Những ưu điểm: Công tác hạch toán kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ tại công ty thiết bị phụ tùng cơ điện nông nghiệp có những ưu điểm sau: Bộ máy kế toán nói chung, bộ phận
Trang 1HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TẠI CÔNG TY THIẾT BỊ PHỤ TÙNG CƠ ĐIỆN NÔNG
NGHIỆP
I. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT
QUẢ TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TẠI CÔNG TY
1 Những ưu điểm:
Công tác hạch toán kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ tại công ty thiết bị phụ tùng cơ điện nông nghiệp có những ưu điểm sau:
Bộ máy kế toán nói chung, bộ phận kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ nói riêng là những nhân viên kế toán năng động, nhiệt tình trong công việc, với trình độ kế toán khá đồng đều và nghiệp vụ chuyên môn vững vàng
Bộ phận kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ nhìn chung đạt hiệu quả trong công việc, ghi chép đầy đủ và phản ánh kịp thời, chính xác các nghiệp vụ phát sinh đúng với tình hình thực tế Các thông tin về hàng tồn kho, doanh thu, các khoản làm giảm doanh thu, xác định kết quả tiêu thụ và quá trình thanh toán tiền hàng của khách được quản lý, theo dõi và phản ánh một cách trung thực, hợp lý và kịp thời
Chứng từ kế toán (hóa đơn GTGT, phiếu nhập kho ) phục vụ cho công tác hạch toán ban đầu của quá trình tiêu thụ được lập, luân chuyển, bảo quản đảm bảo đúng chế
độ kế toán hiện hành qui định như đầy đủ chữ ký của những người có liên quan, được đóng thành tập thuận tiện cho việc kiểm tra
Hệ thống tài khoản kế toán nhìn chung khá đầy đủ và có hệ thống phục vụ cho công tác tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ được chính xác và chặt chẽ
Phương pháp hạch toán hàng tồn kho là phương pháp kê khai thường xuyên đảm bảo cho việc phản ảnh, ghi chép trong kế toán được thường xuyên, liên tục, giúp cho việc quản lý hàng hoá được chặt chẽ, góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình tiêu thụ Cũng với mục đích trên, nên tại công ty luôn có sự phối hợp, kiểm tra chặt chẽ giữa bộ phận kho, phòng kinh doanh xuất nhập khẩu và phòng kế toán
Trang 2Công ty áp dụng phương pháp bình quân gia quyền để xác định giá vốn của hàng hoá là phù hợp với đặc điểm hàng hoá của công ty là đa dạng về chủng loại và số lượng (với hàng nghìn loại máy móc, thiết bị, phụ tùng phục vụ cho ngành nông nghiệp và thuỷ lợi)
Bên cạnh đó, nhận thức rõ được ưu điểm của công nghệ thông tin, công ty đã áp dụng phần mềm tin học vào công tác kế toán Việc áp dụng này không những góp phần làm cho công tác hạch toán kế toán của các nghiệp vụ phát sinh nói chung, của các nghiệp vụ liên quan đến tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ nói riêng đạt được hiệu qủa khá cao, cung cấp thông tin được nhanh chóng và chính xác, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
Bộ sổ kế toán dùng để hạch toán tiêu thụ hàng hoá của công ty nhìn chung đã đáp ứng được nhu cầu phản ánh kịp thời các nghiệp vụ phát sinh về bán hàng, cũng như theo dõi tình hình tiêu thụ, phản ánh chính xác các khoản doanh thu bán hàng, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại và thực trạng thanh toán với khách hàng
Bên cạnh những ưu điểm ở trên, công tác hạch toán kế toán tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả tiêu thụ của công ty vẫn còn tồn tại những hạn chế sau
2 Những hạn chế còn tồn tại
- Thứ nhất:
Công ty không sử dụng phiếu xuất kho trong quá trình bán hàng cho khách hàng Thủ kho sử dụng hoá đơn GTGT (Liên3 Dùng để thanh toán) làm căn cứ xuất kho và ghi thẻ kho Cách làm này là đơn giản tuy nhiên không đảm bảo tính chặt chẽ trong kế toán
- Thứ hai:
Công ty không sử dụng một số tài khoản cần thiết cần phải có đối với một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực thương mại, như tài khoản 113 – Tiền đang chuyển Mặc dù nghiệp vụ phát sinh liên quan đến tài khoản này là không đáng kể, nhưng trong trường hợp bất thường xẩy ra sẽ gây lúng túng cho công tác hạch toán của kế toán
- Thứ ba:
