội

Đây là nơi giao dịch chính và cũng là trung tâm điều hành sản xuất kinhdoanh của Công ty Ngoài ra Công ty còn có các đơn vị thành viên sau:

 Xí nghiệp hoá phẩm dầu khí Yên Viên – Hà nội

 Chi nhánh Công ty DMC – Vũng Tàu

 Văn phòng đại diện - thành phố Hồ Chí Minh

 Công ty liên doanh MI – Việt Nam

 Công ty Barite Tuyên Quang – DMC

 Xí nghiệp hoá phẩm Quảng Ngãi

Trang 2

Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH KTQD

 Công ty TNHH kinh doanh - khai thác - chế biến đá vôi trắng Nghệ

An – DMC

Công ty Dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí ra đời trên cơ sở sápnhập giữa hai xí nghiệp: Xí nghiệp sản xuất hoá phẩm dầu khí (đóng tại VũngTàu) và Xí nghiệp dịch vụ II (trực thuộc văn phòng Tổng cục dầu khí - tại TừLiêm - Hà Nội)

Bằng những chiến lược và định hướng ban đầu đúng đắn, DMC đã vươnlên tự khẳng định mình và trở thành doanh nghiệp hàng đầu, xây dựng được

vị trí vững chắc trên thị trường trong nước và quốc tế DMC là Công ty đầutiên ở Việt Nam tạo ra mô hình công nghiệp mới để sản xuất hoá phẩm dầukhí ở quy mô công nghiệp Những sản phẩm do DMC sản xuất từ nguồnnguyên liệu trong nước đã đạt và vượt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế API(Viện dầu lửa Mỹ) với các sản phẩm như Barite API, Bentonite API, CaC03,Calcium Chloride, Sodium chloride, Biosafe, DMC- Lub …Đây là nhữngsản phẩm được coi là mới mẻ trong ngành công nghiệp của Việt nam thay thếhàng nhập khẩu đồng thời đẩy mạnh việc xuất khẩu với số lượng ngày cànglớn, từng bước xâm nhập thị trường khu vực và trên thế giới

Đến nay trên cơ sở do mình tạo ra, DMC đã thoả mãn được phần lớn nhucầu trong ngành, trong nước và thị trường quốc tế Thương hiệu DMC đã phủgần kín khu vực châu Á Thái Bình Dương, Trung Đông và Bắc Mỹ (Úc, NewZealand, Malaysia, Indonesia, Singapore, Philipine, Bruney, Sakalin- Nga,Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Bangladesh)

Với những kết quả đạt được, Công ty DMC ngày nay được đánh giá làmột Công ty sản xuất kinh doanh có hiệu quả và được Tổng Công ty Dầu khíViệt Nam xếp là “Doanh nghiệp loại I” trong ngành và liên tục nhận đượcbằng khen của Chính phủ

Trang 3

 Nghiên cứu chuyển giao công nghệ và dịch vụ kỹ thuật về dung dịchkhoan xi măng, dung dịch hoàn thiện, sửa chữa và xử lý giếng khoan dầukhí.

 Nhập khẩu vật tư, máy móc thiết bị, phương tiện chuyên dùng phục vụ sảnxuất, kinh doanh dung dịch khoan và hoá phẩm sử dụng trong ngànhcông nghiệp dầu khí

 Tiến hành các hoạt động kinh doanh, dịch vụ khác theo sự phân công củaTổng Công ty và phù hợp với pháp luật

Công ty đã tự sản xuất và hợp tác sản xuất được trên 20 loại sản phẩmkhác nhau phục vụ cho tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí như: Barite API,Bentonite, xử lý chất độc màu da cam BT1, CaCO3, Fenspar, Dolomit, Bazan-

G, Xi măng bền sunphat… Trong đó, hai sản phẩm Barite và Bentonitechiếm trên 80% khối lượng các sản phẩm dùng để pha chế dung dịch khoan.Các sản phẩm của Công ty chủ yếu phục vụ cho ngành dầu khí trong việcthăm dò, khai thác dầu khí và xử lý giếng khoan Ngoài ra, các hoá phẩmchuyên dụng của DMC cũng được sử dụng trong các ngành công nghiệp khácnhư: hoá phẩm Calcium Cacbonat cho công nghiệp sản xuất sơn, cao su, bộtgiặt, giấy, nhựa, gốm, sứ, que hàn, …

Ngoài việc đa dạng hoá sản phẩm, DMC còn đa dạng hoá loại hình kinhdoanh với mục tiêu tiếp nhận công nghệ mới và mở rộng thị trường Năm

1991 Công ty đã ký kết việc thành lập Liên doanh với Công ty ADF (Na Uy),nay trở thành liên doanh M-I (Hoa Kỳ) Ở trong nước, DMC chủ động đề xuấtthành lập liên doanh Barite Tuyên Quang để khai thác chế biến quặng, nhằmchủ động tạo một thế khép kín từ khâu khai thác nguyên liệu đến khâu sảnxuất và tiêu thụ sản phẩm Cả hai liên doanh đều hoạt động có hiệu quả tạocho Công ty hàng tỷ đồng lợi nhuận mỗi năm

Hiện nay, sản phẩm của Công ty chủ yếu phục vụ trong lĩnh vực thăm dò

và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam nên thị trường tiêu thụ sảnphẩm nội địa của Công ty chủ yếu ở miền Nam Ngoài ra, Công ty còn mởrộng thị trường tiêu thụ ra các nước như: New Zealand, Malaysia, Indonesia,Singapore, Philipin, Brunay, Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan , Mêhicô Với uy tíncủa Công ty và chất lượng sản phẩm cao DMC đã chiếm lĩnh thị trường trongnước và quốc tế Thương hiệu DMC đã phủ gần kín khu vực Châu Á- Thái

Bình Dương và ngày càng mở rộng ra Trung Đông và Bắc Mỹ.

Trang 4

Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH KTQD

3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh tại

Công ty DMC.

