Công tác hạch toán tiêu thụ sản phẩm ở Công ty DMC được áp dụng theo đúng hướng dẫn của chế độ kế toán Việt Nam và được vận dụng một cách linh hoạt trong Công ty.. Mối quan hệ đối chiế
Trang 1MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HẠCH TOÁN TIÊU THỤTẠI CÔNG
TY DUNG DỊCH KHOANVÀ HOÁ PHẨM DẦU KHÍ.
I ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TẠI
CÔNG TY DMC
1.Đánh giá chung về công tác kế toán.
Phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý và đặc điểm của tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức tương đối hoàn chỉnh, gọn nhẹ, đội ngũ nhân viên có trình độ cao và được đào tạo cơ bản đáp ứng nhu cầu của sản xuất kinh doanh
Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức theo hình thức tập trung – phân tán Hình thức này phù hợp với đặc điểm bộ máy quản lý của doanh nghiệp, một mặt giúp kế toán Công ty giảm bớt khối lượng công tác kế toán, mặt khác tăng cường trách nhiệm ở các đơn vị cơ sở Nhìn vào mô hình tổ chức bộ máy kế toán ta thấy
có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng Sự phân công phân nhiệm này làm cho công tác hạch toán được thực hiện kịp thời theo nguyên tắc cập nhật và tăng cường trách nhiệm của mỗi kế toán viên
Công tác kế toán Công ty đã đáp ứng được nhu cầu đặt ra là: Đảm bảo tính thống nhất về mặt phạm vi, phương pháp tính toán các chỉ tiêu kinh tế giữa kế toán
và các bộ phận khác có liên quan
Công ty luôn tuân thủ các chính sách, chế độ kế toán, tài chính của Nhà nước.Theo đó:
Hệ thống tài khoản kế toán Công ty đang áp dụng phù hợp với đặc thù sản xuất kinh doanh của đơn vị và tuân thủ hệ thống tài khoản áp dụng chung của Bộ Tài chính
Các chứng từ kế toán sử dụng được lập theo đúng mẫu qui định của Bộ Tài chính và phù hợp với loại hình sản xuất kinh doanh của đơn vị Việc tập hợp luân chuyển chứng từ cũng như bảo quản, lưu trữ được tổ chức một cách khoa học, hợp
lý và theo đúng qui định
Hệ thống sổ kế toán của Công ty được áp dụng tương đối phù hợp với chế
độ kế toán Việt Nam Sổ sách kế toán được tổ chức một cách hợp lý, dễ kiểm tra,
Trang 2so sánh Các sổ chi tiết được phân thành các đối tượng theo dõi thích hợp, giúp cho quá trình ghi sổ được thuận tiện, đúng nguyên tắc, tránh bỏ sót các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh
Về hệ thống báo cáo tài chính: Công ty luôn lập đủ và đúng thời hạn các báo cáo tài chính theo qui định bắt buộc của Bộ Tài chính Các số liệu kế toán được phản ánh trên các báo cáo tài chính đảm bảo cung cấp thông tin kế toán một cách kịp thời, chính xác cho Tổng Công ty và các cơ quan Nhà nước kiểm tra, kiểm soát Các báo cáo kế toán được lập theo đúng chế độ kế toán Việt Nam quy định Ngoài ra theo yêu cầu quản lý và quản trị nội bộ, bên cạnh kế toán tài chính, Công ty DMC cũng quan tâm đến kế toán quản trị doanh nghiệp và phân tích hoạt động kinh doanh Hàng năm Công ty phân tích tình hình kinh doanh và hiệu quả hoạt động của kỳ trước trên cơ sở đó lập kế hoạch về tình hình hoạt động kinh doanh trong năm tới Đến cuối năm, phòng kế toán lập báo cáo tình hình thực hiện
kế hoạch, tiến hành phân tích, so sánh các chỉ tiêu để thấy rõ sự biến động giữa kế hoạch và thực hiện nhằm tìm ra những nguyên nhân, hạn chế từ đó có biện pháp khắc phục, hoàn thiện trong năm tới
2 Đánh giá về hạch toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ tại Công ty DMC.
