Trong sách giáo khoa có đưa ra 2 cách tính theo công thức hóa học là biết công thức hóa học của hợp chất để tính thành phần phần trăm khối lượng các nguyên tố trong hợp chất và xác định [r]
Trang 1PHẦN I LỜI NÓI ĐẦU
I Lý do chọn đề tài:
1 Cơ sở lý luận:
Bác Hồ dạy:
“Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người”
Thấm nhuần tư tưởng đó, ngành giáo dục đã đổi mới toàn diện sự nghiệpgiáo dục nhằm tạo nên bước nhảy mang tính đột biến về chất lượng dạy và học ởtất cả các cấp học Giờ đây học sinh đóng vai trò là trung tâm trong quá trình họctập, chủ động trong việc tiếp thu kiến thức Giáo viên là người truyền thụ, điềukhiển quá trình tiếp thu khiến thức đó Do đó đòi hỏi người giáo viên phải có sựđầu tư tìm tòi những vấn đề hay, mới lạ giúp cho các em tiếp thu bài tốt hơn,củng cố kiến thức đã học và phát huy được năng lực của các em
Mục tiêu chung của chương trình hóa học trung học cơ sở là cung cấp chohọc sinh một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hóahọc Hình thành ở các em một số kĩ năng cơ bản, phổ thông và thói quen học tập,làm việc khoa học làm nền tảng cho sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa, pháttriển năng lực nhận thức, năng lực hành động chuẩn bị cho học sinh học lên và đivào cuộc sống lao động Học sinh bằng họat động tự lực, tích cực của mình màchiếm lĩnh kiến thức Quá trình này được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ góp phầnhình thành và phát triển cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo
Đối với học sinh lớp 8 bậc trung học cơ sở thì hóa học là một môn học córất nhiều điều mới Chương trình sẽ giúp cho các em biết được nhiều khái niệm
về hóa học và nhiều công thức tính toán hóa học căn bản làm nền tảng cho việchọc tốt môn hóa học sau này Để giúp các em nắm rõ và nhớ lâu hơn các kháiniệm hay công thức hóa học trong chương trình đề ra rất nhiều bài tập có liênquan cho các em giải Đây cũng là một yêu cầu mà một bộ phận không nhỏ họcsinh có thể giải quyết tốt được
Nói đến hóa học ta phải nói đến sự biến đổi chất qua quá trình phản ứnghóa học Sự biến đổi đó phải tuân theo các qui luật hóa học nhưng ta sẽ thấy rằng
đã có sự chuyển biến về vật chất cũng như về số lượng so với vật chất ban đầu
mà ta có thể dự đoán được nhờ tính toán hóa học
Tính toán hóa học hay cụ thể là giải các bài tập hóa học tốt sẽ giúp các emcủng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo tính toán, vận dụng kiến thức đãhọc một cách hiệu quả
Khi giải tốt bài tập hóa học, các em sẽ được phát huy tính tích cực, pháthuy năng lực tư duy phân tích, tổng hợp, sáng tạo trong học tập
Tính toán hóa học tốt sẽ tạo cho các em niềm say mê học tập từ đó giúpnâng cao chất lượng học tập
Trang 2Các em có sự tính toán hóa học tốt sẽ là nguồn động lực cho giáo viên đầu
tư tìm tòi ra các bài tập hay hơn và người giáo viên sẽ gợi mở cho các em tìm racác phương pháp giải bài tập nhanh, gọn hơn nữa Đây là sự tương hỗ trong quátrình dạy và học rất cần được phát huy
Hiện nay cũng chưa có một phương pháp chung nào để giải tất cả bài tậphóa học, do đó tôi muốn nghiên cứu một số vấn đề nhằm giúp các em có được kỹnăng tính toán hóa học tốt hơn khi học bộ môn này
2 Cơ sở thực tiễn:
Đối với các em học sinh lớp 8 thì môn hóa học là một môn khoa học mới
mà trong chương trình học có rất nhiều khái niệm, công thức đại lượng cơ bản,đại lượng đòi hỏi các em phải hiểu và vận dụng trong giải bài tập hóa học nhưngtất cả đều chưa quen thuộc
Trong cấu trúc của sách giáo khoa lớp 8 môn hóa học có rất nhiều bài tập
về tính toán hóa học nhưng thời gian giảng dạy thi không cho phép giải hết cácbài tập này dẫn đến việc giáo viên hướng dẫn học sinh về nhà làm bài nên một số
em học dạng trung bình hoặc yếu rất khó có điều kiện thực hiện tốt bài tập tínhtoán hóa học
Theo phân phối chương trình hóa học lớp 8 bậc trung học cơ sở thì có 8 bàiluyện tập bao gồm ôn kiến thức cần nhớ và giải bài tập nên vẫn không đủ thờigian để giáo viên giảng giải hết cho mọi đối tượng học sinh trong lớp nắm đượccách giải cho từng bài tập cụ thể
