Nghiên cứu về tạp chí BAVH, trong phạm vi khảo cứu tài liệu của luận án,đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về nghệ thuật tạo hìnhcủa tranh minh họa trong BAVH, c
Trang 1Nguyễn Thị Hòa
NGHỆ THUẬT TRANH MINH HỌA
TRONG TẠP CHÍ “NHỮNG NGƯỜI BẠN CỐ ĐÔ HUẾ”
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Hà Nội - 2021
Trang 2Nguyễn Thị Hòa
NGHỆ THUẬT TRANH MINH HỌA
TRONG TẠP CHÍ “NHỮNG NGƯỜI BẠN CỐ ĐÔ HUẾ”
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật
Mã số: 9210101 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Đoàn Thị Mỹ Hương
Hà Nội - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ Nghệ thuật tranh minh họa trong tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế” là công trình nghiên cứu độc lập của cá
nhân Các trích dẫn, kết quả nghiên cứu có chú thích nguồn cụ thể
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan và nội dung luận án
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Hòa
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ TẠP CHÍ “NHỮNG NGƯỜI BẠN CỐ ĐÔ HUẾ” 7
1.1 Tình hình nghiên cứu 7
1.2 Cơ sở lý luận 16
1.3 Khái quát về tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế” 21
Tiểu kết 39
Chương 2: NHẬN DIỆN CÁC THỂ LOẠI TRANH MINH HỌA TRONG TẠP CHÍ “NHỮNG NGƯỜI BẠN CỐ ĐÔ HUẾ” 41
2.1 Nội dung phân loại tranh minh họa 41
2.2 Các thể loại tranh minh họa 44
Tiểu kết 72
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM TẠO HÌNH TRANH MINH HỌA TRONG TẠP CHÍ “NHỮNG NGƯỜI BẠN CỐ ĐÔ HUẾ” 74
3.1 Vận dụng linh hoạt các yếu tố ngôn ngữ tạo hình phương Đông và phương Tây 74
3.2 Phong cách tạo hình mang tính chất tượng trưng và hiện thực 95
3.3 Bút pháp biểu cảm sắc thái địa phương Huế 100
Tiểu kết 105
Chương 4: BÀN LUẬN VỀ NGHỆ THUẬT TRANH MINH HỌA TRONG TẠP CHÍ “NHỮNG NGƯỜI BẠN CỐ ĐÔ HUẾ”…. 107
4.1 Giá trị thẩm mỹ tạo hình tranh minh họa trong tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế” 107 4.2 Mối liên hệ giữa nội dung và ý tưởng tạo hình tranh minh họa trong tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế” 118
4.3 Vị trí của tranh minh họa tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế” đối với mỹ thuật đương thời 135
4.4 Nghệ thuật tranh minh họa tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế” tương quan với minh họa báo chí cùng thời 140
Tiểu kết 144
KẾT LUẬN 146
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BÔ 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PHỤ LỤC 163
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AAVH: Association des Amis du Vieux HuéBAVH: Bulletin des Amis du Vieux Hué
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
TrangBảng 1.1: Thống kê số lượng tranh minh họa theo năm phát hành 31
Bảng 1.2: Thống kê tổng hợp số lượng tranh của họa sĩ trong tạp chí “Nhữngngười bạn Cố đô Huế” 33
Bảng 1.3: Thống kê các thể loại tranh minh họa trong tạp chí “Những người bạn
Cố đô Huế” 42
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tranh minh họa là hình thức truyền tải thông tin bằng tranh, một thể loại
đồ họa gắn liền với sự hình thành, phát triển của lĩnh vực xuất bản sách báo trênthế giới và ở Việt Nam Minh họa thường đi với nội dung bài viết, tạo ra giá trịnhất định giữa thông tin và thẩm mỹ các ấn phẩm sách báo
Những năm đầu thế kỷ XX dưới sự cai trị của chính quyền thuộc địa Pháp,nhằm mục đích phát triển “dân trí” cho người Việt, nhà cầm quyền đã in ấn, pháthành sách báo, trong đó có sự xuất hiện của thể loại tranh minh họa gắn với nộidung các bài viết, công trình nghiên cứu Điều đó đã tạo điều kiện để nghệ thuậttranh minh họa du nhập, tiếp biến, phát triển ở Việt Nam Cùng các chuyên khảo,các bài nghiên cứu, sưu tầm… tranh minh họa góp phần đưa BAVH trở thànhmột trong những công trình độc đáo rất riêng của Huế so với bối cảnh văn hóabản địa thời đó
Quá trình tiếp xúc văn minh Đông - Tây cùng sự ra đời BAVH, các họa sĩgóp phần vào những công trình kiến trúc, nghệ thuật, ghi nhận sự hiện diện củalớp họa sĩ minh họa sách báo, tôn vinh giá trị nghệ thuật các công trình mỹ thuật
và sản phẩm văn hóa mang bản sắc Huế, thông qua hệ thống tranh minh họa ởtạp chí BAVH Tùy thuộc vào yêu cầu nội dung của bài viết, chủ đề nghiên cứucủa chủ bút đặt ra, mà mỗi nhóm minh họa có đề tài, bố cục, chất liệu, phươngpháp thể hiện khác nhau, phản ánh tính đa dạng trong sáng tạo nghệ thuật củacác họa sĩ ở Huế đầu thế kỷ XX
Nghiên cứu về tranh minh họa trong BAVH, nhiều ý kiến, giả thuyết chưadẫn dắt độc giả nhận biết rõ ràng các yếu tố ngôn ngữ tạo hình bố cục, đườngnét, không gian, hình, mảng, khối… mà chỉ tập trung giới thiệu khái quát nguồn
tư liệu minh họa, điều đó đặt ra vấn đề nghiên cứu cần có hệ thống từng phần cụthể, chuyên sâu về đặc điểm, nét đặc thù tranh minh họa Mặt khác, nếu như vănhóa cung đình Huế có tác động đến phương cách tạo hình, cần có sự tìm hiểu sâu
Trang 8vấn đề về bản sắc văn hóa truyền thống trong sự tiếp xúc Đông – Tây, có nhữngđặc điểm tạo hình, giá trị thẩm mỹ, ý tưởng tạo hình là những vấn đề mà luận ánquan tâm.
Khảo cứu BAVH hiện nay đang xuống cấp, số lượng hình ảnh tranh minhhọa dần mất đi, từng trang có dấu hiệu của sự mục nát, các minh họa bằng màubị ố, hình vẽ phai mờ khó có thể thấy sự chân xác, vẻ đẹp nguyên gốc của tư liệutranh minh họa Đây là một tài liệu quí đang cần được quan tâm nghiên cứu Vìvậy, luận án có ý nghĩa cần thiết đối với công tác bảo tồn, lưu giữ bản sắc vănhóa, phát huy những giá trị mỹ thuật Huế trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam
Nghiên cứu về tạp chí BAVH, trong phạm vi khảo cứu tài liệu của luận án,đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về nghệ thuật tạo hìnhcủa tranh minh họa trong BAVH, chính vì những khoảng trống trong các công
trình nghiên cứu đã làm tiền đề để thực hiện luận án với tiêu đề Nghệ thuật tranh minh họa trong tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế”, luận án sẽ tập trung
nghiên cứu phân tích về những đặc điểm tạo hình, từ đó tìm ra những bình luận
về giá trị nghệ thuật thông qua các giá trị thẩm mỹ, giá trị tư duy (ý tưởng) trongcác tranh minh họa thực hiện bởi các họa sĩ Việt và Pháp Từ đó, làm cơ sở đánhgiá bước đầu về vai trò, vị trí của tranh minh họa BAVH trong dòng chảy mỹthuật Việt Nam đương thời
2 Mục đích nghiên cứu
2.1 Mục đích tổng quát
1914 đến năm 1944, tìm hiểu làm rõ đặc điểm, các yếu tố tạo hình của tranhminh họa trong quá trình giao lưu văn hóa nghệ thuật Đông – Tây
- Bàn luận về giá trị nghệ thuật, nội dung, hình thức biểu đạt cũng như xác định vị trí nguồn tranh minh họa của BAVH trong dòng chảy mỹ thuật Huế, Việt Nam.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Thống kê tổng hợp, phân loại các thể loại, số lượng tranh, bước đầu xác
Trang 9định các thể loại, loại tranh minh họa trong BAVH.
Đông và phương Tây, hình thành phong cách, bút pháp trên nền văn hóa truyềnthống, có đóng góp về giá trị mới về nghệ thuật tranh minh họa
- Bàn luận để làm rõ những khía cạnh liên quan đến giá trị nghệ thuật như giá
trị thẩm mỹ, nội dung ý tưởng thể hiện gắn kết nội dung với bài viết, từ đó xác định vị trí nguồn tranh minh họa đóng góp trong mỹ thuật đương thời Huế, Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu phân tích đặc điểm, các yếu tố tạo hình của nghệ thuậttranh minh họa trong BAVH do các họa sĩ Việt, Pháp thể hiện ở Huế đầu thế kỷ
XX, những nét mới nảy sinh từ sự tiếp xúc ảnh hưởng từ hai văn hóa, qua đóđịnh hình giá trị nghệ thuật của tranh minh họa đóng góp trong lịch sử mỹ thuậtHuế, Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: giới hạn các tranh minh họa trong BAVH, lựa chọnnghiên cứu một số tranh có đặc điểm tạo hình để nghiên cứu, nhận định
Phạm vi thời gian: giai đoạn đầu thế kỷ XX
4 Câu hỏi và giả thuyết khoa học Luận
án có 3 câu hỏi nghiên cứu như sau:
Câu hỏi 1: Quá trình giao lưu văn hóa Việt - Pháp tác động như thế nào đến đặc điểm tạo hình trong tranh minh họa của BAVH?
Câu hỏi 2: Tranh minh họa trong tạp chí BAVH thể hiện giá trị nghệ thuật như thế nào?
Câu hỏi 3: Tranh minh họa trong BAVH có vị trí và vai trò như thế nào trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam?
Từ các câu hỏi nghiên cứu như trên, luận án đưa ra 3 giả thuyết khoa học như sau:
Trang 10Giả thuyết 1: Nghệ thuật tranh minh họa ở BAVH biểu hiện sự vận dụnglinh hoạt các yếu tố ngôn ngữ tạo hình phương Đông và phương Tây, biểu hiệnphong cách tạo hình mang tính chất ẩn dụ tượng trưng và hiện thực, bút phápbiểu cảm sắc thái địa phương Huế, là những đặc điểm cách tân của nghệ thuậttạo hình hiện đại.