3.1 Tổ chức hệ thống kinh doanh.

Công ty Dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí là doanh nghiệp có quy

mô lớn hoạt động sản xuất kinh doanh trên nhiều ngành nghề từ sản xuất, xuấtnhập khẩu đến liên doanh, liên kết

Để hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả Công ty tổ chức hệ thống kinhdoanh theo sự phân cấp quản lý với các đơn vị, Chi nhánh trực thuộc nhằmchủ động tạo một thế khép kín từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm

Công ty có ba cơ sở sản xuất chính là các XN hoá phẩm dầu khí đặt tạiYên Viên, Quảng Ngãi và Vũng Tàu Riêng Chi nhánh Vũng Tàu bên cạnhviệc sản xuất hoá phẩm dầu khí, Chi nhánh còn thực hiện chức năng tiêu thụtoàn bộ số sản phẩm từ các cơ sở sản xuất Yên Viên chuyển vào cho thịtrường miền Nam theo lệnh điều động nội bộ của Công ty Các đơn vị trựcthuộc được phân cấp hoạt động, tự chủ về sản xuất kinh doanh và chịu sựquản lý và chỉ đạo toàn diện của văn phòng Công ty

Cơ quan Công ty có trách nhiệm tổ chức lập kế hoạch, chỉ đạo giám sátđiều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Công ty Đây là trụ sởgiao dịch chính và cũng là trung tâm điều hành sản xuất kinh doanh của Công

ty Mọi giao dịch, ký kết hợp đồng kinh tế, đầu tư, mua bán, xuất nhập khẩu,các hợp đồng liên doanh, liên kết… hoạt động tiếp thị, giới thiệu sản phẩm,tìm kiếm và mở rộng thị trường đều do cơ quan Công ty đảm nhận

Quan hệ giữa các Chi nhánh của Công ty DMC với Công ty dựa trên cơ

sở sự phân cấp về quản lý theo mô hình trực tuyến- chức năng Các XN vàChi nhánh được chủ động điều hành và chịu trách nhiệm thực hiện một chứcnăng cụ thể trong quy trình sản xuất tiêu thụ sản phẩm

3.2 Tổ chức hệ thống quản lý của Công ty DMC.

Do đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty nên hệ thống quản lý củaCông ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến - chức năng (Sơ đồ 1) Cácphòng ban thực hiện nhiệm vụ chuyên môn dưới sự lãnh đạo trực tiếp củaBan Giám đốc Các cơ sở sản xuất được phân cấp hoạt động nhưng không có

tư cách pháp nhân đầy đủ, theo sự quản lý và chỉ đạo toàn diện của văn phòngCông ty Quan hệ giữa các phòng ban trong Công ty là quan hệ bình đẳng tôn

Trang 5

trọng, có trách nhiệm trao đổi và cung cấp thông tin cho nhau, chịu tráchnhiệm về mọi hoạt động của mình trước Giám đốc về kết quả được giao.

Đứng đầu Công ty là Ban Giám đốc gồm một Giám đốc và một Phó

giám đốc Trong đó:

Giám đốc: Là người điều hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật ,

trước Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc về mọi hoạt động sản xuất kinhdoanh của Công ty Đề ra chủ trương chính sách trực tiếp quản lý điều hànhcác công tác hoạt động của các XN và Chi nhánh phía Nam

Phó Giám đốc Công ty: Là người trực tiếp giúp việc cho Giám đốc, có

quyền quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình hay quyết địnhthay những vấn đề được Giám đốc uỷ quyền

Giám đốc Chi nhánh phía Nam (đóng tại Vũng Tàu): Trực tiếp điều

hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của Công ty phát sinh ởphía Nam, phù hợp với quy chế tổ chức và hoạt độnh của Chi nhánh

Giám đốc Xí nghiệp HPDK Yên Viên và Quảng Ngãi: Là người đại

diện pháp nhân của XN, giúp Giám đốc Công ty điều hành XN và chịu tráchnhiệm trước Giám đốc Công ty, Tổng Công ty và Nhà nước về mọi hoạt độngsản xuất, kinh doanh , dịch vụ của XN

Các phòng ban chức năng :

Phòng Tổ chức đào tạo: Có trách nhiệm tổ chức thực hiện và chỉ đạo

hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các đơn vị thành viên trong Công ty thực hiệncác chủ trương, chế độ, chính sách của Nhà nước, các quy chế nội quy, quychế của Tổng Công ty và của Công ty

Phòng Tài chính- kế toán: Có trách nhiệm quản lý mọi hoạt động tài

chính kế toán của Công ty Tổ chức chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác tàichính, kế toán, thống kê, thông tin kinh tế, hạch toán kinh tế, cân đối thu chi ,nộp ngân sách nhà nước theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước và củaTổng Công ty

Phòng Kinh tế-kế hoạch : Có trách nhiệm xây dựng kế hoạch chiến

lược tổng thể cho từng giai đoạn và kế hoạch ngắn hạn, trung hạn, dài hạn baogồm kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch phát triển mặt hàng

Phòng vật tư vận tải: Tổ chức thực hiện công tác vật tư, kế hoạch vận

tải, cung ứng nội bộ, vận tải Bắc Nam và vận tải xuất, nhập khẩu bằng đường

Trang 6

Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH KTQD

biển, đường sắt, đường sông…đáp ứng nhu cầu về vật tư, đảm bảo vận tảiphục vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của Công ty

Phòng thí nghiệm dung dịch khoan và xử lý giếng khoan: Thực hiện

nghiên cứu các loại dung dịch khoan, hoá phẩm dầu khí, đề xuất các giải pháp

kỹ thuật xử lý giếng khoan

Phòng dịch vụ kỹ thuật: Chịu trách nhiệm về các mặt công tác trong

lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật dầu khí và thực hiện một số nhiệm vụ nghiên cứuứng dụng công nghệ mới, sản phẩm mơí theo hướng hoạt động đa dạng hoásản phẩm, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ

Phòng thí nghiệm vi sinh : Tổ chức thực hiện việc nghiên cứu và đưa

vào sử dụng các chất có hoạt tính sinh học cho công nghệ khai thác dầukhí ,xử lý ô nhiễm, dầu phế thải, làm sạch vùng cận đáy giếng khoan dầu khí

