Qúa trình hình thành và phát triển của Thị trường chứng khoán Việt Nam Trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế, phù hợp với các điều hiện kinhtế-chính trị và xã hội trong nước và xu
Trang 1TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ THỰC TRẠNG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
2.1 Qúa trình hình thành và phát triển của Thị trường chứng khoán Việt Nam
Trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế, phù hợp với các điều hiện kinhtế-chính trị và xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sởtham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình TTCK trên thế giới, Việt Nam
đã quyết định thành lập TTCK với những đặc thù riêng biệt : về chủ trương, thànhlập 2 trung tâm giao dịch chứng khoán ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà nội (hiệnmới chỉ có Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã hoạtđộng còn ở Hà Nội sẽ thành lập và vận hành giao dịch bảng II trong tương lai), sau
đó khi thị trường đã phát triển thì chuyển thành Sở Giao dịch chứng khoán
Sự ra đời và phát triển của TTCK Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vàovận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày20/7/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên ngày 28/7/2000
Mục tiêu cơ bản cho thời kỳ hoạt động ban đầu của TTCK Việt Nam theo chỉđạo của Bộ Chính trị và Chính phủ là xây dựng một TTCK với quy mô nhỏ, pháttriển từ thấp đến cao và không gây mất ổn định kinh tế-xã hội Sau 4 năm hoạtđộng, TTCK Việt Nam đã dần hình thành và từng bước phát triển, song cũng gặpkhông ít khó khăn trở ngại Đánh giá đầy đủ hoạt động của TTCK thời gian qua là
1 sự tổng kết cần thiết nhằm nhìn nhận lại thị trường để có những bước tiếp trongtương lai
2.1.1 Kết quả đạt được
+ Về hoạt động của thị trường : với chỉ có 2 công ty niêm yết vào năm 2000,
hiện nay TTCK đã có 24 công ty niêm yết với tổng giá trị vốn điều lệ là 1.240 tỷđồng, 147 loại trái phiếu Chính phủ, 2 loại trái phiếu của Ngân hàng Đầu tư pháttriển, 01 trái phiếu đô thị với tổng giá trị niêm yết trên 17.300 tỷ đồng UNCKNN
Trang 2đã cấp phép hoạt động cho 13 công ty chứng khoán, 01 công ty quản lý quỹ đầu tư
và 5 ngân hàng lưu ký Năm 2004, quỹ đầu tư chứng khoán đầu tiên đã tiến hànhhuy động vốn và bắt đầu hoạt động Thị trường đã thu hút được các nhà đầu tư có
tổ chức và nhà đầu tư cá nhân trong và ngoài nước tham gia với 19.000 tài khoảngiao dịch, trong đó có 200 nhà đầu tư nước ngoài Tinh đến hết tháng 8/2004, có
864 phiên giao dịch đã được thực hiện thành công tại TTGDCK với tổng giá trịgiao dịch trung bình mỗi phiên hơn 13 tỷ đồng Tổng giá trị giao dịch trên TTCKchiếm 3,7% GDP năm 2003, tăng hơn hai lần so với năm 2002
đã có những bước tiến đáng kể bằng cách áp dụng một hệ thống các tiêu chuẩn vàđiều kiện niêm yết linh hoạt hơn, cho phép các doanh nghiệp có thể tiếp cận vớiTTCK tập trung để huy động vốn Phạm vi điều chỉnh của Nghị định cũng được
mở rộng đối với hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng Bên cạnh đó,Nghị định cũng đã cho phép đa dạng hóa các loại hình quỹ đầu tư chứng khoán để
có thể khuyến khích mọi tầng lớp, từ nhà đầu tư nhỏ lẻ đến nhà đầu tư có tổ chứctham gia TTCK
+Về các chính sách phát triển thị trường : Bên cạnh khung pháp lý, Chính
phủ đã ban hành các chính sách khuyến khích các đối tượng tham gia TTCK nhưchính sách thuế, chính sách tham gia của bên nước ngoài (QĐ 39/2000/QĐ-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ về tạm thời ưu đãi thuế trong lĩnh vực chứng khoán; QĐ146/2003/QĐ-TTg về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài trên TTCK Việt Nam).Ngoài ra, các chính sách về quản lý ngoại hối đã được sửa đổi để tạo điều kiện
Trang 3thuận lợi cho việc chuyển thu nhập từ đầu tư chứng khoán ra nước ngoài.
