- Bên cạnh các quy định về phát hành TPDN đã thông thoáng hơn cần có biện pháp kỹ thuật hỗ trợ doanh nghiệp trong việc lập phương án phát hành, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nh
Trang 1GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM
III.1 Định hướng phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam đến năm 2020
Thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước, đến năm 2010 nước ta hoàn toàn thoát khỏi tình trạng kém phát triển và đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để đạt được các mục tiêu đã đề ra đòi hỏi phải huy động từ nhiều nguồn lực, trong đó nguồn vốn đóng vai trò rất quan trọng Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn đối với sự phát triển của nền kinh tế, cần phát triển kênh dẫn vốn nhanh cho nền kinh tế đó là thị trường chứng khoán nói chung và thị trường trái phiếu nói riêng Hướng đến tầm nhìn năm 2020, thị trường trái phiếu phát triển cả về quy mô và chất lượng hoạt động đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển, đồng thời góp phần phát triển thị trường vốn Việt Nam sánh vai với các nước trong khu vực và quốc tế
III.1.1 Quan điểm phát triển
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam là một bộ phận trong sự phát triển thống nhất của thị trường tài chính, trên cơ sở phối hợp đồng bộ với các thị trường bộ phận khác nhằm đảm bảo hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế và định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Xây dựng, hoàn thiện và thúc đẩy sự phát triển đồng bộ giữa thị trường trái phiếu sơ cấp và thứ cấp, phát triển thị trường trái phiếu cả về quy mô và chất lượng nhằm thúc đẩy thị trường phát triển một cách bền vững
Đẩy mạnh việc đa dạng hóa hình thức TPCP, TPCQĐP, TPDN Thị trường trái phiếu phải đáp ứng vai trò là kênh huy động, chu chuyển vốn trung hạn và dài hạn cho nền kinh tế
Học hỏi kinh nghiệm phát triển TTTP ở các quốc gia có thị trường tài chính vững mạnh Nâng cao và củng cố vị thế của TTTP Việt Nam trên trường quốc tế trên cơ sở bảo đảm tính ổn định tài chính quốc gia
Trang 2Tạo dựng nền tảng pháp lý thống nhất và chặt chẽ để thị trường trái phiếu vận động và phát triển, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, cũng như có chính sách khuyến khích các chủ thể tham gia.
III.1.2 Định hướng phát triển
Ưu tiên phát triển thị trường trái phiếu nội tệ Phát triển thị trường TPCP, nâng cao tính thanh khoản, mở rộng quy mô thị trường, xây dựng đường cong lãi suất chuẩn làm nền tảng cho lãi suất cho TPDN cũng như các công cụ nợ khác Chỉ khi nào thị trường TPCP phát triển khi đó mới có thể khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư đối với thị trường TPDN, tạo động lực cho thị trường TPDN phát triển
Chú trọng phát triển thị trường TPDN nhằm tạo thêm kênh huy động vốn cho doanh nghiệp và tạo thêm sản phẩm cho TTCK, mặt khác làm giảm nhẹ sự tập trung vay vốn ngân hàng góp phần tạo ra cấu trúc thị trường bền vững:
- Chính Phủ đẩy nhanh thực hiện việc chuyển đổi DNNN theo hướng đa
sở hữu, với mục tiêu đại bộ phận các DNNN thực hiện cổ phần hóa
- Bên cạnh các quy định về phát hành TPDN đã thông thoáng hơn cần có biện pháp kỹ thuật hỗ trợ doanh nghiệp trong việc lập phương án phát hành, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhu cầu vốn rất cao nhưng vẫn còn lúng túng trong việc xây dựng phương án phát hành trái phiếu cũng như việc minh bạch các báo cáo tài chính
- Mở rộng quy mô thị trường TPDN về số lượng và chất lượng, từng bước hướng các doanh nghiệp sớm thực hiện phát hành trái phiếu ra công chúng
- Nâng cao kiến thức và nhận thức cho các nhà quản lý tài chính tại các doanh nghiệp và cho nhà đầu tư về TPDN
Phát triển hệ thống định mức tín nhiệm trong nước Tăng cường tính minh bạch thông tin, bắt buộc các doanh nghiệp phát hành trái phiếu phải định mức tín nhiệm
Trang 3Tách thị trường trái phiếu ra khỏi thị trường cổ phiếu để hình thành thị trường trái phiếu chuyên biệt: tạo nên một thị trường trái phiếu sôi động, minh bạch và chuyên nghiệp; thu hút các nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tư có tổ chức như Ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, quỹ đầu tư, công ty quản lý tài sản, công ty tài chính… Hình thành một hệ thống các nhà kinh doanh trái phiếu chuyên nghiệp, tạo lập thị trường cho trái phiếu trên thị trường thứ cấp.
