- Nếu xét theo hình thức huy động vốn mà chưa xét đến loại đồng tiền huy động: Biểu 2.2: Theo hình thức huy động vốn mà chưa xét đến loại đồng tiền Theo hình thức huy động vốn mà chưa xé
Trang 1THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC
2.1 Vài nét về tỉnh Bình Phước
Bình Phước là tỉnh ở Miền Đông Nam Bộ, nằm trong Vùng Kinh tế trọng điểmphía Nam có 240Km đường biên giới với Vương quốc Campuchia, là cửa ngõ và làcầu nối của vùng với Tây nguyên và nước bạn Campuchia Phía Bắc giáp tỉnh ĐắkNông (Tây nguyên), phía Nam giáp tỉnh Bình Dương, phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng(Tây nguyên) và Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Vương quốc Campuchia.Bình Phước có hơn 840 ngàn dân, có 07 huyện và 01 thị xã; trung tâm tỉnh lỵ nằm ởthị xã Đồng Xoài cách thành phố Hồ Chí Minh 110Km
Là một tỉnh nằm trong vùng Trung du miền núi, vùng chuyển tiếp của đồngbằng lên cao nguyên, có nhiều sông suối, gềnh thác, hồ đập, cho nên ở đây có quầnthể thực vật khá phong phú và có nhiều phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, tạo điều kiệnphát triển du lịch sinh thái Bên cạnh đó còn có nhiều địa danh lịch sử nổi tiếng: căn
cứ Cách mạng qua 2 cuộc kháng chiến, nhiều danh lam thắng cảnh đẹp như tranh:trảng cỏ Bù Lạch (huyện Bù Đăng), Vườn Quốc gia Bù Gia Mập, Núi Bà Rá – Thác
Mơ (huyện Phước Long) và các di tích lịch sử nổi tiếng: Nhà Giao tế - Thủ phủ củaChính phủ Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Căn cứ Bộ chỉ huy Miền ở TàThiết (huyện Lộc Ninh), Sóc Bom Bo (huyện Bù Đăng)…
Để làm căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch hàng năm, UBND tỉnh đã phê duyệt
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 với mục tiêu phát triển như sau:
2.1.1 Mục tiêu tổng quát:
Nâng cao khả năng thích ứng nhanh nhạy trong nền kinh tế thị trường Đảmbảo tốc độ kinh tế phát triển nhanh và bền vững; cải thiện rõ rệt hệ thống hạ tầng kinh
tế - xã hội; phát huy các lợi thế của tỉnh và khai thác mọi nguồn lực trong, ngoài tỉnh
để phát triển các ngành kinh tế Mở rộng thị trường, khai thác có hiệu quả quan hệkinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân; bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc; tập trung
Trang 2xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, giảm tệ nạn xã hội Đảm bảo quốc phòng, anninh vững mạnh; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.
2.1.2 Mục tiêu cụ thể:
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm tăng từ 14-15%
Đến năm 2010, tỷ trọng ngành công nghiệp-xây dựng chiếm từ 27-30%, ngànhthương mại - du lịch và dịch vụ chiếm từ 28- 29%, tương ứng với tỷ trọng ngành nông
- lâm nghiệp - thuỷ sản giảm xuống còn khoảng 45-41% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh
Đến năm 2010 GDP bình quân đầu người đạt từ 560-600 USD và nếu tình hìnhdiễn biến thuận lợi thì phấn đấu đạt 640-690 USD
Kế họach phát triển kinh tế - xã hội năm 2009:
Năm 2009 là năm có ý nghĩa quan trọng, quyết định việc hòan thành thắng lợicác mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã được Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII đề ratrong giai đọan 5 năm 2006-2010 Để thực hiện thắng lợi kế họach phát triển kinh tế -
xã hội năm 2009, UBND tỉnh yêu cầu các cấp, các ngành tập trung thực hiện nhữngnội dung chủ yếu theo hướng dẫn tại Công văn 3831/UBND-KT ngày 12/12/2008
Mục tiêu: tiếp tục thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định các cân đốilớn về kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững
Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu: trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên, các chỉtiêu chủ yếu năm 2009 được xác định như sau:
- Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 14,0 %
- Giá trị sản xuất nông lâm – thủy sản tăng 7 -8%
- Giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng tăng 23 – 27%
- Giá trị sản xuất ngành dịch vụ tăng 19 – 22%
2.2 Hoạt động của hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh BP
Trên địa bàn tỉnh Bình phước có các loại hình NHTM sau đây :
- Loại hình NHTM nhà nước: Chi nhánh NHTM nhà nước cấp một có ba đơn
vị, gồm: Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn, NHTMCP Công
Trang 3Thương, Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Các ngân hàng này có hoạt động lâu đờinhất tại địa phương nên có ưu thế rất lớn về quy mô, uy tín, tầm ảnh hưởng cũng nhưchiếm thị phần lớn, nhất là NH nông nghiệp & phát triển nông thôn.
