1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN

42 575 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng mô hình thị trường chứng khoán phi tập trung ở Việt Nam và các nhóm giải pháp hỗ trợ phát triển
Tác giả Đỗ Xuân Lộc
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
Trường học Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 139,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống giao dịch Đến nay, theo xu hướng phát triển của thị trường OTC, ngoài phương thức truyềnthống của thị trường là phương thức thoả thuận, hệ thống giao dịch trên thị trườngOTC đã

Trang 1

XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN

3.1 Định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2010 và những năm tiếp theo đến năm 2020

3.1.1 Mục tiêu

Phát triển TTCK cả về quy mô và chất lượng hoạt động nhằm tạo ra kênh huyđộng vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển, góp phần phát triển thị trường tàichính Việt Nam; duy trì trật tự, an toàn, mở rộng phạm vi, tăng cường hiệu quảquản lý, giám sát thị trường nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu

tư, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tàichính Quốc tế

3.1.2 Quan điểm và nguyên tắc phát triển thị trường chứng khoán

Phát triển TTCK phù hợp với điều kiện thực tế và định hướng phát triển kinh tế

-xã hội của đất nước, với các tiêu chuẩn và thông lệ Quốc tế, từng bước hội nhậpvới thị trường tài chính khu vực và thế giới

Xây dựng TTCK thống nhất trong cả nước, hoạt động an toàn, hiệu quả góp phầnhuy động vốn cho đầu tư phát triển và thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa các DNNN

Nhà nước thực hiện quản lý bằng pháp luật, tạo điều kiện để TTCK hoạt động và phát triển; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và có chính sách khuyến khích cácchủ thể tham gia TTCK

Bảo đảm tính thống nhất của thị trường tài chính trong phạm vi quốc gia, gắn vớiviệc phát triển TTCK với việc phát triển thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thịtrường bảo hiểm

3.1.3 Định hướng phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2010 và những năm tiếp theo đến năm 2020

Định hướng xây dựng và phát triển TTCK Việt Nam được căn cứ theo Địnhhướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2010 và Luật chứngkhoán được Quốc hội thông qua ngày 29/06/2006 (có hiệu lực từ ngày01/01/2007), cơ chế xác định như sau:

Một là, mở rộng quy mô của thị trường chứng khoán tập trung, phấn đấu đưa tổng

giá trị thị trường đến năm 2010 đạt mức 50% GDP, năm 2020 đạt 70% GDP theoquyết định 128/QĐ-TTg về điều chỉnh kế hoạch phát triển TTCK đến năm 2010

Trang 2

 Tập trung phát triển thị trường trái phiếu, trước hết là trái phiếu Chính phủ đểhuy động vốn cho Ngân sách Nhà nước và cho đầu tư phát triển.

 Tăng số lượng các loại cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán tậptrung nhằm tăng quy mô về vốn cho các doanh nghiệp và nâng cao hiệu quảsản xuất, kinh doanh của các công ty niêm yết

Hai là, xây dựng và phát triển các Trung tâm giao dịch chứng khoán, Sở giao dịch

chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán nhằm cung cấp các dịch vụ giaodịch, đăng ký, lưu ký và thanh toán chứng khoán theo hướng hiện đại hóa, cụ thểnhư sau:

Xây dựng TTGDCK Tp Hồ Chí Minh thành Sở giao dịch chứng khoán (đã

thực hiện theo Quyết định số 599/2007/QĐ-TTg ngày 11/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ) với hệ thống giao dịch, hệ thống giám sát và công bố thông

tin thị trường tự động hóa hoàn toàn

 Xây dựng thị trường giao dịch cổ phiếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại

Hà Nội; chuẩn bị điều kiện để sau năm 2010 chuyển thành thị trường giao dịchchứng khoán phi tập trung (OTC)

 Thành lập Trung tâm Lưu ký độc lập cung cấp các dịch vụ đăng ký chứngkhoán, lưu ký và thanh toán cho các hoạt động giao dịch chứng khoán của Sởgiao dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán; mở rộng phạm vilưu ký các loại chứng khoán chưa niêm yết

Ba là, phát triển các định chế trung gian cho TTCK Việt Nam, gồm:

 Tăng quy mô và phạm vi hoạt động nghiệp vụ kinh doanh, dịch vụ của cáccông ty chứng khoán Phát triển các công ty chứng khoán theo hai loại hình:Công ty chứng khoán đa nghiệp vụ và công ty chứng khoán chuyên doanh,nhằm tăng chất lượng cung cấp dịch vụ và khả năng chuyên môn hóa hoạtđộng nghiệp vụ

 Khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế có

đủ điều kiện thành lập các công ty chứng khoán, khuyến khích các công tychứng khoán thành lập các chi nhánh, phòng giao dịch, đại lý nhận lệnh ở cáctỉnh, thành phố lớn, các khu vực đông dân cư trong cả nước

 Phát triển các công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán cả về quy mô và chấtlượng hoạt động Đa dạng hóa các loại hình sở hữu đối với công ty quản lýquỹ đầu tư Khuyến khích các công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ quản

lý danh mục đầu tư

 Thành lập một số công ty định mức tín nhiệm để đánh giá, xếp loại rủi ro cácloại chứng khoán niêm yết và định mức tín nhiệm của các doanh nghiệp ViệtNam

Bốn là, phát triển các nhà đầu tư có tổ chức và các nhà đầu tư cá nhân, chi tiết như

sau:

Trang 3

 Thiết lập hệ thống các nhà đầu tư có tổ chức bao gồm các ngân hàng thươngmại, các công ty chứng khoán, các công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹđầu tư…, tạo điều kiện cho các tổ chức này tham gia thị trường với vai trò làcác nhà đầu tư chuyên nghiệp và thực hiện chức năng của nhà tạo lập thịtrường.

 Mở rộng và phát triển các loại hình quỹ đầu tư chứng khoán; tạo điều kiện chocác nhà đầu tư nhỏ, các nhà đầu tư cá nhân tham gia vào thị trường chứngkhoán thông qua góp vốn vào các quỹ đầu tư

3.2 Định hướng mô hình thị trường chứng khoán phi tập trung ở nước ta đến năm

2010 và những năm tiếp theo đến năm 2020

Khác với Sở giao dịch chứng khoán, TTCK phi tập trung không áp dụng hìnhthức khớp lệnh giao dịch mà các giao dịch ở đây được thực hiện theo hình thức tựthỏa thuận giữa các nhà đầu tư Các công ty chứng khoán sẽ đóng vai trò là nhữngngười đại diện cho khách hàng tiến hành những thỏa thuận này thông qua hệthống điện thoại hoặc hệ thống máy vi tính được nối mạng với nhau Như vậy,không nhất thiết phải có một nơi giao dịch tập trung, mà giao dịch có thể tiếnhành ở bất cứ nơi nào có trụ sở của công ty chứng khoán

3.2.1 Hàng hóa đưa vào giao dịch trên thị trường chứng khoán phi tập trung

Do đặc tính lịch sử, sự tiến hóa của thị trường và phương tiện truyền thông hiệnđại, ngày nay các chứng khoán giao dịch ở thị trường chứng khoán phi tập trungkhông hẳn là loại chứng khoán không đủ tiêu chuẩn niêm yết theo nhiều cáchđánh giá đã từng thành nếp suy nghĩ trong quá khứ Rất nhiều công ty lớn nổitiếng từ hơn một thập niên trở lại đây vẫn thích duy trì giao dịch chứng khoán của

họ trên thị trường phi tập trung

Như vậy, hàng hóa đưa vào giao dịch trên thị trường chứng khoán phi tập trung ởnước ta hiện nay bao gồm:

 Các loại chứng khoán không đáp ứng đầy đủ điều kiện được niêm yết trên thịtrường chứng khoán tập trung

 Các chứng khoán của các công ty mới phát hành lần đầu Tuy nhiên, để hạnchế tối thiểu những rủi ro có thể đem lại cho nhà đầu tư giao dịch trên thịtrường, trong giai đoạn đầu chỉ công nhận các giao dịch chứng khoán đã đượclưu ký tại các tổ chức lưu ký

Điều cần lưu ý ở đây là các loại chứng khoán được mua bán ở thị trường chứngkhoán phi tập trung là loại “hàng hiệu” phải qua đăng ký với những chuẩn mựcnhất định chứ không phải là bất kỳ loại nào Chẳng hạn như: làm ăn có tính hiệuquả, tính đại chúng và công khai hóa thông tin

Trang 4

3.2.2 Tổ chức chủ quản điều hành thị trường chứng khoán phi tập trung

Ở một số nước, cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứngkhoán đứng ra tổ chức thị trường chứng khoán phi tập trung; ở những nước khácthì Hiệp hội các tổ chức kinh doanh chứng khoán đứng ra thành lập – Hiệp hộinày là một tổ chức được Nhà nước thừa nhận