Giả thuyết 2: Giá trị nghệ thuật thể hiện về giá trị thẩm mỹ trong mô típ trangtrí, với mục đích nâng cao ý tưởng của hình tượng nghệ thuật tạo nên tính tượngtrưng và tư duy thẩm mỹ có yếu tố tạo hình kết hợp từ hai nền văn hóa, nhưng hòaquyện trong một tinh thần phương Đông của nghệ thuật tạo hình hiện đại
Nghệ thuật thể hiện trong mối liên hệ giữa ý tưởng và nội dung bài viết,tạo thành nghệ thuật tranh minh họa Hình minh họa thể hiện tinh thần tôn giáo,thẩm mỹ mang bản sắc Huế, cũng là một trong những giá trị nghệ thuật của tranhminh họa trong BAVH
Giả thuyết 3: Tranh minh họa ở BAVH có vị trí đối với mỹ thuật đươngthời, là góp phần phát triển nghệ thuật đồ họa, minh chứng giai đoạn lịch sử mỹthuật cận đại, bảo tồn lưu giữ bản sắc văn hóa nghệ thuật trong một giai đoạn củalịch sử mỹ thuật Huế trong dòng chảy mỹ thuật Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Định vị hệ thống các tư liệu thứ cấp đã phát hành lưu trữ từ Bảo tàng Mỹthuật cung đình Huế, Thư viện tỉnh Thừa Thiên Huế, Thư viện quốc gia ViệtNam, trong một số tủ sách gia đình, tủ sách tư nhân, từ internet gián tiếp (tàiliệu, sách sử…), các bài viết công bố trong và ngoài nước liên quan đến nghệthuật tạo hình là vấn đề nghiên cứu của luận án
Phương pháp phân tích tổng hợp, thu thập những bài viết, kết quả nghiêncứu của các tác giả đi trước, tổng hợp, phân tích về đặc điểm, phong cách, giá trịnghệ thuật, vị trí của tranh minh họa trong mỹ thuật đương thời đầu thế kỷ XX
Trang 11- Phương pháp thống kê, phân loại
Thống kê nguồn tư liệu, các thể loại, loại tranh minh họa trên BAVH, cáctranh vẽ minh họa, nhóm tranh minh họa, bài báo… để phân tích đánh giá các dữliệu, quan điểm nghệ thuật, đưa ra các luận điểm khoa học trong quá trình nghiêncứu, tìm ra nghệ thuật tạo hình của tranh minh họa trên BAVH
Sử dụng phương pháp liên ngành như văn hóa học, dân tộc học, xã hộihọc, lịch sử, trong đó chủ yếu dựa trên phương pháp nghiên cứu nghệ thuật học:tìm hiểu về đặc điểm nghệ thuật, tính thẩm mỹ, hình tượng nghệ thuật, giá trịthẩm mỹ từ các góc nhìn mỹ thuật học, trong sự kết hợp yếu tố tạo hình Đông -Tây hình thành trên tranh minh họa trong BAVH
So sánh tranh minh họa của sách báo cùng thời trong một nền văn hóa ở Việt Nam, đối chiếu để làm
rõ hơn đặc điểm nghệ thuật, chú ý đến sự tác động của giao lưu, tiếp biến văn hóa với tương quan giữa văn hóa và nghệ thuật, trong quá trình vận động phát triển, tạo ra giá trị của nghệ thuật tranh minh họa có ở BAVH.
6 Đóng góp khoa học của luận án
6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án Nghệ thuật tranh minh họa trong tạp chí “Những người bạn Cố
đô Huế” là công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành về nghệ thuật tranh
minh họa Luận án đề cập đến đặc điểm tạo hình, giá trị nghệ thuật trong tươngquan với các tranh minh họa cùng thời, góp phần làm sáng tỏ các nhận địnhtrong nội dung nghiên cứu, có những đóng góp khoa học lý luận và thực tiễn
Góp thêm điểm mới nghiên cứu về nghệ thuật tranh minh họa theo góc độnghệ thuật học, tiếp cận sâu phân tích đặc điểm ngôn ngữ tạo hình, những yếu tốảnh hưởng từ tạo hình phương Tây hình thành giá trị nghệ thuật hiện đại Qua đóxác định vị trí của tranh minh họa trong thuật lịch sử mỹ thuật Huế, Việt Nam
Trang 126.2 Ý nghĩa thực tiễn
Về nội dung: Trên cơ sở những nhận định tổng quát về nghệ thuật minh
họa, phân chia các thể loại, phân tích đặc điểm từng phần cụ thể, đánh giá về giátrị nghệ thuật, dưới góc nhìn nghiên cứu chuyên sâu, phân tích sự đa dạng phongphú về đề tài, thể loại, ngôn ngữ biểu đạt của nghệ thuật Thông qua những giátrị nghệ thuật tạo hình, bổ sung nguồn tài liệu tham khảo lý luận mỹ thuật chochuyên ngành đồ họa, xác định nguồn tư liệu, góp phần minh chứng luận cứ củalịch sử mỹ thuật có vị trí đối với mỹ thuật hiện đại ở Huế, Việt Nam
Đóng góp về mặt tư liệu: Hệ thống tư liệu về hình ảnh, phân tách các thể
loại, trích dẫn thông tin tranh vẽ minh họa, tác giả, hội tụ giá trị nguồn tư liệucung cấp thông tin hữu ích về nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật thời cận đại ở Huế,Việt Nam
7 Kết cấu của luận án
Phần mở đầu (6 trang), kết luận (4 trang), tài liệu tham khảo (13 trang) và phụ lục (75 trang) Nội dung luận án gồm có 4 chương:
Chương 1: Tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về tạp chí
“Những người bạn Cố đô Huế” (34 trang)
Chương 2: Nhận diện các thể loại tranh minh họa trong tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế” (33 trang)
Chương 3: Đặc điểm tạo hình tranh minh họa trong tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế” (33 trang)
Chương 4: Bàn luận về nghệ thuật tranh minh họa trong tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế” (39 trang)
Trang 13Chương 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ KHÁI QUÁT VỀ TẠP CHÍ “NHỮNG NGƯỜI BẠN CỐ ĐÔ HUẾ” 1.1 Tình hình nghiên cứu
Từ khi xuất bản (1914), do điều kiện khách quan BAVH chưa phổ biếnrộng rãi, thông tin về công trình còn gói gọn trong phạm vi hẹp, vì vậy, những tàiliệu liên quan đến nghệ thuật tranh minh họa dường như thưa vắng trên các côngtrình nghiên cứu Từ năm 1997 đến nay BAVH biên dịch xuất bản tại Huế, độcgiả quan tâm nhiều hơn, cùng với sự nhìn nhận đánh giá các giá trị lịch sử, vănhóa, nghệ thuật, khoa học định vị trong BAVH được biết đến trong đời sống xãhội Từ đây, một số công trình nghiên của các tác giả giới thiệu đến nguồn tranhminh họa để minh chứng, nghiên cứu giá trị đa ngành Nguồn tư liệu tranh minhhọa vẫn là mảng ít được biết đến trong lĩnh vực mỹ thuật, còn thiếu nhữngnghiên cứu chuyên sâu dưới góc nhìn của lý luận, lịch sử, làm rõ đặc điểm và giátrị nghệ thuật của tranh minh họa trong BAVH
1.1.1 Những nghiên cứu nghệ thuật tạo hình tranh minh họa
Có thể thấy những tài liệu liên quan đến nghệ thuật tạo hình, thuật ngữ lýluận chuyên ngành được lồng ghép trong các bài viết ở các góc độ khác nhau.Những công trình nghiên cứu cung cấp các nhận định về nghệ thuật tạo hình củatranh minh họa làm cơ sở khoa học cho luận án đó là:
Nội dung đề cập về chuyên môn sâu của các thể loại chuyên ngành đồ
họa, trong công trình nghiên cứu có tính hệ thống chuyên đề mỹ thuật Giáo trình
Bố cục [36], Đặng Quý Khoa giới thiệu tổng quát nhiều khuynh hướng lý thuyết,
phân tích sự biểu hiện đa dạng bố cục tạo hình trong một số thể loại tác phẩmnghệ thuật, tài liệu đóng góp thông tin trong việc tìm hiểu các thể loại trong tạohình tranh minh họa
Những nét đặc thù chất liệu nghệ thuật đồ họa Việt Nam, giới thiệu thông tinnghệ thuật tranh minh họa trong những cuốn sách xuất bản thời Pháp thuộc, tác giả
Trang 14Hoàng Minh Phúc đề cập đến nghệ thuật tranh minh họa: “Minh họa sách báothời Pháp thuộc có giá trị nghệ thuật đáng nghiên cứu về đời sống xã hội và mốitương quan giữa văn chương và nghệ thuật” [91, tr.114] Việc khẳng định nhữngminh họa trên sách báo của Pháp có giá trị nghệ thuật, cho thấy nghiên cứu nghệthuật tạo hình tranh minh họa trong sách báo là cần thiết, trong đó có nghệ thuậttranh minh họa ở BAVH.
Trong bài “Vấn đề sử dụng khái niệm, thuật ngữ về thể loại tranh in ở ViệtNam” tác giả Nguyễn Nghĩa Phương bàn luận thuật ngữ tranh in là: “Tranh đồhọa bao gồm cả tranh vẽ và tranh in”, “Tranh in là thuật ngữ chỉ khái niệm vềmột tổ hợp hình ảnh đường nét, chấm mảng, bố cục ra đời từ quá trình khắc và intrên các chất liệu, chủ yếu phản ánh những tác phẩm đồ họa độc lập, đôi khi cảnhững tranh minh họa” [90, tr.41-44], thuật ngữ tranh in đi liền với nghệ thuật đồhọa độc lập và đồ họa giá vẽ, một hình thức nghệ thuật mới làm cơ sở phân tíchđặc điểm của một số thể loại tranh minh họa trên báo chí, sẽ hỗ trợ luận án nhìnnhận rõ hơn khi phân tách các thể loại tranh minh họa ở BAVH
Những nghiên cứu nghệ thuật tạo hình của tranh minh họa trên sách báo làkhông nhiều, chỉ có những thông tin vắt tắt về nghệ thuật minh họa, hoặc các giá
trị bản sắc văn hóa Khi nhìn tổng quan Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX, nhiều tác
giả có đề cập đến các vấn đề nghệ thuật tạo hình đương đại ở cả ba miền Bắc Trung - Nam thế kỷ XX, những khảo cứu đầy tính khách quan với những nộidung: phân kỳ lịch sử mỹ thuật, đào tạo mỹ thuật, quan niệm nghệ thuật, thịtrường và các vấn đề mỹ thuật đương đại Việt Nam… trong đó, có một số bìnhluận tóm lược chung về các vấn đề mỹ thuật ở Huế
-Một số công trình khác của các tác giả như: Phan Cẩm Thượng, Lê Quốc
Việt, Cung Khắc Lược (2011), Đồ họa cổ Việt Nam [113], các tác giả cho rằng:
“… nhiều minh họa tranh nhằm dùng hình thị giác, kích thích cái kiểu chữ nghĩa
Do vậy mà tranh minh họa trong sách in khắc gỗ là phổ biến ở Việt Nam” [113,tr.93]; Lê Tiến Vượng (2016), “Minh họa trên báo”, tác giả nhận xét nghệ thuật
Trang 15minh họa đương thời: “Nghệ thuật minh họa được nhiều độc giả biết đến vớinhững nét vẽ độc đáo và phong cách riêng” [129]… Các công trình giải thích vềthuật ngữ, mô tả khái quát tính chuyên biệt nghệ thuật tranh minh họa trong mỹthuật tạo hình Việt Nam Đây là những nét cơ bản sẽ áp dụng nhìn nhận thực tiễnnghiên cứu nghệ thuật tranh minh họa trong BAVH.
