1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phát triển du lịch biển đảo gắn với sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường huyện cô tô, tỉnh quảng ninh

145 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 5,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu - Tổng quan cơ sở lý luận về tài nguyên, môi trường, du lịch và phát triển du lịch bền vững; - Phân tích làm rõ đặc điểm nội lực và ngoại lực, đánh giá giá trị của hệ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Bùi Thị Hương Thu

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN ĐẢO GẮN VỚI

SỬ DỤNG HỢP LÍ TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

HUYỆN CÔ TÔ, TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Ngành Quản lí tài nguyên và môi trường

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS TRƯƠNG QUANG HẢI

Hà Nội – 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy trong Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển Cảm ơn các thầy cô đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện và hoàn thành luận văn

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc của mình, em xin gửi lời cảm ơn chân

thành nhất tới thầy giáo – GS.TS Trương Quang Hải, người đã tận tình chỉ bảo,

hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu cũng như trong quá trình thực hiện, hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Em cũng xin chân thành cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ từ UBND huyện Cô

Tô, Chi cục thống kê huyện Cô Tô, Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Cô Tô, Phòng Thông tin và Văn hóa Cô Tô, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được thu thập dữ liệu, khảo sát thực địa, điều tra xã hội học tại khu vực nghiên cứu

Em xin gửi lời cảm ơn tới những người bạn, đồng nghiệp đã tạo điều kiện và giúp đỡ em khi thực hiện nghiên cứu luận văn

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, người thân đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Hà Nội, tháng 11 năm 2018

Học viên

Bùi Thị Hương Thu

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH iii

DANH MỤC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Ở Việt Nam 10

1.1.3 Về khu vực nghiên cứu 12

1.2 Cơ sở lí luận về du lịch, tài nguyên và môi trường du lịch 14

1.2.1 Một số lí luận về du lịch 14

1.2.2 Một số lí luận về tài nguyên du lịch 19

1.2.3 Một số lí luận về môi trường du lịch 21

1.3 Phát triển du lịch gắn với sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường22 1.3.1 Tác động của hoạt động du lịch tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường 22

1.3.2 Phát triển du lịch bền vững trong mối quan hệ với tài nguyên và môi trường 23

1.3.3 Sức chứa du lịch 24

1.4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 25

1.4.1 Quan điểm nghiên cứu 25

1.4.2 Phương pháp nghiên cứu 27

1.4.3 Quy trình nghiên cứu 32

CHƯƠNG 2 TÀI NGUYÊN DU LỊCH Ở HUYỆN ĐẢO CÔ TÔ 34

2.1 Vị trí địa lí và vị thế 34

2.2 Tài nguyên du lịch 36

2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 36

2.2.2 Tài nguyên du lịch văn hóa 47

2.2.3 Đánh giá của du khách về tài nguyên du lịch Cô Tô 56

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG MỐI LIÊN QUAN VỚI TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HUYỆN CÔ TÔ 59

3.1 Hiện trạng phát triển du lịch 59

3.1.1 Tổ chức các điểm, tuyến du lịch 59

3.1.2 Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ du lịch 62

3.1.3 Quản lý và dịch vụ du lịch 70

Trang 4

3.1.4 Khách du lịch và doanh thu du lịch 71

3.2 Ảnh hưởng của phát triển du lịch đến tài nguyên và môi trường du lịch 75

3.2.1 Ảnh hưởng của phát triển du lịch đến tài nguyên địa hình và sử dụng đất 75

3.2.2 Ảnh hưởng của phát triển du lịch đến tài nguyên và môi trường nước 77

3.2.3 Ảnh hưởng của phát triển du lịch đến môi trường không khí 83

3.2.4 Ảnh hưởng của phát triển du lịch đến tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học84 3.2.5 Rác thải từ hoạt động du lịch 89

3.3 Sức chứa du lịch 95

CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH CÁC NGUỒN LỰC VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI SỬ DỤNG HỢP LÍ TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HUYỆN ĐẢO CÔ TÔ 100

4.1 Phân tích nguồn lực phát triển du lịch 100

4.1.1 Thế mạnh và hạn chế 100

4.1.2 Cơ hội và thách thức 103

4.2 Giải pháp phát triển du lịch gắn với sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường 107

4.2.1 Tổ chức không gian du lịch gắn với hoạt động bảo vệ môi trường 107

4.2.2 Giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch 108

4.2.3 Giải pháp sử dụng hợp lí tài nguyên 114

4.2.4 Giải pháp giảm thiểu suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường 114

4.2.5 Giải pháp giảm thiểu rác thải và xử lí rác thải rắn 117

4.2.6 Phát triển du lịch gắn với bảo tồn đa dạng sinh học 117

4.2.7 Giải pháp khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch, nâng cao ý thức trách nhiệm với tài nguyên và môi trường 118

4.2.8 Quan trắc môi trường và cảnh báo sớm tai biến thiên nhiên 119

4.2.9 Giải pháp xây dựng và quản lí cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường du lịch 120 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 121

TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

PHỤ LỤC 130

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình i Sơ đồ vị trí huyện Cô Tô 2

Hình 1.1 Hệ thống lãnh thổ du lịch 16

Hình 1.2 Sơ đồ hệ thống lãnh thổ du lịch 17

Hình 1.3 Sơ đồ hệ thống du lịch 18

Hình 1.4 Sơ đồ các bước nghiên cứu luận văn 32

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí và ranh giới huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh 34

Hình 2.2 Bãi đá Cầu Mỵ - Bãi biển Hồng Vàn 37

Hình 2.3 Bản đồ Tài nguyên du lịch huyện đảo Cô Tô - Quảng Ninh 38a Hình 2.4 Biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa trung bình của Cô Tô giai đoạn 2005-2010 39

Hình 2.5 Rừng Chõi xã Đồng Tiến 42

Hình 2.6 San hô Cô Tô (ảnh chụp năm 2015) 46

Hình 2.7 Di tích Đồn Cao – Ký Con 49

Hình 2.8 Tuần Văn hóa, Thể thao và Du lịch huyện Cô Tô tháng 5/2018 50

Hình 2.9 Khu hậu cần nghề cá và xưởng sứa Cô Tô 51

Hình 2.10 Chùa Trúc Lâm và Nhà thờ huyện Cô Tô 52

Hình 2.11 Bào ngư và hải sâm Cô Tô 53

Hình 2.12 Mực ống, sá sùng, tu hàu, cầu gai Cô Tô 54

Hình 2.13 Một số món ăn chế biến từ hải sản Cô Tô 55

Hình 2.14 Biểu đồ Một số lí do khách du lịch lựa chọn đi du lịch Cô Tô 56

Hình 2.15 Biểu đồ Hoạt động khách du lịch yêu thích tại Cô Tô 57

Hình 3.1 Khu di tích lịch sử Hồ Chủ tịch trên đảo Cô Tô 59

Hình 3.2 Bản đồ hiện trạng phát triển du lịch huyện đảo Cô Tô - Quảng Ninh 61a Hình 3.3 Biểu đồ số lượng cơ sở lưu trú qua các năm giai đoạn 2010-2017 63

Hình 3.4 Hồ Trường Xuân 64

Hình 3.5 Tàu cao tốc vận chuyển khách giữa Cô Tô và đất liền 67

Hình 3.6 Phương tiện vận chuyển chủ yếu trên đảo 67

Hình 3.7 Một số nhà hàng, quán ăn trên đảo Cô Tô Lớn 68

Hình 3.8 Cơ sở mua sắm (chợ hải sản), cơ sở vui chơi giải trí trên đảo 69

Hình 3.9 Biểu đồ tăng trưởng khách du lịch huyện Cô Tô giai đoạn 2010-2017 73

Hình 3.10 Biểu đồ tăng trưởng khách du lịch các tháng trong năm 2017 73

Trang 6

Hình 3.11 Biểu đồ tăng trưởng khách du lịch và doanh thu du lịch giai đoạn

2010-2017 74

Hình 3.12 Biểu đồ cơ cấu hộ gia đình có tỉ lệ thu nhập từ du lịch theo các mức trong tổng thu nhập cả hộ 75

Hình 3.13 Rác tại khu vực Bãi đá Móng Rồng 76

Hình 3.14 Biểu đồ đánh giá tác động phát triển du lịch tới nguồn nước tại Cô Tô của cộng đồng dân cư 78

Hình 3.15 Nước thải chưa qua xử lí chảy trực tiếp ra biển 79

Hình 3.16 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng TSS trong nước biển ven bờ tại một số bến cảng tỉnh Quảng Ninh 80

Hình 3.17 Biểu đồ diễn biến hàm lượng NH4+ trong nước biển ven bờ tại điểm

quan trắc Vụng cát 2,3 thị trấn Cô Tô 80

Hình 3.18 Biểu đồ hàm lượng TSS trong nước mặt phục vụ cấp nước sinh hoạt huyện Cô Tô 82

Hình 3.19 Biểu đồ hàm lượng NH4+ trong nước mặt phục vụ cấp nước sinh hoạt huyện Cô Tô 82

Hình 3.20 Thi công xây dựng nhà nghỉ, hoạt động hàng quán gây ô nhiễm tiếng ồn 83 Hình 3.21 Sơ đồ hiện trạng môi trường du lịch huyện đảo Cô Tô - Quảng Ninh 83a Hình 3.22 Rạn san hô ở vùng biển Cô Tô đang suy thoái nghiêm trọng 87

Hình 3.23 Sơ đồ thu gom chất thải rắn tại huyện Cô Tô [59] 92

Hình 3.24 Bãi rác Voòng Xi và Khu xử lí rác Trường Xuân 93

Hình 3.25 Rác thải tại bãi biển Tình Yêu, bãi biển Hồng Vàn 94

Hình 3.26 Biểu đồ tỉ lệ ý kiến người dân trong đánh giá các tác động của phát triển du lịch tới môi trường 95

Hình 4.1 Bản đồ định hướng không gian phát triển du lịch gắn với

bảo vệ tài nguyên và môi trường huyện Cô Tô - Quảng Ninh 107a Hình ii.1 Một số loài thực vật tự nhiên ở Cô Tô 136

Hình ii.2 Trận mưa lớn và lũ lịch sử tháng 7-8/2015 tại Cô Tô 136

Hình ii.3 Núi Lưỡi Cày và bãi biển Hồng Vàn - Cô Tô 136

Hình ii.4 Điều tra xã hội học và thực địa Cô Tô 137

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Nhiệt độ và lượng mưa trung bình Cô Tô từ năm 1980 ÷ 2010 39

Bảng 2.2 Số giờ nắng trung bình các tháng tại một số trạm trên địa bàn tỉnh

Quảng Ninh được quan trắc trong nhiều năm 40

Bảng 2.3 Mức độ thích nghi của nhiệt độ nước biển với du lịch biển 40

Bảng 2.4 Lí do khách du lịch đến Cô Tô 56

Bảng 3.1 Số lượng cơ sở lưu trú du lịch giai đoạn 2010 – 2017 62

Bảng 3.2 Số lượng phương tiện giao thông tham gia hoạt động du lịch năm 2017 65

Bảng 3.3 Mức độ hài lòng của khách du lịch đối với điều kiê ̣n giao thông ở Cô Tô 66 Bảng 3.4 Mức độ hài lòng của du khách với dịch vụ ăn uống trên đảo Cô Tô 68