Ở Việt Nam, trong giai đoạn đầu Ủy ban chứng khoán Nhà nước nên đứng ra tổchức thị trường chứng khoán phi tập trung thì hợp pháp hơn Sau đó sẽ chuyểngiao cho Hiệp hội các tổ chức kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứngkhoán phi tập trung quản lý và điều hành hoạt động thị trường chứng khoán phitập trung

3.2.3 Đối tượng tham gia thị trường chứng khoán phi tập trung

Bất kỳ tổ chức kinh doanh là công ty hay công ty trách nhiệm hữu hạn hay cánhân hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến chứng khoán đều có thể tham giakinh doanh trên thị trường chứng khoán phi tập trung nếu hội đủ các điều kiện quyđịnh của pháp luật

3.2.4 Phương thức hoạt động

Về nguyên tắc TTCK phi tập trung cũng phải được tổ chức theo nguyên lý chung

về chứng khoán và thị trường chứng khoán cụ thể:

 Giao dịch chứng khoán trên TTCK phi tập trung vẫn phải thực hiện theonguyên tắc trung gian có nghĩa là việc mua bán chứng khoán ở thị trường nàycũng phải được thực hiện thông qua trung gian môi giới Nguyên tắc này nhằmđảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch là chứng khoán thực và thịtrường hoạt động lành mạnh, đều đặn, hợp pháp, phát triển bảo vệ được lợi íchcủa người tiết kiệm và đầu tư Vì những người này bản thân họ không tự xétđoán được giá trị thực sự của từng loại chứng khoán và cũng không dự đoánđược một cách chính xác giá trị tương lai của nó Do đó, nếu không có nhữngnhà môi giới có những phân tích cần thiết dựa trên những yếu tố xác đáng để

có những nhận xét kỹ lưỡng thì người mua chứng khoán không thể không bịnhầm lẫn hoặc bị lừa gạt

 Giá chứng khoán được hình thành theo nguyên tắc thỏa thuận Cơ chế tạo giáđối với loại chứng khoán được thực hiện theo phương thức cùng lúc có sựtham gia của nhiều nhà tạo lập thị trường với sự tuân thủ nghiêm túc các yêucầu quy định sẽ cung cấp cho thị trường một giá tốt nhất Cuối mỗi ngày giaodịch các nhà tạo lập thị trường sẽ gởi các giá rao mua, chào bán của mình lên

cơ quan tổng hợp giá thị trường quốc gia để nơi đây phổ biến thành ấn phẩm

 Sau khi chứng khoán được giao dịch, giá cả hình thành được đăng tải côngkhai trên các thông tin đại chúng đồng thời các công ty chứng khoán cũng phảithực hiện công bố thông tin theo quy định

Trang 5

Luận văn tốt nghiệp cao học GVHD: TS Nguyễn Thị Uyên Uyên

 Các thủ tục chi phối việc mua bán, giao nhận chứng khoán, phương thức thanh

toán,… cũng được áp dụng thống nhất (giống như Sở giao dịch chứng khoán)

theo luật phát quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán

3.3 Xây dựng mô hình thị trường chứng khoán phi tập trung ở Việt Nam

Trên thực tế cho thấy việc xây dựng TTCK phi tập trung có sự tham gia của nhà

tạo lập thị trường là xu hướng phổ biến của các thị trường chứng khoán phi tập

trung trên thế giới

Qua phân tích kinh nghiệm của các nước trên thế giới cũng như cơ sở lý thuyết

của TTCK và kết hợp với thực trạng hiện nay của thị trường chứng khoán Việt

Nam Đề tài đưa ra một mô hình TTCK phi tập trung có sự tham gia của nhà

tạo lập thị trường trên cơ sở áp dụng cho TTGDCK Hà Nội, với hình thức tổ

chức sẽ là mô hình của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo sơ đồ tổ

chức khung như bên dưới:

Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức của TTCK phi tập trung

Người thực hiện: Đỗ Xuân Lộc – TCDN/K15 Khoa sau ĐH/ĐH Kinh Tế Tp HCM 5

C

Trang 6

Tiếp theo sơ đồ tổ chức, đề tài tiếp tục trình bày cơ chế vận hành và hoạt động của

mô hình thị trường chứng phi tập trung có sự tham gia của nhà tạo lập thị trường:

3.3.1 Các điều kiện để phát hành và giao dịch chứng khoán

Để tạo điều kiện cho TTGDCK Hà Nội hoạt động hiệu quả, trong giai đoạn đầunên quy định loại hình chứng khoán niêm yết trên thị trường Hà Nội sao cho thuhút được một khối lượng đáng kể hàng hóa cho thị trường này

Theo đó thì TTGDCK Hà nội sẽ tổ chức thành hai khu vực giao dịch như sau:

Khu vực 1: dự kiến đăng ký giao dịch cho các doanh nghiệp có số vốn từ 5 – 30 tỷ

đồng với các điều kiện cơ bản sau:

 Cổ phiếu, trái phiếu của các CTCP có vốn điều lệ từ 5 tỷ cho đến 30 tỷ đồng,

đã thành lập tối thiểu 1 năm và có ít nhất 20% số cổ phiếu phát hành ra côngchúng

 Trái phiếu của doanh nghiệp này đã thành lập tối thiều 2 năm, trong đó phải có

1 năm hoạt động có lãi

Khu vực 2: dự kiến đăng ký giao dịch cho các doanh nghiệp có vốn trên 30 tỷ

đồng với điều kiện cơ bản sau:

 Cổ phiếu, trái phiếu của các CTCP có vốn điều lệ trên 30 tỷ đã thành lập tốithiểu 2 năm và có ít nhất 10% số cổ phiếu phát hành ra công chúng

 Trái phiếu của doanh nghiệp có vốn trên 30 tỷ, đã thành lập tối thiểu 5 năm,trong đó phải có ít nhất 3 năm hoạt động kinh doanh có lãi

 Trái phiếu công trình được sự đảm bảo thanh toán của một ngân hàng hay một

tổ chức tài chính

 Trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương và các chứng khoánniêm yết trên TTGDCK

3.3.2 Cơ quan quản lý nhà nước

Nhìn chung, sự đa dạng của quá trình phát triển thị trường, mức độ phát triển củathị trường và điều kiện cụ thể của mỗi nước sẽ dẫn đến sự đa dạng trong cơ chế vàmức độ quản lý thị trường Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia, trên cơ sở những ưuđiểm của từng hình thức quản lý, hoạt động của TTCK đều đã sử dụng mô hìnhquản lý nhà nước có sự kết hợp của chế độ tự quản

Một trong những quan điểm cơ bản để xây dựng TTCK Việt Nam là nhà nước giữvai trò quyết định trong việc xây dựng, quản lý và phát triển TTCK Nhà nướcthống nhất quản lý lĩnh vực chứng khoán tạo điều kiện cho thị trường này hoạtđộng hiệu quả, an toàn, hỗ trợ cho việc thực hiện các mục tiêu của Nhà nước

Trang 7

Khi áp dụng mô hình mới này, trong giai đoạn đầu do vai trò tự quản củaTTGDCK Hà Nội chưa cao nên UBCKNN sẽ phải thực hiện vai trò quản lý Nhànước đối với các hoạt động trên TTCK phi tập trung UBCKNN với chức năng:định hướng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành khung pháp lý cho hoạtđộng của thị trường, giám sát thị trường, cấp giấy phép hoạt động cho các công tychứng khoán, thanh tra và thực hiện việc cưỡng chế thực thị các trường hợp viphạm với mục tiêu bảo đảm cho thị trường này hoạt động trong khuôn khổ chophép của Nhà nước và pháp luật.