- Loại hình NHTM cổ phần: Chi nhánh NHTM cổ phần cấp một có năm đơn vị,gồm: NHTMCP Sài Gòn Thương Tín, NHTMCP Đông Á, NHTMCP Nam Á,NHTMCP An Bình, NHTMCP Á Châu Các NH này có mặt trên địa bàn Bình Phước
từ năm 2007 nên thị phần còn nhỏ hơn rất nhiều so với các NHTM nhà nước nhưngvới sự nhạy bén trong cạnh tranh nên thị phần, uy tín của các NH này ngày càng lớnmạnh
Với sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các NHTM nên số lượng các chi nhánh vàphòng giao dịch của các NHTM hoạt động trên địa bàn phân bổ rộng khắp các khuvực thành thị, khu vực đông dân cư trong tỉnh là một điều kiện thuận lợi cho các DN,
cá nhân thuận lợi tiếp cận các dịch vụ của ngân hàng
2.2.1 Tình hình huy động vốn
Nghiệp vụ huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàngnhưng nó là nghiệp vụ rất quan trọng Nó góp phần mang lại nguồn vốn cho ngânhàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác Mặt khác, thông qua nghiệp vụ nàycác NHTM đo lường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với NH
2.2.1.1 Phân tích tình hình huy động vốn
Với các hình thức huy động đa dạng, kết hợp với nhiều kỳ hạn gửi tiền linhhoạt theo tuần, tháng, năm cùng với các mức lãi suất khác nhau và kèm theo nhiềucách ưu đãi dành cho khách hàng để thu hút tiền gửi từ nền kinh tế Cụ thể, thực trạngtình hình huy động vốn của các NHTM trên địa bàn Bình Phước từ 2007 đến quý 1năm 2009 như sau:
Trang 4Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của các NHTM trên địa bàn
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Tháng 3/2009
Sốtiền Tỷtrọng Sốtiền Tỷtrọng Số tiền Tỷtrọng
(Nguồn: NHNNVN chi nhánh Bình Phước)
Qua bảng 2.1 ta thấy nguồn vốn huy động của các NHTM năm 2008 đạt 4.368
tỷ đồng, tăng 533 tỷ đồng so với năm 2007, đạt tốc độ tăng trưởng 13,9% Cụ thể:
- Nếu xét nguồn vốn huy động theo kỳ hạn nợ:
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu huy động theo kỳ hạn nợ
Huy động vốn theo thời hạn nợ
3.459
802
-3.640 3.257
712 578
16 -
Trang 520%, còn nguồn vốn huy động dài hạn hầu như là không có Nguyên nhân Việt Namgia nhập WTO từ cuối năm 2007 và ngày càng đem đến cho nhà đầu tư nhiều cơ hội
để đa dạng hóa danh mục đầu tư với hy vọng đạt hiệu quả sử dụng vốn cao nhất chonên nhà đầu tư có tiền nhàn rỗi họ chỉ muốn gửi tiền ngắn hạn chứ với tình hình lãisuất huy động vốn trung, dài hạn trong các năm qua chưa hấp dẫn được nhà đầu tư,đặc biệt là một số tháng cuối năm 2008 lãi suất huy động vốn ngắn hạn cao hơn lãisuất huy động vốn trung dài hạn và mặt bằng lãi suất thay đổi theo chiều hướng tăng
- Nếu xét theo hình thức huy động vốn mà chưa xét đến loại đồng tiền huy động:
Biểu 2.2: Theo hình thức huy động vốn mà chưa xét đến loại đồng tiền
Theo hình thức huy động vốn mà chưa xét đến loại đồng tiền
- Tiền gửi tiết kiệm
- Tiền gửi của các tổ chức kinh tế
- Tiền gửi khác
+ Năm 2007: nguồn vốn huy động do tiền gửi của các tổ chức kinh tế là chủyếu (chiếm 57%) và kế đến là do tiền gửi tiết kiệm (chiếm 37,4%), chứ tiền gửi khácchiếm một phần nhỏ (chiếm 5,6%)