Bảng 3.5 Tăng trưởng khách du lịch giai đoạn 2010-2017 72

Bảng 3.6 Số ngày lưu trú trung bình và tổng số ngày khách 74

Bảng 3.7 Doanh thu dịch vụ du lịch huyện Cô Tô giai đoạn 2012-2017 74

Bảng 3.8 Kết quả quan trắc nước mặt phục vụ cấp nước sinh hoạt 81

Bảng 3.9 Danh sách các loài sinh vật biển quý hiếm vùng biển Cô Tô, Đảo Trần 86

Bảng 3.10 Tiêu chuẩn phát thải và tỉ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 89

Bảng 3.11 Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh và thu gom huyện Cô Tô năm 2017 90

Bảng 3.12 Lượng rác thải rắn phát sinh từ hoạt động du lịch năm 2017 91

Bảng 3.13 Khả năng chịu tải vật lí và sức chứa các bãi tắm tại Cô Tô 98

Bảng 4.1 SWOT phát triển du lịch Cô Tô 106

Bảng 4.2 Không gian phát triển du lịch gắn với hoạt động bảo vệ môi trường 107

Bảng i.1 Nhiệt độ trung bình tỉnh Quảng Ninh từ năm 1980 ÷ 2010 130

Bảng i.2 Diễn biến độ ẩm không khí trung bình các tháng tại một số trạm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh được quan trắc trong nhiều năm 130

Bảng i.3 Tổng dân số, dân số phân theo giới tính, thành thị và nông thôn, giai đoạn 2010-2017 131

Bảng i.4 Giá trị sản xuất phân theo ngành kinh tế của huyện Cô Tô, giai đoạn

2013 -2017 131

Bảng i.5 Hiện trạng sử dụng đất năm 2017 132

Trang 8

Bảng i.6 Số liệu QTMT nước biển khu vực cảng Cô Tô giai đoạn 2009 – 2015 133 Bảng i.7 Kết quả quan trắc chất lượng nước biển ven bờ 2016-2017 134 Bảng i.8 Kết quả quan trắc nước ngầm lỗ khoan CT7 Cô Tô 135

Trang 9

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết

Phát triển tổng hợp kinh tế biển đã và đang trở thành thế mạnh của nhiều quốc gia trong kỉ nguyên “hướng sự phát triển ra biển” Trong đó, ngành du lịch biển - đảo cũng đang dần phát huy được tiềm năng và vai trò của mình trong hệ thống kinh tế, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia có biển

Ở Việt Nam, với khoảng 3600km đường bờ biển và hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ [51] và hàng loạt những thắng cảnh nổi tiếng thế giới như Hạ Long, Nha Trang, Lý Sơn, Phan Thiết, Phú Quốc, …ngành du lịch biển đảo đang từng bước phát huy thế mạnh của mình Chính du lịch đã làm thay đổi nền kinh tế - xã hội của các tỉnh ven biển, nâng cao đời sống người dân địa phương Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng việc phát triển du lịch biển - đảo còn nhiều bất cập như: Dịch vụ du lịch còn thiếu, nghèo nàn; sản phẩm du lịch biển chưa đa dạng; thiếu quy hoạch cụ thể và đặc biệt

là hiện tượng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên

Cô Tô là huyện đảo địa đầu Đông Bắc Tổ quốc, thuộc tỉnh Quảng Ninh, nơi có

vị trí chiến lược trong hệ thống an ninh - quốc phòng biển đảo Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ ngành du lịch đã giúp Cô Tô trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút hàng trăm nghìn lượt khách mỗi dịp hè đến Du lịch phát triển tạo động lực cho nhiều ngành kinh tế khác phát triển, giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội Sự phát triển nóng này mang lại nhiều cơ hội cho người dân địa phương nhưng cũng đem đến sức ép ngày càng lớn đến hệ thống tài nguyên

và môi trường nơi đây Để du lịch ở Cô Tô phát triển bền vững, tương xứng với tiềm năng và tạo được thương hiệu riêng cần phải có những giải pháp thiết thực trong công tác quản lí tài nguyên và môi trường

Chính vì những lí do trên, học viên chọn đề tài luận văn thạc sỹ khoa học với

tiêu đề “Nghiên cứu phát triển du lịch biển đảo gắn với sử dụng hợp lí tài nguyên

và bảo vệ môi trường huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh”

Trang 10

Mục tiêu đề tài

Làm rõ tiềm năng tài nguyên du lịch, thực trạng phát triển du lịch, mối quan

hệ giữa hoạt động du lịch với môi trường tự nhiên huyện đảo Cô Tô Trên cơ sở đó

đề xuất giải pháp gắn phát triển du lịch với quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường khu vực nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu

Về mặt không gian: huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh

Hình i Sơ đồ vị trí huyện Cô Tô

Nguồn: CoTo.gov.vn Huyện Cô Tô là huyện đảo nằm ở địa đầu Đông Bắc của vùng biển Việt Nam Huyện Cô Tô bao gồm 30 hòn đảo lớn nhỏ Trong đó 29 hòn đảo quây quần thành quần đảo Cô Tô mà trung tâm là đảo Cô Tô Lớn và đảo Thanh Lân Hòn đảo lớn còn lại là đảo Chằn (còn gọi là đảo Trần hoặc Chàng Tây) đứng riêng về phía đông bắc Nghiên cứu tập trung vào khu vực đảo Cô Tô Lớn và đảo Thanh Lân, nơi hiện diễn ra các hoạt động du lịch chủ yếu trong huyện

Về mặt khoa học: Phân tích, đánh giá việc quản lí, sử dụng tài nguyên và môi

trường trong quá trình phát triển du lịch tại khu vực nghiên cứu để hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững Môi trường du lịch chủ yếu xem xét môi trường tự nhiên qua đánh giá hiện trạng chất lượng nước, không khí, môi trường đất, rác thải

và hệ sinh thái khu vực nghiên cứu

Trang 11

Nội dung nghiên cứu

- Tổng quan cơ sở lý luận về tài nguyên, môi trường, du lịch và phát triển du lịch bền vững;

- Phân tích làm rõ đặc điểm nội lực và ngoại lực, đánh giá giá trị của hệ thống tài nguyên thiên nhiên cho phát triển du lịch tại khu vực;

- Tìm hiểu và đánh giá hiện trạng phát triển du lịch;

- Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và diễn biến môi trường trong mối quan hệ với phát triển du lịch tại khu vực;

- Đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch bền vững trên cơ sở quản lí tài nguyên và bảo vệ môi trường

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu và thực hiện tốt các nội dung trên, cần thực hiện các hoạt động nghiên cứu sau đây:

- Thu thập, phân tích và đánh giá các tài liệu đã được công bố có liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn

- Tiến hành điều tra thực địa, khảo sát nằm bổ sung các phân tích về tài nguyên, môi trường và hiện trạng phát triển du lịch tại khu vực nghiên cứu

- Xây dựng các bản đồ tài nguyên du lịch, hiện trạng và định hướng phát triển

du lịch huyện đảo Cô Tô

- Tổng hợp tài liệu và viết luận văn

Câu hỏi nghiên cứu

- Cô Tô có những nguồn lực nào để phát triển du lịch biển đảo?

- Thực trạng phát triển du lịch ở Cô Tô những năm qua như thế nào?

- Phát triển du lịch ảnh hưởng như thế nào đến tài nguyên và môi trường du lịch ở Cô Tô?

- Giải pháp gì cho phát triển du lịch đảm bảo sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo

vệ môi trường?

Cơ sở tài liệu sử dụng

Luận văn được sử dụng nguồn tài liệu phong phú từ các giáo trình, các bài báo khoa học, sách chuyên ngành, các bài báo khoa học; đặc biệt là các kết quả nghiên cứu do chính học viên thực hiện khảo sát thực địa, điều tra xã hội học, cụ thể:

Trang 12

- Các tài liệu phục vụ tổng quan cơ sở lý luận liên quan đến tài nguyên, môi trường, phát triển du lịch gắn với quản lí tài nguyên và bảo vệ môi trường

- Các đề tài, dự án, nghiên cứu đã công bố liên quan:

+ Các nghiên cứu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội khu vực nghiên cứu + Các báo cáo hiện trạng phát triển du lịch từ năm 2010 đến năm 2017 của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Cô Tô

+ Các báo cáo hiện trạng môi trường Cô Tô giai đoạn 2006-2010; 2010-2015, các số liệu quan trắc môi trường năm 2016, 2017 của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Quảng Ninh tiến hành quan trắc theo từng quý mỗi năm tại 5 điểm quan trắc môi trường nước, 1 điểm quan trắc môi trường không khí

+ Báo cáo công tác bảo vệ môi trường năm 2016, 2017 của Phòng Tài nguyên

và môi trường huyện

- Tài liệu thu thập trực tiếp từ quá trình thực địa, phỏng vấn, điều tra xã hội học và xử lý số liệu bảng hỏi tại địa phương (178 phiếu hỏi khách du lịch, 211 phiếu hỏi cộng đồng)

- Các văn bản, quyết định các cấp từ Chính phủ đến địa phương liên quan vấn

đề khai thác, sử dụng và quản lý các loại tài nguyên trên địa bàn khu vực nghiên cứu và lân cận

Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn đã trình bày những kết quả nghiên cứu trong 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tài liệu, cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 Tài nguyên du lịch ở huyện đảo Cô Tô

Chương 3 Thực trạng phát triển du lịch trong mối liên quan với tài nguyên và

môi trường huyện Cô Tô

Chương 4 Phân tích các nguồn lực và đề xuất giải pháp phát triển du lịch gắn

với sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường huyện đảo Cô Tô

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường

1.1.1 Trên thế giới

Du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt, điều này có nghĩa là tài nguyên là nhân tố cơ bản để tạo ra sản phẩm du lịch [49] Trong các điều kiện đặc trưng đối với sự phát triển du lịch, nhiều chuyên gia nghiên cứu về du lịch cho rằng tài nguyên du lịch là yếu tố quyết định và quan trọng hàng đầu Các nhà địa lí Liên

Xô dưới sự chủ trì của Mukhina đã biên soạn những tài liệu hướng dẫn đánh giá các tổng thể tự nhiên cho mục đích du lịch Một trong những vấn đề được các nhà địa lí hết sức quan tâm là nghiên cứu phương pháp xác định sức chứa, độ bền vững của các cảnh quan đối với hoạt động du lịch [dẫn theo 51] Tiêu biểu là nghiên cứu sức chứa và sự ổn định của các điểm du lịch của Khadaxkia (1972) và Sepfer (1973) Các nhà địa lý cảnh quan học của trường Đại học tổng hợp Matxcova như E.D.Xmirnova, V.B.Nhefedova đã nghiên cứu các vùng cảnh quan cho mục đích nghỉ dưỡng trên lãnh thổ Liên Xô (cũ)

Theo Pirojnik I.I (2985), ngoài Liên Xô, việc đánh giá và đề xuất các hình thức sử dụng tài nguyên du lịch tự nhiên được đề cập rộng rãi ở các công trình của các nhà địa lí Mỹ như Bohart, Davis và các nhà địa lí Canada như Wolfe, Heneiner Các nhà địa lí Ba Lan như Kostrouixki;Warszyncka đi sâu nghiên cứu khả năng chịu tải của các cảnh quan tự nhiên [dẫn theo 51] Jean – Pierre Lozato-Giotart (1987), nhà địa lí người Pháp cho rằng, ở giai đoạn đầu, những cảnh điểm hấp dẫn du khách du lịch, khách tham quan đến để “ngắm nhìn” Sau đó, khi lượng khách đến nhiều, xuất hiện nhu cầu tiêu thụ tài nguyên tại điểm đến như ăn, uống, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, Khi số lượng khách tăng nhiều hơn, xuất hiện những sức ép như quá tải trong tiêu thụ, quá tải về mặt xã hội, kinh tế, môi trường tự nhiên các cơ quan quản lí phải có biện pháp để làm chủ tình hình khai thác, sử dụng không gian [dẫn theo 51]

