1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY NIÊM YẾT CỔ PHIẾU CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM TRÊN TTCK

24 497 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Thúc Đẩy Niêm Yết Cổ Phiếu Các Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Nam Trên Ttck
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Đề Tài Tốt Nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 36,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

lượng và chất lượng của các chứng khoán niêm yết trên TTCK thông qua việc gắnkết công tác CPH DNNN, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với việc pháthành chứng khoán ra công chúng để n

Trang 1

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY NIÊM YẾT CỔ PHIẾU CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM TRÊN TTCK

3.1 Định hướng và giải pháp phát triển TTCKVN

3.1.1 Mục tiêu

Phát triển TTCK cả về quy mô và chất lượng hoạt động nhằm tạo ra kênh huyđộng vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển, góp phần phát triển thị trường tàichính Việt Nam; duy trì trật tự, an toàn, mở rộng phạm vi, tăng cường hiệu quảquản lý, giám sát trị trường nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đầutư; từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tàichính quốc tế

3.1.2 Quan điểm phát triển thị trường chứng khoán

Một là, phát triển TTCK phù hợp với điều kiện thực tế và định hướng pháttriển kinh tế-xã hội của đất nước và thông lệ quốc tế, từng bước hội nhập với thịtrường tài chính khu vực

Hai là, tổ chức và vận hành TTCK an toàn, hiệu quả, đảm bảo tính thống nhấtcủa thị trường tài chính, gắn phát triển TTCK với phát triển thị trường vốn, thịtrường tiền tệ

Ba là, thực hiện quản lý nhà nước về TTCK bằng công cụ pháp luật, tạo điềukiện và khuyến khích các chủ thể tham gia TTCK, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp cho các nhà đầu tư

Bốn là, gắn việc phát triển TTCK với tiến trình CPH các DNNN, doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và huy động vốn cho ngân sách, cho đầu tư pháttriển

3.1.3 Giải pháp thực hiện

Thứ nhất, thúc đẩy việc tăng cung chứng khoán trên cơ sở tăng cường số

Trang 2

lượng và chất lượng của các chứng khoán niêm yết trên TTCK thông qua việc gắnkết công tác CPH DNNN, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với việc pháthành chứng khoán ra công chúng để niêm yết trên TTCK.

Thứ hai, phát triển cơ sở nhà đầu tư có tổ chức và nhà đầu tư cá nhân trong và

ngoài nước trên cơ sở tạo lập môi trường thông thoáng để phát triển các định chếđầu tư chuyên nghiệp nhằm định hướng đầu tư cho các nhà đầu tư nhỏ thông quaviệc thực hiện các chính sách khuyến khích về thuế, phí, lệ phí và quản lý ngoạihối Từng bước nghiên cứu để trình cơ quan có thẩm quyền mở rộng tỷ lệ tham giacủa nhà đầu tư nước ngoài trên TTCK Việt Nam

Thứ ba, từng bước hoàn thiện các thể chế TTCK và tăng cường năng lực cho

các định chế trung gian tham gia thị trường trên cơ sở củng cố và hiện đại hóa cácđịnh chế thị trường đã có sẵn như TTGDCK, công ty chứng khoán và công ty quản

lý quỹ

Thứ tư, phát triển TTCK trong mối tương quan chặt chẽ với các khu vực khác

của thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường bảo hiểm và thị trường tiền tệ nhằmtạo ra sự cân đối vững chắc trong cấu trúc tài chính để huy động các nguồn lực chophát triển Từng bước hoàn thiện các thể chế TTCK để có thể tham gia vào tiếntrình hội nhập vào các nền kinh tế, trước mắt là hội nhập vào thị trường vốn khuvực ASEAN thông qua việc tham gia vào phát trỉen thị trường trái phiếu Châu Á

và kết nối với thị trưòng vốn Singapore

Thứ năm, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và nâng cao

năng lực hoạch định chính sách về chứng khoán và TTCK thông qua việc xây dựngLuật chứng khoán nhằm tạo lập môi trường pháp luật toàn diện, nhất quán và đồng

bộ với các văn bản pháp luật khác, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham giathị trường