2.1 Về ưu điểm.
Công tác hạch toán tiêu thụ sản phẩm ở Công ty DMC được áp dụng theo đúng hướng dẫn của chế độ kế toán Việt Nam và được vận dụng một cách linh hoạt trong Công ty Xuất phát từ nhu cầu thị trường, Công ty đã tiến hành sản xuất
ra nhiều loại sản phẩm khác nhau nên đòi hỏi công tác quản lý trong tiêu thụ sản phẩm và hạch toán kế toán phải khoa học Trên thực tế, Công ty DMC đã tổ chức hạch toán tiêu thụ một cách linh hoạt vừa đơn giản vừa hợp lý, đáp ứng được nhu cầu quản lý
Theo đó:
Đảm bảo tính thống nhất về phạm vi và phương pháp tính toán các chỉ tiêu kinh tế, các số liệu kế toán phản ánh trung thực, kịp thời đã cung cấp được những thông tin cần thiết phục vụ cho quản lý sản xuất và tiêu thụ của đơn vị
Trang 3 Công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm ở Công ty DMC tiến hành trên cơ sở tình hình thực tế của Công ty, vận dụng một cách linh hoạt theo đúng hướng dẫn của chế độ kế toánViệt Nam
Mối quan hệ đối chiếu so sánh, trao đổi giữa kế toán tiêu thụ với các phần hành có liên quan như: kế toán thành phẩm, thủ kho, kế toán quỹ được cập nhật thường xuyên để đảm bảo tính chính xác của số liệu về số lượng thành phẩm tiêu thụ, doanh thu tiêu thụ, thuế phải nộp Nếu tồn tại sai sót thì kịp thời phát hiện và
có biện pháp xử lý
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty diễn ra thường xuyên với phương châm: Đa dạng hoá sản phẩm, đa phương hoá tiêu thụ, thực hiện các chính sách, chế độ thu hút khách hàng Bên cạnh đó, công tác bán hàng, tiếp cận khách hàng
và phát triển khách hàng cũng được Công ty quan tâm và chú trọng Các thủ tục bán hàng cũng như thanh toán tài chính được thực hiện nhanh chóng, đảm bảo đúng nguyên tắc Khâu xuất hàng và vận chuyển hàng thuận tiện cho khách hàng, góp phần nâng cao uy tín của Công ty trên thị trường Hiện nay, Công ty đang tiếp tục thực hiện các chính sách khuyến khích tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoá, thực hiện phương pháp tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ
2.2 Những tồn tại:
Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì trong công tác kế toán nói chung và
kế toán tiêu thụ sản phẩm nói riêng tại Công ty DMC vẫn còn những hạn chế nhất định Cụ thể:
2.2.1 Về phương thức thanh toán:
Khách hàng của Công ty chủ yếu là các khách hàng truyền thống, thường mua với khối lượng lớn nên Công ty mở rộng thời hạn thanh toán Các khách hàng trong nước thường thanh toán tiền hàng cho Công ty sau 20 đến 25 ngày, còn đối với các khách hàng nước ngoài thời hạn thanh toán kéo dài từ 60 đến 90 ngày Mặc dù thời hạn thanh toán của khách hàng tương đối chậm nhưng Công ty chưa
có chính sách khuyến khích thanh toán dẫn đến việc thanh toán bị trì trệ
Mặt khác với chính sách cho phép khách hàng có thể thanh toán chậm như hiện nay, thì Công ty đã tạo điều kiện cho khách hàng dây dưa nợ, dẫn đến xuất hiện các khoản phải thu khó đòi Khoản phải thu này liên quan đến hoạt động về vốn nên sẽ ảnh hưởng đến tình hình tài chính của Công ty Mặt khác, với thời gian
Trang 4thanh toán kéo dài, Công ty bị chiếm dụng vốn lớn một cách hợp pháp, do vậy ảnh hưởng đến thời gian quay vòng vốn