Các nhà khoa học thuộc tổ chức ICURP gồm lechoslaw Czernic, Halina Orlinska (Ba Lan) và Edfrank (Hà Lan) – 1994 đã nghiên cứu xác định các điểm - tuyến du lịch giữa biên giới Ba Lan – Đức và ven biển phía Bắc của biển Ban Tích

Trang 14

thuộc lãnh thổ Ba Lan - Đức Bắt đầu từ việc phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh

tế, xã hội, xác định các điểm - tuyến du lịch, sau đó nhấn mạnh bảo vệ môi trường sinh thái, môi trường trên quan điểm phát triển bền vững cho ngành du lịch tại vùng này [29] Gần đây, hướng nghiên cứu sức tải du lịch và phát triển du lịch bền vững được nhiều nhà khoa học quan tâm Tiêu biểu như nghiên cứu của Shahida Zubair (2011) về sức tải môi trường của các hoạt động du lịch tại Maldives hay nghiên cứu tác động của hoạt động du lịch đối với việc xả thải khí CO2 tại Trung Quốc của Weiqing Meng

Ngoài những công trình nghiên cứu kinh điển như trên, nhận thức rõ tầm quan trọng của tài nguyên và môi trường đối với phát triển du lịch, nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra hệ thống chính sách nhằm bảo vệ các tài nguyên và môi trường du lịch Vấn đề phát triển du lịch biển đảo bền vững, phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường đã được nhiều nước quan tâm và định hướng chiến lược phát triển rõ ràng Điển hình trong số đó là quốc đảo Madives Ở đây, du lịch là ngành công nghiệp quốc gia luôn được nhà nước quản lý chặt chẽ nhằm bảo tồn môi trường tự nhiên và bảo vệ môi trường nhân văn Chính phủ Madives xác định, chất lượng môi trường tự nhiên là sự hấp dẫn chủ yếu đối với khách du lịch, vì thế để thực hiện các chính sách môi trường chặt chẽ, ngay từ đầu chính phủ đã cẩn trọng trong việc lựa chọn cho thuê đất trên đảo Để bảo vệ hiệu quả tài nguyên tự nhiên và nhân văn, chính phủ Maldives ngay từ đầu đã nghiêm khắc áp đặt các quy định, định hướng hoạt động và xây dựng ở các khu nghỉ dưỡng [68] Trong đó, để bảo vệ môi trường nhân văn của các cư dân trên đảo, quan điểm của chính phủ là xây dựng các đảo nghỉ dưỡng tách biệt, cách xa đảo có người sinh sống Để bảo vệ môi trường tự nhiên, lượng khách du lịch cư trú trên một đảo bị giới hạn so với thực tế, diện tích tối đa để xây dựng các loại công trình chỉ chiếm 20% diện tích đảo; nghiêm cấm hoạt động di chuyển các loại thực vật có sẵn, có nguy cơ phá vỡ hệ sinh thái biển và làm thay đổi hình dạng các đầm phá

Ngoài ra, chính phủ Maldives cũng giới thiệu tiêu chuẩn hoạt động thân thiện với môi trường trên các đảo nghỉ dưỡng như: cấu trúc san hô và đá ngầm không bị hoạt động khai thác mỏ phá hủy; toàn bộ các công trình ở bờ biển phải được quản lý chặt chẽ; việc xây dựng các cầu tàu và đê chắn sóng không được làm thay đổi dòng

Trang 15

chảy nước biển; các khu nghỉ dưỡng phải có lò đốt đốt rác, máy nghiền chai lọ; ngăn chặn việc chôn sâu rác thải dưới long đất; thiết kế kiến trúc phải giữ gìn được

vẻ đẹp tự nhiên của đảo nghỉ dưỡng

Đối với khách du lịch, khuyến khích tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường, như: tiết kiệm nước, năng lượng và kiềm chế hoạt động phá hủy san hô Để tăng hiểu biết của du lịch đối với sự nhạy cảm của hệ sinh thái và môi trường biển ở Maldivian, nhiều đảo nghỉ dưỡng đã phát tờ bướm và sách mỏng thông tin; mời khách du lịch tham dự các lớp và hội thảo đặc biệt về bảo vệ môi trường và đá ngầm có thể bị phá hỏng Các đảo nghỉ dưỡng theo đuổi chương trình làm đẹp cảnh quan bằng việc trồng cây xanh và hoa để phục vụ mục đích trang trí và giải trí Mỗi đảo nghỉ dưỡng tự xử lý lượng lớn rác thải trên đảo [68]

Thái Lan cũng là nước có ngành du lịch biển phát triển mạnh ở châu Á Ngành

du lịch là ngành thu được nguồn ngoại tệ chủ yếu và cao hơn các ngành sản xuất khác của Thái Lan Năm 1997, khi Thái Lan rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế thì chính du lịch là ngành kinh tế chủ đạo góp phần đưa nền kinh tế Thái Lan từ chỗ thâm hụt, giảm sút đến mức ổn định và dần tăng trưởng trở lại Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan về du lịch là tăng cường, tập trung thu hút khách, tăng nguồn thu cho ngân sách, nhưng sự bùng nổ du lịch đó đã mang đến cho Thái Lan những tác động tiêu cực đối với các tài nguyên du lịch như vấn đề suy thoái, ô nhiễm môi trường, thay đổi sắc thái nền văn hóa Nhận thức được ảnh hưởng tiêu cực đó, Chính phủ Thái Lan đã chuyển mục tiêu phát triển du lịch, tập trung vào việc nâng cao phần đóng góp tăng trưởng kinh tế của đất nước, bảo vệ môi trường trên cơ sở phát triển một cách ổn định và cân bằng, khuyến khích phát triển các nguồn lực, đảm bảo năng lực tham gia vào quá trình phát triển du lịch [50] Trong đó, chú trọng khôi phục và giữ gìn các tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường, văn hóa nghệ thuật thông qua việc ưu tiên phát triển du lịch bền vững

Ở Singapore - một quốc đảo nhỏ, tài nguyên hạn chế, nhưng đã biết phát huy triệt để tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý và nguồn lực con người để có những bước phát triển vượt bậc Tháng 6 năm 2010, quốc đảo này chạm mốc “một triệu khách du lịch trong một tháng” Cũng năm 2010, du lịch đóng góp cho nền kinh tế Singapore 18,8 tỉ đô Sing, năm 2012 là 22,2 tỉ đô Sing, năm 2017 là 36,6 tỉ đô Sing

Trang 16

tương đương 26,8 tỉ USD [53] Để có được kết quả này, phải nói đến sự thành công của việc hoạch định, xây dựng chiến lược và các kế hoạch phát triển du lịch phù hợp cho từng giai đoạn của Chính phủ Singapore Singapore đã không ngững nỗ lực

để tạo ra hình ảnh du lịch “Singapore đất nước sạch và xanh” với hàng loạt những điểm đến hấp dẫn như Vịnh Marina, Đảo Sentosa, Vườn thực vật Singapore (Botanic Garden), Công viên bướm & Vương quốc Côn trùng Quốc đảo xanh này luôn chú trọng công tác bảo tồn và phát huy những giá trị tài nguyên, chú trọng bảo

vệ môi trường thông qua những quy định nghiêm ngặt, những đạo luật kiểm soát và bảo vệ môi trường

Theo nghiên cứu của Zainul Hidayah, Daniel M Rosyid and Haryo Dwito Armono về quản lí đảo nhỏ tại Indonesia, phát triển và quản lý đảo nhỏ là các quy trình cần được thực hiện bởi chính phủ nhằm tăng thu nhập quốc gia, đặc biệt là trong ngành du lịch Trong đó, du lịch sinh thái biển là một trong những cách tiếp cận đáng tin cậy nhất để đạt được sự quản lý bền vững của các đảo nhỏ Tuy nhiên, Hamzah (2007) đã nói rằng cường độ phát triển của Đảo nhỏ sẽ tạo ra việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên cao [73] Các tác động đáng kể có thể xảy ra, nhất là mối đe dọa từ suy thoái môi trường, ô nhiễm, phá hủy hệ sinh thái và đánh bắt quá mức Do

đó, quản lý các hòn đảo nhỏ cần được toàn diện và tích hợp Và, để áp dụng khái niệm quản lý bền vững các đảo nhỏ, thông tin về các điều kiện sinh thái, đặc điểm kinh tế xã hội của đảo là rất quan trọng (Teh và Cabanban, 2007) Với trường hợp đảo Gili Timur, Đông Java, Indonesia, nơi có tiềm năng phát triển du lịch Quản lý đảo nên xem xét các khía cạnh môi trường thông qua các nỗ lực bảo tồn và duy trì chất lượng môi trường là ưu tiên hàng đầu Quản lý theo định hướng thông tin môi trường du lịch sinh thái sẽ hỗ trợ rất nhiều cho việc quản lý bền vững Đảo Gili Timur Cách tiếp cận này dự kiến sẽ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của người dân địa phương thông qua tăng năng suất thủy sản, tăng doanh thu từ du lịch và tạo việc làm mới [73]

Theo Marilena Papageorgiou, Đại học Mở Hellenic, Hy Lạp, trong số tất cả các hoạt động của con người diễn ra trên biển, quan trọng nhất và phát triển nhanh nhất (về mặt tài chính và cơ hội việc làm) là ngành du lịch biển và ven biển, bao gồm các hoạt động khác nhau liên quan đến nước và biển [76] Những lo ngại về tác

Trang 17

động tới môi trường của du lịch biển và ven biển đòi hỏi xây dựng quy hoạch không gian biển (MSP) để đảm bảo các hoạt động diễn ra bền vững nhất có thể Theo nhiều học giả và nghiên cứu (Brida và Zapata, 2010; Copeland, 2008), du thuyền và

du lịch trên biển gây ô nhiễm môi trường nước và không khí (chủ yếu là do khí thải của tàu du lịch) Đồng thời, các hoạt động du lịch biển khác (như các chuyến đi hàng ngày, dưới nước, vv), do mô hình không gian mà chúng tuân theo (gần môi trường đô thị và càng gần bờ biển càng tốt) cũng góp phần làm suy thoái vùng nước ven biển, đặc biệt là những vùng gần thành phố (Orams, 1999; Earle, 1995) Du lịch ven biển thường gây ra các tác động môi trường và áp lực đối với các hệ sinh thái ven biển và biển Trên thực tế, vì hầu hết các hoạt động du lịch ven biển bao gồm phát triển nhà và khu nghỉ mát ven biển, các mô hình xây dựng có nhiều khả năng dẫn đến tăng tính dễ bị tổn thương của điểm đến, mất đa dạng sinh học, tiếp xúc với hiện tượng biến đổi khí hậu, mất hấp dẫn, vv (Honey và Krantz, 2007) Quy hoạch không gian biển, một khái niệm nhằm xử lý và điều chỉnh hành vi con người cũng như môi trường đang diễn ra tại các không gian biển và ven biển, được coi là một công cụ đầy hứa hẹn để phát triển du lịch tương thích với các mục đích sử dụng khác của con người và ít bị ảnh hưởng với môi trường Quy hoạch không gian biển cũng có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc tổ chức phát triển du lịch, đặc biệt là về đảm bảo và đạt được tình trạng tốt của môi trường và khả năng phục hồi, chống lại các tác động của biến đổi khí hậu [76] Du lịch biển và ven biển - một trong những hoạt động kinh tế lớn nhất và quan trọng nhất trong không gian biển và ven biển, được chú ý trong quy hoạch không gian biển nhằm giảm thiểu tác động đến các hệ sinh thái tự nhiên, hài hòa với các mục đích sử dụng của con người, góp phần vào sự bền vững của cả nền kinh tế và hệ sinh thái tự nhiên