Xây dựng cơ sở hạ tầng thị trường hiện đại có khả năng tích hợp với các
hệ thống công bố thông tin, giám sát của cơ quan quản lý
III.2 Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam
Phát triển thị trường vốn là mục tiêu chiến lược quan trọng trong quá trình
cơ cấu lại nền tài chính nước ta, trong đó phát triển thị trường trái phiếu là một mục tiêu quan trọng
Sự ổn định về mặt chính trị, tốc độ tăng trưởng kinh tế cả nước trong những năm qua ở mức cao, thu nhập của dân cư đã được cải thiện, đã có những tác động tích cực đến TTCK nói chung và TTTP nói riêng Những thành quả TTTP đạt được trong thời gian qua là tiền đề thuận lợi cho sự phát triển trong tương lai Qua những phân tích thực tế thời gian qua, cho thấy thị trường trái phiếu Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức, do đó cần có các giải pháp để thúc đẩy thị trường trái phiếu phát triển
III.2.1 Mở rộng quy mô, đa dạng hoá và tăng tính thanh khoản cho thị trường trái phiếu
Trái phiếu đa dạng đảm bảo mang lại những lợi ích khác nhau cho nhà đầu tư, sẽ tạo nhiều sự lựa chọn cho nhà đầu tư, trên cơ sở đó nhà đầu tư so sánh, phân tích, đánh giá và đi đến quyết định đầu tư Điều này sẽ kích thích và thu hút nhà đầu tư, thúc đẩy thị trường trái phiếu thêm sôi động
Trang 4III.2.1.1 Đối với trái phiếu Chính phủ
Đa dạng hóa hình thức TPCP, đa dạng hoá không chỉ là việc phát hành
nhiều loại TPCP với nhiều kỳ hạn khác nhau mà còn phải kết hợp việc đa dạng hóa về lãi suất, loại hình và phương thức thanh toán vốn gốc và lãi TPCP Bên cạnh những loại TPCP truyền thống, Chính phủ cần triển khai thêm một số một
số loại trái phiếu:
- Trái phiếu trả lãi bằng 0 hay còn gọi là trái phiếu được chiết khấu: là loại trái phiếu giá bán thấp hơn mệnh giá, nhà đầu tư sẽ thu được lợi nhuận tích lũy dưới dạng lãi từ vốn khi trái phiếu đến hạn thanh toán
- Trái phiếu đa thời hạn: trái phiếu có nhiều ngày đáo hạn khác nhau
- Trái phiếu thanh toán từng phần: đây là loại trái phiếu mà lãi suất được thanh toán khi đáo hạn nhưng gốc của trái phiếu sẽ thanh toán từng phần theo định kỳ hàng năm Loại trái phiếu này sẽ giảm áp lực tăng lãi và giảm thiểu rủi
ro tái đầu tư, tăng thêm độ an toàn cho người sở hữu trái phiếu
- Trái phiếu option: cho phép người mua trái phiếu có quyền đòi nợ đối với người phát hành tại bất kỳ một thời gian nào đó trong tương lai
- Trái phiếu có lãi suất thay đổi: lãi suất của nó có thể được thay đổi và điều chỉnh theo từng thời kỳ khi lãi suất thị trường có sự biến động, đảm bảo lãi suất thực dương cho nhà đầu tư vì mục tiêu lãi suất Loại trái phiếu này sẽ thu hút nhà đầu tư hưởng lãi suất vừa thu hút nhà đầu tư hưởng chênh lệch giá thúc đẩy thị trường TPCP hoạt động sôi nổi
Phương thức phát hành: Kế hoạch phát hành TPCP cần được xây dựng
một cách thống nhất, khoa học và tránh sự chồng chéo triệt tiêu lẫn nhau giữa các đợt phát hành hay giữa các phương thức phát hành với nhau Đẩy mạnh phát hành TPCP qua phương thức đấu thầu và bảo lãnh phát hành, tuy nhiên nên có
sự phân chia khối lượng phát hành cho mỗi phương thức theo kỳ hạn trái phiếu, tránh tình trạng các đợt phát hành diễn ra quá gần nhau làm giảm hiệu quả của
Trang 5các đợt phát hành Mặt khác, khi phát hành TPCP theo phương thức đấu thầu qua TTCK, cần hạn chế áp đặt lãi suất một cách chủ quan.