Phòng nghiên cứu sản phẩm mới: Tổ chức thực hiện việc nghiên cứu

tìm các sản phẩm hoá chất mới để cung ứng và dịch vụ kỹ thuật phục vụ chocông tác thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí

Cửa hàng giới thiệu sản phẩm và kinh doanh sản phẩm: Giới thiệu

kinh doanh tiếp thị các loại hoá chất, hoá phẩm và sản phẩm dung dịch khoanphục vụ ngành dầu khí và các ngành công nghiệp khác

Phòng thương mại: Có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện

công tác tiếp thị và kinh doanh các sản phẩm do Công ty sản xuất trong khuvực Châu Á-Thái Bình Dương

Phòng tiếp thị và phát triển kinh doanh: Có nhiệm vụ tìm kiếm mở

rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm mới; cung cấp dịch vụ kỹ thuật, hoá chất ởtrong, ngoài nước và xây dựng các dự án đầu tư mới

Phòng quản lý chất lượng: Hoạch định các chương trình quản lý và

nâng cấp thiết bị sản xuất, thiết bị đo lường và chất lượng sản phẩm do Công

ty sản xuất

Mô hình tổ chức bộ máy quản lý

Theo đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý , chức năng nhiệm vụ và sự

phân cấp trách nhiệm của từng phòng ban, mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Công ty DMC được sắp xếp như sau:

Trang 7

Sơ đồ 1.1 : Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công DMC

4 Tổ chức bộ máy kế toán ở Công ty Dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí.

4.1.Tổ chức bộ máy kế toán.

4.1.1Mô hình tổ chức bộ máy kế toán:

Do tính chất và quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty với yêu cầu quản lý chặt chẽ tình hình hoạt động

của toàn Công ty bao gồm các đơn vị và Chi nhánh trực thuộc, bộ máy kế toán Công ty được tổ chức theo hình thức tập

trung - phân tán Phù hợp với hình thức này, bộ máy kế toán được phân chia thành hai cấp: Phòng kế toán Công ty vàphòng kế toán các Xí nghiệp, Chi nhánh Việc tổ chức bộ máy kế toán thành hai cấp dựa trên nguyên tắc sau:

Tập trung thống nhất toàn Công ty:

Thông tin về mọi hoạt động tài chính, thống kê, kế toán đều được tập trung tại Công ty Phòng tài chính- kế toán củaCông ty có trách nhiệm tổng hợp cân đối chung toàn bộ Công ty về các công việc tài chính kế toán, đi vay, đầu tư, …phục vụ trực tiếp khối cơ quan và các đơn vị trực thuộc Định kỳ, trên cơ sở các báo cáo từ các đơn vị, Chi nhánh trựcthuộc gửi về, kế toán Công ty tổng hợp và lên báo cáo chung cho toàn Công ty

Phân cấp hạch toán cho các Xí nghiệp, Chi nhánh trên cơ sở phân cấp về mặt tài chính.

Kế toán tại các đơn vị trực thuộc có nhiệm vụ hạch toán ban đầu, thu thập số liệu và theo dõi các nghiệp vụ kinh tếphát sinh tại đơn vị mình theo sự phân cấp quản lý và hoạt động của Công ty Định kỳ, kế toán tại các đơn vị, cơ sở trựcthuộc tổng hợp chứng từ và lập báo cáo gửi về phòng tài chính kế toán Công ty để tiến hành xử lý, tổng hợp và lập báocáo tài chính toàn Công ty

Công ty là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập Các đơn vị và Chi nhánh trực thuộc tổ chức hạch toán nội bộ, phụ thuộc,

có quan hệ với Công ty theo hình thức "thu hộ, chi hộ" Kế toán Công ty và các đơn vị, Chi nhánh trực thuộc có quan hệ

XÍ NGHIỆP HPDK YÊN

VIÊN

PHÓ GIÁM ĐỐC GIÁM ĐỐC

XÍ NGHIỆP HPDK QUẢNG NGÃI

XÍ NGHIỆP VLCN DMC

Trang 8

Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH KTQD

với nhau theo nguyên tắc hạch toán nội bộ thông qua hệ thống chỉ đạo dọc và chế độ báo cáo quy định trong nội bộ Cácphát sinh tại đơn vị trực thuộc là trị giá phải thu đơn vị thành viên của Công ty và là trị giá phải trả nội bộ của các đơn vịtrực thuộc

Trang 9

Mô hình bộ máy kế toán của Công ty DMC được tổ chức như sau:

Kế toán lương và

các khoản theo

lương

Kế toán TSCĐ, hàng hoá

Kế toán doanh thu thu nhập

Kế toán Liên doanh

Kế toán thuế

Kế toán chi phí

Trang 10

Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH KTQD

Sơ đồ1.2: Tổ chức bộ máy kế toán của Công ty DMC

Chức năng, nhiệm vụ của bộ máy kế toán

Nhiệm vụ cụ thể của từng kế toán viên phụ trách các phần hành :

Phù hợp với đặc điểm quản lý của Công ty phòng tài chính- kế toán của Công ty DMC gồm 12 người : 1 kế toántrưởng và 11 kế toán viên được phân công theo chức năng và nhiệm vụ như sau:

Kế toán trưởng: Có chức năng giúp Giám đốc tổ chức chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác Tài chính –kế toán, thống

kê ở Công ty đồng thời là kiểm soát viên kinh tế tài chính của Nhà nước tại Công ty Điều hành bộ máy kế toán thực thitheo đứng chhế độ chính sách

Phó kế toán trưởng : Thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của kế toán trưởng Khi tạm thời vắng mặt ở đơn vị, kế

toán trưởng uỷ nhiệm cho phó kế toán trưởng thay thế

Bộ phận tài chính: xây dựng và quản lý kế hoạch tài chính, theo dõi tình hình các nguồn vốn hinh doanh, tình hình

thu nhập và phân phối thu nhập, tình hình hạch toán vốn bằng tiền, tiền vay và các nghiệp vụ thanh toán