Trang 3

Thứ sáu, nâng cao vai trò quản lý nhà nước và tăng cường công tác giám sát

thị trường nhằm đảm bảo môi trường công bằng, công khai, minh bạch, qua đógiảm thiểu các rủi ro, tạo niềm tin cho nhà đầu tư trên TTCK

3.2 Định hướng phát triển ngân hàng thương mại cổ phần Việt nam

3.2.1 Nhu cầu niêm yết cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

3.2.1.1 Nhu cầu của bản thân ngân hàng thương mại cổ phần:

Sau 4 năm thực hiện chương trình cơ cấu lại các NHTMCP và công ty tàichính cổ phần, số lượng tổ chức này ở nước ta đã giảm từ con số 52 xuống còn 37,chủ yếu do sáp nhập, bán lại để tăng quy mô và tăng tính hệ thống Đến nay hầuhết các TCTD cổ phần này đã tăng đủ vốn điều lệ theo quy định của Chính phủ.Một số NHTMCP có số vốn điều lệ tới hàng trăm tỷ đồng Đồng thời ở thời điểmnày về cơ bản là các NHTMCP bảo đảm được tỷ lệ an toàn vốn theo thông lệ quốc

tế, tức là tỷ lệ vốn điều lệ trên tài sản có đạt tối thiểu là 8% Song với tốc độ tăngtrưởng dư nợ bình quân đạt 25%/năm, thì tổng tài sản có cũng tăng với tỷ lệ tươngứng Trong khi số vốn điều lệ không tăng, thì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo thông

lệ quốc tế cũng giảm tương ứng là 25%/năm trong các năm tới đây

Bên cạnh đó, hệ thống NHTMCP VN đang đứng trước yêu cầu cấp bách phảinâng cao khả năng cạnh tranh trong điều kiên hội nhập khu vực và quốc tế theocam kết mở cửa thị trường tài chính và dịch vụ ngân hàng Song hiện tại mặc dù đãtăng đủ vốn theo quy định, nhưng quy mô còn rất nhỏ so với các ngân hàng trongkhu vực chứ chưa nói đến phạm vi quốc tế Hiện nay bình quân vốn điều lệ của cácNHTMCP đô thị là 100 tỷ đồng, tương ứng với trên 6 triệu USD NHTMCP có sốvốn lớn nhất cũng chỉ đạt trên 500 tỷ đồng, tương ứng với trên 30 triệu USD, chỉbằng khoảng 12%-18% vốn điều lệ trung bình một ngân hàng trong khu vực Vốnđiều lệ thấp sẽ bị hạn chế về khả năng huy động vốn, hạn chế trạng thái ngoại hối,hạn chế tiềm lực tài chính để đầu tư hiện đại hóa công nghệ ngân hàng và hạn chếđầu tư cho phát triển màng lưới, mở rộng thị phần cho vay Do đó, yêu cầu cấp

Trang 4

bách đặt ra hiện nay là phải tiếp tục tăng vốn điều lệ cho các NHTMCP, trong đóbiện pháp thông qua thị trường tập trung là một hướng đầy triển vọng.

Về uy tín, sau thời gian cơ cấu lại, hệ thống NHTMCP nước ta đã thay đổi cơbản về chất Bộ máy điều hành được nâng cao trình độ, nhân viên được tuyển chọnbám sát tiêu chuẩn và quy trình của quốc tế, có trình độ chuyên môn nghiệp vụcao Công nghệ ngân hàng được đẩy mạnh đầu tư Các sản phẩm và dịch vụ ngânhàng có chất lượng cao và đa dạng, có hiệu quả Do đó đến nay tất cả cácNHTMCP đều kinh doanh có lãi, nhiều ngân hàng có số lãi lớn Mức cổ tức trên10% tính đến cuối năm 2003 cao hơn rất nhiều lãi suất trái phiếu kho bạc, tráiphiếu NHTM nên cổ phiếu của các NHTMCP đương nhiên hấp dẫn các nhà đầu