1.1.2 Những nghiên cứu về văn hóa nghệ thuật và tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế”
“Những người bạn Cố đô Huế”
Qua khảo sát, có những tài liệu trình bày trong một số công trình của cáctác giả nước ngoài những năm đầu thế kỷ XX đa phần đăng trong BAVH Trongnhững nghiên cứu nghệ thuật hầu như các tác giả nhìn nhận, nhận xét, đánh giáchung nghệ thuật ở Huế, đưa ra những quan điểm, giải pháp thực trạng nền nghệthuật An Nam, nhằm định hướng phát triển nghệ thuật phù hợp với tình hình xãhội đương thời ở Huế, cung cấp một số tư liệu lịch sử, có ý nghĩa tạo cơ sở khoahọc cho việc khái quát nghệ thuật tân kỳ tập trung ở các công trình sau:
Nhóm tài liệu nghiên cứu của tác giả nước ngoài về nghệ thuật trong tạp chí “Những người Bạn Cố đô Huế”
Nhóm nghiên cứu nghệ thuật An Nam là những cứ liệu khoa học khámphá các góc nhìn khai mở, so sánh, hướng phát triển giá trị nghệ thuật phù hợpvới thực tiễn văn hóa xã hội đương thời
Năm 1915, Edmond Gras trong bài “Vài suy nghĩ về giảng dạy nghệ thuật
ởAn Nam”, từ việc xác định rõ đối tượng cần được giáo dục thẩm mỹ cho người
An Nam là cần thiết, bài viết tập trung xem xét đặt ra các giả thuyết của việc đàotạo thẩm mỹ cho người học mỹ thuật ở An Nam từ những năm đầu thế kỷ XX;
Năm 1915, L.Cadière và Hội truyền giáo nước ngoài trong bài “Dự án tổchức và phát triển Hội nghệ thuật của những người bạn Huế”, nêu rõ mục đíchnghiên cứu tổng hợp tư liệu miêu tả giới thiệu bằng tranh vẽ về diễn biến đời
Trang 16sống nghệ thuật ở Huế, bài viết đưa ra kế hoạch tổng quan của dự án nghiên cứunghệ thuật Huế bằng phương pháp khảo sát, điền dã rõ ràng, cụ thể, hỗ trợ luận
án định hình phương pháp nghiên cứu có hệ thống với nghệ thuật An Nam
Năm 1919, tác giả Edmond Gras “Thành phố, nhà cửa, bàn ghế, hàng thêu” tậpVI/1919A [55], viết về các mẫu đồ vật nội ngoại thất như kiểu nhà, bàn ghế đồ
gỗ, câu đối, vũ khí, cây đèn dầu, chậu cảnh những đồ cổ như tâm hồn của xứ
sở cần sưu tập bảo tồn rồi đề xuất thiết lập viện bảo tàng mỹ thuật ở Huế; Năm
1919, trong bài viết “Bàn về thẩm mỹ”, tác giả C.Auclair bày tỏ quan điểm về sự
thay đổi giữa cái cũ và cái mới: “… nếu như cứ theo mãi ngườixưa thì không có gì tỏ ra là hiện đại nữa” [56, tr.76], VI/1919B, trong nghệ thuật
từ những tư duy cũ của người xưa sẽ tạo nên cái mới: “Nghệ thuật là cảm hứng,
là luật lệ, thứ tự, đo lường, nó là ý nghĩa của sự thật” [56, tr.81], VI/1919B, câuchuyện phê bình nghệ thuật giữa hai tác giả C.Auclair là kiến trúc sư và họa sĩGras, phản ánh sự đa diện quan điểm đổi mới trong lĩnh vực nghệ thuật ở Huếđầu thế kỷ XX
Năm 1920, trong bài “Vấn đề nghệ thuật bản xứ”, G.Groslier chú ý một sốnguyên tắc chủ đạo trong việc giáo dục nền mỹ thuật bản xứ: “Tự do hoàn toàn,
tự do tuyệt đối của nghệ thuật bản xứ” [23, tr.556-569], đó là mục đích cho phépngười An Nam khi tiếp cận phương tiện hiện đại, cơ hội để thực hành nghệ thuật,tham gia công tác giáo dục nghệ thuật bản địa, vấn đề nêu trên biểu hiện tinhthần tôn trọng giao lưu học thuật của các họa sĩ Việt, Pháp
Năm 1925 tác giả CH.Gravelle “Nghệ thuật An Nam” [119], phân tíchtính mới của nghệ thuật An Nam, trong buổi giao thời những người bảo hộ Phápvào vùng địa canh xứ Huế cùng người An Nam tìm hướng bảo tồn, phát triểnnghệ thuật truyền thống trong sự tôn trọng cảnh ngộ, nhân công, vật liệu, nghi lễ,kiểu thức các sản phẩm trên nền nghệ thuật An Nam đổi mới phỏng theo kiểuchâu Âu, biểu hiện tính chất mới hiện đại
Năm 1928, L.Cadière “Lăng mộ của người An Nam trong phụ cận Huế”
Trang 17[28], L.Cadière cùng họa sĩ Nguyễn Thứ xác định các lăng mộ bằng tranh tất cả
có 317 lăng mộ, 51 hình vẽ, 86 văn bia, những tranh minh họa kiến trúc lăng mộ,phản ảnh sự ảnh hưởng phối cảnh viễn cận trong tạo hình của quá trình giao lưutiếp biến mỹ thuật
Năm 1937, tác giả Yves Laubie “Suy nghĩ về Tranh dân gian ở Bắc Kỳ”,những tác phẩm nghệ thuật sử dụng minh họa trong bài viết như một lời tâm sự,chia sẻ các góc nhìn về bố cục tranh vẽ trên giấy của người An Nam: “Có mộtnền nghệ thuật tranh vẽ dân gian mà nguồn gốc của loại tranh vẽ dân gian nàycũng đã có từ xa xưa ” [116, tr.135], và thẩm mỹ tranh dân gian An Nam: “…cũng đẹp như cái đẹp sơ khai nhất” [116, tr.135], bài viết phân tích một số tácphẩm của họa sĩ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là dấu ấn quan trọng của lịch sử
mỹ thuật Việt Nam
Năm 1939, tác giả Léo Craste “Nghiên cứu về nhà ở của người An Nam ởHuế và ở vùng xung quanh”, nghiên cứu những tư liệu chân xác các mẫu cổngphổ biến, cấu trúc các cửa cổng được minh họa và so sánh: “Tôi tìm thấy ở địahạt này rất nhiều tương đồng với nghệ thuật tô chữ (enluminures), của thế kỷ thứXIII ở Pháp” [45, tr.70], những hình vẽ có sự giao thoa nội dung, hình thức nghệthuật Đông - Tây
Những công trình nghiên cứu của các tác giả người Pháp suy nghĩ về mỹthuật Huế trên quan điểm khách quan ở nhiều góc độ khác nhau về, qua sự nhìnnhận ghi chép nét chung của mỹ thuật Huế, trên quan điểm khách quan, có lịch
sử cụ thể hỗ trợ luận án đánh giá xác thực hơn trong nghiên cứu nghệ thuật tạohình tranh minh họa
Nghiên cứu về phương pháp khai thác có tính khai phá nghệ thuật Huế, để
tổng hợp thành kho tư liệu bằng tranh cho công trình “Mỹ thuật ở Huế”, nguồn
tài liệu lý thuyết về phương pháp liệt kê, thống kê, mô tả, so sánh, điều tra Nhânhọc, minh họa tranh vẽ về mỹ thuật Huế Đây là tập sách có nội dung trọng điểmvới đề tài luận án, trong việc tham khảo trích dẫn các cứ liệu lý thuyết, minh họa
Trang 18mô típ trang trí, nhận định các giá trị nghệ thuật truyền thống và hiện đại, từ góc nhìn của tác giả người Pháp và Việt trên BAVH.
Nhóm tài liệu nghiên cứu của tác giả nước ngoài về văn hóa nghệ thuật Huế Nội
dung cuốn sách chuyên khảo, bài viết về lịch sử mỹ thuật của người Việt trong
văn hóa nghệ thuật vùng Huế, thông tin giới thiệu, bàn về nghệ thuậtnhiều khía cạnh khi tiếp xúc với văn hóa An Nam của các tác giả người Pháp
Năm 1954, cuốn L’art Vietnamien (Nghệ thuật Việt Nam) [40] dịch sang
tiếng Việt của tác giả L.Bezacier, nội dung có nhiều chuyên khảo, bài viết lịch sử
mỹ thuật của người Việt và văn hóa nghệ thuật vùng Huế, bàn về nghệ thuật vớinhiều khía cạnh khi tiếp xúc với văn hóa An Nam Tài liệu sẽ hỗ trợ cho luận ánkhi so sánh đối chiếu nhìn nhận rõ hơn các cứ luận liên quan về nghệ thuật Huế
Một số công trình trình có tính chất gợi mở quan điểm nghiên cứu nghệthuật như: 2001, Jean Despierres trong bài “Nguyễn Đình Hòe, Thượng thư,nhân chứng lịch sử có vai trò quan trọng trong Hội những người bạn Cố đô Huế”[121], tác giả sử dụng nhiều hình vẽ của BAVH để trang trí minh chứng cùngnhững chuyên đề nghiên cứu lịch sử văn hóa Huế có giá trị
Điểm chung của những công trình mô tả nghệ thuật Huế ở nhiều góc độ cókhái quát về tranh minh họa, là nhóm cứ liệu khoa học tham khảo, khảo cứu,thống kê những tư liệu các loại hình mỹ thuật, chưa tìm thấy nghiên cứu độc lập
về nghệ thuật tạo hình của tranh minh họa BAVH
Cố đô Huế”
Tình hình nghiên cứu tài liệu lý luận về nghệ thuật ở Huế, qua một sốcông trình của các tác giả nghiên cứu ở trong nước, chỉ giới thiệu từ khi BAVHdịch thuật, xuất bản Nội dung giới thiệu ngắn gọn những nét chính tổng quan,các bài viết kết nối sâu chuỗi thành quá trình có sự kế thừa, tiếp cận nhận diệnkhám phá và cảm nhận thú vị nhiều góc độ nghệ thuật tranh minh họa khi và
Trang 19phân tích khái quát các tư liệu liên quan những thành tựu của nghệ thuật Nguyễntrong tạp chí BAVH.