+ Năm 2008 và quý 1 năm 2009 có cơ cấu về nguồn vốn huy động gần giốngnhau nhưng gần như đảo chiều so với cơ cấu nguồn vốn huy động năm 2007: nguồnvốn huy động do tiền gửi tiết kiệm là chủ yếu (chiếm trên 50%) và kế đến là tiền gửicủa các tổ chức kinh tế (chiếm trên 33%), chứ tiền gửi khác chiếm một phần nhỏ(chiếm trên 12%) Nguyên nhân trong năm 2008 Việt Nam bị lạm phát cao nên NHNNthực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ (tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, bắt buộc các NHTMmua tín phiếu bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản …) nên hầu hết các NHTM gặp rủi ro
Trang 6thanh khoản, dẫn đến cuộc chạy đưa lãi suất huy động không theo quy luật là lãi suấthuy động ngắn hạn lớn hơn lãi suất huy động trung, dài hạn Do đó nguồn vốn nhànrỗi chảy vào NHTM tăng dưới hình thức gủi tiết kiệm ở kỳ hạn ngắn hạn tăng lêntrong năm 2008 và ba tháng đầu năm 2009
- Nếu xét theo hình thức huy động vốn mà có xét đến loại đồng tiền huy động:
Biểu 2.3: Theo hình thức huy động vốn mà có xét đến loại đồng tiền
Theo hình thức huy động vốn có xét đến loại đồng tiền huy
tệ (chiếm 28,6%) cũng tương đương tiền gửi bằng ngoại tệ, vàng chiếm 28,4% Tiềngửi khác chiếm chiếm 5,6%, trong đó chủ yếu là tiền gửi khác bằng đồng nội tệ(chiếm 4,4%) còn tiền gửi khác bằng ngoại tệ, vàng chỉ chiếm một phần nhỏ là 1,2%.Vậy tổng nguồn vốn huy động theo đồng nội tệ chiếm 69,6% và theo ngoại tệ, vàngchiếm 30,4% Nguyên nhân là nếu gửi tiết kiệm thì chọn hình thức gửi tiết kiệm bằngnội tệ vẫn lợi hơn gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ, còn nếu các tổ chức kinh tế gửi tiền thìtùy vào nhu cầu sử dụng vốn mà các tổ chức kinh tế này có thể gửi bằng nội tệ hayngoại tệ vì trong năm 2007 tình hình ngoại tệ khan hiếm nên các tổ chức kinh tế gửitiền bằng ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của mình
Trang 7+ Năm 2008 và quý 1 năm 2009 có cơ cấu về nguồn vốn huy động chia theoloại tiền tệ cũng gần giống nhau nhưng gần như đảo chiều so với cơ cấu nguồn vốnhuy động năm 2007: nguồn vốn huy động do do tiền gửi tiết kiệm là chủ yếu (chiếmtrên 50%), trong đó chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm bằng đồng nội tệ (chiếm trên 49,5%)còn tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ, vàng chỉ chiếm một phần nhỏ là 1,0 % Tiền gửicủa các tổ chức kinh tế chiếm trên 33%, trong đó là tiền gửi của các tổ chức kinh tếbằng đồng nội tệ cũng là chủ yếu (chiếm 28 %) còn tiền gửi bằng ngoại tệ, vàngchiếm một số nhỏ trên 5,3% Tiền gửi khác chiếm một phần nhỏ (chiếm trên 12%)trong đó chủ yếu là tiền gửi khác bằng đồng nội tệ là chủ yếu chiếm trên 11% còn tiềngửi khác bằng ngoại tệ, vàng chỉ chiếm một phần nhỏ là khoảng 1,0% Vậy tổngnguồn vốn huy động theo đồng nội tệ chiếm trên 88,5% và theo ngoại tệ, vàng chiếm11,5% Nguyên nhân là do lãi suất huy động tiền đồng tăng mạnh, còn lãi suất huyđộng USD trên thị trường có xu hướng không tăng đáng kể vì để thực hiện chủ trươngcủa NHNN về bình ổn thị trường ngoại tệ, hạn chế bớt tình trạng găm giữ ngoại tệ,giải quyết bài toán dư thừa vốn ngoại tệ và tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhập khẩutiếp cận được nguồn vốn ngoại tệ nên các NHTM thực hiện giảm lãi suất huy độngUSD nên gửi tiết kiệm bằng nội tệ hấp dẫn nhà đầu tư hơn, dẫn đến nguồn vốn huyđộng bằng tiền đồng tăng mạnh so với năm 2007.
