5 năm sau, vào tháng 6 năm 1981, dòngkhí công nghiệp ở mỏ khí Tiền Hải đã được khai thác để đưa vào phục vụ sảnxuất; và 10 năm sau ngày thành lập, ngày 26/6/1986, Xí nghiệp Liên doanh Dầ
Trang 1THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI TỔNG CÔNG TY TÀI CHÍNH CỔ PHẦN DẦU KHÍ VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về Tổng công ty Cổ phần Tài chính Dầu khí
2.1.1 Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt nam-quá trình hình thành và phát triển
Hơn 30 năm trước, ngày 3/9/1975, Chính phủ ban hành Nghị định số170/CP thành lập Tổng cụ Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam, tiền thân của Tập đoànDầu khí Quốc gia Việt Nam ngày nay Một năm sau ngày thành lập, ngày25/7/1976, ngành Dầu khí đã phát hiện nguồn khí thiên nhiên đầu tiên tại giếngkhoan số 61 ở Vùng Trũng Sông Hồng 5 năm sau, vào tháng 6 năm 1981, dòngkhí công nghiệp ở mỏ khí Tiền Hải đã được khai thác để đưa vào phục vụ sảnxuất; và 10 năm sau ngày thành lập, ngày 26/6/1986, Xí nghiệp Liên doanh Dầukhí Việt – Xô đã khai thác tấn dầu đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ, ghi nhận một mộtmốc dấu quan trọng - Việt Nam đã có tên trong danh sách các nước khai thác vàxuất khẩu dầu thô thế giới, khẳng định một tương lai phát triển đầy hứa hẹn củacho ngành công nghiệp dầu khí đất nước Kể từ đó đến nay, toàn ngành Dầu khí
đã khai thác được 205 triệu tấn dầu thô và hơn 30 tỷ mét khối khí, mang lạidoanh thu trên 40 tỉ USD, nộp ngân sách nhà nước gần 25 tỷ USD, tạo dựngđược nguồn vốn chủ sở hữu trên 80 nghìn tỷ đồng
Bên cạnh hoạt động khai thác, công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí đã xácđịnh được trữ lượng dầu khí ước đạt từ 3 - 4 tỷ mét khối dầu qui đổi, trữ lượngdầu khí xác minh đạt 1,05 – 1.14 tỷ tấn dầu qui đổi (trong đó trữ lượng tiềmnăng về khí thiên nhiên khoảng 60%) có tại trên 60 cấu tạo chứa dầu khí, đã lầnlượt đưa 8 mỏ dầu khí có giá trị thương mại vào khai thác Mục tiêu gia tăng trữlượng dầu khí trong nhiều năm trở lại đây liên tục được hoàn thành với mức từ30-40 triệu tấn dầu qui đổi/ năm, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc đảm
Trang 2bảo cân đối bền vững, duy trì ổn định sản lượng dầu khí khai thác phục vụ nềnkinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng của đất nước cho thời gian tới.
Tính từ khi Nhà nước ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1988)cho đến nay, ngành Dầu khí đã ký 57 hợp đồng TDKT Dầu khí, thu hút vốn đầu
tư trên 7 tỷ USD, hiện nay 35 hợp đồng đang có hiệu lực Để thực hiện đượcmục tiêu đảm bảo cung cấp năng lượng và nhiên liệu cho nền kinh tế, chủ độnghội nhập cùng cộng đồng dầu khí quốc tế, những năm gần đây, Tập đoàn Dầukhí đã mở rộng hoạt động thăm dò – khai thác dầu khí ra nước ngoài Hiện nay,Tập đoàn đang đầu tư 7 dự án ở nước ngoài, trong đó có 2 đề án tự điều hành,
đã thu được phát hiện dầu khí quan trọng ở Malaysia, Algieria Đặc biệt tháng9/2006, Tập đoàn đã có tấn dầu thô đầu tiên khai thác ở nước ngoài tại mỏ PM
304 (Malaysia)
Song song hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác, lĩnh vực công nghiệpkhí cũng đã được tích cực triển khai Dòng khí đồng hành của mỏ Bạch Hổđược đưa vào bờ đã mang lại hiệu quả cao đối nền kinh tế, cung cấp nguyên liệu
và năng lượng cho nhà máy điện, đạm Phú Mỹ cùng một khối lượng lớn khí hoálỏng LPG, condensate cho nhu cầu nội địa Cùng với nguồn khí đồng hành BểCửu Long, nguồn khí Nam Côn Sơn được đua vào khai thác tiếp đó đã hoànthiện đưa vào hoạt động cụm công nghiệp Khí - Điện - Đạm ở miền Đông Nam
bộ Ở miền Tây Nam bộ, dự án tổ hợp Khí - Điện - Đạm Cà Mau có ý nghĩa rấtlớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đồng bằng sông Cửu Long đangđược khẩn trương thực hiện Trong tương lai, nhiều mỏ khí mới như lô B, Sư
Tử Trắng… sẽ được khai thác và mở ra một giai đoạn mới đầy hứa hẹn của nềncông nghiệp khí Việt Nam
Trong lĩnh vực chế biến khí và hoá dầu, Nhà máy lọc dầu Dung Quất đangđược khẩn trương triển khai xây dựng với mục tiêu đưa vào vận hành thươngmại năm 2009 Dự án khu Liên hợp Lọc hoá dầu Nghi Sơn và đề án Nhà máylọc dầu phí Nam đang được chuẩn bị tích cực để sớm đầu tư xây dựng đáp ứng
Trang 3nhu cầu ngày càng tăng về nguyên liệu cho đất nước và bổ sung cho côngnghiệp hoá dầu những nguyên liệu và sản phẩm mới.