+ Về định hướng phát triển : Ngày 5/8/2003, Thủ tướng Chính phủ đã phê
duyệt Chiến lược Phát triển TTCK đến năm 2010 Việc xây dựng chiến lược pháttriển TTCK và chương trình hành động cụ thể cho từng năm được UBCKNN xácđịnh là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong xây dựng và phát triển TTCK Trên cơ
sở Chiến lược, Bộ Tài chính đã xác định mô hình TTCK là : TTGDCK thành phố
Hồ Chí Minh là thị trường tập trung, phát triển thành Sở GDCK có khả năng liênkết với các thị trường trong khu vực; TTGDCK tại Hà Nội là thị trường giao dịchcho doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển thành thị trường phi tập trung phù hợp vớiquy mô của TTCK Cùng với việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho cácTTGDCK, phát triển các trung gian tài chính, các tổ chức hỗ trợ thị trường nhưTrung tâm lưu ký chứng khoán, tổ chức định mức tín nhiệm cũng đang được chuẩn
bị khẩn trương
+ Về tổ chức bộ máy quản lý : Trước tháng 4/2004, UBCKNN là cơ quan
thuộc Chính phủ, tuy nhiên khuôn khổ pháp luật hiện hành không cho phép cơquan thuộc Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật, điều này đã gâynhiều trở ngại trong công tác ban hành các văn bản pháp luật để quản lý thị trường.Thực hiện cải cách hành chính nhà nước theo hướng Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnhvưc, Chính phủ đã ban hành Nghị định 66/2004/NĐ-CP ngày 19/2/2004 về việcchuyển UBCKNN vào Bộ Tài chính và ngày 7/9/2004 Thủ tướng Chính phủ đãban hành Quyết định 161/2004/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của UBCKNN thuộc Bộ Tài chính Việc chuyển UBCKNN vào
Bộ Tài chính tạo điều kiện thống nhất trong hoạch định và thực hiện chính sáchphát triển thị trường vốn và thị trường chứng khoán, tạo điều kiện gắn kết giữa cổphần hóa doanh nghiệp Nhà nước với phát triển thị trường
2.1.2 Những hạn chế
+ Hạn chế về cung chứng khoán : Số lượng hàng hóa còn ít ỏi và chất lượng
Trang 4hàng hóa chưa cao Phần lớn các công ty niêm yết là những doanh nghiệp Nhànước cổ phần hóa có quy mô nhỏ, không phải là doanh nghiệp thuộc các lĩnh vựckinh doanh hấp dẫn đầu tư Một số công ty sau khi niêm yết đã bộc lộ những yếukém trong quản trị kinh doanh, đầu tư không có hiệu quả gây mất lòng tin của giớiđầu tư Có thể nhận diện một số nguyên nhân chủ yếu sau :
- Sự bất cập của tiến trình cổ phần hóa : các doanh nghiệp CPH chủ yếu làdoanh nghiệp vừa và nhỏ Khó khăn gặp phải là vấn đề trong định giá tài sản, xử lý
nợ quá hạn, hạn chế về năng lực và những tồn tại về mặt tư tưởng, nhận thức củanhững người quản lý doanh nghiệp Xét về mặt số lượng các doanh nghiệp cầnCPH thì việc thực hiện CPH mới chỉ đạt 63% kế hoạch đặt ra Việc CPH cũng diễn
ra thiếu triệt để và xuất hiện hiện tượng Nhà nước hóa các công ty cổ phần, làmcản trở hoạt động đầu tư tư nhân và giảm hiệu quả cảu doanh nghiệp
- Các doanh nghiệp chưa có nhận thức đầy đủ về lợi ích của việc ra niêm yếttại TTCK, chưa quen với một văn hóa kinh doanh minh bạch, các doanh nghiệp coiviệc công bố thông tin và đáp ứng những chuẩn mực về kiểm toán, kế toán, quảntrị công ty là một gánh nặng và không muốn ra niêm yết trên TTCK