2.2.1.2 Đánh giá chung về huy động vốn của các NHTM trên địa bàn Bình Phước
Hoạt động huy động vốn của các NHTM trên địa bàn tỉnh Bình Phước trong những năm qua đạt được những kết quả sau:
- Nguồn vốn huy động năm sau cao hơn năm trước đã tạo điều kiện cho cácNHTM chủ động mở rộng khả năng cho vay và tìm kiếm lợi nhuận
- Các sản phẩm dịch vụ huy động vốn ngày càng phong phú, đa dạng với nhiềuloại hình, kỳ hạn khác nhau tạo nên sự tiện lợi và thu hút khách hàng gửi tiền Hầu hếtcác NHTM trên địa bàn tỉnh Bình Phước đã và đang sử dụng nhiều nghiệp vụ và biệnpháp tích cực để huy động nguồn vốn nhàn rỗi của các cá nhân và tổ chức Các nghiệp
vụ huy động vốn mà các NHTM Bình Phước đã và đang sử dụng như: huy động vốnqua tài khoản tiền gửi thanh toán, qua tài khoản tiền gửi cá nhân, qua tài khoản tiềngửi tiết kiệm (tiết kiệm không kỳ hạn, tiết kiệm có kỳ hạn, các loại tiết kiệm khác như
Trang 8tiết kiệm tiện ích, tiết kiệm an khang, tiết kiệm có thưởng) Những biện pháp mà cácNHTM Bình Phước áp dụng để huy động vốn cũng rất đa dạng: đa dạng hóa sản phẩmtiền gửi (đa dạng hóa sản phẩm tiền gửi kỳ hạn, đa dạng hóa sản phẩm theo loại đồngtiền gửi, đa dạng hóa sản phẩm tiền gửi theo số dư, đa dạng hóa sản phẩm tiết kiệmtheo số dư) và cũng đã cố gắng tối đa hóa sự tiện lợi cho khách hàng như đã mở rộngmạng lưới chi nhánh để đưa dịch vụ của ngân hàng đến các vùng nông thôn, vùng sâu,vùng xa…
Những tồn tại và khó khăn trong công tác huy động vốn của các NHTM trên địa bàn tỉnh Bình Phước:
- Thị phần huy động vốn của các NHTM ngày càng có khả năng bị thu hẹp:nền kinh tế Việt Nam sau khi gia nhập WTO đã có nhiều thay đổi theo chiều hướngtích cực, trong đó thị trường tài chính Việt Nam ngày càng phát triển phong phú, đadạng (hình thành đầy đủ các loại hình thị trường: thị trường tiền tệ, thị trường chứngkhoán, thị trường bảo hiểm và các định chế tài chính phi ngân hàng…) theo hướnghoàn thiện và hòa nhập với thị trường tài chính thế giới làm cho nhà đầu tư có nhiềukênh đầu tư để lựa chọn và đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro vàđạt lợi nhuận cao nhất Chính vì lẽ đó mà nguồn vốn nhàn rỗi chảy vào NH cũng bịchi phối đáng kể
- Trong thời gian qua, đặc biệt là năm 2008, có sự chạy đua huy động vốn(cạnh tranh không lành mạnh) giữa các NHTM: chạy đua tăng lãi suất huy động vốndẫn đến lãi suất đầu ra tăng gây khó khăn cho nền kinh tế và từ đó làm gia tăng rủi rotiềm ẩn trong hoạt động tín dụng kéo theo thu nhập trong hoạt động tín dụng cũng bịgiảm đáng kể
- Cơ cấu nguồn vốn huy động của các NHTM chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn.nên nó không tạo ra sự ổn định, gây khó khăn cho các NH khi muốn cho vay trung,dài hạn Khối lượng khách hàng này rất lớn vì đa số các DNV&N thiếu vốn, lạc hậu
về công nghệ, máy móc thiết bị nên rất muốn vay vốn trung, dài hạn để đầu tư pháttriển máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại …
Trang 9- Tỷ trọng huy động ngoại tệ còn thấp so với tổng nguồn vốn huy động Điềunày đã gây khó khăn cho NHTM trong việc đẩy mạnh cho vay ngoại tệ để tài trợ nhậpkhẩu
2.2.2 Tình hình sử dụng vốn
Bình Phước là một tỉnh tuy còn nghèo nhưng có nhiều tiềm năng kinh tế củakhu vực Đông Nam Bộ nói riêng và là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nhưng đểkhai thác có hiệu quả các tiềm năng đó cần có những động lực thúc đẩy cần thiết,trong đó nguồn vốn tín dụng của các NHTM để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triểnkinh tế là rất quan trọng Trong những năm qua hoạt động tín dụng của các NHTMngày càng mở rộng
2.2.2.1 Tình hình doanh số cấp tín dụng
Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu của các NHTM, nó quyết định đếnphần lớn đến hiệu quả kinh doanh, quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn trong hoạtđộng kinh doanh tiền tệ của ngân hàng Tình hình doanh số cấp tín dụng của cácNHTM trên địa bàn Bình Phước trong giai đoạn từ 2007 đến quý 1 năm 2009 như sau:
Bảng 2.2: Tình hình doanh số cấp tín dụng của các NHTM trên địa bàn
(Nguồn: NHNNVN chi nhánh tỉnh Bình Phước)
Biểu 2.4: Doanh số cấp tín dụng của các NHTM trên địa bàn
Trang 10Năm 2008 doanh số cấp tín dụng ngắn hạn đạt 6.148 tỷ đồng chiếm 77,1% tổngdoanh số cấp tín dụng, tăng 636 tỷ đồng so với năm 2007, tương ứng với tốc độ tăngtrưởng doanh số cấp tín dụng ngắn hạn là 11,54%; doanh số cấp tín dụng trung, dàihạn đạt 1.827tỷ đồng chiếm 22,9% tổng doanh số cấp tín dụng, giảm 499 tỷ đồng sovới năm 2007, tương ứng với tốc độ giảm doanh số cấp tín dụng trung, dài hạn là21,45% Tổng doanh số cấp tín dụng năm 2008 là 7.975 tỷ đồng, tăng 137 tỷ đồng sovới năm 2007, tương ứng với mức tăng 1,75%
Đến tháng 3 năm 2009: doanh số cấp tín dụng ngắn hạn đạt 2.314 tỷ đồngchiếm 78,2% tổng doanh số cấp tín dụng, doanh số cấp tín dụng trung, dài hạn đạt 646
tỷ đồng chiếm 21,8% tổng doanh số cấp tín dụng
Qua đó cho thấy doanh số cấp tín dụng năm sau cao hơn năm trước và tăng dần
về tỷ trọng cho vay ngắn hạn Điều này hoàn toàn phù hợp với điều kiện phát triểnkinh tế của tỉnh Bình Phước nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung Bình Phước làtỉnh mới thành lập được 12 năm, kinh tế chưa phát triển, đời sống người dân đang cònnghèo; loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ là chủ yếu (chiếm 95%), vốn tự có của cácdoanh nghiệp này rất thấp, chủ yếu dựa vào vốn vay và các doanh nghiệp chủ yếukinh doanh ở lĩnh vực nông sản (cao su, cà phê, điều…) nhưng giá nông sản trongnăm 2008 đã giảm mạnh do kinh tế thế giới khủng hoảng đã làm cả doanh nghiệp vànông dân lâm vào tình trạng thiếu vốn ngắn hạn để trả lương nhân công, mua nguyênvật liệu… Do đó, các NHTM trên địa bàn Bình Phước đẩy mạnh cho vay ngắn hạn đểtài trợ vốn cho các DNV&N và các hộ gia đình phát triển kinh tế trang trại Ngoài ra,các dự án lớn, các khu công nghiệp thuộc các Chơn Thành, Bình Long, Đồng Phúđang trong giai đoạn triển khai, chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư trong khi NHNN
Trang 11thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ nên các NHTM tập trung thu hồi nợ trung, dàihạn và cũng thắt chặt việc cho vay trung, dài hạn Bởi lẽ, những món vay có thời hạncàng dài thì càng ẩn chứa nhiều rủi ro cho nên ngân hàng có xu hướng tăng tỷ trọngcho vay ngắn hạn để mau thu hồi vốn cho vay, quay vòng vốn nhanh đặc biệt trongđiều kiện thắt chặt tiền tệ và lãi suất có nhiều biến động như thời gian qua
2.2.2.2 Tình hình doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ là việc thu nợ được tiến hành theo kỳ hạn nợ đã ghi trong hợpđồng tín dụng Khách hàng có thể trả nợ trước hạn và phải trả nợ ngân hàng khi đếnhạn
Bảng 2.3: Tình hình doanh số thu nợ của các NHTM trên địa bàn
(Nguồn: NHNNVN chi nhánh tỉnh Bình Phước)
Biểu 2.5: Doanh số thu nợ của các NHTM trên địa bàn
Doanh số thu hồi nợ
Trang 12năm 2007 Điều này là do năm 2008, hầu như các NHTM tập trung thu hồi nợ hơn làtăng trưởng tín dụng, chỉ sang quý 4 năm 2008, khi lãi suất huy động giảm dần, nguồnvốn cho vay của các ngân hàng dồi dào trở lại, thị trường tài chính không còn biếnđộng mạnh và thanh khoản NHTM được cải thiện, các NH có chủ trương tập trungvốn cho các nhà xuất, nhập khẩu và những DN có nhu cầu vốn lưu động bổ sung choviệc sản xuất, kinh doanh dịp cuối năm