Hóa học là một môn học có kiến thức dàn trãi, các chương, các bài đều cóliên quan mật thiết với nhau Tức là các khái niệm hay công thức hóa học đều cóthể vận dụng để hiểu và tính toán ở nhiều nội dung bài học hay bài tập khác nhau
Vì vậy nếu các em không nhớ một công thức nào đó thì sẽ khó mà giải tốt các bàitập hóa học Và lượng khái niệm hóa học, công thức hóa học rất nhiều đòi hỏi các
em phải hiểu về mối quan hệ giữa các khái niệm, giữa các công thức hóa học vớinhau không nhất thiết phải thuộc lòng từng câu từng chữ Có như thế các em mớitính toán tốt trong môn hóa học Như vậy đòi hỏi các em phải được ôn tập thườngxuyên và vận dụng nhuần nhuyễn các công thức hóa học thông qua việc giải bàitập hóa học
Đối với học sinh, các em có rất nhiều bỡ ngỡ, khó khăn trong tính toánhóa học như xác định các đại lượng, vận dụng các công thức cụ thể cho từng bàitập và nhất là các em chưa có nhiều kỹ năng tính toán hóa học Đây là hiện tượngrất hay gặp ở học sinh lớp 8 là sợ giải bài tập hóa học nhất là bài tập về địnhlượng
Từ những cơ sở trên, tôi thấy cần giúp cho học sinh có một kiến thức thậtvững về nội dung hóa học đã học và đồng thời rèn luyện kỹ năng tính toán tốthơn trong việc giải bài tập trong chương trình hóa học lớp 8 trung học cơ sở Đócũng chính là nội dung đề tài mà tôi đang thực hiện “Giúp học sinh nắm vữngkiến thức tính toán hóa học trong chương trình lớp 8 bậc trung học cơ sở”
Trang 3II Mục đích đề tài:
Tôi nghiên cứu đề tài này để tìm ra một số giải pháp giúp các em có được
kỹ năng tính toán tốt hơn trong quá trình học môn hóa học Tức là bước cơ bảnban đầu các em sẽ được hệ thống lại các khái niệm hóa học, các công thức tínhtoán hóa học, hiểu được mối liên hệ giữa các đại lượng với nhau từ đó các em sẽvận dụng, xử lý trong trong việc giải các bài tập hóa học Thông qua việc tínhtoán tốt trong quá trình học tập môn hóa học, các em sẽ được phát triển các tưduy cần thiết của người học sinh như: phân tích, suy luận, diễn giải, tổng hợp,…giúp cho các em học tốt bộ môn này và cũng là cơ sở để giúp các em học tốt cácmôn học khác
Đối với người giáo viên thì đây cũng là quá trình vận động tư duy, tìm tòi
ra các giải pháp giúp cho học sinh học tốt bộ môn mình phụ trách Trong quátrình đó người giáo viên sẽ có điều kiện để tìm hiểu sâu hơn nội dung, kiến thức,tìm được giải pháp tính toán linh hoạt hơn để truyền đạt cho học sinh Đề tài này
sẽ là một bộ tài liệu giúp người giáo viên dễ dàng ôn tập thường xuyên, phụ đạohọc sinh yếu kém hay bồi dưỡng học sinh khá, giỏi Từ đó chuyên môn nghiệp vụcủa người giáo viên ngày càng hoàn thiện và tiến bộ hơn
Hay nói cách khác đi, đề tài này sẽ giúp cho việc nâng cao chất lượng dạy
và học trong đơn vị và nếu được phổ biến sẽ giúp cho ngành nâng dần chất lượngdạy và học môn hóa học nói riêng và tất cả các môn học nói chung
đó Thông qua đề tài này tôi muốn hệ thống lại kiến thức hóa học mà các em đãhọc sao cho dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng
Tôi đã nghiên cứu nhiều phương pháp giải bài tập hay hướng dẫn giải bàitập trong các tài liệu cung cấp cho giáo viên nhà trường như: Bài soạn dạy mônhóa học, Hướng dẫn giải bài tập hóa học các lớp 8 trung học cơ sở Bài tập hóahọc 8 ,Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III (2004-2007) môn hóa học,… Đồng thời tôi cũng nghiên cứu nhiều bài của nhiều tác giảđược đăng trên mạng nói về vấn đề giải bài tập hóa học lớp 8 Tất cả đều rất hữuích đối với các em học sinh đang học môn hóa học lớp 8 Nhưng đa số các tàiliệu đều có nội dung rộng, các em khó có thể tiếp thu một cách dễ dàng, hiệu quả
và nhất là khó có thể vận được thành thạo trong tính toán hóa học Rất cần một sựbiên tập thành một tài liệu ngắn gọn, dễ hiểu, dễ vận dụng trong tính toán
Trang 4Qua quá trình giảng dạy tôi nhận thấy có một số bài tập nếu giải theo cách
mà sách giáo khoa hướng dẫn thì rất dài dòng nên tôi mạnh dạn đề xuất một sốcách giải bài tập nhanh gọn hơn giúp học sinh đỡ tốn thời gian và có thể suy luận
ra một số các giải khác nhau