Bên cạnh đó, để tạo đường cong lãi suất chuẩn cho thị trường, cần lập chương trình kế hoạch phát hành TPCP, chọn loại TPCP có thời hạn phù hợp để tập trung phát hành lô lớn tạo nên TPCP phát hành chuẩn và hình thành đường cong lãi suất chuẩn, tạo nền tảng cơ bản lãi suất chuẩn cho các công cụ nợ Đẩy mạnh việc phát hành TPCP lô lớn sẽ giảm số lượng các loại TPCP lưu hành trên thị trường, giúp các nhà đầu tư cũng như các tổ chức trung gian dễ theo dõi, nắm bắt diễn biến về giá của các loại TPCP Đồng thời giảm dần đến chấm dứt việc phát hành bán lẻ qua hệ thống KBNN
Cơ chế lãi suất, Chính phủ nên áp dụng lãi suất thả nổi đối với TPCP Để
tăng tính hấp dẫn của TPCP nên áp dụng lãi suất điều chỉnh theo lạm phát và áp dụng phương thức trả lãi linh hoạt như trả lãi trước, trả lãi định kỳ…để nhà đầu
tư có thể giảm thiểu rủi ro và đa dạng hoá danh mục đầu tư Xây dựng một cơ chế lãi suất thực sự hấp dẫn nhà đầu tư kể cả trong điều kiện lạm phát hay thiểu phát nhằm tối đa lợi nhuận của nhà đầu tư trên cơ sở dung hòa với lợi ích của Chính phủ
III.2.1.2 Đối với trái phiếu chính quyền địa phương
Cần có kế hoạch phát hành trái phiếu đô thị đi kèm theo với nhiều tiện ích khác nhau nhằm giúp cho các nhà đầu tư luôn có được hàng hóa đa dạng phù hợp với chiến lược đầu tư của mình, qua đó tạo điều kiện cho chính quyền địa phương nâng cao khả năng huy động vốn trên cơ sở đảm bảo các nguyên tắc huy động vốn Có thể nghiên cứu phát hành trái phiếu đô thị dưới các hình thức: trái phiếu chiết khấu, trái phiếu đa kỳ hạn, trái phiếu thanh toán từng phần, trái phiếu
có lãi suất thay đổi, trái phiếu option…
Hơn nữa, trong điều kiện phát triển thực tế của các địa phương, nhu cầu vốn tài trợ cho đầu tư phát triển rất lớn và cấp thiết, Chính phủ nên xem xét và
Trang 6bổ sung thêm một số quy định pháp lý nhằm tăng cường khả năng huy động vốn đầu tư cho các dự án đầu tư của địa phương thông qua phương thức phát hành loại trái phiếu thu nhập, loại trái phiếu được phát hành dựa trên nguồn thu tài chính của dự án, công trình và không được cân đối từ ngân sách địa phương Chính quyền các tỉnh cần có chính sách khuyến khích các cơ quan công quyền
có chức năng công ích phát hành trái phiếu để tài trợ cho các dự án, cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội địa phương Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương có thể thực hiện bảo lãnh để tăng thêm uy tín cho đơn vị phát hành Trái phiếu thu nhập có thể phát hành theo các mục đích như:
- Trái phiếu xây dựng nhà ở: tài trợ cho việc xây dựng những khu dân cư cho những gia đình có thu nhập thấp
- Trái phiếu công nghiệp: tài trợ để xây dựng các khu công nghiệp, sân bay, bến cảng, xử lý nước thải, ô nhiễm môi trường …
- Trái phiếu hệ thống cấp thoát nước: tài trợ cho những dự án cấp thoát nước cho dân cư và các ngành thuộc khu vực đô thị
- Trái phiếu bệnh viện: tài trợ cho việc xây dựng và vận hành các bệnh viện
III.2.1.3 Đối với trái phiếu doanh nghiệp
Thực tế cho thấy thị trường TPDN chỉ chiếm khoảng 10% thị trường trái phiếu Việc tham gia thị trường trái phiếu của các doanh nghiệp trong nước mới chỉ là những bước đi đầu tiên với quy mô nhỏ lẻ, nên bước đầu các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ phát hành trái phiếu ra thị trường nội địa và chủ yếu là chọn hình thức phát hành riêng lẻ, tức là doanh nghiệp có thể thương lượng trực tiếp với người cung cấp vốn Các quy định về điều kiện để doanh nghiệp phát hành trái phiếu riêng lẻ cũng đơn giản hơn việc doanh nghiệp muốn phát hành trái phiếu ra công chúng Để phát triển thị trường TPDN cần có những cải cách từ phía Chính phủ và cả doanh nghiệp