Tài nguyên và môi trường không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch mà

nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của con người, do đó việc quản lí tài nguyên và bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển du lịch đã được nhiều quốc gia trên thế giới nhận thức tầm quan trọng và có những chiến lược, kế hoạch thực hiện rõ ràng Nhờ đó, du lịch ở những nước này ngày càng phát triển mạnh, đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế nói chung

Trang 18

“Giáo trình kinh tế du lịch” (Nguyễn Văn Đính, 2006), “Địa lí du lịch Việt Nam

“(Nguyễn Minh Tuệ, 2010) Các tác giả đề cập tới nhiều vấn đề khái quát như: khái niệm về du lịch, lịch sử hình thành và xu hướng phát triển của du lịch, đặc điểm trong hoạt động du lịch hay điều kiện cho phát triển du lịch Ngoài ra, những cuốn này còn bao hàm những vấn đề về kinh tế du lịch như cung cầu trong du lịch, tổ chức và quản lý hoạt động du lịch

Hướng nghiên cứu phát triển du lịch bền vững, sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường du lịch cũng được chú trọng: “Du lịch bền vững” (Nguyễn Đình Hòe, 2001), Quy hoạch du lịch (Bùi Thị Hải Yến, 2006), “Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng cho các vườn quốc gia đặc thù ở miền Bắc Việt Nam” (Nguyễn Thị Hải, 2011) cùng một số luận án: “Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha - Kẻ Bàng” (Trần Tiến Dũng, 2006), “Chiến lược phát triển du lịch bền vững tỉnh Nghệ An đến năm 2020” (Nguyễn Tư Lương, 2015)

Hướng nghiên cứu du lịch biển đảo được thể hiện trong “ Biển đảo Việt Nam – Tài nguyên vị thế và những kì quan địa chất, sinh thái tiêu biểu” (Trần Đức Thạnh, 2012), Đề án “ Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020”(2013), “Hiện trạng mô hình hợp tác quốc tế về bảo tồn thiên nhiên tại các vùng biển cận biên và gợi ý ban đầu cho Việt Nam” (Dư Văn Toán), “ Khái quát về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 50 đảo ven bờ Bắc Bộ Việt Nam” (Uông Đình Khanh, Lê Đức An, 2013)

Ngoài những nghiên cứu của các nhà khoa học, vấn đề phát triển du lịch cũng

được các nhà quản lí quan tâm Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm

Trang 19

2010 tầm nhìn đến năm 2030 khẳng định Phát triển du lịch bền vững, gắn chặt với

việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, giữ gìn cảnh quan bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội là 1 trong 5 quan điểm phát triển du lịch [3] Hoạt động du lịch phải khuyến khích, tạo được động cơ và mối quan tâm tới công tác bảo tồn các giá trị tài nguyên; tạo nguồn kinh phí cho bảo

tồn từ nguồn thu nhập du lịch

Theo Quy hoạch Tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn

đến năm 2030 Trong giai đoạn phát triển vừa qua Du lịch Việt Nam đã đóng góp

lớn trong GDP với tỉ trọng từ 3,21% năm 1995 tăng lên 5,8% năm 2010, khằng định

vị thế của một ngành dịch vụ ngày càng quan trọng Du lịch đã tạo ra trên 1,4 triệu

việc làm chiếm 3,8% tổng lao động, trong đó có trên 470.000 lao động trực tiếp

Hiệu quả kinh tế của du lịch cũng lan tỏa tới nhiều ngành, lĩnh vực; cùng với đó là những tác động về văn hóa, xã hội và môi trường, vai trò của ngành du lịch đang được nâng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần xóa đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế [4]

Cũng theo quy hoạch này, nước ta có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn vô cùng phong phú Trong đó, thế mạnh về du lịch biển đảo khá nổi trội với hệ thống các bãi biển, các đảo và quần đảo Nước ta có khoảng 125 bãi biển có khả năng khai thác phục vụ du lịch, các bãi biển có chất lượng tương đối cao về độ dốc, độ mịn, độ trong của nước biển phân bố trải dài từ Bắc vào Nam, thuận tiện cho khai thác phục vụ du lịch [4] Tiêu biểu có thể kể đến Trà Cổ, Quan Lạn, Bãi Cháy, Sầm Sơn, Cửa Lò, Lăng Cô, Non Nước, Mĩ Khê, Sa Huỳnh, Nha Trang, Cà

Ná, Mũi Né, Vũng Tàu, Phú Quốc, Hà Tiên Hệ thống các đảo và quần đảo ven bờ với khoảng 2.773 hòn đảo lớn nhỏ với nhiều phong cảnh đẹp, còn hoang sơ, môi trường trong lành, hấp dẫn du khách, nhất là Cô Tô, Quan Lạn, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Côn Đảo, Phú Quốc

Du lịch biển đảo cũng là dòng sản phẩm chính được định hướng ưu tiên phát triển Tuy nhiên, trong quá trình khai thác, phát triển du lịch đã cho thấy nhiều vấn

đề bất cập còn tồn tại Hoạt động du lịch gắn với bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hoá lịch sử còn hạn chế; cảnh quan môi trừờng du lịch chưa được chú trọng bảo vệ, dẫn đến nguy cơ suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường [4]

Trang 20

Chính vì thế, quy hoạch xác định một trong các hướng ưu tiên đầu tư là đầu tư phát triển tài nguyên và bảo vệ môi trường du lịch Đầu tư tôn tạo tài nguyên du lịch, đa dạng hóa và tạo sản phẩm du lịch đặc thù; đầu tư điều tra, đánh giá, phân loại tài nguyên du lịch và hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu về tài nguyên du lịch Đầu tư bảo tồn, tôn tạo, nâng cấp các di tích, di sản để phát huy giá trị khai thác phục vụ du lịch hiệu quả; quy hoạch phục hồi những công trình kiến trúc có giá trị, phát triển các bảo tàng và các công trình văn hoá lớn phục vụ tham quan du lịch Đầu tư vào việc bảo vệ môi trường du lịch, giữ gìn cảnh quan, vệ sinh, trật tự và văn minh du lịch tại các khu, điểm du lịch; đầu tư tăng cường năng lực của các cơ

sở dịch vụ du lịch thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao năng lực phát triển du lịch xanh [4]

Ngoài Chiến lược và quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, hiện nay, các vấn đề liên quan đến quản lí tài nguyên và bảo vệ môi trường du lịch đặc biệt là du lịch biển đảo cũng đang được các tầng lớp

xã hội, các nhà khoa học và các nhà quản lí quan tâm

Hiện nay, du lịch biển nói chung và các khu du lịch biển nói riêng hiện đang đứng trước những vấn đề lớn về môi trường, trong đó có vấn đề ô nhiễm, tai biến và

sự cố môi trường biển, vấn đề mực nước biển dâng, ảnh hưởng đến phát triển bền vững Theo đó, tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng tới các khu du lịch biển bao gồm: Nguy cơ thu hẹp số lượng các khu du lịch ven biển, nguy cơ giảm chất lượng sản phẩm dịch vụ của các khu du lịch ven biển, nguy cơ giảm doanh thu, tăng chi phí đầu tư trong tương lai, nguy cơ giảm số lượng và chất lượng các tài nguyên du lịch trong và ngoài khu du lịch ven biển [34] Điều này đòi hỏi cần có những nghiên cứu lồng ghép các mục tiêu phát triển du lịch biển trong mối quan hệ với quản lí tài nguyên và môi trường nhằm đảm bảo được sự phát triển du lịch bền vững

1.1.3 Về khu vực nghiên cứu

Sớm nhận thức được vai trò quan trọng của ngành du lịch nói chung và du lịch biển đảo nói riêng, Quảng Ninh đã sớm thực hiện Quy hoạch Tổng thể phát triển du lịch Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Có thể nói, Không gian vịnh Hạ Long là tài nguyên quan trọng nhất được chú trọng đầu tư và phát

Trang 21

triển Bên cạnh đó, với sự phong phú, đa dạng về bãi biển, các đảo đất có người ở

và vườn rừng sinh thái, hệ thống tài nguyên biển đảo Quảng Ninh đã bù đắp rất hiệu quả cho sự thiếu hụt của Vịnh Hạ Long một loạt bãi tắm giá trị như Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng, Cô Tô Trong đó, huyện đảo Cô Tô được thiên nhiên ưu đãi các bãi biển đẹp, rừng tự nhiên, đặc biệt là hệ sinh thái san hô còn khá nguyên vẹn quanh các đảo, vị trí tiền tiêu xa bờ và các loài hải sản quý hiếm Các đảo thuộc huyện Cô Tô hoàn toàn có điều kiện trở thành các điểm du lịch thu hút các dòng khách lãng mạn, ưa thích mạo hiểm, khám phá, chinh phục [45]

Năm 2014, Quy hoạch phát triển du lịch huyện Cô Tô đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được thông qua Trên quan điểm Phát triển Cô Tô trở thành khu

du lịch Quốc gia, tạo động lực quan trọng để phát triển du lịch Quảng Ninh, quy hoạch đã chỉ ra những tiềm năng phát triển du lịch huyện Cô Tô và phần nào dự báo, đánh giá tác động môi trường trong quá trình phát triển du lịch Tuy nhiên, quy hoạch phát triển du lịch đến năm 2020 mà hiện nay đã là năm 2018, nhưng những định hướng trong bảo vệ môi trường và xử lí chất thải vẫn chưa được thực hiện Tương tự, Đề án phát triển du lịch Cô Tô bền vững năm 2016 cũng đưa ra những định hướng phát triển du lịch bền vững đến năm 2020 nhưng nhiều mục tiêu vẫn chưa được cụ thể hóa, chưa đánh giá được những tác động đã, đang và sẽ xảy ra đối với hệ thống tài nguyên và môi trường trong quá trình phát triển du lịch Bên cạnh

đó, nhiều vấn đề về sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường đã phát sinh thêm ngoài dự báo, được thể hiện thông qua Báo cáo Công tác bảo vệ môi trường năm 2016 và 6 tháng đầu năm 2017 trên địa bàn huyện Cô Tô Thực tế cho thấy vấn

đề quản lí tài nguyên và môi trường chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến những nguy cơ tiềm ẩn về suy thoái tài nguyên và môi trường trong tương lai

Hiện tại đã có một số nghiên cứu đến vấn đề phát triển du lịch và tài nguyên

du lịch của Cô Tô Có thể kể đến đề tài của PGS.TS Nguyễn Quang Mỹ, 1999:

“Xây dựng quy hoạch tổng thể cho phát triển kinh tế- xã hội huyện đảo Cô Tô đến năm 2010”; đề tài của Viện Kinh tế Thủy sản: “Nghiên cứu và qui hoạch tổng thể cho phát triển nuôi trồng thủy hải sản ở Cô Tô đến năm 2010 và tầm nhìn 2020” năm 2003… Trong chuyên đề Cô Tô thuộc đề tài cấp Nhà nước: “Đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, kinh tế- xã hội; thiết lập cơ sở khoa học và các giải pháp