Công ty chưa hạch toán riêng chi phí mua hàng để phân bổ và kết chuyển
Trang 3Theo như chế độ kế toán hiện hành qui định toàn bộ chi phí thu mua hàng hoá như chi phí vận chuyển, bốc dỡ được tập hợp trên tài khoản 1562 – Chi phí mua hàng hoá Cuối
kỳ phân bổ cho hàng bán trong kỳ báo cáo theo mức chi thực tế hoặc phân bổ cho giá vốn hàng bán theo tỷ lệ hàng bán ra và hàng tồn cuối kỳ Nhưng tại công ty thì chi phí thu mua của hàng hoá được hạch toán vào tài khoản 641 – Chi phí bán hàng, riêng tiền cước vận chuyển của hàng nhập khẩu được hạch toán vào tài khoản 1561 – Giá mua hàng hoá Tuy rằng cách hạch toán như vậy tạo điều kiện cho công tác hạch toán của kế toán được đơn giản Nhưng ngược lại điều đó gây khó khăn cho việc theo dõi chính xác khoản chi phí này, không thể phân bổ cho lượng hàng tiêu thụ trong kỳ cũng như lượng hàng tồn kho cuối kỳ Bên cạnh đó cuối kỳ chi phí bán hàng được kết chuyển trừ vào kết quả kinh doanh, do đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình hoạt động kinh doanh thực tế của công ty Quan trọng hơn công ty gặp khó khăn lớn trong việc đưa ra các biện pháp phù hợp
để làm giảm chi phí phát sinh, trong đó chi phí lưu thông chiếm một phần không nhỏ
- Thứ tư: Điều kiện thanh toán của công ty còn khắt khe Hiện nay tuy công ty có hình thức thanh toán chậm nhưng hình thức thanh toán ngay chiếm một tỉ lệ tương đối lớn (doanh thu thanh toán ngay chiếm 90% trong tổng doanh thu)
Bên cạnh đó công ty chưa áp dụng một số biện pháp thúc đẩy tiêu thụ như tiến hành chiết khấu cho khách hàng Chính vì vậy đây cũng là vấn đề gây khó khăn trong vấn đề tiêu thụ hàng hoá mà công ty phải quan tâm
- Thứ năm:
Nghiệp vụ xác định kết quả kinh doanh chưa chi tiết cho từng mặt hàng (nhóm mặt hàng) Tại công ty kế toán thực hiện xác định kết quả cho tất cả các loại mặt hàng Nguyên nhân là do hàng hoá kinh doanh của công ty có quá nhiều chủng loại hàng hoá Những thông tin về kết quả kinh doanh chi tiết của từng nhóm hay phân nhóm mặt hàng sẽ phục
vụ cho việc ra các quyết định của nhà quản lý được thuận lợi, tạo điều kiện xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp
- Thứ sáu : Tại công ty, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinh chiếm một tỷ lệ khá lớn Ngoài ra, vào cuối mỗi niên độ kế toán toàn bộ hai loại chi phí phát sinh này được kết chuyển sang tài khoản 911 nhằm xác định kết quả kinh doanh trong
Trang 4kỳ Với mục đích xác định kết quả kinh doanh được chính xác hơn, đảm bảo nguyên tác phù hợp giữa chi phí và doanh thu, việc phân bổ hai loại chi phí này cho hàng hoá xuất bán trong kỳ và hàng tồn kho cuối kỳ là vấn đề mà công ty nên quan tâm
- Thứ bẩy : Là một đơn vị hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thương mại nhưng công
ty lại không lập dự phòng giảm giá cho hàng tồn kho Điều này gây nên những rủi ro cho công ty khi xẩy ra thiệt hại trong việc bảo quản hàng hoá, quan trọng hơn là có sự biến động đột ngột của giá cả loại hàng hoá mà công ty xuất bán trên thị trường Với đặc điểm hàng hoá của công ty là các loại máy móc, thiết bị, phụ tùng phục vụ cho ngành nông nghiệp và thuỷ lợi nên trong điều kiện hiện nay với sự xuất hiện ngày càng nhiều các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này Như vậy việc công ty phải cạnh tranh về giá cả, giảm giá hàng bán là điều đương nhiên Do đó dự phòng giảm giá cho hàng hóa là vấn đề cần thiết mà công ty nên quan tâm
- Thứ tám:
Công ty hạch toán doanh thu bán sản phẩm săm lốp do xí nghiệp cao su và cơ điện (Xuân Mai – Hà Tây) sản xuất vào tài khoản 511 – Doanh thu bán hàng là không hợp lý
Do xí nghiệp này là đơn vị hạch toán phụ thuộc nên theo như qui định của chế độ kế toán hiện hành thì phải hạch toán vào tài khoản 512 - Doanh thu nội bộ
II MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HOÁ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ HÀNG HOÁ TẠI CÔNG TY