- Xuất phát điểm của nền kinh tế Việt Nam là sở hữu nhà nước, DNNN dựachủ yếu vào hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh để vay vốn hoạt động.Mặc dù đã thực hiện sự chuyển đổi sang cơ chế thị trường và CPH trong một thờigian đáng kể song cơ chế bao cấp tín dụng, tâm lý lệ thuộc vào tín dụng ngân hàngvẫn còn phổ biến khiến cho các doanh nghiệp chưa thực sự có nhu cầu và nhậnthức được lợi ích của việc huy động vốn qua TTCK
+ Hạn chế về cầu chứng khoán : TTCK Việt Nam chưa có một hệ thống các
nhà đầu tư bao gồm các nhà đầu tư có tổ chức và nhà đầu tư cá nhân Phần lớn cácnhà đầu tư trên thị trường là nhà đầu tư nhỏ lẻ và chưa có nhiều kinh nghiệm cũngnhư kiến thức về đầu tư chứng khoán Đây là một vấn đề có tính hai mặt, thịtrường chứng khoán chưa hoàn thiện, thiếu các tổ chức có vai trò trụ cột trong tạo
Trang 5lập thị trường; hệ thống văn bản pháp quy chưa đầy đủ, hàng hóa ít ỏi là nguyênnhân khiến cho TTCK chưa hấp dẫn với các nhà đầu tư trong và ngoài nước Cácnhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường chứng khoán còn hạn chế do chất lượngcác cổ phiếu được niêm yết trên thị trường chưa thực sự hấp dẫn, quy mô thịtrường nhỏ, thị phần đầu tư thấp và chưa tiếp cận được với những thông tin doanhnghiệp cần thiét để ra quyết định đầu tư Trong khi đó, nhà đầu tư trong nước lạigặp phải những trở ngại về mặt kiến thức và kinh nghiệm
+ Hạn chế về mặt thể chế thị trường: Xét từ góc độ thu hút vốn đầu tư thì
những hạn chế về mặt thể chế thị trường là một trở ngại đáng kể, không chỉ trênphương diện duy trì tính toàn vẹn của thị trường và niềm tin của công chúng đầu tưtrong và ngoài nước Đối với một thị trường mới hình thành và phát triển thì việcchưa có được một thể chế thị trường hoàn chỉnh là điều tất yếu Sự vắng mặt củacác tổ chức tự quản, tổ chức định mức tín nhiệm, trung tâm lưu ký và thanh toán
bù trừ chứng khoán, phạm vi hoạt động còn hạn hẹp và tính chuyên môn hóa chưacao của các công ty chứng khoán là những điểm yếu khiến cho các nhà đầu tưtrong nước cũng như nước ngoài coi việc đầu tư vào TTCK phần nào mang tínhchất mạo hiểm
+ Hạn chế về mặt khuôn khổ pháp luật và năng lực hoạch định chính sách: Trở ngại lớn nhất hiện nay là TTCK chưa có được một Luật chứng khoán
toàn diện và đầy đủ Lĩnh vực chứng khoán và TTCK còn chịu sự điều chỉnh củacác văn bản pháp luật khác như Luật doanh nghiệp, Luật các Tổ chức tín dụng,Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật phá sản Do vị thế pháp lý của Nghị định 144/CPthấp hơn các Luật liên quan và môi trường pháp lý hiện hành còn chưa đầy đủ thìnhững bất cập, xung đột giữa các văn bản pháp luật liên quan đến TTCK là điềukhó tránh khỏi Khuôn khổ pháp lý thiếu đồng bộ, hay thay đổi khiến cho các nhàđầu tư thiếu sự an tâm khi tham gia đầu tư trên TTCK Điều này cho thấy sự cầnthiết và tầm quan trọng của việc xây dựng một Luật chứng khoán Bên cạnh đó,
Trang 6năng lực hoạch định chính sách và thực thi luật pháp cũng là một vấn đề cần tínhđến Đánh giá một cách khách quan, UBCKNN và những cơ quan quản lý liênquan khác trên thị trường vốn chưa có đủ năng lực cần thiết để thực hiện chức nănggiám sát, quản lý và cưỡng chế thực thi các chính sách trên TTCK một cách hiệuquả Điều này xuất phát từ thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý thị trường thiếu kinhnghiệm, khả năng xây dựng và thực thi các chính sách thích hợp nhằm khuyếnkhích sự phát triển của thị trường, thu hút và bảo vệ nhà đầu tư.