Nhóm tài liệu của tác giả trong nước dẫn chứng tranh minh họa trong BAVH để phụ họa cho các phần viết về đề tài nghiên cứu
Những tài liệu phụ họa bằng tranh minh họa của BAVH đặt trong mối liênhệ chỉ dẫn trong tính tổng thể của vấn đề nghiên cứu trong một số tập sách báo
như: năm 2001, tác giả Nguyễn Hữu Thông xuất bản cuốn sách Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí [105]; 2013, tập sách tranh Ngàn năm áo mũ [20], Nhã Nam và nhà xuất bản Thế Giới của tác giả Trần Quang Đức; 2013, tập sách tranh Đại lễ phục Việt Nam thời Nguyễn (1802-1945) [97]
của tác giả Trần Đình Sơn Các công trình đều có sử dụng dẫn chứng tranh minhhọa của BAVH để minh chứng rõ hơn vấn đề nghiên cứu, là những tài liệu tậptrung làm rõ thêm giá trị tư liệu theo hướng nghiên cứu của luận án
Nhóm tài liệu của tác giả trong nước tập hợp những dẫn liệu liên quan đến tranh minh họa trong tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế”
Những đánh giá về giá trị nghệ thuật BAVH bao gồm: năm 2000, “Đặcđiểm và sự kiện chính của mỹ thuật Huế giai đoạn 1954-1975” [96], tác giả PhanXuân Sanh chia sẻ nhiều thông tin về những sự kiện chính của mỹ thuật Huế,trong đó có những họa sĩ tham gia truyền giảng mỹ thuật tại các trường công và
tư, có sáng tác nhiều công trình mỹ thuật mà BAVH phản ánh rõ ràng; bài viết
“Văn hóa nghệ thuật miền Trung suy nghĩ về định hướng nghiên cứu” [4], tác giảNguyễn Chí Bền đánh giá sự công phu của các họa sĩ qua từng chi tiết diễn tả,tạo ra giá trị tư liệu nghiên cứu văn hóa nghệ thuật miền Trung và những đặc
điểm của BAVH; tập sách Lịch sử báo chí Huế [30], tác giả Nguyễn Xuân Hoa
giới thiệu BAVH với hỗ trợ tích cực của cả chính quyền Pháp và triều Nguyễn,những chương trình nghiên cứu về Huế của BAVH, do L.Cadière đề nghị gồmnhiều chuyên đề, trong đó mảng chuyên sâu nghệ thuật, đó là tập sách chuyên
khảo “Mỹ thuật ở Huế’ (L’Art à Hué), bày tỏ sự dày công sáng tạo tranh minh
Trang 20họa trên báo chí đặc thù như BAVH; bài viết “101 năm Hội Đô thành Hiếu cổAAVH và ý nghĩa việc tổ chức dịch, xuất bản bộ sách BAVH” [108], tác giảNguyễn Duy Tờ đánh giá nội dung mảng nghệ thuật Huế của BAVH độc đáo,hấp dẫn về chiều sâu tư tưởng, văn hóa tiềm ẩn như một bảo tàng nhỏ mỹ thuậtHuế bằng sách báo; trong bài “Đề tài về lĩnh vực dân tộc học trên tập sanBAVH” [89], tác giả Trần Nguyễn Khánh Phong điểm qua các bài viết, các côngtrình nghiên cứu đăng tải trên Tập san BAVH, về lĩnh vực dân tộc học - nhânhọc, trong đó tác giả người Pháp và người Việt đóng góp nhiều nguồn tư liệu,hình ảnh, tranh vẽ, bổ ích, có giá trị văn hóa, lịch sử; năm 2014, Nguyễn ThanhHải, “Kế thừa và phát huy giá trị các công trình nghiên cứu trong tập san BAVHphục vụ công cuộc bảo tồn di sản văn hóa Huế hiện nay” [27], tác giả giải thíchtổng quát nguồn tư liệu trong BAVH, phân tích giá trị đặc thù của tư liệu là minhchứng sinh động hiện hữu giá trị lịch sử, nguồn tư liệu quý, giúp cho luận án ghinhận thông tin hệ thống tư liệu, để triển khai hướng tiếp cận nghiên cứu.
Những nghiên cứu có đề cập đến nghệ thuật tranh minh họa trong BAVH
từ năm 1992, trong tập sách Mỹ thuật thời Nguyễn trên đất Huế [104], tác giả
Nguyễn Hữu Thông đề cập đôi nét về yếu tố tạo hình của tranh chân dung cổPhật giáo, các tổ ở chùa Quốc Ân tập số 3/1915, tranh tĩnh vật trong tác phẩm
“L’Art à Hué” 1/1919… một số tranh minh họa làm rõ thêm dấu ấn mỹ thuật cận
hiện đại Huế; bài viết “Họa sĩ Tôn Thất Sa với những bản vẽ trên Bulletin desAmis du Vieux Hue (BAVH)” [9], tác giả Phan Thanh Bình tìm hiểu thân thế, sựnghiệp, nêu bật những thành tựu sáng tạo của họa sĩ Tôn Thất Sa, luận án thamkhảo nội dung phân tích một số minh họa có liên quan đến BAVH, qua đó tìmhiểu sâu hơn giá trị tạo hình của những minh họa
Đối tượng khảo sát có một phần nội dung gần nhất với đề tài luận án
“L’Art à Hué đặc khảo mỹ thuật đầy ấn tượng của BAVH” [106], tác giả NguyễnHữu Thông nhìn nhận khai mở những vấn đề mỹ thuật dưới góc độ một côngtrình khoa học, về nghệ thuật và dấu ấn của Léopold Cadiére trong các thư
Trang 21mục nghiên cứu mỹ thuật Huế, phân tích, chú giải khái quát các nội dung, giá trị
về nghệ thuật Huế như: hoa văn mô típ trang trí hình học, mẫu chữ Hán, tĩnh vật,hoa lá, quả, động vật… Sự tồn tại của nguồn tư liệu là minh chứng sử dụng kếthợp làm cơ sở lý luận khi phân tích giá trị tạo hình của tranh minh họa
Vai trò của những họa sĩ tham gia trong BAVH thể hiện ở một số nghiêncứu: “Lê Văn Miến người họa sĩ đầu tiên, người thầy đầu tiên” [88, tr 50],Nguyễn Khắc Phê khảo sát vị trí của Tàng cổ viện, là trụ sở của Hội nhữngngười bạn Cố đô Huế (tổ chức và xuất bản bộ BAVH) mà họa sĩ Lê Văn Miến là
một trong những thành viên sáng lập; 2016, Lê Phùng (chủ biên), Hồi cố [92],
tập sách giới thiệu những bậc tài danh mỹ thuật Huế, trong đó có họa sĩ Tôn Thất
Sa là tác giả minh họa trên BAVH
Ngoài ra còn có tư liệu của những công trình nghiên cứu tiếp cận tham giakhảo luận khái quát vắn tắt về nghệ thuật trang trí, cách thức tạo hình hoa văntrong mẫu thức trên các công trình về hội họa, kiến trúc, nét đặc trưng, ngôn ngữbiểu hiện và hiệu quả nghệ thuật tạo hình một số tranh vẽ trong mỹ thuật thời
Nguyễn… Sự khảo tả của các bài viết đăng trên một số tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế” không nhiều, vẫn còn thiếu công trình nghiên cứu chuyên biệt
về nghệ thuật tranh minh họa BAVH.
Nét chung những công trình có đề cập đến dữ liệu tranh minh họa trênBAVH là giá trị quan trọng của nguồn tư liệu nhiều tác giả thừa nhận Tuy nhiên,nghiên cứu về lĩnh vực nghệ thuật tạo hình của tranh minh họa, khai mở vấn đề
mỹ thuật Huế dưới góc độ là một công trình nghiên cứu khoa học về nghệ thuậttạo hình chưa chú ý tiếp cận cụ thể, đây là trường hợp nghiên cứu còn đangkhuyết trống, tư liệu công bố liên quan đến tranh minh họa của BAVH chỉ lànhững thông tin đề cập sơ lược, chưa hệ thống đầy đủ giá trị cần xác định của mỹthuật hiện đại Huế Như vậy, nghiên cứu nghệ thuật tranh minh họa trong BAVH
là đối tượng cần quan tâm trong nghiên cứu mỹ thuật ở Huế
Trang 22Nội dung đề cập về chuyên môn sâu của các thể loại chuyên ngành đồhọa, trong đó có chuyên mục giới thiệu nghệ thuật tranh minh họa và minh họathực hiện theo quy trình thủ công, sự nhìn nhận về khái niệm của nghệ thuậttranh minh họa trên sách báo tác giả Nguyễn Nghĩa Duyện viết là: “Những tranh
vẽ trình bày và minh họa sách, báo có thể là vẽ tay hoặc qua chất liệu thể hiệnnhư khắc kim loại, khắc gỗ, in đá… rồi thu nhỏ đưa vào sách báo” [18, tr.6] Từnhững đặc điểm và tâm lý thị giác, tác giả Nguyễn Quân lý giải minh họa là:
“Báo chí cũng rất cần minh họa làm ấn phẩm thêm hấp dẫn Minh họa phục vụcác sáng tác văn học, các bài viết văn hóa, khoa học, xã hội… Khi chưa có ảnhthì toàn bộ phần nhìn của báo chí do minh họa đảm đương” [95, tr.83]
Như vậy, khái niệm minh họa định rõ sự tích hợp trên các xuất bản phẩm,
là một lối trang trí, diễn đạt hoặc giải thích trực quan một văn bản, minh họa cóthể là một hình vẽ, một motip, dạng chữ viết hoặc hình ảnh hay cả bố cục nhiềuhình vẽ
Tranh minh hoạ là cụm từ ghép “tranh và minh hoạ”, trong đó: Tranh
(painting) là một dạng tác phẩm hội họa phản ánh hiện thực bằng đường nét vàmàu sắc, tồn tại dưới nhiều góc độ, có các ứng dụng khác nhau và hình vẽ
Trang 23thường có nội dung gắn với chủ đề được minh họa.