Qua thời gian khảo sát thực tế tại công ty thiết bị phụ tùng cơ điện nông nghiệp, bên cạnh những ưu điểm và khuyết điểm còn tồn tại đã được nêu ở trên, nhìn chung công tác hạch toán kế toán là tương đối hoàn thiện Tuy nhiên việc không ngừng hoàn thiện công tác hạch toán kế toán nói chung, kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ nói riêng không những là mục tiêu của công ty mà còn là yêu cầu của thị trường trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay
1 Bổ sung thêm chứng từ hàng tồn kho “Phiếu xuất kho”:
Theo quan điểm kế toán, phương pháp chứng từ là một trong bốn phương pháp của hạch toán kế toán, cũng là phương pháp thông tin và kiểm tra sự hình thành các nghiệp vụ
Trang 5kinh tế Theo qui định của chế độ kế toán hiện hành thì trong mọi trường hợp xuất sản phẩm, hàng hoá, vật liệu đều phải có “Phiếu xuất kho” Sau khi được thủ kho dùng làm căn
cứ để ghi thẻ kho thì được chuyển cho kế toán Tuy nhiên công ty không sử dụng “Phiếu xuất kho” là chứng từ thuộc hệ thống chứng từ kế toán thống nhất bắt buộc Do đó với mục đích nâng cao tính chặt chẽ trong việc quản lý hàng tồn kho, đảm bảo cho việc cung cấp thông tin được chính xác, theo ý kiến của em thì công ty nên bổ sung thêm loại chứng từ này
2 Hoàn thiện hạch toán chi phí thu mua hàng hoá
Chi phí thu mua hàng hoá bao gồm chi phí vận chuyển, bốc dỡ Với đặc điểm hoạt động kinh doanh là mua bán hàng hoá, do đó chi phí mua hàng chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu trị giá hàng nhập kho Do đó để hoàn thiện hạch toán chi phí thu mua hàng hoá công ty nên:
- Tổ chức hạch toán chi phí mua hàng hoá trên tài khoản 1562 Tài khoản này có kết cấu như sau:
Bên Nợ: Phản ánh chi phí mua hàng hoá thực tế phát sinh liên quan đến số hàng hoá nhập
kho
Bên Có: Phản ánh chi phí mua hàng hoá đã phân bổ cho hàng hoá xuất bán trong kỳ
Dư Nợ: Chi phí thu mua hàng hoá của số hàng còn cuối kỳ
Phương pháp hạch toán:
- Trong kỳ chi phí thu mua hàng hoá phát sinh thực tế, kế toán phản ánh:
Nợ TK 1562 - Chi phí thu mua (Không thuế GTGT)
Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 111, 112, 331 - Tổng số tiền phải trả
- Cuối kỳ chi phí thu mua được phân bổ cho hàng hoá xuất bán theo công thức sau:
Chi phí mua
hàng phân bổ
cho hàng xuất
bán trong kỳ
=
Chi phí mua hàng đầu kỳ + Chi phí mua hàng trong kỳ
x hàng xuất bán Giá mua của
trong kỳ Giá mua của
hàng tồn đầu kỳ + Giá mua của hàng xuất bán trong kỳ
Trang 6Chi phí thu mua phân bổ cho hàng tồn kho cuối kỳ theo công thức sau:
Chi phí thu mua
phân bổ cho hàng
tồn kho cuối kỳ =
Chi phí mua hàng đầu kỳ +
Chi phí mua hàng trong kỳ
-Chi phí mua hàng phân bổ cho hàng xuất bán trong kỳ
Kế toán phản ánh phân bổ chi phí mua hàng cho xuất bán ra:
Nợ TK 632 - Ghi tăng giá vốn hàng xuất bán
Có TK 1562 - Chi phí thu mua của hàng hoá xuất bán
3 Hoàn thiện hạch toán chiết khấu cho khách hàng
Theo thông tư số 89/2002/TT-BTC hướng dẫn thực hiện bốn chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ - BTC, ngày 31-12-2001 của Bộ trưởng BộTài Chính, chiết khấu trong bán hàng gồm 2 loại như sau:
Chiết khấu thương mại: Công ty đã giảm trừ, hoặc đã thanh toán cho khách hàng do người mua đã mua hàng hoá với khối lượng lớn (Chiết khấu thương mại được thoả thuận trong hợp đồng kinh tế mua bán hàng hoá hoặc các cam kết mua bán hàng) Đây là một trong những nội dung kế toán Bộ Tài Chính mới bổ sung Do đó khi hạch toán tài khoản chiết khấu thương mại công ty cần tuân theo một số điều đã được qui định trong thông tư số 89
Chiết khấu thanh toán: Trường hợp khách hàng thanh toán tiền hàng trước thời hạn đã thoả thuận trên hợp đồng kinh tế hay các cam kết mua bán hàng
Tại công ty thiết bị phụ tùng cơ điện nông nghiệp hiện nay chưa áp dụng chiết khấu cho khách hàng, vì thế chưa thúc đẩy việc thu hồi vốn nhanh và khuyến khích hoạt động tiêu thụ Do đó việc áp dụng hình thức chiết khấu là cần thiết
Chiết khấu thương mại:
Tài khoản sử dụng: Công ty phải bổ sung thêm tài khoản sau
Tài khoản 521 - Chiết khấu thương mại
Chi tiết tài khoản 5211 - Chiết khấu hàng hoá
Trang 7Phương pháp hạch toán:
- Trong kỳ khi phát sinh chiết khấu thương mại cho khách hàng, kế toán phản ánh:
Nợ TK 521 (5211) -Tổng số tiền chiết khấu thương mại (chưa thuế GTGT.)