Cùng với sự phát triển các lĩnh vực trọng tâm của ngành công nghiệp dầukhí, để khép kín và hoàn chình đồng bộ hoạt động của ngành, các hoạt độngdịch vụ kỹ thuật kỹ thuật phụ trợ, thương mại, tài chính, bảo hiểm … của ngànhdầu khí đã được hình thành và phát triển, doanh số hoạt động ngày càng tăngtrong tổng doanh thu của toàn ngành Thực hiện mục tiêu xây dựng Tập đoànDầu khí Quốc gia Việt Nam trở thành tập đoàn kinh tế mạnh của đất nước, côngtác hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý và cơ cấu tổ chức, công tác đổi mới và cổphần hoá doanh nghiệp đã được triển khai có hiệu quả, hoạt động SXKD củacác đơn vị cổ phần hoá được cải thiện rõ rệt, hoạt động SXKD của Tập đoànđang được xác lập theo hướng hiệu quả nhất, phát triển thêm một số lĩnh vựchoạt động mới để tận dụng tiềm năng thế mạnh của ngành
Là một ngành kinh tế kỹ thuật yêu cầu công nghệ cao, vốn đầu tư lớn, cómức độ rủi ro cao, con người luôn là yếu tố quyết định, đặc biệt trong giai đoạnđất nước bước vào hội nhập Ý Thức được điều đó, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
đã sớm đầu tư xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật, đặcbiệt là những cán bộ khoa học và những cán bộ quản lý có trình độ cao Đến nayTập đoàn Dầu khí Việt nam đã có đội nguc chuyên gia, cán bộ hơn 22 nghìnngười đã và đang đảm đương tốt đẹp công việc được giao phó
Chặng đường xây dựng và phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam trên 30năm qua hết sức vẻ vang, Đảng, Nhà nước và nhân dân đã luôn quan tâm tạođiều kiện cho ngành Dầu khí phát triển Từ năm 1988, Bộ Chính trị đã có Nghịquyết 15 về phát triển ngành dầu khí Năm 2006 vừa qua, Bộ Chính trị đã cóquyết định số 41-KL-TW ngày 19/01/2006 về phát triển ngành Dầu khí ViệtNam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025; Thủ tướng Chính phủ đã cóquyết định số 386/QĐ-TTg này 09/03.2006 phê duyệt chiến lược phát triểnngành Dầu khí Quốc gia Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025
Trang 4và ngày 29/8/2006 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 198,199/2006/QĐ-TTg về phê duyệt đề án Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam vàThành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam Từ đây, ngànhDầu khí Việt Nam bắt đầu một giai đoạn phát triển mới, với một vóc dáng mới.
Tự hào và phát huy những thành thành tích đạt được, tin tưởng mãnh liệt vàotương lai tươi dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, Tậpđoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam sẵn sàng vượt qua mọi thách thức, phấn đấuvươn lên không mệt mỏi để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nướcgiao Trong giai đoạn đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025, Tập đoànDầu khí Việt Nam xác định mục tiêu và nhiệm vụ phát triển như sau:
Mục tiêu tổng quát:
Phát triển ngành Dầu khí Việt Nam trở thành ngành kinh tế kỹ thuật quantrọng, đồng bộ, bao gồm: tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến,tàn trữ, phân phối, dịch vụ và xuất, nhập khẩu Xây dựng Tập đoàn Dầu khímạnh, kinh doanh đa ngành trong nước và quốc tế
Các mục tiêu cụ thể:
Về tìm kiếm thăm dò dầu khí: Đẩy mạnh việc tìm kiếm thăm dò, gia tăng trữlượng có thể khai thác; ưu tiên phát triển những vùng biển nước sâu, xa bờ; tíchcực triển khai đầu tư tìm kiếm thăm dò dầu khí ra nước ngoài Phấn đấu gia tăngtrữ lượng dầu khí đạt 35-40 triệu tấn qui dầu
Về khai thác dầu khí: Khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm nguồntài nguyên dầu khí trong nước để sử dụng lâu dài; đồng thời tích cực mở rộnghoạt động khai thác dầu khí ở nước ngoài để bổ sung phần thiếu hụt từ khai tháctrong nước Phấn đấu khai thác 25-35 triệu tấn qui dầu/ năm, trong đó khai thácdầu thô giữ ổn định ở mức 18-20 triệu tấn/ năm và khai thác khí 6-17 tỷm3/năm
Trang 5Về phát triển công nghiệp khí: Tích cực phát triển thị trường tiêu thụ khítrong nước, sử dụng khí tiết kiệm, hiệu quả kinh tế cao thông qua sản xuất điện,phân bón, hoá chất, phục vụ các nành công nghiệp khai thác, giao thông vân tải