tư mua cổ phiếu nếu nó được phát hành ra Sự tin tưởng của các nhà đầu tư tươnglai còn dựa trên cơ sở báo cáo tài chính minh bạch và rõ ràng của các NHTMCP đôthị đều được kiểm toán quốc tế, Thanh tra NHNN giám sát chặt chẽ Ngay nhưCông ty tài chính quốc tế IFC thuộc WB đã bỏ ra gần 10 triệu USD mua cổ phầncủa NHTMCP Đông Á và NHTMCP Sài Gòn thương tín Nhiều nhà đầu tư quốc tếđang rất quan tâm đầu tư vốn mua cổ phần của các NHTMCP VN Như vậy có thểnói đã chín muồi các điều kiện cần và điều kiện đủ cho các NHTMCP niêm yết vàphát hành cổ phiếu trên TTCK

3.2.1.2 Nhu cầu từ cải cách hệ thống ngân hàng:

Những năm gần đây, trong điều kiện nền kinh tế mở, nhiều loại hình TCTD ởnước ta, nhất là các NHTMCP khi được thành lập với điểm xuất phát thấp, sau mộtthời gian hoạt động đã bộc lộ những yếu kém, bất cập về vốn, công nghệ, trình độquản lý, quản trị và điều hành Nhiều ngân hàng phải gặp khó khăn, phải đặt trongtình trạng kiểm soát đặc biệt, nếu không có “bàn tay của Nhà nước” trợ giúp kịp

Trang 5

thời thì có nguy cơ không đủ khả năng chi trả, có thể phải phá sản, mất lòng tin vớidân chúng, tác động xấu tới nền kinh tế Thực trạng trên đã được Bộ Chính trị vàChính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo để sắp xếp, chấn chỉnh và đổi mới hệ thốngngân hàng ở nước ta.

Việc sắp xếp, sáp nhập, mua lại và giải thể áp dụng với các NHTMCP đãmang lại những kết quả khả quan với việc tạo ra các NHTMCP mới có năng lực tàichính mạnh hơn hẳn, cơ cấu tổ chức được cải tổ, hoạt động quản trị điều hànhđược nâng cao Song song bên cạnh đó, các NHTMQD cũng đang được tiến hành

cổ phần hóa từng bước, tiến tới thực hiện quản lý hoạt động của các ngân hàng nàynhư đối với các công ty cổ phần Những giải pháp lớn và mạnh mẽ này đang đượctiến hành với toàn bộ hệ thống ngân hàng

Với những ưu thế cạnh tranh cao của mô hình công ty cổ phần, hệ thốngNHTM Việt Nam chắc chắn sẽ có được khả năng tài chính rất lớn, chất lượng hoạtđộng và uy tín cao hơn so với hiện nay rất nhiều, đặc biệt là khi các NHTM nàytham gia trên TTCK Hệ thống tài chính Việt Nam nói chung và hệ thống ngânhàng nói riêng đang có những bước đi đáng kể chuyển từ kiểm soát trực tiếp sangvận hành theo cơ chế thị trường, điều hành bằng pháp luật Quy định cho phép sựtham gia của cổ đông nước ngoài với tỷ lệ nhất định trong lĩnh vực ngân hàng chophép thu hút đầu tư quốc tế, từ đó tiếp thu và học tập được công nghệ ngân hànghiện đại cũng như các phương pháp quản lý hoạt động tiên tiến của các ngân hàngtrên thế giới Với nhu cầu tăng vốn, mở rộng khả năng tài chính, với yêu cầu về sựminh bạch, chuẩn hóa trong thông tin và hoạt động nghiệp vụ, với những cải cách,thay đổi mạnh mẽ của hệ thống NHTM Việt Nam, việc các NHTM tham gia niêmyết trên TTCK đang là vấn đề được đặt ra phù hợp với thực tiễn hiện nay