Nợ TK 3331 - Thuế GTGT
Có TK 111, 112 Tổng số tiền trả ngay cho khách hàng (có thuế GTGT)
Có TK 131 - Trừ vào số tiền phải thu của khách hàng.(có thuế GTGT)
- Cuối kỳ kết chuyển số tiền đã chấp thuận chiết khấu thương mại cho khách hàng sang tài khoản doanh thu:
Nợ TK 511 - Doanh thu bán hàng
Có TK 521 - Chiết khấu thương mại
Chiết khấu thanh toán:
- Trong kỳ khi phát sinh chiết khấu thanh toán cho khách hàng, kế toán phản ánh:
Nợ TK 635: Tổng số chiết khấu thanh toán cho khách hàng
Có TK 111, 112: Trả ngay cho khách hàng
Có TK 131: Trừ vào số tiền phải thu của khách hàng
- Cuối kỳ kết chuyển sang tài khoản xác định kết quả kinh doanh:
Nợ TK 911: Xác định kết quả kinh doanh
Có TK 635 – Chi phí hoạt động tài chính
Công ty theo dõi chiết khấu thanh toán chi tiết cho từng khách hàng và từng loại hàng bán Tuỳ thuộc vào thời gian thanh toán, hình thức thanh toán hay tổng số tiền thanh toán hoặc loại hàng xuất bán mà công ty đưa ra tỷ lệ chiết khấu cho phù hợp
4. Xác định kết quả kinh doanh chi tiết theo từng nhóm hàng hoá
Do công ty có quá nhiều loại hàng hoá (hơn 3000 loại thiết bị, phụ tùng) nên việc xác định kết quả kinh doanh chi tiết theo từng loại mặt hàng là điều khó thực hiện.Tuy nhiên để cung cấp thêm thông tin cho quản lý, giúp ban giám đốc nắm được tình hình kinh doanh của công ty được chi tiết, cụ thể hơn, theo em công ty nên xác định kết quả kinh doanh theo từng nhóm hàng hoá
5. Hoàn thiện công tác hạch toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Trang 8Dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập cho loại hàng hoá thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, có chứng từ kế toán hợp pháp, hợp lý chứng minh giá vốn của hàng tồn kho Theo như thông tư số 89/2002/TT-BTC hướng dẫn thực hiện bốn chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ - BTC, ngày 31-12-2001 của Bộ trưởng BộTài Chính, thì công ty lập dự phòng: vào cuối kỳ kế toán năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc
Phương pháp xác định các chỉ tiêu ghi sổ kế toán liên quan đến lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho:
Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng Số dự phòng cần phải lập dựa trên số lượng của mỗi loại hàng tồn kho theo kiểm kê thực tế và mức giảm giá của từng loại hàng tồn kho vào thời điểm cuối niên độ kế toán
Mức dự phòng cần lập
cho hàng tồn kho i =
Số lượng hàng tồn kho i tại thời điểm lập báo cáo tài chính
Mức chênh lệch giảm giá của hàng tồn kho i Trong đó:
Mức chênh lệch giảm giá
của hàng tồn kho i =
Giá gốc của hàng tồn
-Giá trị thuần có thể thực hiện được hàng tồn kho i Nguyên tắc là công ty không được lấy phần tăng giá cả của mặt hàng này để bù cho phần giảm giá của mặt hàng kia
Phương pháp hạch toán kế toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho:
Tài khoản sử dụng TK 159 – Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Kết cấu của tài khoản này như sau:
Bên Nợ: Hoàn nhập dự phòng giảm gía hàng tồn kho
Bên Có: Trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Dư Có: Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho hiện có.