2.1.3 Nguyên nhân của hạn chế :
Thứ nhất, Đảng và Chính phủ chủ trương phát triển hệ thống thị trường tài
chính, trong đó có thị trường vốn, TTCK Tuy nhiên trong điều hành thực tiễn thì
hệ thống thị trường bị chia cắt, chưa có một chiến lược phát triển thị trường tàichính nói chung Vì vậy, định hướng và giải pháp thực hiện thiếu đồng bộ, chưacoi việc phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán là khâu đột phá trongchiến lược phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Thứ hai, nền kinh tế Việt Nam còn khó khăn, thu nhập của dân chúng thấp
(bình quân đầu người năm 2003 chỉ có 470 USD) chưa có chính sách phù hợp đểkhai thác nguồn lực tài chính trong dân, nguồn vốn bị phân tán để đầu tư vào cáctài sản thay thế như tiền gửi ngân hàng, đầu tư bất động sản, ngoại tệ vv Tỷ trọngđầu tư vào chứng khoán còn quá nhỏ bé, tổng giá trị thị trường mới chiếm khoảng3,7% GDP
Thứ ba, tiến trình cải cách khu vực DNNN diễn ra chậm, chưa gắn được CPH
DNNN với việc phát hành cổ phiếu ra công chúng và niêm yết trên TTCK Việcphát hành cổ phiếu chủ yếu là bán trong nội bộ doanh nghiệp, công tác định giá tàisản còn mang nặng tính hành chính, chưa thực hiện công khai hóa ra công chúng.Mặc dù đã có các chủ trương, chính sách về cải cách doanh nghiệp tạo điều kiệncho việc tăng cung hàng hóa chứng khoán, nhưng trên thực tế việc triển khai CPH
và gắn với niêm yết cổ phiếu cảu các doanh nghiệp có quy mô lớn, các tổng công
Trang 7ty, NHTMNN diễn ra chậm chạp.
Thứ tư, các doanh nghiệp Việt Nam còn mang năng tư tưởng của cơ chế kế
hoạch hóa tập trung, còn trông chờ vào nguồn vay ưu đãi, không muốn huy độngvốn trên thị trường Nhiều doanh nghiệp e ngại kiểm toán và công bố thông tin khiniêm yết trên TTCK Ngoài ra, ở một số công ty niêm yết tỷ lệ vốn thuộc sở hữunhà nước còn khá cao do vậy khối lượng cổ phiếu thực sự đưa vào giao dịch rấtthấp
2.2 Khái quát về hệ thống ngân hàng Việt Nam
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam:
Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam gắn liền với lịch sử pháttriển của từng thời kỳ cách mạng và công cuộc xây dựng đất nước
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phongkiến dưới sự thống trị của thực dân Pháp Hệ thống tiền tệ, tín dụng ngân hàngđược thiết lập và bảo hộ bởi thực dân Pháp thông qua Ngân hàng Đông Dương-vừađóng vai trò là ngân hàng trung ương trên toàn cõi Đông Dương (Việt Nam, Lào,Campuchia), vừa là ngân hàng thương mại Bước sang năm 1950, công cuộc khángchiến chống Pháp ngày một tiến triển mạnh mẽ với những chiến thắng vang dộitrên khắp các chiến trường và mở rộng vùng giải phóng Trên cơ sở chủ trươngchính sách mới về tài chính – kinh tế mà Đại hội Đảng lần thứ 11 (tháng 2/1951)
đã đề ra, ngày 6 tháng 5 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SLthành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam – Ngân hàng của nhà nước dân chủ nhândân đầu tiên ở Đông Nam Á
Tháng 7 năm 1976, đất nước được thống nhất, nước Cộng hoà Xã hội Chủnghĩa Việt Nam ra đời Theo đó, Ngân hàng Quốc gia ở Miền Nam được hợp nhầtvào NHNN Việt Nam, tạo thành hệ thống Ngân hàng Nhà nước duy nhất của cảnước Hệ thống tổ chức thống nhất của NHNN bao gồm : Ngân hàng Trung ươngđặt trụ sở chính tại thủ đô Hà Nội, các Chi nhánh Ngân hàng tại các tỉnh, thành phố
Trang 8và các chi điếm ngân hàng cơ sở tại các huyện, quận trên phạm vi cả nước.