Trang 22

phát triển kinh tế- xã hội cho một số huyện đảo” (KC-09-20) do TSKH Phạm Hoàng Hải làm chủ nhiệm đã nghiên cứu làm rõ tiềm năng tự nhiên, kinh tế - xã hội

và từ đó đề xuất các giải pháp, mô hình phát triển kinh tế - xã hội cho huyện đảo Nghiên cứu “Đánh giá tổng hợp tiềm năng và đề xuất định hướng phát triển du lịch bền vững hai huyện đảo Vân Đồn-Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh” năm 2012 của tác giả Phạm Thị Hồng Nhung đã đánh giá tổng hợp tiềm năng cho phát triển du lịch, nhất

là du lịch bền vững cho cả hai huyện đảo Vân Đồn và Cô Tô

Ngoài ra, có một số nghiên cứu của các học viên trong những năm qua như nghiên cứu “Đánh giá tài nguyên du lịch và đề xuất định hướng phát triển du lịch sinh thái đảo Cô Tô lớn, huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh”, năm 2014 của tác giả Bùi Phương Dung đã đánh giá được các điều kiện phát triển du lịch và đề xuất hướng phát triển du lịch sinh thái ở đảo Cô Tô lớn Luận văn thạc sĩ “Đánh giá tài nguyên

vị thế huyện đảo Cô Tô phục vụ phát triển kinh tế- xã hội và đảm bảo quốc phòng,

an ninh”, năm 2014 của tác giả Nguyễn Thu Hương đã đánh giá và đề xuất hướng

sử dụng hiệu quả tài nguyên vị thế của Cô Tô Nghiên cứu “Nguồn lực phát triển du lịch sinh thái tại một số đảo Quảng Ninh (Nghiên cứu trường hợp đảo Cô Tô)” năm

2009 của Đàm Thu Huyền đã trình bày những thuận lợi, khó khăn và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tại huyện Cô Tô Luận văn “Cơ sở khoa học phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường cho vùng hải đảo: Nghiên cứu điểm tại huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh” năm 2007 của Vương Tấn Công đã đánh giá tổng hợp

và định hướng phát triển bền vững biển đảo tại Cô Tô, Quảng Ninh

Như vậy, có nhiều khía cạnh về phát triển kinh tế - xã hội ở Cô Tô được các học viên quan tâm Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây vẫn chưa quan tâm sâu sắc tới những tác động mà phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng tới

hệ thống tài nguyên và môi trường ở khu vực nghiên cứu Rõ ràng, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững cần có những đánh giá thường xuyên về tác động của phát triển du lịch tới tài nguyên và môi trường để có những định hướng phát triển phù hợp cho mỗi giai đoạn

1.2 Cơ sở lí luận về du lịch, tài nguyên và môi trường du lịch

1.2.1 Một số lí luận về du lịch

Trang 23

- Khái niệm du lịch

Ngày nay, du lịch được xác định là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Khái niệm du lịch được xem là khái niệm cốt yếu trong nghiên cứu phát triển du lịch

Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) năm 1993 đưa ra định nghĩa “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác môi trường sống thường xuyên của con ngươi và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm”[48] Theo điều 3, chương I, Luật du lịch Việt Nam 2017, Du lịch được hiểu là “các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục, nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”

Như vậy, nội dung của thuật ngữ du lịch khá phức tạp và đa dạng, với mỗi góc nhìn và hoàn cảnh nghiên cứu, mỗi tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau về du lịch Có thể tựu chung lại, thuật ngữ du lịch bao hàm:

+ Du lịch là một hoạt động xã hội đặc trưng là sự di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của các cá nhân, tập thể ngoài nơi cư trú thường xuyên, đáp ứng nhu cầu tham quan, khám phá, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng

+ Du lịch là một hoạt động kinh tế, là một ngành kinh tế dịch vụ có tính liên ngành, liên vùng, có tính xã hội hóa sâu sắc nhằm đáp ứng các nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú tạm thời của các cá nhân, tập thể

Xác định được những nội dung quan trọng trong khái niệm du lịch không chỉ tạo điều kiện thúc đẩy phát triển ngành kinh tế du lịch mà còn góp phần định hướng phát triển du lịch lâu dài trên cơ sở gắn kết với cộng đồng và bảo vệ các tài nguyên phục vụ phát triển du lịch

- Hệ thống lãnh thổ du lịch

Việc nghiên cứu hệ thống lãnh thổ du lịch đã được nhiều nhà địa lí quan tâm;

có thể xem như hệ thống du lịch là đối tượng nghiên cứu của địa lí du lịch Trong

đó, người có công nghiên cứu về hệ thống lãnh thổ du lịch và mối quan hệ giữa nó

Trang 24

với vùng du lịch một cách tường tận là I.I Pirojnik [51] Theo ông, hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống kinh tế - xã hội, bao gồm các yếu tố có mối quan hệ tương hỗ với nhau như: các luồng du khách, tổng thể tự nhiên và văn hóa, lịch sử, các công trình kĩ thuật, nhân viên phục vụ và điều hành Các hệ thống lãnh thổ du lịch tương đương với các tổng thể lãnh thổ sản xuất, cùng với các hệ thống giao thông và các hệ thống dân cư [dẫn theo 51] Như vậy, hệ thống lãnh thổ du lịch là một thành tạo trọn vẹn về chức năng và lãnh thổ

Hình 1.1 Hệ thống lãnh thổ du lịch [23,48]

Theo Ngô Tất Hổ, cấu tạo của hệ thống lãnh thổ du lịch bao gồm các bộ phận:

hệ thống thị trường nguồn khách, hệ thống quá cảnh, hệ thống điểm du lịch và hệ thống bảo trợ Trong đó, thị trường nguồn khách, hệ thống quá cảnh và hệ thống điểm du lịch hợp thành một hệ thống có có kết cấu chặt chẽ Hệ thống bảo trợ bao gồm các yếu tố chính sách, chế độ, môi trường, nhân lực Hệ thống bổ trợ không tồn tại độc lập mà dựa trên ba hệ thống kia, tác động qua lại lẫn nhau (hình 1.1)

Trong công trình của Bưchvarôp năm 1982, hệ thống lãnh thổ du lịch (hình 1.2) bao gồm: phương tiện giao thông vận tải; phân hệ khách du lịch; phân hệ cán

bộ phục vụ; phân hệ khách du lịch và phân hệ công trình kĩ thuật [dẫn theo 51]

Trang 25

I Môi trường với các điều kiện phát sinh

II Hệ thống lãnh thổ du lịch

1 Phương tiện giao thông vận tải 2 Phân hệ khách du lịch

3 Phân hệ nhân viên phục vụ 4 Phân hệ tài nguyên du lịch

5 Phân hệ cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch

Hình 1.2 Sơ đồ hệ thống lãnh thổ du lịch [51]

Sơ đồ cho thấy cấu trúc hệ thống lãnh thổ du lịch, quan hệ tương tác giữa các phân hệ bên trong hệ thống và giữa hệ thống với môi trường bên ngoài Trong đó: Phân hệ khách du lịch có vai trò trung tâm, có tính quyết định tới các phân hệ khác trong hệ thống, bởi khách du lịch tạo nên cầu, những đặc điểm khách du lịch khác nhau tạo nên nhu cầu khác nhau về du lịch Các đặc điểm của phân hệ bao gồm: sở thích, động cơ, nhu cầu, tính mùa vụ, tính đa dạng của luồng khách du lịch Phân hệ tổng thể tự nhiên và lịch sử - văn hóa là nguồn tài nguyên du lịch, là điều kiện cần, là tiền đề tạo ra các sản phẩm du lịch và cơ sở cho hình thành hệ thống lãnh thổ du lịch Các đặc trưng của tổng thể tự nhiên và lịch sử - văn hóa bao gồm sức chưa, tính độc đáo, tính hấp dẫn, độ bền vững

Phân hệ cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bảo đảm điều kiện sinh hoạt và nhu cầu của khách du lịch (đi lại, ăn, ở, tham quan, vui chơi giải trí ) Đặc điểm của phân

hệ này là sức chứa, tính đa dạng, tính tiện nghi, trình độ kỹ thuật

Phân hệ đội ngũ phục vụ thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ cho khách du lịch, đảm bảo các cơ sở du lịch hoạt động bình thường Đặc trưng của phân hệ bao gồm các cơ sở du lịch, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của nhân viên, khả năng cung cấp dịch vụ

Trang 26

Từ góc độ địa lí, hệ thống du lịch của Leiper bao gồm ba yếu tố cơ bản là: nơi xuất phát của khách du lịch; điểm đến của khách du lịch và các tuyến du lịch nối nơi

đi với nơi đến (hình 1.3) [dẫn theo 51]

Hình 1.3 Sơ đồ hệ thống du lịch [51]

Trong đó, nơi phát sinh khách du lịch chính là nơi ở thường xuyên của họ, là địa điểm bắt đầu và kết thúc chuyến đi Khu vực này chính là thị trường du lịch, nơi các công ty, doanh nghiệp du lịch đẩy mạnh tiếp thị, khai thác thị trường Phân hệ cầu du lịch là động lực phát triển của du lịch Điểm gửi khách là nơi có cầu du lịch Phân hệ dòng khách du lịch là hệ quả tương tác của điểm đến và sức đẩy của điểm gửi khách

Giao thông vận tải đóng vai trò cầu nối giữa các phân hệ trong hệ thống du lịch, đưa khách du lịch tới nơi họ muốn đến

Tóm lại, hệ thống du lịch là một hệ thống địa lí kinh tế xã hội bao gồm các yếu

tố cầu và cung du lịch cũng như mối quan hệ giữa chúng xảy ra trong phạm vi lãnh thổ nhất định

- Khách du lịch

Tổ chức Du lịch Thế giới cho rằng “khách du lịch là người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với nhiều mục đích khác nhau, ngoại trừ mục đích kiến tiền”

Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến" [36]

Như vậy, ngoài khách du lịch đơn thuần với mục đích chính là đi du lịch thì cũng có những khách du lịch kết hợp giữa công việc và du lịch

Trang 27

- Loại hình du lịch

Các loại hình du lịch rất đa dạng Tùy theo tiêu chí nhất định mà các nhà nghiên cứu đưa ra các cách phân loại du lịch khác nhau Về cơ bản, có một số loại hình du lịch chủ yếu như sau:

- Phân loại theo phạm vi lãnh thổ

- Phân loại theo tài nguyên du lịch

- Phân loại theo mục đích chuyến đi

- Phân loại theo đặc điểm địa lí

- Phân loại theo thời gian cuộc hành trình

- Phân loại theo việc sử dụng các phương tiện giao thông

- Phân loại theo hình thức tổ chức

Ngoài các cách phân chia nói trên, hiện nay còn có các hình thức du lịch như:

du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch MICE (du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, tổ chức sự kiện )

Dựa vào các nguyên tắc phân loại loại hình du lịch nói trên, tại khu vực nghiên cứu có thể phát triển một số loại hình du lịch phù hợp với điều kiện địa phương như: kết hợp phát triển du lịch tự nhiên và du lịch văn hóa, phát triển du lịch biển:

du lịch tham quan biển, nghỉ dưỡng biển, du lịch sinh thái biển, du lịch mạo hiểm biển, du lịch kết hợp với hội nghị, nghiên cứu khoa học trên cơ sở đa dạng hóa các sản phẩm du lịch nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng phát triển du lịch địa phương Đồng thời, việc lựa chọn loại hình du lịch phù hợp với không gian biển đảo tại Cô

Tô cũng góp phần nâng cao khả năng bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển

1.2.2 Một số lí luận về tài nguyên du lịch

- Tài nguyên

Theo nghĩa rộng, tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn vật liệu (materials), năng lượng (energy), thông tin (information) có trên Trái Đất và có trong vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục vụ cuộc sống và sự phát triển của mình [6]

Có nhiều cách phân loại tài nguyên như phân loại theo nguồn gốc phát sinh; phân loại theo mối quan hệ với con người, phân loại theo khả năng tái tạo

Theo quan hệ với con người tài nguyên được phân thành: Tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên xã hội Theo khả năng tái tạo thì gồm có Tài nguyên tái tạo và