Kế toán tổng hợp : Kiểm tra việc mở sở sách, lập chứng từ kế toán của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo đúng

chế độ hiện hành.Thực hiện tổng hợp các phần hành kế toán của Công ty

Kế toán thanh toán : Kiểm tra tính hợp lý hợp lệ của các chứng từ kế toán Lập chứng từ thanh toán ( phiếu thu ,

phiếu chi, uỷ nhiệm chi bằng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng,chứng từ vay vốn ngân hàng )

Trang 11

Kế toán tiền lương và các khoản tính theo lương: Có nhiệm vụ tính toán chính xác tiền lương thưởng và các

khoản phải nộp khác theo chế độ BHYT, của người lao động phục vụ cho việc tính giá thành

Kế toán tài sản cố định và hàng hoá: Có nhiệm vụ mở sổ, thẻ để ghi chép và theo dõi quản lý việc mua sắm, sử

dụng và bảo quản hồ sơ TSCĐ.Tính khấu hao TSCĐ theo quy định, lập các biên bản giao nhận, thanh lý TSCĐ

Kế toán công nợ: có nhiệm vụ mở sổ ghi chép để theo dõi từng khoan công nợ cho từng đối tượng và thời hạn nợ

theo yêu cầu quả lý Cuối kỳ lập bảng kê chi tiết và bảng phát sinh công nợ

Kế toán đề tài: có nhiệm vụ mở sổ ghi chép để theo dõi tình hình thực hiện của từng đề tài nghiên cứu khoa học.

Kiểm tra, phân loại và tập hợp các chứng chi cho từng đề tài nghiên cứu

Kế toán xây dựng cơ bản: Kiểm tra kiểm soát các trình tự thủ tục đầu tư XDCB và các định mức chi phí của các

công trình hạng mục đầu tư

Kế toán thuế: Mở sổ ghi chép cho từng loại thuế và cho thuế GTGT đầu vào trên cơ sở các chứng từ kế toán theo

trình tự thời gian Hàng kỳ, lập bảng kê chi tiết và đối chiếu với các bộ phận liên quan

Kế toán doanh thu và thu nhập: Mở sổ và ghi sổ chi tiết doanh thu, thu nhập khác cho từng mặt hàng và theo dõi

tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng

hoáTổng hợp doanh thu, thu nhập khác và lập các báo cáo doanh thu theo từng tháng, quý, năm cho từng khách hàng

và từng mặt hàng

Kế toán chi phí: Tính toán tập hợp chính xác đầu đủ các chi phí liên quan, đến giá thành sản phẩm, chi phí quản lý,

tiêu thụ và các chi phí khác làm cơ sở cho việc xác định kết quả kinh doanh

Kế toán liên doanh: Mở sổ ghi chép để theo dõi, phản ánh các nguồn vốn góp liên doanh và các khoản phải thu cho

Trang 12

Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH KTQD

4.2 Tổ chức hạch toán kế toán

4.2.1.Chính sách kế toán áp dụng tại doanh nghiệp.

Phù hợp với đặc điểm, hình thức tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, quy mô và loại hình doanh nghiệp cũng nhưtheo yêu cầu quản lý Công ty Dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí áp dụng chính sách kế toán như sau:

 Niên độ kế toán bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 hàng năm

 Đơn vị tiền tệ sử dụng trọng ghi chép kế toán là đồng Việt Nam Nguyên tắc và phương pháp chuyển đổi các đồngtiền khác là quy đổi ra USD để quy đổi thành Việt Nam đồng theo tỷ giá thực tế bình quân liên ngân hàng công

bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ ngoại tệ

 Hình thức sổ kế toán áp dụng : Chứng từ ghi sổ

 Phương pháp kế toán TSCĐ

Nguyên tắc đánh giá tài sản: Theo giá vốn (Chi phí thực tế)

Phương pháp khấu hao áp dụng là phương pháp khấu hao tuyến tính đường thẳng

 Phương pháp kế toán hàng tồn kho

Nguyên tắc đánh giá tài sản: theo giá vốn (Chi phí thực tế)

Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho cuối kỳ là phương pháp bình quân

Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: Theo phương pháp kê khai thường xuyên

Công ty là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, có bảng cân đối kế toán Các đơn vị và Chi nhánhtrực thuộc tổ chức hạch toán nội bộ, phụ thuộc, có quan hệ với Công ty theo hình thức "thu hộ, chi hộ"

Các đơn vị, cơ sở trực thuộc được phân cấp hạch toán kế toán theo đúng chế độ quy định hiện hành, trên bảng cânđối kế toán đều có đầy đủ các chỉ tiêu, riêng nguồn vốn và quỹ đều do Công ty quản lý trích lập Hàng ngày, kế toán tạicác đơn vị, cơ sở theo dõi, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại đơn vị mình Định kỳ, tổng hợp cân đối báo cáo về

Trang 13

phòng tài chính - kế toán Công ty đồng thời kết chuyển toàn bộ “lãi” hoặc “lỗ” Cuối mỗi kỳ hạch toán, kế toán Công tydựa vào các báo cáo của các đơn vị trực thuộc để tổng hợp và lên báo cáo tài chính toàn Công ty.