2.2.2 Về lập dự phòng phải thu khó đòi.
Trên thực tế, Công ty DMC có mở sổ sách chi tiết theo dõi các công nợ phải thu của khách hàng theo từng khách nợ Nhưng với thời hạn thanh toán kéo dài như hiện nay thì trường hợp xuất hiện các khoản phải thu khó đòi rất có khả năng xẩy ra Trong khi đó, Công ty chưa chú ý tới trích lập dự phòng cho những khoản
nợ quá hạn này và cũng chưa có biện pháp nào tỏ ra hữu hiệu trong việc thu hồi công nợ
Cụ thể Công ty có trường hợp khách hàng là Công ty TERRACO đã nợ Công ty một khoản tiền trị giá 220.164.000 từ tháng 10 năm 2001 Đến năm 2003 Công ty TERRACO chỉ trả cho Công ty 150.000.000 còn lại 70.164.000 đ cho đến nay Công ty này vẫn chưa thanh toán
Đối với những khoản phải thu khó đòi này, Công ty coi đây là khoản tiền mà khách hàng vay mượn tạm thời và Công ty không tính lãi, kế toán không theo dõi trên tài khoản 131- phải thu khách hàng nữa mà chuyển sang TK 138 phải thu khác
để theo dõi
Điều này dễ gây cho Công ty một số rủi ro trong việc thu tiền hàng, ảnh hưởng đến khả năng quay vòng vốn của Công ty Đồng thời việc không trích lập các khoản dự phòng này Công ty đã không đảm bảo việc tuân thủ nguyên tắc thận trọng của kế toán và các quy định về lập dự phòng của Bộ Tài Chính Ngoài ra, việc chưa chú ý đến các khoản phải thu khó đòi tại Công ty DMC như hiện nay đôi khi gây những khó khăn trong việc bù đắp chi phí để mở rộng sản xuất kinh doanh cũng như phản ánh không đúng giá trị thuần các khoản phải thu của Công ty
2.2.3 Về tài khoản sử dụng:
Sản phẩm của Công ty chủ yếu phục vụ cho công tác khoan thăm dò dầu khí
ở thị trường phía Nam nên Công ty vận chuyển sản phẩm vào Vũng Tàu tiêu thụ, hàng được coi là hàng gửi bán và Chi nhánh Vũng Tàu thu hộ doanh thu cho Công
ty Khi Chi nhánh thông báo về số hàng gửi bán đã được tiêu thụ, kế toán tại Công
ty lập hoá đơn GTGT cho số hàng đó và phản ánh doanh thu của số hàng gửi bán vào TK 512- doanh thu nội bộ Cách hạch toán doanh thu vào TK 512 là sai nguyên tắc, nó làm thay đổi nội dung, bản chất của nghiệp vụ bán hàng Vì đây là trường hợp hàng gửi chi nhánh tiêu thụ và Chi nhánh có chức năng như một đơn vị
Trang 5nhận đại lý, ký gửi tiêu thụ số sản phẩm Công ty điều chuyển vào, chứ không phải
là trường hợp tiêu thụ nội bộ
2.2.4 Về sổ kế toán doanh thu.
Các sản phẩm được bán theo chính sách giá bán của Công ty Giá bán được quy định bằng USD nên cột thành tiền trong hoá đơn GTGT cũng được tính theo USD Sau đó, căn cứ vào tỷ giá ngoại tệ bình quân liên ngân hàng do ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ bán hàng để quy đổi ra đồng Việt Nam Trong Sổ chi tiết doanh thu và Bảng kê chi tiết doanh thu, giá trị doanh thu được ghi nhận bằng đồng Việt Nam Tuy nhiên các sổ này không mở cột tỷ giá thực tế tại thời điểm phát sinh hay cột số tiền bằng ngoại tệ Do đó không thuận tiện cho việc kiểm tra theo dõi Muốn kiểm tra tính chính xác của của giá trị phát sinh phải đi ngược từ chứng từ gốc để kiểm tra tỷ giá tại thời điểm phát sinh hoặc
số tiền doanh thu bằng ngoại tệ
Vì vậy các chỉ tiêu kết cấu của Sổ chi tiết doanh thu và Bảng kê chi tiết doanh thu hiện nay tại Công ty là chưa đầy đủ, gây khó khăn cho việc đối chiếu, kiểm tra giữa các phần hành kế toán: kế toán công nợ, kế toán doanh thu tiêu thụ và kế toán thuế với các phát sinh bằng ngoại tệ
2.2.4 Về hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu
Về khoản giảm giá:
Theo chế độ kế toán việt nam ban hành theo QĐ 1141/BTC ngày 1/11/1995, khoản giảm giá được phản ánh vào tài khoản 532- giảm giá hàng bán đến cuối kỳ, kết chuyển sang TK 511- doanh thu bán hàng để giảm trừ doanh thu Tuy nhiên tại Công ty DMC các nghiệp vụ kinh tế về giảm giá hàng bán là rất ít, kế toán không phản ánh vào TK 532 mà coi đây là một khoản chi phí bán hàng và hạch toán vào