Theo nghĩa tiếng Anh (Illustration) là hình minh hoạ, từ thông dụng đồngnghĩa sử dụng nhiều chuyên ngành khác nhau, với nghệ thuật tạo hình thuật ngữ
“illustration” thường gọi là tranh minh họa, để làm rõ hơn hoặc bổ sung thêm cácthông tin tác phẩm văn chương, văn bản in trên tờ báo, tạp chí, quyển sách, tàiliệu, tờ rơi… như lời giải thích bằng hình ảnh của câu chuyện trong bài viết, mộtloại hình có giá trị nghệ thuật đối với mỹ thuật Việt Nam
Khái niệm thuật ngữ tranh minh họa được tác giả Nguyễn Đức Sơn sử
dụng trong công trình luận án tiến sĩ Tranh kỹ thuật số ở Việt Nam hiện nay, cho
rằng: “… thực chất tranh minh họa là những tác phẩm minh họa… ở Việt Namtranh minh họa đa dạng về phong cách Tuy nhiên, chúng đều là những tácphẩm đồ họa trên các phương tiện truyền thông… nhưng nếu đứng độc lập,chúng đều mang đầy đủ giá trị giống như một tác phẩm mỹ thuật…” [98, tr.67].Mặt khác, tranh minh họa được vẽ bằng nhiều phương tiện hoặc các chất liệukhác nhau, thể hiện ngôn ngữ tạo hình, mỗi tranh minh họa có thể chú thích,hoặc không ghi chú, đa số các hình vẽ đều có ghi đầy đủ thông tin của một bứctranh như một tác phẩm nghệ thuật
Tranh minh họa thường có đặc điểm mang tính tư liệu kèm theo những côngtrình viết nghiên cứu Khi nghiên cứu lịch sử báo chí Huế, tác giả Nguyễn Xuân
Hoa đề cập đến nội dung: “Chuyên đề về “Nghệ thuật Huế” (L’Art à Hué), thực
chất là một tập sách chuyên khảo viết về nghệ thuật Huế công phu, nhiều tranh vẽminh họa… ghi rõ xuất xứ từng địa điểm hiện vật” [30, tr.35] Trong việc dịch thuậttác giả Hà Xuân Liêm giải thích: “Kèm theo bài viết thường có hình vẽ theo nghệthuật Huế xưa để trang trí đề mục; hoặc tranh vẽ…” [55, tr.124-125]
Như vậy, nghệ thuật tranh minh hoạ trong luận án này được hiểu là nhữnghình ảnh xuất hiện trong tạp chí, bao gồm hai dạng thức: các hình ảnh minh hoạcho nội dung bài viết và các hình ảnh dùng để trang trí, làm đẹp cho tạp chí,không liên quan đến nội dung bài viết Theo đó, khái niệm tranh minh hoạ của
Trang 24luận án là: Tranh minh họa tạo hình đa dạng, có thể là tranh minh họa độc lậphay hình minh họa theo đồ án thống kê, ghi chép tập hợp tư liệu bằng hình vẽ,bản vẽ, tranh vẽ, bức họa, bức tranh, có đặc điểm chung là vẽ hoặc khắc in, sau
đó thu nhỏ in nhân bản thành tranh màu và trắng đen đăng trên tạp chí, có chứcnăng hỗ trợ, làm rõ thêm ý nghĩa và giao hòa cùng nội dung bài viết, đây là điểmđặc thù của nghệ thuật tranh minh họa trong tạp chí BAVH
Khái niệm nghệ thuật có định nghĩa như sau: Từ điển Mỹ thuật định
nghĩa: “… nghệ thuật là tất cả phương pháp tiến hành và sản phẩm tài khéo léo,
trí tưởng tượng và sự sáng tạo của con người” [46, tr.61]; Từ điển Mỹ thuật phổ thông giải thích: “Nghệ thuật phản ánh các tiêu chuẩn đẹp, khéo và sáng tạo”
[84, tr.101]; tác giả Đỗ Văn Khang biện giải: “Nghệ thuật học lấy cái đẹp làmphạm trù cơ bản và trung tâm, hình tượng là tiếng nói đặc trưng và lý tưởngthẩm mỹ là cơ sở xem xét quá trình phát sinh và hình thành của nghệ thuật” [37,
tr.6]; Tâm lý học nghệ thuật của L.X.Vugốtxki̛ cho thấy các tín hiệu thẩm mỹ ra
đời gắn với khuynh hướng cấu trúc trong nghiên cứu nghệ thuật, nghệ thuật làmột tổng thể các ký hiệu thẩm mỹ, nghệ thuật nghiên cứu từ góc độ học thuật cótính chuyên ngành, tác động đi sát với các thuộc tính ngôn ngữ nghệ thuật, tạo
cơ sở lý giải các thuật ngữ trong nghệ thuật
Từ những Khái niệm nghệ thuật nêu trên, có thể thấy rằng: mỗi thời đại, nơi
chốn, cộng đồng, hoàn cảnh cụ thể nào đó đều sở hữu những khái niệm nghệ thuật
là không giống nhau Dù có rất nhiều sự khác nhau trong cách đánh giá, nhận định
về nghệ thuật trong lịch sử nghệ thuật, song đối với nghệ thuật tạo hình là sáng tạocái đẹp như những tác phẩm mỹ thuật trong những lĩnh vực hội họa, điêu khắc, đồhọa in ấn Ví dụ: trong nghệ thuật đồ họa, tác giả Nguyễn Trân nêu những nét tạohình nổi bật của nghệ thuật đồ họa: “Đặc trưng của đồ họa là dựa vào đường nét,chấm vạch, đen - trắng dựng lên các hình tượng” và “… nhờ tiếng nói giản dị màtinh tế, thiết thực của đồ họa, nhờ khả năng tiện lợi có thể sản xuất
Trang 25ra hàng loạt, nên đồ họa áp dụng nhiều trong các ngành thông tin, tuyên truyền”
[100, tr.86] Khi xem xét các vấn đề liên quan đến đề tài luận án, khái niệm nghệ thuật sẽ mở hướng phân tích các yếu tố trong ngôn ngữ và đặc điểm tạo hình,
đem lại những giá trị mới về kỹ năng biểu đạt và biểu cảm của sự vật mang tínhquyết định giá trị thẩm mỹ của nghệ thuật tạo hình tranh minh họa trong tạp chíBAVH
Phong cách theo Macxen Pruxt dẫn giải: “Đối với nhà văn cũng như nghệsĩ, phong cách không phải là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề của cái nhìn” [123].Họa sĩ sáng tạo mỹ thuật tạo hình, phong cách có quan hệ với cấu trúc tác phẩm,
có đặc điểm nghệ thuật tạo hình Mặt khác, hệ thống các dấu hiệu của phongcách tạo hình là sự biểu hiện của một đường hướng sáng tạo thống nhất trongsáng tạo nghệ thuật Vậy nên, phong cách tạo hình biểu hiện rõ các yếu tố hợpthành của tạo hình, in đậm dấu ấn phong cách trong sự sáng tạo nghệ thuật
Với tạp chí BAVH thể hiện nội dung phản ánh đa dạng, có nhiều chuyên mục khác nhau về thông tin khoa học Các bài viết thể hiện tính chất nghiên cứu, luôn có các tranh minh họa đính kèm, đây là đặc điểm thể hiện chức năng nghiên cứu riêng biệt, phản ánh những vấn đề trong thực tiễn, là đặc trưng nổi bật mang tính khoa học của tạp chí BAVH.
Trang 261.2.2 Lý thuyết tiếp cận
Lý thuyết tiếp biến văn hóa (Cultural Acculturation) là sự tiếp xúc, giao lưu tiếp biến văn hóa trong quy luậtphát triển
tự nhiên của cộng đồng, các nền văn hóa một khi tiếp xúc trực tiếp với nhau tất yếu sẽ có sự giao thoa và phát triển, tạo ra sự biến đổi nhận thức văn hóa của xã hội.