4.2.2 Quy trình ghi sổ.

Quy trình ghi sổ tại Công ty được thực hiện như sau:

Căn cứ vào chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ, kế toán viên phụ trách từng phần hành vào sổ theo dõi riêngcác nghiệp vụ thuộc phạm vi phụ trách của mình Sau đó, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào các Sổ chi tiết vàBảng kê chi tiết Định kỳ hàng quý, kế toán tổng hợp căn cứ trên các bảng kê do kế toán phần hành lập để lập Chứng từghi sổ (CTGS) Trên cơ sở các CTGS kế toán tập hợp số liệu vào Sổ Đăng ký CTGS và lên Sổ cái các tài khoản Cuối kỳ,căn cứ vào Sổ cái các tài khoản kế toán lập Bảng cân đối số phát sinh và lên Báo cáo tài chính

Việc đối chiếu kiểm tra được tiến hành giữa Sổ Đăng ký CTGS và Bảng cân đối phát sinh các tài khoản Ngoài ra,công tác đối chiếu còn diễn ra giữa các phần hành kế toán chi tiết

Việc tổ chức hạch toán kế toán được khái quát theo sơ đồ 3:

Chứng từ ghi sổ Bảng kê chi tiết tài khoản

Sổ chi tiết tài khoản Chứng từ gốc

SỔ CÁI CÁC TÀI KHOẢN

BẢNG CÂN ĐỐI SỐ PHÁT SINH

Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ

Trang 14

Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH KTQD

Đối chiếu

Ghi hàng ngày

Ghi định kỳ

Sơ đồ 1.3: Sơ đồ tổ chức hệ thống sổ kế toán

Báo cáo tài chính

Trang 15

II HẠCH TOÁN TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY DUNG DỊCH KHOAN VÀ HOÁ PHẨM DẦU KHÍ.

1 Tổ chức công tác quản lý sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm.

1.1 Công tác quản lý sản phẩm.

Để quản lý tốt quá trình tiêu thụ sản phẩm trước hết phải quản lý tốt sản phẩm nhằm thu thập thông tin một cách đầy

đủ chính xác về số lượng, chất lượng và trị giá hàng bán của thành phẩm phục vụ cho việc quản lý tiêu thụ sản phẩm.Các sản phẩm của Công ty chủ yếu phục vụ cho nghành dầu khí trong việc thăm dò khai thác và xử lý giếng khoan

Do yêu cầu kỹ thuật và đặc điểm sản phẩm cũng như đặc điểm tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của Công

ty, việc quản lý sản phẩm đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên như thủ kho, bảo vệ, phòng kiểm nghiệm KCS, bộphận kế toán thành phẩm.Trong đó trách nhiệm giữa các bên như sau:

- Phòng kiểm nghiệm KCS: Kiểm tra một cách chặt chẽ chất lượng sản phẩm trước khi nhập kho, đảm bảo đầy đủ các

tiêu chuẩn về độ mịn, độ nhớt, kích cỡ hạt

- Phòng bảo vệ: Đảm bảo độ an toàn kho thành phẩm Ngoài ra kiểm tra giâý tờ của các đơn vị, cá nhân đến lấy hàng

tại kho

- Thủ kho: Quản lý chi tiết thành phẩm về mặt số lượng, tập hợp chứng từ ban đầu về nhập, xuất thành phẩm Xác

nhận vào chứng từ khi nhập, xuất thành phẩm tránh gây hao hụt, mất mát

- Bộ phận kế toán thành phẩm: Quản lý thành phẩm cả về số lượng, trị giá hàng bán của sản phẩm, tổng hợp tình

hình nhập xuất kho thành phẩm

1.2 Công tác quản lý tiêu thụ sản phẩm

Xuất phát từ những đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty là cơ sở sản xuất và tiêu thụ ở các địa điểmcách xa nhau cũng như đặc thù của sản phẩm công nghịêp dầu khí nên chi phí bán hàng phát sinh tương đối lớn do phảivận chuyển xa với số lượng nhiều Mặt khác, khối lượng hàng bán ký kết với khách hàng trong hợp đồng là tương đối lớn,

do đó Công ty không giao hàng ngay một lần mà tuỳ theo yêu cầu của khách hàng Mỗi lần giao, Công ty lập hoá đơn

Trang 16

Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH KTQD

GTGT và có chữ ký cuả khách hàng khi đó sản phẩm mới coi là tiêu thụ Vì vậy, công tác quản lý tiêu thụ sản phẩm phảichặt chẽ từ khâu ký kết hợp đồng, giao hàng cho khách hàng, thanh toán tiền hàng, tính thuế và xác định kết quả tiêu thụ

Về mặt này Công ty đã chú ý đúng mức các vấn đề sau:

+ Về khối lượng sản phẩm xuất bán: Quản lý từng người mua, từng lần gửi hàng, từng nhóm hàng Theo dõi tình

hình thực hiện kế hoạch bán ra đối với từng mặt hàng, theo dõi tình hình nhập - xuất - tồn kho thành phẩm để xác địnhchính xác, kịp thời và đầy đủ khối lượng sản phẩm xuất bán Đồng thời việc hạch toán chi tiết thành phẩm đảm bảo cho

bộ phận kế toán nắm rõ tình hình hiện còn của từng mặt hàng làm cơ sở cho việc ký kết các hợp đồng bán hàng được dễdàng

+ Về quy cách phẩm chất sản phẩm: Trước khi nhập kho sản phẩm đã được kiểm tra chất lượng kỹ lưỡng Do đó khi

có khách hàng liên hệ và ký kết hợp đồng, bộ phận bán hàng có thể khẳng định chất lượng sản phẩm từ đó tạo thuận lợicho việc thoả thuận về giá cả

+ Về chính sách giá: Công ty sử dụng giá bán động, giá bán được gắn liền với sự biến động của thị trường Tuỳ từng

thời điểm khác nhau mà Công ty đưa ra các mức giá bán khác nhau để có thể thúc đẩy quá trình tiêu thụ và tăng lợi nhuậncủa Công ty

1.3 Phương thức tiêu thụ và phương thức thanh toán.

Công ty Dung dịch khoan và hoá phẩm dầu khí vừa có chức năng sản xuất kinh doanh vừa có chức năng xuất nhậpkhẩu Đặc điểm tổ chức quản lý kinh doanh của Công ty là các cơ sở sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của Công ty ở các địabàn cách xa nhau Sản phẩm của Công ty không chỉ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn đáp ứng nhu cầucủa nhiều khách hàng trên thế giới Thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty rộng lớn, mở rộng ra khắp khu vực Châu Á

- Thái Bình Dương, Trung Đông và Bắc Mỹ Trên cơ sở các đặc điểm về sản phẩm hàng hoá, đặc điểm tổ chức sản xuấtkinh doanh và tiêu thụ sản phẩm của Công ty đã quy định các phương thức tiêu thụ và phương thức thanh toán

ơ

Phương thức tiêu thụ.