Đến tháng 3 năm 2009, doanh số thu nợ là 1.894 tỷ đồng, trong khi doanh sốcho vay là 2.960 tỷ đồng Nguyên nhân là đầu năm 2009, NHNN chủ trương tháo gỡkhó khăn về vốn cho nền kinh tế với các giải pháp hạ lãi suất cơ bản, cho vay cấp bùlãi suất nên doanh số cho vay tăng lên hơn so với doanh số thu nợ
2.3 Kết quả kinh doanh
Trong điều kiện ngày càng cạnh tranh mạnh mẽ thì việc cố gắng hoạt động saocho thu nhập từ lãi vay và thu nhập từ dịch vụ NHTM tăng lên với chi phí hoạt độngthấp để tạo ra lợi nhuận lớn đáp ứng nhu cầu phát triển và bền vững là một yếu tốquyết định sức mạnh của chính NH đó Do đó, các NHTM không ngừng phát triểntrên lĩnh vực huy động vốn, cho vay và cải tiến các dịch vụ NH qua các năm, cụ thểnhư sau:
Bảng 2.4: Bảng kết quả kinh doanh của các NHTM trên địa bàn
(Nguồn: NHNNVN chi nhánh tỉnh Bình Phước)
Qua bảng số liệu thấy thu nhập của các NHTM chủ yếu là từ tín dụng, còn thunhập từ dịch vụ có tỷ trọng tăng qua các năm nhưng hầu như chưa đáng kể: năm 2007,thu nhập từ cho vay là 778,2 tỷ đồng, chiếm 99,3%, còn thu nhập từ dịch vụ là 5,3 tỷ
Trang 13đồng, chiếm 0,7%; năm 2008: thu nhập từ cho vay là 530,7 tỷ đồng, chiếm 99,1%,còn thu nhập từ dịch vụ là 4,6 tỷ đồng, chiếm 0,9%; tháng 3/2009: thu nhập từ chovay là 225,8 tỷ đồng, chiếm 98,6%, còn thu nhập từ dịch vụ là 3,2 tỷ đồng, chiếm1,4%
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của tỉnh và toàn hệ thống NHViệt Nam, các NHTM trên địa bàn tỉnh đã đưa ra các dịch vụ NH hiện đại như dịch
vụ thanh toán thẻ, dịch vụ nhận và chi trả kiều hối, dịch vụ bảo lãnh, trả lương qua thẻATM… song đến thời điểm này các NHTM thật sự chưa mặn mà đầu tư vào lĩnh vựcnày vì điều kiện phát triển kinh tế Bình Phước chưa cao, trong khi vốn đầu tư để pháttriển dịch vụ lớn, thu nhập mang lại ít Nhưng trong tương lai, các NHTM nên quantâm hơn nữa vào lĩnh vực này vì nó sẽ tạo ra cho NHTM chiến lược kinh doanh riêng
và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho NH và nên giảm dần sự phụ thuộc vào hoạt động tíndụng vì hoạt động này có rủi ro rất lớn
Lợi nhuận trước thuế năm 2008 là 55,7 tỷ đồng, giảm so với năm 2007 là 34,8
tỷ đồng, tương ứng với mức giảm 38,5% Nguyên nhân là do năm 2008 là năm đầykhó khăn cho ngành NH vì nửa đầu năm 2008, các NHTM gồng mình với khó khănthanh khoản, với lãi suất huy động cao trong phần lớn thời gian của năm, tốc độ tăngtrưởng tín dụng thấp, tín dụng bất động sản và tiêu dùng thu hẹp, đầu tư tài chính khókhăn…Làm lợi nhuận của nhiều ngân hàng bị ảnh hưởng nặng nề Đây là năm đầutiên trong khoảng 5 năm trở lại đây nhiều ngân hàng buộc phải điều chỉnh lại mục tiêukinh doanh và lợi nhuận đặt ra từ đầu năm; chiến lược tăng tốc nhanh được chuyểnsang thận trọng, ổn định và yếu tố an toàn, tăng cường quản trị được đặt lên hàng đầu
2.4 Tình hình rủi ro tín dụng của các NHTM trên địa bàn tỉnh Bình Phước
2.4.1 Tín dụng chung
Dư nợ tín dụng là số tiền còn lại tại một thời điểm nào đó mà doanh nghiệp hay
cá nhân vay TCTD Thực trạng hoạt động này trong những năm qua bởi bảng số liệusau:
Bảng 2.5: Tình hình dư nợ đối với nền kinh tế của các NHTM trên địa bàn
Đơn vị tính: tỷ đồng
Trang 14(Nguồn: NHNNVN chi nhánh tỉnh Bình Phước)
Qua bảng số liệu 2.5 cho thấy hoạt động tín dụng của các NHTM có xu hướngtăng trưởng cả ngắn hạn và trung, dài hạn qua các năm, cụ thể:
- Năm 2008 tổng dư nợ là 6.275 tỷ đồng, tăng 725 tỷ đồng so với năm 2007,tương ứng với mức tăng 13,1%; hết tháng 3 năm 2009 tổng dư nợ là 7.249 tỷ đồng,tăng 974 tỷ đồng so với năm 2008, tương ứng với mức tăng 15,5% Nguyên nhân làcuối năm 2007, nhiều ngân hàng ồ ạt cho vay để giành thị phần, trong đó có nhữngkhoản cho vay bất động sản là cho vay trung và dài hạn nên trong năm 2008 vẫn thểhiện trên dư nợ Ngoài ra, có một số ngân hàng vẫn duy trì cho vay đối với nhữngkhách hàng cũ sau khi đáo hạn với lượng tiền cho vay tương đương mức vay cũ, chỉ