Giao lưu, tiếp biến văn hóa là một khái niệm luận bàn trên các công trìnhnghiên cứu văn hóa, nghệ thuật trong các giai đoạn lịch sử, sử dụng phổ biếncùng nhiều ngành khoa học ở các nước trên thế giới, để nhìn nhận sự phát triểnvăn hóa đa lĩnh vực trong đời sống xã hội của mỗi dân tộc Giao thoa tiếp biếnvăn hóa là sự tương tác lẫn nhau giữa hai nền văn hóa, dẫn đến kết quả cả hainền văn hóa cùng thay đổi, có giá trị riêng biệt Tác giả Lê Thanh Bình nhậnđịnh: “Quá trình giao thoa văn hóa là một quá trình học tập và tiếp biến các giátrị văn hóa Mỗi nền văn hóa đều có những giá trị đặc sắc riêng” [8, tr.45-46]
Lý thuyết tiếp biến văn hóa đi liền các lĩnh vực khác nhau, trong dữ liệu
văn học nghệ thuật, một phần biểu hiện tập trung ở mỹ thuật thuộc nghệ thuật tạo
hình, là những yếu tố cấu thành của nền văn hóa Lý thuyết tiếp biến văn hóa có
những đóng góp xuyên suốt trong sáng tạo nghệ thuật tạo hình ở Việt Nam, quátrình giao lưu, tiếp xúc, biến đổi tạo ra những khuynh hướng nghiên cứu về lýthuyết hỗ trợ tinh thần sự giao lưu và tiếp biến nghệ thuật
Giao lưu và tiếp biến mỹ thuật là sự gặp gỡ, giao thoa, thâm nhập chia sẻnhững kinh nghiệm, phương pháp tạo hình của cá nhân hay nhóm tác giả đạidiện giữa các nền mỹ thuật trên thế giới Trong quá trình tham gia vào quá trìnhsáng tạo tiếp thụ bổ sung những tri thức khoa học dẫn đến sự đổi mới trong nghệthuật, tạo ra điểm giao thoa của nghệ thuật Khi nghiên cứu nghệ thuật tạo hìnhtranh minh họa cũng có bản sắc riêng, chất văn hóa cung đình ăn sâu vào tiềmthức văn hóa người dân xứ Huế, điều đó ấn định đặc điểm chất tạo hình rõ rệtnhất Trong đó, các họa sĩ từ khắp nơi về Huế cùng nhau trải nghiệm, tiếp thulàm mới các giá trị tạo hình, cống hiến, ghi ấn tài năng trên công trình BAVH
Trang 27Tác giả Chu Quang Trứ cảm nhận về mỹ thuật Huế: “Huế đón nhận ảnh hưởng
mỹ thuật phương Tây cũng sớm nhất và ngay từ đầu đã dân tộc hóa, vạch địnhhướng cho mỹ thuật Việt Nam Ở đây có lúc tiềm lúc trưởng, song cái chất Huếmênh mang và mộng mơ thì luôn luôn đậm” [115, tr.248]
Lý thuyết tiếp biến văn hóa áp dụng trong nghiên cứu tranh minh họa
BAVH để lý giải khuynh hướng giao lưu, tiếp biến và vận dụng thực hành sángtạo trong sự tiếp xúc, tiếp nhận kinh nghiệm từ hội họa Pháp, rồi tiếp biến phatrộn, cải biến các phương cách tạo hình trong tranh minh họa Trong mối tácđộng hai chiều, nghệ thuật tạo hình của tranh minh họa hình thành đậm nét ở xứ
sở Tác giả Lại Văn Toàn có viết: “Do ảnh hưởng văn minh thế giới đang thịnhhành, các nền văn hóa tất sẽ phải thay đổi và có thể đánh mất thứ này hay thứkhác, vì chúng ta là cơ thể sống Song có những phần nhất định trong bản sắc củachúng thì luôn ngấm ngầm tồn tại” [107, tr.135]
Trong giao lưu tranh minh họa tích hợp những giá trị về yếu tố văn hóa, thẩm mỹ, góp phần vào việc hình thành nét mới trong nghệ thuật tạo hình không làm mất đi bản sắc văn hóa Tác giả L.Cadière nhận xét: “Nghệ thuật An Nam thường đổi mới trong những hình dáng xưa” [55, tr.23], VI/1919A Nhưvậy, Lý thuyết tiếp biến văn hóa là cơsở lý
thuyết phù hợp để nhìn nhận đánh giá các giá trị văn hóa, nghệ thuật ở BAVH.
1.3 Khái quát về tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế”
1.3.1 Tranh minh họa ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
Trên thế giới, trong lịch sử phát triển văn hóa của cộng đồng, từ nhu cầu giao tiếp, truyền tải thông tin ở hầu hết các lĩnh vực trong xã hội Việc tìm ra hình thức truyền đạt bằng tranh, là một hiện tượng tự nhiên theo bản năng có nét văn hóa nguyên thủy mà người xưa để lại: Những hình cách điệu bàn tay, đầu người, con bò rừng… là thông điệp hỗ trợ
thuyết minh bằng hình ảnh để chia sẻ thông tin giữa những con người với nhau, Từ điển
thế kỷ thứ VI Ban
Trang 28đầu minh họa chỉ đóng vai trò thứ yếu và nói chung có tính chất tưliệu trong những cuốn sách tôn giáo Đầu thế kỷ XVI, minh họa mới đi vào những cuốn sách đời thường nhưlịch sử, văn học” [111].
Từ thời xa xưa, do đặc điểm của lịch sử xã hội văn hóa Việt Nam hìnhthành từ “nền văn minh lúa nước”, vì vậy, hình minh họa biết đến từ các hoa vănthảo mộc, hình dải, tam giác, hình gấp khúc… in trên gốm Phùng Nguyên, GòMun, Đông Sơn… những con dấu in hoa văn trên vải (thời kỳ đồ đá xưa kia).Trong xã hội phong kiến, tranh minh họa xuất hiện với chất liệu in khắc gỗ cókhả năng nhân bản in thành sách: “Việc hình thành nghệ thuật đồ họa gắn vớinhu cầu phổ cập rộng rãi một cái gì đó thuộc về tri thức, làm sao từ một bảnthảo, một bức tranh có thể trở thành nhiều quyển sách, một bức tranh khả dĩ đếntay nhiều người” [113, tr.13] Cuối thế kỷ XIX đầu XX đến nay, tranh minh họatrên báo chí phát triển đa dạng về bút tạo hình và phương pháp thể hiện, có vaitrò truyền bá thông tin, tư tưởng thông qua tranh vẽ minh họa bình dị, gần gũivới người Việt Nam
Báo chí Việt Nam ra đời cùng sự thiết lập chế độ thuộc địa của chủ nghĩa
tư bản Pháp, mặt khác, sự phân hóa rồi phát triển của báo chí, lại theo từng bước
đi của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp trong xã hội Việt Nam Trong mỗi giaiđoạn đều xuất hiện chế độ chính trị khác nhau, để lại nhiều dấu ấn cho nghệthuật báo chí Vậy nên, lịch sử báo chí Việt Nam đồng thời phản ánh sự tồn tạisong hành giữa nền báo chí Pháp và nền báo chí cách mạng, phản ánh lịch sử cậnđại Việt Nam, thể hiện ở hai dòng báo chí chủ yếu:
Báo chí bí mật, bất hợp pháp (chủ yếu là báo chí cách mạng và tiến bộ),hoạt động chống lại chính quyền thực dân và phong kiến, phản ánh lịch sử cậnđại cuộc đấu tranh dành độc lập tự do diễn ra sâu sắc trong lòng xã hội như: Báo
Đường Cách Mạng của nhóm Việt Nam Quốc dân Đảng; Tạp chí Đỏ xuất bản ngày 5 tháng 8 năm 1930; Lao tù Đỏ; Bàn góp
Báo chí công khai, hợp pháp chịu sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền
Trang 29Pháp, có vai trò quan trọng đối với sinh hoạt văn hóa và học thuật ở Việt Nam,
những báo chí có tranh minh họa như: Báo Việt Nam Độc Lập ấn hành từ tháng 8
năm 1941 đến tháng 2 năm 1942, do Nguyễn Ái Quốc phụ trách, bài viết trìnhbày báo đều có tranh cổ động, tranh minh hoạ, tranh đả kích, tranh châm biếm
của Nguyễn Ái Quốc sáng tác đầy ấn tượng; ngoài ra còn có các báo: Việt Nam Hồn, Lính Cách Mệnh, Thanh Niên, Thân Ái… là những tờ báo có tranh minh họa ý nghĩa, giá trị về nghệ thuật minh họa sách báo ở Việt Nam.
Nam Phong tạp chí là một tờ nguyệt san xuất bản tại Việt Nam từ ngày 1
tháng 7 năm 1917 đến tháng 12 năm 1934 thì đình bản, tất cả 17 năm và 210 số
Tạp chí Nam Phong do Phạm Quỳnh làm Chủ nhiệm và Chủ bút Nam Phong tạp
chí lại chú ý tập luyện văn quốc ngữ, có giá trị về tri thức, tư tưởng tiến bộ củaViệt Nam Trụ sở tòa soạn ban đầu ở nhà số 1 phố Hàng Trống, Hà Nội, đến năm
1926 chuyển về nhà số 5 phố Hàng Da, Hà Nội Nam Phong thường đăng nhiều
bài văn, thơ, truyện ngắn, phê bình văn học, tài liệu lịch sử bằng quốc ngữ, có
kèm theo tranh minh họa nhưng không nhiều, ít được chú ý Nam Phong chủ yếu
góp phần vào việc truyền bá Chữ Quốc ngữ vào Việt Nam
Báo Phong Hóa (1932 - 1936) là một tuần báo xuất bản tại Hà Nội (Việt
Nam), trải qua hai thời kỳ: từ số 1 (ra ngày 16 tháng 6 năm 1932) đến số 13 (rangày 8 tháng 9 năm 1932) do Phạm Hữu Ninh làm Quản lý (Administrateur) vàNguyễn Hữu Mai làm Giám đốc chính trị (Directeur politique), từ số 14 (ra ngày
22 tháng 9 năm 1932) đến số cuối (số 190 ra ngày 5 tháng 6 năm 1936) doNguyễn Tường Tam (Nhất Linh) làm Giám đốc (Directeur) Tháng 6 năm 1935,nhà cầm quyền thuộc Pháp ra lệnh đóng cửa 3 tháng, rồi lại tiếp tục xuất bản chođến số 190 (ra ngày 5 tháng 6 năm 1936), thì bị đóng cửa hẳn Đây là tờ báo
"trào phúng đầu tiên" trong lịch sử báo chí Việt Nam, có khoảng 3500 hình vẽminh họa của các họa sĩ phần đông là chuyên nghiệp tốt nghiệp trường Mỹ thuậtĐông Dương tham gia như: Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Cát Tường,
Lê Minh Đức, Trần Bình Lộc, Nguyễn Đỗ Cung… họa sĩ Đông sơn (học một
Trang 30năm tại Trường Mỹ Thuật Đông Dương (1925), phụ trách trang trí vẽ minh họa
chính của báo Phong Hóa Tranh minh họa trong báo Phong Hóa có tác động
đến việc hình thành mở rộng lĩnh vực nghệ thuật đồ hoạ báo chí ở Việt Namnhững thập niên đầu thế kỷ XX
Tạp chí Tri Tân (1941-1946) với 187 số thường theo thống kê chỉ có 75
tranh minh họa; 27 số Chuyên san, Đặc san, số Xuân, phần tranh vẽ có 57 minhhọa của các họa sĩ Phan Gia Giang, Nguyễn Văn Tỵ, Trịnh Vân hình minh họagồm hoa lá cách điệu, phong cảnh, con vật… các tranh minh họa diễn tả đề cậptới đời sống xã hội, văn hóa nghệ thuật làm phụ trợ thêm hình thức của tạp chícuốn hút người đọc quan tâm tìm hiểu
Ngoài ra, khảo cứu còn có tạp chí Đông Dương tạp chí (1913-1919), Thanh Nghị (1941-1945), Phụ nữ Tân Văn… đều có tranh minh họa khảo cứu
các vấn đề học thuật, phản ánh nhịp thở xã hội, phụ họa bài viết và chương mụctrong báo chí
Những năm đầu thế kỷ XX, triều Nguyễn ban hành nhiều chính sách,trong đó quan tâm về văn hóa hướng tới nhiều khía cạnh của đời sống xã hội nhưvăn chương, nghệ thuật, giáo dục, giao lưu, tiếp xúc văn hóa, bảo tồn di sản…Sách, báo chí sử dụng tranh minh họa hỗ trợ tuyên truyền “khai hóa”, truyền báhọc thuật, khoa học, tưtưởng mới với mục đích đáp ứng nhu cầu của độc giả, vàlưu giữ bản sắc văn hóa nghệ thuật dân tộc