3.3.3 Cơ cấu sở hữu

Ngày 01/01/2007, Luật chứng khoán chính thức có hiệu lực và thay thế Nghị định

144 và đây cũng chính là cơ sở pháp lý chính cho việc xây dựng TTCK Vì vậy,

cơ cấu sở hữu của TTGDCK Hà Nội sẽ là pháp nhân thành lập và hoạt động theo

mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thủ tướng Chính phủ quyếtđịnh thành lập, giải thể, chuyển đối cơ cấu tổ chức, hình thức sở hữu củaTTGDCK Hà Nội theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ tài chính Hoạt động củaTTGDCK Hà Nội phải tuân thủ quy định tại Luật chứng khoán và điều lệ do bộtài chính phê chuẩn TTGDCK Hà Nội là cơ quan trực tiếp vận hành thị trường vàchịu sự quản lý, giám sát của UBCKNN

3.3.4 Cơ cấu tổ chức

Trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ, cơ cấu quản lý của TTGDCK Hà Nội nênđược tổ chức như sau:

Hội đồng quản trị: giữ vai trò là đại diện cho chủ sở hữu tại Trung tâm, quyết

định các vấn đề then chốt tại Trung tâm

Ban giám đốc: bộ phận thực thi các kế hoạch, chiến lược do Hội đồng quản trị đề

ra và trực tiếp điều hành các công việc hàng ngày của Trung tâm

Ban kiểm soát: thực hiện chức năng kiểm soát việc thực hiện vai trò đại diện cho

chủ sở hữu của Hội đồng quản trị

Các phòng ban nghiệp vụ chính của TTGDCK Hà Nội, bao gồm:

Phòng giám sát thị trường: có chức năng xác định, điều tra và tham chiếu các

mẫu giao dịch bất thường có dấu hiệu giao dịch nội gián và thao túng thị trường.Đồng thời xác định và tìm kiếm các mẫu có dấu hiệu vi phạm quy định về nghĩa

vụ công bố thông tin Trong quá trình thực hiện chức năng của mình về hoạt độnggiám sát thị trường, phòng giám sát chịu trách nhiệm kiểm tra về các trường hợpnghi vấn mà các phòng chức năng chuyển đến

Phòng thành viên: Chịu trách nhiệm theo dõi và khuyến khích các công ty thành

Trang 8

giới, giám sát việc tuân thủ các nghĩa vụ của nhà môi giới, ngân hàng giám sát,các thành viên khác của hệ thống giao dịch.

Phòng niêm yết: Một trong những nhiệm vụ của phòng này là giám sát công ty

niêm yết, đảm bảo các công ty niêm yết tuân thủ các quy định về hoạt động niêmyết mà cụ thể là tuân thủ các yêu cầu đối với niêm yết lần đầu và tuân thủ cácnghĩa vụ về công bố thông tin

Phòng thông tin thị trường: Phòng thông tin thị trường có trách nhiệm phối hợp

với phòng niêm yết trong việc giám sát hoạt động công bố thông tin cùa các tổchức niêm yết Phòng thông tin thị trường nhận thông tin chưa xử lý từ các phòngnghiệp vụ khác và qua các kênh thông tin khác, sau đó phòng thông tin thị trườngtiến hành xử lý những thông tin cần thiết trước khi đưa ra thị trường

3.3.5 Hệ thống giao dịch

Đến nay, theo xu hướng phát triển của thị trường OTC, ngoài phương thức truyềnthống của thị trường là phương thức thoả thuận, hệ thống giao dịch trên thị trườngOTC đã được thay đổi do tích hợp nhiều phương thức giao dịch hiện đại nhằm đadạng hoá các hình thức giao dịch với mục đích phục vụ tối đa cho các nhà đầu tư.Việc đưa ra nhiều phương thức giao dịch khác nhau áp dụng trong thị trường này

sẽ làm cho các hoạt động giao dịch sôi động và các chứng khoán trên thị trường sẽ

có tính thanh khoản cao

Hiên tại, TTGDCK Hà Nội đang áp dụng 2 phương thức giao dịch đó là: giao dịchthoả thuận và giao dịch báo giá

Đối với giao dịch thoả thuận: Vẫn thực hiện hoạt động giao dịch như hiện nay

nhưng phải được thiết kế với nhiều tính năng hiện đại với công suất lớn, trong đó

bỏ qua hình thức giao dịch qua đại diện giao dịch tại sàn (hiện nay đang đượcthực hiện tại TTGDCK Hà Nội) và thực hiện đặt lệnh từ xa thông qua mạng máytính điện tử diện rộng để tiết kiệm nhân lực và chi phí vận hành

Đối với giao dịch báo giá trung tâm: Giao dịch này vẫn được thực hiện như hiện

nay và được áp dụng cho các giao dịch lô chẵn 100 cổ phiếu trở lên

Hệ thống giao dịch cho thị trường chứng khoán phi tập trung trong tương lai sẽxuất hiện thêm một hình thức giao dịch nữa đó chính là hình thức giao dịch có sựgóp mặt của nhà tạo lập thị trường, cụ thể như sau:

Hệ thống này là một mạng máy tính và hệ thống viễn thông diện rộng, được kếtnối gữa các nhà tạo lập thị trường, các đại diện đăng ký và Trung tâm quản lý Hệthống sẽ cung cấp mức giá cao nhất và thấp nhất trong tuần trước đó và các mứcgiá mua vào và bán ra của các nhà kinh doanh chứng khoán Các công ty muốnmua bán chứng khoán có thể chuyển giá chào mua và chào bán của mình quamạng điện tử, công ty cũng có thể thay đổi lệnh đặt trong ngày khi tình hình thị

Trang 9

trường thay đổi do hệ thống được máy tính hoá Hệ thống các nhà tạo lập thịtrường nên được tổ chức như sau:

 Cấp độ 2: Cấp độ này không những hiển thị các dữ liệu về giao dịch mà còn cócác thông tin về nhà tạo lập thị trường Cấp độ này chỉ cung cấp cho công tychứng khoán và quỹ đầu tư Các nhà đầu tư trên thị trường không được sửdụng dịch vụ này Cấp độ 2 cung cấp cho các nhân viên công ty chứng khoán

và các quỹ đầu tư báo giá chi tiết về giá và số lượng hiện hành từ mỗi nhà tạolập thị trường cho chứng khoán đó Để thực hiện được báo giá, các nhà tạo lậpthị trường phải đảm bảo giá được thực hiện cho ít nhất 100 cổ phiếu

 Cấp độ 3: Cho phép các nhà tạo lập thị trường trên hệ thống được đặt các lệnhmua và bán chứng khoán được cấp phép kinh doanh Các lệnh này sẽ đượchiển thị lập tức trên hệ thống Để được cấp phép hoạt động ở cấp độ 3, cácthành viên của thị trường phải là các nhà tạo lập thị trường Hệ thống cung cấpcho các thuê bao tất cả các dịch vụ của cấp độ 1 và cấp độ 2 cho phép nhà tạolập thị trường có đăng ký được cập nhật, sữa chữa báo giá về bất kỳ chứngkhoán nào mà họ là nhà tạo lập thị trường

Các nhà kinh doanh chứng khoán phải báo cáo về giá và khối lượng giao dịch lêntrung tâm thông qua các thiết bị đầu cuối trong vòng 180 giây sau khi giao dịchđược thực hiện

Tiếp theo là mô tả giao dịch thông qua hệ thống nhà tạo lập thị trường: giao dịch được thực hiện thông qua các bước sau:

 Bước 1: Công ty chứng khoán sẽ nhận lệnh từ khách hàng và đặt lệnh đó chonhà tạo lập thị trường A – là người đưa ra mức giá tốt nhất trên hệ thống

 Bước 2: Nhà tạo lập thị trường A nhận được lệnh từ công ty chứng khoánchuyển tới ngay lập tức thoả thuận với công ty chứng khoán dựa trên mức giá

mà mình đưa ra, đồng thời điều chỉnh lại báo giá và công bố thông tin có liênquan trên hệ thống Trong trường hợp, lệnh của công ty chứng khoán khôngkhớp với mức báo giá mà nhà tạo lập A đưa ra, nhà tạo lập thị trường A sẽ lưulệnh đó cho đến khi báo giá của mình khớp được lệnh của công ty chứng

Trang 10

 Bước 3: Khi công ty chứng khoán có được kết quả thoả thuận, công ty chứngkhoán sẽ đồng thời chuyển kết quả tới khách hàng của mình và cho hệ thống.

Kế tiếp là các chứng khoán giao dịch trên Hệ thống các nhà tạo lập thị trường:

Chứng khoán được phép giao dịch trên hệ thống có thể bất kỳ chứng khoán nàothuộc khu vực 1 và 2 Ngoài ra, phải thoả mãn yêu cầu có tối thiểu hai nhà tạo lậpthị trường: để một chứng khoán giao dịch trên hệ thống phải có ít nhất hai nhà tạolập thị trường có khả năng và sẵn sàng đưa ra các báo giá trên hệ thống (tiêuchuẩn tối thiểu hai nhà tạo lập thị trường sử dụng trong trường hợp đăng ký giaodịch lần đầu, đối với đăng ký giao dịch bổ sung chỉ cần một nhà tạo lập thịtrường)

Thời gian giao dịch: Các ngày làm việc trong tuần, trừ ngày nghỉ theo quy định

của Bộ Lao động:

 Sáng 9h00 – 11h00: Phiên giao dịch báo giá Trung tâm

 Sáng 9h00 – 11h00: Giao dịch thoả thuận

 Sáng 9h00 – 11h00, chiều 14h – 16h: Giao dịch hệ thống các nhà tạo lập thịtrường

Sau cùng là yêu cầu xây dựng hệ thống kỹ thuật:

Để thực hiện xây dựng hệ thống này cần nâng cấp và phát triển hệ thống giao dịchhiện nay của TTGDCK Hà Nội theo hướng như sau:

 Về mạng máy tính: Phát triển mạng máy tính cục bộ (LAN) trong giai đoạn hiệnnay thành mạng máy tính diện rộng, kết nối trực tiếp từ TTGDCK Hà Nội đến cácthành viên và các cơ quan quản lý thị trường có liên quan Mạng máy tính diệnrộng (WAN) sẽ cho phép bỏ đại diện tại sàn, lệnh giao dịch và báo giá sẽ đượcchuyển đến TTGDCK Hà Nội từ các công ty thành viên

 Về thành viên: Mở rộng đối tượng được phép làm thành viên của TTGDCK HàNội Ngoài các công ty chứng khoán như hiện nay, các thành viên đầu tư có tổchức, các công ty quản lý quỹ, các ngân hàng thương mại và định chế tài chínhcũng có thể được làm thành viên của trung tâm theo các điều kiện quy định Cầnxây dựng hệ thống các nhà tạo lập thị trường đây là thành viên quan trọng của mộtthị trường chứng khoán phi tập trung

 Tùy thuộc vào tình hình cụ thể, trong giai đoạn này TTGDCK Hà Nội có thể tăngthời gian giao dịch trong ngày, bổ sung một số lệnh khác ngoài lệnh giới hạn…

3.3.6 Hệ thống đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán

Ở Việt Nam , do việc phát hành ra công chúng của các công ty cổ phần còn nhiềuhạn chế, các chứng khoán phát hành dưới dạng chứng chỉ vật chất Các dịch vụ

Trang 11

đăng ký, lưu ký, thanh toán tập trung còn chưa phát triển, chưa tạo điều kiện thuậnlợi cho người sử dụng Chính vì vậy, chứng khoán giao dịch trên TTCK trước mắt

có thể dưới dạng chứng chỉ vật chất, ghi sổ, ghi danh, hoặc là vô danh, được lưu

ký tập trung hoặc không đưa vào lưu ký để tạo thuận lợi tối đa cho nhà đầu tư

Tuy nhiên, trước khi tiến hành giao dịch trên Trung tâm giao dịch, chứng khoánbuộc phải được đưa vào lưu ký tập trung Về lâu dài, khi các dịch vụ lưu ký, thanhtoán tập trung phát triển hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người sử dụng, cóthể áp dụng bắt buộc sử dụng các hình thức này để tạo điều kiện giám sát dễ dànghơn cho các nhà quản lý thị trường Trước mắt chỉ nên khuyến khích sử dụng hìnhthức này

Kinh nghiệm của các nuớc trên thế giới cho thấy, các hoạt động của hệ thống lưu

ký, thanh toán bù trừ các giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung cũngnhư phi tập trung đều được thực hiện chủ yếu qua Trung tâm lưu ký chứng khoán

Ngoài ra, cần phải có một hệ thống thanh toán tiền phục vụ riêng cho TTCK đểđáp ứng được những đòi hỏi mới của hệ thống thanh toán bù trừ về độ an toàn, tốc

độ xử lý và tính chính xác trong hoạt động thanh toán tiền cho các giao dịchchứng khoán Ngoài ra, trên cơ sở đánh giá năng lực hiện tại của mình, ngân hàngcũng cần xây dựng phương án kết nối để truyền và nhận tin trên cơ sở thống nhấtcác phương án kết nối với các thành viên lưu ký, TTGDCK Hà nội và Trung tâmlưu ký Mục đích cuối cùng của phương án này chính là nhằm đảm bảo cơ chế xácnhận, truyền tin giữa ngân hàng với TTGDCK Hà Nội, Trung tâm lưu ký sao chochứng khoán chỉ được chuyển đi khi tiền đã được thanh toán

3.3.7 Hệ thống công bố thông tin trên thị trường

Đối với các chứng khoán giao dịch thông qua hệ thống nhà tạo lập thị trường thìnhà tạo lập thị trường được chỉ định phải có trách nhiệm công bố thông tin đối vớiloại chứng khoán mà mình được chỉ định trong thời hạn ít nhất là một năm kể từngày được chỉ định tạo lập thị trường cho chứng khoán đó Các phương thức thựchiện công bố thông tin:

Công bố thông tin tức thời: Thông tin tức thời chủ yếu được cung cấp qua các

thiết bị nối mạng với thiết bị nguồn của bộ phận cung cấp thông tin thị trườngthông qua mạng máy tính diện rộng liên kết các đối tượng tham gia thị trường.Đây cũng là những thông tin nhận được trực tiếp từ hệ thống giao dịch, cung cấpcác thông tin trước và sau giao dịch Bao gồm thông tin về khối lượng và mức giáchào mua, chào bán; thông tin về kết quả giao dịch về đấu lệnh trực tiếp và giaodịch thông qua thương lượng, thỏa thuận giữ các nhà tạo lập thị trường, các nhàmôi giới chuyển lên; khối lượng chứng khoán dư mua ,dư bán, chỉ số chứngkhoán và các thông tin quan trọng khác có ảnh hưởng lớn đến giá cổ phiếu Công

bố thông tin tạo ra sự tiện ích và dễ dàng cho người sử dụng trong việc truy cậpthông tin để đưa ra các quyết định mua hay bán chứng khoán kịp thời

Trang 12

Công bố thông tin thống kê: Các thông tin thống kê được công bố định kỳ kết thúc

ngày giao dịch hoặc định kỳ hàng tuần, tháng, năm… Đây là những thông tin đãđược thống kê lại từ những thông tin ban đầu nhằm nhiều mục đích sử dụng khácnhau Các loại chỉ số, các dữ liệu thống kê về báo giá, cung cầu chứng khoán trênthị trường, quy mô giao dịch trong kỳ…

Đối với các thông tin tài chính: Đây là các thông tin rất quan trọng, phản ánh đầy

đủ và kịp thời về tình hình giao dịch trên thị trường vào thời điểm hiện hành Nóbao gồm các thông tin về báo giá mua, giá bán của nhà tạo lập thị trường; nhà môigiới; thông tin về tình hình biến động giá của từng loại chứng khoán; thông tin vềchỉ số giá chứng khoán… các thông tin này được truyền trực tiếp từ hệ thống công

bố thông tin – giao dịch của Trung tâm tới công ty chứng khoán, nhà tạo lập thịtrường, thành viên khác của hệ thống, công ty niêm yết và các nhà đầu tư thôngqua hệ thống máy tính diện rộng Người đầu tư cũng có thể trực tiếp xem thôngqua bảng điện tử, hệ thống máy tính nối mạng các công ty chứng khoán

3.3.8 Giám sát hoạt động của thị trường

Việc giám sát TTCK được thực hiện trên phương thức giám sát các đối tượngtham gia thị trường, phải được dựa trên các hoạt động cụ thể hoặc căn cứ vào cácthông tin, dữ liệu báo cáo do các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán, ngườihành nghề kinh doanh chứng khoán,… cung cấp Từ đó, phân tích, đối chiếu giữacác thông tin, số liệu trong báo cáo với các tiêu chí đã được quy định trong cácvăn bản pháp luật liên quan đến chứng khoán, thị trường chứng khoán nhằm pháthiện sớm các dấu hiệu thiếu sót hoặc vi phạm

Hoạt động giám sát việc thực thi pháp luật về chứng khoán được thực hiện bằng 3phương thức cơ bản sau:

 Giám sát việc tuân thủ các quy định liên quan đến hoạt động chứng khoán vàTTCK thông qua hệ thống báo cáo, công bố thông tin Được thực hiện thôngqua việc theo dõi, phân tích thường xuyên các báo cáo của các đối tượng chịugiám sát trên thị trường dựa trên những quy định về chứng khoán và TTCKliên quan và tiêu chí giám sát cụ thể Các đối tượng chịu sự giám sát, quản lý

có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác và đảm bảo có tính pháp

lý của các thông tin, báo cáo theo quy định cho UBCKNN và TTGDCK.Thông qua việc xử lý các dữ liệu, thông tin trong các báo cáo thường xuyênmột cách liên tục nhằm tìm ra và phát hiện kịp thời các trường hợp vi phạmtrên thị trường

 Giám sát thường xuyên qua các thông tin giao dịch hai chiều qua hệ thốnggiao dịch: các thông tin, dữ liệu về giao dịch trên TTCK phi tập trung đượcphản ánh qua hệ thống quản lý giao dịch, qua đó các quản lý nắm bắt và quản

lý được nhiều thông tin và các dữ liệu quan trọng về hoạt động giao dịch như:thông tin báo giá, thông tin đặt lệnh, thông tin kết quả giao dịch, thông tinthanh toán giao dịch, vị thế công ty thành viên trong giao dịch và nhiều thông

Trang 13

tin khác… Những thông tin này sẽ là cơ sở để lưu giữ, phân tích phát hiện racác dấu hiệu sai phạm trong hoạt động giao dịch và các hoạt động có liên quantrên TTCK phi tập trung nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro.