Như ta đã biết môn hóa học là một môn học có rất nhiều liên hệ và ứngdụng trong đời sống sản xuất và những hiện tượng bình thường trong thực tiễnnên các bài tập trong môn hóa học sẽ có rất nhiều từ ngữ liên quan đến khái niệmhóa học và thực tế như: chất tạo thành, sản phẩm, thu được, để sản xuất ra cầnmột số lượng chất, cần một số mol , một số khối lượng .làm cho các em có khichưa hiểu hết ý nghĩa từ của chúng để có thể vận dụng công thức nào là phù hợp
Từ đó tôi có suy nghĩ cần hệ thống các bài tập có dạng chung để đề xuất cách giảiphù hợp
Từ đó tôi đã đầu tư nghiên cứu đề tài nhằm giúp các em ôn lại kiến thức đãhọc và vận dụng chúng để tính toán tốt hơn môn hóa học
Trong thực tế, tôi đã tiến hành nghiên cứu giáo án của bản thân và của một
số đồng nghiệp cùng dạy môn hóa học trung học cơ sở trong những năm qua đểtìm hiểu về thực tế giảng dạy phần tính toán hóa học để có nhận xét chung quitrình giải bài tập hóa học của học sinh
Tôi tiến hành thống kê số điểm phần tính toán trong các bài kiểm tra định
kỳ nhằm tìm ra các nguyên nhân vì sao điểm phần này không đạt yêu cầu haykhông được tỉ lệ cao mà suy nghĩ ra giải pháp giúp các em tính toán tốt hơn
Trong các giờ lên lớp có rất nhiều bài tập cần phải giải quyết tại lớp Khicác em giải bài tập, tôi cũng rút ra được một số nhận xét quá trình làm bài nhưthời gian hoàn thành, việc sử dụng công thức hóa học, cách làm ,…
Từ những nghiên cứu trên, tôi đã đúc kết thành đề tài này nhằm giúp các
em học sinh lớp 8 sẽ thực hiện tính toán tốt hơn khi học môn hóa học
Trang 5PHẦN II NỘI DUNG VÀ GIẢI PHÁP
I Thực trạng:
Vì là một môn khoa học mới vừa có phần lý thuyết phù hợp với tâm sinh
lý lứa tuổi học sinh lớp 8 vừa mang tính thực tiễn cao nên trong chương trình córất nhiều khái niệm hóa học mà các em mới gặp lần đầu như: chất, nguyên tố hóahọc, nguyên tử, phân tử, nguyên tử khối, chất tham gia , chất sản phẩm, nồng độdung dịch, mol, …Các khái niệm này xuất hiện thường xuyên trong quá trình họctập và chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau
Trong chương trình cũng có rất nhiều đại lượng cần ghi nhớ như nguyên tửkhối, phân tử khối, lượng chất mol, khối lượng mol, thể tích, nồng độ,…Các đạilượng này cũng sẽ đi theo suốt quá trình học tập môn hóa học và có mối quan hệbằng các công thức hóa học
Lượng kiến thức này các em cần phải ghi nhớ và hiểu chúng để vận dụngmột cách thành thạo
Các đơn vị đo lường các em học từ trước đến nay chủ yếu được qui địnhthành các bảng đo đơn vị như bảng đo đơn vị độ dài, bảng đo đơn vị diện tích,bảng đo đơn vị thể tích…khi chuyển đổi đều sử dụng hệ thập phân và các emđược học từ cấp 1 đến nay Nhưng các đơn vị dùng để tính toán trong hóa học thìtheo qui ước riêng như nguyên tử khối (g), đơn vị cacbon (đvC), khối lượng mol,
…và chuyển đổi theo công thức
Các suy luận trong tính toán hóa học chủ yếu xoay quanh phương trình hóahọc rồi mới thực hiện các phép tính toán
Những vấn đề trên sẽ đưa đến cho học sinh lớp 8 thường gặp các vấn đềnhư sau: lẫn lộn giữa các khái niệm hóa học, giữa các đơn vị đo với nhau Các
em sẽ gặp khó khăn trong quá trình chuyển đổi đơn vị đo trong hóa học Để cómột phương trình hóa học đầy đủ mà từ đó các em sẽ suy luận tốt cần phải cónhiều khái niệm cơ bản tốt như: công thức hóa học, hóa trị, cân bằng phươngtrình, …Đây là một vấn đề khó đối với không ít các em
Trong thực tế giải bài tập hóa học ở lớp của các em, ngoài một số em làmbài nhanh, đúng bên cạnh đó còn có một số em hoàn thành bài làm rất chậm.Việc vận dụng các công thức để tính toán đôi khi rất lúng túng, tùy tiện Thậmchí có một số em chưa chuyển đổi được đơn vị cần thiết hoặc không biết là cầnphải chuyển đổi đơn vị để tính toán Có một số em chưa có được sự suy luận chặtchẽ để dẫn đến việc sử dụng công thức tính toán cần thiết nhằm giải quyết yêucầu của bài toán Có một số em làm bài tập còn rườm rà, dài dòng để đi đến kếtquả cuối cùng Việc trình bày bài là một cách gọn gàng, khoa học cũng chưa đạt
ở một số em thể hiện qua việc bôi xóa, gạch bỏ hay lặp lại suy luận sẽ làm chotiêu tốn thời gian làm bài và bài làm khó có sự hợp logic
Trang 6Qua việc thống kê điểm số phần có liên quan đến các bài kiểm tra định kỳ
ở học kỳ I năm học 2012-2013 (có 3 bài) ở lớp 8 do tôi giảng dạy môn hóa họcgồm 46 học sinh, tôi có kết quả như sau:
kiểm tra
Số điểm bình quân phần tính toán