Thời kỳ 1975-1985 : Là giai đoạn 10 năm khôi phục kinh tế sau chiến tranhgiải phóng và thống nhất nước nhà, là thời kỳ xây dựng hệ thống ngân hàng mớicủa chính quyền cách mạng; tiến hành thiết lập hệ thống ngân hàng thống nhấttrong cả nước và thanh lý hệ thống ngân hàng của chế độ cũ ở miền Nam Theo đó,Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của chính quyền Việt Nam cộng hoà (ở miền Nam)
đã được quốc hữu hóa và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,cùng thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả nước, phát hành các loại tiềnmới của nước CHXHCN Việt Nam, thu hồi các loại tiền cũ ở cả hai miền Nam-Bắc vào năm 1978 Đến cuối những năm 80, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơbản vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt độngkinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường Sự thay đổi về chất trong hoạt độngcủa hệ thống ngân hàng – chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế thị trường chỉđược bắt đầu khởi xướng từ cuối những năm 80, và kéo dài cho tới ngày nay
Thời kỳ 1986 đến nay : Từ năm 1986 đến nay đã diễn ra nhiều sự kiện quantrọng, đánh dấu sự chuyển biến căn bản của hệ thống Ngân hàng Việt Nam
Từ năm 1986 đến năm 1990: Thực hiện tách dần chức năng quản lý Nhà nước
ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, chuyển hoạt động ngân hàng sanghạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa Cơ chế mới về hoạt động ngân hàng đãđược hình thành và hoàn thiện dần Tháng 5/1990, hai pháp lệnh ngân hàng ra đời(Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tíndụng và công ty tài chính) đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thốngNgân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp, trong đó lần đầu tiên đối tượng nhiệm vụ
và mục tiêu hoạt động của mỗi cấp được luật pháp phân biệt rạch ròi Trong thờigian này 4 ngân hàng thương mại quốc doanh lớn đã được thành lập gồm : Ngânhàng Nông nghiệp Việt Nam; Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam; Ngânhàng Công thương Việt Nam; và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Trang 9Năm 1993 : Bình thường hóa các mối quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệquốc tế (IMF, WB, ADB)
Năm 1995 : Quốc hội thông qua nghị quyết bỏ thuế doanh thu đối với hoạtđộng ngân hàng; thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo
Năm 1997 : Quốc hội X thông qua Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam vàLuật các tổ chức tín dụng; Thành lập Ngân hàng phát triển Nhà Đồng bằng SôngCửu Long
Năm 1999 : Thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Năm 2000 : Cơ cấu lại tài chính và hoạt động của các NHTMNN và cơ cấu lạitài chính và hoạt động của các NHTMCP
Năm 2002 : Tự do hóa lãi suất cho vay VND của các tổ chức tín dụng-bướccuối cùng tự do hóa hoàn toàn lãi suất thị trường tín dụng ở cả đầu vào và đầu ra.Năm 2003 : Tiến hành cơ cấu lại theo chiều sâu hoạt động phù hợp với chuẩnquốc tế đối với các Ngân hàng thương mại; Thành lập NH Chính sách xã hội trên
cở Ngân hàng phục vụ người nghèo để tiến tới tách bạch tín dụng chính sách vớitín dụng thương mại theo cơ chế thị trường; Tiến hành sửa bước 1 Luật NHNNVN.Trải qua hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, Hệ thống ngân hàng nước ta
đã góp phần xứng đáng vào những thành tựu của cuộc cách mạng Việt nam Chođến ngày hôm nay, hệ thống ngân hàng vẫn là nhân tố nòng cốt, tích cực trongcông cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa, vận hành bằng cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhànước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
2.2.2 Quá trình hình thành và phát triển các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Sự ra đời và hoạt động của các NHTMCP Việt Nam gắn liền với quá trình đổimới hoạt động hệ thống ngân hàng thông qua việc chuyển đổi từ hệ thống ngânhàng 1 cấp thành hệ thống ngân hàng 2 cấp (Ngân hàng Nhà nước và các ngân
Trang 10hàng thưong mại), trong bối cảnh kinh tế nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế kếhoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa
Không phải đến hôm nay ngành ngân hàng mới đề cập đến 2 chữ “cổ phần”
mà nó đã có từ lâu, chính xác hơn là cách đây 14 năm kể từ khi Pháp lệnh Ngânhàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính ra đời năm 1990 (nay là Luật các tổchức tín dụng) Ngân hàng Nhà nước Việt nam đã tiến hành cấp phép cho loại hìnhNHTMCP hoạt động từ thời điểm đó, với mô hình : “NHTMCP là NHTM đượcthành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó một cá nhân hoặc một tổ chứckhông được sở hữu số cổ phần của ngân hàng quá tỷ lệ do NHNN quy định” Tháng 12 năm 1997 Luật các Tổ chức tín dụng ra đời, NHTMCP được quyđịnh là Ngân hàng cổ phần của Nhà nước và nhân dân Có 2 loại hình NHTMCPđược thành lập theo các Pháp lệnh về Ngân hàng (bằng cách điều chỉnh từ tổ chứctín dụng cũ hoặc thành lập mới) là NHTMCP đô thị (có trụ sở chính tại các đô thịlớn) và NHTMCP nông thôn (có trụ sở đặt tại các thị trấn, thị tứ)
Ngay từ thời gian đầu năm 1990, ở nước ta đã có 15 NHTMCP Trong vòng 5năm sau, số NHTMCP ở nước ta đã lên tới 54 ngân hàng, trong đó có 33NHTMCP đô thị và 21 NHTMCP nông thôn Đó là một tốc độ mà không có bất
kỳ một nước nào trên thế giới có thể đạt được và một hệ thống NHTMCP được coi
là trẻ nhất trên thế giới, trong khi đó, số lượng NHTM quốc doanh lúc đó chỉ có 4
và vẫn được giữ nguyên
Theo quy định, bên cạnh chủ sở hữu là tổ chức Nhà nước (sở hữu phần vốncủa Nhà nước góp vào NHCP) thì NHTMCP còn có thể có nhiều chủ sở hữu khácnhư các cá nhân người Việt Nam, người nước ngoài, các tổ chức ngoài quốcdoanh, các tổ chức nước ngoài Nghĩa là, NHTMCP Việt Nam thuộc sở hữu cổđông, trong đó phải có cổ đông là tổ chức Nhà nước
Trong thời gian đầu, cổ đông trong các NTHMCP chủ yếu là doanh nghiệp
Trang 11nhà nước Thời gian sau này các công ty tư nhân, công ty TNHH, hộ kinh doanh và
cá nhân chiếm tỷ trọng lớn hơn Đây là lĩnh vực thể hiện rõ nhất chủ trương pháttriển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Chính phủ Việt nam được thực hiệntrong lĩnh vực ngân hàng, một ngành được coi là quan trọng hàng đầu của đấtnước Hay nói cách khác, ngân hàng là ngành có tổ chức cổ phần chiếm tỷ trọnglớn so với các ngành kinh tế khác
Tuy nhiên, do còn rất non trẻ, hoạt động trong môi trường chưa ổn định, cácNHTMCP đều còn non nớt, tình trạng mất khả năng chi trả của nhiều NHTMCP đãlàm mất lòng tin của dân chúng Kể từ năm 1998, Chính phủ đã thực hiện một sốbiện pháp nhằm chấn chỉnh củng cố lại hệ thống ngân hàng, chủ yếu là cải thiệnkhung pháp lý và cơ cấu lại hệ thống NHTMCP Bên cạnh một số ít NHTMCPhoạt động lành mạnh, có hiệu quả, đóng góp vào việc đa dạng hóa các trung giantài chính và việc phát triển hệ thống ngân hàng ở nước ta thì một số NHTMCPkhác do quản lý yếu kém đã làm giảm niềm tin của công chúng vào hệ thốngNHTMCP và gây nhiều trở ngại cho tiến trình cải cách ngân hàng của Chính phủ Theo Nghị định 82/1998/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 3 tháng 10 năm
1998 các NHTMCP đô thị phải có mức vốn pháp định tối thiểu là 50 tỷ đồng (nếungân hàng tại Hà nội và TP HCM thì vốn pháp định tối thiểu là 70 tỷ đồng,NHTMCP nông thôn tối thiểu là 5 tỷ đồng), đã có một số ngân hàng phát hànhthêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ đáp ứng yêu cầu về mức vốn pháp định Nhưngviệc tăng vốn thông qua phát hành cổ phiếu là một giải pháp khó thực hiện, nhất làtrong tình hình hệ thống NHTMCP có những biến động tác động tiêu cực đến niềmtin của các cổ đông tương lai
Để góp phần giải quyết tình trạng yếu kém trong hệ thống các NHTMCP,phương thức sáp nhập hay mua lại ngân hàng đã được sử dụng, đặc biệt qúa trìnhnày diễn ra mạnh mẽ nhất vào năm 2000 Như vậy, cùng một lúc giải quyết đượchai vấn đề là các ngân hàng có thể tích tụ, tập trung củng cố để đáp ứng quy định
Trang 12của Chính phủ đồng thời quy mô ngân hàng cũng trở nên lớn hơn Tuy nhiên, việcsáp nhập hay mua lại chưa đảm bảo giải quyết được vấn đề cơ bản là nâng caotrình độ quản lý Như vậy, bản thân các ngân hàng sau khi sáp nhập vẫn chứa đựngnhững nguy cơ tiềm tàng.