và tiêu dùng gia đình Xây dựng và vân hành an toàn, hiệu quả hệ thống đườngống dẫn khí quốc gia, sẵn sàng kết nối với đường ống dẫn khí khu vực ĐôngNam Á phục vụ cho nhu cầu xuất nhập khẩu khí Riêng Tập đoàn Dầu khí ViệtNam sản xuất 10-15% tổng sản lượng điện của cả nước
Về công nghiệp chế biến dầu khí: Tích cực thu hút vốn đầu tư của mọi thànhphần kinh tế, đặc biệt là đầu tư từ nước ngoài để phát triển nha công nghiệp chếbiến dầu khí Kết hợp có hiệu quả giữa các công trình lọc, hoá dầu, chế biến khí
để ạo ra được các sản phẩm năng lượng cần thiết phục vụ nhu cầu của thị trường
ở trong nước và làm nguyên liệu cho các ngành công nnghiệp khác
Về phát triển dịch vụ dầu khí: Thu hút tối đa các thành phần kinh tế tham giaphát triển dịch vụ để tăng nhanh tỷ trọng doanh thu dịch vụ trong tổng doanhthu của cả ngành Phấn đấu đến năm 2010, doanh thu dịch vụ kỹ thuật dầu khíđạt 25-30%, đến năm 2015 đạt 30-35% tổng doanh thu của ngành và ổn địnhđến năm 2025
Về phát triển khoa học công nghệ: Tăng cường phát triển tiềm lực khoa họccông nghệ, đầu tư trang thiết bị hiện đại để hiện đại hoá nhanh ngành dầu khí;xây dựng lực lượng cán bộ, công nhân dầu khí mạnh cả về chất và lượng để cóthể tự điều hành được các hoạt động dầu khí cả ở trong nước và ở nước ngoài
2.1.2 Vai trò của PVFC trong Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt nam
Công ty Tài chính trong Tập đoàn kinh doanh là sản phẩm tất yếu của nềnkinh tế thị trường và là bước phát triển cao hơn của Tập đoàn kinh doanh, làmtăng hiệu quả huy động vốn cho Tập đoàn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trongTập đoàn và phát huy triệt để sức mạnh của Tập đoàn trên thị trường tài chính.Xuất phát từ ý tưởng đó, mô hình Công ty tài chính trong Tổng công ty được
Trang 6nghiên cứu từ những năm 90 của thế kỷ XX và Công ty tài chính trong Tổngcông ty Nhà nước đầu tiên được thành lập tại Việt Nam vào năm 1998 và đếnnăm 2000- Công ty tài chính Nhà nước cuối cùng (cho đến hiện tại) được thànhlập là PVFC- hình thành nhóm Công ty tài chính thuộc Tổng công ty Nhà nướcgồm 5 Công ty có vốn điều lệ 305 tỷ VNĐ, gồm:
- Công ty tài chính Dệt may được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp giấyphép hoạt động từ năm 1998, trụ sở chính tại TP HCM, vốn điều lệ khi thànhlập là 30 tỷ VNĐ
- Công ty tài chính Cao su thuộc Tổng công ty Cao su được NHNN ViệtNam cấp giấy phép hoạt động từ năm 1998, trụ sở chính tại Hà Nội, vốn điều lệkhi thành lập là 70 tỷ VNĐ
- Công ty tài chính Bưu điện thuộc Tổng công ty Bưu chính viễn thông đượcNHNN Việt Nam cấp giấy phép hoạt động từ năm 1998, trụ sở chính tại HàNội, vốn điều lệ khi thành lập là 70 tỷ VNĐ
- Công ty Tài chính Tàu thuỷ thuộc Tổng công ty Tàu thuỷ được NHNNNViệt Nam cấp giấy phép hoạt động từ năm 2000, trụ sở chính tại Hà Nội, vốnđiều lệ khi thành lập là 70 tỷ VNĐ
Thực hiện chủ trương xây dựng Tổng công ty Dầu khí Việt nam thành tậpđoàn kinh tế mạnh, bằng Quyết định số 04/2000/QĐ - VPCP, Chính phủ đã chophép Tổng công ty Dầu khí Việt nam thành lập Công ty Tài chính Dầu khí -định chế tài chính 100% vốn của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, doanh nghiệpthành viên hạch toán kinh tế độc lập nhằm đảm bảo nhu cầu vốn tín dụng đầu tưphát triển của Tổng công ty và các đơn vị thành viên với chức năng của một tổchức tín dụng phi Ngân hàng tại Tổng công ty Dầu khí Việt nam để thực hiệnmọi dịch vụ liên quan đến việc quản lý sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn củacác tổ chức tín dụng, các đơn vị, tổ chức và cá nhân trong Tổng công ty trênnguyên tắc sinh lời
Trang 7Với mục đích nói trên, Công ty Tài chính Dầu khí đã ra đời và đã đặt đượcnhững dấu mốc quan trọng trên bước đi ban đầu của mình:
19/6/2000: Bằng quyết định số 903/QĐ - HĐQT của Hội đồng quản trị Tổng
công ty Dầu khí Việt nam, Công ty Tài chính Dầu khí được chính thức thànhlập
30/9/2000: Công ty Tài chính Dầu khí chính thức đặt trụ sở đầu tiên với đầy đủ
trang thiết bị và bộ máy hoạt động tại 34B Hàn Thuyên Quận Hai Bà Trưng
-Hà Nội