Ở đây tôi thấy số học sinh đạt điểm 1 và 2 tức là từ không đạt yêu cầu đếnđạt yêu cầu còn chiếm một tỉ lệ khá cao (khoảng 75% gần bằng 1/3 số học sinhtrong lớp học) Từ đó dẫn đến số điểm chung cho toàn bài kiểm tra sẽ không caođồng nghĩa với chất lượng học tập ở bộ môn hóa học còn thấp
Qua nhận xét phần giải bài tập của học sinh, tôi thấy các em có nhiều saisót cơ bản như sau:
Lẫn lộn giữa các khái niệm trong câu văn diễn giải Ví dụ: cần viết “Khốilượng chất cần điều chế là” thì các em lại viết “Khối lượng chất điều chế là” tức
là nhầm lẫn giữa chất tạo thành (sản phẩm) và chất tham gia (nguyên liệu) dẫnđến việc vận dụng công thức có thể sai, không đáp ứng được yêu cầu của bàitoán
Ghi sai tên công thức hóa học của chất hóa học Ví dụ: cần viết “Ca(OH)2
thì các em lại viết “Ca(OH)3” sẽ làm cho việc cân bằng phương trình hóa học saihay việc tính sai khối lượng mol M của chất sẽ sai, sai về kiến thức về hóa trị
Ghi tên sai đơn vị tính Ví dụ: cần ghi “mol” có em lại ghi “l” hay “g”.Chưa cân bằng được phương trình hóa học Đây là sai sót rất trầm trọnghay dẫn đến việc tính toán không chính xác, không đáp ứng đầy đủ yêu cầu của
đề bài
Chưa thiết lập được bước suy luận từ đề bài hay từ phương trình hóa học
để biết được đại lượng nào cần tìm trước, đại lượng nào sẽ tìm sau
Chưa sử dụng được công thức cần thiết để giải quyết bài toán Có một số
em sẽ rất rối rắm khi sử dụng các công thức chuyển đổi giữa lượng chất và khốilượng chất
Quá trình giải bài tập của các em còn rườm rà, chưa có nhiều cách giảisáng tạo
Nếu nói rằng những sai sót trên từ những học sinh học yếu thì nguyên nhân
có rất nhiều ở bản thân các em, ở gia đình các em, ở nhà trường hay là ở môitrường xã hội Ở đây tôi chỉ phân tích nguyên nhân trong quá trình dạy và họccủa bộ môn mà thôi
Đối với giáo viên khi hướng dẫn học sinh giải bài tập còn phụ thuộc nhiềuvào qui trình trong sách giáo khoa, chưa phát huy hết sự sáng tạo của các em
Đối với học sinh là do các em chưa nắm vững công thức hóa học của chất
từ việc chưa hiểu rõ khái niệm nguyên tử, phân tử, chưa nắm rõ cấu tạo của chất
Trang 7(chất nào đứng trước, chất nào đứng sau) và nhất là chưa nắm được quy tắc hóatrị của công thức hóa học.
Các em còn viết sai phản ứng hóa học và chưa cân bằng được phương trìnhhóa học
Một số em chưa thuộc qui tắc hay công thức hóa học
Các em còn chưa nắm được qui trình giải một số bài tập có dạng giốngnhau và một số em khá giỏi chưa có cách tính nhanh, sáng tạo hơn
Từ những phân tích thực trạng học bộ môn và nguyên nhân tính toán hóahọc còn yếu kém của học sinh mình phụ trách ở trên, tôi đã đề ra cho mình một
số nội dung công việc cần làm nhằm giúp các em học tốt hơn phần tính toántrong môn hóa học
II Nội dung cần giải quyết:
Trong đề tài tôi thấy nội dung trọng tâm cần giải quyết là giúp cho các emtính toán được tốt hơn trong học hóa học lớp 8 hay nói cách khác hơn là giải tốtcác bài tập hóa học Muốn giải tốt bài tập hóa học trong chương trình lớp 8không phải một sớm một chiều có thể thực hiện được mà đây là cả một quá trìnhlâu dài tích lũy kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán và nhất là phải có được tưduy phân tích, lý luận, tổng hợp tốt Đồng thời các em cần phải có kinh nghiệmtrong việc giải bài tập hóa học
Từ đó tôi mạnh dạn đề ra các giải pháp để thực hiện như sau:
2.1 Củng cố kiến thức đã học
2.2 Đề xuất một số cách giải bài tập khác
2.3 Phân loại các dạng bài tập để xây dựng cách giải cụ thể
2.4.Phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
Trang 8III.Biện pháp giải quyết:
1 Củng cố kiến thức đã học:
Đây là công việc thường xuyên không riêng gì bộ môn hóa học Như ta đãbiết các kiến thức trong chương trình hóa lớp 8 luôn có sự liên kết chặt chẽ xuyênsuốt với nhau và dàn trãi trong cả chương trình vì vậy việc ôn tập thường xuyên
là rất cần thiết
Các khái niệm hóa học tuy nhiều nhưng đều có mối liên hệ với nhau và tôi
đã nghiên cứu tổng kết lại một cách ngắn gọn giúp các em dễ nhớ.Trong từngchương cần củng cố những nội dung như sau:
-Chương 1: Chất ở các trạng thái hay thể là rắn, lỏng hoặc khí và có 2 tính