Báo chí ở Huế thời kỳ trước tháng 8 năm 1945: Những tờ báo đầu tiên
(1914, Bulletin des Amis du Vieux Hué; 1918, Báo Trung Kỳ Bảo hộ Quốc ngữ Công báo; 1927, Báo Tiếng Dân của Huỳnh Thúc Kháng), các tờ báo có xu hướng “độc lập” (1935, Tràng An; 1936, Sông Hương; 1929, Phụ nữ Tùng San;
1932, Phụ nữ Tân Tiến,…), báo tôn giáo (1933, Viên Âm; 1936, Vì Chúa), báo của Pháp và triều đình nhà Nguyễn (1934, Nam Triều Quốc ngữ Công Báo;
1945, Việt Nam Đế Quốc Công Báo), báo do nhóm viên chức và quan lại chủ
Trang 31trương (1927, Thần Kinh tạp chí; 1927, Du học), những tờ báo do Pháp thực hiện (1928, Hà Tĩnh Tân Văn và Hoan Châu Tân; 1930, Tả Trực; 1930, Trường
An Cận Tín; 1930, Bình Phú Tân Văn) Những tờ báo có xu hướng chống Pháp (1937, Nhành Lúa; 1937, Kinh Tế Tân Văn; 1937, Sông Hương Tục bản; 1938, Báo Dân; 1938, Dân Tiến và Dân Muốn), báo chí sau thời điểm Nhật đảo chánh Pháp (1945, Việt Nam Tân Báo)… Đây là những báo chí có số lượng tranh minh
họa không nhiều, hình thức trình bày đơn giản, nội dung chứa đựng ý nghĩachính trị, thực tiễn xã hội đương thời ở Huế và Việt Nam
Tập sách Lục Vân Tiên cổ tích truyện (1895-1897), có 139 trang có tranh
minh họa, khoảng 1200 hình vẽ của họa sĩ Lê Đức Trạch, tranh vẽ bằng màunước, theo ý tưởng thể hiện bằng bộ tranh ký hoạ của ông Eugène Gibert, đại độitrưởng đội pháo binh hải quân sau đó trao tặng cho Viện Hàn lâm Văn Khắc vàVăn chương Pháp năm 1899 Tập tranh truyện vẽ theo những khổ thơ truyềnthuyết Lục Vân Tiên Bố cục mỗi trang minh họa có họa tiết bao quanh phần chữNôm là câu thơ tương ứng với phần minh họa, phương pháp tạo hình trang trí cókết hợp yếu tố tạo hình dân gian trong việc xây dựng hình, tạo ra giá trị thẩm mỹ,tái hiện câu truyện cổ tích sống động, nhiều màu sắc
Tập sách Đại lễ phục Việt Nam triều Nguyễn 1802-1945 (Grande Tenue de
la Cour d’Annam), họa sĩ Nguyễn Văn Nhân vẽ minh họa 54 tranh minh họa chitiết về phẩm phục Hoàng Triều Bộ tranh Đại lễ phục triều đình An Nam như mộtchuyên đề nghiên cứu chuyên sâu về nội dung đề tài, kỹ thuật, chất liệu tạo hìnhkết hợp lối cũ và mới, có giá trị tư liệu, để lại dấu ấn khởi đầu trong thời kỳ giaolưu tiếp biến mỹ thuật ở Huế
Trong Tập văn họa kỷ niệm Nguyễn Du hay Nguyễn Du minh họa tập của Đào Duy Anh, do Hội Quảng Trị - Huế xuất bản năm 1942, có tranh minh họa
trình bày kỹ từ hình thức đến nội dung, nét độc đáo của tập sách là tất cả minhhọa đều in thành tranh rời dán vào sách Truyện Kiều minh họa bằng tranh in gỗ,với sự cộng tác của nhiều họa sĩ sáng tác vẽ Kiều bằng cảm xúc theo phong cách
Trang 32riêng, chuyển tải tinh thần nhân vật vào tranh, làm cho tập thi văn có giá trị độcđáo, các họa sĩ bao gồm: Nguyễn Đỗ Cung (đảm nhiệm thiết kế trình bày), TôNgọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn TườngLân, Lương Xuân Nhị, Tôn Thất Đào, Lê Văn Đệ, Nguyễn Văn Tỵ, Lưu VănSìn, Phạm Hậu.
Sự hội tụ các họa sĩ và những tranh minh họa của sách, báo tạo ra nétriêng để lại dấu ấn là kết quả sáng tạo mỹ thuật, như kết lại trong mạch nguồnvăn hóa một thời kỳ phát triển, góp phần nhìn nhận rõ hơn về nghệ thuật tạo hìnhhình thành trên nền báo chí của mỹ thuật Huế, Việt Nam đầu thế kỷ XX
1.3.2 Tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế”
Trong thời gian đất nước bị lệ thuộc Bắc kỳ (từ phía Bắc đến Ninh Bình)
là vùng đất “bảo hộ”; Trung Kỳ (từ Thanh Hóa đến Bình Thuận); 6 tỉnh Nam Kỳtrở thành thuộc địa do Pháp cai trị, tham gia hợp tác cùng người Việt trên nhiềulĩnh vực Dưới sự “bảo hộ” của Khâm sứ Pháp, trên danh nghĩa triều đình Huếtừng có một số tờ báo ra đời dưới sự kiểm soát của người Pháp, tại Huế ngày 16
tháng 01 năm 1913 Hội Đô Thành Hiếu Cổ (Association des Amis du Vieux Hué)
viết tắt là AAVH, thành lập theo đề xuất của linh mục Léopold Cadière Hội quy
tụ những người có thế lực về chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa… tạo dấu ấnhứa hẹn triển vọng ổn định, phát triển trong cơ hội giao lưu tiếp xúc văn minh, vìvậy các hội viên AAVH là hội đoàn nghiệp dư đến từ nhiều lãnh vực, có đặc tínhđộc đáo của hội đoàn học thuật, hướng đến nhiệm vụ khai hóa khám phá nghiêncứu Kinh thành Huế và An Nam, từ thời tiền sử đến giai đoạn tiếp xúc với người
Âu với mục đích: Sưu tầm, bảo tồn, truyền đạt những dấu tích xưa về chính tri,tôn giáo, nghệ thuật, văn học châu Âu cũng như bản xứ có liên quan đến Huế và
vùng phụ cận Tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế” ra đời trong tinh thần
“khai hóa” ở vùng đất chất chứa giao thoa văn hóa
Tạp chí “Những người bạn Cố đô Huế” (Bulletin des Amis du Vieux Huế
Trang 33(viết tắt là BAVH), xuất bản bằng tiếng Pháp từ năm 1914 Khi mới thành lậpBAVH được sự hỗ trợ của Pháp và triều Nguyễn, là tờ báo khoa học đầu tiên ởHuế có bài viết chất lượng nghiên cứu về văn hóa Huế trong nền văn minh ViệtNam, mang giá trị quan trọng ở xứ Đông Dương thời đó Trong suốt quá trìnhtồn tại tập hợp, khai mở, lưu giữ, bảo tồn giá trị văn hóa, nghệ thuật bản địa, gợinhớ đến quá khứ phần nhiều về vùng đất và con người xứ Huế, Việt Nam.
Tổ chức tòa soạn: Trụ sở của Hội nơi phát hành BAVH đặt tại Tân ThơViện ở Huế; Nhà in BAVH: in tại Viễn Đông (IDEO) Hà Nội; Ban trị sự củaBAVH: Ông Dumoutie làm Chủ tịch; Linh mục L.Cadière tổng biên tập (chủ bút)suốt thời kỳ tồn tại, chịu trách nhiệm về các thông tin, tư liệu, nội dung bài viếtđăng trên tạp chí; Thư ký: Bác sĩ Sallet; Thủ quỹ: Bernard; Chủ tịch danh dự:Toàn quyền Pháp ở Đông Dương Vollenhoven đại diện, Khâm sứ Trung kỳL.Charles, ông Louis Fino, giám đốc trường Viễn Đông Bác Cổ, sau đó vua DuyTân và vua Khải Định đều quan tâm chú ý bảo trợ cho BAVH; Cộng tác viên:người in ấn, hướng dẫn phân trang, hiệu đính các bản thảo, trình bày… cókhoảng 200 tác giả tham gia viết bài, các họa sĩ vẽ tranh minh họa BAVH hoạtđộng trong hơn 30 năm (1914-1944), đến tháng 6 năm 1944, do các biến độngchính trị xã hội, Hội những người bạn Cố đô Huế tự giải thể và BAVH đình bản
hàng
quý, trung bình 3 tháng 1 số, đôi khi có những số ghép, xuất bản số đầu tiên vàotháng 1 năm 1914 Từ năm 1918 mỗi số của tạp chí in từ 300 đến 375 bản Sau 30năm hoạt động, BAVH ấn hành 121 tập (gồm 1 tập danh mục, bản dẫn), tổng cộngkhoảng 13.000 trang bài viết, 2800 phụ bản, 700 bản in đen trắng hoặc màu
- Hình thức: Thiết kế trình bày trang nhã từ trang bìa đến trang trong
và trang
cuối thu hút sự chú ý của bạn đọc; kích thước: 16,5 x 25cm; mỗi quý đánh số trangriêng, ví dụ: số 1,2,3,4/1914 định vị số trang từ 2-100, 102-190, 192-254, 256-360
Trang 35tiết trang trí, một nền màu kết hợp với nghệ thuật trang trí chữ có bố cục khác nhau,bìa in màu hoặc đen trắng, phù hợp với từng chủ đề nội dung chủ đạo của ấn phẩm;bìa sau là một mảng màu, hoặc trang trí hoa văn; tên tạp chí viết chữ cách điệu in to,đậm nét, bố cục chữ thiết kế hoa văn lối cách điệu trong nhiều số khác nhau, đôi khi
có lồng ghép chữ Hán, trên trang bìa có đầy đủ thông tin thời gian xuất bản Nghệthuật trang trí bìa đơn giản có kết hợp cấu trúc hoa văn chữ viết, gợi mở xác địnhphạm vi đối tượng mà tạp chí hướng tới nghiên cứu, giúp bạn đọc dễ dàng tìm hiểu,thẩm mỹ trang trí bìa thu hút liên tưởng đến văn hóa Huế [PL3, H3.4.3.1, tr.222]
phụ cận, lịch sử Huế và An Nam, nghệ thuật xứ Huế, ngôn ngữ học, dân tộc học,văn hóa dân gian xứ Huế và các đề tài khác Ngoài các số thông thường còn ranhững số chuyên đề nghiên cứu sâu về nghệ thuật, lịch sử, địa lý… riêng chuyên
đề số 1/1919 “Nghệ thuật Huế” (L’Art à Hué), tập gốc xuất bản năm 1919, tái
bản - Nouvelle Edition năm 1936, 2013… có 157 trang viết, còn lại các trangchủ yếu nghiên cứu những mẫu thức về đề tài mỹ thuật ở Huế, là ấn phẩm cótính thẩm mỹ, được giới chuyên môn học thuật đánh giá cao, ấn tượng với độcgiả về sự tinh tế trở thành tập san cổ điển mẫu mực, là một tác phẩm cung hiếndâng lên Hoàng thượng Bảo Đại vào ngày 28 tháng 3 năm 1933 [70, tr.413],XX/1933, nhân dịp Hội AAVH kỷ niệm chu niên lần thứ 20 ngày thành lập
người bạn Cố đô Huế”: Nhiệm vụ chủ yếu đi sâu nghiên cứu ở lĩnh vực đa
ngành, trong đó có văn hóa nghệ thuật, các bài viết đăng trên tạp chí luôn kếthợp chặt chẽ với tranh minh họa, tạo ra ấn phẩm có giá trị Sự kết hợp hài hoàgiữa nội dung, hình thức và phần thiết kế trình bày tranh minh họa là yếu tố thúcđẩy, nâng cao nhận thức thẩm mỹ, thị hiếu của độc giả, lưu giữ phát triển giá trịnghệ thuật xưa
BAVH xác định tôn chỉ, mục đích, nảy sinh từ nhu cầu tham khảo, tra cứu
về lịch sử, ngôn ngữ học, nhân học, sưu tập ảnh, tranh vẽ của hội viên Hội
Trang 36AAVH và những độc giả tham khảo về Huế, do vậy tác giả L.Cadière xúc tiến việcxây dựng thành lập thư viện của Hội: “Ngày 13 tháng 1 năm 1920 Thư viện chínhthức khánh thành” [50, tr.9], I/1914 Từ đây, những hoạt động của Hội phản ánhchính yếu qua BAVH, trong bối cảnh biến đổi của quá trình giao lưu văn hóa nghệthuật, nhằm hướng về sự hiểu biết mới do văn minh đem lại, đề cao ý thức bảo tồnvốn văn hóa nghệ thuật cổ, chính trị, tôn giáo, văn học… liên quan đến Huế và vùngphụ cận, mà phần nghiên cứu tranh minh họa thể hiện hình thái đời sống văn hóa xãhội, lưu lại dấu tích xưa bằng tranh minh họa BAVH.