12/10/2000: Bằng quyết định số 4098/QĐ – HĐQT của Hội đồng quản trị Tổng
công ty Dầu khí Việt Nam, điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty được banhành
25/10/2000: Thống đốc NHNN chính thức cấp giấy phép số 12/GP - NHNN cho
phép Công ty hoạt động và phê chuẩn điều lệ hoạt động của Công ty
5/2/2001: Lễ khai trương Công ty Tài chính Dầu khí đã được Tổng công ty Dầu
khí Việt nam tổ chức trọng thể tại Hà Nội đánh dấu sự hội nhập chính thức củaCông ty vào cộng đồng các đơn vị trong Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, vàocộng đồng các định chế tài chính trong nước và quốc tế
Với tám năm hình thành và phát triển, tuy không phải là một thời gian dàinhưng cũng đã đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của một định chế tài chínhcòn non trẻ
Ngay trong những năm đầu thành lập, dù chỉ với số vốn điều lệ là 100 tỷ,PVFC đã có những bước tăng trưởng và phát triển vượt bậc Với tư cách là địnhchế tài chính của PetroVietnam, PVFC đã triển khai các hoạt động:
- Thu xếp vốn tín dụng cho các dự án đầu tư
- Thực hiện các đề án phát hành trái phiếu trong nước và quốc tế choPetroVietnam
Trang 8- Nhận uỷ thác quản lý vốn và các dịch vụ tài chính cho PetroVietnam, cácđơn vị thành viên của PetroVietnam.
"Vì sự phát triển vững mạnh của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam"
là phương châm trong mọi hành động của PVFC
* PVFC luôn luôn xác định việc thu xếp vốn tín dụng cho các dự án của TổngCông ty và các đơn vị thành viên là nhiệm vụ chính trị hàng đầu
* Phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu các loại hình kinh doanh và dịch vụtrong lĩnh vực tài chính tiền tệ, đưa loại hình kinh doanh này trở thành một thếmạnh của Tổng Công ty sau 2005
* Xây dựng PVFC trở thành một thành viên quan trọng của Tập đoàn Dầu khíViệt Nam với phong cách hoạt động tiên tiến, văn hoá, tri thức và hiệu quả cao,một tổ chức chính trị, chuyên môn, quản lý trong sạch, vững mạnh, toàn diện
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh 2001-2007 của PVFC
a, Về quản lý:
Tuy với chỉ 08 năm thành lập, PVFC đã xây dựng và áp dụng các chính sáchđồng bộ về đổi mới cơ chế quản lý trong Công ty bằng việc ban hành áp dụngmột hệ thống các quy trình, quy chế có quan hệ chặt chẽ và thống nhất với nhau,giải quyết những vấn đề cốt lõi trong công tác quản lý đặc biệt là công tác quản
lý nhân sự và tạo động lực khuyến khích các tập thể và cá nhân trong Công tyhăng hái thi đua lao động hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
b, Về đầu tư, đổi mới công nghệ:
* Xây dựng các quy trình, quy chế hiện đại hoá công nghệ tài chính ngân hàng.
Trong các năm qua, Công ty đã xây dựng hơn 60 Quy trình nghiệp vụ,Quy chế trong các lĩnh vực hoạt động Hệ thống các văn bản Quy trình, Quychế được hoàn thiện và cập nhật thường xuyên theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000cũng đã góp phần vào việc chuẩn hoá toàn bộ các hoạt động của Công ty
Trang 9Công tác đào tạo bổ sung, đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn củaCBNV được thực hiện thường xuyên Bên cạnh đó công tác đào tạo nội bộ,đào tạo qua công việc thực tế được quan tâm thực hiện, các hoạt động tự đàotạo, sinh hoạt chuyên môn nâng cao nghiệp vụ đã được triển khai trong toàn hệthống
* Đầu tư trang thiết bị, công nghệ thông tin:
Hệ thống mạng thông tin và thiết bị tin học của Công ty được đầu tư lắp đặt
và vận hành ngay từ ngày đầu Công ty đi vào hoạt động Hiện nay mạng thôngtin đã được nâng cấp đảm bảo việc trao đổi thông tin nhanh chóng, chính xácgiữa các đơn vị, thực hiện cung cấp thông tin, xử lý số liệu, phân tích, thẩmđịnh, đánh giá dự án và các thông tin liên quan đến khách hàng bằng hệ thốngphần mềm đặc dụng
* Sử dụng phần mềm Bank 2000 - một phần mềm tài chính ngân hàngchuyên dụng - trong các hoạt động nghiệp vụ của Công ty
* Tiếp cận và sử dụng thông tin của các hãng tin Reuter, Telerate để cậpnhập thường xuyên tình hình biến động của thị trường tài chính tiền tệ trongnước và thế giới