Nợ TK 641- Chi phí bán hàng
Về hạch toán hàng bị trả lại:
Theo chế độ kế toán Việt Nam, hàng bán bị trả lại được hạch toán vào TK 531- hàng bán bị trả lại Tuy nhiên Công ty coi giá trị hàng bán bị trả lại là khoản chi phí bất thường và hạch toán vào TK 811- Chi phí khác
Về chiết khấu thương mại:
Theo Thông tư 89/2002/ TT- BTC ban hành ngày 9/10/2002 quy định việc hạch toán chiết khấu thương mại vào TK 521 nhưng tại Công ty do đặc điểm của sản phẩm, hàng hoá và trong thực tế Công ty thường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
Trang 6với khối lượng lớn theo giá niêm yết và chủ yếu giao dịch với đối tác nước ngoài nên khoản chiết khấu thương mại là rất nhỏ Trên thực tế, Công ty có chính sách thưởng cho khách hàng mua với số lượng lớn sản phẩm với mức chiết khấu là 1% trên tổng giá trị của hoá đơn Công ty không phản ánh khoản chiết khấu này vào
TK 521 mà phản ánh vào TK 641
Như vậy việc hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu như trên là không phù hợp với chế độ kế toán Việt Nam Mặc dù nó không làm thay đổi kết quả lợi nhuận cuối cùng của của Công ty nhưng lại làm sai lệch thông tin tài chính về doanh thu thuần và chi phí thực tế phát sinh trong kỳ Điều này gây khó khăn cho
cơ quan tài chính như cơ quan thuế và kiểm toán kiểm tra tính chính xác, hợp lý, hợp pháp về các khoản chi phí, doanh thu thực tế phát sinh trong kỳ Mặt khác việc hạch toán doanh thu và chi phí không chính xác cũng gây ảnh hưởng đến các chỉ tiêu tài chính, làm sai lệch thông tin tài chính dẫn đến sự sai lệch kết quả của việc phân tích tỷ suất tài chính gây khó khăn cho việc quản trị nội bộ
2.2.5 Về việc phản ánh chi phí bán hàng.
Thực tế tại Công ty DMC kế toán theo dõi những chi phí trực tiếp liên quan đến việc lưu thông và tiếp thị sản phẩm hàng hoá và phản ánh các khoản chi phí này vào TK 641 Điểm khác biệt trong việc hạch toán chi phí bán hàng phát sinh này là Công ty đã chia TK 641 thành các tiểu khoản theo từng loại sản phẩm Đồng thời mở sổ chi tiết theo dõi cho từng sản phẩm theo nội dung chi phí phát sinh Trong chi phí bán hàng của Công ty không phản ánh về lương nhân viên bán hàng
mà theo dõi khoản chi phí này vào chi phí quản lý doanh nghiệp Theo quy định số 1141/QĐ/CĐKT của BTC ban hành ngày 1/11/1995, TK cấp 2 của TK 641 được chia theo các mục chi phí như: chi phí nhân viên, chi phí vật liệu, bao bì, chi phí công cụ dụng cụ xuất dùng cho hoạt động bán hàng, chi phí khấu hao
Như vậy việc chi tiết TK 641 và việc mở sổ chi tiết theo dõi cho từng sản phẩm như hiện nay tại Công ty là không phù hợp với chế độ kế toán ban hành mà
nó chỉ phục vụ cho việc quản trị nội bộ trong Công ty mà thôi
Ngoài ra việc chia chi phí bán hàng thành các mục chi phí còn gây khó khăn cho cơ quan tài chính như cơ quan thuế, cơ quan kiểm toán kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chi phí phát sinh trong kỳ
Trang 72.2.7 Trong công tác hạch toán kế toán
Ngoài ra trong công tác hạch toán kế toán tại Công ty vẫn có một só tồn tại Công ty DMC là một doanh nghiệp hoạt động với quy mô lớn, nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều nhưng hiện nay Công ty vẫn thực hiện kế toán thủ công là chính với sự trợ giúp của phần mền văn phòng Microsoft Exel để vào sổ chi tiết, Bảng kê chi tiết và lập các báo cáo tài chính, báo cáo quản trị nên tốn nhiều công sức, thời gian đồng thời chưa cung cấp được thông tin kịp thời cho quản trị nội bộ