Cuối niên độ kế toán (31/12), kế toán phản ánh số dự phòng đã xác định cho các loại hàng hoá cần lập dự phòng:
Trang 9Bút toán 1:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán (Chi tiết dự phòng giảm giá hàng tồn kho)
Có TK 159 - Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Trong niên độ kế toán tiếp theo, nếu hàng tồn kho đã lập dự phòng, đã được bán không bị giảm giá, thì ngoài bút toán phản ánh giá trị hàng tồn kho đã bán, kế toán phải phản ánh thêm bút toán hoàn nhập số dự phòng giảm gía đã lập của loại hàng này:
Bút toán 2:
Nợ TK 159 - Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Có TK 632 - Giá vốn hàng bán (Chi tiết dự phòng giảm giá hàng tồn kho)
- Cuối niên độ kế toán tiếp theo:
* Nếu mức dự phòng cần lập bằng mức dự phòng đã lập của cuối niên độ kế toán trước, thì kế toán không cần lập dự phòng
* Nếu mức dự phòng cần lập lớn hơn mức dự phòng đã lập ở cuối kỳ kế toán trước thì kế toán lập thêm số chênh lệch lớn hơn vào giá vốn hàng bán (Như bút toán 1)
* Nếu mức dự phòng cần lập nhỏ hơn mức dự phòng đã lập ở cuối kỳ kế toán trước thì kế toán hoàn nhập số chênh lệch lớn hơn vào giá vốn hàng bán chi tiết cho loại hàng hoá đó (Như bút toán 2)
6. Việc tập hợp chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp:
Tại công ty chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp được theo dõi và phản ánh trên sổ chi tiết tài khoản 641, 642 và bảng tổng hợp số phát sinh hai loại tài khoản này
Do đó theo em công ty nên sử dụng Bảng kê số 5 theo mẫu qui định do Bộ Tài Chính ban hành Bảng kê này dùng để tập hợp số phát sinh Nợ của TK 641, 642 và phát sinh Có của
các tài khoản có liên quan (Biểu II.1)
7 Hoàn thiện công tác phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Hiện nay tại công ty, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp chiếm một tỷ
lệ khá lớn Do đó để đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và doanh thu trong kế toán, công ty nên tiến hành phân bổ hai loại chi phí này cho hàng xuất bán trong kỳ và hàng còn lại cuối kỳ Việc phân bổ nên được theo công thức sau:
Trang 10Chi phí bán
hàng (Chi phí
QLDN) phân
bổ cho hàng
tồn cuối kỳ
=
Chi phí bán hàng (Chi phí QLDN ) đầu
Chi phí bán hàng (Chi phí QLDNN) phát sinh trong kỳ
x
Trị giá của hàng tồn cuối kỳ
Trị giá mua của hàng xuất trong kỳ
+
Trị giá của hàng tồn cuối kỳ
Chi phí bán
hàng (Chi phí
QLDN) phân
bổ cho hàng
xuất trong kỳ
=
Chi phí bán hàng (Chi phí QLDN )
Chi phí bán hàng (Chi phí QLDNN) phát sinh trong kỳ
-Chi phí bán hàng (Chi phí QLDN) phân bổ cho hàng tồn cuối kỳ
Có thể lấy một ví dụ để minh hoạ:
Quý 1 năm 2003, kế toán tính ra chi phí:
+ Tổng chi phí bán hàng: 577.469.995 (đồng)
+ Tổng chi phí quản lý doanh nghiệp: 355.011.904 (đồng)
+ Trị giá mua của hàng xuất bán trong quý 1: 12.206.934.556 (đồng)
+ Trị giá của hàng tồn cuối quý 1 : 4.650.255.555 (đồng)
Thực hiện phẩn bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho hàng xuất bán trong kỳ như sau:
Chi phí bán hàng
phân bổ cho hàng
tồn cuối kỳ =
x
12.206.934.556 4.650.255.555 + 12.206.934.556
Chi phí quản lý
doanh nghiệp
phân bổ cho hàng
tồn cuối kỳ
4.650.255.555 + 12.206.934.556
Chi phí
bán hàng
phân bổ
cho hàng
xuất trong
-418.168.07 8
= 159.301.917 (đồng)