* Xây dựng Website riêng tại địa chỉ http://www.pvfc.com.vn để quảng báhoạt động của Công ty cũng như cung cấp thông tin về tài chính, ngân hàng vàdầu khí
* Sử dụng trang tin điện tử nội bộ PVFCNews để phổ biến tình hình thịtrường, các quy trình quy chế, các quyết định của Lãnh đạo Công ty và hệ thốngthư điện tử tới từng cán bộ nhân viên cũng như phục vụ công tác luân chuyểnvăn bản nội bộ
* Xây dựng hệ thống mạng WAN nối mạng Online toàn Công ty
c, Hoạt động kinh doanh của Công ty trong giai đoạn 2002-2007:
I,Thu xếp vốn, tín dụng doanh nghiệp
Trang 10Công ty luôn coi đây là nhiệm vụ chính trị hàng đầu và chủ động bám sátcác dự án trong ngành, triển khai thu xếp vốn với phương châm không bỏ sótmột dự án nào của ngành Dầu khí, đáp ứng đầy đủ vốn tín dụng cho các dự ánđầu tư và hoạt động kinh doanh của các đơn vị trong ngành tối ưu nhất, đúngtiến độ và thu xếp thành công cho tất cả các dự án đầu tư phát triển của Tổngcông ty và các đơn vị thành viên Chú trọng đẩy mạnh cho vay trung và dài hạn,quan tâm phát triển tín dụng uỷ thác Hoạt động tín dụng được đảm bảo an toàn
và được kiểm soát chặt chẽ
II, Dịch vụ, tín dụng cá nhân
Đảm bảo chính sách nâng cao chất lượng sống cho CBCNV trong ngànhDầu khí và thực hiện cung ứng đa dạng các sản phẩm dịch vụ cho các cá nhân:
- Hoạt động nhận tiền gửi và uỷ thác đầu tư
- Các hoạt động cho vay: Cho vay trả góp đảm bảo bằng lương với cácCBCNV trong ngành DK, Cho vay cầm cố chứng từ có giá, Cho vay thế chấptài sản, Cho vay mua cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hoá, Cho vay muanhà trả góp
- Các hoạt động khác như: chuyển kiều hối, thu đổi ngoại tệ, ký quĩ duhọc
III, Hoạt động vốn
Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, đặc biệt tăng cường huy độngcác nguồn vốn trung và dài hạn Bên cạnh việc đẩy mạnh các kênh huy độngtruyền thống như huy động từ các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế và cá nhâncần tăng các hình thức huy động khác như: huy động từ phát hành và đại lý pháthành trái phiếu; nhận uỷ thác đầu tư; huy động từ các quỹ của Chính phủ, BộTài chính và các tổ chức tài chính nước ngoài; quản lý vốn cho PetroVietnam vàmột số Tập đoàn kinh tế khác của Việt nam; Đẩy mạnh huy động vốn qua thịtrường chứng khoán
IV, Dịch vụ tài chính
Phát triển dịch vụ tư vấn tài chính tiền tệ trong giai đoạn 2006 - 2010 là
Trang 11một trong những nhiệm vụ chiến lược của Công ty Tài chính Dầu Khí Với địnhhướng hoạt động tư vấn tài chính tiền tệ là một trong những sản phẩm mũi nhọncủa Công ty bao gồm các sản phẩm:
-Tư vấn: tư vấn chuyển đổi doanh nghiệp, tư vấn tài chính doanhnghiệp/dự án, tư vấn phát hành chứng từ có giá, tư vấn đầu tư
- Thẩm định
- Quản lý vốn và tài sản
V, Hoạt động đầu tư
Giai đoạn 2006 - 2010 Công ty chủ trương xây dựng và quản lý danh mụcđầu tư với phương châm hoạt động "PVFC là một nhà đầu tư chiến lược"
Phát huy tối đa hạn mức đầu tư dự án được phép, nâng cao khối lượng vốn
uỷ thác đầu tư, tập trung vào các dự án trong ngành và tham gia một số dự ánngoài ngành đạt hiệu quả kinh tế cao và đảm bảo an toàn vốn đầu tư
VI, Hoạt động uỷ thác đầu tư
Nhận ủy thác và quản trị vốn đầu tư theo yêu cầu của khách hàng là các
tổ chức và cá nhân trong và ngoài ngành Dầu khí Đầu tư dự án song song vớicung cấp các dịch vụ tài chính của PVFC
VII, Hoạt động chứng khoán
PVFC hoạt động trên thị trường chứng khoán với tư cách là nhà đầu tư vànhà tư vấn cho khách hàng về hoạt động của thị trường chứng khoán, là cầu nốicủa PV và các đơn vị thành viên với thị trường vốn, thị trường chứng khoán
VIII, Bao thanh toán
Tập trung vào đối tượng khách hàng là các đơn vị thành viên củaPetroVietnam, một số doanh nghiệp khác có quan hệ mật thiết trong hoạt độngcủa Công ty và hoạt động Dầu khí
IX, Kinh doanh ngoại hối
Đẩy mạnh dịch vụ liên quan đến ngoại hối Triển khai song song với cácsản phẩm dịch vụ sử dụng VNĐ, trong đó ưu tiên thực hiện các nghiệp vụ nhưthu xếp chuyển đổi ngoại tệ không kỳ hạn, có kỳ hạn Chú trọng đầu tư kỹ thuật,
Trang 12xây dựng đội ngũ chuyên gia để triển khai hoạt động ngoại hối đạt hiệu quả cao.