Bên cạnh đó, công tác kế toán tại Công ty vẫn chưa quan tâm theo dõi áp dụng chế độ kế toán mới DMC là một doanh nghiệp có quy mô lớn hoạt động kinh doanh trên nhiều nghành nghề từ sản xuất, xuất nhập khẩu đến liên doanh, liên kết Thị trường của Công ty ngày càng mở rộng Do đó các giao dịch với các đối tác chủ yếu là bằng ngoại tệ Mặc dù VAS 10 về ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ giá hối đoái đã được Bộ Tài chính ban hành trong số 6 chuẩn mực kế toán mới theo QĐ số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 nhưng cho đến nay Công ty vẫn chưa áp dụng chuẩn mực VAS 10 về việc xác định chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh
II PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
1 Phương hướng hoàn thiện
Tổ chức công tác hạch toán kế toán tại Công ty nói chung và việc hạch toán
kế toán tiêu thụ sản phẩm nói riêng có nhiều ưu điểm Nhưng để công tác hạch toán kế toán ngày càng hoàn thiện hơn phù hợp với điều kiện thực tế tại Công ty đảm bảo đúng chế độ kế toán tại Việt Nam thì công tác kế toán cần được hoàn thiện hơn nữa Mục tiêu hoàn thiện hạch toán tiêu thụ sản phẩm là biện pháp phải mang tính khả thi, có hiệu quả cao với chi phí thấp Vì vậy quan điểm của việc hoàn thiện là phải dựa trên nguồn nhân lực hiện có, bộ máy quản lý hiện có, phù hợp với quy mô sản xuất kinh doanh của Công ty Xuất phát từ mục tiêu và quan điểm trên định hướng chung để hoàn thiện hạch toán kế toán tiêu thụ sản phẩm tại Công ty DMC như sau:
Hạch toán kế toán tiêu thụ sản phẩm phải tuân thủ tính kỷ cương thống nhất trong chế độ kế toán hiện hành của Việt Nam về doanh thu, chi phí kết quả và phù hợp với các chính sách, chế độ quản lý kinh tế tài chính
Hoàn thiện công tác kế toán phải tôn trọng nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung, chuẩn mực kế toán quốc tế được chấp nhận tại Việt Nam
Trang 8 Hạch toán kế toán tiêu thụ sản phẩm phải tôn trong tính đặc thù của sản phẩm, thị trường, yêu cầu quản lý và đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Hoàn thiện hạch toán kế toán tiêu thụ sản phẩm phải được đặt trong mối quan hệ giữa chi phí và lợi ích đạt được vì mục đích của hoàn thiện là nâng cao hiệu quả của công tác tiêu thụ sản phẩm đồng thời nâng cao lợi nhuận của Công ty
2 Các giải pháp hoàn thiện.
Thông qua việc phân tích ưu, nhược điểm của tổ chức công tác kế toán nói chung và việc hạch toán kế toán tiêu thụ sản phẩm nói riêng, cũng như trên cơ sở những định hướng đã nêu, để công tác hạch toán kế toán tại Công ty DMC có hiệu quả phù hợp với chế độ kế toán Việt Nam, em xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp sau:
2.1 Áp dụng chính sách chiết khấu cho khách hàng và phương pháp kế toán tương ứng.
Để khuyến khích khách hàng thanh toán nhanh, dứt điểm các khoản nợ kéo dài thì Công ty nên áp dụng hình thức chiết khấu thanh toán cho khách hàng Đây
là hình thức khuyến khích khá phổ biến của các Công ty đối với khách hàng giúp doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh Với thời gian thanh toán từ sau 60 đến 90 ngày như hiện nay, số vốn của Công ty bị chiếm dụng quá lâu Mặc dù đây là hình thức
để khuyến khích và giữ mối quan hệ khách hàng nhưng Công ty có thể thay hạn thanh toán dài ngày bằng việc áp dụng chính sách chiết khấu thanh toán Thay vì việc kéo dài thời gian thanh toán để chiếm dụng vốn, khách hàng sẽ thanh toán cho Công ty nhanh nếu Công ty có chính sách chiết khấu hợp lý, đảm bảo lợi ích cho
cả phía Công ty và phía khách hàng Công ty có thể xác định mức chiết khấu căn
cứ vào lãi suất tiền gửi và tiền vay ngân hàng Chi phí cho việc chiết khấu được phản ánh vào chi phí hoạt động tài chính
Khi chấp nhận chiết khấu thanh toán cho khách hàng kế toán hạch toán như sau: Nợ TK 635: Chi phí hoạt động tài chính