 Giám sát thông qua cơ chế kiểm tra định kỳ hoặc bất thường đối tượng chịu sựgiám sát trên TTCK phi tập trung khi cần thiết Kết hợp với việc thực hiệngiám sát thông qua theo dõi, phân tích và có thể tiến hành kiểm tra định kỳhoặc đột xuất một cách trực tiếp nhằm khẳng định và đảm bảo kết quả theodõi, giám sát hệ thống báo cáo chính xác tối đa Nội dung mỗi đợt kiểm trabao gồm nghiệp vụ, hoạt động mà các đối tượng tham gia tiến hành trong quátrình hoạt động của mình liên quan đến chứng khoán và TTCK và phụ thuộcvào yêu cầu giám sát của đơn vị chức năng tiến hành giám sát, kiểm tra

3.3.9 Thành viên của thị trường

Thành viên của thị trường là các tổ chức trung gian tài chính có vai trò quan trọngđối với hoạt động của TTCK tập trung và thị trường OTC Trên thị trường OTCnên có các loại nhình tổ chức trung gian tài chính sau:

3.3.9.1 Các công ty chứng khoán

Ở Việt Nam, để đảm bảo thị trường hoạt động trong khuôn khổ quản lý Nhà nước,thành viên của TTGDCK Hà Nội phải là các công ty chứng khoán đượcUBCKNN cấp giấy phép hoạt động trên Trung tâm Ngoài ra, các công ty chứngkhoán là thành viên của SGDCK Tp Hồ Chí Minh cũng được coi là thành viêncủa TTGDCK Hà Nội nếu đăng ký và dược cấp phép hoạt động trên Trung tâm

Các công ty chứng khoán đóng vai trò là đại diện cho người đầu tư để thực hiệncác giao dịch mua và bán chứng khoán Các công ty chứng khoán thực hiện cácnghiệp vụ: môi giới, tự doanh, tư vấn đầu tư, bảo lãnh phát hành, lưu ký chứngkhoán Bên cạnh đó, công ty chứng khoán còn cho khách hàng vay tiền, chứngkhoán để thực hiện các giao dịch bảo chứng Ngoài việc giao dịch cho kháchhàng, công ty chứng khoán thường thực hiện các giao dịch tự doanh trên thitrường thứ cấp Đồng thời, các công ty chứng khoán là những nhà đầu tư chuyênnghiệp, thực hiện các giao dịch lớn và thường xuyên đối với thị trường Hoạt độngcủa công ty chứng khoán có ảnh hưởng không nhỏ tới giá chứng khoán trênTTCK phi tập trung và nó tạo nên tính thanh khoản cho thị trường này

3.3.9.2 Nhà tạo lập thị trường

Một trong những nhân tố quan trọng trên thị trường OTC là hệ thống các nhà tạolập thị trường, vì với số lượng chứng khoán hạn chế có thể dẫn đến khả năng giaodịch của thị trường kém sôi động Do vậy, cần thiết phải xây dựng các nhà tạo lậpthị trường với hoạt động của TTCK phi tập trung

Trang 14

Thứ nhất là xác định điều kiện của nhà tạo lập thị trường:

Hoạt động của nhà tạo lập thị trường là mua bán chứng khoán với khách hàngthông qua tài khoản của mình để hưởng chênh lệch giá, có nghĩa vụ luôn duy trìhoạt động giao dịch của chứng khoán đó, do vậy đối với TTCK phi tập trung chophép một số các công ty chứng khoán có tiềm lực tài chính đứng ra làm nhà tạolập thị trường cần phải đáp ứng được các điều kiện sau:

 Đăng ký là thành viên của Trung tâm

 Có mức vốn tối thiểu là 500 tỷ đồng

Khi một công ty chấp nhận như nhà tạo lập thị trường, còn phải đáp ứng các tiêuchuẩn nhất định khi thực hiện báo giá cho chứng khoán đó, Trung tâm yêu cầunhà tạo thị trường phải:

 Tạo lập thị trường ít nhất 2 loại chứng khoán và nhiều nhất 8 loại chứngkhoán;

 Cung cấp báo giá 2 chiều liên tục cho chứng khoán đó;

 Có khả năng và sẵn sàng thực hiện giao dịch ít nhất là một đơn vị giao dịchthông thường theo báo giá;

 Bảo đảm báo giá của mình hợp lý trong mối quan hệ với thị trường hiện tạicủa chứng khoán đó;

 Tuân thủ giới hạn chênh lệch giá tối đa cho trước;

 Báo cáo dữ liệu giao dịch hàng tháng và các thông tin khác theo yêu cầu củaTrung tâm;

 Báo cáo khối lượng giao dịch hàng ngày của loại chứng khoán mà mình chịutrách nhiệm tạo thị trường và thực hiện những chức năng này trong suốt thờigian giao dịch

Khi có nhiều công ty cùng tạo thị trường cho một chứng khoán, giá thị trường làkết quả của sự cạnh tranh giữa những công ty này Đại diện đăng ký người nhậncác lệnh mua của khách hàng sẽ chuyển các lệnh này đến người giao dịch củacông ty, là người tiếp xúc với những nhà tạo lập thị trường khác để thực hiện vớigiá chào bán thấp nhất Trong trường hợp chỉ có một công ty tạo thị trường chochứng khoán, họ không được chào bán chứng khoán đó với giá thị trường Khi chỉ

có một người giao dịch chứng khoán đó, công ty sẽ giữ vai trò thiết lập giá

Ngoài ra, các công ty này phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện khác do UBCKNN

và TTGDCK Hà Nội quy định đối với nhà tạo lập thị trường

Thứ hai là yêu cầu về nhân sự:

Hoạt động kinh doanh tạo lập thị trường trên TTGDCK Hà Nội yêu cầu đội ngũnhân viên kinh doanh phải thành thạo và am hiều nghiệp vụ kinh doanh cũng như

sử dụng công nghệ thông tin hiện đại bởi các giao dịch sẽ thực hiện qua mạng

Trang 15

thông tin Một số yêu cầu về nhân sự đối với những tổ chức tạo lập thị trường nhưsau:

 Đội ngũ nhân viên có chứng chỉ hành nghề thành thạo nghiệp vụ môi giới và

tự doanh, trong đó có ít nhất 6 nhân viên trực tiếp hành nghề tạo lập thị trường,những nhân viên này phải có kinh nghiệm hành nghề tự doanh ít nhất 4 năm

và phải riêng biệt về mặt nhân sự giữa 2 nhóm môi giới và tự doanh

 Các nhân viên tạo lập thị trường phải am hiểu và sử dụng thành thạo các phầnmềm ứng dụng và sử dụng công nghệ thông tin hiện đại để thực hiện các giaodịch thông tin

 Các nhân viên kinh doanh tạo lập thị trường phải đáp ứng được các yêu cầu vàđạo đức nghề nghiệp

3.3.10 Lộ trình áp dụng

Việc thành lập và đưa vào hoạt động mô hình TTCK có sự tham gia của nhà tạolập thị trường là hết sức cần thiết và phù hợp với xu hướng Tuy nhiên, hoạt độngcủa TTCK rất năng động và phức tạp nên đòi hỏi phải có thời gian để hoàn thiện

mô hình Vì vậy, trong khả năng có hạn của bản thân, tác giả đưa ra lộ trình dựkiến áp dụng và hoàn thiện mô hình này như sau:

 Sau năm 2010: áp dụng mô hình TTCK phi tập trung có sự tham gia của nhàtạo lập thị trường cho các loại chứng khoán cổ phiếu và trái phiếu

 Từ sau năm 2010-2020: hoàn thiện mô hình, cơ chế vận hành và chuẩn bị cáctiền đề cần thiết để xây dựng mô hình áp dụng cho các sản phẩm khác củachứng khoán như chứng chỉ quỹ và các sản phẩm phái sinh

 Sau năm 2020: áp dụng mô hình toàn diện cho toàn bộ chứng khoán

Như vậy, mô hình TTCK phi tập trung có sự tham gia của nhà tạo lập thị trườngtrên nền tảng TTGDCK Hà Nội với các qui định chi tiết về điều kiện để phát hành

và giao dịch chứng khoán; Cơ quan quản lý nhà nước; Cơ cấu sở hữu; Cơ cấu tổchức; Hệ thống giao dịch; Hệ thống đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứngkhoán; Hệ thống công bố thông tin trên thị trường; Giám sát hoạt động của thịtrường; Thành viên của thị trường như đã trình bày ở phần trên, nếu được vận hànhđồng bộ và có chất lượng thì đây sẽ là mô hình phù hợp nhất cho TTCK phi tậptrung ở Việt Nam Bởi vì trước tình hình hội nhập kinh tế của thế giới và để đạtđược mục tiêu của nhà nước đề ra trong việc phát triển TTCK Việt Nam sau khi đãtrải qua một thời gian quá độ là từ 2005- nay thì đây là một mô hình rất phù hợp Sựphù hợp này không chỉ đáp ứng trong hiện tại mà còn đáp ứng với yêu cầu pháttriển TTCK trong tương lai