Trang 13Bảng 4: Một số chỉ tiêu kết quả kinh doanh tại PVFC giai đoạn 2002-2007
Đơn vị: triệu đồng
Tài sản và nguồn vốn
Tổng tài sản 1.230.625 2.895.532 4.207.024 6.828.142 18.143.649 47.993.000Vốn chủ sở hữu 106.194 112.402 318.531 359.674 1.134.859 3.524.200
Kết quả kinh doanh
Trang 14KHỐI
QUẢN LÝ
CÔNG TY THÀNH VIÊN
Kiểm toán nội bộ
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN KIỂM SOÁT
CHI NHÁNH
KHỐI KINH DOANH
2006, doanh thu và lợi nhuận đạt 1.023 tỷ đồng và 126 tỷ đồng Tính đến31/12/2007, doanh thu và lợi nhuận của PVFC lần lượt là 2.897 tỷ và lợi nhuận
là 460 tỷ Tỷ lệ tăng trưởng trung bình của doanh thu và lợi nhuận từ 2001 đếnhết năm 2007 là 235% và 224%, đây là một tỷ lệ khá cao cho thấy sự tăngtrưởng liên tục của PVFC
Tăng trưởng của PVFC còn được thể hiện qua quy mô hoạt động ngàycàng mở rộng Tổng tài sản qua các năm là năm 2001: 360 tỷ đồng; năm 2002:1.231 tỷ đồng; năm 2003: 2.900 tỷ đồng; năm 2004: 4.207 tỷ đồng và năm 2005
là 6.877 tỷ, đến năm 2007 đã là 48.000 tỷ đồng Nhìn chung, quy mô hoạt độngcủa PVFC tăng trưởng qua các năm đều cao với tỷ lệ gấp 2 lần qua các năm
Đặc biệt, năm 2007 đánh dấu một bước ngoặt của PVFC khi công ty đã thựchiện thành công tiến trình cổ phần hoá, chuyển từ doanh nghiệp 100% vốn nhànước sang mô hình Tổng Công ty cổ phần Ngày 19/10/2007, thông qua Trung tâmgiao dịch chứng khoán Hà nội, PVFC đã thực hiện thành công đợt đấu giá IPO,qua đó Cổ phần Nhà nước nắm giữ là 70%, cổ phần bán ra ngoài là 30%
Với tám năm hình thành và phát triển, trải qua nhiều khó khăn cho đếnnay PVFC đã đạt được những thành tựu đáng tự hào Từ số vốn điều lệ ban đầu
là 100 tỷ đồng với 8 người đầu tiên đặt nền móng xây dựng Công ty, PVFC đãphát triển thành một Tổng Công ty với VĐL 5000 tỷ đồng, doanh thu năm 2007đạt 3.180 tỷ, lợi nhuận hơn 460 tỷ đồng; tổng tài sản đạt 48.000 tỷ đồng Mạnglưới hoạt động của PVFC trải khắp đất nước với hơn 1400 cán bộ nhân viên
2.1.4 Mạng lưới hoạt động của PVFC
Tính đến hết năm 2007, PVFC đã phát triển mạng lưới hoạt động rộngkhắp trong cả nước, với hệ thống gồm 01 Hội sở, 08 Chi nhánh và 03 Công tythành viên, cụ thể:
Trang 152.2 Hoạt động đầu tư chứng khoán tại PVFC
2.2.1 Tổng quan về hoạt động đầu tư chứng khoán
2.2.1.1 Giai đoạn từ năm 2001-2004
Trang 16Hoạt động đầu tư nói chung và hoạt động đầu tư chứng khoán nói riêng làmột trong những hoạt động được quan tâm hàng đầu tại Công ty Tài chính Dầukhí ngay từ khi mới thành lập
Ngay từ khi mới thành lập năm 2001, PVFC đã thành lập Phòng Đầu tư
và Ban chứng khoán để nghiên cứu cơ hội đầu tư ngắn và dài hạn Trong bốicảnh thị trường tài chính, tiền tệ lúc đó còn nhỏ lẻ, manh mún, thị trường chứngkhoán còn non trẻ, chưa thu hút được đông đảo sự chú ý của công chúng, côngtác đầu tư tại PVFC trong giai đoạn này chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu
cơ hội đầu tư vào các dự án và đã thực hiện đầu tư vào một số loại chứng từ cógiá dài hạn Tuy nhiên, với định hướng chiến lược coi hoạt động đầu tư là mộttrong những mũi nhọn trong hoạt động của PVFC, trong thời gian này, PVFC
đã xây dựng những nền tảng chuyên môn và quy trình thực hiện để sẵn sàng choviệc phát triển hoạt động Bên cạnh việc tìm kiếm, xây dựng mối quan hệ vớicác khách hàng là các Tổng Công ty, các định chế tài chính lớn, như Tổng Công
ty Sông Đà, Tổng Công ty xuất nhập khẩu xây dựng Vinaconex, Ngân hàngNgoại thương Việt nam…, trong thời gian này, PVFC đã xây dựng những nềntảng chuyên môn và quy trình thực hiện để sẵn sàng cho việc phát triển hoạtđộng Một loạt quy trình, quy chế quy định hoạt động đầu tư ra đời, như Quytrình đầu tư chứng từ có giá, quy trình đầu tư dự án, quy trình đầu tư chứngkhoán niêm yết… Đồng thời, hoạt động đầu tư chứng khoán của PVFC cũng đãbước đầu được triển khai với các mảng chính như sau:
+ Đầu tư dài hạn cổ phiếu thông qua đấu giá IPO, góp vốn mua cổphần…
+ Đầu tư dài hạn Trái phiếu và các chứng chỉ nợ khác
+ Đầu tư chứng khoán ngắn hạn: mua bán trên thị trường OTC và thịtrường niêm yết
Với sự chuẩn bị tích cực và hiệu quả, đến năm 2003, cùng với nhữngchuyển biến của thị trường, hoạt động đầu tư chứng khoán tại PVFC đã nhanhchóng bắt kịp những phát triển của thị trường, triển khai một số hợp đồng hợp
Trang 17tác đầu tư góp vốn cổ phần Công ty sản xuất vỏ bình gas, dự án tàu FPSO, gópvốn mua cổ phần của Công ty Sông Hồng Gas…cùng với đó là việc đầu tư vàoTrái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, kết hợp với hoạt động Repo Tráiphiếu, góp phần tạo kênh huy động và sử dụng vốn linh hoạt cho Công ty Hoạtđộng kinh doanh chứng khoán niêm yết mới chỉ dừng lại ở con số tổng giá trịđầu tư là 1,4 tỷ đồng, nhưng đây là hoạt động cần thiết, giúp PVFC có thể đàotạo cán bộ đầu tư có kinh nghiệm cọ sát với thị trường.
2.2.1.2 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay
Có thể nói, những biến động của thị trường tài chính và chứng khoán Việtnam giai đoạn 2005-2006 đã tạo nên “thời cơ vàng” cho các nhà đầu tư tài chínhViệt nam Là một trong những tổ chức có thế mạnh về tài chính và đầu tư, được
sự ủng hộ của Tập đoàn, và có những bước chuẩn bị tốt, PVFC là một trongnhững doanh nghiệp đã nắm bắt và tận dụng được lợi thế này Hoạt động đầu tưchứng khoán tại PVFC trong giai đoạn này thực sự khởi sắc, tạo nên uy tín vàtên tuổi PVFC trên thị trường tài chính, tiền tệ trong nước
* Đầu tư dài hạn cổ phiếu thông qua đấu giá IPO, góp vốn mua cổ phần: đây là kênh đầu tư quan trọng và phổ biến nhất trong hoạt động đầu tư tại
PVFC Với quá trình nghiên cứu và chuẩn bị tương đối kỹ lưỡng, hoạt động đấugiá IPO của PVFC đã được triển khai hiệu quả và chuyên nghiệp, mang lại uytín cho PVFC Đặc biệt, trong giai đoạn 2004-2006, PVFC đã thực hiện đấu giáthành công nhiều doanh nghiệp lớn, có thương hiệu và tên tuổi như: Công tyThuỷ điện Vĩnh sơn-Sông Hinh (VSH); Công ty CP khoan và dịch vụ khoanDầu khí (PVD); Công ty Vận Tải Xăng Dầu (VIP)…
Bắt đầu nghiên cứu cơ hội và triển khai hoạt động đầu tư chứng từ có giá
từ năm 2002 và thực sự phát triển mạnh mẽ hoạt động trong năm 2005-2006,hiện tại, danh mục đầu tư của PVFC là rất đa dạng và hiệu quả, với số dư đầu tưlên đến hơn 5.000 tỷ đồng, trong đó, PVFC là cổ đông lớn, thành viên HĐQTcủa nhiều doanh nghiệp lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả như : Tổngcông ty Cổ phần Đạm Phú Mỹ, Công ty CP Nhiệt điện Phả Lại, Tổng công ty
Trang 18CP Khoan và dịch vụ khoan Dầu khí, Tổng công ty CP Dịch vụ kỹ thuật Dầukhí…
Bên cạnh việc sử dụng nguồn vốn tự có của PVFC để thực hiện đầu tư,PVFC còn nhận được nguồn vốn Uỷ thác của hàng chục nghìn tổ chức và cánhân để thực hiện đầu tư chứng khoán, với tổng giá trị đầu tư lên đến hơn 4.000
tỷ đồng Chính điều này đã thể hiện uy tín và tính chuyên nghiệp trong hoạtđộng đầu tư chứng khoán của PVFC
* Đầu tư dài hạn Trái phiếu và chứng chỉ nợ khác: Cùng với hoạt
động đầu tư cổ phiếu, góp vốn mua cổ phần, PVFC vẫn tiếp tục thực hiện hoạtđộng đầu tư Trái phiếu, Kỳ phiếu nhằm góp phần đa dạng hoá danh mục đầu
tư, góp phần tăng tính an toàn, hạn chế rủi ro của danh mục đầu tư chứng khoán.Tính đến năm 2007, tổng giá trị đầu tư Trái phiếu của PVFC là hơn 1000 tỷđồng