Có TK 131: trừ vào khoản nợ của khách hàng
Có TK 111, 112, trả cho khách hàng bằng tiền
2.2 Lập dự phòng phải thu khó đòi.
Trang 9Để đảm bảo nguyên tắc thận trọng của kế toán và đảm bảo tuân thủ các quy định về lập dự phòng của Bộ Tài chính, đảm bảo sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí trong kỳ thì Công ty nên lập dự phòng cho các khoản phải thu khó đòi
Nguyên tắc lập dự phòng là:
Theo quy định của Bộ Tài chính để dự phòng những tổn thất về khoản phải thu khó đòi có thể xảy ra, cuối mỗi niên độ kế toán phải dự tính số nợ có khả năng khó đòi để lập dự phòng Các khoản nợ phải thu khó đòi phải có tên, địa chỉ, nội dung khoản nợ, số tiền phải thu của từng khách nợ trong đó ghi rõ số nợ phải thu khó đòi kèm theo chứng cứ chứng minh cho các khoản nợ khó đòi trên (như cam kết nợ, hợp đồng kinh tế, xác nhận nợ, đối chiếu công nợ, khế ước vay ) Thời gian quá hạn của khách hàng từ 2 năm trở lên thì mới lập dự phòng Mức dự phòng cho các khoản nợ phải thu khó đòi tối đa là 20% tổng số dư nợ phải thu của doanh nghiệp tại thời điểm lập Báo cáo tài chính và phải đảm bảo cho Công ty không bị lỗ
Căn cứ vào tình hình công nợ của Công ty, kế toán ước tính ra tỷ lệ nợ phải thu khó đòi và tính ra số dự phòng cần trích lập cho niên độ kế toán mới
Theo đó:
Giả sử số nợ phải thu khó đòi của Công ty TERRACO là như trên, Công ty xem xét khả năng thanh toán của khách hàng đó là 20% thì số trích lập dự phòng cho khoản thu khó đòi này là:
70.164.000 x 80% =56.131.200
Kế toán tính tổng cáckhoản dự phòng phải thu khó đòi của tất cả các khách hàng nghi ngờ về khả năng thanh toán để trích lập dự phòng một lần vào cuối niên
độ kế toán
Phương pháp hạch toán dự phòng phải thu khó đòi là:
Cuối năm N, khi đã xác định được mức dự phòng phải thu khó đòi, Công ty trích lập: Nợ TK 642
Có TK139
Trong năm N+1:
Số dự phòng
Số nợ phải thu khách
hàng i
Tỷ lệ nợ phải thu khó đòi ước tính của KH i x
Trang 10+ Nếu khoản phải thu đã trích dự phòng mà thu được toàn bộ Kế toán hoàn nhập số dự phòng đã trích:
Nợ TK 139
Có TK642 + Nếu khoản phải thu có đủ bằng chứng chứng minh là không đòi được kế toán ghi :
BT 1: Xoá khoản nợ phải thu:
Nợ TK 139: Ghi theo mức dự phòng đã trích
Nợ TK 642: Phần chưa dự phòng
Có TK131, 138: Nợ phải thu không đòi được
BT 2: Ghi đơn : Nợ TK 004: Nợ khó đòi đã xử lý
+ Nếu khoản phải thu khó đòi đã xử lý nhưng vì một lý do nào đó đã thu được kế toán ghi:
BT 1: Có TK 004: Khoản thu được tính vào thu nhập
BT 2: Nợ TK 111, 112
Có TK 711
Cuối năm N+1: Doanh nghiệp theo dõi mớc dự phòng mới và so sánh với mức dự phòng năm N còn lại theo từng khách nợ để xác định mức trích thêm hoặc hoàn nhập bớt
+ Nếu trích thêm: Nợ TK 642
Có TK139 + Nếu hoàn nhập bớt: Ghi ngược lại
Nếu Công ty trích lập dự phòng cho các khoản phải thu khó đòi thì khi các khoản phải thu đó thực sự xảy ra, Công ty vẫn có khoản vốn để bù đắp cho chi phí trong kỳ vì thực chất đây là một nguồn tài chính của Công ty đồng thời đảm bảo được sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí trong kỳ
2.3 Hạch toán doanh thu hàng gửi bán.
Để việc hạch toán doanh thu bán hàng được chính xác, phản ánh đúng nội dung và bản chất của nghiệp vụ hàng gửi Chi nhánh tiêu thụ hộ, kế toán cần hạch toán doanh thu của số hàng gửi bán vào tài khoản 511 Cách hạch toán này phản ánh đúng nội dung và bản chất của nghiệp vụ hàng gửi bán