Trang 7Bộ Tài chính cần phải có những cải cách mạnh mẽ hơn nữa về cơ chế chính sách và kỹ thuật để hỗ trợ cho các doanh nghiệp, chú trọng việc tuyên truyền phổ biến và đào tạo cho các doanh nghiệp về cách thức huy động vốn, kinh nghiệm quản lý quỹ Để phát triển thị trường TPDN trước hết phải phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ, thị trường trái phiếu Chính phủ vẫn phải là bước khởi đầu
Nhà nước đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Cần
có chính sách khuyến khích các Tổng công ty nhà nước phát hành trái phiếu để huy động đầu tư vốn dài hạn phục vụ đổi mới công nghệ và tạo hàng hóa cho TTCK Trước mắt, các lĩnh vực như hàng không, điện lực, dầu khí, bưu chính viễn thông là những lĩnh vực mà nền kinh tế hiện đang rất cần tăng cường đầu tư
và phát triển để tạo đà cho công nghiệp hóa
Về phía các doanh nghiệp để thành công trong việc phát hành trái phiếu, doanh nghiệp cần phải xây dựng kế hoạch huy động và sử dụng vốn hiệu quả nhằm đảm bảo khả năng thanh toán và tạo sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư cũng như đảm bảo được lợi ích của doanh nghiệp Muốn vậy, doanh nghiệp cần thực hiện tốt một số vấn đề:
- Trước hết, doanh nghiệp phải xây dựng được chiến lược phát triển dài hạn trong đó gồm cả việc huy động vốn Doanh nghiệp cần xác định nhu cầu và mục đích huy động vốn, cần gắn việc huy động với việc sử dụng vốn
- Thứ hai, việc quản lý tốt ngân quỹ là vấn đề phức tạp Doanh nghiệp phải giải quyết cùng lúc việc thu hút một lượng vốn lớn; phải trả được các khoản
nợ và phải có tiền để sản xuất kinh doanh hoặc để đầu tư
- Thứ ba, việc công bố thông tin liên quan đến việc phát hành trái phiếu phải đảm bảo tính công khai minh bạch tạo lòng tin đối với nhà đầu tư
Ngoài ra, để tăng tính hấp dẫn và đa dạng, doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu có chuyển đổi thành cổ phiếu hay trái phiếu gắn với quyền mua; đảm bảo sự ổn định trước biến động của nền kinh tế, doanh nghiệp có thể phát hành
Trang 8trái phiếu có lãi suất đảm bảo bằng vàng hay lãi suất thực được đảm bảo dương trong trường hợp lạm phát cao để thu hút nhà đầu tư Việc phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực huy động vốn, tăng khả năng linh hoạt trong quản trị vốn, đồng thời tăng khả năng tích tụ, tập trung và phân phối nguồn vốn có chi phí rẻ cho phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn hiện nay.
III.2.1.4 Phát triển công cụ phái sinh liên quan đến trái phiếu
Đầu tư chứng khoán nói chung và đầu tư trái phiếu nói riêng luôn chứa đựng rủi ro, việc bảo hiểm cho các khoản rủi ro trong quá trình đầu tư là điều cần thiết Mặt khác, khi thị trường trái phiếu phát triển đến giai đoạn cao tất yếu dẫn đến việc hình thành các sản phẩm phái sinh liên quan đến trái phiếu nhằm đa dạng hoá và đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư từ khả năng sinh lợi đến mục tiêu giảm thiểu, hoán đổi rủi ro Hiện nay, thị trường giao dịch trái phiếu ở Việt Nam khá đơn điệu, dừng lại ở nghiệp vụ mua bán trái phiếu giao ngay, làm hạn chế mục đích đầu tư và tính linh hoạt của thị trường Cần phát triển các sản phẩm chứng khoán phái sinh liên quan đến trái phiếu như: quyền chọn mua, bán chứng khoán; hợp đồng tương lai; hợp đồng kỳ hạn; các sản phẩm từ chứng khoán hóa tài sản và các khoản nợ Hệ thống ngân hàng thương mại phải đóng vai trò chủ đạo trong quá trình cung cấp các sản phẩm phái sinh cho TTCK Ngoài ra, nghiệp vụ repo trái phiếu tạo tính thanh khoản rất cao cho thị trường trái phiếu