* Đầu tư chứng khoán ngắn hạn: mua bán trên thị trường OTC và thị
trường niêm yết: đây là một kênh quan trọng giúp PVFC có thể cơ cấu lại danhmục đầu tư của mình một cách hiệu quả Thông qua việc mua bán trên thịtrường OTC và thị trường niêm yết, PVFC có thể chuyển nhượng các khoản đầu
tư của mình, cũng như đầu tư vào các loại chứng khoán khác một cách linh hoạt
và hiệu quả, giúp tăng tính thanh khoản cho các chứng khoán nắm giữ và tănghiệu quả cho danh mục đầu tư
2.2.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư chứng khoán
2.2.2.1 Về giá trị và cơ cấu đầu tư
Với những bước chuẩn bị tương đối bài bản, hoạt động đầu tư của PVFC
đã mang lại những kêt quả khả quan
Từ vài tỷ đồng giá trị đầu tư chứng khoán năm 2001, đến năm 2005, tổnggiá trị đầu tư chứng khoán của PVFC đã là 931 tỷ đồng, năm 2006 là 3.485 tỷđồng (tăng hơn 374% so với năm 2005) và đến năm 2007, con số này đã là5.879 tỷ đồng (tăng gần 170% so với năm 2006)
Trang 19C ổ phiếu đầu tư dài hạn, góp vốn cổ phần
C ổ phiếu niêm yết, O TC
Biểu đồ 1: Cơ cấu đầu tư chứng khoán tại PVFC
Trong đó, cổ phiếu đầu tư dài hạn và góp vốn cổ phần vẫn chiếm tỷ lệ ápđảo, tuy nhiên, tỷ lệ này cũng đã có những thay đổi trong từng năm, điều đóphản ánh chiến lược đầu tư của PVFC đã thay đổi qua các năm
Trang 20Trong năm 2005, khi thị trường mới bắt đầu có những bước phát triển,
hoạt động đầu tư cổ phần dài hạn tại PVFC đã có những bước đột phá (chiếm 56% tổng giá trị đầu tư, với số dư đầu tư là 523 tỷ đồng), tuy nhiên, đầu tư Trái
phiếu và các chứng chỉ nợ vẫn là một kênh đầu tư quan trọng, với tỷ trọng đầu
tư chiếm tới 40%, trong khi kinh doanh OTC và chứng khoán niêm yết mới chỉchiếm 4%
Trong năm 2006, đây là giai đoạn thị trường thực sự bùng nổ với hàngloạt đợt đấu giá IPO lớn như đấu giá Tổng công ty CP Đạm phú Mỹ, Tổngcông ty Cp Bảo Việt, Tổng Công ty CP Xuất nhập khẩu Petrolimex, Tổng Công
ty XNK Xây dựng Vinaconex…Thị trường chứng khoán trong giai đoạn nàycũng có những tăng trưởng vượt bậc, với sự thu hút của đông đảo công chúng.Đây là giai đoạn PVFC đẩy mạnh việc đầu tư dài hạn cổ phần, với tổng giá trịđầu tư lên đến 2514 tỷ đồng (chiếm 72% tổng giá trị đầu tư)
Sang đến đầu năm 2007, thị trường lúc này đã bước vào giai đoạn pháttriển nóng, do đó, chiến lược đầu tư chứng khoán của PVFC trong giai đoạn nàychuyển dần sang đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cơ cấu lại danh mục chứngkhoán đã đầu tư Mặt khác, trong năm 2007, nhiều loại chứng khoán do PVFCđầu tư đã được niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên TTGDCK Hồ Chí Minhhoặc TTGDCK Hà nội như PVS, PVD, DMP, PVI, PVT… làm tăng tỷ lệ chứngkhoán đầu tư ngắn hạn lên 28% (với tổng giá trị là 1.652 tỷ đồng), tỷ lệ đầu tưchứng khoán dài hạn chỉ còn 55% (tổng giá trị là 3.215 tỷ đồng)
Trang 2155%
28%
Trái phiếu và chứng chỉ nợ
C ổ phiếu đầu tư dài hạn, góp vốn cổ phần
C ổ phiếu niêm yết, O TC
Biểu đồ 2: Cơ cấu đầu tư chứng tại PVFC theo tỷ lệ (%)
2.2.2.2 Về doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động đầu tư chứng khoán
Với việc gia tăng không ngừng về giá trị đầu tư chứng khoán, hiệu quảcủa hoạt động đầu tư cũng không ngừng ra tăng cả về số lượng và tỷ trọng trongcác hoạt động của PVFC
Nếu trong giai đoạn đầu (từ năm 2001-2003), hoạt động mang lại lợinhuận chủ yếu của PVFC chính là hoạt động thu xếp vốn, cấp tín dụng cho các
tổ chức kinh tế và cá nhân Thì từ năm 2004 trở đi, hoạt động đầu tư chứngkhoán đã thực sự trở thành một hoạt động mũi nhọn, mang lại doanh thu và lợinhuận cho PVFC
Bảng 6- Hiệu quả hoạt động đầu tư chứng khoán tại PVFC