chất vật lý và hóa học Chất bao gồm đơn chất và hợp chất Đơn chất là nhữngnguyên tố hóa học, là tập hợp của những nguyên tử cùng loại, có cùng số protontrong hạt nhân Hợp chất là những chất tạo nên từ hai nguyên tố hóa học trở lên.Phân tử là hạt đại diện cho hợp chất và đơn chất có số nguyên tử liên kết vớinhau từ 2 trở lên
Công thức hóa học được xây dựng trên cơ sở cấu tạo chất và hóa trị
Tóm lại: nguyên tử (cùng loại, cùng số prton) = nguyên tố hóa học=đơnchất
Phân tử = hợp chất = nguyên tử liên kết từ 2 trở lên
Chất A có hóa trị a, chất B có hóa trị b thì công thức hóa học AxBy phảithỏa mãn a.x = b.y
-Chương 2: Phản ứng hóa học là quá trình biến đổi chất này sang chất
khác bao gồm chất phản ứng (chất tham gia) và chất tạo thành (chất sản phẩm)
Nếu các hệ số của các chất trong phản ứng hóa học được cân bằng thì sẽgọi là phương trình hóa học Phản ứng hóa học xảy ra phải đảm bảo theo địnhluật bảo toàn khối lượng
-Chương 3: Mol là lượng chất có chứa 6.1023 nguyên tử hoặc phân tử củachất đó
Khối lượng mol của nguyên tử hay phân tử bằng với số trị nguyên tử khốihay phân tử khối (gam) Thể tích mol chất khí ở đktc có thể tích 22.4 lít
Các công thức cơ bản là m = n.M (g); V = 22,4.n (l); dA/B = MA: MB và cáctính toán hoặc theo công thức hóa học hoặc theo phương trình hoá học
-Chương 4: Oxi là chất khí rất quan trọng có hóa trị II, tham gia phản ứng
với hầu hết chất hóa học Có nhiều ứng dụng quan trọng trong đời sống Oxi kếthợp với nguyên tố khác gọi là oxit Oxi chiếm 21% thể tích không khí
Phản ứng hóa hợp trái với phản ứng phân hủy
A + B C (Hóa hợp)> < A B + C (Phân hủy)
-Chương 5: Khí hiđro là chất khí nhẹ nhất trong các chất khí, có nhiều
ứng dụng trong đời sống
Phản ứng thế xảy ra khi có nguyên tử của đơn chất thay thế nguyên tử củanguyên tố khác trong hợp chất
Trang 9Nước là một chất lỏng được tạo bởi nguyên tố hiđro và oxi có vai trò tấtquan trọng trong đời sống
Axit gồm nguyên tử hiđro liên kết với gốc axit Bazơ gồm nguyên tử kimloại liên kết với nhóm hiđroxit Muối gồm nguyên tử kim loại liên kết với gốcaxit
-Chương 6: Dung dịch là hỗn hợp đồng nhất giữa dung môi và chất tan.
Có hai loại nồng độ của dung dịch là nồng độ phần trăm và nồng độ mol
C% = x 100% và CM = (mol/l)
Có thể pha chế dung dịch theo yêu cầu từ các nồng độ này
Dung dịch bão hòa là dung dịch không thể hòa tan thêm chất tan Nếu cómột số gam chất tan trong 100 gam nước tạo thành dung dịch bão hòa thì số đógọi là độ tan (S) Khác với dung dịch chưa bão hòa là dung dịch có thể hòa tanthêm chất tan
Từ những nội dung cơ bản trên của từng chương, tôi yêu cầu các em họclực trung bình, yếu phải ghi ra những nội dung cụ thể hơn để học thuộc lòng
Ví dụ: Chương 4: Oxi là chất khí rất quan trọng có hóa trị II, tham gia phảnứng với hầu hết chất hóa học thì các em cần diễn giải thành: Oxi là chất khíkhông màu, không mùi, ít tan trong nước, nặng hơn không khí Oxi tác dụng vớiphi kim, với kim loại và với hợp chất (ghi ra phương trình phản ứng cụ thể).Cách này giúp cho các em vừa ghi chép để rèn luyện kỹ năng viết phương trìnhhóa học vừa ôn tập lại nội dung bài học
Đối với những em khá giỏi thì qua nội dung ngắn gọn ở trên các em có thểhình thành khái quát kiến thức của toàn chương
Ngoài việc nhắc nhở thường xuyên xem lại bài cũ hoặc ôn tập theo tiết quiđịnh hay trong tiết phụ đạo, tôi còn đề xuất cho các em cần có một quyển sổ nhỏ
để ghi chép những điều cần ghi nhớ trong quá trình học tập bộ môn gọi là sổ tayhóa học theo mẫu như sau:
Đối với khái niệm hóa học
Khối lượng mol
của một chất
Là khối lượng của N nguyên tử hoặc phân tử chất đó, tính bằng gam,
Trang 10mol của
dung dịch
CM=n:V (mol/l)
n= CM.VV=n: CM
CM có khi được viết với ký hiệu M như 0,5M hoặc 1M,
…V: thể tích dung dịch không phải là thể tích chất khí,…
Bản thân tôi cũng có một quyển sổ tay hóa học như thế để ghi lại nhữngphát hiện mới của mình trong quá trình giảng dạy và để làm mẫu trao đổi cùngcác em và có thể giúp cho một số em học yếu ghi chép lại
Các bài kiểm tra theo qui định cũng là một hình thức củng cố kiến thức đãhọc, ở đây chỉ nói đến việc củng cố kiến thức hóa học thường xuyên mà tôi vàcác em cùng xây dựng và tiến hành ở lớp