3.2.1.3 Nhu cầu từ phát triển thị trường chứng khoán:

Trang 6

Qua 4 năm hoạt động của TTCK Việt Nam cho thấy công tác tạo hàng hóa choTTCK là rất quan trọng, song hiện nay đang gặp nhiều khó khăn Số lượng hànghóa tuy có tăng qua các năm song tăng rất chậm, các công ty niêm yết chủ yếu vẫn

là các công ty có quy mô vốn nhỏ Với khuôn khổ thị trường nhỏ bé, chất lượng cổphiếu chưa cao nên hoạt động thị trường không thể sôi nổi Quy mô nhỏ, giá cảchứng khoán và chỉ số chứng khoán luôn biến động, gây tâm lý dè dặt cho các nhàđầu tư tham gia TTCK

Một trong những nguyên nhân của tồn tại và hạn chế trong hoạt động củaTTCK hiện nay là do thị trường còn thiếu vắng các nhà đầu tư có tổ chức như cácngân hàng, bảo hiểm, tổ chức đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp nên ảnh hưởngđến tính ổn định của thị trường Vấn đề tăng cung chứng khoán trên cơ sở tăngcường số lượng và chất lượng của các tổ chức niêm yết, trong đó có các NHTM,đang là nhu cầu bức thiết được đặt ra trong giải pháp nhằm phát triển TTCK hiệnnay

3.2.2 Định hướng phát triển của TTCK và xu hướng phát triển của các NHTMCP Việt Nam:

Sự ra đời của TTCK Việt Nam là phù hợp với công cuộc đổi mới kinh tế đấtnước đang diễn ra mạnh mẽ Từ nay đến năm 2006 và giai đoạn tiếp theo đến năm

2010, TTCK Việt Nam phải được củng cố và phát triển trên tất cả các mặt : quy

mô, phạm vi ảnh hưởng, tính an toàn và hiệu quả nhằm góp phần phát triển nềnkinh tế Việt Nam, đáp ứng nhu cầu cấp bách về vốn đầu tư, thúc đẩy tiến trìnhCPH DNNN, tự do hóa tài chính và hội nhập thị trường tài chính quốc tế TTCKtập trung được phát triển theo mô hình từ TTGDCK lên SGDCK UBCKNN chủđộng, tích cực phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, các địa phương và doanhnghiệp nhằm đẩy mạnh công tác tạo hàng hóa cho thị trường, coi công tác pháttriển hàng hóa cho thị trường là công tác trọng tâm năm 2004, phối hợp với NHNN

Trang 7

nghiên cứu cho phép một số NHTMCP tham gia niêm yết trên TTCK, đồng thờiphối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét thí đỉem CPH để đưa vào niêm yếtmột số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Trong bối cảnh dân chúng chưa

am hiểu về TTCK, các trung gian tài chính chưa đủ mạnh thì hệ thống NHTM nóichung và NHTMCP nói riêng là một tác nhân cơ bản cho sự phát triển của thịtrường này

NHTMCP là một loại hình ngân hàng tồn tại khách quan, đã đáp ứng đượcnhững đòi hỏi nhất định của nền kinh tế, được khẳng định vị thế pháp lý của mìnhthông qua Luật các tổ chức tín dụng, phù hợp với chủ trương phát triển kinh tếnhiều thành phần theo định hướng XHCN của Đảng cộng sản Việt Nam Qúa trìnhhình thành và phát triển hệ thống NHTMCP đã có những đóng góp nhất định chocông cuộc đổi mới kinh tế ở đất nước ta do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nócũng khẳng định việc khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển kinh tế hànghóa theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủnghĩa Tuy nhiên, để đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế và để khẳng định vị thếcủa mình, các NHTMCP phải được xây dựng thành những ngân hàng đa năng cótầm cỡ khu vực và quốc tế Đây chính là mục tiêu cần phải đạt được và là xu thếphát triển tất yếu của các NHTMCP Việc niêm yết cổ phiếu của các NHTMCPtrên TTCK là một điều kiện thuận lợi để các ngân hàng này tham gia trên TTCK,thực hiện được mục tiêu đề ra

Như vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam theo định hường thịtrường, giữa NHTMCP và TTCK có mối quan hệ ngày càng khăng khít NHTMCPdựa vào TTCK để huy động vốn, thu lợi nhuận, nâng cao vị thế, uy tín và sức cạnhtranh, từng bước dạt được mục tiêu là xây dựng ngân hàng có tầm cỡ và hoạt động