Các công cụ phái sinh nói chung được đánh giá là rất hữu hiệu trong phòng ngừa rủi ro, giúp nhà đầu tư tự tin hơn khi tham gia thị trường Tuy nhiên, các công cụ này cũng có tính hai mặt, để áp dụng vào TTCK Việt Nam cần xây dựng khuôn khổ pháp luật cho hoạt động này, các cơ quan quản lý có thể đưa ra các quy định về số lượng quyền chọn tối đa của các nhà đầu tư để hạn chế tình trạng lũng đoạn thị trường Bên cạnh đó, cần thực hiện đồng bộ với việc phát triển quy mô thị trường, hệ thống giao dịch, hệ thống tài chính ngân hàng, sự hiểu biết về TTCK của công chúng đầu tư và tăng cường khả năng giám sát thị trường của cơ quan quản lý
Trang 9III.2.2 Xây dựng và phát triển hệ thống định mức tín nhiệm (ĐMTN)
Tính minh bạch về thông tin là một trong những điều kiện để phát triển thị trường vốn nói chung và thị trường trái phiếu nói riêng Trong hoàn cảnh đó, dịch vụ đánh giá tín nhiệm với các thông tin chính xác, kịp thời sẽ cung cấp thêm cho các cơ quan giám sát thị trường chứng khoán và các cơ quan quản lý tài chính công cụ để quản lý và giám sát; cung cấp thông tin để cho phép các nhà đầu tư kiểm soát và hạn chế các rủi ro trong kinh doanh; đồng thời đối với nhà phát hành nó được dùng như một chiến lược huy động vốn Do đó, việc xây dựng hệ thống ĐMTN ở Việt Nam hiện nay đã trở nên cấp thiết
Để tổ chức ĐMTN tồn tại và phát triển trong giai đoạn thị trường trái phiếu Việt Nam còn non trẻ cần chú trọng các vấn đề sau:
- Nhanh chóng xây dựng khung pháp lý về hoạt động ĐMTN, có một khung pháp lý sẽ tạo điều kiện cho các công ty định mức tín nhiệm trong nước ra đời, vừa tạo điều kiện để thu hút sự tham gia của các công ty, tổ chức uy tín trên thế giới
+ ĐMTN được nhắc đến trong Nghị định 52/NĐ-CP nhưng chỉ dừng lại ở mức độ mở ngoặc “nếu có” Việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho sự hình thành và hoạt động hiệu quả của tổ chức định mức tín nhiệm, trước tiên phải mang tính chất tiền đề, là những cơ sở pháp lý cơ bản nhất để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực ĐMTN, đồng thời định ra hướng đi đúng cho cá nhân, tổ chức liên quan trong khuôn khổ mà pháp luật quy định
+ Luật chứng khoán cần bổ sung một phần quy định về những vấn đề chung nhất trong hoạt động của tổ chức định mức tín nhiệm như: khái niệm, địa
vị pháp lý, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tổ chức định mức tín nhiệm
+ Bên cạnh những vấn đề chung, để tạo môi trường pháp lý cho hoạt động ĐMTN, Chính phủ cần ban hành các Nghị định để chi tiết hóa và hướng dẫn thi hành các điều khoản này Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, hoạt động ĐMTN
là lĩnh vực hoàn toàn mới mẽ; hệ thống pháp lý chưa hoàn thiện, ta chưa lường
Trang 10trước được hết những phát sinh và tính phức tạp của hoạt động này Việc sửa đổi
bổ sung để hoàn thiện trong quá trình điều hành là điều không thể tránh khỏi, nếu ở mức Nghị định vừa đảm bảo được hiệu lực pháp lý vừa có thể sửa đổi bổ sung kịp thời Do đó trong giai đoạn đầu Chính phủ ban hành ở mức Nghị định
là hợp lý Cùng với sự phát triển của thị trường vốn và trong quá trình điều hành hoạt động ĐMTN đã rút tỉa được kinh nghiệm nếu xét thấy cần thiết thì ban hành luật hoạt động ĐMTN
+ Hoạt động ĐMTN là một bộ phận của TTCK, nó liên quan chặt chẽ với hoạt động của toàn TTCK và ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường, do đó cần phải có sự đồng bộ hóa các quy định có liên quan đến hoạt động ĐMTN với các quy định khác có liên quan Cần giám sát và có qui định xử phạt đối với các hành vi sai trái khi tổ chức ĐMTN đưa ra các kết quả xếp hạng tín nhiệm không trung thực