Trang 28

tài nguyên không tái tạo Theo bản chất tự nhiên, tài nguyên bao gồm: Tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng, tài nguyên khí hậu cảnh quan, di sản văn hóa kiến trúc, tri thức khoa học và thông tin

- Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là loại tài nguyên quan trọng với các vùng, miền, các lãnh thổ, quốc gia Tương tự như khái niệm du lịch, cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về tài nguyên du lịch Theo nhà địa lí du lịch Pirojinik “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên và văn hóa - lịch sử và những thành phần của chung, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực và tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ” [dẫn theo 51]

Trần Đức Thanh và cộng sự (2014) cho rằng “tài nguyên du lịch là những thành tạo tự nhiên, những tính chất của thiên nhiên, các công trình, sản phẩm do bàn tay hay trí tuệ của con người làm nên cùng các giá trị thẩm mĩ, lịch sử, văn hóa, tâm linh, giải trí, kinh tế của chúng , có sức hấp dẫn với khách du lịch hoặc được khai thác đáp ứng cầu du lịch” [51] Tác giả cũng khẳng định nội hàm căn bản để các giá trị trở thành tài nguyên du lịch chính là có sức hấp dẫn khách du lịch

Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 cũng giải thích Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch Tài nguyên

du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa [36] Tài nguyên du lịch có các đặc điểm chính bao gồm:

+ Một tài nguyên có thể có nhiều giá trị du lịch khác nhau

+Tài nguyên du lịch có tính lịch sử

+ Tài nguyên du lịch là loại có thể tái tạo một cách đặc biệt

+ Tính địa lí

+ Tính thời vụ

- Phân loại tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch rất phong phú, tùy thuộc mục đích sử dụng, nghiên cứu mà

có các cách phân loại khác nhau Về cơ bản, có thể phân loại tài nguyên du lịch theo nguồn gốc, bao gồm: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa

Trang 29

+ Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các tài nguyên tự nhiên được khai thác và

sử dụng cho du lịch như: Địa hình, khí hậu, nguồn nước, sinh vật, các di sản thiên nhiên

+ Tài nguyên du lịch văn hóa là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo, do con

người sáng tạo ra Theo giải thích của Luật Du lịch năm 2017: “Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích du lịch” [36]

So với tài nguyên du lịch tự nhiên, việc khai thác tài nguyên du lịch văn hóa thường ít chịu tác động của khí hậu nên có thể diễn ra quanh năm tùy theo nhu cầu của du khách

Nguồn tài nguyên du lịch văn hóa rất đa dạng, có thể phân chia chúng thành những dạng cơ bản sau đây: Di sản văn hóa thế giới, di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội, làng nghề, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, dân ca, dân vũ, công trình đương đại

1.2.3 Một số lí luận về môi trường du lịch

Khái niệm môi trường du lịch theo nghĩa rộng bao gồm các nhân tố về tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn trong đó hoạt động du lịch tồn tại và phát triển [28]

Môi trường du lịch tự nhiên là bộ phận cấu thành môi trường tự nhiên nói

chung, bao gồm các hợp phần tự nhiên như đất, nước, không khí, hay được gọi chung là môi trường vật lí và các yếu tố sinh vật được gọi là môi trường sinh học Các bộ phận của môi trường tồn tại và phát triển theo quy luật riêng của mình nhưng vẫn liên quan, tác động qua lại lẫn nhau tạo nên một địa tổng thể có mối tương quan nhân quả và tồn tại, phát triển thông qua việc giải quyết các mâu thuẫn Theo Phạm Trung Lương, môi trường du lịch tự nhiên bao gồm các nhân tố chủ yếu: Môi trường địa chất, môi trường nước, môi trường không khí, môi trường sinh học Bên cạnh đó, các tai biến thiên nhiên như lũ quét, cháy rừng, núi lửa phun trào, bão, giông lốc cũng trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng tới hoạt động du lịch

Trang 30

Môi trường du lịch nhân văn bao gồm các yếu tố của môi trường kinh tế xã

hội và môi trường nhân văn Đây là bộ phận cấu thành quan trọng của môi trường

du lịch, tạo điều kiện cần thiết để phát triển du lịch Môi trường du lịch nhân văn bao gồm các yếu tố kinh tế - xã hội như: thể chế chính sách, trình độ phát triển khoa học, công nghệ, cơ sở hạ tầng, môi trường đô thị, mức sống, tổ chức xã hội và quản

lí môi trường Các yếu tố văn hóa – nhân văn như dân cư, dân tộc, truyền thống và quan hệ cộng đồng, trình độ văn minh và dân trí, chất lượng lao động và trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, nhân viên phục vụ du lịch

1.3 Phát triển du lịch gắn với sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường

Du lịch là một ngành kinh tế, sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với tài nguyên và môi trường Tài nguyên, môi trường cung cấp những nền tảng cho du lịch phát triển và ngược lại sự suy thoái tài nguyên, môi trường tất yếu kéo theo sự

đi xuống của hiệu quả hoạt động du lịch

1.3.1 Tác động của hoạt động du lịch tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường

Cũng như những ngành kinh tế khác, hoạt động du lịch tác động tới hệ thống tài nguyên và môi trường theo hai mặt tích cực và tiêu cực Song, dù tác động theo mặt nào thì hoạt động du lịch cũng có thể làm thay đổi trạng thái ban đầu của tài nguyên và biến đổi các đặc tính của môi trường tự nhiên

Du lịch có thể nâng tầm giá trị tài nguyên, biến những cảnh quan đời thường của vùng miền này thành nét đặc sắc hấp dẫn với du khách nơi khác đến Cũng chính nhu cầu của du lịch đòi hỏi việc thiết lập những tiêu chuẩn môi trường riêng cho hoạt động này, yêu cầu người dân địa phương nâng cao nhận thức về giá trị tài nguyên, thay đổi thói quen, có các hành động tích cực với hệ thống tài nguyên và môi trường để mang lại chính lợi ích cho họ Việc phát triển hoạt động du lịch giúp tăng nguồn thu cho địa phương Chính sự phát triển du lịch đòi hỏi các kế hoạch quản lí chặt chẽ để phát huy tiềm năng và nâng cao giá trị tài nguyên, xây dựng thương hiệu du lịch thân thiện với môi trường

Bên cạnh những tác động tích cực mà du lịch cũng gây ra nhiều tác động tiêu cực tới hệ thống tài nguyên và môi trường Hoạt động du lịch phát triển nóng dẫn đến nguy cơ suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường Hơn nữa, do vùng biển, đảo là vùng địa lí với các hệ sinh thái rất nhạy cảm, dễ bị tác động bởi các hoạt

Trang 31

động phát triển kinh tế - xã hội và thiên tai, nên hoạt động phát triển du lịch cũng như các hoạt động khai thác tự nhiên tại khu vực này đã và đang gây những ảnh hưởng không nhỏ tới hệ thống tài nguyên và môi trường Mỗi hoạt động du lịch lại

có tác động ở mức độ khác nhau đến các dạng tài nguyên và môi trường, gồm: tài nguyên và môi trường nước, tài nguyên và môi trường không khí, tài nguyên và môi trường đất đai, tài nguyên sinh vật, tài nguyên địa hình, cảnh quan và di tích lịch sử

1.3.2 Phát triển du lịch bền vững trong mối quan hệ với tài nguyên và môi trường

- Phát triển du lịch bền vững

Phát triển du lịch bền vững là một trong những khía cạnh của phát triển bền vững nói chung Phát triển du lịch bền vững là nội dung quan trọng để duy trì và phát triển du lịch lâu dài

Theo Liên minh bảo tồn thế giới (World Conservation Union), 1996, du lịch bền vững là “Việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương”

Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) năm 1992 đưa ra định nghĩa “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mĩ của con người, trong khi vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống con người” [49] Ngoài những định nghĩa về du lịch bền vững trên thế giới, luật Du lịch Việt Nam 2017 cũng giải thích: “ Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm lợi ích hài hòa của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai” [36]

Tựu chung lại, Tổ chức Du lịch Thế giới đã chỉ ra 3 trụ cột của du lịch bền vững gồm: môi trường, xã hội và văn hóa, kinh tế

Trang 32

- Phát triển du lịch bền vững trong mối quan hệ với tài nguyên và môi trường Như vậy, phát triển bền vững nói chung và phát triển du lịch bền vững nói

riêng về cơ bản đều đòi hỏi sự quan tâm tới vấn đề sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo

vệ môi trường bởi đây chính là một trong ba trụ cột chính của phát triển bền vững Mặc dù tài nguyên du lịch là loại có thể tái tạo lại một cách đặc biệt (Trần Đức Thanh, 2017) hoặc ít biến đổi sau khi được du khách “tiêu thụ”, tuy nhiên, việc sử dụng hợp lí tài nguyên vẫn được xem là nguyên tắc quan trọng hàng đầu Tài nguyên không chỉ được thụ hưởng ở thế hệ hiện tại mà còn được lưu giữ tới nhiều thế hệ sau mà không bị hao mòn

Để đạt mục tiêu phát triển du lịch bền vững cần thiết phải xây dựng chiến lược, kế hoạch, quy hoạch phát triển cụ thể, tính toán đến các tác động của phát triển du lịch tới hệ thống tài nguyên và môi trường Không chỉ vậy, việc nghiên cứu, điều tra, giám sát các hoạt động du lịch và các dịch vụ phát sinh trong quá trình phát triển cần được tiến hành thường xuyên Việc cập nhật các thông tin, phân tích đánh giá các thay đổi của hệ thống tài nguyên và các chỉ số môi trường giúp nhanh chóng phát hiện và báo động những điểm ô nhiễm môi trường để có biện pháp khắc phục, cải thiện kịp thời Đồng thời, việc đánh giá thường xuyên giúp xác định được mức

độ phù hợp của các chính sách phát triển trong từng giai đoạn và đặt ra yêu cầu cần

bổ sung, sửa đổi chính sách phát triển thích ứng với thời kì mới

Thông qua các hoạt động trên, hiệu quả kinh doanh du lịch được đảm bảo trên

cơ sở duy trì sự cân bằng của hệ thống tài nguyên và môi trường, đạt mục tiêu phát triển du lịch bền vững đã đặt ra

1.3.3 Sức chứa du lịch

Để đảm bảo hoạt động du lịch hiệu quả và lâu dài, duy trì tính ổn định của hệ thống tài nguyên và môi trường hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững, việc tính toán sức chứa tại các điểm, các khu du lịch là rất cần thiết Sức chứa và độ bền vững của tài nguyên và môi trường du lịch phản ánh mối quan hệ giữa nhóm khách

du lịch và tài nguyên du lịch “Sức chứa là khả năng tiếp nhận một số lượng hợp lí khách du lịch đến tham quan, du lịch tại một điểm mà không gây ra ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hóa –xã hội và đến sự hài lòng của khách du lịch”[51] Sức chứa liên quan trực tiếp đến lượng du khách và không gian du lịch,

Trang 33

khả năng cung ứng các dịch vụ du lịch, khả năng duy trì và bảo đảm đời sống văn hóa và tinh thần của người dân bản địa, khả năng tự phục hồi, tái sinh của hệ thống

tự nhiên Tóm lại, sức chứa du lịch được xem xét trên nhiều khía cạnh như vật lí, sinh học, kinh tế, kĩ thuật, văn hóa

Về khía cạnh sinh học, sức chứa sinh thái là giới hạn lượng khách du lịch tại một lãnh thổ nhất định mà khi vượt quá giới hạn này, môi trường sống của các loài sinh vật bị tác động mạnh, làm thay đổi cấu trúc hệ sinh thái