có thay đổi là lãi suất cho vay của hợp đồng mới được điều chỉnh tăng, để tránhtrường hợp sổ sách của ngân hàng bị xấu đi nếu như doanh nghiệp không (hoặc chưa)trả được nợ Và một nguyên nhân cơ bản nữa là: cuối năm 2007, do lạm phát nênNHNN liên tục tăng lãi suất cơ bản và giới hạn tăng trưởng tín dụng 30% nên hầu nhưcác doanh nghiệp cũng như hộ cá thể gặp khó khăn về vốn đến mức đang đứng bên bờvực phá sản, trước tình hình đó vào quý 4 năm 2008 NHNN công bố giảm lãi suất cơbản và tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho các NHTM, các NHTM đã công bố điều chỉnh giảmlãi suất huy động và cho vay, tập trung vốn tín dụng cho các lĩnh vực sản xuất, nôngnghiệp và nông thôn, nhất là các hộ nông dân sản xuất lúa vụ mùa Đông xuân, xuấtkhẩu, nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu, DNV&N, các dự án đầu tư sản xuất, kinhdoanh và kể cả các dự án đầu tư bất động sản khả thi, có hiệu quả và có khả năng trả
Trang 15độ tăng 2,2% Nhưng xét tỷ trọng cho vay trung, dài hạn lại giảm dần qua các năm, cụthể: tỷ trọng cho vay trung, dài hạn năm 2007 là 41,4%, năm 2008 là 37,5%, tháng3/2009 là 33,2%, nguyên nhân:
- Phần lớn nguồn vốn huy động của các NHTM là ngắn hạn, kể cả nguồn vốnđiều hòa từ NHNN nên việc sử dụng nguồn vốn cho vay trung, dài hạn của NHTM là
có hạn
- Hầu hết các chi nhánh NHTM đều bị NH Hội sở chính ràng buộc về chỉ tiêucho vay trung, dài hạn, thông thường là không được vượt quá 40% vốn huy động ngắnhạn
- Do mức độ rủi ro tỷ lệ thuận với thời hạn vay nợ của khách hàng, đặc biệt làđối với các hộ sản xuất, kinh doanh cá thể trong lĩnh vực kinh tế trang trại, chế biếnnông sản…vì chịu ảnh hưởng lớn của thiên tai, dịch bệnh nhưng giá cả lại không ổnđịnh, phương án kinh doanh không tốt…nên các NHTM có xu hướng giảm dần chovay trung, dài vào lĩnh vực này Trong khi tỷ lệ khách hàng này chiếm khá lớn trongnền kinh tế của Bình Phước
Bảng 2.6: Tỷ trọng dư nợ đối với nền kinh tế của các NHTM trên địa bàn
(Nguồn: NHNNVN chi nhánh tỉnh Bình Phước)
2.4.2 Phân tích tình hình dư nợ và nợ xấu theo loại hình kinh tế
2.4.2.1 Phân tích tình hình dư nợ theo loại hình kinh tế
Bình Phước là một tỉnh mới thành lập nên các loại hình hình kinh tế chưa đadạng, chủ yếu là kinh tế cá thể, mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), doanhnghiệp tư nhân (DNTN), công ty cổ phần (CTCP) mới bước đầu thành lập Đặc điểmnày đã chi phối việc cho vay của các NHTM trên địa bàn Bình Phước trong thời gianqua như sau:
Trang 16Bảng 2.7: Tình hình dư nợ theo loại hình kinh tế của các NHTM trên địa
(Nguồn: NHNNVN chi nhánh tỉnh Bình Phước)
Biểu 2.6: Dư nợ theo loại hình kinh tế của các NHTM trên địa
Dư nợ theo loại hình kinh tế
4.767,8 5.280,53.475,5
DN có vốn ĐTNN, kinh tế tập thể
Qua bảng 2.7 ta thấy dư nợ của các loại hình kinh tế được xếp giảm dần nhưsau:
- Dư nợ của kinh tế cá thể chiếm tỷ trọng lớn qua các năm: cuối năm 2008 dư
nợ của thành phần này là 4.767,8 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 76% tăng so với năm 2007
là 1.292,3 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng 37,2%; đến 31/3/2009 là 5.280,5 tỷ đồng,tăng so với năm 2008 là 512,7 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng 10,8%, chiếm tỷtrọng 72,84% Nguyên nhân là ở Bình Phước là một tỉnh mới thành lập nên kinh tế cá
Trang 17thể chiếm chủ yếu và phân bổ từ thành thị đến nông thông, vùng sâu, vùng xa, lĩnhvực đầu tư của loại hình này chủ yếu là kinh tế trang trại, tiểu thương, tiểu thủ côngnghiệp…và hoạt động chủ yếu là dựa vào vốn vay từ ngân hàng.