- Tiêu chuẩn hoá các thông tin tài chính của các doanh nghiệp Một tổ chức ĐMTN phụ thuộc vào sự sẵn có các thông tin chính xác tin cậy về các doanh nghiệp phát hành trái phiếu Mặt khác, các cơ quản lý không chỉ dừng lại
ở việc khuyến khích xếp hạng tín nhiệm mà phải thông qua việc ban hành các quy định về ĐMTN bắt buộc, yêu cầu các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK phải thực hiện ĐMTN, nhất là các doanh nghiệp phát hành trái phiếu dù chào bán ra công chúng hay chào bán riêng lẻ Minh bạch hoá thông tin vừa tạo sự yên tâm cho nhà đầu tư vừa tạo uy tín cho bản thân các doanh nghiệp phát hành Một trở ngại cho sự phát triển của các tổ chức ĐMTN là có quá ít công cụ nợ để định giá, do đó cần mở rộng quy mô cung chứng khoán đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp
- Cần nâng cao nhận thức của nhà phát hành và nhà đầu tư về ĐMTN Để
hệ thống ĐMTN tồn tại và phát triển là sự công nhận và xem công tác ĐMTN như một trong những nhân tố toàn diện nhất để nhận biết những rủi ro tiềm ẩn
Trang 11Để làm được điều này, cần phải làm cho các nhà đầu tư, các tổ phát hành trái phiếu và các tổ chức trung gian thị trường hiểu được những lợi ích mà ĐMTN mang lại Bên cạnh đó, các tổ chức ĐMTN phải tạo được sự tin cậy, tín nhiệm từ phía những người ủy thác và công chúng đầu tư, đảm bảo nguyên tắc hoạt động tính tin cậy, tính độc lập, tính khách quan và chuyên nghiệp.
- Cuối cùng, để hệ thống ĐMTN thành công còn phụ thuộc vào khuôn khổ chính sách dẫn dắt, có thể thực hiện các bước đi sau:
+ Hợp tác và tiếp thu kinh nghiệm, chuyên môn từ các tổ chức ĐMTN nổi tiếng trên thế giới Vai trò của các tổ chức ĐMTN quốc tế, ngay cả trong giai đoạn đầu, cần được xem xét một cách phù hợp Bên cạnh đó, sự hiện diện của các tổ chức ĐMTN quốc tế sẽ gia tăng sự lựa chọn và chất lượng của các dịch vụ cung cấp cho các tổ chức phát hành và nhà đầu tư Áp lực cạnh tranh từ các tổ chức ĐMTN quốc tế cũng sẽ buộc các tổ chức ĐMTN trong nước tăng cường chất lượng và tính cạnh tranh về dịch vụ của họ Tuy nhiên, với mục đích phát triển các tổ chức ĐMTN trong nước, trong giai đoạn đầu nên hạn chế sự tham gia của các tổ chức ĐMTN nước ngoài, chỉ dừng ở mức hỗ trợ thu hút vốn nước ngoài Việc tham gia vào các mảng thị trường khác chỉ nên cho phép khi đã qua một số giai đoạn nhất định, với điều kiện lộ trình đó phải được minh bạch và có
độ tin cậy cao
+ Trong điều kiện hiện tại của VN, có một số lý do không ủng hộ việc cho phép các Công ty định mức tín nhiệm tư nhân hoạt động Thứ nhất, các tổ chức
tư nhân này thường có quy mô nhỏ Thứ hai, có rủi ro là một số tổ chức phát hành có thể thành lập các Công ty định mức tín nhiệm của chính mình để đạt được những kết quả sai lệch về tình hình tín dụng của họ Mặc dù vậy, các tổ chức ĐMTN nhà nước cũng vẫn có những điểm yếu, vấn đề phức tạp nhất có thể xảy ra là sự can thiệp của Chính phủ đối với kết quả định mức tín nhiệm Để đảm bảo chất lượng định mức tín nhiệm, việc thực thi công tác kiểm soát, giám
Trang 12sát và phân định trách nhiệm rõ ràng phải được chú trọng Ngoài ra, việc lựa chọn quyền sở hữu đối với các tổ chức ĐMTN đòi hỏi phải xem xét kỹ tới quy
mô và tính chuyên nghiệp cần thiết Trong giai đoạn đầu có thể thành lập một
tổ chức ĐMTN thuộc sở hữu nhà nước và sau đó có thể cho phép chuyển thành
sở hữu tư nhân
III.2.3 Thu hút và phát triển đội ngũ tạo lập thị trường
Ở các thị trường chứng khoán phát triển, các nhà tạo lập thị trường là các trung gian tài chính Họ niêm yết giá mua, giá bán và sẵn sàng thực hiện giao dịch với các mức giá đã niêm yết Các hoạt động của họ tạo tính linh hoạt cho thị trường trái phiếu; tăng khả năng thực hiện giao dịch trái phiếu làm cho thị trường giao dịch trái phiếu sôi động hơn thông qua cạnh tranh về giá cả đặt ra giữa các nhà tạo lập thị trường khác nhau…