đa năng Ngược lại, việc gia nhập TTCK của các NHTM nói chung và NHTMCPnói riêng là nhân tố hết sức quan trọng để thúc đẩy TTCK phát triển, đặt biệt làTTCK Việt Nam còn rất non trẻ như hiện nay

Trang 8

3.3 Xác lập tiêu chuẩn niêm yết cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

3.3.1 Quan điểm xác định tiêu chuẩn niêm yết cổ phiếu ngân hàng thương mại

cổ phần Việt Nam:

NHTMCP là một công ty cổ phần đặc biệt bởi loại hình kinh doanh mang tínhđặc thù của các ngân hàng - đó là kinh doanh tiền tệ Bởi vậy, NHTMCP trước tiênphải tuân thủ theo các quy định của Ngành, ngoài ra sẽ phải tuân thủ các quy địnhkhác có liên quan về chứng khoán và TTCK Tiêu chuẩn niêm yết cổ phiếuNHTMCP về cơ bản phải thoả mãn các điều kiện niêm yết trên TTCK như đối vớimột công ty cổ phần, nghĩa là cũng phải đảm bảo các quy định về vốn điều lệ, vềtình hình tài chính, về tỷ lệ các cổ đông và cơ cấu các cổ đông sở hữu , nhưngkhông được trái với các quy định chuyên ngành hoặc không phù hợp với thực tếhoạt động của ngành ngân hàng

Ngoài ra, do những đặc thù riêng của ngành ngân hàng, tiêu chuẩn niêm yết sẽđược bổ sung những tiêu chuẩn riêng có liên quan đến hoạt động ngân hàng như tỷ

lệ nợ xấu, đáp ứng các quy định về đảm bảo các chỉ tiêu an toàn trong hoạt độngngân hàng, về tuân thủ giới hạn sở hữu cổ phần theo quy định của Thống đốc, về

hồ sơ xin niêm yết v.v

Do đặc tính liên thông cao của hệ thống ngân hàng, do vị trí là huyết mạch củanền kinh tế, sự an toàn và ổn định hệ thống đối với các NHTMCP được đặt lênhàng đầu Các tiêu chuẩn niêm yết cổ phiếu đối với các NHTMCP do đó sẽ phảichặt chẽ hơn, yêu cầu cao hơn, đảm bảo các NHTMCP được niêm yết sẽ là nhữngngân hàng thực sự “khoẻ mạnh”, không chỉ đáp ứng nâng cao chất lượng hàng hóatrên TTCK mà còn đủ nội lực để canh tranh bình đẳng và an toàn

3.3.2 Hình thức niêm yết cổ phiếu NHTMCP Việt Nam

Trang 9

Theo Luật các tổ chức tín dụng, NHTMCP là “Ngân hàng cổ phần của Nhànước và nhân dân”, vốn sở hữu của các NHTMCP có phần vốn sở hữu củaNHTMQD hoặc của các DNNN Do vậy, hình thức niêm yết hiện nay sẽ là niêmyết từng phần, trong đó phần vốn góp của Nhà nước không được niêm yết.

Quan điểm của NHNN hiện nay thì cổ phiếu của Chủ tịch hội đồng quản trị,Tổng giám đốc và cổ phiếu của cổ đông nước ngoài không được phép niêm yết.Khi những kiến nghị lâu nay về việc xoá bỏ quy định bắt buộc có vốn sở hữu Nhànước trong cơ cấu sở hữu vốn của các NHTMCP được xem xét và chấp thuận thìviệc niêm yết toàn phần là hoàn toàn có thể thực hiện được Bởi quy định về vốn

sở hữu Nhà nước trong sở hữu vốn của các NHTMCP là một ràng buộc hạn chế rấtnhiều đến khả năng tăng vốn của các NHTMCP, nhất là trong tiến trình hội nhập.Song, để đảm bảo an toàn hệ thống và xây dựng những bước phát triển vững chắccho các NHTMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán thì thời gian đầu tiên,hình thức niêm yết từng phần là phù hợp nhất