Về hình thức củng cố kiến thức chủ yếu là đặt câu hỏi cho các em trả lời.Thường xuyên nhất là kiểm tra bài cũ, khi đó giáo viên sẽ căn cứ vào kiến thứcbài mới mà hỏi các vấn đề có liên quan đến kiến thức cũ Do kiến thức mới luônđược xây dựng trên cơ sở kiến cũ và việc quan sát, tìm tòi, suy luận để tìm rakiến thức mới Trong quá trình giảng bài mới, tôi vẫn đặt ra các câu hỏi về kiếnthức cũ có liên quan Nhất là trong việc giải bài tập thì các em cần vận dụng kiếnthức đã học để giải quyết tốt bài toán
Trong các tiết ôn tập theo qui định hoặc phụ đạo tôi tổ chức cho các nhóm
“thi đố nhau kiến thức hóa học” như một nhóm hỏi: “Công thức tính số mol chất
là gì ?”, nhóm khác trả lời bằng cách nêu tên công thức tính là n = m : M hoặccác công thức khác Có thể một nhóm sẽ nêu tên công thức hóa học như H2SO4
để đố về phân tử khối hoặc chỉ số nguyên tử hay hóa trị Để thực hiện tốt hìnhthức này, các em cần chuẩn bị sẵn sổ tay hóa học có ghi chép số liệu nhiều vàgạch dưới phần mình chuẩn bị hỏi nhóm khác Trong quá trình chuẩn bị các emtrong nhóm sẽ trao đổi với nhau trước về chủ đề hóa học mà mình quan tâm, đâycũng là hình thức ôn tập trong nhóm rất hiệu quả
Cách củng cố kiến thức tốt nhất là làm thật nhiều bài tập Có những bài tậpđơn giản, chủ yếu là lý thuyết như chất, nguyên tử, nguyên tố hóa học, đơn chất
và hợp chất, hình thức chủ yếu là trắc nghiệm Có những bài tập đòi hỏi vậndụng nhiều về kiến thức hóa học như bài toán hóa học, câu hỏi có tính chất suyluận,
Do chương trình hóa học lớp 8 chỉ có 2 tiết trên một tuần nên tôi hướngdẫn các em tự học là chính, rồi học nhóm để trao đổi các vấn đề mà mình cònchưa hiểu Nếu có khó khăn sẽ nhờ giáo viên phụ trách giảng giải
Để việc tính toán hóa học của các em được tốt tôi lưu ý thêm những điểmsau:
Trang 11- Cần ghi đúng công thức hóa học của chất hóa học vì nếu ghi sai công thức hóahọc của chất sẽ dẫn đến rất nhiều hậu quả tai hại như không tính toán được thànhphần phần trăm các chất; không tìm được khối lượng mol của chất; không xácđịnh chính xác nguyên tố hóa học có trong công thức hóa học, và nhất làkhông thể cân bằng được phương trình phản ứng mà đề bài cho
- Cần cân bằng phản ứng hóa học cho đúng vì đây là cơ sở để có những bước suyluận để giải bài toán Muốn cân bằng đúng phản ứng hóa học đòi hỏi các em phải
có sự xem xét, tính toán thật cẩn thận các hệ số và cần phải có nhiều kinh nghiệmtrong việc này Tức là các em phải làm thật nhiều bài tập dạng này và áp dụngnhiều cách khác nhau
- Cần tính được khối lượng mol M cho chính xác Hầu hết các công thức hóa học
và việc tính toán đều có liên quan đến đại lượng này Đa số các bài tập hóa họcđều không cho sẵn đại lượng này mà ta phải tự tính toán Do đó đòi hỏi các emcần ghi chính xác công thức hóa học và nhớ được nguyên tử khối một số chất haygặp hoặc có Bảng 1- Một số nguyên tố hóa học trang 42/SGK.Hóa học 8
- Cần biết tác dụng của từng công thức hóa học để vận dụng chính xác và hiệuquả Các em cần có sự linh hoạt khi sử dụng các công thức hoá học tùy vào nộidung đề bài đã cho
- Cần nhớ lại và qui đổi đơn vị đo lường cho chính xác như đề bài hay cho đơn vị
là ml hoặc kg, tấn, khác với đơn vị trong các công thức hóa học như: m tínhbằng gam; n tính bằng mol; V tính bằng lít; CM tính bằng mol/l; kể cả hóa trị củanguyên tử hay nhóm nguyên tử được ghi bằng chữ số La Mã Trong sách giáokhoa thì bước này đều bỏ qua và được đổi trực tiếp khi áp dụng công thức tínhtoán Các em học khá giỏi thì có thể nhận ra ngay nhưng một số em trung bình,yếu thì cần phải giải thích cho các em hiểu Từ đó tôi yêu cầu các em này khi tínhtoán cần có bước qui đổi này từ ml ra lít hay từ kg ra gam, .rồi mới đưa số liệuvào công thức tính toán
Ví dụ: Hãy tính nồng độ mol của dung dịch có 1 mol KCl trong 750 ml dung dịchĐổi đơn vị: 750 ml = 0,75 lít
Nồng độ mol của dung dịch CKCl = n: V = 1: 0,75 = 1,3 (mol/l) hay 1,3M
Qua thực hiện giải pháp này, tôi thấy học sinh mình làm bài nhanh hơn,chính xác hơn, vận dụng các công thức tính toán phù hợp và những sai sót nhỏnhặt như ghi sai đơn vị, tính sai khối lượng mol, .không còn nữa, góp phần vàoviệc hoàn thành giải một bài toán hóa học
2.Đề xuất một số cách giải bài tập khác.