Trong điều kiện thị trường trái phiếu còn sơ khai, hình thành và phát triển đội ngũ các nhà tạo lập thị trường là điều cần thiết Cần có đội ngũ chuyên gia có năng lực làm tư vấn cho Chính phủ để xây dựng chính sách phối hợp đồng bộ giữa các kênh huy động vốn Để xây dựng đội ngũ các nhà tạo lập thị trường có tiềm năng tài chính đủ mạnh sẵn sàng mua - bán một lượng trái phiếu nhất định khi có yêu cầu của nhà đầu tư, cần có chủ trương khuyến khích các ngân hàng thương mại và các công ty bảo hiểm có tiềm năng tài chính lớn tham gia
III.2.4 Xây dựng thị trường trái phiếu chuyên biệt
Trái phiếu với những đặc điểm riêng đòi hỏi phải có cơ chế phát hành và giao dịch riêng Giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp cần tách khỏi thị trường cổ phiếu, xây dựng một thị trường trái phiếu chuyên biệt nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư của các nhà đầu tư có tổ chức trên thị trường Cần tìm ra một mô hình giao dịch phù hợp cho thị trường trái phiếu chuyên biệt Một số thị trường trái phiếu trên thế giới đã và đang áp dụng các mô hình giao dịch điển hình sau:
Trang 13- Hệ thống khớp lệnh chéo (cross-matching system): các nhà đầu tư được kết nối với nhau thông qua các nhà kinh doanh trái phiếu.
- Hệ thống một nhà kinh doanh (single-dealer system): nhà đầu tư thực hiện giao dịch với một nhà kinh doanh trái phiếu duy nhất để thương lượng và thực hiện giao dịch Nhà kinh doanh trái phiếu này đưa ra yết giá hai chiều mua-bán trái phiếu
- Hệ thống liên định chế (Interdealer system): hệ thống giao dịch giữa các nhà kinh doanh trái phiếu với nhau thông qua mạng lưới giao dịch điện tử của các nhà môi giới liên định chế; các tổ chức đầu tư có thể biết được các chào giá tốt nhất trên thị trường tại một thời điểm và tiến hành giao dịch thông qua nhà môi giới
- Hệ thống đa định chế (Multi-dealer system): nhà đầu tư kết nối với nhiều nhà kinh doanh trái phiếu, cho phép hiển thị các giá chào bán và chào mua có trên hệ thống tại một thời điểm để so sánh và chọn chào giá tốt nhất của từng loại trái phiếu Hệ thống này còn cho phép các nhà đầu tư yêu cầu lấy giá cho một loại trái phiếu từ một hoặc nhiều nhà kinh doanh tham gia hệ thống giao dịch Hệ thống này tăng khả năng tiếp cận thông tin cho nhà đầu tư cuối cùng và
có nhiều lựa chọn giao dịch
- Hệ thống đấu giá (Auction system): thành viên bán trái phiếu sẽ đăng các thông tin chi tiết về trái phiếu được chào bán và các điều kiện cụ thể trong đấu giá, các thành viên tham gia đấu giá nộp đơn đấu giá và khối lượng trái phiếu chào bán sẽ được chuyển cho thành viên nào trả giá cao nhất
Việc lựa chọn hệ thống giao dịch phù hợp cho thị trường thứ cấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó mức độ phát triển của thị trường trái phiếu là quan trọng nhất, đặc biệt là thị trường TPCP đóng vai trò chủ đạo Trong điều kiện thị trường trái phiếu còn non trẻ, số lượng nhà đầu tư có tổ chức còn hạn chế và mức giao dịch trái phiếu thấp thì hệ thống giao dịch thỏa thuận là phù hợp
Trang 14để tăng tính thanh khoản Tuy nhiên, khi thị trường trái phiếu phát triển, quy mô thị trường lớn, đã có hệ thống các nhà kinh doanh trái phiếu đủ lớn và chuyên nghiệp, việc ứng dụng công nghệ thông tin ở mức độ cao, nhu cầu về tính hiệu quả và minh bạch của thị trường càng lớn, lúc này cần vận dụng các mô hình hệ thống hiện đại hơn vào thị trường trái phiếu.