Trang 17

Hiện nay, Công ty đang sử dụng các phương thức tiêu thụ chủ yếu sau:

Phương thức tiêu thụ trực tiếp: Theo phương thức này sản phẩm được trao đổi trực tiếp với người mua, khách

hàng phải làm thủ tục nhận hàng tại kho Chi nhánh và phải làm thủ tục thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán trước khinhận hàng Sản phẩm tiêu thụ tại Công ty theo hợp đồng bán hàng, đơn đặt hàng, bán lẻ và chào giá, đấu thầu Ngoài rasản phẩm còn được tiêu thụ tại cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm của Công ty với khối lượng ít, doanh số tiêu thụkhông nhiều

Phương thức xuất khẩu theo hợp đồng: Theo phương thức này phòng thương mại của Công ty trực tiếp đứng ra

ký kết các hợp đồng mua bán Căn cứ vào các hợp đồng ký kết về số lượng, quy cách, chủng loại, đơn giá, phương tiệnvận chuyển, phương tiện thanh toán, thời gian giao hàng, điều kiện giao hàng Công ty sẽ tiến hành giao hàng Công tythường áp dụng ba điều kiện cơ sở giao hàng theo từng hợp đồng cụ thể: Điều kiện FOB, CIF và CNF Trong đó điều kiệnCIF được sử dụng nhiều hơn cả Sau khi giao hàng, Công ty lập bộ chứng từ thanh toán và xác định phương thức thanhtoán theo hợp đồng đã được ký kết

Phương thức gửi bán qua Chi nhánh: Xuất phát từ đặc điểm của hệ thống tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty

và đặc trưng của công tác khoan, thăm dò dầu mỏ ở Việt Nam cũng như địa lý lãnh thổ mà quy định việc sản xuất củaCông ty DMC chủ yếu ở miền Bắc nhưng phần lớn lại tiêu thụ ở miền Nam Các sản phẩm chuyên dụng của Công typhục vụ cho công tác khoan thăm dò dầu khí ở thềm lục địa phía Nam nên Công ty vận chuyển sản phẩm vào Vũng Tàu

để tiêu thụ, coi đây là khoản hàng gửi bán và Chi nhánh Vũng Tàu thu hộ doanh thu cho Công ty Theo phương thức này:

- Tại Công ty, khi xuất hàng điều chuyển vào Chi nhánh tiêu thụ hộ, Công ty coi đây là một khoản hàng gửi bán và

kế toán hạch toán như trường hợp tiêu thụ nội bộ

- Tại Chi nhánh Vũng Tàu, khi nhận được số hàng do Công ty chuyển vào, Chi nhánh coi đây là số hàng nhận đại lý,

ký gửi, và hạch toán tương tự như bên nhận đại lý, ký gửi Tuy nhiên Chi nhánh không ghi nhận khoản hoa hồng đại lý

Trang 18

Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH KTQD

được hưởng mà chỉ xem như là bộ phận, đơn vị trực thuộc thực hiện một chức năng nhiệm vụ trong quy trình sản tiêu thụ sản phẩm của Công ty

xuất- Phương thức thanh toán

Ngoài việc lựa chọn các phương thức tiêu thụ phù hợp, Công ty cũng đã cho phép khách hàng có thể thanh toán theonhiều phương thức khác nhau sao cho việc thanh toán đơn giản, thuận tiện thúc đẩy quá trình tiêu thụ Tuỳ từng phươngthức tiêu thụ mà quy định từng phương thức thanh toán khác nhau

Đối với phương thức tiêu thụ trực tiếp: Công ty áp dụng các phương thức thanh toán khác nhau:

- Thanh toán trực tiếp: Khách hàng nhận hàng và thanh toán trực tiếp bằng tiền măt, tiền gửi ngân hàng, ngân phiếu

- Khách hàng ứng tiền trả trước: Theo đơn đặt hàng khách hàng có thể ứng trước một số tiền để đặt trước cho nhữngmặt hàng Công ty chưa kịp sản xuất

- Khách hàng mua chịu hoặc trả chậm: Thường xảy ra với những khách hàng có quan hệ mua bán lâu dài với Công ty.Tuỳ thuộc vào từng khách hàng (Thường xuyên hay khách lẻ) mà Công ty áp dụng các hình thức thanh toán khác nhau Để khuyến khích khách hàng thanh toán ngay hoặc thanh toán sớm Công ty có chính sách thưởng theo tỷ lệ % trên tổng giá trị thanh toán

Đối với phương thức xuất khẩu theo hợp đồng: Công ty áp dụng hai hình thức thanh toán cho hoạt động xuất khẩu:

- Thanh toán by T/T ( Phương thức chuyển tiền - thanh toán trực tiếp): Đây là phương thức được áp dụng cho nhiềuhoạt động xuất khẩu Theo phương thức này, người mua thường thanh toán sau 60 ngày, vì vậy có thể coi đây là phươngthức thanh toán trả chậm Do đó Công ty chỉ áp dụng đối với một số khách hàng truyền thống thực sự tin tưởng lẫn nhau

- Thanh toán nhờ thu qua ngân hàng: Công ty sử dụng hai hình thức là: Nhờ thu trả tiền đổi chứng từ (D/P) và nhờthu chấp nhận đổi chứng từ (D/A) Thông thường Công ty sử dụng hình thức D/P vì đây được xem là hình thức thanh toánnhanh

Trang 19

Đối với phương thức gửi bán qua Chi nhánh:

Đối với hàng chuyển vào Chi nhánh tiêu thụ, Chi nhánh Vũng Tàu được tự chủ lựa chọn và áp dụng phương thứcthanh toán với khách hàng cho phù hợp trên cơ sở các phương thức thanh toán chung Mặt khác giữa Công ty và Chinhánh có quan hệ nội bộ –trực thuộc với nhau nên quan hệ thanh toán giữa Công ty và Chi nhánh là quan hệ thanh toánnội bộ (thu hộ, chi hộ) Chi nhánh Vũng Tàu thu hộ doanh thu cho Công ty