- Dư nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có xu hướng giảm dần cả về sốtiền và tỷ trọng qua các năm Năm 2007, dư nợ của DNNN là 1.495 tỷ đồng, chiếm26,94% trên tổng dư nợ của các NHTM; đến năm 2008, dư nợ của DNNN giảm còn549,5 tỷ đồng, chiếm 8,75% trên tổng dư nợ, giảm 945,5 tỷ đồng, tương ứng với mứcgiảm 63,2% so với năm 2007; đến 31/3/2009, dư nợ của DNNN giảm còn 500,5 tỷđồng, chiếm 7,2% trên tổng dư nợ Nguyên nhân: thứ nhất, số lượng các DNNNngày càng giảm do quá trình sắp xếp, chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần; thứhai, do định hướng của các NHTM giảm dần cho vay đối với DNNN có hiệu quả kinh
tế thấp
- Dư nợ của công ty TNHH, DNTN, công ty cổ phần tuy chiếm tỷ trọng nhỏ(5% - 10%) nhưng có xu hướng tăng dần qua các năm Đây là một tín hiệu tốt vì cácthành phần kinh tế của Bình Phước bắt đầu đa dạng, tạo ra công việc cho người laođộng và góp phần vào ngân sách nhà nước
- Dư nợ của loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (tính đến cuốinăm 2008, Bình Phước có 31 DN có vốn đầu tư nước ngoài) và kinh tế tập thể chiếm
tỷ trọng rất nhỏ (1%) có xu hướng giảm dần qua các năm Nguyên nhân là khủnghoảng kinh tế thế giới nên việc đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào các khucông nghiệp Bình Phước chậm lại trong năm 2008 Kinh tế tập thể (hợp tác xã, liênminh hợp tác xã) ở Bình Phước theo số liệu thống kê đến cuối năm 2008 là 74 hợp tác
xã hoạt động vẫn còn rất yếu kém nên hầu như không vay được vốn từ ngân hàng
2.4.2.2 Phân tích tình hình nợ xấu theo loại hình kinh tế
Tổng dư nợ tín dụng của các NHTM không ngừng tăng trưởng qua các nămnhưng tỷ lệ nợ xấu (nhóm 3,4, 5) cũng tăng lên:
Bảng 2.8: Tình hình nợ xấu theo loại hình kinh tế của các NHTM trên địa bàn
Đơn vị tính: tỷ đồng
Trang 18(Nguồn: NHNNVN chi nhánh tỉnh Bình Phước)
Biểu 2.7: Nợ xấu theo loại hình kinh tế của các NHTM trên địa bàn
Nợ xấu theo loại hình kinh tế
Trang 19tổng nợ xấu; tháng 3 năm 2009, số nợ xấu là 84,3 tỷ đồng, chiếm 49,6% trong tổng nợ
xấu Điều này chứng tỏ là các NHTM đã cố gắng hạn chế nợ xấu đối với loại hình
kinh tế này
Nợ xấu của loại hình công ty TNHH tăng lên cả về số tuyệt đối và tỷ trọng qua
các năm: năm 2007, số nợ xấu là 0,4 tỷ đồng, chiếm 0,5% trong tổng nợ xấu; năm
2008, số nợ xấu là 23,7 tỷ đồng, chiếm 22,7% trong tổng nợ xấu; tháng 3 năm 2009,
số nợ xấu là 82 tỷ đồng, chiếm 48,2% trong tổng nợ xấu Nguyên nhân là loại hình
công ty TNHH đa số mới thành lập trong những năm gần đây, chủ yếu hoạt động
trong lĩnh vực chế biến nông sản (cao su và điều), hoặc lĩnh vực khai thác đá, nhưng
trong năm 2008 thì giá điều, cao su cũng như vật liệu xây dựng giảm trầm trọng nên
ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng
2.4.3 Phân tích tình hình dư nợ và nợ xấu theo ngành kinh tế
2.4.3.1 Phân tích tình hình dư nợ theo ngành kinh tế
- Mục tiêu cơ cấu kinh tế của Bình Phước chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ
trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm,
thuỷ sản, để đưa Bình Phước thoát hẳn là một tỉnh thuần nông Sự đóng góp của các
NHTM trên địa bàn tỉnh là một trong những nguồn tạo nên sự thành công trên
Bảng 2.9: Tình hình dư nợ theo ngành kinh tế của các NHTM trên địa bàn
(Nguồn: NHNNVN chi nhánh tỉnh Bình Phước)
Biểu 2.8: Dư nợ theo ngành kinh tế của các NHTM trên địa bàn