3.3.3 Tiêu chuẩn niêm yết cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ phần Việt nam

Theo Quyết định số 787/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN quy địnhtạm thời về việc NHTMCP đăng ký niêm yết và phát hành cổ phiếu ra công chúng,điều kiện để NHTMCP được đăng ký xin niêm yết cổ phiếu là:

1 Vốn điều lệ thực có (gồm vốn điều lệ thực góp trừ số lỗ luỹ kế và cáckhoản rủi ro chưa được trích lập dự phòng) tối thiểu bằng mức vốn pháp định đượcquy định theo từng thời kỳ

2 Có thời gian hoạt động tối thiểu là 05 năm và hoạt động kinh doanh có lãiliên tục trong 2 năm gần nhất kể từ thời điểm xin niêm yết cổ phiếu

3 Tỷ lệ nợ xấu (bao gồm: các khoản nợ quá hạn, nợ chờ xử lý, nợ cho vayđược khoanh được thể hiện trên Bảng cân đối kế toán hàng tháng, nợ chuyển choCông ty quản lý nợ và khai thác tài sản để xử lý thu hồi vốn cho tổ chức tín dụng

Trang 10

cổ phần) so với tổng dư nợ cho vay liên tục trong 02 năm gần nhất dưới 3%.

4 Không vi phạm các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng và cácquy định khác của pháp luật, không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vựctiền tệ và hoạt động ngân hàng với mức xử phạt trên 1.000.000 đồng (một triệuđồng) trong thời gian ít nhất 01 năm tính đến thời điểm xin đăng ký niêm yết cổphiếu

5 Tuân thủ giới hạn sở hữu cổ phần theo quy định của Thống đốc Ngân hàngNhà nước

6 Được Ngân hàng Nhà nước xếp loại A theo quy định của Thống đốc Ngânhàng Nhà nước về xếp loại đối với Ngân hàng thương mại cổ phần, liên tục tronghai năm gần nhất kể từ thời điểm xin đăng ký niêm yết cổ phiếu

7 Có đủ hồ sơ theo quy định tại Điều 4 Quy định này

Điều 4 Hồ sơ của Ngân hàng thương mại cổ phần đề nghị Ngân hàng Nhànước chấp thuận cho đăng ký niêm yết cổ phiếu, gồm:

1 Văn bản của Chủ tịch Hội đồng quản trị gửi Ngân hàng Nhà nước xinđăng ký niêm yết cổ phiếu, trong đó: giải trình và cam kết đủ các điều kiện theoquy định tại Điều 3 Quy định này kèm các tài liệu chứng minh có liên quan

2 Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông chấp thuận các nội dung trong vănbản của Chủ tịch Hội đồng quản trị tại khoản 1 Điều này

3 Danh sách cổ đông sở hữu từ 5% trở lên vốn điều lệ của ngân hàng, danhsách cổ đông có ghi tên (bao gồm cổ đông và số cổ phần, cổ phiếu của các đốitượng theo quy định tại Điều 6 Quy định này) đến thời điểm xin đăng ký niêm yết

Trang 11

biệt là các giải pháp xử lý, quản lý của ngân hàng nhằm ngăn ngừa những biếnđộng tiêu cực đến hoạt động ngân hàng, xử lý kịp thời các hành vi bị cấm đượcquy định từ Điều 103 đến Điều 108 Chương XI Nghị định số 144/2003/NĐ-CPngày 28/11/2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Như vậy, cùng với Quyết định này, sự hy vọng của giới đầu tư về một loạihàng hóa có chất lượng tốt được niêm yết đã có cơ sở hơn Tuy nhiên, do đây là lầnđầu tiên thực hiện niêm yết cổ phiếu ngân hàng, nên vẫn còn những hạn chế nhấtđịnh về điều kiện trong việc niêm yết