Sau một thời gian dài chấn chỉnh và cơ cấu lại, đến nay hình ảnh và vị thế củacác NHTMCP Việt nam đã được cải thiện trong mắt công chúng và cả trong hệthống ngân hàng Đến cuối năm 2003, số lượng các NHTMCP sau cải tổ, cơ cấu lại
là 34 ngân hàng, trong đó có 22 NHTMCP đô thị và 12 NHTMCP nông thôn Kếtquả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP ngày càng có chiều hướng tích cực,đặc biệt là tốc độ tăng vốn và lãi suất của cổ đông Trong 2 năm trở lại đây, cácngân hàng đều trong quá trình “thắt lưng buộc bụng” để tăng vốn điều lệ Một sốđơn vị đã thành công với chiến lược tăng vốn của mình và trở thành nhữngNHTMCP hàng đầu như : Sacombank hiện có 505 tỷ đồng; ACB với 481 tỷ đồng
Kế đến là NHCP xuất nhập khẩu Eximbank với 300 tỷ đồng, NHTMCP Quân dội
280 tỷ đồng, VIB 180 tỷ đồng
Tính đến hết năm 2003 đã thực hiện được mục tiêu chính là xây dựng hệthống NHTMCP lành mạnh, có quy mô phù hợp hơn và có nhiều khả năng cạnhtranh Có thể nói, đến thời điểm này, các ngân hàng đã chuẩn bị sẵn sàng cho thời
kỳ hội nhập với các tổ chức thương mại quốc tế và thực hiện cam kết Hiệp địnhthương mại Việt-Mỹ; theo đó, ngân hàng sẽ phải đối đầu với những cạnh tranh gaygắt
Sự ra đời của các NHTMCP mới là bước tiến lớn của hệ thống NHTM ViệtNam Lần đầu tiên các ngân hàng đã có sự cạnh tranh và nỗ lực để đạt hiệu quảkinh tế tốt hơn Sau gần 14 năm hoạt động, hệ thống NHTMCP đã trải qua nhữngthăng trầm để tồn tại, ngày càng được hoàn thiện và không ngừng phát triển, đồngthời khẳng định vai trò, vị trí của mình trong hệ thống Ngân hàng, góp phần tíchcực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
Trang 132.2.3 Đề án cải cách các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam:
Sau một thời gian kể từ khi loại hình NHTMCP ra đời năm 1990, hoạt động
của các NHTMCP đã bộc lộ nhiều yếu kém Khủng hoảng tài chính năm
1997-1998 gây chấn động hệ thống ngân hàng trong khu vực, đồng thời cho thấy nguy
cơ tiềm ẩn của sự suy sụp đối với hệ thống ngân hàng trong nước Việc chấn chỉnh,củng cố hệ thống ngân hàng nước ta được đặt ra, trước tiên là đối với hệ thống cácngân hàng TMCP đang rất mạnh về số lượng nhưng yếu về chất lượng
Trước tình hình đó, NHNN đã lập đề án trình Chính phủ về việc củng cố sắpxếp các NHTMCP và đã được Chính phủ phê duyệt NHNN đã chủ động phối hợpchặt chẽ với UBND các tỉnh, thành phố có NHTMCP trên địa bàn, trước tiên làThành phố Hồ Chí Minh để triển khai thực hiện đề án này Nội dung chủ yếu của
đề án này nhằm cơ cấu lại các NHTMCP cả về quy mô và chất lượng Trọng tâm là: tăng vốn điều lệ, làm sạch bảng cân dối, áp dụng các biện pháp ngăn ngừa nợ xấuphát sinh, tổ chức lại bộ máy, hiện đại hóa công nghệ đảm bảo hoạt động kinhdoanh an toàn, hiệu quả
NHNN đã xem xét đặt một số NHTMCP vào tình trạng kiểm soát đặc biệt
và sử dụng các biện pháp cần thiết để ổn định tình hình như củng cố bộ máy nhân
sự, lãnh đạo Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc; đồng thời NHNNyêu cầu các NHTMCP tăng vốn điều lệ theo quy định; thực hiện sáp nhập, hợpnhất và mua lại một số NHTMCP; thu hồi giấy phép hoạt động đối với những ngânhàng yếu kém Để tăng cường giám sát quản lý đối với các NHTMCP, NHNN đãchỉ đạo các NHTMQD góp vốn và cử người tham gia quản trị, kiểm soát đối vớicác NHTMCP Việc xử lý đối với các NHTMCP luôn quán triệt nguyên tắc chung
là đảm bảo sự an toàn chung cho toàn hệ thống, ổn định kinh tế xã hội, bảo vệ lợiích hợp pháp của người gửi tiền, đồng thời xử lý nghiêm những trường hợp saiphạm
Nhìn chung công tác thực hiện đề án củng cố sắp xếp lại các NHTMCP đã
Trang 14đạt được một số kết quả tích cực, nhờ đó chặn đứng được nguy cơ đổ vỡ hệ thống,giảm đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế.