Giao dịch trái phiếu tập trung sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường trái phiếu trong nước, là một kênh huy động vốn hiệu quả của nền kinh
tế Với sự ra đời của thị trường trái phiếu chuyên biệt, nhà đầu tư, các quỹ đầu tư
sẽ ngày càng quan tâm hơn đến thị trường trái phiếu với niềm tin vào một thị trường trái phiếu sôi động và minh bạch hơn, thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của thị trường trái phiếu sơ cấp và tính thanh khoản của thị trường thứ cấp
III.2.5 Thực hiện công khai hóa thông tin
Việc công khai và minh bạch hoá thông tin là một yếu tố quan trọng để thị trường trái phiếu hoạt động lành mạnh Do đó, Chính phủ và doanh nghiệp cần tích cực thực hiện công khai hóa thông tin, khắc phục tình trạng bưng bít thông tin hoặc công khai mang tính hình thức Công bố thông tin một cách tùy tiện, không có hệ thống và chuẩn mực sẽ tạo tâm lý e ngại đối với nhà tư là nguyên nhân làm cho thị trường trái phiếu kém phát triển Độ tin cậy của thông tin là cơ
sở để nhà đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư, giảm thiểu rủi ro
Về phía Chính phủ, công tác công khai hóa thông tin trong thời gian tới
cần hoàn thiện các mặt sau:
- Tăng cường công bố kế hoạch phát hành trái phiếu, các thông tin về khối lượng phát hành, lãi suất và thời hạn Bên cạnh đó cần tăng khả năng tiếp cận thông tin về cơ cấu nợ, lý do huy động vốn và đặc biệt là chiến lược quản lý nợ
Cụ thể vào đầu năm, Chính phủ công khai kế hoạch phát hành trái phiếu trong năm gồm các nội dung: thời điểm phát hành, khối lượng phát hành, lãi suất dự kiến, đối tượng tham gia… Vào cuối năm, cần công khai báo cáo tổng hợp, chi
Trang 15tiết về tình hình sử dụng vốn huy động từ TPCP, TPCQĐP trong năm Bên cạnh
đó, TPCP là một hàng hóa niêm yết trên thị trường, để thu hút nhà đầu tư hơn nữa, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài, TPCP cần được các tổ định mức tín nhiệm có uy tín trên thế giới như Moody’s, S&P, Fitch đánh giá
- Ngày nay, cần khai thác và ứng dụng công nghệ thông tin để đưa thông tin đến nhà đầu tư, đặc biệt là phương tiện thông tin trực tuyến từ internet, thông qua các website giúp cho nhà đầu tư dễ truy cập UBCKNN cần thiết lập hệ thống thông tin tự động để nhà đầu tư trong và ngoài nước có thể tra cứu thông tin bất cứ lúc nào Xây dựng website chuyên cung cấp thông tin về trái phiếu và thị trường trái phiếu trong đó bao gồm các thông tin về: thị trường sơ cấp, thị trường thứ cấp, các chính sách, chiến lược phát triển, khung pháp lý có liên quan
để cung cấp thông tin đến các nhà đầu tư Lựa chọn nhà cung cấp thông tin về thị trường trái phiếu trên cơ sở gắn kết về tính chuyên nghiệp và cơ sở vật chất kỹ thuật của các thành viên tham gia thị trường
- Để đảm bảo thông tin được công bố chính xác và minh bạch cần nâng cao tính cưỡng chế của pháp luật; nâng cao kiến thức, kinh nghiệm cho các nhà đầu tư, các tổ chức trung gian thị trường để phân tích thông tin của các tổ chức phát hành; hệ thống kế toán kiểm toán đảm bảo tuân thủ các chuẩn mực trong nước và phù hợp với thông lệ quốc tế Đối với các trường hợp vi phạm về công
bố thông tin trên TTCK, cần có các biện pháp chế tài xử lý vi phạm Mặt khác, Chính phủ nên đi đầu trong công tác đào tạo kiến thức trong các lĩnh vực như: pháp lý, kế toán…
Về phía doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần tổ chức bộ phận chuyên
trách công tác thông tin để công bố thông tin kịp thời và nâng cao chất lượng thông tin của doanh nghiệp Thông tin cần cập nhật định kỳ, thường xuyên, có số liệu thống kê và phân tích xu hướng phát triển Bên cạnh đó, cần nâng cao trình
độ của bộ máy quản lý, đội ngũ kế toán…
III.2.6 Phát triển thị trường phi tập trung (OTC)