Để giải một bài toán hóa học, có rất nhiều cách khác nhau tùy thuộc vàoviệc hướng dẫn giải của giáo viên và tùy vào khả năng và kinh nghiệm giải bàitập của các em Đối với lớp học mình phụ trách, tôi muốn các em có những cáchgiải bài tập mang tính đặc thù riêng của lớp để các em dễ dàng nhận xét bài tậpcủa nhau, dễ dàng suy luận bài toán và dễ dàng thảo luận với nhau trong nhóm
Trang 12học tập Từ đó, tôi mạnh dạn đề xuất một số cách giải bài tập chung cho lớp nhưsau:
2.1 Xây dựng cách giải bài tập bằng cách qui đổi về số mol
Như ta đã biết thì khi nói đến chất hóa học thì phải có đơn vị đo lườngnhư: mol, gam, lít Đối với các đơn vị này ta có thể qui đổi về đơn vị mol quacác công thức chuyển đổi và dựa vào ý nghĩa của phương trình hóa học – phươngtrình hóa học cho biết tỉ lệ về số nguyên tử, số phân tử giữa các chất cũng nhưtừng cặp chất trong phản ứng – ta có thể tìm được số mol của các chất còn lạitrong phương trình hóa học khi biết số mol của một chất Tôi cùng các em xâydựng cách tìm số mol các chất trong phương trình hóa học theo cách sau:
Ta có phương trình hóa học: aA + bB cC + dD
Nếu có a mol tham gia phản ứng, thì có b mol tham gia phản ứng
Vậy có nA mol có nB
nB a = nA b =
Tương tự ta sẽ có dãy tỉ lệ như sau: = = =
Và số mol của chất trong phương trình phản ứng như sau:
nA= (a:b) nB = (a:c) nC = (a:d) nD và tương tự cho nB ; nC ; nD
Tùy theo đề bài mà ta có thể qui đổi về đơn vị mol qua các công thứcchuyển đổi sau:
n =
n=
n= CM V
nct =
Tôi đã cùng các em xây dựng cách giải chung các bài tập như sau:
b1: Viết phương trình phản ứng rồi cân bằng (Nếu đề bài chưa có phươngtrình hóa học)
b2 : Đổi đơn vị trong đề bài ra mol (Nếu đề bài cho các đơn vị khác)
b3 : Suy luận từ câu hỏi của đề bài để tìm cách giải.(có thể ghi ra bài làmhoặc suy luận trong trí nhớ của mình)
b1: Viết phương trình hóa học: đề bài đã cho sẵn
b2 : Đổi đơn vị ra mol: nCaO = mCaO : MCaO = 7: 56 = 0,125 (mol)
b3 : Suy luận: Tìm được số mol CaCO3 sẽ tìm được số gam CaCO3 cần dùng theocông thức chuyển đổi mCaCO3 = nCaCO3 MCaCO3
Số mol CaCO3 sẽ tìm được bằng cách dựa vào hệ số mol của phương trình hóahọc
b4: Trình bày bài làm
Đổi đơn vị: nCaO = mCaO : MCaO = 7: 56 = 0,125 (mol)
Trang 13Số mol CaCO3 là: nCaCO3 = (1:1).0,125 = 0,125 (mol)
Số gam CaCO3 : mCaCO3 = nCaCO3 MCaCO3 = 0,125 100 = 12,5 (g)
Đối với cách giải này, các em có sự thống nhất trong cách tính là tìm ra sốmol rồi có thể qui đổi ra các đơn vị theo yêu cầu của đề bài Như vậy các suyluận của các em sẽ xoay quanh việc tìm số mol cần thiết không có sự lập lờ khisuy luận giữa các đại lượng khác nhau mà đề bài đưa ra
Đối với các em học tập dạng yếu và trung bình thì cách giải này giúp chocác em có sự xuyên suốt trong tính toán và suy luận tìm ra cách giải cho từng bàitập Các em cần nhớ các công thức chuyển đổi giữa lượng chất mol, khối lượngchất và đặc biệt là các em cần tính cho được khối lượng mol chất (M), đồng thờidựa vào phương trình hóa học để tìm được mối liện hệ về mol giữa các chất vớinhau
Đối với các em học tập dạng khá giỏi thì cách tính này giúp các em có sựtính toán nhanh hơn Có những bài tập cần có sự tính toán trung gian thì cách tínhnày giúp cho các em dễ dàng suy luận hơn
Khi áp dụng giải pháp này, tôi thấy các em có sự chuyển biến tốt hơn khigiải các bài tập hóa học như việc suy luận nhanh, chặt chẽ, thời gian làm bàinhanh hơn, kết quả tính toán chính xác hơn và tất nhiên là kết quả về điểm số củacác em cũng cao hơn