BAVH ra đời cùng những khó khăn về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất,vật liệu giấy in khan hiếm, quy trình in ấn phục thuộc vào sự kiểm duyệt củachính quyền Pháp, một phần BAVH chú trọng hình thức sáng tạo tranh minh họavới mục đích lưu dấu nét xưa, có tác động đôi chiều về nhu cầu văn hóa đọc vàxem của nhiều đối tượng độc giả dễ dàng tiếp nhận thông tin: “… mục đích duynhất làm cho mọi người biết rõ cái đẹp quyến rũ tột mức của Huế là bảo tồn lạikinh đô của nước An Nam” [70, tr.417], XX/1933 Tôn chỉ là coi trọng, bảo tồngiá trị văn hóa, nghệ thuật hướng về cội nguồn bản sắc dân tộc Vì vậy, tất cả các
số trên BAVH đều biên tập, thiết kế trình bày tranh minh họa phù hợp nhu cầuthị hiếu nghệ thuật (đọc và xem của các tầng lớp trí thức hay người dân trongcộng đồng xã hội), tác giả L.Cadière chia sẻ: “… chúng ta hiểu rằng một khicàng được minh họa, thì tập san càng đạt được mục đích đề ra trong khi xuất bản
và nếu được đánh giá cao, thì nó càng phải làm vừa lòng mọi người” [52, tr.500],III/1916, tạp chí mang tính thẩm mỹ truyền thống, dẫn dắt độc giả dễ dàng tiếpcận thông tin hiểu rõ tôn chỉ, nội dung cần chuyển tải trên BAVH
BAVH cấu trúc trình bày tranh minh họa phụ thuộc vào các bài viết, thểhiện sự thống nhất mang lại cho người đọc thông tin hữu ích về tư duy và thẩm
mỹ, góp phần tôn lên nội dung và hình thức của BAVH, tác giả Victor Goloubewgiải thích: “… phụ bản được kèm theo tác phẩm đã tạo nên một nguồn thông tin
và tư liệu trực tiếp cần thiết, không chỉ đối với người không
Trang 37chuyên, mà cả đối với người chuyên” [71, tr.13], XXI/1934.
Cấu trúc trình bày bao gồm: Bố cục tranh vẽ, mô típ trang trí phụ họa; phụbản ấn định theo mã số thứ tự bằng chữ số La Mã, ví dụ: Planche: CXXII - Phụbản: 122; Fig.17 - Hình.17; Planche: IIbis - Phụ bản: Iibis, có những minh họa
có chữa ký hoặc không có chú thích, cách ghi chú thông tin ở dưới tranh minhhọa hoặc trên trang giấy mỏng đặt trước bức tranh… Vị trí trang trí trình bày đadạng về kiểu thức, bố cục thường đặt ở đầu trang, có thể là lệch qua phải hoặcsang bên trái, nghĩa là mỗi bài viết có thể thiết kế vị trí đặt tranh minh họa khônggiống nhau, có những bố cục trình bày ấn định ở giữa, hay toàn bộ trang giấyhoặc sau phần kết thúc của bài viết, cả sự sắp đặt ngẫu nhiên khi thiết kế dàntrang, theo sự bố trí minh họa kích cỡ to, nhỏ hợp lý với bố cục, thẩm mỹ trangviết… Đa phần các số tạp chí đều có phần thiết kế trình bày gây ấn tượng về bốcục, kiểu thức trang trí, tạo sự chú ý của thị giác trên các minh họa làm nên nétriêng của BAVH
Huế”:
120 tập của BAVH, hình tranh minh họa xuất hiện từ số 1/1914 đến 4/1944,nhiều chủ đề nghiên cứu, ghi chép, minh họa chi tiết, tập có số hình minh họa ítnhất là 3 hình vẽ (3/14), tập nhiều nhất 253 hình minh họa (1/1919)
Hình minh họa theo hình thức in lại trong tạp chí: Có khoảng 830 hình
minh họa, chủ yếu là các hình vẽ tiêu bản và kết bản, với hơn 100 mẫu (40 mẫutiêu bản, 60 mẫu kết bản); tập 2/1915 có 10 hình vẽ của M.Durie, họa sĩ NguyễnThứ vẽ lại và đăng 1/1936 cùng minh họa cho bài viết có nội dung Tế Nam Giao;
tranh chân dung M.Rheinart đăng ở 2/1916 và 1,2/1943 minh họa cùng nội dung
bài viết về quan chức Pháp đây là hình thức minh họa của tranh in, khác cácthể loại tranh khác
Hình minh họa có thông tin cụ thể: Khoảng 2100 hình minh họa, trong đó
(100 mẫu trang trí bìa, 1200 tranh minh họa, 400 sơ đồ và bản đồ, 400 vignette)
… phản ánh tính đa dạng trong sáng tạo nghệ thuật Tuy nhiên, luận án
Trang 38lựa chọn đề cập đến những tranh minh họa có dẫn nguồn đăng trên tạp chí
BAVH, hoặc tranh minh họa có thông tin của họa sĩ, để làm cơ sở xác định tư
liệu nghiên cứu, phân loại, phân tích đặc điểm, ngôn ngữ biểu hiện, hiệu quả tạo
hình… thống kê như sau:
Bảng 1.1: Thống kê số lượng tranh minh họa theo năm phát hành
Trang 39Tổng số tranh các quý có dẫn nguồn đăng trên các số của BAVH
[Nghiên cứu sinh tổng hợp]
Tranh minh họa đăng ở các quý trong năm có khác nhau: 5 năm đăng đủ 4
quý/1915, 1916, 1919, 1921, 1934; 3 năm đăng trong 3 quý/1917, 1924, 1933; 9
năm đăng ở 2 quý/ 1920, 1922, 1923, 1925, 1926, 1936, 1937, 1938, 1941; 9
năm đăng 1 quý/ 1918, 1927, 1930, 1932, 1935, 1939, 1942, 1943, 1944; ngoài
ra, năm 1914 có 46 hình vẽ chưa rõ nguồn; năm 1931 không có tranh minh họa,
nhưng có một số minh họa tiêu bản và kết bản; năm 1940 có 175 hình vẽ các sơ
đồ và bản đồ
Tổng cộng tranh minh họa có dẫn nguồn đăng trên BAVH: 676 tranh; số
lượng tranh minh họa của họa sĩ Việt Nam và Pháp: 552; bên cạnh số tranh minh
họa có tên họa sĩ, còn một số tranh là đồng tác giả, hoặc không ghi tên tác giả,
hay sử dụng minh họa khác (số lượng tranh đồng tác giả: 16; số tranh khuyết
danh: 98; số tranh trích từ nguồn khác: 10)
Do đặc thù tính chuyên biệt là tạp chí khoa học nghiên cứu theo bài viết
và các chuyên đề, tùy vào các nội dung mà tranh minh họa xuất hiện số lượng
chênh lệch trên tạp chí Đây cũng là điểm khác biệt với một số tạp chí thông
thường tạo nét riêng của BAVH, thống kê như sau:
Trang 40Bảng 1.2: Thống kê tổng hợp số lượng tranh của họa sĩ trong tạp chí
“Những người bạn Cố đô Huế” (tranh có dẫn nguồn và thông tin của họa sĩ)
Họa sĩ Việt Nam: 20 (trong đó Nguyễn Văn Nhân có đăng mẫu tranh trong
BAVH); Họa sĩ Pháp: 14
Tổng cộng tranh minh họa của họa sĩ Việt và Pháp: 552, đa phần là tranh
minh hoạ của các họa sĩ Việt Nam chiếm 90,6%, họa sĩ Pháp chiếm 9,4%; hầu