2.3 Thực trạng các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
2.3.1 Thực trạng vốn chủ sở hữu:
Tính đến thời điểm cuối năm 2003, vốn điều lệ của hầu hết các NHTMCP đều
đã được tăng lên Thời điểm mới ra đời NHTMCP, các nhà đầu tư tuân thủ theoQuyết định số 223/QĐ-NH5 ngày 27/11/1993 và Thông tư số 03/TT-NH5 ngày22/02/1994 của NHNN về vốn điều lệ, cụ thể như sau :
Bảng 2.1: Vốn điều lệ quy định dối với các TCTDCP các năm 1994, 1995, 1996
NHTMCP nông thôn không có chi nhánh 0,5 0,7 1
Đến năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 82/1998/NĐ-CP quy địnhmức vốn pháp định của các TCTD, trong đó có các NHTMCP đô thị và nông thôn,
Thực tế của các NHTMCP Việt Nam hiện nay là các NHTMCP này phát hành
cổ phiếu lần đầu để thành lập và phát hành các lần sau tiếp theo để tăng vốn điều lệtheo yêu cầu của NHNN hoặc do nhu cầu phát triển hoạt động kinh doanh củangân hàng Tất cả các NHTMCP mới chỉ thực hiện phương thức phát hành riêng
Trang 15lẻ, nghĩa là khi thành lập cũng như khi tăng vốn, các NHTMCP Việt Nam huyđộng vốn chủ sở hữu dưới hình thức kêu gọi các cổ đông hoặc nhóm cổ đông quenbiết lẫn nhau cùng góp vốn thành lập ngân hàng và ghi nhận phần vốn góp của mỗi
Trước đây, khi thành lập, các NHTMCP thường theo dõi vốn góp của các cổđông thông qua việc ghi sổ Sau đó, theo yêu cầu của NHNN (theo Quy chế banhành theo Quyết định số 275/QĐ-NH5 ngày 7/11/1994 của Thống đốc Ngân hàngNhà nước), các NHTMCP phát hành cổ phiếu có ghi tên theo mẫu quy định củaNHNN Do đó, cổ phiếu của các NHTMCP đều là cổ phiếu phổ thông có ghi tên.Tuỳ từng ngân hàng mà mệnh giá của mỗi cổ phiếu có mức khác nhau: nếu ngânhàng có các cổ đông với tiềm lực vốn lớn thì mệnh giá thường cao (5 triệu đến 10triệu đồng/1 cổ phiếu), những ngân hàng có cổ đông đại chúng thì mệnh giá thấp.Ngoài ngân hàng Sài gòn Thương tín phát hành mệnh giá 0,2 triệu đồng/1 cổphiếu, đa số các ngân hàng phát hành với mệnh giá 1 triệu đồng/cổ phiếu
Tình hình huy động vốn chủ sở hữu (vốn điều lệ) của các NHTMCP qua cácnăm 2001-2003 như sau :
Bảng 2.2 : Vốn điều lệ các NHTMCP đô thị 2001-2003
Đơn
Trang 16NĐ 82
31/12/2001 31/12/2002 31/12/2003 Vốn thực
tế đạt được
Vốn thực tế/
Vốn pháp định (%)
Vốn thực
tế đạt được
Vốn thực tế/Vố n pháp định (%)
Vốn thực
tế đạt được
Vốn thực tế/Vố n pháp định (%)