2.2 Áp dụng trực tiếp qui tắc tam suất
Đây là tên gọi của cách tính đã có từ khi các em học tiểu học mà lên cấp 2các em được học với tên gọi là tính tỉ lệ
Ta có tỉ lệ: = ; nếu biết 3 đại lượng kia thì sẽ biết được đại lượng còn lạitheo cách sau: a = ;
Trong việc giải bài tập hóa học thì căn cứ vào phương trình hóa học, ta cóthể tính trực tiếp như sau:
Nếu có a tham gia phản ứng, thì có b phản ứng
Vậy có c x
Vậy x =
Đối với việc giải các bài tập mà sách giáo khoa đưa ra các bước tiến hànhđều có bước tìm số mol nhưng theo tôi thì một số bài tập có thể giải bằng cách sửdụng trực tiếp qui tắc tam suất tại phương trình hóa học của đề bài
Như trong sách giáo khoa trang 72/ bài 22: tính theo phương trình hóa học,phần 1.Bằng cách nào tìm được khối lượng chất tham gia và sản phẩm ? ở thí dụ
1 là Nung đá vôi, thu được vôi vôi sống và khí cacbonic:
CaCO3 CaO + CO2
Hãy tính khối lượng vôi sống CaO thu được khi nung 50g CaCO3
Sách giáo khoa đã có 3 bước tiến hành là:
- Tìm số mol CaCO3 tham gia phản ứng:
nCaCO3 = mCaCO3 : MCaCO3 = 50: 100 = 0,5(mol)
- Tìm số mol CaO thu được sau khi nung:
Theo phương trình hóa học ta có:
Trang 141 mol CaCO3 tham gia phản ứng sẽ thu được 1 mol CaO
Vậy 0,5 mol CaCO3 .0,5 mol CaO
-Tìm khối lượng vôi sống thu được:
mCaO= nCaO MCaO = 0,5.56 = 28(g)
Bài toán này có thể giải như sau:
Theo phương trình hóa học ta có:
100g CaCO3 tham gia phản ứng, sẽ thu được 56g CaO
Vậy 50g CaCO3 ? g CaO
Khối lượng vôi sống CaO thu được: = 28(g)
Như vậy ta có thể bỏ qua các bước tìm số mol của CaCO3 và CaO và cóthể thực hiện giải toán nhanh hơn nhờ áp dụng trực tiếp qui tắc tam suất
Trong một số bài tập tôi hướng dẫn các em áp dụng qui tắc này tính toántrên phương trình hóa học của đề bài để tìm đại lượng cần tìm, xong rồi qui đổi rađơn vị cần thiết
Ví dụ: bài tập số 3 trang 75/ SGK hóa 8 có đề bài như sau:
Có phương trình hóa học sau:
CaCO3 CaO + CO2
a) Cần dùng bao nhiêu mol CaCO3 để điều chế được 11,2g CaO ?
Cách giải như sau:
Theo phương trình hóa học ta có:
100g CaCO3 tham gia phản ứng, sẽ thu được 56g CaO
Vậy ? g CaCO3 11,2 g CaO
Khối lượng CaCO3 cần có: =20 (g)
Số mol CaCO3 cần dùng: n = m : M= 20:100 = 0,2 (mol)
Có thể đề xuất các bước giải bài tập hóa học khi áp dụng cách tính trựctiếp này như sau:
b1: Ghi phương trình hóa học theo đề bài
b2 : Căn cứ vào phương trình hóa học và số liệu đề bài cho tính toán trựctiếp ra đại lượng cần tìm
b3: Đổi ra đơn vị theo yêu cầu của đề bài bằng các công thức chuyển đổi.Khi áp dụng cách tính này, các em sẽ thực hiện việc tìm đại lượng theo yêucầu của đề bài nhanh hơn, tránh tình trạng một số em tìm sai đại lượng sau khiqua các bước chuyển đổi đơn vị trước Việc áp dụng cách tính này có thể bỏ quamột bước tính trung gian, giúp cho việc giải bài tập gọn hơn
Như vậy giữa 2 cách giải này có mâu thuẫn với nhau không ? Ta hãy xemxét ở cách giải bài tập bằng cách qui đổi về mol thì ở sau bước đổi ra mol, ta cóthể áp dụng qui tắc tam suất để tìm ra số mol cần thiết Ở cách áp dụng trực tiếpqui tắc tam suất thì sau khi áp dụng qui tắc này ta vẫn dùng công thức chuyển đổi
về mol hay về các đơn vị cần thiết khác Như vậy các em có thể vận dụng 2 cáchtính này trong cùng một bài toán với những bước thực hiện phù hợp tùy thuộcvào sự suy luận, tùy thuộc vào đề bài yêu cầu Ở những em khá giỏi thì các em cóthể vận dụng tốt hơn