Trang 16

3.4 Các nhóm giải pháp hỗ trợ phát triển TTCK phi tập trung ở Việt Nam

3.4.1 Thiết lập khung pháp lý cho thị trường

3.4.1.1 Xây dựng và ban hành đồng bộ hệ thống văn bản dưới luật

Kinh tế của một nước càng phát triển thì luật điều chỉnh thị trường tài chính càngtrở nên quan trọng hơn Phạm vi điều chỉnh và nội dung của luật này có ảnhhưởng trực tiếp đến một phạm vi lớn các đối tượng có liên quan bao gồm các nhàđầu tư, các công ty phát hành, các công ty chứng khoán, cơ quan quản lý… và cácđối tượng tham gia thị trường Khung pháp lý cho TTCK có thể xem như hàng ràochắn đảm bảo cho TTCK hoạt động an toàn và minh bạch Nếu hoạt động nào đótrong TTCK không được luật pháp điều chỉnh thì thị trường sẽ trở nên rối loạn Vìvậy, chỉ có bằng luật pháp, bằng các qui chế mang tính pháp lý chặt chẽ điềuchỉnh thì TTCK mới thực sự trở thành nơi đầu tư lành mạnh khuyến khích ngườidân đầu tư vào chứng khoán và do đó huy động được vốn trong xã hội để pháttriển kinh tế Đây là mục đính cao nhất của việc xây dựng và phát triển TTCKViệt Nam Cơ sở pháp lý hiện nay để xây dựng mô hình TTCK phi tập trung ởViệt Nam dựa trên các căn cứ pháp lý:

 Luật chứng khoán đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam thông qua ngày 29/06/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày01/01/2007

 Chiến lược phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2010 ban hành kèm theoQuyết định số 163/2003/QD-TTg, ngày 05/08/2003 Thủ tướng Chính phủ

 Chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ đến năm 2010tầm nhìn 2020

Như vậy, cho đến hết ngày 10/05/2007, công cụ pháp lý cơ bản điều chỉnh hoạtđộng của TTCK Việt Nam là Luật chứng khoán Luật chứng khoán được banhành là khung pháp lý đối với TTCK Việt Nam nói chung và TTCK phi tập trungnói riêng nhằm kiểm soát các thị trường một cách ổn định, hiệu quả hơn, nâng caotính minh bạch của các qui định, cung cấp cơ hội công bằng cho các đối tượngtham gia thị trường và đóng góp vào việc thực thi cưỡng chế luật một cách hiệuquả

Thực hiện Luật chứng khoán cũng cần phải tổ chức nghiên cứu và chuẩn bị cácluật khác có liên quan trực tiếp tới TTCK như Luật Giao dịch điện tử, Luật bảo vệnhà đầu tư… Đây là nền tảng pháp lý rất cơ bản, là điều kiện cần thiết để xâydựng và phát triển TTCK Việt Nam hiện đại, có khả năng hội nhập với khu vực vàtrên thế giới Các cơ quan quản lý nhà nước cũng cần phải phối hợp để hoàn chỉnhviệc sửa đổi các văn bản qui định về chế độ tài chính, thuế, phí, lệ phí, chế độ kếtoán, kiểm toán, quản lý ngoại hối… áp dụng với các đối tượng tham gia hoạtđộng trên TTCK Đồng thời, sửa đổi, bổ sung những văn bản pháp luật khác cóliên quan đến pháp luật về chứng khoán như: Bộ luật Dân sự, Luật về Trọng tàikinh tế, Pháp lệnh về giải quyết tranh chấp các vụ án kinh tế…

Trang 17

Để hoàn thiện khung pháp lý về chứng khoán và TTCK, tạo cơ sở pháp lý choTTCK Việt Nam phát triển ổn định, an toàn, lành mạnh và có hiệu quả, nâng caohiệu lực quản lý Nhà nước đối với hoạt động chứng khoán, đáp ứng yêu cầu pháttriển của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế trong tiến trìnhhội nhập, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật chứng khoán hiệnnay là một đòi hỏi cần thiết.

Luật chứng khoán sẽ là nền tảng pháp lý cao nhất cho việc điều chỉnh các hoạtđộng phát hành, niêm yết, giao dịch, kinh doanh các loại chứng khoán trên thịtrường giao dịch tập trung, thị trường OTC và cũng là cơ sở pháp lý để điều chỉnhhoạt động của mọi chủ thể bao gồm các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nướctham gia hoạt động chứng khoán trên TTCK Việt Nam

3.4.1.2 Điều chỉnh phân cấp quản lý và chức năng nhiệm vụ giữa cơ quan quản

lý nhà nước, TTGDCK Hà Nội và đổi mới công tác giám sát

TTCK phi tập trung được hình thành và phát triển với vai trò hỗ trợ quan trọng về mọi mặt của Nhà nước Vì vậy, một trong những nhân tố để cho thị trường hoạtđộng có hiệu quả hơn chúng ta cần phải nâng cao năng lực quản lý của UBCKNN

và công tác vận hành của TTGDCK Hà Nội Để thực hiện, một trong những nộidung quan trọng đó là cần điều chỉnh phân cấp quản lý và chức năng nhiệm vụgiữa cơ quan quản lý nhà nước, TTGDCK Hà Nội và Hiệp hội kinh doanh chứngkhoán, cụ thể là:

Đối với UBCKNN:

Trên cơ sở thực tiễn của thị trường, UBCKNN cần rà soát, chỉnh sửa, hoàn thiện

hệ thống văn bản pháp quy cho hoạt động của TTCK nói chung và TTCK phi tậptrung nói riêng, vừa tạo cho các đối tượng tham gia thị trường một hành lang pháp

lý phù hợp để hoạt động hiệu quả, vừa nâng cao năng lực quản lý Nhà nước của

cơ quan quản lý thị trường

UBCKNN thực hiện công tác giám sát, kiểm tra hoạt động thị trường theo phápluật, đảm bảo hoạt động trên thị trường: công bằng, lành mạnh và minh bạch.Từng bước nâng cao năng lực, tự chịu trách nhiệm trong điều hành, tổ chức giaodịch chứng khoán của TTGDCK Hà Nội và phối hợp chặt chẽ trong chỉ đạo, phảnhồi thông tin thị trường giữa UBCKNN với TTGDCK Hà Nội và nhà đầu tư

Để nâng cao năng lực quản lý, yếu tố con người cần được coi trọng, phát triển từtất cả các khâu tuyển dụng, bố trí cán bộ phù hợp với năng lực sở trường… Trướchết, cần chú trọng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ điều hành, quản lý của UBCKNN

Đối với TTGDCK:

TTGDCK Hà Nội cần đẩy mạnh công tác bồi dưỡng đội ngũ những người trực

Trang 18

nghiệp vụ TTGDCK Hà Nội là cơ quan thực hiện vận hành TTCK phi tập trung

có trách nhiệm:

 Lập dự án xây dựng hạ tầng cơ sở và kỹ thuật, trang bị máy móc thiết bị cầnthiết cho TTCK hoạt động với phương thức từ đơn giản đến hiện đại, hệ thốnggiao dịch mở để từng bước hoàn chỉnh và phát triển

 Kiện toàn bộ máy các phòng ban nghiệp vụ và chức năng hoạt động của cácphòng ban

 Xây dựng các chương trình đào tạo cán bộ thích hợp, tập huấn nghiệp vụ để cóthể đáp ứng nhiệm vụ khi TTCK đi vào hoạt động

Đối với Hiệp hội chứng khoán:

Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Việt Nam ra đời có ý nghĩa vô cùng quan trọngđối với sự vận hành có hiệu quả của TTCK, tạo một động lực rất quan trọng trongviệc xây dựng và phát triển TTGDCK Hà Nội theo mô hình thị trường OTC hiệnđại Hiện nay, vai trò của Hiệp hội trong hoạt động của TTCK còn rất mờ nhạt.Điều này trái ngược hoàn toàn với xu thế hình thành và phát triển của các hiệp hộikinh doanh chứng khoán cũng như các hiệp hội nghề nghiệp khác

3.4.2 Đa dạng hóa các loại chứng khoán giao dịch

Nhận định về những cản ngại đối với sự phát triển bền vững nền kinh tế nước ta,báo cáo Chính phủ nhấn mạnh: “ Nhìn chung, hiệu quả của các DNNN còn thấp

và liên tục giảm sút Nhiều doanh nghiệp thua lỗ kéo dài chưa được sắp xếp lại,chủ trương cổ phần hóa, đổi mới quan hệ sở hữu và cơ chế quản lý quốc doanhnhất là kinh tế tư nhân trong thực tế còn bị kỳ thị, phân biệt đối xử nên chưa giảitỏa được tâm lý và e ngại đầu tư kinh doanh, làm giàu” Nhận định này hoàn toànphù hợp và quan điểm của các chuyên gia WB thì “khu vực công cộng lớn là cóhại cho sự tăng trưởng kinh tế” Vì vậy, đã đến lúc phải tiến hành cải cách triệt đểchế độ sở hữu theo cách giải quyết của kinh tể thị trường nhằm giải quyết mạnh

mẽ các năng lực sản xuất Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa DNNN trong thờigian tới cần thực hiện các giải pháp sau:

Một là, khắc phục tâm lý ỷ lại, thiếu trách nhiệm của vị đứng đầu DNNN: Cần

kiên quyết xóa bỏ các ưu đãi bất hợp lý từ phía Nhà nước đối với các tổ chức kinh

tế của Nhà nước, nên đặt doanh nghiệp (100% vốn Nhà nước) trong môi trườngcạnh tranh như mọi DN khác, chính sách kinh tế của Nhà nước không nên thiết kế

ưu đãi theo thành phần mà theo ngành lãnh thổ Tuy nhiên, để làm được điều nàycần nhiều thời gian để chuẩn bị và điều chỉnh dần dần Trong khi đó, thời gian đểCPH không cho phép kéo dài hơn nữa Do đó, biện pháp trước mắt là đi đôi vớiviệc vận động tuyên truyền dưới mọi hình thức, phải có sự chỉ đạo chặt chẽ vàquyết tâm của tất cả các ngành, các cấp

Hai là, cần giải quyết nhanh các vấn đề thủ tục liên quan đến DNNN được cổ phần hóa: Các doanh nghiệp CPH cần ý thức tốt hơn nhiệm vụ của mình trong

Trang 19

thời gian chuẩn bị các động thái của công tác CPH Mặt khác,Ủy ban nhân dâncác tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nên có chính sách nhất quán và chủđộng quy hoạch, nhắc nhở các DNNN trên địa bàn mình quản lý thực hiện tốtcông tác này để đẩy nhanh tiến độ CPH ở địa phương Mặt khác, khi DNNN đã có

hồ sơ gởi cơ quan chức năng để thực hiện CPH thì các cơ quan liên quan phải giảiquyết nhanh và triệt để các thủ tục đất đai cho DN Để buộc các cơ quan hànhchính tạo điều kiện thời gian cho DN sau CPH, thiết nghĩ phải củng cố cơ quankiểm tra, kiểm soát, chính các cơ quan hành chính và đề cao ý thức và khả năng

sử dụng pháp luật của các DN

Ba là, đổi mới công tác tuyên truyền vận động cổ phần hóa DNNN: Vừa qua công

tác tuyên truyền cho CPH các DNNN chủ yếu dựa vào đài báo và hoạt động củaBan CPH nhằm đề cao tin thần tự giác của mỗi người Hiệu quả của phương phápnày cũng có nhưng không đạt hiệu quả cao Theo kinh nghiệm của thành phố HồChí Minh thì:

 Tổ chức các Đại hội cán bộ cổ phần hóa giỏi để mọi người học tập kinhnghiệm của nhau

 Tuyên truyền về những DN sau CPH làm ăn tốt, doanh thu, lợi nhuận, việclàm tăng hơn trước

 Đào tạo khẩn trương những cán bộ thành thạo CPH để giúp đỡ những nơi khókhăn

Bởi CPH không phải là hoạt động xã hội mang tính phong trào nhất thời, CPHđộng chạm đến lợi ích của con người Hãy làm mọi cách để các cán bộ và ngườilao động đều nhận thấy được lợi ích của CPH đối với họ Khi đó, CPH tự khắc làphong trào của người lao động chân chính mà sức cản của các nhóm đặc lợikhông thể nào đối phó được

Bốn là, cần thực hiện chính sách ưu đãi đối với người lao động trong DNNN cổ phần hóa: Đã đến lúc phải hoạch định chính sách đối với người lao động và

DNNN cổ phần hóa, khả năng tài chính Nhà nước có thể chịu đựng được áp lựccủa người mất việc và trách nhiệm chia sẻ của công dân đối với Nhà nước,… để

có chính sách ổn định và lâu dài hơn Thậm chí cần tăng cường kiểm tra, kiểmsoát để ngăn chặn sự thông đồng giữa các DNNN và người lao động nhằm trục lợikhi chính sách đã ổn định, trách nhiệm công dân, án bộ và Nhà nước đã rạch ròithì không còn lý do để Nhà nước trì kéo quă trình cổ phần hóa xét về phía ngườilao động

Năm là, cần phân cấp rộng hơn các ngành, các cấp trong việc giải quyết các tồn tại về tài chính của DNNN cổ phần hóa: Cần phân cấp rộng hơn nữa cho các địa

phương và bộ ngành, đặc biệt là các Ban chỉ đạo đổi mới DN ở các cấp chínhquyền quy định và chịu trách nhiệm xử lý các vấn đề cụ thể về tài chính củaDNNN cổ phần hóa Trên cơ sở phân cấp đó, nếu bộ ngành cơ quan chức năngđược phân cấp nào không xử lý dứt điểm các vấn đề tồn tại của đơn vị trực thuộcmình quản lý làm trì trệ tiến độ CPH thì các cấp lãnh đạo của bộ ngành cơ quan

Trang 20

tăng cường công tác kiểm tra, theo dõi, chỉ đạo sát sao đối với công tác CPH Cónhư thế những vấn đề xử lý nợ, xử lý tài sản không cần dùng mới có thể tiến hành

nhanh Đồng thời, Nhà nước cần rà soát lại các văn bản pháp luật đã có Bởi lẽ, cổ

phần hóa DNNN là công cuộc cải cách lớn và có vai trò quan trọng, nhưng lại chỉ

có thời hạn nhất định, do vậy nếu có một quy chế hành động riêng để thúc đẩytiến trình CPH là cần thiết Cải thiện môi trường pháp lý chung tạo khuôn khổcạnh tranh bình đẳng và được sự quan tâm về tài chính, thông tin, thủ tục hànhchánh như nhau của Nhà nước đối với DNNN và Nhà nước đối với DNNN đã cổphần hóa

Sáu là, đổi mới công tác chỉ đạo cổ phần hóa DNNN: Tăng cường quyền lực cho

các Ban chỉ đạo đổi mới DN ở các ngành, địa phương để đủ tư cách tổ chức độclập và có quyền điều hành mọi hoạt động theo quy định Nhà nước Mô hình tổchức độc lập đòi hỏi Ban chỉ đạo phải có đủ chuyên gia, có quyền hành động độclập và các cá nhân tự chịu trách nhiệm về hành động của mình, không phụ thuộcvào các chủ trương ngành, địa phương

Bảy là, quan tâm hỗ trợ các DNNN cả trong và sau cổ phần hóa: Các cơ quan

hữu trách cần quan tâm chỉ đạo sâu sát cụ thể nắm chắc tình hình các DNNN, tháo

gỡ kịp thời những khó khăn vướng mắc của từng DNNN bằng các hình thức hỗtrợ cần thiết nhằm giúp các DNNN tiến hành CPH thuận lợi, ngăn chặn việc gâyphiền hà sách nhiễu phân biệt đối xử với các doanh nghiệp CPH, thực hiện đầy đủnhững ưu đãi đối với DN và người lao động, cụ thể như sau:

 Bộ tài chính cần có quy định cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNN cổphần hóa mua cổ phiếu đáp ứng yêu cầu CPH doanh nghiệp

 Đề nghị Chính phủ xem xét việc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối vớiDNNN cổ phần hóa trong 2 năm đầu và giảm 50% trong 3 năm tiếp theo nhằmtạo điều kiện thuận lợi cho phép các DNNN thực hiện CPH được áp dụng khấuhao nhanh

Tám là, khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín: Kinh nghiệm đã tích lũy qua

nhiều năm cho thấy sức ép đổi mới, nâng cao hiệu quả DNNN tăng lên đòi hỏitiến trình CPH phải có sự chuyển biến về chất đó là “ Cổ phần hóa nhanh và vữngchắc” CPH khép kín phải nhường chỗ cho CPH theo cơ chế thị trường Điều nàythể hiện rõ trong Nghị định 109/2007/NĐ_CP về chuyển công ty Nhà nước thànhcông ty cổ phần Đẩy nhanh tiến độ hiện đại hóa Có hai hướng được xác định:

 CPH toàn tổng công ty với những công ty lớn chưa CPH toàn bộ được, trướcmắt CPH công ty thành viên và chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty

mẹ – công ty con

 Thu hẹp diện có cổ phần chi phối của Nhà nước

Phương pháp định giá doanh nghiệp được chuyển sang sử dụng công ty tư vấn,kiểm toán Và có tính đến giá trị quyền sử dụng đất trong giá trị doanh nghiệp

Trang 21

CPH Việc bán cổ phần được tiến hành thông qua bán đấu giá và người lao độngđược mua với mức giá ưu đãi giảm 40% so với đấu giá kết thúc bình quân.