Trang 20

Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH KTQD

2 Hạch toán kế toán tiêu thụ sản phẩm tại Công ty DMC

2.1 Tổ chức chứng từ ban đầu.

Chứng từ có hai đặc điểm quan trọng là tính pháp lý và tính thông tin Nó vừa là căn cứ pháp lý chứng minh chocác sự kiện vừa là căn cứ thông tin để kế toán phản ánh vào sổ sách Do vậy việc lập và luân chuyển chứng từ là việc làmđầu tiên không thể thiếu của bất cứ phần hành kế toán nào

Đối với phần hành kế toán tiêu thụ sản phẩm việc tổ chức chứng từ ban đầu là việc lập hoá đơn bán hàng Do đặcđiểm tổ chức kinh doanh của Công ty nên đối với từng phương thức tiêu thụ, căn cứ lập và sử dụng hoá đơn GTGT làkhác nhau:

 Đối với sản phẩm tiêu thụ trực tiếp: Căn cứ vào hợp đồng kinh tế, Đơn đặt hàng, yêu cầu của khách hàng đối vớiCông ty DMC về việc mua bán các sản phẩm của Công ty, vào thời hạn giao hàng đã thoả thuận và căn cứ vào danh mụccác sản phẩm được tiêu thụ, phòng kế toán lập Hoá đơn GTGT Hoá đơn được lập thành ba liên, đặt giấy than viết một lần(Mẫu số 1)

Liên 1: Lưu tại phòng kế toán

Liên 2: Giao cho khách hàng

Liên 3: Dùng để thanh toán

Các hoá đơn được lập có mức thuế suất tuỳ thuộc vào từng loại sản phẩm

 Đối với sản phẩm hàng hoá xuất khẩu: Các chứng từ bán hàng sử dụng cho hoạt động xuất khẩu bao gồmđơn đặt hàng, invoice, tờ quan hải quan, chứng chỉ giám định khối lượng, chứng chỉ giám định kỹ thuật Ngoài ra, sau khigiao hàng, phòng thương mại tiến hành lập bộ chứng từ thanh toán Bộ chứng từ này bao gồm: Hối phiếu thương mại, hoáđơn thương mại ( invoice ), bảng kê chi tiết danh mục hàng xuất khẩu, vận đơn đường biển Căn cứ vào các chứng từ bánhàng xuất khẩu và bộ chứng từ thanh toán, kế toán xác định số lượng hàng bán, tiền hàng, tiền thuế GTGT, hình thức

Trang 21

thanh toán và tiến hành lập hóa đơn GTGT cho số hàng xuất khẩu Công ty cũng sử dụng Hoá đơn GTGT theo mẫu trênnhưng với thuế suất thuế GTGT là 0 % Hoá đơn này được lập làm 2 liên, liên1: lưu, liên 2 dùng để thanh toán.

 Đối với hàng chuyển vào Chi nhánh tiêu thụ, khi chuyển hàng vào Chi nhánh Công ty coi đây là một khoảngửi bán Khi tiêu thụ được hàng Chi nhánh Vũng Tàu ra thông báo đến Công ty về số hàng đã tiêu thụ hộ Căn cứ vàoBảng kê hàng hoá bán ra do Chi nhánh gửi về, kế toán Công ty lập hoá đơn GTGT một lần cho toàn bộ số hàng đem gửibán đã tiêu thụ Hoá đơn này được lập làm 3 liên, liên 1:lưu, liên 2: giao cho khách hàng, liên 3: dùng để thanh toán.Mẫu hoá đơn GTGT theo quy định của Bộ Tài chính:

Mẫu số 1:

HOÁ ĐƠN (GTGT) Mẫu số 01.GTGT-3LL

Ngày 18 tháng 12 năm 2003Đơn vị bán hàng: Công ty Dung dịch khoan và Hoá phẩm dầu khí

Địa chỉ: 97 Láng Hạ - Dống Da - Hà Nội Số Tài khoản

Điện thoại Mã số 010015087.3-1

Họ tên người mua hàng: MI- VN

Địa chỉ: 99 A21 Lê Lợi - Vũng Tàu

Hình thức thanh toán : Chuyển khoản Mã số:3500132.2-1

Stt Tên hàng hoá, dịch

vụ

Đơn vịtính

Số lượng Đơn giá

Trang 22

Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH KTQD

Tỷ giá 15325 đ/USD Quy đổi tiền Việt Nam: 1.757.394.375

Số viết bằng chữ: Một trăm mười bốn nghìn sáu trăm bảy mươi lăm USD

Người mua hàng Kế toán trưởng Thủ trưởng đơn vị

(Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

Hoá đơn GTGT:

- Là căn cứ để thủ kho ghi thẻ kho - chỉ tiêu số lượng thành phẩm xuất

- Là chứng từ nguồn để kế toán thành phẩm vào Sổ chi tiết thành phẩm cột số lượng

- Dòng cộng của tiền hàng, tiền thuế GTGT là cơ sở để kế toán tiêu thụ lên sổ kế toán doanh thu, công nợ phải thu,thuế GTGT và các sổ kế toán khác có liên quan

2.2 Thủ tục và trình tự luân chuyển chứng từ:

Trên cơ sở các chứng từ bán hàng Công ty đang sử dụng, phương thức tiêu thụ cũng như đặc điểm tổ chức sản xuấtkinh doanh, đặc điểm hạch toán kế toán tại Công ty mà Công ty áp dụng quy trình luân chuyển chứng từ khác nhau Cụthể là:

Phương thức tiêu thụ trực tiếp.