Về khía cạnh xã hội, sức chứa văn hóa là giới hạn về lượng khách mà khi vượt quá, các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch sẽ tấn công nền văn hóa, xã hội vốn

có của địa phương

Về khía cạnh sức tải môi trường, lượng rác thải, nước thải quá lớn, vượt quá khả năng tự phân hủy của hệ thống tự nhiên và các hệ thống xử lí chất thải tại địa phương tất yếu dẫn đến ô nhiễm môi trường

Về khía cạnh sức chứa hệ thống hạ tầng, kĩ thuật có thể được tính toán thông qua tiêu chuẩn thiết kế các công trình du lịch Sức chứa về hạ tầng, kĩ thuật có thể tăng lên nhờ việc đầu tư xây dựng, cải thiện chất lượng các công trình phục vụ du khách nghỉ ngơi, tham quan

Về khía cạnh vật lí, sức chứa được tính toán dựa vào lượng khách tối đa mà diện tích không gian điểm du lịch có thể đáp ứng Sức chứa vật lí liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu về không gian cho các du khách cùng tham gia một loại hình du lịch Đối với không gian hoạt động du lịch bãi biển, theo ESCAP, 1995, tiêu chuẩn trung bình cho hoạt động du lịch bãi biển là 10-15m2/ người [31]

Việc đo lường sức chứa liên quan đến nhiều yếu tố định tính và không dễ lượng hóa Mặc dù việc tính toán sức chứa vật lí được coi là dễ hơn cả nhưng do đặc thù về điều kiện địa lí tự nhiên và xã hội của mỗi nơi là khác nhau, tâm lí của mỗi nhóm khách du lịch là khác nhau nên cũng khó có thể đứa ra một giới hạn chính xác

1.4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Quan điểm nghiên cứu

Trang 34

Quan điểm hệ thống:

Khi nghiên cứu về một sự vật hiện tượng, chúng ta cần xem xét nó một cách toàn diện, nhiều mặt, nhiều mối quan hệ khác nhau, trong trạng thái hoạt động và phát triển, để tìm ra bản chất và quy luật vận động của đối tượng Tiếp cận hệ thống giúp chúng ta đặt sự vật trong một hệ thống chỉnh hợp các mối quan hệ của nó với các yếu tố khác Giúp chúng ta phân tích đối tượng thành các bộ phận các phần để nghiên cứu chúng một cách sâu sắc hơn để tìm ra tính hệ thống của chúng Đồng thời cũng đảm bảo tính thống nhất của các hợp phần nghiên cứu

Đối với vấn đề sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển du lịch, việc nghiên cứu trên quan điểm hệ thống càng có ý nghĩa hơn trong việc xem xét các yếu tố hợp phần có mối liên hệ chặt chẽ và hữu cơ với nhau

Hệ thống tài nguyên và môi trường không độc lập mà có tính thống nhất cao giữa các hợp phần lãnh thổ, các lĩnh vực Nghiên cứu mối tương tác giữa phát triển du lịch và sử dụng hợp lí tài nguyên, môi trường tại khu vực nghiên cứu góp phần đưa

ra những giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu phát triển du lịch bền vững

Quan điểm phát triển bền vững

Phát triển bền vững là mục tiêu tối thượng của quy hoạch phát triển trong thời đại toàn cầu hóa Để đạt mục tiêu phát triển bền vững cần có sự hài hòa, cân đối giữa bảo tồn và phát triển Trong đó, bảo tồn là hoạt động bảo vệ và duy trì; phát triển có thể hiểu đơn giản là sự đi lên hay lớn lên của sự vật Bảo tồn để phát triển trong nghiên cứu chỉ sự bảo vệ và duy trì hiện trạng cũng như các giá trị của tài nguyên từ đó tạo nguồn lợi không ngừng cho cộng đồng địa phương Còn phát triển

để bảo tồn lại chỉ khi người dân thu được nguồn lợi từ những giá trị mà mình đã bảo tồn thì từ đó sẽ có ý thức hơn trong việc khai thác làm sao để thu được lợi ích lâu dài nhất Xem xét bảo tồn các giá trị tài nguyên và phát triển du lịch trong mối tương quan chặt chẽ cho phép khai thác tốt các nguồn lợi kinh tế, đồng thời đảm bảo khả năng phát triển lâu dài của khu vực nghiên cứu

Quan điểm tổng hợp – lãnh thổ: do địa tổng thể là sự tồn tại và có tác động

tương hỗ của các hợp phần của địa lý tự nhiên – địa lý xã hội trong một không gian nhất định: địa chất, địa mạo, khí hậu – thủy văn, sinh vật, con người Nghiên cứu tổng hợp lãnh thổ là nghiên cứu đồng bộ, toàn diện các hợp phần địa lý theo một

Trang 35

quy luật trong mối quan hệ của chúng tương tác lẫn nhau Mỗi lãnh thổ có tính đặc thù riêng, cần áp dụng phù hợp phương pháp, nội dung nghiên cứu đối với lãnh thổ nghiên cứu Với đặc thù khu vực nghiên cứu là một quần đảo, sự nghiên cứu tổng hợp lãnh thổ càng cần thiết hơn bao giờ hết Nghiên cứu tổng thể các hợp phần địa

lí để có nhìn nhận xác đáng, dự báo xu thế biến đổi và có định hướng phát triển phù hợp với từng không gian lãnh thổ, nhằm phát huy tiềm năng phát triển du lịch của địa phương hài hòa với các mục tiêu về môi trường

Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: mỗi một tổng hợp thể tự nhiên đều có quá

trình phát sinh, phát triển và biến đổi không ngừng theo thời gian Qua mỗi giai đoạn hình thành và phát triển, mỗi không gian lãnh thổ mang những đặc trưng riêng tùy theo mức độ nhạy cảm của các hợp phần thành tạo Vì vậy, để đưa ra được những quyết định chính xác, hiệu quả trong công tác quy hoạch, định hướng không gian phát triển du lịch biển đảo tại khu vực nghiên cứu, cần có những hiểu biết nhất định về lịch sử khai thác lãnh thổ để tìm ra những giải pháp tối ưu nhất

1.4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh:

Theo phương pháp này, học viên thu thập các tư liệu trong phạm vi nghiên cứu bao gồm cả mặt khoa học và mặt không gian khu vực nghiên cứu Đó là những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các giáo trình, các bài viết, các báo cáo

về phát triển du lịch và tình hình môi trường tại Cô Tô những năm gần đây, các nguồn tư liệu địa phương Từ đó đưa ra những so sánh, nhận xét, kết luận, tổng hợp

tư liệu để có những đánh giá tổng quan, chi tiết về khu vực nghiên cứu

Phương pháp thống kê

Việc nghiên cứu, đánh giá sẽ trở nên thuyết phục hơn khi có các kết quả đánh giá định lượng Vì vậy, sau khi phân tích, xử lý tư liệu và khảo sát điều tra thực địa, học viên tiến hành thống kê những số liệu có ích cho nghiên cứu: số liệu về tài nguyên, các chỉ số môi trường ở Cô Tô những năm gần đây, số liệu về tình hình phát triển du lịch của khu vực

Phương pháp bản đồ và gis:

Các phương pháp này cho phép thể hiện sự phân hóa không gian lãnh thổ du lịch cụ thể và rõ ràng Phương pháp bản đồ không chỉ đơn giản là thể hiện hiện

Trang 36

tượng lên bản đồ mà còn bao gồm nhiều nội dung khác như định vị, tính toán, đo đạc, phân tích, khai thác thông tin và đánh giá các hiện tượng , đối tượng liên quan đến du lịch trên bản đồ [51]

Đối với luận văn, phương pháp GIS được sử dụng để tích hợp các lớp thông tin trên bản đồ, thể hiện tình hình phát triển du lịch và các diễn biến môi trường khu vực Cô Tô Dựa vào các chỉ tiêu được rút ra, GIS giúp xác định các hợp phần lãnh thổ cần nghiên cứu Trên cơ sở dữ liệu thu thập được, phương pháp GIS cũng là công cụ chính để học viên thể hiện trực quan sản phẩm nghiên cứu bằng việc xây dựng các bản đồ về tài nguyên du lịch, hiện trạng phát triển du lịch, hiện trạng môi trường du lịch, định hướng không gian phát triển du lịch gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường

Phương pháp khảo sát điều tra thực địa

Nghiên cứu thực địa là quá trình thu thập, tổng hợp thông tin tại địa bàn nghiên cứu Khi có mặt tại điểm du lịch, nhà nghiên cứu mới có thể thấy hết những giá trị của tài nguyên, mới có thể đề xuất xây dựng được những sản phẩm du lịch hấp dẫn, độc đáo, mới có thể xác định được sự đa dạng, độc đáo và sự giống khác nhau của các khu vực Đối với nghiên cứu phát triển du lịch gắn với quản lí tài nguyên và bảo vệ môi trường, điều tra khảo sát thực địa lại càng không thể thiếu đối với việc xác định mối quan hệ giữa phát triển du lịch với vấn đề sử dụng tài nguyên

và các tác động môi trường

Trong quá trình nghiên cứu, thực địa tại huyện đảo Cô Tô giúp học viên có sự quan sát thực tế với khu vực nghiên cứu, so sánh với những kết quả thu được từ tư liệu, ảnh, bản đồ; ghi nhận hiện trạng khu vực nghiên cứu bằng máy ảnh, đo đạc…để thu thập thêm các dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu

Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp điều tra xã hội học là phương pháp không thể thiếu trong nghiên cứu phát triển du lịch và quản lí tài nguyên, bảo vệ môi trường Trong du lịch, nhu cầu, sở thích, sự thỏa mãn của các nguồn khách du lịch là những yếu tố tạo nên hoạt động du lịch, là những tham số của lực hấp dẫn giữ điểm đến và điểm cấp khách Những yếu tố này không cố định mà biến đổi thường xuyên chịu sự tác động trực

Trang 37

tiếp và gián tiếp của nhiều nhân tố xã hội như tình hình kinh tế, chính trị của thế giới và khu vực

Đối với nghiên cứu phát triển du lịch gắn với sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo

vệ môi trường tại Cô Tô, phương pháp điều tra xã hội học cho phép học viên xác định được những thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động du lịch, hoạt động bảo

vệ môi trường, các yếu tố văn hóa xã hội của cộng đồng địa phương Trong quá trình nghiên cứu, học viên đã tham gia cùng nhóm khảo sát đề tài “Luận cứ khoa học về tổ chức không gian, xác lập mô hình và đề xuất giải pháp phát triển du lịch bền vững khu vực ven biển và hải đảo Việt Nam” điều tra bằng bảng hỏi với 178 phiếu hỏi khách du lịch, 211 phiếu hỏi cộng đồng Khảo sát được tiến hành chủ yếu trên đảo Cô Tô Lớn do đây là khu vực có hoạt động du lịch diễn ra sôi động nhất,

đã và đang có những tác động tới tài nguyên và môi trường rõ rệt nhất ở huyện đảo

Từ kết quả khảo sát, học viên chọn lọc một số chỉ tiêu phù hợp với hướng nghiên cứu để đưa ra những đánh giá cần thiết cho luận văn Ngoài ra, học viên còn thực hiện phỏng vấn trực tiếp, trao đổi qua thư điện tử, điện thoại với khách du lịch và cộng đồng địa phương Điều tra xã hội học đã giúp học viên đứng trên góc nhìn của dân cư địa phương và khách du lịch để đánh giá những tác động của du lịch tới đời sống dân cư và hệ thống tài nguyên, môi trường ở địa phương

Phương pháp chuyên gia:

Tham khảo ý kiến và thực hiện theo hướng dẫn của giảng viên; dựa trên những đánh giá của chuyên gia để định hướng nghiên cứu đúng đắn Trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu phát triển du lịch biển đảo gắn với sử dụng hợp lí tài nguyên

và bảo vệ môi trường huyện Cô Tô, học viên được giảng viên hướng dẫn theo sát, chỉ dẫn các bước, các phương pháp nghiên cứu, định hướng nghiên cứu phù hợp với thực tế Đồng thời, học viên cũng được tham gia một số buổi seminar đề tài “Luận

cứ khoa học về tổ chức không gian, xác lập mô hình và đề xuất giải pháp phát triển

du lịch bền vững khu vực ven biển và hải đảo Việt Nam” và lắng nghe những ý kiến đóng góp của các chuyên gia tham gia Đó là những đóng góp vô cùng quý giá mà giảng viên hướng dẫn và nhóm chuyên gia đề tài mang lại cho học viên cũng như nghiên cứu luận văn, giúp học viên nâng cao nhận thức, hiểu biết về vấn đề nghiên cứu

Trang 38

Phương pháp phân tích SWOT

SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng

Anh: Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội)

và Threats (Thách thức)

Phương pháp này cho phép:

- Phân tích các điểm mạnh, điểm yếu trong cấu trúc nội tại của hệ thống

- Phân tích những tác động bên ngoài của hệ thống tạo ra cơ hội và thách thức Đối với phát triển du lịch gắn với quản lí tài nguyên và môi trường, SWOT giúp phân tích những nhân tố bên trong và bên ngoài tạo ra những cơ hội và thách thức cho phát triển Trong đó cần chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu của địa tổng thể bao gồm: vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, trình độ phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời, xác định được những cơ hội và thách thức đến từ bối cảnh và xu thế phát triển của khu vực, quốc gia, quốc tế, những chính sách của chính quyền, sự quan tâm của cộng đồng

Phương pháp tính toán sức chứa du lịch

Như đã trình bày ở trên, để đảm bảo hoạt động du lịch hiệu quả và lâu dài, duy trì tính ổn định của hệ thống tài nguyên và môi trường hướng tới mục tiêu phát triển

du lịch bền vững, việc tính toán sức chứa tại các điểm, các khu du lịch là rất cần thiết Sức chứa du lịch được xem xét trên nhiều khía cạnh như vật lí, sinh học, kinh

tế, kĩ thuật, văn hóa Trong thực tế đối với một điểm du lịch, sức chứa thường được xác định dưới góc độ vật lí, "sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà không gian của điểm du lịch có thể tiếp nhận Nó liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu

về không gian đối với một du khách cùng những hoạt động tương ứng với loại hình

du lịch mà họ tham gia” [28] Đối với đặc thù hoạt động du lịch tại Cô Tô, sức chứa tại các bãi tắm, nơi diễn ra các hoạt động tham quan, vui chơi, tắm biển được quan tâm hơn cả

Để tính toán sức chứa của bãi tắm, áp dụng công thức của A.M.Cifuentes và H.Cebaloos-Lascurain [dẫn theo 35], trong đó:

- Khả năng chịu tải vật lý (PCC-Physical physical carrying capacity) là giới hạn tối đa cho phép về số lượng khách đến tham quan du lịch tại bãi tắm trong thời gian nhất định là:

Trang 39

PCC = A.D.Rf (1)

Trong đó A là diện tích của bãi tắm (diện tích bãi cát và mặt nước ven bờ được giới hạn cho hoạt động tắm biển)

D là diện tích cần thiết để đáp ứng nhu cầu khách đến tham quan hay còn gọi

là mật độ khách được đáp ứng trên diện tích m2

Rf (Rotation factor) là số lượt khách tham quan tối đa cho 01 ngày tại điểm tham quan trên bãi biển và tắm biển ở ven bờ

Thông thường Rf được tính bằng số thời gian được phép lưu lại điểm, khu vực tham quan/số thời gian khách lưu lại tham quan tại điểm đó, Rf được tính theo công thức:

Rf = T cp/ Ttq (2)

Trong đó Tcp là thời gian cho phép tham quan;

Ttq là thời gian khách lưu lại điểm tham quan

Rf được xác định bởi thời gian cho phép số lượng khách tối đa tham quan và thời gian lưu lại của khách tại điểm tham quan (số vòng khách tham quan 1 ngày)

- Sức chịu tải thực tế (ERCC- Effective Real Carrying Cappacity) là số lượng khách và thời gian tham quan tối đa phù hợp với điều kiện khu vực cho phép,

đủ khả năng kiểm soát tác động nhưng thỏa mãn thời gian, số lượng người tại điểm tham quan

Công thức được tính như sau:

ERCC = PCC-Cf1- Cf2- Cf3- - Cfn (3)

Trong đó: Cfi (Conrrective factor) thường được gọi là hệ số giới hạn cho phép hay là hệ số các yếu tố tiêu cực cần phải loại trừ để tránh tác động xấu đến khu vực bãi tắm thường được áp dụng tiêu chuẩn hoặc ngưỡng giới hạn cho phép khi áp dụng cho việc tính toán đến tác động ảnh hưởng Các hệ số này được tính toán theo

tỷ lệ phần trăm Vì vậy ERCC của bãi tắm tại Cô Tô có thể viết lại như sau:

Trang 40

Tính toán sức chứa bãi tắm cho phép đưa ra những đánh giá về mức độ chịu tải của bãi tắm so với hiện trạng khai thác thực tế, từ đó đưa ra những đề xuất phù hợp nhằm duy trì khả năng tự phục hồi, tái sinh của hệ thống, cho phép khai thác lâu dài và hiệu quả

1.4.3 Quy trình nghiên cứu

Hình 1.4 Sơ đồ các bước nghiên cứu luận văn

Ở Việt Nam, du lịch biển đảo là dòng sản phẩm chính được định hướng ưu tiên phát triển Tuy nhiên, trong quá trình khai thác, phát triển du lịch đã cho thấy

Ngày đăng: 06/03/2021, 07:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Đức An, Uông Đình Khanh, Bùi Quang Dũng, Nguyễn Thị Hương (2013), “Nghiên cứu dự báo tác động của biến đổi khí hậu đối với các đảo ven bờ - lấy thí dụ đảo Cô Tô” , Tạp chí các khoa học về Trái Đất, 35 (4), tr.294-300 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dự báo tác động của biến đổi khí hậu đối với các đảo ven bờ - lấy thí dụ đảo Cô Tô” , "Tạp chí các khoa học về Trái Đất
Tác giả: Lê Đức An, Uông Đình Khanh, Bùi Quang Dũng, Nguyễn Thị Hương
Năm: 2013
2. Bộ Tài nguyên và môi trường (2016), Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam,NXB Tài nguyên, Môi trường và Bản đồ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Nhà XB: NXB Tài nguyên
Năm: 2016
3. Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch (2011), Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 tầm nhìn đến năm 2030, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch
Năm: 2011
4. Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch (2013), Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch
Năm: 2013
5. Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch (2013), Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội, Bộ công cụ có trách nhiệm tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội, Bộ công cụ có trách nhiệm tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch
Năm: 2013
6. Lê Thạc Cán (1995), Cơ sở khoa học môi trường, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học môi trường
Tác giả: Lê Thạc Cán
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
7. Vương Tấn Công (2007), Cơ sở khoa học phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường cho vùng hải đảo: Nghiên cứu điểm tại huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh, luận văn thạc sĩ khoa học, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường cho vùng hải đảo: Nghiên cứu điểm tại huyện đảo Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Vương Tấn Công
Năm: 2007
8. Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh (2015), Di tích lịch sử trận đánh Đồn Cao của Đại đội Ký Con đêm ngày 13/11/1945 tại thị trấn Cô Tô, Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử trận đánh Đồn Cao của Đại đội Ký Con đêm ngày 13/11/1945 tại thị trấn Cô Tô
Tác giả: Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh
Năm: 2015
9. Phạm Văn Cường (2016), Thực tiễn xây dựng và thực hiện quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh, Báo Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn xây dựng và thực hiện quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Phạm Văn Cường
Năm: 2016
10. Chi cục thống kê huyện Cô Tô (2018), Niên giám thống kê Huyện Cô Tô giai đoạn 2013-2017, Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Huyện Cô Tô giai đoạn 2013-2017
Tác giả: Chi cục thống kê huyện Cô Tô
Năm: 2018
11. Bùi Phương Dung (2014), Đánh giá tài nguyên du lịch và đề xuất định hướng phát triển du lịch sinh thái đảo Cô Tô lớn, huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh, luận văn thạc sĩ khoa học, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tài nguyên du lịch và đề xuất định hướng phát triển du lịch sinh thái đảo Cô Tô lớn, huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Bùi Phương Dung
Năm: 2014
12. Đại hội đồng UNESCO (1972), Công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới, Website Thư viện pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới
Tác giả: Đại hội đồng UNESCO
Năm: 1972
13. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2006), Giáo trình kinh tế du lịch, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa
Nhà XB: NXB Lao động – xã hội
Năm: 2006
14. Phạm Hoàng Hải (2006), Đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, kinh tế xã hội, thiết lập cơ sở khoa học và các giải pháp phát triển kinh tế xã hội bền vững cho một số huyện đảo, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tổng hợp tiềm năng tự nhiên, kinh tế xã hội, thiết lập cơ sở khoa học và các giải pháp phát triển kinh tế xã hội bền vững cho một số huyện đảo
Tác giả: Phạm Hoàng Hải
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2006
15. Trương Quang Hải (2013), Liên kết vùng giữa Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cho phát triển du lịch, NXb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, tr.1029-1040 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết vùng giữa Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cho phát triển du lịch
Tác giả: Trương Quang Hải
Năm: 2013
16. Trương Quang Hải, Đặng Văn Bào (2008), “Khu du lịch sinh thái Tràng An – Bích Động: Những giá trị nổi bật của cảnh quan Karst”, Kỉ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu du lịch sinh thái Tràng An – Bích Động: Những giá trị nổi bật của cảnh quan Karst”
Tác giả: Trương Quang Hải, Đặng Văn Bào
Năm: 2008
17. Trương Quang Hải, Lê Mậu Hãn, Đặng Văn Bào, Nguyễn Hiệu (2005), “Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Quảng Trị trên cơ sở kết hợp du lịch lịch sử cách mạng và du lịch sinh thái”, Kỷ yếu Hội thảo du lịch hoài niệm về chiến trường xưa và đồng đội, Quảng Trị, tr.106-116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Quảng Trị trên cơ sở kết hợp du lịch lịch sử cách mạng và du lịch sinh thái”, "Kỷ yếu Hội thảo du lịch hoài niệm về chiến trường xưa và đồng đội
Tác giả: Trương Quang Hải, Lê Mậu Hãn, Đặng Văn Bào, Nguyễn Hiệu
Năm: 2005
21. Trương Quang Học (2011), Phát triển bền vững - Chiến lược phát triển toàn cầu thế kỉ XXI, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững - Chiến lược phát triển toàn cầu thế kỉ XXI
Tác giả: Trương Quang Học
Năm: 2011
22. Nguyễn Đình Hòe (2007), Môi trường và phát triển bền vững, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và phát triển bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
23. Ngô Tất Hổ, dịch: Trần Đức Thanh và Bùi Thanh Hương (2000), Phát triển và quản lí du lịch địa phương, NXB Khoa học Bắc Kinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển và quản lí du lịch địa phương
Tác giả: Ngô Tất Hổ, dịch: Trần Đức Thanh và Bùi Thanh Hương
Nhà XB: NXB Khoa học Bắc Kinh
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w