Chín là, thành lập hội các DNNN cổ phần hóa: Hội các DNNN cổ phần hóa sẽ

phát huy tác dụng tố, đặc biệt trong những năm đầu sau CPH Hội là nơi DN traođổi kinh nghiệm về cách thức huy động vốn, phương thức mở rộng hoạt độngkinh doanh trao đổi thông tin, cơ chế chính sách của Đảng, của Nhà nước Các

DN có thể cùng trao đổi, tư vấn cho nhau để giải quyết vướng mắc về thủ tục nhàđất, vay vốn Nhà nước, các vấn đề tranh chấp trong mua bán cổ phần Hội đồngthời là cầu nối để các cơ quan quản lý Nhà nước tiếp xúc, tìm hiểu tình hình sảnxuất kinh doanh, các vấn đề xã hội trong các DNNN sau cổ phần hóa

3.4.3 Hoàn thiện hệ thống thông tin

Thông tin không cân xứng là một trong những khuyết tật mang tính cố hữu đốivới nền kinh tế thị trường nói chung và TTCK nói riêng Để hạn chế đến mức thấpnhất hiện tượng thông tin không cân xứng có liên quan đến vấn đề công bố thôngtin trên TTCK Việt Nam cần phải đưa ra các biện pháp khắc phục:

Thứ nhất là: Xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động công bố thông tin Nền tảng

của chế độ công bố thông tin doanh nghiệp là Luật Kế toán Việt Nam và Luậtchứng khoán Tuy nhiên, mặc dù Luật kế toán đã được Quốc hội ban hành từ ngày17/06/2003 nhưng đến nay các văn bản dưới luật vẫn chưa được ban hành đồng

bộ Vì vậy, cơ quan quản lý Nhà nước cần nhanh chóng ban hành đồng bộ cácchuẩn mực kế toán, các thông tư hướng dẫn nhằm triển khai thực hiện khung pháp

lý cao nhất, toàn diện nhất trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Ngoài ra, cần phải

có những quy định chi tiết về giao dịch trong nội bộ, nhằm đưa ra những ràngbuộc để người thuộc tổ chức phát hành không thể có một đặc quyền cũng nhưnhững ưu thế nào có thể đưa đến sự cạnh tranh không công bằng với các nhà đầu

tư bên ngoài nhằm hạn chế tối đa khả năng những chủ thể này lợi dụng ưu thế củamình, mua bán chứng khoán để trục lợi cá nhân trong tình huống những nhà đầu

tư khác không biết

Thứ hai là: Cơ quan quản lý Nhà nước cần phải quy định việc công bố thông tin

định kỳ phải trở thành điều kiện bắt buộc đối với doanh nghiệp đặc biệt là đối vớicông ty cổ phần Hoàn thiện chế độ thông tin, báo cáo thống kê đối với các doanhnghiệp, áp dụng chế độ kiểm toán bắt buộc và thực hiện chế độ công khai thôngtin tài chính đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp nhằm đảm bảo tính côngkhai minh bạch trên thị trường; làm lành mạnh hóa và bình đẳng môi trường kinhdoanh Các nhà quản lý cũng cần đưa ra các tiêu chuẩn công bố thông tin sao chothích ứng với thông lệ và chuẩn mực quốc tế Củng cố và phát triển các tổ chứckiểm toán độc lập, tiếp tục triển khai nhanh chóng và hiệu quả việc áp dụng thông

lệ quốc tế về quản trị công ty, trong đó có việc nâng cao chất lượng, đạo đức nghềnghiệp cho các tổ chức kiểm toán độc lập Đây là một trong những yếu tố quantrọng góp phần tạo điều kiện cho công tác công bố thông tin trên thị trường chứng

Ngày đăng: 07/11/2013, 06:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Ngọc Thơ (2005), “Tài chính doanh nghiệp hiện đại”, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp hiện đại
Tác giả: Trần Ngọc Thơ
Nhà XB: Nhà xuất bản thốngkê
Năm: 2005
2. Trần Ngọc Thơ, Nguyễn Ngọc Định (2002), “Tài chính quốc tế”, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính quốc tế
Tác giả: Trần Ngọc Thơ, Nguyễn Ngọc Định
Nhà XB: Nhà xuất bảnthống kê
Năm: 2002
3. Phan Thị Bích Nguyệt, (2006), “Đầu tư tài chính”, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư tài chính
Tác giả: Phan Thị Bích Nguyệt
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2006
4. Nguyễn Thị Ngọc Trang, Nguyễn Thị Liên Hoa, “Phân tích tài chính”, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tài chính
Nhà XB: Nhà xuấtbản thống kê
5. Lê Văn Tề, Trần Đắc Sinh, Nguyễn Văn Hà (2005), “Thị trường chứng khoán tại Việt Nam”, Nhà xuất bản lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoántại Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Tề, Trần Đắc Sinh, Nguyễn Văn Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động Hà Nội
Năm: 2005
6. Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước - Đào Lê Minh (2002), “Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bảnvề chứng khoán và thị trường chứng khoán
Tác giả: Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước - Đào Lê Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2002
7. TS. Bùi Kim Yến (2006), “H ướ ng phát tri n cho th tr ể ị ườ ng OTC Vi t ệ Nam”,Tạp chí Phát triển kinh tế số 188 tháng 07/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng phát tri n cho th trể ị ường OTC Vi tệNam
Tác giả: TS. Bùi Kim Yến
Năm: 2006
11. Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (2006), "Báo cáo th ườ ng niên- n m 2006" ă , Hà Nội 8/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên-n m 2006
Tác giả: Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
Năm: 2006
14. Bài viết của Saga về “Những yếu tố ảnh hưởng đến chức năng tạo lập thị trường của công ty chứng khoán” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố ảnh hưởng đến chức năng tạo lập thịtrường của công ty chứng khoán
9. Báo đầu tư chứng khoán, Thời báo ngân hàng, Thời báo kinh tế Sài gòn, Báo Đầu Tư Khác
10. Bản tin thị trường chứng khoán – SGDCK TP.HCM, TTGDCK Hà Nội Khác
12. Uỷ ban chứng khoán Nhà nước: www.ssc.gov.vn Khác
13. Website các công ty chứng khoán: www.ssi.com.vn, www.hsc.com.vn, www.acbs.com.vn, www.bsc.com.vn Khác
16. Các văn bản luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tên, hình th c và s  l ứ ố ượ ng nhà t o l p th  tr ạ ậ ị ườ ng   các ở n ướ c trên th  gi iếớ - XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
Bảng 1.1 Tên, hình th c và s l ứ ố ượ ng nhà t o l p th tr ạ ậ ị ườ ng các ở n ướ c trên th gi iếớ (Trang 31)
Bảng 1.3: C  ch  ho t đ ng c a nhà t o l p th  tr ơ ế ạ ộ ủ ạ ậ ị ườ ng - XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
Bảng 1.3 C ch ho t đ ng c a nhà t o l p th tr ơ ế ạ ộ ủ ạ ậ ị ườ ng (Trang 33)
Bảng 1.4:  Quy n l i và trách nhi m c a nhà t o l p th  tr ề ợ ệ ủ ạ ậ ị ườ ng trên m i th  trỗị ườ ng - XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
Bảng 1.4 Quy n l i và trách nhi m c a nhà t o l p th tr ề ợ ệ ủ ạ ậ ị ườ ng trên m i th trỗị ườ ng (Trang 34)
Bảng 2.1: Diễn biến niêm yết cổ phiếu t i SGDCK Tp.  ạ H  Chí Minh qua các n mồă - XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
Bảng 2.1 Diễn biến niêm yết cổ phiếu t i SGDCK Tp. ạ H Chí Minh qua các n mồă (Trang 36)
Bảng 2.3:  S  l ố ượ ng tài kho n   GDCK   ả c a nhà đ u t  t i SGDCK Tp. H ủ ầ ư ạ ồ Chí Minh qua các n mă - XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
Bảng 2.3 S l ố ượ ng tài kho n GDCK ả c a nhà đ u t t i SGDCK Tp. H ủ ầ ư ạ ồ Chí Minh qua các n mă (Trang 37)
Bảng 2.7: Thống kê hoạt động đấu thầu của TTGDCK Hà Nội từ năm 2005-2007 - XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
Bảng 2.7 Thống kê hoạt động đấu thầu của TTGDCK Hà Nội từ năm 2005-2007 (Trang 38)
Bảng 2.8: Giá tham khảo cổ phiếu OTC cập nhật ngày 28/12/2007 - XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
Bảng 2.8 Giá tham khảo cổ phiếu OTC cập nhật ngày 28/12/2007 (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w