Khi khách hàng có nhu cầu mua hàng, đến phòng thương mại để làm thủ tục ban đầu cho việc mua bán Phòngthương mại sẽ căn cứ vào yêu cầu của khách hàng, tình hình thành phẩm tồn kho tại thời điểm mua hàng của mỗi loạithành phẩm về số lượng, quy cách, phẩm chất và xác định mức dư nợ tối đa của khách hàng (nếu là khách hàng thường

Trang 23

xuyên) để ra thông báo làm hàng Sau khi khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán, kế toán tiêu thụ viết Hoáđơn GTGT Tiếp đó, sau khi thoả thuận phương thức thanh toán, kế toán trưởng ký hoá đơn GTGT cho số hàng tiêu thụ.+ Nếu khách hàng đồng ý thanh toán ngay bằng tiền mặt, thủ quỹ đóng dấu "đã thu tiền" và ký tên trên cả hai liên.+ Nếu thanh toán chậm, kế toán yêu cầu khách hàng ký vào Biên bản nhận nợ tại phòng kế toán và đóng dấu" chấpnhận sau" lên Hoá đơn GTGT và ghi thêm "Giấy xin khất nợ" đồng thời phải có chữ ký của hai bên để kế toán trưởngquản lý khách hàng xin nợ.

+ Nếu thanh toán bằng séc kế toán đóng đóng dấu "đã trả bằng séc" trên cả hai liên Hoá đơn GTGT

Khách khàng cầm Hoá đơn GTGT mang xuống cơ sở sản xuất để làm thủ tục nhận hàng Tại cơ sở sản xuất, căn cứvào Hoá đơn GTGT, kế toán thành phẩm lập Phiếu xuất kho Sau đó hoá đơn GTGT và Phiếu xuất kho được chuyểnxuống cho thủ kho làm thủ tục xuất kho thành phẩm Thủ kho căn cứ vào chứng từ xuất để xuất kho thành phẩm, vậnchuyển giao cho khách hàng và giữ lại liên 3 màu xanh để làm căn cứ vào thẻ kho số lượng hàng xuất Cuối ngày thủ khochuyển Hoá đơn GTGT và Phiếu xuất kho lên cho kế toán vào sổ

Từ các hoá đơn do thủ kho chuyển lên, kế toán phân loại chứng từ và lưu trữ và ghi chép vào sổ sách liên quan Nếu

đã thu tiền thì kẹp cùng phiếu thu, nếu thanh toán bằng sec kẹp vào Sổ phụ ngân hàng, nếu thanh toán sau thì kẹp vàoBiên bản nhận nợ và lưu tại tập hồ sơ riêng đến đúng thời hạn sẽ tiến hành đòi nợ

Phương thức xuất khẩu theo hợp đồng.

Theo phương thức này, phòng thương mại của Công ty sẽ trực tiếp đứng ra ký kết các hợp đồng mua bán

Người mua hàng của Công ty gửi một bản Fax yêu cầu chào giá hàng hoá với các nội dung: Tên sản phẩm, mẫu mã,chất lượng, tại cảng nào, nước nào

Sau khi nhận được bản Fax Công ty tiến hành chào giá bằng cách lập Bảng chào giá (Price Quatation) và gửi tớingười mua Trong đó quy định rõ tên sản phẩm, ký hiệu hàng hoá, chất lượng, bao bì, điều kiện giao hàng Dựa vào order

Trang 24

Luận văn tốt nghiệp Trường ĐH KTQD

purchase do khách hàng gửi tới, phòng thương mại sẽ xác định xem xét yêu cầu của khách hàng và tiến hành đàm phán kýkết hợp đồng kinh tế và thực hiện việc giao hàng theo đúng thoả thuận trong hợp đồng Sau khi giao hàng, phòng thươngmại lập bộ chứng từ thanh toán bao gồm: Hối phiếu thương mại, hoá đơn thương mại, bảng kê chi tiết danh mục hàngxuất khẩu vận đơn đường biển Căn cứ vào bộ chứng từ thanh toán, kế toán lập Hoá đơn GTGT cho số hàng xuất khẩu.Hoá đơn được lập làm hai liên, liên1: lưu, liên2: dùng để làm căn cứ ghi sổ kế toán tiêu thụ cho số hàng xuất khẩu

Phương thức gửi bán qua Chi nhánh.

Theo kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của Công ty, Công ty ra lệnh điều động nội bộ thông báo cho các cơ sởsản xuất làm hàng và vận chuyển sản phẩm vào Vũng Tàu để tiêu thụ Nhận được lệnh làm hàng của văn phòng Công ty,

cơ sở sản xuất tiến hành sản xuất và xuất kho sản phẩm

Căn cứ vào lệnh điều động nội bộ, kế toán thành phẩm tại chi nhánh tiến hành lập Phiếu xuất kho kiêm vận chuyểnnội bộ Phiếu xuất này là căn cứ cho thủ kho tiến hành xuất kho sản phẩm và là căn cứ cho kế toán thành phẩm vào sổsách liên quan

Khi tiêu thụ được hàng, Chi nhánh Vũng Tàu ra thông báo đến Công ty về số hàng đã tiêu thụ hộ Căn cứ vào Bảng

kê hàng hoá bán ra do Chi nhánh chuyển về, Công ty lập hoá đơn GTGT một lần cho toàn bộ số hàng đem gửi bán đã tiêuthụ Hoá đơn này được lập làm hai liên: Liên 1:dùng để lưu, liên 2: chuyển cho kế toán để vào sổ

2.3 Hạch toán kế toán giá vốn hàng bán.

Xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty và đặc điểm của hệ thống quản lý-kế toán, công táchạch toán kế toán tại Công ty và các chi nhánh, đơn vị trực thuộc là hạch toán nội bộ, dưới hình thức ‘‘thu hộ, chi hộ” choCông ty

Thông thường việc tiêu thụ sản phẩm được tiến hành tại cơ quan Công ty nhưng do tại đây không có sản phẩm màchỉ có tại các cơ sở sản xuất nên đối với sản phẩm được tiêu thụ thì giá vốn là trị giá phải thu đơn vị thành viên của Công

ty

Ngày đăng: 07/11/2013, 10:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG KÊ CHI TIẾT NỢ TK 336 Quý IV/2003 - THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY DUNG DỊCH KHOAN VÀ HOÁ PHẨM DẦU KHÍ
336 Quý IV/2003 (Trang 29)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w