Theo Quyết định mới này thì không phải ngân hàng nào muốn cũng có thểniêm yết cổ phiếu của mình được Ngoài các quy định về mức vốn điều lệ, về thờigian hoạt động và kinh doanh có lãi trong thời gian 2 năm liên tục gần nhất kể từthời điểm xin niêm yết cổ phiếu, thì còn một số yêu cầu mang tính đặc thù củangành ngân hàng như quy định về tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ, quy định về việcđáp ứng các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng và các quy định kháccủa pháp luật Trong tổng số hơn 30 NHTMCP các loại đang hoạt động, chỉ cókhoảng 7 ngân hàng thoả mãn các điều kiện này Những ngân hàng thoả mãn điềukiện đó là những ngân hàng thực sự lành mạnh hiện nay, đảm bảo khi niêm yết sẽmang lại nhiều lợi ích cho những ngân hàng đó Mặc dù vậy thị trường ngân hàng

có đặc tính liên thông rất cao nên vẫn có vấn đề đáng lo ngại Đó là trường hợp giá

cổ phiếu ngân hàng niêm yết xuống đột ngột và tình trạng đầu cơ gom cổ phiếu.Chính vì điều đó, trong Quy định vừa ban hành, Mục 3 Điều 10 có quy định làchậm nhất vào ngày 15 tháng đầu tiên của mỗi quý, NHCP phải có văn bản báocáo những thay đổi trong quý trước đó về cổ đông nắm giữ số cổ phiếu từ 5% vốnđiều lệ trở lên Đồng thời, NHNN vẫn chưa cho phép giao dịch cổ phiếu của Chủtịch hội đồng quản trị, Tổng giám đốc và cổ phiếu của cổ đông nước ngoài Cầnthiết phải đưa ra một giới hạn tỷ lệ nhất định các cổ phiếu của NHTMCP đượcniêm yết

Trang 12

3.4 Giải thúc đẩy niêm yết cổ phiếu các ngân hàng thương mại cổ phần Việt nam

3.4.1 Nhóm giải pháp vĩ mô

3.4.1.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý

Trong những năm gần đây, môi trường hoạt động ngân hàng, nhất là mộitrường pháp lý đã trở nên thông thoáng hơn, giúp các ngân hàng thuận lợi hơntrong hoạt động Tuy nhiên, để hỗ trợ các ngân hàng hơn nữa, tạo đủ sức cạnhtranh và để chuẩn bị tốt cho hội nhập với khu vực và thế giới, môi trường hoạtđộng ngân hàng cần được “cởi mở” hơn nữa Các Bộ, ngành liên quan cần xâydựng hệ thống các yêu cầu hoặc hệ thống tiêu chí có tính định hướng đối với một

“NHTM hiện đại” phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội-chính trị ở Việt Nam cótính đến điều kiện hội nhập, chẳng hạn : vốn điều lệ, tổng tài sản, hệ thống các chinhánh, mô hình tổ chức, số lượng lao động và trình độ cán bộ nhân viên, mức độ tựđộng hóa nghiệp vụ Các chỉ tiêu đó cần được xác định dưới dạng định lượng.Bên cạnh các chính sách ngắn hạn, Nhà nước cần có chiến lược dài hạn về xâydựng và phát triển hệ thống tài chính, tiền tệ ở Việt Nam Trước hết, cần xem xétthay đổi yêu cầu về vốn pháp định theo Nghị định số 82/1998/NĐ-CP Đã đến lúcphải nâng cao yêu cầu và mục tiêu quản lý, điều tiết hoạt động của các NHTM.Trong vài năm gần đây đòi hỏi phải đặt ván đề nâng cao yêu cầu về vốn pháp địnhđối với NHTMCP Mức này có thể là 300 tỷ đồng (tương đương 20 triệu USD) chotất cả các loại hình ngân hàng (trừ NHTMCP nông thôn)

Song song với yêu cầu về vốn pháp định, cần phải có chế tài thưởng phạt đốivới các ngân hàng đảm bảo hoặc không đảm bảo vốn pháp định Đối với các ngânhàng không đảm bảo vốn pháp định có thể tăng yêu cầu về tỷ lệ bảo đảm an toànhoặc có biện pháp hợp nhất, sáp nhập

Ngày đăng: 07/11/2013, 08:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w